1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ tư pháp thực trạng và giải pháp

94 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 3,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã được trong thời gian qua, công tác kiểm tra văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, chẳng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

QUÁCH HUYỀN TRANG

CÔNG TÁC KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT THUỘC PHẠM VI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA BỘ TƯ PHÁP – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC (Định hướng ứng dụng)

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

QUÁCH HUYỀN TRANG

CÔNG TÁC KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT THUỘC PHẠM VI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA BỘ TƯ PHÁP – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành : Luật hiến pháp và luật hành chính

Trang 3

TS Lê Thị Uyên, người đã hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Khoa Đào tạo Sau Đại học và Khoa Hành chính nhà nước - trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài

Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trường Đại học Luật Hà

Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn!

Người thực hiện

Trang 4

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, không bị trùng lập

với công trình đã được công bố Đồng thời, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là chính xác, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

Tác gi ả đề tài

Trang 5

M ỤC LỤC

PH ẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do ch ọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên c ứu đề tài 3

3 M ục đích, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7

6 B ố cục của luận văn 7

PH ẦN NỘI DUNG 8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA VĂN BẢN QPPL THUỘC PHẠM VI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA BỘ TƯ PHÁP 8

1.1 Khái ni ệm về công tác kiểm tra văn bản QPPL 8

1.2 M ục đích và đối tượng của công tác kiểm tra văn bản QPPL 10

1.3 Nguyên t ắc, nội dung và phương thức kiểm tra văn bản QPPL 12

1.4 Quy trình ki ểm tra văn bản QPPL theo thẩm quyền 14

1.5 Các hình th ức xử lý văn bản trái pháp luật, xử lý trách nhiệm đối với người, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật và khắc phục hậu quả do áp dụng văn bản trái pháp lu ật gây ra 15

1.6 Trách nhi ệm của Bộ Tư pháp trong công tác kiểm tra văn bản QPPL 17

1.7 Các y ếu tố tác động đến công tác kiểm tra văn bản thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp 19

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA VĂN BẢN QPPL THU ỘC PHẠM VI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA BỘ TƯ PHÁP 23

2.1 Nh ững kết quả đạt được trong công tác kiểm tra văn bản thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp 23

2.1.1 K ết quả tổ chức kiểm tra theo thẩm quyền 23

2.1.2 K ết quả thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước 28

2.1.3 Đánh giá chung 35

Trang 6

2.2 Những hạn chế trong công tác kiểm tra văn bản thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp 39 2.2.1 Nh ững hạn chế 39 2.2.2 Nguyên nhân c ủa những hạn chế 44

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA VĂN BẢN QPPL THUỘC PHẠM VI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA BỘ TƯ PHÁP 51

3.1 Quan điểm về nâng cao chất lượng công tác kiểm tra văn bản QPPL thuộc

ph ạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp 51 3.2 Gi ải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra văn bản QPPL thuộc phạm vi

qu ản lý nhà nước của Bộ Tư pháp trong giai đoạn hiện nay 53 3.2.1 Hoàn thi ện thể chế về công tác xây dựng, kiểm tra, xử lý văn bản 53 3.2.2 C ủng cố, kiện toàn về tổ chức, biên chế 60 3.2.3 Ti ếp tục nâng cao vai trò, chất lượng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp 62 3.2.4 Đổi mới việc triển khai hoạt động kiểm tra văn bản QPPL 65 3.2.5 Ti ếp tục củng cố và khai thác hiệu quả đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn

b ản QPPL 66 3.2.6 Tăng cường kinh phí và các điều kiện bảo đảm khác phục vụ công tác kiểm tra văn bản QPPL tại Bộ Tư pháp 67 3.2.7 Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, hiệu quả của các cơ quan báo chí, truy ền thông đối với hoạt động kiểm tra văn bản QPPL 69

PH ẦN KẾT LUẬN 71

Trang 7

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Kiểm tra văn bản QPPL đã được quy định tại Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và tiếp tục được quy định tại Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ 2015 (trước đây được quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ 2001), Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (trước đây được quy định tại Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003), Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 (trước đây được quy định tại Luật Ban hành văn bản QPPL năm 1996, Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008, Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND năm 2004) Để triển khai công tác kiểm tra văn bản QPPL trên thực tế, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL (sau

đó được thay thế bởi Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010) và hiện nay được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn

bản QPPL năm 2015

Hoạt động kiểm tra văn bản QPPL được triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn quốc với đối tượng là văn bản QPPL do cấp bộ đến văn bản QPPL do các cấp chính quyền địa phương ban hành Về trách nhiệm kiểm tra văn bản QPPL, thực hiện quy định của pháp luật, đến nay, đã thiết lập được hệ thống các cơ quan kiểm tra từ Trung ương đến địa phương Theo đó, nhiệm vụ này được giao cho Bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND các cấp Trong hệ

thống cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản QPPL, Bộ Tư pháp giữ vai trò hạt nhân, vừa là cơ quan giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản QPPL theo thẩm quyền, vừa là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL Từ

chức năng, nhiệm vụ đó, có thể thấy, Bộ Tư pháp có vai trò rất quan trọng trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL trong phạm vi toàn quốc Tuy

Trang 8

nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã được trong thời gian qua, công tác

kiểm tra văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp còn

bộc lộ những hạn chế, bất cập, chẳng hạn như: Việc kiểm tra, phát hiện văn bản trái pháp luật chưa kịp thời, chưa đầy đủ; hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật chưa đầy đủ và quyết liệt; việc theo dõi, đôn đốc xử lý văn bản trái pháp luật chưa hiệu quả; hệ cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra văn bản còn chậm trễ, chưa được khai thác, sử dụng hiệu quả Bên cạnh đó, nghiên

cứu về mặt lý luận cũng như thực tiễn kiểm tra văn bản QPPL thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu, đồng bộ, góp phần nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra văn bản tại Bộ

