Dưới góc độ nghiên cứu luật học, ở nước ta đã có nhiều công trình, bài viết liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bảo đảm quyền con người trong các luận văn thạc sĩ, tạp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NÔNG THÙY TRANG
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TỪ THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NÔNG THÙY TRANG
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TỪ THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành : Luật hiến pháp và Luật hành chính
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Thái Vĩnh Thắng, người thầy đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo giảng dạy chuyên ngành đào tạo Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, các thầy, cô giáo Khoa Đào tạo sau đại học trường Đại học Luật Hà Nội cùng đồng nghiệp, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn động viên, ủng hộ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy hướng dẫn cùng sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tuy nhiên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ các thầy, cô, đồng nghiệp, bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nông Thùy Trang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nông Thùy Trang
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Bảng số liệu án thụ lý kiểm sát điều tra của
Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm
2014 – 2017
55
Bảng 3.2: Bảng số liệu án thụ lý truy tố của Viện kiểm
sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm 2014 – 2017
57
Bảng 3.3: Bảng số liệu án kiểm sát xét xử của Viện kiểm
sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ năm 2014 – 2017
58
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3.Mục đích, đối tượng, phạm vi của việc nghiên cứu đề tài 2
3.1 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài 2
3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp luận 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu 3
5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 4
6.Bố cục luận văn 4
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI 5
1.1 Khái niệm quyền con người và cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người 5
1.1.1 Khái niệm quyền con người 5
1.1.2 Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người 6
1.1.3 Quyền con người quy định trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 và các quy định của pháp luật 7
1.2 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bảo đảm quyền con người 9
1.2.1 Cơ cấu tổ chức 9
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến việc bảo đảm quyền con người 9
1.2.3 Nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân 11
1.2.4 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bảo đảm quyền con người 12
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 13
Trang 7CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN THỂ HIỆN VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI 14
2.1 Bảo đảm quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố 15
2.2 Bảo đảm quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố và điều tra các vụ án hình sự 20
2.2.1 Khởi tố vụ án hình sự 20 2.2.2 Điều tra vụ án hình sự 21
2.3 Bảo đảm quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong truy tố và xét xử các vụ án hình sự 27
2.3.1 Quyết định truy tố bị can, đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án 27 2.3.2 Giai đoạn xét xử vụ án hình sự 30
2.4 Bảo đảm quyền con người qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tạm giữ, tạm giam 36
2.5 Bảo đảm quyền con người qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án 39
2.6 Vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật 40
2.6.1 Bảo đảm quyền con người qua kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; Kiểm sát việc thụ lý vụ việc của Tòa án 41 2.6.2 Bảo đảm quyền con người qua việc thu thập, nghiên cứu tài liệu, chứng
cứ và tham gia phiên toà, phiên họp; Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; Yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật 43 2.6.3 Bảo đảm quyền con người qua kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án Kháng nghị, Kiến nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật 46
2.7 Bảo đảm quyền con người qua kiểm sát việc thi hành án dân sự 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50
Trang 8CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 51
3.1 Khái quát về vị trí địa lý, tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Lạng Sơn 51
3.2 Thực tiễn bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 52
3.2.1 Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 52 3.2.2 Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự …… ….54 3.2.3 Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố .56 3.2.4 Thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự… …58 3.2.5 Công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự 60 3.2.6 Công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật 63 3.2.7 Công tác kiểm sát thi hành án dân sự 67
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 73 KẾT LUẬN CHUNG 74
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quyền con người là vấn đề luôn được các quốc gia trên thế giới quan tâm và đều được các quốc gia ghi nhận trong Hiến pháp, đạo luật cơ bản của nước mình Tuy nhiên nếu pháp luật chỉ đơn giản ghi nhận về các quyền mà không có các chế định cụ thể nhằm bảo đảm việc thực hiện chúng thì việc quy định này sẽ không thực
sự đạt được hiệu quả, bởi điều cơ bản và quan trọng nhất đặt ra khi bàn về quyền con người là cần phải thiết lập được cơ chế thực hiện và bảo vệ chúng trong trường hợp bị xâm hại
Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp nhằm thực hiện việc bảo đảm quyền con người, từ việc xây dựng hệ thống bộ máy, hoàn thiện hệ thống pháp luật cho đến tổ chức thực hiện pháp luật Trong đó, bảo đảm con người thông qua các thiết chế tư pháp là vô cùng cần thiết Từ các quy định tại Hiến pháp Việt Nam năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân đã được khẳng định là cơ quan bảo vệ pháp luật quan trọng của quốc gia, trở thành chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người
Lạng Sơn là một tỉnh biên giới tiếp giáp với Trung Quốc có tình hình kinh tế, chính trị, diễn biến tội phạm khá phức tạp Những năm qua, công tác thực hành quyền công tố, công tác kiểm sát đã được quan tâm sát sao, nâng cao chất lượng nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân, cũng như góp phần phát hiện và
xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật, góp phần ổn định trật tự xã hội Các đơn vị Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh luôn không ngừng cố gắng, vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ đã được giao phó Tuy nhiên, công tác thực hành quyền công tố, công tác kiểm sát ở tỉnh Lạng Sơn vẫn tồn tại những hạn chế về hiệu quả hoạt động
Để hiểu rõ hơn về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bảo đảm quyền con người và đánh giá được thực trạng công tác bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, tìm ra những ưu điểm và hạn chế cũng như nguyên nhân dẫn đến các hạn chế đó, nhằm đề xuất những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trong
giai đoạn hiện nay, tác giả lựa chọn đề tài “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
trong bảo đảm quyền con người từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” làm đề
tài luận văn của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung, bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp cũng như quyền con người trong tố tụng hình sự, tố tụng dân sự
đã được nghiên cứu từ các góc độ và với các mức độ khác nhau Dưới góc độ nghiên cứu luật học, ở nước ta đã có nhiều công trình, bài viết liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bảo đảm quyền con người trong các luận văn thạc
sĩ, tạp chí chuyên ngành, sách chuyên khảo , có thể kể đến một số ví dụ như: Luận
văn thạc sĩ “Viện kiểm sát với vai trò bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự
Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Phương Nga năm 2014; Luận Văn thạc sĩ “Sự tham gia tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam” của
tác giả Võ Thị Phượng năm 2011; Luận văn thạc sĩ “Bảo vệ quyền con người,
quyền công dân của Viện kiểm sát nhân dân – Qua thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định” của tác giả Trần Hoàng Nhung năm 2015; Luận
văn thạc sĩ “Đảm bảo quyền con người trong thực hành quyền công tố của Viện
