Bên cạnh đó còn có các bài viết liên quan đến chế định Viện kiểm sát nhân dân cũng như những nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân được đăng trên các tạp chí
Trang 1THIỀU KHÁNH PHƯƠNG
THỰC HIỆN LUẬT TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
2014 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG – THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Định hướng ứng dụng
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 2THIỀU KHÁNH PHƯƠNG
THỰC HIỆN LUẬT TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
2014 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG – THỰC TRẠNG
Trang 3Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu do tự bản thân thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của cá nhân, tổ chức khác
Các số liệu, thông tin được trích dẫn trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng và tuân thủ đúng nguyên tắc trích dẫn Kết quả trình bày trong Luận văn
là trung thực và chưa từng được ai công bố trước đây
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của Luận văn
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2018
Xác nhận của giảng viên hướng
dẫn
PGS.TS Vũ Thu Hạnh
Tác giả luận văn
Thiều Khánh Phương
Trang 4Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân 2014 trên địa bàn tỉnh Hà Giang – Thực trạng và giải pháp”,
tác giả đã nhận được sự giúp đỡ và hỗ trợ của nhiều cá nhân
Với tấm lòng chân thành và sự biết ơn sâu sắc nhất, tác giả xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt tới PGS.TS Hoàng Văn Tú – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội – người đã theo dõi và hướng dẫn sát sao, giúp tác giả có những định hướng và kỹ năng nghiên cứu đúng đắn trong quá trình triển khai đề tài
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới ông Đặng Bình Giang - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang; ông Đặng Quốc Phú - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên - Thủ trưởng đơn vị nơi tác giả đang công tác đã luôn ủng hộ, tạo điều kiện về mọi mặt để tác giả hoàn thành chương trình cao học một cách thuận lợi nhất
Tác giả xin gửi lời tri ân tới các thầy cô tham gia giảng dạy chương trình đào tạo Thạc sĩ định hướng ứng dụng Khóa 24 Trường Đại học Luật Hà Nội
đã trang bị cho tác giả những kiến thức nền tảng trong suốt hai năm đào tạo Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này
Trang 5MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN LUẬT TỔ CHỨC
1.1 Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ máy nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của Hiến pháp và
1.1.1 Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ máy nhà nước Cộng hòa
1.1.2 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ máy nhà nước Cộng
1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân
trong Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy
1.3 Mô hình Viện công tố (Viện kiểm sát) của một số quốc gia trên
Thế giới và những kinh nghiệm có thể vận dụng ở Việt Nam 21
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN LUẬT TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT
2.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân
2.2 Thực trạng thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang theo quy định của Luật tổ chức Viện
Trang 62.2.2 Thực trạng thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm
2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang theo Luật tổ chức Viện
THỰC HIỆN LUẬT TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 2014
3.1 Phương hướng nâng cao chất lượng thực hiện Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân tại Viện kiểm sát nhân dân 2014 trên địa bàn tỉnh
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, đánh dấu sự ra đời của ngành Kiểm sát trong bộ máy nhà nước ta Viện kiểm sát nhân dân được thành lập từ yêu cầu khách quan của việc xây dựng bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa và việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Hiến pháp năm 1959 (Quốc hội thông qua ngày 31 tháng 12 năm 1959) đã quy định về Viện kiểm sát nhân dân Ngày 15/7/1960, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa II, kỳ họp thứ nhất đã thông qua Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Ngày 26 tháng 7 năm 1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh số 20-L/CTN công bố Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đánh dấu sự ra đời của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước
ta Lần đầu tiên trong lịch sử tổ chức bộ máy Nhà nước ta, Viện kiểm sát nhân dân các cấp được thành lập là một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập
Tiếp sau đó, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân luôn được xác định trong các bản Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 Xuất phát từ nhu cầu lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức quyền lực nhà nước, Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) đã giới hạn chức năng của Viện kiểm sát nhân dân đó là: thực hành quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Cho đến năm 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Hiến pháp mới vào ngày 28/11/2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014 Đối với ngành Kiểm sát nhân dân, Hiến pháp 2013 đã có những nội dung mới quan trọng về chế định Viện kiểm sát nhân dân; bổ sung, làm rõ hơn những nguyên tắc mới, tiến bộ của tố tụng tư pháp liên quan trực tiếp đến hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
Ngày 24/11/2014 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 8 thông qua, có kết cấu gồm 06 chương, 101 điều và
Trang 8được xác định là sửa đổi căn bản, toàn diện về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) có hiệu lực
từ ngày 01/6/2015 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tiếp tục khẳng định
vị trí, vai trò, chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát trong hoạt động
tư pháp, đồng thời mở rộng một số quyền năng, bổ sung một số quy định để Viện kiểm sát để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ theo quy định Hiến pháp năm 2013 Hiện nay, những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã đặt ra những yêu cầu mới với tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và Viện kiểm sát nhân dân nói riêng
Là một bộ phận cấu thành của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát nhân tỉnh Hà Giang trong quá trình hình thành và phát triển đã ngày càng khẳng định ví trí, vai trò của mình trong việc góp phần bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân địa phương Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang nói riêng cũng phát sinh những hạn chế, bất cập cần phải có giải pháp để tháo gỡ, khắc phục và nâng cao hiệu quả hoạt động
Với những phân tích nêu trên, việc lựa chọn đề tài: “Thực hiện Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 trên địa bàn tỉnh Hà Giang – Thực trạng
và giải pháp” làm đề tài luận văn thạc sỹ là hết sức cấp thiết, có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây đã có một số công trình khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, Luận văn thạc sĩ, sách chuyên khảo nghiên cứu về hệ thống tư pháp Việt Nam có liên quan đến Viện kiểm sát nhân dân như Đề tài khoa học
"Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của Viện Công tố ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư
Trang 9pháp" năm 2006, "Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của tòa án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" năm 2006; Luận
án Phó tiến sỹ Luật học: “Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ
máy nhà nước CHXHCN Việt Nam” của Khuất Văn Nga, năm 1993; "Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay", của tập thể các tác
giả do GS.TS Đào Trí Úc chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 2002; “Cơ quan
công tố một số nước: Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Úc, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan” của TS Lê Hữu Thể Bên cạnh đó còn có
các bài viết liên quan đến chế định Viện kiểm sát nhân dân cũng như những nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân được
đăng trên các tạp chí như: "Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan thực
hiện chức năng thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp",
của Phạm Hồng Hải, Tạp chí Kiểm sát, số 14, 2007; Tạp chí kiểm sát số 13 (tháng 7/2012) số chuyên đề: tổng kết thi hành và nghiên cứu và đề xuất sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992…
Các công trình khoa học, những bài viết đã nghiên cứu, đánh giá về những khía cạnh khác nhau trong chế định Viện kiểm sát nhân dân, tuy nhiên đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về việc thực hiện về Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung và thực tiễn về việc thực hiện tại địa phương
