1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

VÙNG ĐẤT ĐIỆN BÀN TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XIX

56 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với niềm đam mê nghiên cứu một lịch sử địa phương, niềm mong ước được khám phá sự hình thành, phát triển và diện mạo của vùng đất Điện Bàn ở thế kỉ XVII đến cưới thế kỉ XIX.. Còn có kh

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG

KHOA LỊCH SỬ

***

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐỀ TÀI:

VÙNG ĐẤT ĐIỆN BÀN TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN

CUỐI THẾ KỶ XIX

Giáo viên hướng dẫn : TS LÊ THỊ THU HIỀN

Đà Nẵng, tháng 04 năm 2019

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI CẢM ƠN 3

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của đề tài 8

7 Cấu trúc của đề tài 8

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VÙNG ĐẤT ĐIỆN BÀN TRƯỚC THẾ KỈ XVII 9

1.1 Điều kiện tự nhiên 9

1.1.1 Vị trí địa lý 9

1.1.2 Đất đai, địa hình 9

1.1.3 Khí hậu, thủy văn 10

1.2 Khái quát lịch sử vùng đất Điện Bàn trước thế kỉ XVII 12

1.3 Đời sống kinh tế - xã hội 16

1.4 Đặc điểm dân cư, văn hóa 17

CHƯƠNG 2: DIỆN MẠO VÙNG ĐẤT ĐIỆN BÀN TỪ THẾ KỈ XVII ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX 21

2.1 Vị trí địa lý và địa giới hành chính 21

2.1.1 Vị trí địa lý 21

2.1.2 Địa giới hành chính 21

2.2 Điều kiện tự nhiên 25

2.2.1 Đặc điểm địa hình 25

2.2.2 Tài nguyên, thổ sản 27

Trang 3

2.2.3 Khí hậu, thủy văn 28

2.3 Tình hình kinh tế 31

2.4.1 Về nông nghiệp 31

2.4.2 Về thủ công nghiệp 32

2.4.3 Về thương nghiệp 33

2.4 Đặc điểm văn hóa 35

2.4.1 Văn hóa vật chất 36

2.4.2 Văn hóa tinh thần 38

2.5 Một số nhận xét, đánh giá 47

KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu lịch sử vùng đất là một vấn đề không mấy xa lạ Với niềm đam mê

nghiên cứu một lịch sử địa phương, niềm mong ước được khám phá sự hình thành,

phát triển và diện mạo của vùng đất Điện Bàn ở thế kỉ XVII đến cưới thế kỉ XIX Do

đó, tôi chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là “Vùng đất Điện Bàn thế kỉ XVII đến cuối

thế kỉ XIX” Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn trong

việc tìm kiếm tư liệu cũng như điền dã và ngay cả trong việc viết bài Đôi lúc, chúng

tôi cảm thấy chán nản và bế tắc Nhưng trong quá trình thực hiện bài khóa luận tốt

nghiệp tôi đã đón nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ, động viên, khuyến khích

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến TS Lê Thu Hiền - giảng

viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng Cô đã tận tâm chỉ bảo, góp ý và

cung cấp nhiều tài liệu khoa học quý báu để chúng tôi có thể hoàn thành tốt bài

nghiên cứu Cô thật sự rất nhiệt tình trong việc chỉ dẫn chúng tôi và cô cũng chính là

người nhen nhóm, đốt lên ngọn lửa đam mê nghiên cứu cho chúng tôi Bằng sự nhiệt

tình và tâm huyết của cô, chúng tôi đã có thể hoàn thành bài nghiên cứu một cách tốt

nhất

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Đà

Nẵng đã tạo điều kiện cho chúng tôi đi điền dã và đã trực tiếp góp ý cho tôi để giúp

chúng tôi có một khóa luận hoàn chỉnh

Vì là một đề tài mới mà chưa ai nghiên cứu một cách rõ ràng nên còn nhiều

thiếu sót, hạn chế Kính mong quý thầy cô tiếp tục chỉ dẫn để bài khóa luận tốt nghiệp

đạt kết quả tốt hơn Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử hình thành và phát triển của Điện Bàn gắn liền với quá trình mở đất của dân tộc Việt về phương Nam Qua nhiều thế kỷ, địa giới hành chính có nhiều thay đổi nhưng tên gọi Điện Bàn vẫn được lưu giữ với nhiều truyền thống tốt đẹp về văn hóa lịch sử và cách mạng

Điện Bàn, miền châu thổ hạ lưu sông Thu Bồn, vốn là vùng đất dinh trấn Thanh Chiêm, nơi mà tên đất, tên người từng gắn liền với nhiều sự kiện trọng đại trong tiến trình hình thành và phát triển của lịch sử dân tộc Điện Bàn có cả một kho tàng văn hoá của đất đai, con người và làng nghề… Suốt 400 năm qua Điện Bàn luôn là nơi diễn ra những sự kiện quan trọng của xứ Đàng Trong, tâm điểm của những biến đổi, giao thoa, tiếp biến của hai nền văn minh Chăm – Việt Đây là “tiền cung” của công cuộc khai phá lãnh thổ về phương Nam và mở mang ngoại thương xứ Đàng Trong của các chúa Nguyễn, là nơi sản sinh ra chữ Quốc ngữ từ thế kỷ XVII, cái nôi của nghệ thuật Tuồng, là vùng đất học mang tên Ngũ phụng tề phi,… Dấu ấn ấy bây giờ vẫn còn đậm nét trong bao di tích, lễ hội vẫn được tổ chức trên đất Điện Bàn nay

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, vùng đất nơi đây đã bao lần biến đổi, chuyển mình theo dòng lịch sử thời gian Nghiên cứu diện mạo vùng đất Điện Bàn từ thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XIX ta sẽ có được cái nhìn khách quan và chính xác hơn

về vùng đất này Đồng thời có thêm kiến thức về lịch sử của những vùng đất khác trong quá khứ Hơn nữa, việc nghiên cứu lịch sử từng miền, từng địa phương đóng vai trò quan trọng, góp phần bổ sung sử liệu cho việc xây dựng lịch sử của vùng đất miền Trung nói chung và Quảng Nam nói riêng

Việc nghiên cứu vùng đất Điện Bàn xưa còn có ý nghĩa thực tiễn, giúp địa phương có chính sách phù hợp, kịp thời bảo tồn văn hóa, hoạch định những giải pháp, định hướng phát triển Từ sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử - văn hóa quê hương mình, thế hệ trẻ sẽ yêu quê hương và có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương đó

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Vùng đất Điện Bàn

thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XIX” làm khóa luận tốt nghiệp của mình

Trang 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Một số nguồn sử liệu ghi chép về Điện bàn được nhìn dưới góc độ của lịch sử,

địa lý như: Dư địa chí của Nguyễn Trãi (1868), Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu (1882), Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn (1910),

Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1960), Đại Nam thực lục của

Quốc sử quán triều Nguyễn, Ô Châu cận lục của Dương Văn An (1555), Phủ biên

tạp lục của Lê Quý Đôn (1776); Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử Quán triều

Nguyễn (1910); Địa bạ thời Gia Long (1805) của Quốc sử Quán triều Nguyễn,…

Những sách này ghi chép về toàn bộ lịch sử Việt Nam, trong đó có Điện Bàn Đây cổ

sử quan trọng và là nguồn tư liệu chính xác nhất

Ngoài ra còn có sách viết về vùng Thuận Quảng (trong đó có Điện Bàn) như

sau: trong tác phẩm “Có 500 năm như thế: Bản sắc Quảng Nam từ góc nhìn phân kỳ

lịch sử” của Hồ Trung Tú 500 năm ở đây được hiểu là tính từ năm 1306 - thời điểm

Huyền Trân công chúa bước qua bên kia đèo Hải Vân (nam Hải Vân) đến năm 1802

- lúc Gia Long lên ngôi 500 năm đằng đẳng của lịch sử với biết bao thăng trầm Còn

có khá nhiều công trình nghiên cứu như: “Việt sử xứ Đàng Trong” của Phan Khoang

nghiên cứu về vùng đất phía Nam của Đại Việt, về vương quốc Chămpa và Chân Lạp,

về công cuộc mở cõi của Nguyễn Hoàng cho đến tận đất Hà Tiên; “Quảng Nam qua

các thời đại” của Phan Du nghiên cứu về Quảng Nam từ khi còn là vùng đất của

Chiêm Thành cho đến khi trở thành một phần của Đại Việt; “Xứ Đàng trong năm

1621” của Critstophoro Borri ghi chép về Đàng Trong trong thời gian Critstophoro

Borri lưu trú tại đây (năm 1621);

Một số tác phẩm, công trình khác nghiên cứu về quá trình mở rộng lãnh thổ của Đại Việt, phần nào đề cập đến Quảng Nam nói chung và Điện Bàn nói riêng, có

thể kể đến: Đất nước Việt Nam qua các đời (Đào Duy Anh), Công cuộc khai khẩn và phát triển làng xã ở Bắc Quảng Nam từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII của