kiểm sát nhân dân trên cơ sở số liệu địa bàn tỉnh Hà Giang” của tác giả Lâm Thị
Thanh Thảo năm 2015; Bài viết “Quyền con người, quyền công dân trong Hiến
pháp năm 2013” của tác giả Đoàn Thị Ngọc Hải đăng trên trang thông tin điện tử
của Bộ Tư pháp tháng 5/2015; Bài viết “Bảo vệ quyền con người qua hoạt động
thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát” của tác giả Phạm Mạnh Hùng đăng trên trang thông tin điện tử
của Trường đại học Kiểm sát Hà Nội Nhìn tổng thể, các công trình khoa học, bài viết nêu trên đã đề cập sâu về lý luận cũng như thực tiễn về quyền con người và vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực này Tuy nhiên, nhận thấy bảo đảm quyền con người là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu tại nước ta, ở thời điểm hiện tại trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn vẫn chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này, đồng thời xét thấy thời điểm nghiên cứu của các công trình, bài viết nêu trên đã tương đối lâu nên không cập nhật được những vấn đề đặt
ra trong lý luận cũng như thực tiễn ở hiện tại Vì vậy, vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi của việc nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân Đánh giá vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát
Trang 11nhân dân từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát tại địa phương để bảo đảm quyền con người
3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Quy định của pháp luật quốc gia hiện hành về vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân và việc thực hiện vai trò đó trong thực tiễn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Qua đó, tìm ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đồng thời đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
3.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Lạng Sơn
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2017
- Phạm vi nội dung: Tác giả chỉ dừng lại ở việc phân tích, đánh giá những vấn
đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong lĩnh vực pháp luật hình sự, pháp luật dân sự sơ thẩm
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm quyền con người
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Để nghiên cứu các văn bản pháp luật có
liên quan đến vai trò bảo đảm quyền con người thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân, các đề tài khoa học, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu: Để đưa ra cơ sở lý
thuyết về vai trò bảo đảm quyền con người qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân, đánh giá, khái quát thành những quan điểm, luận điểm phục vụ mục đích lý luận cho luận văn
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này chủ yếu được sử dụng ở chương 3
của luận văn, các số liệu thu thập được tổng hợp, phân tích làm cơ sở đánh giá thực trạng, qua đó đánh giá về thành tựu, hạn chế để đưa ra những giải pháp giải quyết vấn đề một cách cụ thể
Trang 125 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung, cho ngành Kiểm sát nói riêng về việc bảo đảm quyền con người trong thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trên phương diện lý luận và thực tiễn
Kết quả của luận văn cũng có giá trị tham khảo trong việc nghiên cứu phục vụ học tập và giảng dạy ở các trường chuyên ngành luật và những ai quan tâm đến lĩnh vực này
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
1.1 Khái niệm quyền con người và cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người
1.1.1 Khái niệm quyền con người
Mục tiêu cuối cùng của tiến trình phát triển lịch sử xã hội chính là bảo đảm quyền con người Vì thế, vấn đề bảo đảm quyền con người là vấn đề được nhiều ngành khoa học quan tâm và nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau, ở nhiều cấp độ khác nhau Điều đó đồng nghĩa với việc thuật ngữ quyền con người được hiểu không thống nhất trong các ngành khoa học khác nhau cũng như các nhà nghiên cứu khác nhau về nó Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung, quyền con người được xác định dựa trên hai phương diện chủ yếu
là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật Dưới phương diện đạo đức, quyền con người
là giá trị xã hội cơ bản, vốn có, hay chính là những đặc quyền của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự do Từ phương diện pháp lý, để trở thành quyền thì những đặc quyền kể trên phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật Như vậy, dù nhìn nhận ở góc độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là chuẩn mực xuất phát từ những giá trị nhân văn của nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người
Nhằm bảo đảm sự thống nhất nội hàm của quyền con người trong luận văn, trên cơ sở đối chiếu, so sánh các khái niệm về quyền con người đã từng được đưa
ra, tác giả nhận thấy các định nghĩa này tuy không hoàn toàn giống nhau nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là quyền của thành viên trong xã hội loài
người – quyền của tất cả mọi người, là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của
con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” 1
1
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB
Quốc gia Hà Nội, tr38
Trang 141.1.2 Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người
Quyền con người có mối liên hệ gần gũi với pháp luật bởi dù quyền con người
có là bẩm sinh, vốn có hay phải do các nhà nước quy định, thì việc thực hiện các quyền này vẫn cần có pháp luật Những quyền bẩm sinh, tự nhiên của con người không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà trở thành những quy tắc cư xử chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả mọi chủ thể trong xã hội Thực tế cho thấy, với tư cách là chủ thể của pháp luật, con người, cùng với quyền, tự do và nghĩa vụ, những thuộc tính xã hội gắn liền với nó luôn là đối tượng phản ánh của các hệ thống pháp luật Pháp luật xác lập, bảo vệ sự bình đẳng giữa các cá nhân con người trong xã hội
và sự độc lập tương đối của các cá nhân với tập thể, cộng đồng, Nhà nước thông qua việc pháp điển hóa các quyền và tự do tự nhiên, vốn có của cá nhân Theo nghĩa này, pháp luật có vai trò đặc biệt, không thể thay thế trong việc ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người.2
Bảo đảm quyền con người không phải chỉ là một hoạt động đơn lẻ mà là một quá trình Nó phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác nhau như kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa trong đó pháp luật có vị trí và tầm quan trọng hàng đầu Muốn phát huy đầy đủ vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người, trước hết pháp luật cần phải có sự ghi nhận về các quyền con người, sau đó là việc tạo các điều kiện pháp lý, các điều kiện tổ chức, việc thiết lập cơ chế, bộ máy chuyên trách bảo đảm quyền này Điều này có nghĩa là cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người
là rất quan trọng, đây tiền đề cho việc thực hiện các cơ chế bảo đảm khác cũng như tạo điều kiện cho các cơ chế khác phát huy được vai trò và hiệu quả của chúng trong việc bảo đảm quyền con người Hệ thống pháp luật cần quy định cụ thể các nguyên tắc trong việc bảo đảm quyền con người; Các quyền, nghĩa vụ cụ thể của công dân; Tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước; Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, công chức Nhà nước; Các thủ tục tố tụng, các chế tài để xử lý các hành vi vi phạm quyền con người
Như vậy, “cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người là hệ thống các biện
pháp, cách thức do pháp luật quy định để tạo các điều kiện cho mọi người có đầy
2
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB
Quốc gia Hà Nội, tr46, 47
Trang 15đủ cơ hội thực hiện trên thực tế các quyền con người, quyền công dân mà pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia đã ghi nhận” 3
1.1.3 Quyền con người quy định trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 và các quy định của pháp luật
Hiến pháp năm 2013 được thông qua tại kỳ họp thứ 6 - Quốc hội khóa XIII gồm 11 chương, 120 điều (giảm 1 chương và 27 điều so với Hiến pháp năm 1992)
có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 Hiến pháp năm 2013 kế thừa những nội dung tiến
bộ của 4 bản Hiến pháp trước
Một trong những định hướng mà Đảng ta xác định là: “Xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân” 4 Thực hiện định hướng đó, tại Hiến pháp năm 2013, quyền con người đã được quan tâm, tôn trọng và ưu tiên Điều này được thể hiện trực tiếp trong nội dung của Hiến pháp năm 2013 khi đã đưa chế định Quyền con người, quyền công dân lên vị trí thứ hai, sau chế định về Chế độ chính trị Chương II quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung
và sắp xếp lại nội dung về quyền con người từ Hiến pháp trước đây Với tinh thần
đề cao chủ quyền Nhân dân trong Hiến pháp, Nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến, thông qua quyền lập hiến của mình, Nhân dân giao quyền cho cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và các thiết chế độc lập khác, thì quyền con người, quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân phải được xác định ở vị trí trang trọng hàng đầu trong một bản Hiến pháp Điều này đã khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp, thể hiện sự nhất quán về đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp mới năm 2013 có những sửa đổi, bổ sung và phát triển thể hiện tầm quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Điều này được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu như:
Một là, tại Hiến pháp năm 2013,“quyền con người” và “quyền công dân” đã
được phân biệt là hai khái niệm khác nhau Quyền con người được hiểu là quyền tự
3
Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Sách chuyên khảo Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người, quyền
công dân trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân, Nxb Lao Động, tr27
4
Xem Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Trang 16nhiên vốn có của con người từ lúc sinh ra, không gắn với điều kiện có quốc tịch, còn quyền công dân là quyền của những người có quốc tịch và gắn bó mật thiết với một quốc gia nhất định, tức là gắn với vị trí pháp lý của công dân trong quan hệ với nhà nước, được nhà nước đảm bảo đối với công dân của nước mình Điều 14 Hiến pháp năm 2013 thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp
Hai là, Hiến pháp mới đã khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc về quyền
con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp (Điều 15)
Ba là, Hiến pháp mới đã tiếp tục làm rõ nội dung quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa và trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người
Bốn là, Hiến pháp mới đã bổ sung một số quyền mới, thể hiện rõ hơn trách
nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân Như: Quyền sống (Điều 19), Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác (Điều 20), Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 21 ) Việc ghi nhận các quyền mới này hoàn toàn phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, thể hiện nhận thức ngày càng rõ hơn về quyền con người và khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thực hiện quyền con người
Như vậy, so với Hiến pháp năm 1992, bản Hiến pháp mới đã tách biệt quyền con người và quyền công dân Đây là nhận thức đúng đắn và phù hợp bởi quyền con người là quyền đối với mọi người, còn quyền công dân là những quyền chỉ được áp dụng với người Việt Nam mà không bị tước quyền công dân Các quyền tự do ngôn luận, báo chí, đi lại, cư trú theo Hiến định Nhà nước cũng không can thiệp Đặc biệt, chương về Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân đều có quy định Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân
Có thể nói, tại Hiến pháp mới năm 2013, vấn đề quyền con người được chính thức đưa vào một cách đầy đủ, toàn diện, có riêng một chương trong Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Ngoài các quy định tại Hiến pháp – đạo luật cơ bản và quan trọng nhất thì quyền con người và các cơ chế bảo đảm quyền con người còn được cụ thể hóa tại các quy định của các Bộ luật, luật cụ thể khác, đặc biệt là trong Bộ luật Tố tụng hình sự và Bộ luật Hình sự, cùng với đó là Bộ luật dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự;
Trang 17Luật Tố tụng hành chính; Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Đất đai; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; Luật Thi hành án dân sự; Luật Khiếu nại, tố cáo; Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
1.2 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bảo đảm quyền con người
1.2.1 Cơ cấu tổ chức
Theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, Viện kiểm sát nhân dân Việt
Nam là một hệ thống độc lập và được được tổ chức ở 4 cấp, gồm:
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (hiện nay có 3 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh)
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đương đương
Trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có Viện kiểm sát quân sự các cấp, gồm:
- Viện kiểm sát quân sự Trung ương
- Viện kiểm sát quân sự cấp Quân khu và tương đương
- Viện kiểm sát quân sự cấp Khu vực
Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân thể hiện sự thể chế hóa quy định trong Hiến pháp 2013, đồng thời thể hiện việc đã có nhiều thay đổi tiến bộ so với
mô hình Viện kiểm sát theo Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 Khoản 2 Điều 107 Hiến pháp năm
2013 quy định như sau "Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối
cao và các Viện kiểm sát khác do Luật định” Quy định này tạo điều kiện thực hiện
chủ trương tổ chức lại hệ thống Viện kiểm sát tương ứng hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính để bảo đảm nguyên tắc độc lập của Tòa án trong khi trước đây, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức theo địa giới hành chính từ Trung ương xuống địa phương
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân liên
quan đến việc bảo đảm quyền con người
Theo quy định tại Điều 107 của Hiến pháp năm 2013, Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì Viện kiểm sát nhân dân là thiết chế đặc thù có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Trong phạm vi
Trang 18chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, trách nhiệm “bảo vệ
pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.5
- Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân: Thực hành
quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay
từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm: Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái pháp luật Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
- Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân: Kiểm
sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm: việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ
án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù và các hoạt động tư pháp khác theo đúng quy định của pháp luật Quyền con người và các quyền, lợi ích hợp
5
Xem Điều 107 Hiến pháp năm 2013
Trang 19pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ; Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh; Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh
Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân
có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 4 Luật tổ chức VKSND 2014
1.2.3 Nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân
Cùng với Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân là một trong hai cơ quan thuộc hệ thống các cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong bộ máy các cơ quan Nhà nước Vì vậy, cũng như các hệ thống cơ quan khác, Viện kiểm sát được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta nói chung Tuy nhiên, do có vị trí, chức năng và nhiệm vụ mang tính đặc thù nên hệ thống các Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc đặc thù
Đó là nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành và nguyên tắc độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ một cơ quan Nhà nước ở địa phương Những nguyên tắc này được quy định ở Điều 9 Hiến pháp năm 2013 và Điều 7 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 Khẳng định những nguyên tắc này không có nghĩa là khẳng định hệ thống Viện kiểm sát nhân dân hoạt động theo nguyên tắc riêng biệt, tách hệ thống Viện kiểm sát nhân dân ra khỏi bộ máy Nhà nước mà nhằm bảo đảm cho nó hoạt động có hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.6
Điều 7 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định :
“1 Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ quyết định trái pháp luật của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới
6
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2018), Giáo trình Đào tạo nghiệp vụ kiểm sát, tập 1, tr15
Trang 202 Tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương thành lập Ủy ban kiểm sát để thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng, cho ý kiến về các vụ án, vụ việc trước khi Viện trưởng quyết định theo quy định tại các Điều 43,
45, 47, 53 và 55 của Luật này.”