Tư pháp hiện nay còn hạn chế Những bất cập, hạn chế này đã ảnh hưởng tới

chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm tra văn bản nói chung và công tác

kiểm tra văn bản thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp nói riêng

Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến thực trạng trên, trong đó phải kể đến một số nguyên nhân cơ bản, như: Văn bản thuộc thẩm quyền kiểm tra của

Bộ Tư pháp ban hành trong thời gian qua có số lượng lớn, xu hướng ngày càng tăng; quy định pháp luật về soạn thảo, ban hành văn bản còn khiếm khuyết; quy định pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản QPPL chưa thực sự đầy

đủ và hoàn thiện (trong đó có quy định về thẩm quyền của Bộ Tư pháp trong kiểm tra, xử lý văn bản QPPL chưa thực sự đủ mạnh, chưa có quy định cụ thể

về xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản, quy định về

khắc phục hậu quả do ban hành và thi hành văn bản trái pháp luật gây ra, quy định về hình thức, quy trình xử lý văn bản trái pháp luật còn bất cập ); kiểm tra văn bản QPPL là công việc phức tạp, đòi hỏi kiến thức chuyên môn sâu, kinh nghiệm, bản lĩnh nghề nghiệp, trong khi đó điều kiện bảo đảm, nhất là chính sách thu hút, đãi ngộ cán bộ, công chức làm công tác này còn nhiều hạn

chế, chưa tương xứng yêu cầu nhiệm vụ

Từ thực trạng này, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có những nghiên cứu sâu sắc về lí luận cũng như thực tiễn để phân tích, làm rõ nguyên nhân, đưa ra

Trang 9

được các giải pháp thích hợp và đồng bộ cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ

Tư pháp, góp phần kiểm soát việc tuân thủ pháp luật trong ban hành văn bản QPPL, nâng cao chất lượng ban hành văn bản QPPL, làm cho hệ thống pháp luật được thống nhất, đồng bộ, minh bạch và khả thi; góp phần đưa công tác

kiểm tra văn bản thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp lên tầm cao

mới, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao phó Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kiểm tra, xử lý văn bản UBND thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, học viên chọn đề

tài: “Công tác ki ểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản

lý nhà nước của Bộ Tư pháp - Thực trạng và giải pháp”

2 Tình hình nghiên c ứu đề tài

Trong những năm qua đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về công tác kiểm tra văn bản QPPL tại Việt Nam, tuy nhiên được tiếp cận dưới nhiều góc độ và cách nhìn khác nhau Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu liên quan đến luận văn như sau:

- Bộ Tư pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2012, “Đổi mới và nâng cao

hiệu quả công tác kiểm tra – rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL ở Việt Nam

hiện nay”;

- Bộ Tư pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2014, “Hoàn thiện thể chế phục vụ công tác kiểm tra văn bản QPPL theo các nguồn thông tin, theo chuyên đề, địa bàn, theo ngành, lĩnh vực”

Trang 10

2.2 Sách chuyên kh ảo

- TS Lê Hồng Sơn chủ biên (2007), Nghiệp vụ rà soát, hệ thống hoá văn

bản quy phạm pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội;

- TS Đoàn Tố Uyên (2017), Lý luận và thực tiễn về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL ở Việt Nam hiện nay, NXB Công an nhân dân, Hà Nội;

- TS Đồng Ngọc Ba chủ biên (2016), Sổ tay tình huống nghiệp vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL, NXB Tư pháp, Hà Nội;

- TS Đồng Ngọc Ba chủ biên (2016), Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ văn bản QPPL, NXB Tư pháp, Hà Nội;

- TS Đồng Ngọc Ba chủ biên (2017), Quy định pháp luật hiện hành về rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL, NXB Tư pháp, Hà Nội;

- TS Đồng Ngọc Ba chủ biên (2018), Sổ tay tình huống nghiệp vụ kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, NXB Tư pháp, Hà Nội;

2.3 Lu ận văn, Luận án

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2010), “Hoàn thiện cơ

chế kiểm tra văn bản QPPL của các cơ quan nhà nước cấp Bộ”;

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Văn Dũng (2011), “Thực hiện pháp

luật về kiểm tra, xử lý văn bản QPPL ở Việt Nam”;

- Luận án tiến sỹ của tác giả Đoàn Thị Tố Uyên (2012), “Kiểm tra và xử

lý văn bản QPPL ở Việt Nam hiện nay”;

- Luận án tiến sỹ của tác giả Ngô Hồng Thủy (2015), “Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam”;

- Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Thị Uyên (2016), “Kiểm tra văn bản QPPL do bộ, cơ quan ngang bộ ban hành ở Việt Nam hiện nay”

Nhiều bài viết, bài nghiên cứu trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước

và pháp luật, Tạp chí Dân chủ và pháp luật có liên quan đến nội dung kiểm tra văn bản QPPL, có thể kể đến:

Trang 11

- Hoàng Minh Hà (2008), Luận bàn về tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Dân chủ pháp luật, số 03;

- Nguyễn Thị Việt Nga, Kiểm tra, xử lý văn bản QPPL theo các nguồn thông tin, tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề năm 2009;

- Lê Thị Uyên, Thực trạng năng lực trong công tác kiểm tra văn bản QPPL thời gian qua, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề năm 2009;