tỉnh Hà Giang nói riêng Do vậy đề tài “Thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân năm 2014 trên địa bàn tỉnh Hà Giang – Thực trạng và giải pháp”
không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố trước đây Mặc dù vậy, các công trình khoa học, các bài viết trên đây là những tài liệu tham khảo có giá trị góp phần vào việc nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn là xây dựng luận cứ khoa học nhằm làm rõ thực trạng thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Khái quát vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
của Viện kiểm sát nhân dân, có tham chiếu với quy định về Viện kiểm sát trong Hiến pháp ở một số nước trên thế giới, từ đó có sự đánh giá toàn diện
và lịch sử về vị trí hiến định của Viện kiểm sát nhân dân trong các bản Hiến pháp này
Thứ hai: Luận văn làm rõ thực trạng thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân 2014 trên địa bàn tỉnh Hà Giang Qua đó, đánh giá những mặt được, hạn chế, bất cập, tìm ra được nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm
Thứ ba: Trên cơ sở lý luận, thực tiễn thực thi các quy định của Hiến
pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, luận văn đề xuất các phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang nói riêng Cùng với những quan điểm của Đảng và những yêu cầu đổi mới Viện kiểm sát nhân dân, xây dựng những đề xuất giải pháp việc thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Hà Giang trong thời gian tới
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một vấn đề rất rộng và liên quan đến
Trang 11nhiều lĩnh vực Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, có hai vấn
đề chính đặt ra, thứ nhất: vấn đề về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân; thứ hai: vấn đề đổi mới cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân Tuy nhiên, do đề tài luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng tại một địa phương cụ thể nên vấn đề về đổi mới cơ cấu tổ chức của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân nói chung rất khó có thể thể hiện được rõ nét
Do vậy phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn là những quy định về
vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp được cụ thể trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu về vị trí, vai trò Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp Việt Nam Ngoài ra, các vấn đề lý luận liên quan đến chế định Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn trước đây đã được tổng hợp, đúc kết sẽ được sử dụng làm tài liệu cho việc nghiên cứu đề tài cùng với vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến vị trí, vai trò, chức năng, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh, đối chiếu, logic, bình luận
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trong quá trình Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 đang được triển khai thực hiện trong cuộc sống Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân, nhằm nâng cao nhận thức về vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ máy nhà nước Đồng thời, khái quát được quá trình thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn
Trang 12một địa phương – tỉnh Hà Giang để thấy được những hạn chế, khó khăn khi thực hiện trên thực tế
Qua phân tích cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng thực hiện của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang, luận văn đóng góp được những đề xuất cho việc hoàn thiện những quy định về Viện kiểm sát nhân dân hiện nay Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và những người quan tâm trong việc nghiên cứu chế định Viện kiểm sát nhân dân trong bối cảnh Hiến pháp năm
2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 vừa mới ra đời
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương được kết cấu như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân 2014
Chương 2 Thực trạng thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
2014 trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Chương 3 Phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 trong thời gian tới
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN LUẬT TỔ CHỨC VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN 2014
1.1 Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của Hiến pháp và pháp luật
1.1.1 Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ máy nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đối với mô hình nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua cơ quan đại diện của mình là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp Theo quy định của Hiến pháp 2013, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, trong Bộ máy nhà nước của chúng ta Viện kiểm sát nhân dân
là một hệ thống tổ chức độc lập, thực hiện hai chức năng cơ bản là, chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Với mô hình tổ chức hiện hành, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong vai trò là người lãnh đạo cao nhất của hệ thống tổ chức Viện kiểm sát do Quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của ngành Kiểm sát Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan đồng cấp với vị trí của Tòa án nhân dân trong mối quan hệ với lập pháp và hành pháp
Xem xét vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trên phương diện trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể thấy như sau:
- Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Quốc hội:
Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất Quốc hội thành lập ra Viện kiểm sát nhân dân và giao cho Viện kiểm sát nhân dân chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Quốc hội thực hiện
Trang 14việc giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Quốc hội
- Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Chính phủ:
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Như vậy, Chính phủ
và Viện kiểm sát nhân dân đều là những cơ quan do Quốc hội thành lập, nhưng đây là hai hệ thống cơ quan độc lập về tổ chức bộ máy, biên chế và chức năng, nhiệm vụ Tuy nhiên, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, Chính phủ và Viện kiểm sát nhân dân phải có cơ chế phối hợp tốt để thực hiện các mục tiêu chung của đất nước
- Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Tòa án nhân dân:
Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân là các cơ quan tư pháp do Quốc hội thành lập và được Quốc hội giao cho các chức năng khác nhau Viện kiểm sát nhân dân độc lập với Tòa án nhân dân về tổ chức bộ máy và biên chế Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật quá trình xét xử, thi hành án hình sự của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, các vụ án hành chính và các việc khác theo qui định của pháp luật
- Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân địa phương với các cơ quan chính quyền địa phương và Hội đồng nhân dân cùng cấp:
Viện kiểm sát nhân dân là hệ thống cơ quan do Quốc hội thành lập, thừa hành quyền lực từ Quốc hội, không thừa hành quyền lực từ chính quyền địa phương Viện kiểm sát nhân dân địa phương độc lập với cơ quan chính quyền địa phương về tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính và độc lập về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa
Trang 15phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác của Viện kiểm sát cấp trên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp về các công việc có liên quan
- Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan điều tra:
Quan hệ tố tụng giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là mối quan hệ quan trọng trong tố tụng hình sự, là biểu hiện của nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động điều tra vụ án hình sự Mối quan hệ này được hình thành ngay từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố, tồn tại trong toàn bộ quá trình điều tra (kể cả điều tra lại, điều tra bổ sung) Nếu được vận hành tốt, nhịp nhành, hiệu quả sẽ góp phần bảo đảm việc phát hiện tội phạm, điều tra, xử lý các vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm, tiết kiệm thời gian và chi phí vật chất trong hoạt động tố tụng hình sự
Là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân cũng phải tuân theo những nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Bên cạnh đó, xuất phát từ tính chất
và nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan bảo vệ pháp chế, Viện kiểm sát nhân dân còn được tổ chức và hoạt động theo một nguyên tắc đặc thù, đó là nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất trong ngành Nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất đã chi phối nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát
Trang 16nhân dân tối cao Do đó, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất
1.1.2 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân, Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 quy định:
“Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững
Mục đích của việc kiểm sát là bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự
xã hội, tài sản công cộng và những quyền lợi hợp pháp của công dân, góp phần bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi.” 1
Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 quy định:
“Trong phạm vi chức năng của mình, các Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa
và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự tôn trọng tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân
Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật.” 2
Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 và năm 2002 đều quy định:
“Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước,
1 Quốc hội (1960), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội, Điều 2
2 Quốc hội (1981), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội, Điều 2
Trang 17của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử
lý theo pháp luật.” 3
Có thể thấy, những quy định trước đây chưa thực sự bao quát và đầy
đủ về vai trò của Viện kiểm sát Khắc phục tình trạng này, Khoản 3 Điều
107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ
bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.” 4
Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định:
“1 Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2 Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.” 5
Theo quy định này thì Viện kiểm sát nhân dân có ba vai trò cơ bản:
Thứ nhất: Viện kiểm sát nhân dân có vai trò trong việc bảo đảm pháp
chế
Với vị trí độc lập trong tổ chức và hoạt động, Viện kiểm sát được xem
là thiết chế có sứ mệnh quan trọng bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Khi thực hành quyền công tố trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm mọi hành vi phạm tội được phát hiện đều được điều tra, truy tố, xét xử một cách nghiêm
3 Quốc hội (2002), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội, Điều 2
4 Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội, Điều 107
5 Quốc hội (2014), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội, Điều 2.
Trang 18minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước mà tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất
có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp đồng thời bảo đảm cho sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương Đây chính là bước phát triển trong nhận thức của Đảng ta tiếp thu những hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta Trong điều kiện không có đối trọng và kiềm chế lẫn nhau giữa các quyền lực như ở các nước theo nguyên tắc phân quyền thì quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động nhà nước là cách thức kiểm soát quyền lực nhà nước chủ yếu ở nước ta và vì thế đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, nâng cao hiệu lực của Nhà nước trước hết phải là hoàn thiện cách thức, cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, kiện toàn các cơ quan và các thiết chế giám sát Trong cơ chế giám sát đó thì Viện kiểm sát là thành tố, là thiết chế giám sát có tính chuyên nghiệp cần thiết cho Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình
Thứ hai: Viện kiểm sát nhân dân có vai trò bảo vệ các quyền con
người, quyền công dân
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước đề cao, tôn trọng và bảo đảm các quyền con người Nhà nước quy định hệ thống những bảo đảm, bảo vệ quyền và tự do của công dân Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát là một bảo đảm pháp lý quan trọng cho các quyền, tự do của công dân được tuân thủ và thực thi một cách hiện thực, chống các hành vi xâm phạm từ bất kỳ ai trước hết là sự lạm quyền của cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của mình Viện kiểm sát chính là một cơ chế hữu hiệu để kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm
Trang 19quyền con người được tôn trọng và thực thi nghiêm chỉnh Mặt khác, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân là một cơ chế giám sát hiệu có, có tác dụng ngăn ngừa khả năng lạm dụng, lợi dụng quyền lực công trong hoạt động tư pháp – đây là một cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền lực tư pháp một cách hữu hiệu nhất
Thứ ba: Viện kiểm sát nhân dân có vai trò bảo đảm các quyền và lợi
ích của Nhà nước và xã hội
Viện kiểm sát nhân dân với đội ngũ các Kiểm sát viên có nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp chính là một thiết chế có vai trò bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm và vai trò quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, chống oan sai và bỏ lọt tội phạm Đó là một nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và nhà nước đã tin tưởng giao phó cho Viện kiểm sát nhân dân
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, nhiệm vụ đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cải cách tư pháp đến năm 2020 không làm thay đổi thể chế chính trị - nhà nước của nước ta Viện kiểm sát nhân dân có vai trò là công cụ thực hiện hiệu quả tư tưởng Nhà nước pháp quyền, khẳng định nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp, các đạo luật của Nhà nước Viện kiểm sát phải là người bảo vệ pháp luật quan trọng nhất của quốc gia, bảo vệ các quyền, tự do cơ bản của công dân
Với vị trí độc lập trong tổ chức và hoạt động, Viện kiểm sát nhân dân được xem là một thiết chế có sứ mệnh quan trọng đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiệm chỉnh và thống nhất Khi thực hành quyền công tố trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảm mọi hành vi phạm tội được phát hiện đều phải được điều tra, truy tố, xét xử một cách nghiêm chỉnh, đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội
Trang 20Với hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, Viện kiểm sát nhân dân với chức năng được quy định trong các bản Hiến pháp, từ Hiến pháp năm
1959 đến Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); Hiến pháp năm
2013, đã hoàn thành tốt nhiệm vụ do Đảng và nhân dân giao phó Kết quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã góp phần bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và các quyền cơ bản của công dân Đặc biệt từ khi Viện kiểm sát nhân dân được giao thực hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp thì kết quả thực hiện các chức năng này đã nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế Những yêu cầu của Đảng đã được Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện một cách có hiệu quả, khắc phục và làm giảm hẳn tình trạng oan, sai trong việc bắt, giam giữ, khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử
1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong
Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của Hiến pháp và pháp luật
Theo khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
- Chức năng thực hành quyền công tố:
Trên thế giới, khái niệm “quyền công tố” đã xuất hiện từ thời kỳ xa xưa của xã hội loài người Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của Nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời khỏi công quyền Quyền công tố có trong tất cả các kiểu Nhà nước; nó ra đời, tồn tại và mất đi cùng với Nhà nước và pháp luật Khi mới có Nhà nước, quyền công tố chỉ giới hạn trong phạm vi rất hẹp để bảo vệ các lợi ích của giai cấp thống trị Cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức về lợi ích công và lợi ích tư, về trách nhiệm của Nhà nước đối với xã hội và cá nhân
Trang 21ngày càng có những thay đổi: Lợi ích cá nhân liên quan đến lợi ích công, tác động qua lại với nhau; chính vì vậy, cần có sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống của cá nhân Từ đó, vai trò công tố càng được đề cao trong xã hội
Tại Việt Nam, khoa học Luật tố tụng hình sự nói riêng cũng như khoa học pháp lý nói chung, chế định “quyền công tố” chưa được nghiên cứu một cách toàn diện; chính vì vậy, chưa có khái niệm chính thống về quyền công
tố Mặc dù vậy, quyền công tố là một quyền năng quan trọng đã được Viện công tố thực hiện ở nước ta từ năm 1945; từ 1960 đến nay do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện
Theo từ điển tiếng Việt, công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Toà án” 6
Từ điển luật học lại ghi: Công tố "là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội" 7
Thuật ngữ "quyền công tố" lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980; sau đó tại Hiến pháp năm 1992, Bộ luật tố tụng hình sự năm
1998, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân các năm 1981 năm 1992, năm 2002 và Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002
Theo Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm mọi hành vi
phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm
oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; không để người
6 Viện hàn lâm khoa học xã hội Vịệt Nam (2013), Từ điển tiếng Việt, Nxb từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.204.