1.2.4 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bảo đảm quyền con người
Cả hai chức năng công tố và giám sát hoạt động tư pháp đều thể hiện vai trò quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người Chức năng công tố nhằm buộc tội đưa người phạm tội ra xét xử, để cơ quan tòa án có thể
áp dụng các hình phạt thích đáng cho những người phạm tội hình sự Trong thực tiễn, bất kỳ một hành vi phạm tội nào cũng trực tiếp hoặc gián tiếp xâm hại quyền con người Kẻ giết người nếu không bị trừng phạt sẽ là mối đe dọa hàng ngày đối với quyền sống của nhiều người Kẻ lừa đảo nếu không bị trừng phạt sẽ là mối đe dọa làm thiệt hại quyền sở hữu tài sản của người dân Kẻ hủy hoại môi trường sống nếu không bị trừng phạt sẽ là mối hiểm họa cho quyền được sống trong môi trường trong sạch của người dân Kẻ buôn bán ma túy nếu không bị trừng phạt sẽ là hiểm họa cướp đi cuộc sống hạnh phúc của bao gia đình, đưa họ đến tình cảnh bi thương
Kẻ tổ chức mại dâm nếu không bị trừng phạt sẽ làm băng hoại đạo đức xã hội, làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS vô phương cứu chữa Kẻ tham nhũng nếu không bị trừng phạt sẽ làm cho bộ máy công quyền sụp đổ, đội ngũ cán bộ thoái hóa, biến chất, là mối đe dọa cho tất cả các quyền dân sự, chính trị, văn hóa, xã hội của con người và công dân Chức năng giám sát hoạt động tư pháp từ khâu tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, đến việc điều tra, việc tạm giữ, tạm giam, xét xử, thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp đều là những hoạt động nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật có thể xảy ra trực tiếp hay gián tiếp vi phạm các quyền con người làm cho công lý không được thực thi, làm tổn thương, gây thiệt hại hoặc tước đoạt các quyền con người, quyền công dân Viện kiểm sát nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ trật tự xã hội, trật tự pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ công lý, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người và công dân
Trang 21KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Bảo đảm quyền con người là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu
ở nước ta hiện nay Tại chương 1, tác giả khái quát chung nhận thức về quyền con người và vị trí của quyền con người trong Hiến pháp – Đạo luật cơ bản và quan trọng nhất cũng như việc quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam Tác giả đã phân tích và chỉ ra vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trong thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Những nội dung này sẽ là cơ sở, tiền đề cho việc phân tích pháp luật thực định và thực tiễn bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân tại các chương sau
Trang 22CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN THỂ HIỆN VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
Thực tiễn các Hội nghị triển khai công tác hàng năm cho thấy ngành Kiểm sát
đã được đánh giá thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình trong hoạt động
tố tụng, góp phần bảo vệ pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện thông qua hoạt động thực hành quyền công tố kiểm sát các hoạt động tư pháp, đặc biệt thể hiện rõ nét trong lĩnh vực pháp luật hình sự
Bộ luật tố tụng hình sự là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần bảo đảm quyền con người Quyền con người trong tố tụng hình sự được hiểu là những quyền về dân
sự, chính trị dành cho những người tham gia tố tụng hình sự, được Nhà nước ghi nhận, và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật tố tụng hình sự
Trong tố tụng hình sự, quyền con người được thể hiện trên hai khía cạnh:
Thứ nhất, bảo đảm quyền con người thông qua việc phát hiện, ngăn chặn, xử
lý, khắc phục những thiệt hại, áp dụng các chế tài đối với người người phạm tội cũng như đấu tranh phòng chống tội phạm
Thứ hai, thông qua việc Nhà nước trao quyền cho các cơ quan tiến hành tố
tụng và người tiến hành tố tụng là những chủ thể đại diện cho Nhà nước giải quyết các vụ án hình sự Tuy nhiên thực tế cho thấy, những hoạt động tố tụng hình sự là những hoạt động rất dễ xâm phạm đến quyền con người của những người bị tình nghi thực hiện tội phạm bởi khi trình độ chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ còn hạn chế thì các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân có thể bị xâm phạm và khả năng xảy ra việc làm oan sai, bỏ lọt tội phạm là điều khó tránh khỏi Vì vậy, khi giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền con người, không được lợi dụng việc tiến hành giải quyết vụ án xâm phạm đến quyền con người
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
Trang 23hình sự, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật, pháp chế, bảo đảm quyền con người Vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát trong tố tụng hình
sự được thể hiện trên hai phương diện:
Một là, đấu tranh chống và phát hiện kịp thời tội phạm để nhanh chóng đưa ra
xử lý nghiêm minh trước pháp luật đối với người phạm tội xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp, trong đó có các quyền của con người
Hai là, bảo đảm các quyền của con người trong hoạt động tư pháp phải được
tôn trọng và bảo vệ.7
Ngoài ra, vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân thông qua chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực dân sự cũng vô cùng quan trọng
2.1 Bảo đảm quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi
tố
Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam quy định, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất tham gia đầy đủ các giai đoạn tố tụng hình sự Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát thể hiện trong việc xác minh tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự và thực hiện việc buộc tội trước Tòa án Như vậy, với mục đích bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội đều phải bị phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội thì các hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, Đảng và Nhà nước luôn yêu cầu Viện kiểm sát phải tăng cường hơn nữa trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra để bảo đảm các hoạt động tố tụng hình sự phải được kiểm tra, giám sát, kiểm sát chặt chẽ, bởi vì các hoạt động này đều có tác động, liên quan đến quyền con người, quyền công dân, đây là nguyên tắc được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và bảo vệ Như vậy, việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trở thành một giai đoạn của tố tụng hình sự,
7
Phạm Mạnh Hùng, Bảo vệ quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát, bài viết đăng trên website của trường Đại học Kiểm
sát Hà Nội (http://tks.edu.vn/WebThongTinKhoaHoc/Detail/138?idMenu=79)
Trang 24Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sớm hơn, ngay từ khi tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 trước đây chỉ quy định việc Viện kiểm sát
có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố Quy định này cho thấy vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn này còn mang tính thụ động, chỉ khi nào Cơ quan điều tra xác minh, kết luận, chuyển hồ sơ xác minh kèm theo kết luận khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự thì lúc đó Viện kiểm sát mới kiểm sát hồ sơ và có quan điểm về việc giải quyết đó Chính vì vậy, Viện kiểm sát không thể nắm bắt và kiểm sát được đầy đủ việc thụ lý, tiếp nhận và quá trình kiểm tra, xác minh của Cơ quan điều tra, không có sự tác động để đảm bảo hoạt động đó khách quan và toàn diện, nhằm chống được oan, sai và bỏ lọt tội phạm Để khắc phục tình trạng trên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố với những điều luật cụ thể và các điều khoản sửa đổi, bổ sung xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cũng như cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia tố tụng Theo đó, Viện kiểm sát chuyển từ nhiệm vụ kiểm sát mang tính thụ động sang thực hành quyền công tố và kiểm sát mang tính chủ động, tích cực, gắn và đồng hành với hoạt động của Cơ quan điều tra.8