Huỳnh Công Bá, Tìm hiểu con người xứ Quảng của Nguyên Ngọc, “Xứ Đàng

Trong”: Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18 là luận án tiến sĩ của Li

Tana,…

Trang 7

Nhìn chung, vùng đất Điện Bàn từ thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XIX ít nhiều đã được đề cập đến nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là vùng đất Điện Bàn từ thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XIX

3.2 Phạm vi của đề tài

Về không gian: Đề tài nghiên cứu vùng đất Điện Bàn từ thế kỉ XVII, lúc này

Điện Bàn có không gian rộng hơn hiện nay, gồm năm huyện là Tân Phước, An Nông, Hòa Vinh, Phước Châu, Diên Khánh (Diên Khánh chính là Điện Bàn hiện tại) Đến đầu thế kỷ XIX, Điện Bàn bao gồm hai huyện là Hòa Vang và Diên Khánh Từ giữa thế kỉ XIX đến cuối thế kỉ XIX Điện Bàn gồm ba huyện là Diên Phúc, Duy Xuyên và Hòa Vang

Về thời gian: Tìm hiểu vùng đất Điện Bàn trong khoảng thời gian từ thế kỉ

XVII đến cuối thế kỉ XIX Đây là thời gian khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng thăng huyện Điện Bàn vốn thuộc phủ Triệu Phong, Thuận Hóa thành phủ Điện Bàn, thuộc về dinh Quảng Nam (1604) cho đến năm 1884, sau khi kí Hiệp ước Patonot

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Điện Bàn từ thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XIX

- Trong đó tìm hiểu khái quát về vùng đất Điện Bàn trước thế kỉ XVII về điều kiện tự nhiên, địa giới hành chính, tình hình kinh tế xã hội và văn hóa dân cư

Trang 8

- Đi sâu tìm hiểu về diện mạo vùng đất Điện Bàn thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XIX gồm điều kiện tự nhiên, tình hình chính trị, tình hình kinh tế, tình hình xã hội, tình hình văn hóa dân cư và nêu một số nhận xét, đánh giá về vùng đất Điện Bàn trong giai đoạn này

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Lịch sử vùng đất là một vấn đề rộng và phức tạp, cần nghiên cứu một cách cẩn thận, kĩ lưỡng nên phải sử dụng nhiều nguồn tư liệu và nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau

5.1 Nguồn tư liệu nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi thu thập, khai thác các nguồn tư liệu có liên quan đến vùng đất Điện Bàn gồm:

- Nguồn tư liệu cổ sử do nhà nước phong kiến và sử gia tư nhân biên soạn như:

Phủ biên tạp lục, Đại Việt sử ký tục biên, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Đồng Khánh địa dư chí ; Nghiên cứu địa bạ Quảng Nam - Đà Nẵng…

- Các công trình nghiên cứu, sách tham khảo có liên quan đến đề tài như: Có

500 năm như thế của Hồ Trung Tú, Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỉ 17 - 18 của LiTana, Xứ Đàng Trong của Phan Khoang,…

- Trên các website như: dienban.gov.vn, http://www.quangnam.gov.vn,

- Tài liệu thu thập được qua công tác điền dã thực tế ở các địa phương trên địa bàn huyện Điện Bàn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ yếu sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu chủ đạo của

sử học là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Ngoài ra, tôi còn sử dụng một

số phương pháp nghiên cứu khác như:

- Phương pháp thống kê: Trong quá trình tìm kiếm và sưu tầm tài liệu từ những

nguồn khác nhau nên cần được sắp xếp và hệ thống lại một cách khoa học sao cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu nhất

- Phương pháp điền dã: Trực tiếp xuống địa bàn để thu nhập thông tin Nhằm

lấy số liệu, thông tin phục vụ cho việc trình bày, đồng thời kiểm nghiệm độ chính

Trang 9

xác, để kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục Phương pháp này rất quan trọng, ảnh

hưởng đến độ chính xác của đề tài

- Phương pháp chuyên gia: Tận dụng những ý kiến của lãnh đạo, chính quyền,

cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực lịch sử - văn hóa để thu thập thêm thông tin là hết

sức thiệt thực và bổ ích phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Từ đó xem xét, nhìn nhận,

phân tích, đánh giá đối tượng Vận dụng phương pháp này có thể rút ngắn được quá

trình điều tra phức tạp, đồng thời bổ sung cho phương pháp điều tra cộng đồng

- Phương pháp tổng hợp và phân tích: Từ những thông tin và tài liệu thu thập

được, đánh giá, rút ra các đặc điểm của vùng đất Điện Bàn từ thế kỉ XVII đến cuối

thế kỉ XIX

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Về mặt khoa học

Đề tài này là công trình nghiên cứu khoa học mang tính hệ thống, cụ thể, phục

dựng lại bức tranh quá khứ, khái quát về diện mạo của vùng đất Điện Bàn từ thế kỉ

XVII đến cuối thế kỉ XIX Từ các vấn đề tìm hiểu của đề tài đã góp phần làm hoàn

chỉnh hơn về mặt địa lý - lịch sử - văn hóa của địa bàn huyện Điện Bàn

6.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu giúp cho người dân và cán bộ địa phương hiểu được quá

trình phát triển và sự biến đổi của vùng đất Điện Bàn trong những thế kỉ XVII, XVIII,

XIX cùng những đặc trưng về kinh tế, xã hội, văn hóa và dân cư Qua đó hun đúc,

bồi dưỡng lòng tự hào, tình yêu mến đối với vùng đất này

Đồng thời, công trình đóng góp nguồn tư liệu nghiên cứu về lịch sử vùng đất

Điện Bàn nói riêng và vùng đất Quảng Nam nói chung

7 Cấu trúc của đề tài

Đề tài ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung

chính được cấu trúc gồm hai chương:

Chương 1: Khái quát vùng đất Điện Bàn trước thế kỷ XVII

Chương 2: Diện mạo vùng đất Điện Bàn từ thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XIX

Trang 10

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VÙNG ĐẤT ĐIỆN BÀN TRƯỚC THẾ KỈ XVII 1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Điện Bàn là một huyện đồng bằng ven biển thuộc tỉnh Quảng Nam, trải từ

15o50’ đến 15o 57’ vĩ bắc và từ 108o đến 108o 20’ kinh độ đông, cách tỉnh lỵ Tam Kỳ 48km về về phía Nam, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 25km về phía Bắc Phía bắc huyện Điện Bàn giáp huyện Hòa Vang (thành phố Đà Nẵng), phía Nam giáp với huyện Duy Xuyên, phía Đông Nam giáp với thành phố cổ Hội An, phía Đông giáp với biển Đông và phía Tây giáp với huyện Đại Lộc Điện Bàn hiện nay có diện tích

tự nhiên 214,28km2

1.1.2 Đất đai, địa hình

Địa hình của huyện Điện Bàn tương đối bằng phẳng, mức độ chia cắt trung bình, đặc trưng cho địa hình có nguồn gốc phát sinh từ sản phẩm phù sa sông biển, với địa thế thấp dần từ Tây sang Đông Điện Bàn có 3 dạng địa hình chính là địa hình ven biển, địa hình đồng bằng và địa hình gò đồi Địa hình ven biển hình gồm cồn cát

và bãi cát ven biển chạy dài từ Bắc xuống Nam, gồm các xã Điện Ngọc, Điện Nam

và Điện Dương, với diện tích khoảng 5.300ha, chiếm 25% diện tích toàn huyện Địa hình đồng bằng phân bố hầu hết ở các khu vực trung tâm và phía Tây của huyện, với diện tích khoảng 15.500ha, chiếm 73% diện tích tự nhiên và là dạng địa hình chính phân bố dân cư và đất nông nghiệp của huyện Địa hình gò đồi, diện tích khoảng 395ha, ước tính 2% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở xã Điện Tiến, với độ dốc

từ 8o đến 20o, độ cao trung bình từ 8 đến 10m, điểm cao nhất là đồi 55 (cao 55m) ở núi Bồ Bồ; đây là vùng đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp và một số diện tích đồi hoang [39, tr.5] Địa hình của huyện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, cả về nông nghiệp, công nghiệp ở vùng cát và ven biển

Đất đai của huyện gồm có 2 nhóm: đất cát và đất phù sa Theo đặc tính của từng loại đất có thể chia ra thành 4 nhóm đất, gồm 8 đơn vị đất, trong đó nhóm đất cát biển và đất cồn cát trắng vàng ở các xã Điện Dương, Điện Nam, Điện Ngọc; nhóm đất phù sa gồm có đất phù sa chua, đất phù sa, đất phù sa có tầng điếm rỉ, nhóm đất mặn ít và trung bình; nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá phân bố trên các địa hình gò đồi ở

Trang 11

phía Tây của huyện (chủ yếu là ở xã Điện Tiến) Đất đai huyện Điện Bàn khá tốt, có

độ phì nhiêu cao, nhóm đất phù sa chiếm đến 69,67% tổng diện tích đất, cho phép thâm canh nông nghiệp theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng Nguồn tài nguyên rừng trồng ở khu gò đồi Điện Tiến và rừng phòng hộ ven biển