- Bùi Thị Đào (2007), Văn bản quy phạm trái pháp luật và xử lý văn bản quy phạm trái pháp luật, Tạp chí Luật học số 10;

- Đồng Ngọc Ba, Thực trang và một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra văn bản QPPL ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề năm 2017;

- Nguyễn Thị Việt Nga và Nguyễn Thị Bích Thủy, Thực trạng hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại các bộ, ngành, địa phương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật;

Ngoài ra, còn một số các công trình nghiên cứu, bài viết khác mà tác giả không có điều kiện liệt kê cụ thể Có thể nói các công trình đã phân tích, đánh giá khá toàn diện về phương diện lý luận cũng như thực tiễn của hoạt động kiểm tra văn bản QPPL, tuy vậy, hầu hết các công trình này được triển khai trên cơ sở

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, các quy định tại Luật Ban hành văn bản QPPL năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002 và năm 2008); Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND, Ủy ban nhân dân năm 2004; Nghị định số 135/2003/NĐ-CP

và Nghị định số 40/2010/NĐ-CP về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL Theo tinh

thần và quy định của Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, đặt ra nhiều vấn đề mới về cả lý luận và thực tiễn

3 M ục đích, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích

Luận văn đưa ra sơ lược những vấn đề lý luận về hoạt động kiểm tra văn

bản; xem xét, phân tích thực trạng của hoạt động này trong thời gian gần đây

Trang 12

Từ đó, đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

3.3 Ph ạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là công tác kiểm tra văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, tập trung chủ yếu vào công tác kiểm tra văn bản theo thẩm quyền và vai trò quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp trong công tác này, giai đoạn từ năm 2016 đến thời điểm hoàn thành luận văn – Quý II năm 2018

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài triển khai và sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp luận của triết học Mác-Lê nin mà trực tiếp là các phương pháp của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đây là phương pháp chung, xuyên suốt trong luận văn;

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Dựa vào lý luận và thực tiễn thi hành, kết hợp với số liệu, kết quả cụ thể trên thực tế, đánh giá hiệu quả, đưa ra những nhận định về bản chất nhằm đề xuất phương án nâng cao và hoàn thiện chất lượng hoạt động kiểm tra văn bản thuộc phạm vi quản lý nhà nước của

Bộ Tư pháp, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật;

- Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp: Thông qua tổng hợp và phân tích tư liệu, tài liệu, số liệu sẵn có để đưa ra và phân tích, đánh giá thực trạng kiểm tra văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để phục vụ việc tổng hợp, phân tích,

Trang 13

đánh giá các nội dung được đưa ra tại Chương 2 của Luận văn (Thực trạng

kiểm tra văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp);

- Phương pháp so sánh: Được sử dụng nhằm so sánh hoạt động kiểm tra

văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp qua các giai đoạn khác nhau và đưa ra các đánh giá, nhận định về tình hình thực hiện hoạt động này qua từng giai đoạn; phương pháp này còn được sử dụng ở nhiều nội dung khác và nằm rải rác trong các Chương của Luận văn

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần vào việc nghiên cứu, hoàn thiện thể chế về kiểm tra, xử lý văn bản QPPL nói chung, hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra văn bản thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp nói riêng;

- Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ là công trình khoa học có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập về kiểm tra văn bản QPPL nói chung cũng như công tác kiểm tra văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước

của Bộ Tư pháp nói riêng

6 B ố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công tác kiểm tra văn bản QPPL Chương 2: Thực trạng công tác kiểm tra văn bản QPPL thuộc phạm vi

quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Trang 14

PH ẦN NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA VĂN BẢN QPPL THUỘC PHẠM VI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA

1.1 Khái ni ệm về công tác kiểm tra văn bản QPPL

đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục luật định Đây là hình thức tiến

bộ nhất trong ba hình thức của pháp luật, bao gồm tập quán pháp, tiền lệ pháp

và văn bản QPPL Văn bản QPPL là sản phẩm sáng tạo của quá trình sáng tạo pháp luật, hội đủ bốn yếu tố đặc trưng: (1) Chủ thể ban hành – do cơ quan Nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền; (2) trình tự thủ

tục ban hành – được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục quy định đối với từng hình thức văn bản; (3) nội dung văn bản có chứa quy tắc xử sự chung – các quy tắc được áp dụng nhiều lần, đối với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng, có hiệu lực pháp luật trong phạm vi toàn quốc hoặc tại từng địa phương cụ thể; và (4) cơ chế đảm bảo thực hiện – tùy theo mức độ khác nhau

mà Nhà nước áp dụng các biện pháp về tư tưởng, giáo dục, thuyết phục kể

cả biện pháp cưỡng chế cần thiết để bắt buộc thi hành và quy định chế tài đối với người vi phạm

hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhằm xem xét, đánh giá và kết luận tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của các văn bản QPPL sau khi ban hành và xử lý văn bản trái pháp luật Trên cơ sở kết quả kiểm tra, đề ra phương án xử lý các văn bản trái pháp luật và đồng thời kiến nghị hình thức

xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật

hoặc đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đã chủ trì, tham mưu trong quá trình

soạn thảo văn bản

Trang 15

Xử lý văn bản là một khâu trong kiểm tra văn bản Kiểm tra văn bản được thực hiện liền mạch từ bước xem xét, phân tích, đánh giá tính hợp pháp

của văn bản; dựa vào kết quả của việc xem xét, các cơ quan có thẩm quyền đề xuất, tiến hành xử lý và khắc phục hậu quả Nếu kiểm tra không đi kèm với

xử lý, thì hoạt động kiểm tra cũng không còn ý nghĩa

Trong vòng đời của văn bản, có rất nhiều hoạt động kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ với hệ thống pháp luật của văn bản, từ các khâu

tổ chức xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành, bao gồm: Thẩm định, thẩm tra; rà soát, giám sát; và kiểm tra, xử lý văn bản Nếu coi hoạt động thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản là một hoạt động “tiền kiểm” mang tính chất