7 Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý, Từ điển luật học (2006), Nxb Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp, tr.188.
Trang 22nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền
công dân trái luật
Theo đó có thể hiểu: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử
Quyền công tố thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này, Viện kiểm sát phải
có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà
Theo Điều 6 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố bằng các công tác sau:
- Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tội phạm;
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự;
- Điều tra một số loại tội phạm;
- Thực hành quyền công tố trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình
sự
Từ bản chất, nội dung, phạm vi hoạt động thực hành quyền công tố nêu trên có thể thấy công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm:
Trang 23- Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
- Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự
và nhân phẩm một cách trái pháp luật
- Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất qua đó bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân
- Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp:
Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu, tranh luận trong suốt quá trình lập Hiến và lập pháp cũng như trong quá trình đổi mới cải cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nước ta trong thời gian qua Chức năng này là một chức năng riêng chỉ
có của Viện kiểm sát và đây là chức năng thể hiện rõ nhất bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa 8
Thuật ngữ “kiểm sát hoạt động tư pháp” lần đầu tiên được xuất hiện trong Văn kiện của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08 ngày 02/1/2001 của Bộ Chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 107 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 Tuy nhiên, tại thời điểm đó, nhà lập pháp nước ta chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý duy nhất nên đã dẫn tới nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về khái niệm này Quan điểm thứ nhất hiểu kiểm sát hoạt động tư pháp chỉ bao gồm kiểm sát các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Quan điểm khác lại cho rằng kiểm sát hoạt động tư pháp bao gồm kiểm sát các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét
8 Trần Đình Nhã (2013), “Một số vấn đề về quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp, kiểm sát
hoạt động tư pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
Trang 24xử (cả các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính) và phần “tư pháp” trong thi hành án
Sau khi Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 có hiệu lực
đã giải quyết được tình trạng quy định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp một cách chung chung, không cụ thể là những hoạt động nào, nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hiện chức năng này
Theo đó, kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động
tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định pháp luật 9
Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn:
+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng quy định pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ
sơ, tài liệu để Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát tính hợp pháp của các hành
vi, quyết định trong hoạt động tư pháp
+ Trực tiếp kiểm sát; xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp
+ Xử lý vi phạm; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm
9 Quốc hội (2014), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội, Điều 4.
Trang 25+ Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị hành vi, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kháng nghị hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền khác trong hoạt động tư pháp
+ Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền
+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định pháp luật
Kiểm sát hoạt động tư pháp là một dạng giám sát nhà nước về tư pháp,
là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát của Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp là
sự kiểm sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết các vụ án Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm:
- Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật;
- Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ;
- Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh;
- Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện,
xử lý kịp thời, nghiêm minh
Trang 26Chức năng công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc tiến hành kiểm sát hoạt động tư pháp, bảo đảm cho công việc điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ về vụ án hình sự, xét
xử vụ án một cách khách quan đúng pháp luật cũng là một điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động buộc tội Nội dung của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp bao gồm: Kiểm sát việc thu thập và xử lý thông tin, tin báo và
tố giác hành vi phạm tội; Kiểm sát khởi tố vụ án hình sự, kiểm sát khởi tố bị can; Kiểm sát hoạt động điều tra và xét xử; Kiểm sát giam giữ, cải tạo; Kiểm sát thi hành án
Kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát khác với giám sát hoạt động tư pháp của Quốc hội và giám sát thực hiện quyền lực Nhà nước của các cơ quan khác Sự khác nhau trước hết thể hiện ở chủ thể thực hiện sự kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp Bản thân Viện kiểm sát được giao nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp nhưng việc kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát cũng chịu sự giám sát của Quốc hội Kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát vừa mang tính đối trọng vừa mang tính phối hợp Mục đích kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhằm ngăn ngừa những vi phạm pháp luật từ phía các cơ quan tư pháp khác
và nếu phát hiện vi phạm pháp luật thì yêu cầu khắc phục hoặc cùng với cơ quan cơ hành vi vi phạm khắc phục hậu quả, khắc phục lại trạng thái bình thường các quan hệ xã hội đó bị xâm hại Kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát được thực hiện ngay trong quá trình giải quyết vụ án hoặc
“tranh chấp” trong khi sự giám sát hoạt động tư pháp của Quốc hội không được tiến hành trong thời điểm đó (Cơ quan lập pháp không được can thiệp vào hoạt động xét xử từng vụ án cụ thể) Với tư cách là cơ quan lập pháp, Quốc hội thực hiện sự giám sát đối với một hoặc một số hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp Ví dụ, giám sát đối với công tác giam giữ, cải tạo; giám sát đối với hoạt động thi hành án hay một phần công việc của thi hành