Bên cạnh đó, Điện Bàn là một huyện đồng bằng ven biển nên địa hình tương đối bằng phẳng, độ chênh cao thấp, thuận lợi cho phát triển đô thị - công nghiệp Có

bờ biển cát trắng, nước trong, sông nước hiền hòa thuận lợi cho khai thác du lịch Vùng biển Điện Bàn nằm trong ngư trường Cửa Đại (Hội An) là một vùng có trữ lượng cá, tôm, mực khá lớn Ngoài ra còn có nhiều loại nhuyễn thể, rong tảo và đặc sản quý hiếm khác

1.1.3 Khí hậu, thủy văn

Huyện Điện Bàn nằm trong khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa

của tỉnh Quảng Nam và ảnh hưởng khí hậu ven biển miền Trung Nhiệt độ trung bình

là 25,6oC, độ ẩm tương đối trung bình là 82,3% và lượng mưa trung bình năm là 2.298mm Các tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 10 và tháng 11 (385 - 386mm), tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 3 (23,5mm) [39, tr.9] Các hướng gió thịnh hành của Điện Bàn là gió mùa Đông Nam, Tây Nam và Đông Bắc Gió mùa Đông Nam xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9, gió mùa Tây Nam - từ tháng 4 đến tháng 7 và gió mùa Đông Bắc - từ tháng 10 đến tháng 12 hằng năm Từ tháng 9 đến tháng 11 bão thường xảy ra, kết hợp với các trận mưa lớn gây ra lũ lụt làm ảnh hưởng đến sản

xuất và sinh hoạt của nhân dân

Hệ thống thủy văn của huyện Điện Bàn chủ yếu là bắt nguồn từ hệ thống sông

Thu Bồn - Vu Gia với các con sông: sông Thu Bồn, sông Yên, sông Vĩnh Điện, sông Bình Phước, sông Thanh Quýt

Sông Thu Bồn là con sông chính và là tuyến giao thông đường thủy liên huyện quan trọng của tỉnh Quảng Nam Đoạn sông Thu Bồn chảy qua Điện Bàn dài 27km, lòng sông rộng trung bình từ 100 - 300m, chảy qua các xã Điện Hồng, Điện Quang, Điện Thọ, Điện Phước, Điện Trung, Điện Phong và Điện Phương, là một trong những tài nguyên quan trọng ở khu vực phía Nam của huyện Sông Thu Bồn tạo ra những bãi bồi phì nhiêu, qua đó hình thành những vùng quê trù phú nhất trong huyện mà

Trang 12

điển hình là vùng đất Gò Nổi nổi tiếng từ xưa đến nay

Sông Vĩnh Điện là một nhánh của sông Thu Bồn, chảy theo hướng tây nam - đông bắc, đoạn chảy qua huyện dài 10km, từ Vĩnh Điện đến Tứ Câu và chảy qua các

xã Điện An, Điện Nam, Điện Ngọc, Điện Thắng, lòng sông rộng từ 50 đến 80m, độ sâu trung bình từ 4 đến 5m, về mùa khô thường bị nhiễm mặn và cạn kiệt

Sông Yên nằm ở phía Tây của huyện, là đường ranh giới tự nhiên giữa Điện Bàn, Đại Lộc và một phần Hòa Vang, đoạn chảy qua huyện dài 5km, chiều rộng từ

50 đến 70mm, chảy qua các xã Điện Hồng, Điện Tiến

Sông Bình Phước - hay còn gọi là sông Bàu Sấu, sông Lạc Thành - nằm ở phía tây bắc của huyện, chảy theo hướng tây nam - đông bắc, chiều dài 7km, chiều rộng

30 đến 50m chảy qua các xã Điện Hồng, Điện Thọ, Điện Tiến, Điện Hòa, là nguồn nước tưới nông nghiệp cho các xã phía tây bắc của huyện1

Sông Thanh Quýt2 phát nguồn từ sông Thu Bồn chảy qua Bình Long, Hạ Nông, Đông Hồ đến Lục Giáp thì nhập vào sông La Thọ3

Hệ thống sông ngòi của Điện Bàn phân bố tương đối đồng đều, mật độ phân

bố trung bình là 0,4 km/km2, thuận lợi cho việc cung cấp, tưới tiêu cho các cánh đồng,

là nguồn nước tưới chủ yếu cho đất nông nghiệp Tuy nhiên, do độ sâu luồng nông cạn, tính chất bất ổn của dòng sông và phân bố lưu lượng không đều trong năm, về mùa lũ lưu tốc lớn gây xói lở bờ mạnh, diện tích đất bị xói lở, bồi lấp hằng năm hàng trăm ha, gây thiệt hại đến sản xuất và các làng mạc, khu dân cư ven sông Cùng với nguồn nước trên bề mặt, huyện Điện Bàn còn có nguồn nước ngầm tương đối lớn, với độ sâu trung bình từ 3 đến 5m

Huyện Điện Bàn có bờ biển dài 8km Biển Điện Bàn có chế độ bán nhật triều,

1 Sông Bình Phước, sông Bàu Sấu và sông Lạc Thành là một, nhưng nhân dân trong huyện thường gọi đoạn sông chảy qua Bình Phước là sông Bình Phước, còn đoạn chảy qua Bàu Sấu là sông Bàu Sấu, đoạn chảy qua Lạc Thành là sông Lạc Thành

2 Trên thực tế sông Cổ Cò và sông Thanh Quýt là một, song nhân dân trong huyện quen gọi đoạn sông chảy

từ Bình Long đến Đông Hồ gọi là sông Cổ Cò, còn đoạn sông chảy từ Lục Giáp đến Thanh Quýt là sông Thanh Quýt

3 Sông La Thọ là một nhánh của sông Bình Phước chảy xuống Thanh Quýt

Trang 13

thủy triều lên xuống 2 lần trong một ngày với biên độ triều 0,6m Vào mùa khô nước biển xâm nhập sâu vào đất liền, vào tháng 10, 11, 12 thường có sóng lớn ven bờ, biên

độ triều cường lên đến 1 - 2m, bờ biển thường bị xói lở do sóng biển gây nên

1.2 Khái quát lịch sử vùng đất Điện Bàn trước thế kỉ XVII

Điện Bàn là thị xã đồng bằng ven biển phía Bắc của tỉnh Quảng Nam Lịch sử hình thành và phát triển của Điện Bàn gắn liền với quá trình mở đất của dân tộc Việt

Có thể thấy, vùng đất Điện Bàn xưa thuộc đất Việt Thường Thị Nhưng kể từ khi phong kiến Trung Hoa xâm lược và thống trị nước ta, vùng đất Điện Bàn cũng chịu chung số phận bị phong kiến Trung Hoa đô hộ Năm 111 trước Công Nguyên, khi thay thế nhà Triệu để thống trị nước ta, ngoài hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, chính quyền nhà Hán còn lập thêm quận Nhật Nam (miền đất từ Hoành Sơn đến Quảng Nam ngày nay) Quận Nhật Nam bao gồm 5 huyện: Tây Quyển, Chu Ngô, Tỳ Cảnh, Lê Dung và Tượng Lâm Vùng đất Điện Bàn nằm trên địa bàn của huyện Tượng Lâm thời đó

Vào thế kỉ thứ II, nhân dân Giao Châu nhà Hán tỏ ra bất lực nhất là đối với các quận ở xa Cho đến năm 192 (đời vua Hiếu Đế nhà Đông Hán) cùng với nhân dân Nhật Nam, nhân dân Tượng Lâm do Khu Liên đứng đầu đã nổi dậy giết huyện lệnh, giành quyền tự chủ Một quốc gia mới được lập nên ở vùng đất hai bên đèo Hải Vân

Sử Trung Hoa gọi nước mới lập nên này là Lâm Ấp Huyện Tượng Lâm (bao gồm phần đất Điện Bàn - Quảng Nam ngày nay) là bộ phận lãnh thổ thuộc quốc gia Lâm

Ấp Sau nhiều thế kỷ tồn tại trong sự xung đột liên miên với lực lượng phong kiến ở phía Bắc, cuối cùng nước Lâm Ấp đã hợp nhất với quốc gia người Chăm ở phía Nam, hình thành nên một quốc gia thống nhất với tên nước là Chiêm Thành Từ đó vùng Điện Bàn - Quảng Nam trước kia trở thành bộ phận lãnh thổ của nước Chiêm Thành

Trang 14

Người Chăm gọi vùng đất Điện Bàn - Quảng Nam ngày nay trong lãnh thổ quốc gia Chiêm Thành trước kia là Amaravati

Thời kỳ tự chủ từ năm 968, các vương triều Đinh - Lê - Lý - Trần - Hồ - Hậu

Lê trên bước đường Nam tiến với nhiều chính sách kiên quyết, mềm dẻo, đối thoại với các quốc gia láng giềng để mở rộng lãnh thổ