“khuyến nghị, tư vấn” những dấu hiệu sai trái; thì hoạt động kiểm tra văn bản

là khâu “hậu kiểm” quan trọng nhằm ngăn ngừa hậu quả, xử lý và giải quyết những hậu quả do việc áp dụng các văn bản trái pháp luật đã xảy ra hoặc đe dọa gây ra ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, của doanh nghiệp Ngoài ra, khác với hoạt động rà soát mang ý nghĩa phát hiện,

xử lý những quy định không phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội (tính hợp lý), hoạt động kiểm tra văn bản QPPL nhằm trực tiếp đảm bảo tính pháp lý (tính hợp hiến, hợp pháp) của văn bản Như vậy, kiểm tra văn bản QPPL có thể coi là hoạt động bảo vệ Hiến pháp có tính chất đặc thù 1

Thứ ba, khái niệm công tác kiểm tra văn bản Theo từ điển Tiếng Việt,

“công tác là công việc của cơ quan nhà nước hoặc của đoàn thể, tổ chức xã hội giao cho” Thuật ngữ “công tác” cũng được đề cập đến trong nhiều khái

niệm pháp luật như: “Công tác dân số là việc quản lý và tổ chức thực hiện các

hoạt động tác động đến quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và nâng cao chất lượng dân số”; hay, “công tác dân tộc là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng

Trang 16

bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân”

Có thể thấy, các khái niệm về các “lĩnh vực” khác nhau của công tác mặc dù có sự khác biệt trong cách tiếp cận nhưng có điểm chung nhất định, là gồm các khía cạnh, từ yếu tố tổ chức đến yếu tố vận hành Theo đó, có thể định nghĩa công tác kiểm tra văn bản QPPL như sau: Công tác kiểm tra văn bản QPPL bao gồm nhiều hoạt động nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, như: Công tác quản lý nhà nước, hoạt động nghiệp vụ kiểm tra văn bản, hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật đã được phát hiện và được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền

1.2 M ục đích và đối tượng của công tác kiểm tra văn bản QPPL

Từ khái niệm, nhận thấy công tác kiểm tra có ba mục đích chính:

Thứ nhất, phát hiện những nội dung trái pháp luật của văn bản Cụ thể,

phát hiện những văn bản ban hành không đúng thẩm quyền, không đúng nội dung, hoặc không thống nhất với các căn cứ pháp lý; vi phạm thể thức và cách thức trình bày; vi phạm thủ tục ban hành của văn bản

Thứ hai, trong phạm vi đối tượng của kiểm tra, khi phát dấu hiệu trái

pháp luật trong văn bản, tùy theo tính chất, mức độ trái pháp luật, văn bản và

cơ quan, tổ chức, cá nhân ban hành văn bản sẽ được đề xuất cách thức xử lý thích hợp Ba hình thức xử lý văn bản bao gồm: Đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung của văn bản, và đính chính văn bản

Thứ ba, mục tiêu quan trọng nhất của hoạt động kiểm tra văn bản pháp

luật không phải là phát hiện ra nhiều văn bản trái pháp luật, mà là góp phần nâng cao chất lượng và đảm bảo tính hoàn thiện của hệ thống pháp luật 2

Do

sự tập trung chủ yếu vào khâu xây dựng hệ thống văn bản, hệ thống văn bản

Trang 17

có thể nói đang ngày càng phình to và chứa nhiều sự mâu thuẫn, chồng chéo, sai phạm Trên cơ sở đó, đòi hỏi càng phải chú trọng hơn vào khâu hoàn thiện văn bản, mà cụ thể là tập trung cải thiện chất lượng của văn bản QPPL thông qua các khâu đánh giá tác động; kiểm tra, xử lý; rà soát văn bản Thông qua hoạt động kiểm tra, không chỉ những văn bản sai trái được phát hiện kịp thời,

mà quan trọng hơn nữa còn đảm bảo việc soạn thảo, ban hành văn bản có chất lượng cao hơn, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, đảm bảo quyền con người, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Các văn bản là đối tượng được kiểm tra, thuộc trách nhiệm của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND, UBND các cấp bao gồm: (1) Các văn bản QPPL (gồm: Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Thông

tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa

án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND; (2) văn bản có chứa QPPL nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản QPPL; và (3) văn bản có chứa QPPL hoặc có thể thức như văn bản QPPL do cơ quan, người không có thẩm quyền ban hành Bên cạnh đó, văn bản được xử lý bao gồm: (1) Các văn bản QPPL ban hành không đúng thẩm quyền; văn bản có nội dung trái với Hiến pháp, trái với văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn; văn bản vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành; (2) văn bản QPPL có sai sót về căn cứ ban hành, thể thức, kỹ thuật trình bày; và (3) văn bản có chứa QPPL nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản QPPL; văn bản có chứa QPPL hoặc có thể thức như văn bản QPPL do cơ quan, người không có thẩm quyền ban hành