án là giảm án, tha tù…) Công tác giám sát hoạt động tư pháp của Quốc hội
Trang 27nhân danh cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, không mang tính phối hợp cũng không mang tính đối trọng như kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát Công tác này là một bộ phận hợp thành, một khâu cuối cùng của chu trình quản lý Nhà nước
1.3 Mô hình Viện Công tố (Viện kiểm sát) tại một số quốc gia trên thế giới và những kinh nghiệm có thể vận dụng ở Việt Nam
- Tại Hoa Kỳ, Viện Công tố được hình thành và phát triển từ rất sớm
theo truyền thống luật án lệ Tuy nhiên, cho đến năm 1854, lần đầu tiên, các công tố viên quận mới được ký vào các văn bản truy tố và thực hiện quyền công tố tại phiên tòa hình sự với tư cách là đại diện Nhà nước Có thể nói, trong các nhà nước tư sản, Hoa Kỳ là một nước áp dụng học thuyết “tam quyền phân lập” một cách rõ nét nhất, triệt để nhất giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Hiện nay, hệ thống Viện Công tố của Hoa Kỳ phân chia gồm hệ thống Viện Công tố liên bang và hệ thống Viện Công tố tiểu bang Với đặc thù là nhà nước liên bang nên có hai hệ thống pháp luật (liên bang và các tiểu bang) Mỗi bang được coi là một chính quyền độc lập, có cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp nói riêng, Viện Công tố Hoa Kỳ cũng được phân chia theo cấp liên bang, tiểu bang Viện Công tố Hoa Kỳ không chỉ đạo điều tra mà chỉ phối hợp, hướng dẫn và có vai trò như một “Luật sư” tư vấn cho cảnh sát Sau khi nhận hồ sơ vụ án từ cơ quan điều tra chuyển sang, Viện Công tố có trách nhiệm buộc tội và tranh luận bình đẳng với Luật sư về buộc tội của mình Công tố viên ở Mỹ còn có quyền trong vấn đề hình phạt thông qua quyết định buộc tội của mình Một điều nổi bật của Viện Công tố Hoa Kỳ mà các nước trong cùng hệ thống luật không có được đó là có một
đặc quyền “tùy nghi truy tố”, kể cả khi chứng cứ vụ án đầy đủ (quyết định
này không bị bất cứ sự kiểm soát nào, kể cả Tòa án) Có thể nói, dù ở cấp liên
bang hay ở cấp bang thì công tố viên được coi là “một trong những người
quan trọng và quyền lực nhất” trong hệ thống tư pháp hình sự Mỹ Trong lĩnh
vực dân sự, công tố viên không tham gia vào việc giải quyết các vụ việc dân
Trang 28sự mà chỉ có trách nhiệm đại diện cho nhà nước tham gia vụ kiện nếu nhà nước là một trong các bên tranh chấp
- Khác với các nước có Viện Công tố được thành lập theo truyền thống luật án lệ, ở các nước theo truyền thống châu Âu lục địa, do có mô hình tố tụng thẩm tra nên vai trò của công tố viên lớn hơn so với truyền thống Luật án
lệ theo mô hình tố tụng, tranh tụng Pháp là một nước có hệ thống cơ quan Viện Công tố như thế Kể từ khi thành lập, Viện Công tố như một cơ quan đại diện cho quyền lực của nhà vua và có nhiệm vụ thực thi ý chí của nhà vua Càng về sau, ngoài việc bảo vệ quyền lợi cho nhà vua, Viện Công tố còn bảo
vệ quyền lợi chung cho toàn xã hội Quá trình hình thành và phát triển của Viện Công tố của Pháp có nhiều thay đổi về chức năng, nhiệm vụ cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, song về bản chất pháp lý cũng như những chức năng, nhiệm vụ cơ bản của nó không thay đổi Hệ thống Viện Công tố của Pháp được tổ chức riêng trong hệ thống cơ quan tài phán tư pháp và thiết lập trong cơ cấu tòa án Hoạt động của Viện Công tố theo nguyên tắc độc lập với Tòa án, Tòa án không can thiệp vào việc thực hiện quyền công tố của Viện Công tố Đồng thời, tòa án không được quyền từ chối việc xét xử nếu Viện Công tố chuyển hồ sơ đầy đủ chứng cứ sang Tòa Đối với hoạt động truy tố, công tố viên ở Pháp có quyền quyết định truy tố hay không truy tố Như vậy, mặc dù được tổ chức bên cạnh Tòa nhưng Viện công tố của Pháp không phải là cơ quan nhân danh nhà nước để phán quyết như Tòa, mà là cơ quan có thẩm quyền buộc tội, bảo vệ quyền lợi của xã hội và của công dân, giám sát sự tuân thủ pháp luật, trật tự công cộng Trong lĩnh vực dân sự và hành chính, Viện Công tố cũng đóng vai trò không nhỏ với tư cách nhân danh công quyền để bảo vệ lợi ích chung
- Tại Trung Quốc, thiết chế giám sát xuất hiện rất sớm trong Nhà nước Trung Quốc Tuy nhiên, phải cho đến năm 1949, sau khi nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, hệ thống cơ quan viện kiểm sát mới được ra đời chính thức Viện kiểm sát là cơ quan giám sát pháp luật, được
Trang 29thành lập theo địa giới hành chính nhưng độc lập với hệ thống cơ quan hành chính và cơ quan Tòa án, bao gồm: Viện kiểm sát tối cao, các viện kiểm sát các cấp ở địa phương (tỉnh, thành phố và huyện) và viện kiểm sát chuyên ngành Hệ thống Viện kiểm sát Trung Quốc được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc song trùng trực thuộc, các viện kiểm sát địa phương chịu sự lãnh đạo của viện kiểm sát cấp trên và chịu sự lãnh đạo của Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp Viện kiểm sát Trung Quốc có quyền trực tiếp điều tra một số tội phạm có tính chất nghiêm trọng, phức tạp Ngoài ra, còn có một số quyền hạn đặc biệt khác như: có quyền ra lệnh phong tỏa tiền gửi, tiền chuyển khoản; có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý và xử lý mọi tin báo, tố giác tội phạm Sau khi giao cho cơ quan điều tra xác minh các thông tin trên, nếu phát hiện thấy có dấu hiệu tội phạm, viện kiểm sát sẽ ra quyết định khởi tố để điều tra hoặc ra lệnh cho cơ quan điều tra tiếp tục điều tra Đây chính là một trong những điểm khác nhau với viện kiểm sát ở nước ta
Như vậy, do thể chế chính trị, kinh tế - văn hóa – xã hội, truyền thống pháp luật của mỗi quốc gia có sự khác nhau dẫn đến cách thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và viện kiểm sát nói riêng cũng khác nhau Mặc dù vị trí, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của cơ quan kiểm sát
có khác nhau nhưng luôn có vị trí độc lập, vai trò to lớn trong bộ máy nhà nước và đều có chức năng buộc tội, giám sát pháp luật Trong lĩnh vực hình
sự, dù viện kiểm sát ở quốc gia có truyền thống pháp luật khác nhau nhưng đều thực hiện chức năng chính là truy tố tội phạm và chỉ có viện kiểm sát là
cơ quan duy nhất thực hành quyền công tố Tổ chức hệ thống của cơ quan kiểm sát rất linh hoạt, đa dạng, nhưng luôn đối ứng và phù hợp với hệ thống
tổ chức tòa án Kiểm sát viên là những công chức đặc biệt trong bộ máy nhà nước, có tính đảm bảo tính độc lập để thực hiện chức năng, nhiệm vụ Điển hình như ở Pháp, Nhật Bản và Hàn Quốc, kiểm sát viên là người có quyền