Năm 1069, vua Chiêm là Chế Củ thông đồng với nhà Tống đem quân đánh Đại Việt nhưng bị vua Lý và Lý Thường Kiệt bắt giải về Thăng Long nên Chế Củ dâng

ba châu Đại Lý - Ma Linh - Bố Chính để được tha về

Tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), để thực hiện lời hứa của thượng hoàng Trần Nhân Tông trong chuyến vân du sang Chiêm Thành trước đó, vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân vị vua thứ 34 của vương quốc Chiêm Thành vào thế kỉ thứ XIV Chế Mân đã dâng hai châu: châu Ô, châu Lí cho Đại Việt để làm sính

lễ Đây là cuộc hôn nhân đắt giá trong lịch sử Chiêm quốc để đổi lấy một tấm nhan sắc khuynh thành của Đại Việt Chiêm Thành đã mất đi những gì quý báu mà thiên nhiên giành cho, đó là cửa biển Tư Hiền và cửa Hàn hiểm yếu cùng những gì vàng son mà tổ tiên Chăm đã dày công di lưu… đó là miền đất thiêng Amaravati cùng cựu

cố đô Indrapura

Cho đến tháng Giêng năm Đinh Mùi (1307), vua Trần Anh Tông đã sai đổi tên châu Ô và châu Lí thành Thuận Châu (tức vùng thuộc phủ Triệu Phong, Hải Lăng, Quảng Điền, Hương Trà của Bình, Trị, Thiên ngày nay) và Hoá Châu (tức vùng thuộc các huyện Phú Vang, Phú Lộc của Bình, Trị, Thiên và Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên của Quảng Nam - Đà Nẵng)

Thời nhà Mạc, Địa dư chí của Nguyễn Trãi (1435) viết về phủ Triệu Phong của

xứ Thuận Hóa, sử tịch này đã chép: “Phủ Triệu Phong có 6 huyện, 2 châu, 444 xã:

huyện Hải Lăng có 54 xã, 8 thôn, 28 động, huyện Vũ Xương có 95 xã, 3 thôn, 5 sách; huyện Đan Điền có 63 xã, 9 thôn, 6 sách; huyện Kim Trà có 73 xã, 2 thôn, 6 châu, 13 sách, 3 nguyên; huyện Tư Vinh có 44 xã, 18 thôn 11 trang; huyện Điện Bàn có 95 xã; châu Thuận Bình có 8 động, 21 sách; châu Sa Bôi có 6 động, 15 trang, 68 sách” [21,

tr.44]

Có thể thấy, vào khoảng thế kỉ XV, Điện Bàn là vùng đất thuộc phủ Triệu Phong

- lộ Thuận Hóa (địa giới là phần đất từ bờ bắc sông Thu Bồn ra đến đèo Hải Vân)

Trang 15

Lúc bấy giờ, huyện Điện Bàn chỉ nêu có 12 tổng 95 xã, mà không nêu rõ tổng nào,

Thời Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 7 (1466), Bính Tuất, tháng 2, đặt

ty Tuyên chính sứ các đạo, lấy Nguyễn Thời Đạt làm Tuyên chính sứ Thuận Hóa Tháng 6, đặt 12 đạo thừa tuyên là: Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, Yên Bang, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Trung Đô phủ, đổi lộ làm phủ, đổi trấn làm châu

Năm Hồng Đức thứ hai (1471), vua Lê Thánh Tông thân hành soạn “Bình Chiêm

sách” cho quân sĩ học tập, rồi tự mình chỉ huy đại quân dẫn hơn 1.000 chiến thuyền

đi đánh Chiêm Thành Tháng 2, năm Tân Mão (1471), quân Đại Việt vây thành Trà Bàn, bắt sống vua Chiêm là Trà Toàn, rồi xuống chiếu đem quân về Sau khi chinh phục Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tông lấy phần đất chiếm được đặt làm thừa tuyên Quảng Nam, nâng số thừa tuyên của Đại Việt lên 13, bắt đầu cho sự hiện diện chính thức của người Việt ở miền Trung Vùng này trải dài từ bờ nam sông Thu Bồn đến đèo Cù Mông Nhưng lúc này vùng đất Điện Bàn vẫn chưa thuộc Quảng Nam thừa tuyên đạo mà vẫn còn là bộ phận đất đai của phủ Triệu Phong trong đạo thừa tuyên Thuận Hóa

Tháng 6 âm lịch năm 1467, vua Lê Thánh Tông dụ các thừa tuyên xem xét, tìm hiểu địa thế núi, sông và các sự tích trong địa phương mình, để vẽ địa đồ nơi đó, rồi trình lên cho Bộ Hộ tổng hợp thành bản đồ hoàn chỉnh của Đại Việt Ngày 4 tháng 4

âm lịch năm 1490, bộ bản đồ Đại Việt được hoàn tất, gọi là bản đồ Hồng Đức Bản

đồ ghi nhận nước Việt có 13 thừa tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguồn, 30 trường [13,

tr.309] Theo sách Đại Việt sử ký tục biên thì thời Hồng Đức bản đồ “Xứ Thuận Hóa

trước kia gồm 2 phủ là Tiên Bình và Triệu Phong Phủ Triệu Phong gồm 6 huyện Vũ Xương, Đan Điền, Hải Lăng, Kim Trà, Tư Vinh, Điện Bàn và 2 châu Thuận Bình, Sa

Trang 16

Bôi Cộng 2 phủ có 8 huyện 4 châu, 554 xã, 44 thôn, 3 trang, 12 nguồn, 10 động, 124 sách”[14, tr.388] Trong đó viết huyện Điện Bàn có 47 xã

Năm 1490, Thừa tuyên Quảng Nam được gọi là Xứ Quảng Nam, rồi đến 1509 đổi gọi là Trấn Quảng Nam Lúc bấy giờ, các làng xã từ phía nam đèo Hải Vân vào đến bờ bắc sông Thu Bồn trực thuộc huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong của trấn Thuận Hóa

Theo Ô châu Cận Lục, sách do Dương Văn An nhuận sắc vào năm 1553 thì

huyện Điện Bàn lúc đó ở phía nam Hóa châu có 66 xã là: Đức Ký, Nông Sơn, Bất Nhị, Đông Ba, Hoa Thử, Đa Thử, Kỳ Ba, Giáng La, Cẩm Đăng, Điểu Kha, Lỗi Sơn, Thạch Phố, Tử Sa, Giáo Ái, Bồn Khúc, Sơn, Gia Cốc, Bàng Trạch, Ái Đái, Phiếm Ái, Kim Nê, Yến Nê, Thúy Loan, Kim Toại, Diễm Sơn, Quảng Hóa, Thị Phụ, Hoa Hồ, Liên Trì, Mại Giảng, Lai Nghi, Phong Hồ, Giản Đông, Minh Châu, Kim Sa, Bình Sa, Bích Trâm, Hà Khúc, Lôi Trạch, Mông Lĩnh, Mông Vân, Địch Khang, Thọ Khang, Phú Khang, Quát Sơn, Trà Đình, Vân Quật, Thi Lại, Lang Châu, Mạc Xuyên, Hoài Phô, Cẩm Phô, Bàn Cố, Kim Lũ, Nhân Triêm, Uất Lũy, Duyên Đồ, Cẩm Lệ, Cúc Lũy,

Lỗ Giản, Thạc Giản, Vân Dương, Kim Quất, Hóa Khuê, Kim Khuê, Đại Đái

Xã hội Đại Việt thời Lê sơ sau một giai đoạn phát triển dưới thời Lê Thánh Tông, đến thế kỷ XVI đã bắt đầu suy nhược và trượt dài trên đường khủng hoảng Lúc này các thế lực phong kiến đã nổi dậy tranh giành quyền lực, cát cứ Trong bối cảnh rối ren đó, Nguyễn Hoàng, con thứ hai của Nguyễn Kim được phong Đoan quận công và được sự “định hướng” của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, năm 1558, được ban “ấn tiết” cùng người thân và hàng nghìn đồng hương thân tín Thanh – Nghệ vào Thuận Hóa và trấn thủ nơi này (Thừa Thiên Huế ngày nay) Khi đến nơi, đoàn thuyền

đã đi vào cửa Việt Yên (nay là Cửa Việt), đóng trại tại Gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện

Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) và đã chọn nơi này để lập Thủ Phủ gọi là dinh Ái Tử

Năm 1569, Nguyễn Hoàng trấn thủ đất Quảng Nam, thay cho Quận Công Nguyễn Bá Quýnh Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Tướng Quân kiêm quản cả Xứ

Quảng Nam và Xứ Thuận Hóa Năm 1572 “bấy giờ chúa Nguyễn Hoàng ở trấn hơn

10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân yên cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp Thuyền buôn các nước đến nhiều Trấn trở nên

Trang 17

một nơi đô hội lớn” Với ý định xây dựng riêng cho mình một cõi giang sơn tách biệt

và đối trọng với chính quyền Lê - Trịnh, các chúa Nguyễn đã tích cực thực hiện và đẩy mạnh các biện pháp chiêu dụ nhân dân khai khẩn đất đai vùng Thuận Quảng, đồng thời, không ngừng mở rộng cương thổ xuống phía Nam… Hệ quả tất yếu là lãnh thổ xứ Đàng Trong được kéo dài đến tận Cà Mau, các vùng đất được xác lập quyền

sở hữu của Đại Việt từ trước không ngừng được mở rộng và thành lập mới Đất Điện Bàn cũng tiếp tục được mở rộng và phát triển các làng xã trong bối cảnh lịch sử, xã hội chung ấy