Như vậy, có thể thấy, phạm vi, đối tượng mà kiểm tra văn bản hướng tới

là các văn bản của cấp thi hành pháp luật trong từng ngành, từng lĩnh vực

hoặc phạm vi từng địa phương, để đảm bảo rằng, các chính sách, chế độ đã

Trang 18

được quy định trong các văn bản pháp lý cao hơn được triển khai chính xác, đầy đủ đến từng ngành, từng địa phương 3

1.3 Nguyên t ắc, nội dung và phương thức kiểm tra văn bản QPPL

lượng, hiệu quả của công tác này, các cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao

thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản phải tuân thủ nghiêm ngặt và chặt chẽ các nguyên tắc sau: (1) Phải bảo đảm tính toàn diện, kịp thời, khách quan, công khai, minh bạch; đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; kết hợp giữa việc kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền với việc tự kiểm tra của cơ quan, người ban hành văn bản; bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan; (2) các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không được lợi dụng việc

kiểm tra, xử lý văn bản QPPL vì mục đích vụ lợi, gây khó khăn cho hoạt động

của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản và can thiệp vào quá trình xử lý văn bản trái pháp luật và (3) cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản QPPL chịu trách nhiệm về kết luận kiểm tra và quyết định

xử lý văn bản, và phải khắc phục hậu quả do áp dụng văn bản sai trái gây ra Đây là những tư tưởng chủ đạo, góp phần ràng buộc trách nhiệm của các

cơ quan kiểm tra và các cơ quan có văn bản được kiểm tra, giúp cho hoạt động kiểm tra bài bản, thống nhất và hiệu quả

bản QPPL là xem xét, đánh giá và kết luận về thẩm quyền ban hành văn bản (gồm thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung); kiểm tra về nội dung văn bản; và kiểm tra căn cứ ban hành, thể thức, kỹ thuật trình bày, trình

tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản

quy ph ạm pháp luật góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật ở Việt Nam hi ện nay, tr 25

Trang 19

Theo đó, kiểm tra thẩm quyền ban hành văn bản là xem xét, đánh giá,

kết luận về sự phù hợp của hình thức (tên gọi) văn bản, “nội dung văn bản

điều chỉnh với thẩm quyền về hình thức văn bản và thẩm quyền quản lý của

về sự phù hợp của nội dung văn bản được kiểm tra với các văn bản có hiệu

lực pháp lý cao hơn là cơ sở pháp lý ban hành văn bản Ngoài ra, văn bản cần được đánh giá về tính đúng đắn và phù hợp của căn cứ pháp lý cho việc ban hành, tuân theo đúng quy trình, thủ tục và các yêu cầu kỹ thuật trình bày khác

Thứ ba, về phương thức kiểm tra văn bản QPPL Hoạt động kiểm tra và

xử lý văn bản QPPL được các cơ quan nhà nước kiểm tra theo hai phương

thức tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền Trong đó, tự kiểm tra là hình

thức kiểm tra diễn ra trong nội bộ của cơ quan đã ban hành văn bản, còn kiểm tra theo thẩm quyền thực chất là sự kiểm soát chéo giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện pháp luật và có thể, từ hoạt động này mà những nội dung không phù hợp với pháp luật không được phát hiện ở giai đoạn tự kiểm tra sẽ được xem xét, đánh giá lại, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp Kiểm tra văn

bản theo thẩm quyền được thực hiện theo nhiều cách thức: Kiểm tra văn bản

do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản gửi đến; kiểm tra khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật; kiểm tra văn bản theo chuyên đề, địa bàn

hoặc theo ngành, lĩnh vực

http://hdnv.moj.gov.vn/Pages/chi-tiet-tai-lieu.aspx?ItemId=1585

Trang 20

1.4 Quy trình ki ểm tra văn bản QPPL theo thẩm quyền

Sơ đồ trên đã mô tả quy trình kiểm tra theo thẩm quyền đối với các văn bản QPPL Riêng đối với các văn bản có chứa QPPL nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản QPPL và văn bản do cơ quan không có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL ban hành, sau khi có phản ánh thì cơ quan, đơn vị có trách nhiệm ban hành những văn bản đó gửi ngay cho cơ quan có trách nhiệm kiểm tra theo thẩm quyền Trình tự kiểm tra theo thẩm quyền sau

Trang 21

đó được tiến hành như đối với các văn bản được ban hành dưới hình thức QPPL, theo sơ đồ phía trên

Có thể thấy, quy trình kiểm tra theo thẩm quyền đã thể hiện được tính chất hai chiều và sự phối hợp của các cơ quan trong quá trình kiểm tra

1.5 Các hình th ức xử lý văn bản trái pháp luật, xử lý trách nhiệm đối với người, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật và khắc phục

h ậu quả do áp dụng văn bản trái pháp luật gây ra

Như đã phân tích, xử lý là một khâu trong kiểm tra Tùy theo dấu hiệu và mức độ bất hợp pháp của văn bản mà văn bản phải chịu các biện pháp xử lý: (1) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ; (2) bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ; hoặc (3) đính chính văn bản

Trong đó, đình chỉ việc thi hành là biện pháp xử lý được áp dụng đối với

một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản trong trường hợp nội dung trái pháp luật nếu chưa được bãi bỏ kịp thời và nếu tiếp tục áp dụng sẽ có thể gây hậu quả nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan,

tổ chức và cá nhân Đình chỉ văn bản làm tạm ngưng hiệu lực của văn bản bị

xử lý, văn bản sẽ tiếp tục có hiệu lực nếu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tiếp tục thực thi văn bản Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản

áp dụng trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản được ban hành trái thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung, không phù hợp với quy định của pháp luật từ thời điểm được ban hành văn bản, hoặc có vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục ban hành Biện pháp bãi bỏ làm mất hiệu lực pháp lý của văn bản QPPL trái pháp luật từ khi ban hành Đính chính văn bản được áp dụng để xử lý các văn bản có sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày, sai căn cứ pháp lý được viện dẫn, và không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản

Đồng thời với việc xem xét, xử lý các văn bản trái pháp luật là việc khắc

phục hậu quả do thực hiện văn bản trái pháp luật gây ra (nếu có) Khắc phục

Trang 22

hậu quả là biện pháp áp dụng bổ sung, không đặt ra với hình thức xử lý văn

bản là đính chính

Ngoài việc xử lý các văn bản có dấu hiệu sai phạm, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản còn có trách nhiệm đề ra phương án xử lý đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản hoặc đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tham gia chủ trì, tham mưu, trình, ký văn bản trái pháp luật Tùy theo tính

chất hành vi vi phạm trong quá trình kiểm tra văn bản QPPL; tính chất, mức

độ bất hợp pháp của văn bản QPPL mà cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra kiến nghị cơ quan, người ban hành văn bản trái pháp luật kịp thời áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do việc bàn hành và thi hành văn bản trái pháp luật gây ra Cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định hình

thức xử lý những cá nhân, tổ chức liên quan Các hình thức chịu trách nhiệm bao gồm: trách nhiệm kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo ), trách nhiệm dân sự (khắc phục hậu quả pháp lý do văn bản QPPL sai trái gây ra), hoặc trách nhiệm hình sự

“Song song v ới việc xem xét, xử lý trách nhiệm của người, cơ quan ban hành văn bản, thì việc xem xét, tính toán, định lượng mức độ thiệt hại trên

chủ thể tham gia vào tất cả các quan hệ xã hội có thể yên tâm về tính rõ ràng, minh bạch và tính chịu trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản QPPL Việc quy định trách nhiệm bồi thường,

khắc phục hậu quả do áp dụng văn bản trái pháp luật gây ra, thực chất cũng chính là một phần của việc truy cứu trách nhiệm người, cơ quan có thẩm quyền đã ban hành văn bản Theo đó, ngoài xem xét, xử lý trách nhiệm của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ và (hoặc) trách nhiệm hình sự

Trang 23

(nếu có) thì người, cơ quan ban hành văn bản còn phải chịu trách nhiệm do

việc ban hành văn bản trái pháp luật của mình bằng trách nhiệm bồi thường cho đối tượng chịu sự tác động của văn bản

1.6 Trách nhi ệm của Bộ Tư pháp trong công tác kiểm tra văn bản QPPL

Trước hết, Bộ Tư pháp là một trong số 22 bộ và cơ quan ngang bộ, do đó

thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong kiểm tra văn bản sẽ không nằm ngoài thẩm quyền nói chung của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Theo đó, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra văn bản QPPL do bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND cấp tỉnh ban hành về

những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách 6

Ngoài ra, Bộ Tư pháp còn chức năng giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về kiểm tra văn bản QPPL Quốc hội giao cho Chính phủ kiểm tra văn bản QPPL, xử lý văn bản QPPL của bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên Do đó, Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ thực

hiện việc kiểm tra, xử lý văn bản QPPL này

Để cụ thể hóa trách nhiệm của Bộ Tư pháp đối với công tác kiểm tra văn bản, tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định số 96/2017/NĐ-CP (ngày 16/8/2017 về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của

Bộ Tư pháp) chỉ rõ:

trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ

Trang 24

phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ban hành; kiến nghị xử lý đối

tra văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.”

Thẩm quyền của Bộ Tư pháp được phân tích cụ thể như sau:

Th ẩm quyền trong kiểm tra văn

b ản liên quan đến phạm vi quản

lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Th ẩm quyền trong giúp Chính phủ,

Th ủ tướng Chính phủ

Thông tư do Bộ trưởng, Thủ

trưởng cơ quan ngang bộ khác ban

hành liên quan đến lĩnh vực quản

lý nhà nước của Bộ Tư pháp;

Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ;

Nội dung quy định thuộc lĩnh vực quản

lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ trong Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh,

Quyết định của UBND cấp tỉnh,

văn bản QPPL của chính quyền địa

phương ở đơn vị hành chính – kinh

tế đặc biệt ban hành liên quan đến

lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ

Tư pháp

Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, Quyết định của UBND cấp tỉnh, văn bản QPPL của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ban hành liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước

Trang 25

Th ứ hai, Bộ trưởng Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà

nước về công tác kiểm tra, xử lý văn bản trong phạm vi toàn quốc Các nhiệm

vụ chi tiết là: (1) Xây dựng và tham mưu ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản về kiểm tra văn bản (văn bản QPPL điều chỉnh toàn bộ hoạt động kiểm tra văn bản trên phạm vi cả nước hoặc văn bản triển khai việc thực

hiện hoạt động kiểm tra văn bản trong phạm vi một địa phương, một ngành trong một khoảng thời gian nhất định 7