Việc quy định này là bước chuyển căn bản và quan trọng trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, góp phần quan trọng vào việc chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm Như vậy, có thể thấy các quy định trước đây
về giải quyết tin báo, tố giác tội phạm chưa thực sự cụ thể, thiếu cơ chế kiểm soát hữu hiệu, vai trò của Viện kiểm sát trong giai đoạn này chưa thực sự được coi trọng
Vô hình chung có thể dẫn đến việc quyền con người không được bảo đảm
Nhận thấy, giai đoạn thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát là hoạt động
có ý nghĩa quan trọng trong cả quá trình giải quyết một vụ án, nó mở đầu cho các
8
Bùi Mạnh Cường (2017), Những vấn đề cơ bản về thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, bài viết đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 19/2017
Trang 25hoạt động tố tụng hình sự Có tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì mới xác định được có tội phạm xảy ra hay không để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự
Phạm vi công tác này được xác định từ khi có nguồn tin về tội phạm mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nắm được, sau đó tiến hành thụ lý và thực hiện các hoạt động điều tra xác minh ban đầu để thu thập tài liệu, chứng cứ, từ đó có cơ sở
xử lý theo quy định của pháp luật Việc kiểm tra, xác minh các tố giác, tin báo về tội phạm có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau tùy thuộc vào tính chất của sự việc Các biện pháp đó có thể là: Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin; Khám nghiệm hiện trường; Khám nghiệm tử thi; Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản9 Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là xác định sự việc đã được thông tin có hay không có dấu hiệu tội phạm, nhằm khẳng định về mặt pháp lý có hay không có tội phạm xảy ra, để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình
sự liên quan đến thông tin đó Do vậy, ở giai đoạn này, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thể kết luận chính xác, cụ thể ngay được về tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, mà chỉ tạo các tiền đề pháp luật để thực hiện các giai đoạn tiếp theo
Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là 20 ngày kể từ khi nhận được các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đó, trong trường hợp sự việc phức tạp có thể được gia hạn, việc gia hạn này phụ thuộc vào tính chất phức tạp của các thông tin đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội được tiếp nhận, thụ lý, thời hạn gia hạn không quá 02 tháng Trường hợp không thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn quy định thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng.10
Trên cơ sở kết quả tổng hợp, đánh giá những tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong giai đoạn điều tra ban đầu, Cơ quan điều tra và những người có thẩm quyền phải đi đến kết luận xem có đủ cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo luật định hay chưa để ra các quyết định cho phù hợp
Trang 26Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm được Điều 159 Bộ luật tố tụng hình sự quy định như sau:
- Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ; phê chuẩn, không phê chuẩn các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của Bộ luật này
- Khi cần thiết, đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm thực hiện
- Quyết định gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố vụ án hình sự
- Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố vụ án hình sự
- Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong các trường hợp do Bộ luật này quy định
- Hủy bỏ quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm và các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn trên, Viện kiểm sát còn thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
và kiến nghị khởi tố là việc kiểm tra, giám sát trực tiếp và gián tiếp, liên tục các hoạt động, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật
Để đảm bảo việc tiếp nhận đầy đủ, xác minh khách quan, giải quyết đúng pháp luật mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát có nhiệm vụ phải cử Kiểm sát viên tiếp nhận, kiểm sát chặt chẽ ngay từ khâu tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và việc giải quyết Không nắm đầy đủ và kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với các tin báo, tố giác về tội phạm, Viện kiểm sát sẽ thụ động, phụ thuộc, thiếu cơ sở vững chắc để thực hành quyền công tố ngay từ khi khởi tố vụ án, tiềm ẩn nguy cơ bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội
Trang 27Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm như sau:
- Tiếp nhận đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố do cơ quan,
tổ chức, cá nhân chuyển đến, tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú và chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết
- Kiểm sát việc tiếp nhận, trực tiếp kiểm sát, kiểm sát việc kiểm tra, xác minh
và việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; kiểm sát việc phục hồi giải quyết nguồn tin
về tội phạm
- Khi phát hiện việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm không đầy đủ,
vi phạm pháp luật thì yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động: Tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, ra quyết định giải quyết nguồn tin về tội phạm đầy đủ, đúng pháp luật; Kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát; Cung cấp tài liệu về vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; Khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm người vi phạm; Yêu cầu thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra
- Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm
- Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc giải quyết nguồn tin
về tội phạm
Ngoài ra, Viện kiểm sát còn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Có thể nói, việc Viện kiểm sát kiểm sát quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra là một việc làm cần thiết Bởi đây là căn cứ đầu tiên để cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra, xác minh, từ đó xác định có hành vi phạm tội hay không Việc Viện kiểm sát nhân dân tiến hành kiểm sát chặt chẽ trong giai đoạn này, sẽ giúp cho công tác điều tra, truy tố, xét xử đạt hiệu quả, có chất lượng, đảm bảo việc khởi tố, không khởi tố vụ án và các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra có căn cứ, đúng pháp luật nhằm hạn chế việc bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội Bên cạnh đó, còn bảo vệ được các quyền và các
Trang 28lợi ích hợp pháp của công dân bị tội phạm xâm hại, góp phần bảo đảm quyền con người
2.2 Bảo đảm quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố và điều tra các vụ án hình sự
bổ sung cho nhau
Khởi tố vụ án hình sự là thủ tục pháp lý đầu tiên cần thực hiện, đây là cơ sở hợp pháp để bắt đầu tiến hành các hoạt động điều tra, tiến hành thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội
Theo quy định tại Điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chỉ khởi tố vụ
án hình sự khi xác định có những dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều
8 Bộ luật hình sự Việc xác định dấu hiệu của tội phạm phải dựa trên các căn cứ: Tố giác của cá nhân; Tố giác của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan Nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện tội phạm; Người phạm tội tự thú Đây mới chỉ là thông tin về sự kiện cần phải điều tra Để có căn cứ khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự, phải tiến hành xác minh, có hay không có hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm, nếu có thì hành vi nguy hiểm cho xã hội đó được quy định tại điều, khoản nào của Bộ luật hình sự để khởi tố điều tra cho phù hợp Khi có căn cứ xác định dấu hiệu của tội phạm, cần nhanh chóng tiến hành khởi tố