1.3 Đời sống kinh tế - xã hội

Điện Bàn khi còn là lãnh thổ của Amaravati (Champa) đã có sản xuất nông nghiệp với nhiều ngành chăn nuôi, trồng trọt nhiều giống cây trồng khác nhau Cư dân ở đây biết trồng cây lúa nước, biết làm thủy lợi và làm nhiều nghề thủ công, xây dựng nhiều công trình kiến trúc độc đáo Nhưng phải từ khi trở thành bộ phận lãnh thổ của Đại Việt, trải qua các thời Trần - Lê - Mạc đến thời các chúa Nguyễn, với những luồng người di cư liên tục và đông đảo từ phía Bắc vào, vùng đất Điện Bàn mới ngày càng trở nên sầm uất, trù mật

Ngay từ thế kỉ XV - XVI (dưới thời Lê, Mạc), vùng đất huyện Điện Bàn (bao gồm cả Điện Bàn, Hòa Vang, Đại Lộc ngày nay) còn thuộc phủ Triệu Phong (Thuận Hóa) đã bắt đầu có dấu hiệu của sự trù phú

Từ công cuộc khẩn hoang, Điện Bàn là một huyện thuần nông, người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông như gieo cấy lúa nước, trồng khoai, tỉa đậu, trồng dâu, mía…

Để sớm ổn định đời sống, những người di dân đến đây đã đẩy mạnh việc xây dựng phát triển kinh tế Đời sống người dân còn quá khó khăn và lạc hậu do trình độ sản xuất kém, chỉ biết “đốn cây, gieo lúa, đốt núi trồng ngô” Nền nông nghiệp lúa nước ở đây còn quá mới mẻ, chưa phát triển, cộng với sản xuất nông nghiệp hoàn toàn lệ thuộc thời tiết, năng suất lao động thấp và bấp bênh,

Vua Trần cho cấp trâu bò, dụng cụ làm nông, đồng thời cho một số dân Giao Chỉ đã thuần thục nghề nông và biết một ít chữ nghĩa thiết lập trang trại chia nhau

để ở, dạy cho thổ dân chúng ta học hành và cày cấy Ngoài ra còn cấp thêm các giống

Trang 18

lúa với số lượng lớn để chia cho các “trại dựng kho để chứa lúa dùng vào việc chi

cấp cho quan và dân và chứa các thứ giống lúa và nông cụ” [Dẫn theo 38, tr.43]

Tất cả các chủ trương và biện pháp trên đã có tác dụng hiệu quả vô cùng lớn,

đã thúc đẩy sức sản xuất phát triển tạo sự ổn định, cải thiện và nâng cao nhanh chóng đời sống nhân dân bản địa, xây dựng được nền móng cơ bản sự đoàn kết hòa hợp hai dân tộc Chăm - Việt

Nhận xét về đời sống nhân dân huyện Điện Bàn đến nửa đầu thế kỉ XVI được Dương Văn An khái quát trong mấy dòng sau đây ở sách Ô châu cận lục (1553):

“Huyện Điện Bàn đất liền với phương nam, cương giới ở ngoài châu Ô Nhiều thóc giàu có, nhà nông đạp lúa bằng trâu Đường bộ thì có xe, đường thủy thì sẵn thuyền

Xã Mạc Châu trồng nhiều hoa hồng Xã Lang Châu sản nhiều lụa trắng Hai làng Hóa Khuê cắm cọc để chống ngạc ngư (cá sấu); các xã Lỗi Sơn, Chiếm Sơn đóng cửa gỗ để phòng mãnh thú Đàn bà mặc áo Chiêm, con trai cầm quạt Tàu Người sang kẻ hàn bát đĩa đều vẽ rồng phượng; kẻ hơn người kém sống áo toàn màu đỏ, màu hồng” [4, tr.49]

1.4 Đặc điểm dân cư, văn hóa

Tài nguyên phong phú, vị trí chiến lược quan trọng là hai yếu tố để vùng đất Điện Bàn ngày xưa trở thành vùng đất bị tranh chấp và người dân nơi đây phải gánh chịu nhiều hậu quả của những diễn biến lịch sử của đất nước để trưởng thành Trước khi người Việt di cư vào, Điện Bàn là vùng đất sinh sống của Chăm

Đến thế kỉ XIV, người Việt mới hiện diện ngày càng đông trên mảnh đất này Phần lớn dân cư là người Việt có nguồn gốc từ miền Bắc và Bắc Trung Bộ Ðó là những con người có ý chí và bản lãnh chấp nhận những khó khăn của cuộc sống phiêu lưu và khai phá Ðó là những con người có tinh thần phóng khoáng, không chịu những

áp bức bất công của thời kỳ vua Lê - chúa Trịnh suy vi, xã hội miềm Bắc hỗn loạn nên tìm cách chống lại để bảo vệ tự do và phẩm giá nên bị ghép vào tội nghịch dân

và bị lưu đày Ðó cũng là những con người nhận trách nhiệm lịch sử, đội quân tiên phong của Chúa Nguyễn vào Nam trấn thủ và mở mang bờ cõi

Từ công cuộc di dân khai khẩn vùng đất mới, những giá trị văn minh Đại Việt cũng được mang đến và trung thành với nền văn hóa Đại Việt, người Điện Bàn ngày nay vẫn còn những nét thời di dân, lập ấp truyền lại: Dũng cảm, vững vàng, cương

Trang 19

trực nhưng rất giản dị và chất phát Bằng trí tuệ và sức lao động cần cù, bền bỉ, người Điện Bàn đã khẩn hoang, lập ấp, phát triển kinh tế, xây dựng xóm làng đoàn kết, xã hội có kỷ cương, giữ vững thuần phong mỹ tục, tất cả những điều đó biểu hiện cô đọng của truyền thống yêu nước, yêu quê hương, tư tưởng nhân đạo, nhân văn sâu sắc của người Điện Bàn

Từ khi trở thành lãnh thổ Đại Việt, trải qua các thời kì lịch sử đều có chủ trương

di dân liên tục từ Bắc vào định cư lập làng, lập ấp

Từ cuộc di dân thời nhà Hồ đầu thế kỷ XV (1402), rồi tiếp sau đó dưới thời nhà Hậu Lê (sau năm 1471) và đặc biệt dưới thời các chúa Nguyễn (năm 1558) với những luồng người di cư liên tục và đông đảo từ phía Bắc vào, vùng đất Điện Bàn mới ngày càng trở nên sầm uất, trù mật Tham gia công cuộc khai khẩn vùng đất mới là những người thuộc nhiều dòng họ Họ đến từ nhiều vùng đất khác nhau, đông nhất là từ Nghệ An, Thanh Hóa Những người Việt chuyển cư từ phía Bắc vào Điện Bàn – Quảng Nam, có nhiều nguồn gốc khác nhau: có những người không đạt đến sự thành công trong ý đồ của mình ở các tỉnh quê hương phía Bắc, có cả những tội đồ, nghịch dân Nhưng tuyệt đại đa số vẫn là những người lao động lương thiện, những quan lại, tướng lĩnh, những binh sĩ đã tham gia cuộc hành quân lớn do vua Lê Thánh Tông

tổ chức, tình nguyện ở lại vùng đất mới để xây dựng “quê hương mới” Những người dân Đại Việt xa rời lãnh thổ quê hương cũ, họ vẫn mang theo đến những vùng đất mới những phong tục tập quán lưu truyền, những giá trị văn minh Đại Việt và vẫn sâu sắc với gốc tích quê hương

Tham gia công việc khai khẩn vùng đất mới là những người thuộc nhiều dòng

họ khác nhau từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương, Cao Bằng Đông nhất là từ Nghệ

An, Thanh Hóa Những người Việt chuyển cư từ phía Bắc vào Điện Bàn - Quảng Nam, có nhiều nguồn gốc khác nhau: có những người không đạt đến sự thành công trong ý đồ của mình ở các tỉnh quê hương phía Bắc, có cả những tội đồ, nghịch dân Nhưng tuyệt đại đa số vẫn là những người lao động lương thiện, những quan lại, tướng lĩnh, những binh sĩ đã tham gia cuộc hành quân lớn do vua Lê Thánh Tông tổ chức, tình nguyện ở lại vùng đất mới để xây dựng “quê hương mới” Những người dân Đại Việt khi chuyển vào nam đã từng gắn bó với giá trị văn minh Đại Việt, đã từng biết đến vinh quang từ những thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và một

Trang 20

thời cực thịnh dưới triều Lê Sơ Họ vượt qua đèo Hải Vân, đi lập nghiệp ở vùng đất mới với một niềm tin và một mong ước về một cuộc sống và một tương lai tốt đẹp