duy nhất có quyền khởi tố, truy tố bị can ra tòa, áp dụng nguyên tắc “tùy nghi
truy tố”, có vai trò quan trọng trong việc ra các quyết định tố tụng Ngoài
Trang 30những chức năng cơ bản thì kiểm sát viên còn có một số chức năng, quyền hạn khác nhau Tuy nhiên, kiểm sát viên đều có quyền hạn rất lớn và độc lập
Do vậy, để hạn chế những sai lầm trong quá trình thực thi nhiệm vụ và tránh lạm quyền thì mỗi quốc gia có những phương pháp khác nhau Ví dụ: Ở Nhật Bản, để hạn chế và tránh lạm quyền, đã thiết lập một hệ thống Ủy ban kiểm tra, giám sát tại các địa phương Hay việc cho phép người bị hại được quyền khởi tố vụ án hình sự và quy định đó được coi như hình thức giám sát và ngăn ngừa sự lạm quyền của viện công tố khi họ từ chối khởi tố hay truy tố tội phạm Có thể nói, việc thực hiện kiểm tram giám sát này là một hình thức kiểm tra giám sát của nhân dân đối với các quyết định, hành vi tố tụng của viện kiểm sát và kiểm sát viên nhằm đảm bảo mọi quyết định, hành vi của viện kiểm sát và kiểm sát viên đúng pháp luật và phù hợp với ý nguyện của người dân
Trang 31KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trên cơ sở nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, quan niệm về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước, từ thời kỳ đầu thành lập ngành Kiểm sát nhân dân đã chi phối ảnh hưởng lâu dài đến sự nhận thức về vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hoạt động tư pháp Xuất phát từ bản chất và đặc điểm cơ bản nhất của nhà nước ta, phải đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất quyền lực, kết hợp với nguyên tắc tập trung dân chủ để phân công, phân nhiệm cho từng cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo tính tập trung nhưng vẫn phát huy tính tự chủ để thực hiện tốt quyền lực của nhân dân Mục đích chung của cơ quan Viện kiểm sát là bảo vệ trật tự xã hội, trật tự pháp luật, xử lý nghiêm tội phạm, bảo vệ lợi ích cho giai cấp cầm quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, đồng thời đảm bảo cho pháp luật được chấp hành và thống nhất
Trong tiến trình phát triển đất nước, hội nhập với Thế giới, Viện kiểm sát nhân dân với chức năng, nhiệm vụ của mình có vị trí quan trọng và vai trò
to lớn trong việc bảo đảm thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo trên phương diện pháp lý cho xu thế hội nhập, giao lưu quốc tế của nước ta Và ngược lại, đó cũng là cơ sở lý luận vững chắc cho việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta hiện nay
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN LUẬT TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN 2014 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG
2.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang
Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang phía Bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hà Giang
là một quần thể núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở, có độ cao trung bình từ 800m đến 1.200m so với mực nước biển Do đó, Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới ở cực bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa V, kỳ họp thứ hai, ngày 12-1975, hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang được hợp nhất thành tỉnh Hà Tuyên vào đầu tháng 4 năm 1976 Sau đó, đến ngày 12/8/1991, tại kỳ họp thứ
27-9, Quốc hội khóa VIII đã ra Nghị quyết chia tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh: Hà Giang và Tuyên Quang, tỉnh Hà Giang được tái lập, với các đơn vị hành chính gồm 9 huyện, 1 thị xã Đến nay tỉnh Hà Giang có 01 thành phố, 10 huyện, 5 phường, 195 đơn vị cấp xã, tổng diện tích 7.945,7955 Km2, là địa bàn cư trú của 22 dân tộc anh em với dân số 976.846 người (tính đến 31 tháng 12 năm
2015)
Ngày 31 tháng 12 năm 1960, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký Quyết định số 01/QĐ-VKSTC về việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang Khi mới thành lập ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh có 20 đồng chí cán bộ nghiệp vụ, có các tổ trưởng phụ trách các khâu công tác như Kiểm sát chung, hình sự, dân sự…, có 4 Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện đó là Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Văn, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoàng
Trang 33Su Phì Mỗi huyện có Viện trưởng, Phó Viện trưởng và hai đến ba cán bộ nghiệp vụ, về trình độ hầu hết chưa qua đào tạo nghiệp vụ Đến năm 1976 sáp nhập hai tỉnh Hà Giang – Tuyên Quang thành tỉnh Hà Tuyên; năm 1991 lại chia tách tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh Hà Giang – Tuyên Quang Cho đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang tổng biên chế có 199 đồng chí (cấp tỉnh là 53 đồng chí; cấp huyện là 146 đồng chí), gồm có 1 Viện trưởng
và 3 Phó Viện trưởng, 38 kiểm sát viên Trung cấp, 49 kiểm sát viên Sơ cấp,thành lập 11 phòng nghiệp vụ
Trong thời kỳ từ năm 1960 đến năm 1975, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang đã đạt được những kết quả to lớn, phục vụ tích cực hai nhiệm vụ chiến lược; miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng thời là hậu phương vững chắc cho giải phóng miền Nam, thực hiện được nhiệm vụ trọng tâm là đấu tranh chống lại bọn phản cách mạng, bảo vệ các quyền dân chủ của công dân, bảo vệ tài sản
xã hội chủ nghĩa và chế độ quản lý của Nhà nước Thực hiện việc công tác đào tạo cán bộ theo hệ chính quy, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ về kiến thức pháp lý và nghiệp vụ công tác Kiểm sát theo kế hoạch của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Đến thời kỳ 1975 đến năm 1986, thực hiện Nghị quyết của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, Quy chế ngạch Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 1983 và Quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về cơ cấu bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tuyên (cũ) được tổ chức thành 9 phòng nghiệp vụ (tháng 3/1983) thay các bộ phận nghiệp vụ trước đây Sau khi các phòng nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tuyên được thành lập, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra quyết định thành lập
Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tuyên
Từ năm 1986 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang nghiêm túc thực hiện các yêu cầu của cải cách tư pháp theo tinh thần của các Chỉ thị,
Trang 34Nghị quyết của Đảng như Nghị quyết TW 3 khoá VIII; Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3/2000; Nghị quyết số 08 – NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết
số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Hà Giang phối hợp với các cơ quan hữu quan thực hiện đúng tiến độ, có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp Tiếp tục làm tốt chức năng thực hành quyền Công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Bảo đảm nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa - đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp
2.2 Thực trạng thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
2.2.1 Thực trạng thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang trước năm 2014
Kế thừa và phát huy những thành tựu và kinh nghiệm hoạt động của Viện Công tố trong cách mạng dân tộc, dân chủ, được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân ngành Kiểm sát tỉnh Hà Giang không ngừng phấn đấu và trưởng thành, thực hiện tốt các chức năng của mình Cùng với sự phát triển của đất nước, ngay từ khi thành lập, được sự chỉ đạo của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao và cấp ủy địa phương, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang vừa phải xây dựng hệ thống tổ chức, vừa phải triển khai hoạt động phục vụ các nhiệm vụ do Đảng
và Nhà nước đề ra, từng bước xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy để triển khai nhiệm vụ và thực hiện việc bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ
Trong thời kỳ trước khi Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi năm 2001) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 ra đời, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Hà Giang thực hiện đồng thời cả hai chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tư pháp và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế - xã hội (kiểm sát chung)
Trang 35Trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tư pháp, đặc biệt là trong lĩnh vực giải quyết án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang đã quán triệt các quan điểm của Đảng
và Nhà nước về chính sách hình sự, tăng cường phối hợp với các cơ quan bảo
vệ pháp luật, phát hiện và xử lý nghiêm minh các loại tội phạm Đã tập trung lực lượng điều tra, truy tố, xét xử nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội tham nhũng, buôn lậu, tệ nạn xã hội và một số tội phạm nghiêm trọng khác, có tác dụng giáo dục, phòng ngừa tốt, được nhân dân đồng tình ủng hộ, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội, bảo đảm các quyền dân chủ của công dân, phục vụ có hiệu quả công cuộc đổi mới của đất nước Trong các công tác khác trong lĩnh vực
tư pháp (kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự; kiểm sát công tác giam, giữ, thi hành án; giải quyết khiếu nại, tố cáo…), Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang luôn chủ động thực hiện tốt các thao tác nghiệp vụ, nắm vững tình hình, thực hiện có hiệu quả tất cả các khâu công tác Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã chú trọng kiểm sát việc lập hồ sơ án dân sự của Toà án, hàng năm
đã phát hiện và yêu cầu điều tra bổ sung hàng chục vụ, chủ động trực tiếp điều tra bổ sung chứng cứ, tích cực tham gia xét xử ở các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án về kinh tế, lao động, hành chính và phá sản doanh nghiệp là lĩnh vực còn mới mẻ nhưng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang đã có nhiều cố gắng kiểm sát việc lập hồ sơ, tham gia xét xử nhằm đảm bảo giải quyết các loại án này đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Bên cạnh đó, với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế - xã hội, trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, hoạt động của ngành kiểm sát đã tập trung vào phục vụ 03 chương trình kinh
tế lớn của Đảng và Nhà nước, đấu tranh ngăn chặn những hành vi lợi dụng sự năng động, tự chỉ để vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, vi phạm pháp
Trang 36luật, đồng thời góp phần tháo gỡ những khó khăn vướng mắc về cơ chế quản
lý để phát huy tính năng động của nền kinh tế thị trường Chức năng này đã được thể hiện qua một số hoạt động như: Năm 1989, tiến hành kiểm sát hoạt động của ngành Ngân hàng; năm 1990 kiểm sát hoạt động quản lý xuất nhập khẩu; năm 1991 kiểm sát việc quản lý sử dụng vàng và ngoại tệ; năm 1992, kiểm sát trong lĩnh vực hoạt động của ngành giao thông, bưu điện; năm 1993,
1994 kiểm sát trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, hoạt động quản lý và sử dụng đất đai và các dự án có vốn đầu tư của Nhà nước và nước ngoài; năm 1995, kiểm sát việc thực hiện luật đất đai gắn với xây dựng cơ bản, kiểm sát các dự
án vốn đầu tư theo chương trình 327 và phát triển cơ sở hạ tầng; các năm
1996 và 1997 kiểm sát việc chấp hành Luật thuế, Luật ngân sách, quản lý thu
và chi ngân sách phục vụ chương trình giáo dục, đào tạo và xóa đói giảm nghèo; các năm 1998 và 1999 kiểm sát việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư xây dựng thuộc lĩnh vực công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn, thực hiện Luật công ty… Qua công tác kiểm sát, đã báo cáo cấp ủy; Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân cùng cấp và các ngành hữu quan chấn chỉnh công tác quản lý nhằm khắc phục những sơ hở, thiếu sót và những vi phạm Qua đó, kiến nghị thu hồi cho ngân sách Nhà nước và chp tập thể hàng chục tỷ đồng, hàng tấn thóc và hàng nghìn mét vuông đất sử dụng sai mục đích Bên cạnh đó, công tác kiểm sát văn bản Quy phạm pháp luật là một công tác quan trọng do Quốc hội giao cho ngành Kiểm sát nhân dân thực hiện Sau khi có Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, hoạt động kiểm sát văn bản đã có những chuyển biến tích cực Nhờ kết hợp chặt chẽ với hoạt động kiểm sát những lĩnh vực và ngành kinh tế trọng điểm, mỗi năm ngành Kiểm sát tỉnh Hà Giang đã phát hiện và kháng nghị, kiến nghị khắc phục hoặc bác bỏ hàng trăm văn bản có vi phạm pháp luật
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, với yêu cầu của công đổi mới, hội nhập quốc tế và với chức năng nhiệm vụ mà Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định thì hoạt động của Viện kiểm
Trang 37sát nhân dân vẫn còn những khuyết điểm, tồn tại nhất định Viện kiểm sát nhân dân hai cấp chưa làm đầy đủ trách nhiệm và quyền hạn do luật định như trong đấu tranh phòng chống tội phạm, thực hành quyền công tố, chưa quản lý tốt thông tin tội phạm, số vụ án đưa ra truy tố, xét xử chưa phản ánh được thực trạng, diễn biến tình hình tội phạm hiện nay Trong công tác kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, nhiều đơn vị cấp huyện chưa chú ý kiểm sát điều tra ngay từ đầu, nhiều vụ án còn kéo dài, trình độ và trách nhiệm của kiểm sát viên chưa cao, công tác kiểm sát giam, giữ và thi hành án, một số đơn vị cấp huyện chưa được chú ý đúng mức, chưa chủ động đề ra các biện pháp phòng chống vi phạm và tội phạm