(ví dụ như kế hoạch hằng năm, quy chế

tổ chức kiểm tra, xử lý tại địa phương); (2) chủ trì, phối hợp với các cơ quan

có liên quan tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra văn bản theo thẩm quyền; (3) đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm tra văn bản của các cơ quan, đơn vị quản lý; (4) tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra văn bản cho các đối tượng thuộc thẩm quyền quản lý; tổ chức và quản lý đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản trong phạm vi của mình; (5) tổ chức mạng lưới thông tin, cập nhật và quản lý cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc kiểm tra văn bản; tổ chức nghiên cứu khoa học về kiểm tra văn bản; và (6) sơ kết,

tổng kết về công tác kiểm tra văn bản theo phạm vi quản lý của mình

Tại Bộ Tư pháp, đơn vị có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng thực

hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm tra, xử lý văn bản và thực hiện công tác này là Cục Kiểm tra văn bản QPPL Đồng thời, Cục trưởng Cục kiểm tra văn bản giúp Bộ trưởng kiểm tra, xử lý văn bản theo quy định pháp luật

1.7 Các y ếu tố tác động đến công tác kiểm tra văn bản thuộc trách nhi ệm của Bộ Tư pháp

Công tác kiểm tra văn bản của Bộ Tư pháp chịu tác động của nhiều yếu

tố có thể kể đến như sau:

b ản quy phạm pháp luật góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật ở

Vi ệt Nam hiện nay, tr.29

Trang 26

Th ứ nhất, thể chế về kiểm tra văn bản Đây là yếu tố quan trọng nhất tác

động đến công tác kiểm tra văn bản pháp luật nói chung và hoạt động chuyên môn của Bộ Tư pháp nói riêng Công tác kiểm tra văn bản chịu điều chỉnh bởi Luật ban hành văn bản QPPL 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP Trong

đó, quy định các vấn đề quan trọng về nguyên tắc kiểm tra; thẩm quyền của

Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong kiểm tra và xử lý; phạm vi, đối tượng, nội dung

kiểm tra Để công tác này được tiến hành đạt hiệu quả cao trên thực tế, cần có

một hành lang pháp lý cụ thể, thống nhất

thực hiện hoạt động kiểm tra Kiểm tra văn bản là một chuỗi các hoạt động

phức tạp, tác động đến nhiều cấp, nhiều ngành và lĩnh vực Do đó cán bộ, công chức thực hiện hoạt động này đòi hỏi không chỉ phải có kiến thức pháp

lý, kinh nghiệm thực tế và trình độ chuyên môn nghiệp vụ sâu rộng, mà còn phải có kiến thức xã hội, bản lĩnh nghề nghiệp

phí bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản QPPL do ngân sách nhà nước cấp Theo đó, Bộ Tư pháp đã và đang phối hợp với Bộ Tài chính ban hành các văn

bản QPPL quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL Nguyên tắc, nội dung và mức chi được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP ngày 17/8/2011

phương tiện thông tin đại chúng và dư luận không chỉ có tác động tích cực trong việc phát hiện văn bản trái pháp luật, đặc biệt là các văn bản không được ban hành dưới hình thức văn bản QPPL hoặc có thể thức và nội dung như văn bản QPPL do cơ quan, người không có thẩm quyền ban hành, mà còn

là nguồn động lực cho các “kiểm tra viên”, cơ quan nhà nước thông qua việc ghi nhận các kết quả đạt được Mặt khác, cũng chính vì lẽ đó, áp lực không hề

Trang 27

nhỏ được đặt ra cho cơ quan kiểm tra, đòi hỏi sự vào cuộc khẩn trương, kịp

thời; trong khi sự quan tâm của dư luận là không đồng đều (hầu hết hướng đến các vấn đề “nóng” như xây dựng, kinh doanh, đất đai ); một số bộ phận người dân hiểu biết chưa đầy đủ về các trường hợp văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, đánh giá phiến diện, gây ra các “hiệu ứng đám đông”

quan ngang bộ khác và địa phương Chất lượng của công tác kiểm tra tại các

cơ quan, đơn vị này có tác động tới khối lượng, hiệu quả công tác kiểm tra văn bản nói chung

Thứ sáu, các điều kiện bảo đảm khác gồm các điều kiện về con người và

cơ sở vật chất như tổ chức, biên chế kiểm tra văn bản; chế độ chính sách đối

với công chức thực hiện công tác kiểm tra văn bản; hệ cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản; tin học hóa, hoạt động sử dụng các phần mềm hỗ trợ nghiệp vụ 8

K ết luận Chương 1

Hoạt động kiểm tra văn bản QPPL là hoạt động của cơ quan nhà nước có

thẩm quyền nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ với hệ

thống pháp luật của các văn bản pháp luật nhằm phát hiện những văn bản trái pháp luật, từ đó đề ra phương hướng xử lý kịp thời các văn bản, đồng thời đề xuất cách thức xử lý trách nhiệm đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc ban hành văn bản trái pháp luật đó

Đối với công tác kiểm tra văn bản của Bộ Tư pháp, ngoài việc kiểm tra các văn bản QPPL thuộc phạm vi của mình (như các bộ, cơ quan ngang bộ khác), Bộ còn có trách nhiệm giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kiểm tra,

xử lý văn bản; trách nhiệm trong quản lý nhà nước về công tác kiểm tra, xử lý

Nam hi ện nay, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, tr.132

Trang 28

văn bản Có thể khẳng định, hoạt động kiểm tra văn bản theo thẩm quyền của

Bộ Tư pháp là phương pháp được sử dụng phổ biến và đem lại kết quả cao và

khả quan trên thực tế

Tác giả nhận thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các vấn đề lý luận; tổng hợp, phân tích các thành tựu và hạn chế nhằm kiếm nghị đưa ra những giải pháp khả thi, hữu hiệu để tiếp tục hoàn thiện công tác kiểm tra văn bản QPPL

của Bộ Tư pháp phù hợp với tinh thần của Hiến pháp 2013, trong bối cảnh hội

nhập quốc tế trong thời đại mới

Trang 29

Chương 2

2.1 Nh ững kết quả đạt được trong công tác kiểm tra văn bản thuộc

ph ạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Trong những năm gần đây 9