Xa rời lãnh thổ quê hương cũ, họ vẫn mang theo đến vùng đất mới những phong tục tập quán lưu truyền, những giá trị văn minh Đại Việt và vẫn sâu sắc với gốc tích quê hương

Nhờ các gia phả và các văn bia còn giữ lại được, có thể biết rõ từ cuối thế kỷ

XV trở đi có khá nhiều tộc họ đến khai khẩn vùng đất của huyện Điện Bàn ngày nay Sau đại thắng quân Chiêm (1471), Triệu quận công Lê Văn Cảnh được sai phái ở lại vùng đất Chiêm Động đã tổ chức khai khẩn đất hoang, qui dân lập ấp, lập nên làng Mạc Xuyên sau đổi là Vân Xuyên rồi Vân Ly, nay thuộc xã Điện Quang Lê Viết Bang, theo phò vua vào Nam chinh chiến, sau 1471 được vua sai phái ở lại vùng đất Chiêm Động, có công khai khẩn đất hoang, qui dân lập ấp, lập nên làng Bằng An, nay thuộc xã Điện An Đô trị bình Chiêm Lê Tự Cường sau thời gian phò vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm thắng lợi đã có công khai khẩn xứ Bàn Tràm, làng Thanh Quýt thuộc xã Điện Thắng ngày nay

Có rất nhiều dòng Lê tộc từ Thanh Hóa vào định cư tại đất Điện Bàn ngày nay như Lê Tấn Viễn định cư tại Điện Dương, Lê Cao Xảo tại Điện Phước, Lê Viết Bảo tại Điện Nam, Lê Cường, Lê Tấn tại Điện Hồng, Lê Văn Đạo tại Đông Bàn, Lê Đắc Sùng tại Giáo Ái, Túy La (Điện Hồng), Lê Đắc Vinh tại Điện Hồng

Không chỉ có người họ Lê mà còn có cả người thuộc các tộc khác hoặc theo nhà vua đánh Chiêm rồi ở lại khai khẩn vùng đất mới, hoặc di cư vào từ sau khi đạo Thừa tuyên được thành lập Nhờ các gia phả và các bia đá còn giữ lại được, có thể biết từ cuối thế kỷ XV có nhiều tộc đến khai khẩn vùng đất Điện Bàn ngày nay như thủy tổ tộc Phạm ở Cẩm Sa, thủy tổ tộc Nguyễn Văn, tộc Đào, tộc Võ, tộc Mai, tộc

Lê, tộc Nguyễn, tộc Hồ ở làng Nông Sơn, tộc Phan, tộc Ngô, tộc Nguyễn ở làng Bảo

An

Các nhà nghiên cứu cũng đọc được trên một tấm văn bia của dòng họ Phan,

xã Phong Thử (Điện Bàn) những dòng chữ sau: “Năm Đinh Mùi Quang Hòa 15

4 Vua Lê Trang Tông thời đó

Trang 21

khai phá vùng đất phía na,, di dân cư trú, mở rộng nơi ở, mở mang đất đai Thủy tổ

nơi đó ông thấy rừng có thể trồng cây, suối có cá bơi lội, đất có thể thành ruộng tươi tốt, cỏ có thể chăn nuôi Vì thế ông rất vui vẻ có chí kiến lập làm chỗ an cư, bèn quay

về đón dân tới làm ruộng cày bừa, yên tâm sinh sống lập nghiệp” [Dẫn theo 38, tr

54]

Làng Hà Thanh (thuộc xã Điện Hòa) ngày nay, trước gọi là làng Hà Khúc, tương truyền trước đời Gia Dụ Nguyễn Hoàng (1558 - 1612) có người họ Đặng, họ Nguyễn, họ Phạm từ Thanh Hóa vào khai khẩn, lập nên làng Hà Khúc (Hà Thanh - Điện Hòa ngày nay) Ông tổ họ Nguyễn ở Hà Thanh là Nguyễn Thanh Chiêm Ông

tổ họ Phạm là Phạm Công Bài cùng đến Người tộc Nguyễn khai khẩn lập nên Hà Thanh Đông, người họ Phạm khai khẩn lập nên Hà Thanh Tây Ông tổ họ Đặng là Đặng Bá Chiến tuy đến Hà Khúc từ trước nhưng do ít dân, không lập được ấp, nên cùng sống, cùng làm với dân họ Nguyễn, họ Phạm6 Về sau có thêm người của các tộc họ khác đến là họ Lê, họ Ngô, họ Tăng, họ Từ, họ Châu, họ Nguyễn Viết, Nguyễn Phi, họ Phan, họ Trần, họ Diêu

Trên mảnh đất vốn là lãnh thổ thuộc Amaravati của vùng đất Chiêm Thành xa xưa, cư dân Đại Việt từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương, Cao Bằng, vào khai khẩn đã tiếp cận với một thiên nhiên phong phú nhưng đầy trở lực Rừng rậm nhiều, thú dữ còn vây kín cả con người Rừng sâu, sông gấp, biển đầy bão tố, nắng lửa, mưa dầm là những thách thức thường xuyên Một thước đất được khai phá trên mảnh đất này thật là một kết quả đẫm mồ hôi của sự lao động gian nan Quá trình lao động khai phá đó đã góp phần rèn luyện cho người Quảng nói chung và người Điện Bàn nói riêng có được độ bền bỉ và gian truân trên đất Điện Bàn ngày xưa trong suốt thế kỉ

XV - XVI đã đưa lại hai kết quả rõ rệt: có nơi thì mở rộng thêm những làng xã mới trên các vùng đất mới được khai khẩn Nhiều làng xã mới ra đời cùng với hệ thống làng xã cũ đã có sẵn đã làm cho thôn ấp nối liền thôn ấp, làng xã nối tiếp nhau trên một miền đất mà mấy thế kỉ trước còn hoang sơ và dân cư còn thưa thớt

5 Linh Giang - sông Gianh ở Quảng Bình

6 Theo quy định thời đó, mỗi tộc họ phải có từ 50 dân trở lên mối được thành lập 1 ấp

Trang 22

CHƯƠNG 2: DIỆN MẠO VÙNG ĐẤT ĐIỆN BÀN

TỪ THẾ KỈ XVII ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX 2.1 Vị trí địa lý và địa giới hành chính

2.1.1 Vị trí địa lý

Thế kỉ XVII, XVIII hầu như không thấy nguồn sử tịch nào nhắc đến về vị trí địa lý của vùng đất Điện Bàn

Đến đầu thế kỉ XIX, theo Đại Nam nhất thống chí thì dựng đặt và diên cách của

phủ Điện Bàn như sau:

“Phủ Điện Bàn: cách tỉnh thành 3 dặm về phía nam, đông tây cách nhau 99

dặm, nam bắc cách nhau 78 dặm, phía đông đến biển 25 dặm, phía tây đến bảo Yên Sơn giáp động Man 74 dặm, phía nam đến địa giới huyện Quế Sơn phủ Thăng Bình

13 dặm, phía bắc đến cửa Hải Vân giáp địa giới huyện Phú Lộc phủ Thừa Thiên 65 dặm Cụ thể:

Huyện Diên Phước: đông tây cách nhau 99 dặm, nam bắc cách nhau 28 dặm, phía nam đến biển 25 dặm, phía tây đến bảo Yên Sơn giáp động Man 74 dặm, phía nam đến địa giới huyện Duy Xuyên 5 dặm linh, phía bắc địa giới huyện Hòa Vang 23 dặm

Huyện Hòa Vang: ở cách phủ Điện bàn 29 dặm lệch về phía đông bắc, đông tây cách nhau 76 dặm, nam bắc cách nhau 39 dặm, phía đông đến biển 10 dặm, phía tây đến sông Hoàng Giang giáp động Man 66 dặm, phía nam đến địa giới huyện Diên Phước chừng 1 dặm, phía bắc đến cửa Hải Vân giáp địa giới huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên 38 dặm

Huyện Duy Xuyên: ở cách phủ Điện Bàn 12 dặm lệch về phía nam, đông tây cách nhau 77 dặm, nam bắc cách nhau 22 dặm, phía đông đến địa giới huyện Lễ Dương phủ Thăng Bình 15 dặm, phía tây đến đạo Trà Tế giáp động Man 62 dặm, phía nam đến địa giới huyện Quế Sơn phủ Thăng Bình chừng 6 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Diên Phước 16 dặm” [27, tr.389-391]

2.1.2 Địa giới hành chính

Trang 23

Năm 1602, Nguyễn Hoàng đổi trấn Quảng Nam thành dinh Quảng Nam và năm

1604 tách huyện Điện Bàn (trước thuộc huyện Triệu Phong, Thuận Hóa) nâng lên cấp phủ, đặt thêm hai huyện Hòa Vang (Vinh) và Diên Phúc lệ vào phủ Điện Bàn Lúc này, phủ Điện Bàn quản lĩnh 5 huyện là Tân Phúc, An Nông, Hòa Vinh, Diên Khánh

và Phú Châu, cho thuộc vào dinh Quảng Nam, không rõ bấy giờ các huyện nầy quán lĩnh các làng xã nào Như vậy, dinh Quảng Nam thời Trịnh - Nguyễn phân tranh có 4 phủ 14 huyện, địa giới trải từ nam Hải Vân cho đến Cù Mông Còn phía nam Cù Mông là phủ Phú Yên của dinh Trấn Biên Sự việc chúa Nguyễn Hoàng đem quân đi đánh Chiêm Thành và mở rộng bờ cõi ra phía nam được coi là bước Nam tiến đầu tiên của họ Nguyễn, sau 130 năm dừng lại ở đèo Cù Mông, từ sau chiến thắng năm