Trong công tác kiểm sát việc giải quyết án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, nhiều đơn vị cấp huyện chưa làm tốt công tác nắm chắc các khiếu nại của đương sự
và việc thu thập chứng cứ của cơ quan Tòa án để yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ và kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Những tồn tại nêu trên do nhiều nguyên nhân, một mặt do có sự thay đổi về chính sách, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, sự phối hợp hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa được chặt chẽ, mặt khác do trình độ năng lực của cán bộ, kiểm sát viên còn hạn chế, chưa đáp ứng được tình hình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của đất nước
Vào tháng 4 năm 2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
ta đã tiến hành, đánh dấu một bước quan trọng trong tiến trình cải cách bộ máy nhà nước Khẳng định việc đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nêu rõ phải cải cách tổ chức nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, xét xử, thi hành án, không để xảy ra các trường hợp oan sai Trong Nghị quyết Hội nghị
Trang 38lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ: Cần sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức nhằm đảm bảo Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Trong lần sửa đổi Hiến pháp năm 2001, vấn đề chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát được tranh luận khá sôi nổi, nhất là vấn đề chức năng kiểm sát chung của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân Kết cục, theo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 (Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001), chức năng kiểm sát chung (kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân) đã bị bãi bỏ Viện kiểm sát nhân dân được yêu cầu tập trung vào làm tốt hai công tác chính là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (các hoạt động như khởi tố, điều tra, tạm giam, tạm giữ, xét xử, thi hành án) Cụ thể, theo Nghị quyết số 51/2001/QH10, Điều 137 Hiến pháp 1992 được sửa đổi như sau:
“Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định”
Trên cơ sở quy định mới này, ngày 02/04/2002, Quốc hội đã ban hành Luật số 34/2002/QH10 về Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (gọi tắt là Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002) Điều 1 luật này quy định rõ: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
Trang 39động tư pháp ở địa phương mình Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật
Theo quy định của Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2002 thì hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp của viện kiểm sát được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực, trong mọi giai đoạn tố tụng tư pháp (kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, kiểm sát thi hành án, kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù) Ngoài ra, theo tinh thần cải cách tư pháp và quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002, viện kiểm sát là cơ quan có trách nhiệm rất lớn trong công tác phòng, chống tội phạm Đồng thời, tăng cường trách nhiệm, quyền hạn của viện kiểm sát trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, giam, giữ và quản lý, giáo dục người chấp hành
án phạt do các cơ quan tư pháp tổ chức thực hiện Như vậy, có thể thấy rằng đây là lần thay đổi về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của viện kiểm sát lớn nhất kể từ khi thành lập cho đến nay, đồng thời cũng là lần đầu tiên phân biệt rõ ràng, cụ thể công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, trong giai đoạn điều tra, viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, quyết định việc truy
tố người phạm tội ra trước Tòa Trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2013, mặc dù số lượng vụ án xảy ra hàng năm đều tăng, tỷ lệ năm sau cao hơn năm trước, nhưng với trách nhiệm của mình, Viện kiểm sát các cấp tại tỉnh Hà Giang đều bảo đảm cho việc điều tra, truy tố nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
Để thực hiện tốt điều này, viện kiểm sát luôn giữ vai trò chủ động, tích cực phối kết hợp với các cơ quan ngay từ đầu và trong suốt quá trình điều tra
Trang 40nhằm đạt hiệu quả cao nhất Viện kiểm sát các cấp thực hiện nghiêm túc việc
mở sổ theo dõi và thực hiện nghiêm chế độ báo cáo Ngoài việc đổi mới công tác tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, viện kiểm sát hai cấp luôn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc quản lý và xử lý tin báo, tố giác tội phạm nhằm đảm bảo chống bỏ lọt tội phạm ngay từ khâu tiếp nhận, phân loại và xử lý tin báo, tố giác Thông qua công tác này, hàng năm ngành kiểm sát đã trực tiếp khởi tố và yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố điều tra nhiều vụ án Các lĩnh vực công tác của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã có những tiến bộ nhất định, đặc biệt là trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ pháp luật, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các loại tội phạm, nhất là các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, các tội về tham nhũng, buôn lậu, ma túy và các loại tội phạm có tổ chức
2.2.2 Thực trạng thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang từ năm 2014 đến nay
Ngay sau khi Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội xem xét thông qua, Quốc hội đã khẩn trương sửa đổi, bổ sung và cụ thể hóa những nội dung mới
về Viện kiểm sát nhân dân trong các đạo luật, đặc biệt là Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
đã có nhiều quy định mới so với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2002, như: khẳng định rõ hơn về địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân; hoàn thiện hệ thống lý luận về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân, bảo đảm thống nhất trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc xây dựng các đạo luật liên quan đến tổ chức và
hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân; làm rõ hơn nội dung nguyên tắc “tập
trung thống nhất lãnh đạo trong ngành”; tạo cơ sở pháp lý để xây dựng hệ
thống tổ chức bộ máy Viện kiểm sát nhân dân các cấp theo hướng chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu về mở rộng thẩm quyền Tuy nhiên, về cơ bản, chức năng