vụ án hình sự Trong nhiều trường hợp, tuy chỉ xác định được sự việc có dấu hiệu tội phạm mà chưa biết được người thực hiện tội phạm cụ thể, vẫn cần thiết phải khởi tố vụ án hình sự với mục đích tránh để lọt tội phạm và là cơ sở để tiến hành các hoạt động điều tra nhằm tìm ra người phạm tội và làm sáng tỏ nội dung của vụ
án Các cơ quan có thẩm quyền được khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Cơ quan điều tra nơi tội phạm được thực hiện hoặc bị phát hiện Các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định khởi tố vụ án hình sự
Trang 29trong trường hợp: Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Trong trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Trong trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm và khi Hội đồng xét xử yêu cầu nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện
bỏ lọt tội phạm.11
Như vậy, phần lớn các vụ án hình sự được khởi tố bởi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chủ yếu thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc khởi tố Viện kiểm sát có thể tự mình ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đồng thời kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, bảo đảm mọi tội phạm bị phát hiện đều phải bị khởi tố, việc khởi tố phải có căn cứ và hợp pháp
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì khi có đủ căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can Về tội danh và hành vi phạm tội, tại Quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can phải có sự tương đồng Phải ban hành quyết định khởi tố vụ án trước khi ban hành quyết định khởi tố bị can hoặc ban hành cùng với quyết định khởi tố bị can trong trường hợp xác định được ngay hành
vi phạm tội (trong các vụ án phạm tội quả tang) Sau khi khởi tố bị can Cơ quan điều tra có quyền áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định để làm rõ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị can, tương ứng với từng điều, khoản của Bộ luật hình sự
Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự khi không đủ căn cứ, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can theo đề nghị phê chuẩn của Cơ quan điều tra khi có đủ căn cứ Đảm bảo việc khởi tố đúng người, đúng tội
Trang 30hoạt động mang tính quyết định, nếu tiến hành có kết quả thì cuộc điều tra sẽ nhanh chóng kết thúc trong thời hạn quy định Ngược lại, nếu hoạt động điều tra không đạt được kết quả thì cuộc điều tra sẽ bị kéo dài, bế tắc buộc phải tạm đình chỉ điều tra Như vậy, điều tra vụ án hình sự là giai đoạn bắt đầu từ khi cơ quan tiến hành
tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố và kết thúc khi Cơ quan Điều tra chuyển toàn bộ hồ sơ sang Viện kiểm sát kèm theo bản kết luận điều tra và đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can ra trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án
Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự Ở giai đoạn này, Cơ quan điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, được áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời thực hiện các công tác cần thiết nhằm bảo đảm việc thực hiện các chế tài Kể cả việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế nhà nước, hạn chế hoặc tước bỏ tự do của người thực hiện hành vi phạm tội, nhằm xác định tội phạm và người phạm tội để làm căn cứ giải quyết vụ án Như vậy, nếu như không thực hiện đúng những trình tự, thủ tục cũng như không áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự ở giai đoạn này, nguy cơ vi phạm quyền con người
là rất lớn
Ở giai đoạn điều tra nói riêng và ở tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự nói chung, Viện kiểm sát tham gia với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Như vậy, việc thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự cũng với mục đích bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; Đảm bảo việc điều tra được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật; Đảm bảo những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra được phát hiện kịp thời, được khắc phục và xử lý nghiêm minh; Đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giai đoạn điều tra như sau:
Khi thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn yêu cầu
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Trang 31khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật; Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can trong các trường hợp do Bộ luật này quy định; Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Trường hợp không phê chuẩn hoặc hủy bỏ thì trong quyết định không phê chuẩn hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do; Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này; Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố; Khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam; quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; hủy bỏ quyết định tách, nhập vụ án và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.12
12
Xem Điều 165 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Trang 32Khi kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ án của
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng
vi phạm pháp luật; Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra; Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết; Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động: Tiến hành hoạt động điều tra đúng pháp luật, kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát, cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật trong việc điều tra; Kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra; Yêu cầu Thủ trưởng
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra, xử lý nghiêm minh Điều tra viên, Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng; Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc kiểm sát điều tra vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.13
Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát nhân dân bảo đảm việc điều tra của
Cơ quan điều tra phải được tiến hành khách quan, toàn diện và đầy đủ, các quyền của người bị buộc tội mà không bị tước bỏ và quyền của những người tham gia tố tụng có liên quan được đảm bảo thực hiện trên thực tế, ngăn chặn các hành vi vi phạm các quyền con người nói chung và quyền con người trong tố tụng hình sự nói riêng
Như vậy, giai đoạn điều tra bắt đầu ngay khi Viện kiểm sát chấp nhận quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra Căn cứ vào kết quả của hoạt động điều tra (thể hiện bằng bản kết luận điều tra), Viện kiểm sát sẽ tiến hành truy tố, Tòa
13
Xem Điều 166 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Trang 33án sẽ tiến hành hoạt động xét xử Kết quả điều tra chính là căn cứ để đảm bảo bị can
bị truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự chính là công tác kiểm sát trong thực hiện các biện pháp điều tra và việc lập hồ sơ
vụ án của Cơ quan Điều tra Bộ luật tố tụng hình sự quy định các hoạt động điều tra bao gồm: Triệu tập và hỏi cung bị can (Điều 182 -184), triệu tập và lấy lời lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng (Điều 185 – 191), khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật (Điều 185 – 191), khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra (Điều 201 – 204), giám định và định giá tài sản (Điều 205 – 222) Khi thực hiện công tác này, Kiểm sát viên luôn phải đặt ra và trả lời các câu hỏi: Cơ quan điều tra đã hoặc chưa thực hiện các biện pháp nào? Đã thực hiện như thế nào? Trình tự, thủ tục? Việc thực hiện có đúng quy định của pháp luật hay không? Nếu thấy vấn đề vướng mắc, cần kịp thời có biện pháp xử lý và yêu cầu làm rõ, điều tra bổ sung
Một số hoạt động điều tra:
- Hiện trường là nơi xảy ra hoặc nơi phát hiện sự việc có tính hình sự, dù ít hay nhiều, dù cho kẻ phạm tội cố ý tạo ra “hiện trường giả” thì dấu vết của tội phạm cũng sẽ còn sót lại tại hiện trường Do đó, việc khám nghiệm hiện trường có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả của hoạt động điều tra Việc khám nghiệm đầy đủ, chặt chẽ là cơ sở để xác định được những hình dung ban đầu về tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Viện kiểm sát cần tham gia đầy đủ các cuộc khám nghiệm hiện trường, kiểm sát nhằm bảo đảm không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm
- Hỏi cung bị can là hoạt động điều tra nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can về vụ án, hành vi và mức độ phạm tội của bị can, đồng phạm, những tin tức, tài liệu khác mà bị can biết có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm Đây là hoạt động điều tra có ý nghĩa quan trọng và phức tạp, cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều nhiều nguy cơ khiến quyền con người không được đảm bảo Khi tiến hành hoạt động hỏi cung bị can, Cơ quan điều tra, Điều tra viên phải sử dụng những biện pháp để bảo đảm cho việc hỏi cung bị can được tuân thủ đúng quy định, vừa bảo đảm được đầy đủ nhất quyền của bị can, trước khi tiến hành hỏi cung bị can lần đầu, Điều tra viên phải giải thích rõ quyền, nghĩa vụ của bị can, phải bảo đảm rằng bị can hiểu và có đủ điều kiện thực hiện quyền của mình, tránh việc bức
Trang 34cung, ép cung, mớm cung Pháp luật tố tụng hình sự có quy định việc Điều tra viên bức cung hoặc nhục hình đối với bị can có thể bị truy cứu hình sự Trên thực tế, có không ít trường hợp tại phiên tòa, bị cáo phản cung vì lý do mình bị ép cung, mớm cung, bị đánh đập ép khai theo hướng của Điều tra viên Nhằm hạn chế trường hợp này, các quy định của pháp luật hình sự cần phải được áp dụng một cách nghiêm túc, triệt để, như: Nghiêm cấm việc bức cung, dùng nhục hình, mớm cung với bị can; Vụ án có nhiều bị can thì phải hỏi riêng từng bị can, không để họ tiếp xúc với nhau; Bị can là người chưa thành niên thì khi hỏi cung phải có mặt của người đại diện, không được hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được Trong trường hợp bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra, khi có căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác xét thấy cần thiết, Kiểm sát có thể viên tham gia trực tiếp vào quá trình hỏi cung, khi đó cần kiểm sát chặt chẽ lời khai, trực tiếp hỏi bị can kiểm tra tính khách quan, đúng đắn trong lời khai của họ, phải đảm bảo hoạt động hỏi cung bị can tuân thủ đúng các yêu cầu của pháp luật Kiểm sát viên phải bao quát được toàn bộ hoạt động hỏi cung
bị can, chống mọi hình thức ép cung, dùng nhục đối với bị can Nếu việc hỏi cung
bị can tiến hành trước khi có quyết định khởi tố bị can thì Viện kiểm sát phải yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ kết quả hỏi cung đó
- Tương tự như đối với hỏi cung, việc lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Trong trường hợp xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên trực tiếp thực hiện việc lấy lời khai theo quy định Trường hợp xét thấy việc lấy lời khai của Điều tra viên không khách quan, có vi phạm pháp luật hoặc xét thấy cần làm rõ chứng cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra hoặc
để quyết định việc truy tố thì Kiểm sát viên có thể lấy lời khai của người làm chứng
- Các biện pháp ngăn chặn thường được áp dụng trong hoạt động điều tra nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa không để đối tượng tiếp tục phạm tội và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra đạt được hiệu quả tốt nhất Việc
áp dụng các biện pháp ngăn chặn thường mang lại hiệu quả, tuy nhiên, chúng lại trực tiếp ảnh hưởng, hạn chế các quyền cơ bản của công dân (nhất là các biện pháp bắt tạm giữ, tạm giam), do đó chỉ được áp dụng các biện pháp này khi thật cần thiết
và chỉ khi có đủ các căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền, đối tượng và căn cứ áp dụng Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần có
Trang 35sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát Viện kiểm sát cần phải kiểm sát chặt chẽ, đảm bảo rằng Cơ quan điều tra không được lợi dụng biệp pháp ngăn chặn như một biện pháp điều tra để buộc người bị áp dụng phải khai báo nhanh chóng, không được để tình trạng ép cung, bức cung, dùng nhục hình xảy ra trong thời gian áp dụng biện pháp ngăn chặn, hoặc để tình trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn quá thời gian theo quy định của pháp luật, xâm hại đến các quyền con người, quyền công dân của họ
- Pháp luật tố tụng hình sự quy định rất rõ ràng về việc khám xét người, chỗ
ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án; Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm
và giải cứu nạn nhân Trong trường hợp khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử Đồng thời cũng quy định chi tiết về thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu khi bị khám xét
Khi đó, Kiểm sát viên phải tham gia và kiểm sát việc khám xét (trừ trường hợp khám xét khẩn cấp) có trách nhiệm kiểm sát chặt chẽ, bảo đảm hoạt động khám xét được tiến hành trên cơ sở tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, không được lợi dụng việc khám xét để xâm hại trái pháp luật các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị khám xét, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe người bị khám xét Trong trường hợp tiến hành khám xét khẩn cấp, qua kiểm tra hồ sơ, tài liệu do Cơ quan điều tra chuyển đến, xét thấy việc khám xét là không có căn cứ và không hợp pháp thì Viện kiểm sát có trách nhiệm yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục ngay hậu quả, đồng thời ra quyết định hủy bỏ kết quả khám xét đó
2.3 Bảo đảm quyền con người qua hoạt động thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong truy tố và xét xử các vụ án hình sự
2.3.1 Quyết định truy tố bị can, đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án
Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự quy định khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao một số hoạt động điều tra giao hồ sơ vụ án kèm theo bản Kết luận điều tra đề nghị truy tố và vật chứng vụ án (nếu có) cho Viện kiểm sát, lúc này Viện kiểm sát cần phải kiểm tra và xử lý: Trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm
Trang 36theo (nếu có) đã đầy đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng và bản kết luận điều tra đã được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì nhận hồ sơ vụ án; Trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) không đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng hoặc bản kết luận điều tra chưa được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì chưa nhận hồ sơ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bổ sung tài liệu, vật chứng; yêu cầu giao bản kết luận điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can
Trong giai đoạn truy tố, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố thể hiện: Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can; Yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trong trường hợp cần thiết; Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung
mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra; Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra; Quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung; Quyết định tách, nhập vụ án; chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; Quyết định truy tố; Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với bị can; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.14
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố thể hiện: Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng, yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để kiểm sát trong giai đoạn truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.15
Trang 37Nếu thấy hồ sơ vụ án thiếu những chứng cứ quan trọng mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được, có căn cứ để khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác, có đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan mà chưa bị khởi tố
bị can hoặc có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung
Khi nhận được Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra, xét thấy có đủ căn cứ truy tố, Viện kiểm sát có trách nhiệm truy tố bị can ra trước Tòa
án bằng bản Cáo trạng Cáo trạng chính là hình thức thể hiện quyền công tố của Viện kiểm sát, là quyết định tố tụng mà Viện kiểm sát thay mặt Nhà nước để đưa đưa một người có hành vi phạm tội ra trước Tòa án để xét xử Bản cáo trạng công
bố tại phiên tòa truy tố người có hành vi phạm tội ra xét xử chính là kết luận của Viện kiểm sát dựa trên các chứng cứ tài liệu đã được thu thập khách quan và hợp pháp của quá trình điều tra Cáo trạng phải ghi rõ đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 243 Bộ luật tố tụng hình sự, trong đó có việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tại phần kết luận của bản cáo trạng phải ghi rõ tội danh và Điều, khoản, điểm của Bộ luật hình sự được áp dụng
Sau khi nghiên cứu vụ án, nếu có các căn cứ sau thì Viện kiểm sát không ban hành Cáo trạng truy tố mà sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều
248 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố, trường hợp này cần phải có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố là
do ý chí tự nguyện của họ, không bị ép buộc, không bị cưỡng bức Ngược lại, nếu
có các dấu hiệu trên thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án; Khi có căn cứ không khởi tố thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự; Hoặc khi có căn cứ quy định tại các Điều 16: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, Điều 29: Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự, Khoản 2 Điều 91: Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Khi ban hành quyết định đình chỉ vụ án hình sự, nếu trong vụ án có nhiều bị can mà căn cứ đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can thì quyết định đình chỉ vụ án đối với từng bị can
Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án trong các trường hợp: Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì
có thể tạm đình chỉ vụ án trước khi hết thời hạn quyết định việc truy tố; Khi bị can
Trang 38bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố, trong trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can trước khi tạm đình chỉ vụ án Việc truy nã bị can được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật tố tụng hình sự; Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp mà chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ
tư pháp tiếp tục tiến hành cho đến khi có kết quả Trường hợp vụ án có nhiều bị can
mà căn cứ để tạm đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can thì tạm đình chỉ
vụ án đối với từng bị can.16
Việc phục hồi vụ án được tiến hành theo quy định tại Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự
Như vậy, thông qua vai trò thực hành quyền công tố và kiểm việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát bảo đảm cho quyền con người được tôn trọng từ khi tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, khởi tố vụ án, điều tra đến khi có quyết định truy tố bị can ra Tòa án hoặc đến khi vụ án bị đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật
2.3.2 Giai đoạn xét xử vụ án hình sự
Theo quy định tại Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về suy đoán vô tội:
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình
tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.”
Để xác định một người có bị coi là có tội hay không cần căn cứ vào kết quả xét xử của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, đây là quyết định cuối cùng được đưa ra đối với người thực hiện hành vi phạm tội Do vậy, cùng với công tác với đấu tranh chống tội phạm, phát hiện kịp thời để đưa ra xử lý trước pháp luật là việc phải bảo đảm các quyền của con người không bị pháp luật hạn chế, tước bỏ phải được tôn
Trang 39việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời
Nội dung thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, bao gồm:
- Trước phiên tòa:
Sau khi Viện kiểm sát giao bản Cáo trạng, hồ sơ vụ án và vật chứng kèm theo (nếu có) cho Tòa án, thời điểm này, vẫn với chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát sẽ tiếp tục tiến hành nghiên cứu, xem xét tính có căn cứ của quyết định truy tố đã ban hành, sau đó tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể để trưa ra các quyết định phù hợp Ở thời điểm này, sau khi xem xét thấy đúng và đủ căn cứ, Viện kiểm sát giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án theo quy định tại Điều 246
Bộ luật Tố tụng hình sự trong trường hợp Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát yêu cầu điều tra bổ sung Hoặc rút quyết định truy tố đã ban hành nếu xét thấy có một trong các căn cứ thuộc trường hợp không khởi tố vụ án hình sự, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự hoặc một số trường hợp xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Khoản 2 Điều 91
Bộ luật hình sự năm 201517 Trong trường hợp Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa thì phải đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án
- Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên toà của Hội đồng xét xử, thư ký Toà án và những người tham gia tố tụng từ khi bắt đầu đến khi kết thúc phiên toà, nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, bảo đảm cho việc xét xử được công bằng, đúng pháp luật
Kiểm sát viên công bố cáo trạng thể hiện quan điểm truy tố của Viện kiểm sát
và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có) Sau khi công bố cáo trạng, Kiểm sát viên tham gia xét hỏi tại phiên tòa Xét hỏi là giai đoạn quan trọng của hoạt động xét xử nhằm tìm ra sự thật của vụ án Khi xét hỏi, Kiểm sát viên đặt ra các câu hỏi với mục đích làm sáng tỏ hành vi phạm tội và nội dung vụ án, đồng thời cũng có thể đặt ra những câu hỏi tương tự trong giai đoạn điều tra với mục đích kiểm tra lại kết quả điều tra của Cơ quan điều tra, kiểm tra mức độ trung thực và thống nhất trong lời khai của bị cáo qua việc xét hỏi và trả lời diễn ra công khai, minh bạch và trực tiếp Kiểm sát
17
Xem Điều 285 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Trang 40viên khi tiến hành xét hỏi bị cáo cần đặt câu hỏi hướng tới việc làm rõ nội dung của
vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo, các đồng phạm khác, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, năng lực trách nhiệm hình sự của bị cáo, lỗi, các vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và những vấn đề liên quan khác trong vụ
án Ngoài việc đặt câu hỏi, làm rõ các chứng cứ liên quan đến việc buộc tội bị cáo thì đồng thời Kiểm sát viên cũng phải làm rõ các tình tiết nhằm gỡ tội cho bị cáo để bảo đảm nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án (Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự)… Đối với vụ án có nhiều bị cáo, phải hỏi riêng từng bị cáo Nếu lời khai của bị cáo này có thể làm ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo khác thì Kiểm sát viên cần phải đề nghị chủ tọa phiên tòa cách ly họ Ngoài việc hỏi bị cáo, xét thấy cần thiết thì phải hỏi bị hại, đương sự, để làm rõ và khẳng định lại các tình tiết, nội dung của vụ án Kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa
Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày luận tội Nếu sau khi xét hỏi nhận thấy không có căn cứ để kết tội thì Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội bởi luận tội của Kiểm sát viên là sự “buộc tội” chính thức cuối cùng của Viện kiểm sát Luận tội phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả
do hành vi phạm tội gây ra, nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án, tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp
tư pháp, nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với
vụ án Luận tội đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn, đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng đồng thời đưa
ra kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.18
18
Xem Điều 321 Bộ luật tố tụng hình sự 2015