1471 của Lê Thánh Tông

Khi Lê Quý Đôn vào Thuận Hóa, năm 1776, ông viết tập Phủ biên tạp lục cho

thấy các huyện của phủ Điện Bàn lúc này bao gồm 5 huyện, 197 trang 19 thôn 7 giáp,

205 phường 86 châu Cụ thể là:

+ Huyện Hòa Vinh (Vang) có 3 Tổng là Lệ Sơn (có 21 xã), Hà Khúc (có 20 xã

4 giáp), Lỗ Giáng (có 10 xã 1 ty)

+ Huyện An Nông có 2 Tổng là tổng An Sơn (20 xã 1 thôn 3 phường) và tổng Phiếm Ái (14 xã 5 thôn 1 ty 4 phường 1 man)

+ Huyện Diên Khánh có 2 Tổng là tổng Ất Lũy (14 xã 5 giáp 5 phường) và tổng Mông Lĩnh (27 xã 5 thôn 1 ty 5 phường 3 man)

+ Huyện Tân Phúc có 3 Tổng là tổng Phúc Sơn (18 xã 2 phường), tổng Hòa Mỹ (18 xã 1 ty 1 tộc) và tổng Phúc Long (35 xã)

+ Huyện Phú Châu có 2 Tổng là tổng Thượng (46 châu 12 phường) và tổng Đại (38 châu 3 phường) [7, tr.105-111]

Từ năm 1774 đến năm 1801, nhà Tây Sơn cai trị đất này Địa danh hành chính hầu như không có gì thay đổi

Năm 1801, Nguyễn Ánh tái chiếm và lấy 2 phủ Thăng Hoa, Điện Bàn đặt làm dinh Quảng Nam Khi đã đánh bại nhà Tây Sơn, năm 1803 vua Gia Long thu hẹp Dinh Quảng Nam chỉ còn 2 phủ là Điện Bàn và Thăng Hoa Năm 1806, đổi làm dinh

Trang 24

trực lệ Quảng Nam, lệ thuộc vào Kinh Sư (Huế), gồm 5 huyện Tân Phước, An Nông, Hòa Vang, Diên Khánh, Phú Châu

Năm 1812, lập Địa bạ cho dinh Quảng Nam Theo Địa bạ Gia Long, lập trong hai năm 1814 - 1815, thì dinh Quảng Nam gồm 2 phủ, 5 huyện, 29 tổng, 973 làng xã [16, tr.60]

Dưới triều Nguyễn, căn cứ vào Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn thì dưới thời

vua Gia Long (1802 - 1820) thì vào thời kì này, phủ Điện Bàn chỉ gồm có hai huyện: Huyện Diên Khánh và huyện Hòa Vang với 12 tổng, 2 thuộc và 365 làng Cụ thể như sau:

Huyện Diên Khánh có 7 tổng và 1 thuộc: tổng An Lưu Hạ, tổng An Nhơn Trung, tổng An Thái Thượng, tổng Đa Hòa Trung, tổng Hạ Trung Nông, tổng Phú Chiêm Hạ, tổng Thanh Quất Trung, thuộc Phú Châu

Huyện Hòa Vang có 5 tổng và 1 thuộc: tổng An Châu Thượng, tổng Bình Thái

Hạ, tổng Đức Hòa Thượng, tổng Hòa An Thượng, tổng Phước Tường Thượng, thuộc Võng Nhi [16, tr.60-61]

Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ dưới thời vua Minh Mạng (1820

- 1841), năm 1822, trong phủ Điện Bàn, vua Minh Mệnh cho sáp nhập Huyện Phú Châu vào Huyện Diên Khánh, đổi tên Diên Khánh thành Huyện Diên Phúc, gồm 7 tổng là An Lưu Hạ, An Nhơn Trung, An Thái Thượng, Đa Hoà Trung, Hạ Nông Trung, Phú Chiêm (Triêm) Hạ, Thanh Quýt Trung và 1 thuộc là Phú Châu, tất cả 222

Năm 1832, vua Minh Mạng đổi trấn Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam Phủ Điện Bàn thuộc tỉnh Quảng Nam

Theo Quốc triều chính biên toát yếu vào năm 1835, trích lấy một phần huyện

Duy Xuyên của phủ Thăng Hoa cho thuộc vào phủ Điện Bàn [29, tr.273]

Đến thời Tự Đức, tỉnh Quảng Nam có 2 phủ là Điện Bàn và Thăng Bình Phủ Điện Bàn lĩnh 3 huyện :

- Diên Phúc (có 10 tổng, 256 xã, thôn)

- Duy Xuyên (có 9 tổng, 189 xã, thôn, phường, châu, ấp)

- Hòa Vinh (có 7 tổng, 158 xã, thôn, phường, ấp, giáp)

Trang 25

Như vậy, từ năm 1602 cho đến năm 1884, địa giới vùng đất Điện Bàn đã có nhiều thay đổi Để dễ dàng nhận biết sự thay đổi địa giới hành chính Điện Bàn tôi tổng hợp và lập ra bảng sau:

Bảng 2.1: Sự thay đổi địa giới của Điện Bàn từ thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XIX

1 1602 Gồm 5 huyện là Tân Phúc, An Nông, Hòa Vinh, Diên Khánh và

- Huyện Diên Khánh có 7 tổng và 1 thuộc: tổng An Lưu Hạ, tổng

An Nhơn Trung, tổng An Thái Thượng, tổng Đa Hòa Trung, tổng

Hạ Trung Nông, tổng Phú Chiêm Hạ, tổng Thanh Quất Trung, thuộc Phú Châu

- Huyện Hòa Vang có 5 tổng và 1 thuộc: tổng An Châu Thượng, tổng Bình Thái Hạ, tổng Đức Hòa Thượng, tổng Hòa An Thượng, tổng Phước Tường Thượng, thuộc Võng Nhi

Trang 26

4 1835

Gồm 3 huyện là Diên Phúc, Duy Xuyên và Hòa Vang Cụ thể như sau:

- Diên Phúc (có 10 tổng, 256 xã, thôn)

- Duy Xuyên (có 9 tổng, 189 xã, thôn, phường, châu, ấp)

- Hòa Vang (có 7 tổng, 158 xã, thôn, phường, ấp, giáp)

[Nguồn: Đại Nam nhất thống chí, Tập 2]

2.2 Điều kiện tự nhiên

2.2.1 Đặc điểm địa hình

Về địa hình của Điện Bàn được Đại Nam nhất thống chí ghi chép như sau:

Bảng 2.2: Địa hình phủ Điện Bàn thế kỉ XIX Huyện Diên Phước Hòa Vang Duy Xuyên

Núi

Núi Ngũ Hành, núi

Châu Thí, núi Bào

Nghi, núi Bảo Sơn,

núi Mỹ Yên, núi Trà

Sơn

Núi Đồng Hoạch, núi Hải Vân, núi Phù Nam, núi Nam An, núi Hội An, núi Giáo Lao, núi Cảnh Hóa, núi Cu Đê, núi Tượng Võng, núi Dương Sơn, núi Phúc Tường, núi Cẩm Lệ, núi Xuân Sơn

Núi Tào, núi Ấn

Đảo Đảo Đại Chiêm

Rừng

Rừng Cẩm Nê Rừng Thạch Bàn,

rừng An Xuân, rừng Phúc Sơn

[Nguồn: Đại Nam nhất thống chí, Tập 2]

Xét về địa hình hiện nay, Điện Bàn có sự phân hóa thành 5 vùng cảnh quan chính: vùng núi tập trung ở phía tây và phía bắc; vùng trung du là dải gò đồi trước núi và chân núi, xen lẫn những thềm phù sa cổ hoặc thềm biển cũ, đất đai cằn cỗi, phần lớn là loại đất xám, bạc màu; vùng đồng bằng (Thu Bồn và Hòa Vang) đất đai

Trang 27

tương đối màu mỡ; vùng bờ biển hầu hết là loại đất cát, hàm lượng dinh dưỡng thấp, được bồi đắp bởi trầm tích sông biển, một số nơi bị nhiễm mặn; vùng biển và hải đảo với một “bao lơn” dài, có nhiều đảo nhỏ Trong Đại Nam nhất thống chí chỉ tập trung ghi chép vùng rừng núi phía tây của Điện Bàn, biểu hiện ở bảng 2.2

Ở cả ba huyện của phủ Điện Bàn lúc bấy giờ đều có rất nhiều núi, tập trung chủ yếu ở hai huyện Hòa Vang và Diên Phúc Trong đó có những núi rất lớn như núi Ngũ Hành ở huyện Diên Phước và núi Hải Vân ở huyện Hòa Vang

Về núi, Đại Nam nhất thống chí có ghi chép như sau:

“Núi Ngũ Hành: ở xã Hóa Khuê Đông, cách huyện Diên Phúc 23 dặm về phía đông bắc Giữa động cát nổi lên sáu ngọn núi đá, sông cái lượn phía tây, biển cả bao phía đông bắc hình núi nhọn đẹp, trời tạnh nhìn ở xa, sắc như mây gấm, thật là đáng yêu, tục gọi là “hòn Non Nước” Ngọn núi về phía đông bắc như hình sao Tam Thai, xưa gọi là núi Tam Thai, xem khắp danh thắng, nhân đặt tên cho các động và khắc vào đá, có những tên: động Huyền Không, động Linh Nham, động Lăng Hư, động Vân Thông, động Tàng Chân, hang Vân Nguyệt và hang Thiên Long” [27, tr.399]

“Núi Hải Vân: ở cách huyện Hòa Vang 38 dặm về phía bắc, mạch này từ các núi Đại Tu Nông, núi Tiểu Tu Nông, núi Tía và núi Kiền Kiền ở biên giới Ai Lao về phía Tây, từng đợt kéo đến, ngọn núi trùng điệp, cao vót tầng mây thắng đến sát biển Trên núi có cửa Hải Vân, là chỗ tiếp giáp Thừa Thiên Huế và Quảng Nam ( về phí Bắc cửa quan ải thì xem Thừa Thiên phủ chí), phía Nam cửa thuộc địa phận huyện Hòa Vang Trước cửa quan chừng vài ba trượng, núi đá dựng đứng rất hiểm dốc Trước kia họ Trịnh từng đắp lũy để chông Tây Sơn, nên gọi Đỉnh Lũy Phía nam chân núi là núi Thông Sơn, tục gọi hình Hành, năm Minh Mênh thứ 4 cho tên núi Định Hải, có xây pháo đài ở đây Phía Tây có núi Sen, núi SẢng là chỗ đường trạm đi qua, năm Minh Mệnh thứ 7, đổi tên là Thạch Lĩnh, đường núi gập gềnh, cây đá lẫn lộn Chân núi phía nam kề liền vụng biển, có ghềnh đá đứng sững ở bờ biển, cao thấp lô nhô, như hình non bộ, sóng biển đập vào, nước phun như mưa” [27, tr.403-404]

Bên cạnh hệ thống núi, ở Điện Bàn trong thế kỉ này còn có những khu rừng khá lớn, tập trung chủ yếu ở huyện Duy Xuyên như rừng Thạch Bàn và rừng Phúc Sơn

Đại Nam nhất thống chí có ghi chép về hai rừng này như sau:

Trang 28

“Rừng Thạch Bàn: ở xã Thạch Bàn, huyện Duy Xuyên, dài 1.580 trượng, tục

gọi truông Sứ, nhiều ác thú” [27, tr.418]

“Rừng Phúc Sơn: ở xã Phúc Sơn huyện Duy Xuyên, dài 500 trượng, có nhiều

ác thú” [27, tr.418]

Ngoài ra, ở Điện Bàn thế kỉ XIX còn có một đảo lớn nằm ngoài khơi, đó là

đảo Đại Chiêm Đại Nam nhất thống chí cho biết:

“Đảo Đại Chiêm: ở cách huyện Diên Phước 68 dặm về phía đông, ngất ngưỡng giữa biển, gọi là đảo Ngọa Long, cũng gọi là hòn Cù Lao, có tên nữa là núi Tiêm Bút, tên cổ là Chiêm Bất Lao, làm trấn sơn cho cửa biển Đại Chiêm Dân phường Tân Hợp ở phía nam núi, ruộng đất trên núi có thể cày cấy, thuyền biển nước ta và nước ngoài thường trông núi này làm chừng đi về đều đỗ ở đấy để lấy củi, nước Có ba ngôi đền: đền Phục Ba tướng quân, đền Tứ Dương Hầu, đền Bích Tiên (có thuyết nói

là đền Cao Các đại vương, đền Phục Ba tướng quân, đền Bô Bô đại vương) Về phía tây chừng 3 dặm, có hòn Lồi, về phía nam chừng 7 dặm có hòn Tai, về phía bắc chừng

10 dặm có hòn La, về phía tây bắc chừng 17 dặm có hòn Khô lớn, hòn Khô nhỏ, hòn Dài, hòn Mậu Phía nam hòn Tai có hang đá, chim yến tụ tập, tục gọi hòn Yến, chim yến thường ở hai bên động nhả nước dãi để làm tổ, yến hộ lấy nộp” [27, tr.418-419]

Bảng 2.3: Tài nguyên, thổ sản của phủ Điện Bàn thế kỉ XIX

Huyện Diên Phước Hòa Vang Duy Xuyên

Thổ sản

Đũi, lụa, sa, nhiễu,

lãnh thâm, vải, đường

cát, bánh đậu xanh,

chè nam, yến sào, đồ

gốm, cẩm thạch, gỗ

kiền kiền, cây trám,

Vải, thuốc lá, muối, đá xanh, gỗ kiền kiền, cây trám, chim vàng anh, chim nhung, cá trôi, cá gáy, cá vảnh, cua đá, chá thiền tử,

hồ đằng tử

Sắt, đũi, lụa, vải, mạch môn đông,

đá la vân, cây thông, gỗ kiền kiền, chim vàng

Ngày đăng: 03/08/2019, 11:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cristophoro Borri (2014), Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đàng Trong năm 1621
Tác giả: Cristophoro Borri
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
2. Dương Văn An (2009), Ô Châu cận lục, Nguyễn Khắc Thuần dịch, hiệu đính và chú giải, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô Châu cận lục
Tác giả: Dương Văn An
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
3. Dương Văn An (1961), Ô châu cận lục, Bùi Lương dịch, Nxb Văn hóa Á Châu, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô châu cận lục
Tác giả: Dương Văn An
Nhà XB: Nxb Văn hóa Á Châu
Năm: 1961
4. Dương Văn An (1997), Ô châu cân lục, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô châu cân lục
Tác giả: Dương Văn An
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
5. Đào Duy Anh (1995), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1995
6. Hồ Trung Tú (2011), Có 500 năm như thế, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Có 500 năm như thế
Tác giả: Hồ Trung Tú
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2011
7. Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, Bản dịch của Viện Khoa học xã hội, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2007
8. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Tập 3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
9. Lê Văn Hưu và các sử thần triều Lê (1983), Đại Việt Sử ký toàn thư, Tập 3, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Sử ký toàn thư
Tác giả: Lê Văn Hưu và các sử thần triều Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1983
10. Mai Thị (1995), Phủ tập Quảng Nam ký sự, tư liệu thư tịch và di tích về nhân vật Bùi Tá Hán (1496-1586), Sở Văn hóa thông tin Quảng Ngãi, Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ tập Quảng Nam ký sự, tư liệu thư tịch và di tích về nhân vật Bùi Tá Hán (1496-1586)
Tác giả: Mai Thị
Năm: 1995
11. Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin (2003), Đồng Khánh địa dư chí, Tập1, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng Khánh địa dư chí
Tác giả: Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2003
12. Ngô Sĩ Liên (1972), Đại Việt sử ký Toàn thư, Tập 3, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký Toàn thư, Tập 3
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1972
13. Ngô Sĩ Liên (1993), Đại Việt sử ký Toàn thư, Bản kỷ thực lục: Quyển XII, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký Toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
14. Ngô Thế Long - Nguyễn Kim Hưng dịch và khảo chứng (2011), Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789), Nxb Văn hóa - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789
Tác giả: Ngô Thế Long - Nguyễn Kim Hưng dịch và khảo chứng
Nhà XB: Nxb Văn hóa - thông tin
Năm: 2011
15. Nguyễn Đình An (chủ biên) (2010), Địa chí Quảng Nam- Đà Nẵng, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Quảng Nam- Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Đình An (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2010
16. Nguyễn Đình Đầu (2010), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Dinh Quảng Nam, tập I, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Dinh Quảng Nam, tập I
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
17. Nguyên Ngọc (chủ biên) (2005), Tìm hiểu con người xứ Quảng, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu con người xứ Quảng
Tác giả: Nguyên Ngọc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
18. Nguyễn Quang Thắng (2005), Quảng Nam trong hành trình mở cõi giữ nước - nhìn từ góc độ văn hóa, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Nam trong hành trình mở cõi giữ nước - nhìn từ góc độ văn hóa
Tác giả: Nguyễn Quang Thắng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
19. Nguyễn Sinh Duy (2005), Quảng Nam và những vấn đề sử học, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Nam và những vấn đề sử học
Tác giả: Nguyễn Sinh Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
20. Nguyễn Thế Anh (1971), Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, Nxb Lửa Thiêng, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: Nxb Lửa Thiêng
Năm: 1971

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w