, Bộ Tư pháp (Cục kiểm tra văn bản QPPL) đã

có nhiều đóng góp tích cực và ý nghĩa trong công tác kiểm tra văn bản QPPL

2.1.1 Kết quả tổ chức kiểm tra theo thẩm quyền

Bộ Tư pháp đã và đang sử dụng linh hoạt những phương thức kiểm tra văn bản QPPL theo thẩm quyền: Kiểm tra văn bản do các cơ quan ban hành

gửi đến, kiểm tra theo địa bàn, kiểm tra theo chuyên đề, kiểm tra theo các nguồn thông tin, và đạt được nhiều kết quả tích cực

Theo số liệu thống kê tổng hợp năm 2017, Cục Kiểm tra văn bản QPPL (Bộ Tư pháp) đã tiến hành kiểm tra 5.848 văn bản (tăng 69% so với tổng số văn bản đã kiểm tra trong cùng kỳ năm 2016) gồm 744 văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ (trong đó có 04 văn bản không phải là văn bản QPPL); 5.104 văn bản của HĐND và UBND cấp tỉnh, (trong đó có 19 văn bản không phải là văn bản QPPL) 10

Trong khi đó, năm 2018, 06 tháng đầu năm, Cục Kiểm tra văn bản đã

kiểm tra theo thẩm quyền đối với 1.170 văn bản (gồm 302 văn bản của các

bộ, cơ quan ngang bộ; 868 văn bản của địa phương) 11

Và theo kế hoạch năm

Trang 30

2018, Cục sẽ thực hiện kiểm tra 90% tổng số văn bản do các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương ban hành gửi đến 12

Cũng theo số liệu tổng kết năm 2017, kết quả kiểm tra đã phát hiện và kết luận 157 văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền (gồm 26 văn bản

của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và 131văn bản của HĐND và UBND cấp tỉnh, tăng 20,5% so với năm 2016) 13 Trong đó, số văn bản sai

phạm theo lĩnh vực như sau 14: 85 văn bản trái pháp luật trong lĩnh vực kinh tế (gồm 10 văn bản của bộ, 75 văn bản của địa phương), chiếm 54%; 29 văn bản trái pháp luật trong lĩnh vực khoa giáo – văn xã (gồm 10 văn bản của Bộ, 19 văn bản của địa phương), chiếm 18%; 43 văn bản trong lĩnh vực nội chính (gồm 06 văn bản của Bộ, 37 văn bản của địa phương), chiếm 28% 15

Ngoài

ra, còn phát hiện 1.212 văn bản sai sót về căn cứ, thể thức và kỹ thuật trình bày (như: Sao chép văn bản của cấp trên; căn cứ văn bản không phải là văn bản QPPL hoặc văn bản không phải là văn bản QPPL có giá trị pháp lý cao hơn; không quy định cụ thể ngày có hiệu lực của văn bản )

Năm 2018, qua kiểm tra 06 tháng đầu năm, Cục đã phát hiện, ra Kết luận

kiểm tra, kiến nghị xử lý đối với 27 văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền (gồm 18 văn bản của các Bộ, 09 văn bản của địa phương) 16

năm 2018 của Cục Kiểm tra văn bản QPPL

ban hành văn bản trái pháp luật

Trang 31

trái pháp lu ật đa dạng, ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước và quyền, lợi ích

Trong số văn bản được Bộ Tư pháp kiểm tra, phát hiện trái pháp luật thời gian qua có nhiều văn bản được báo chí, doanh nghiệp, dư luận xã hội quan tâm như: Thông tư số 15/2015/TT-BKHCN ngày 25/8/2015 của Bộ trưởng

Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về đo lường, chất lượng trong kinh doanh xăng dầu; Văn bản số 562/TĐC-HCHQ ngày 06/4/2016 của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng về việc hướng dẫn thực hiện Thông tư số 15/2015/TT-BKHCN18; Thông tư số 46/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và xã hội quy định về điều lệ trường Cao đẳng; Thông tư số 47/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và xã hội quy định về điều lệ trường trung cấp 19; Thông tư số 58/2015/TT-BGTVT ngày 20/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về đào tạo, sát

hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ 20

Song song với số lượng văn bản phát hiện ngày càng tăng là tỷ lệ văn

bản được xử lý ngày một nhiều

ban hành văn bản trái pháp luật

và Nghị định 83/2014/NĐ-CP Ngoài ra, văn bản số 562/TĐC-HCHQ đã vi phạm Khoản 2 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

pháp

Trang 32

Kết quả kiểm tra theo thẩm quyền

Số VB đã kiểm tra Số VB trái pháp Số VB đã được xử lý

Đối với 157 văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền do Cục phát

hiện và kết luận năm 2017, tính đến ngày 20/7/2018,qua quá trình báo cáo Thủ tướng Chính phủ để xem xét, xử lý; đã có 139/157 văn bản trái pháp luật được

cơ quan ban hành xử lý, Bộ Tư pháp đang theo dõi, đôn đốc việc xử lý theo quy định đối với 18 văn bản còn lại chưa được xử lý 21 So với cùng kỳ năm

2016, tỷ lệ số văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền đã quá hạn nhưng chưa xử lý giảm đáng kể Hiện nay, số lượng văn bản chưa được xử lý chỉ còn

lại 14 văn bản

Có thể nói, số lượng văn bản được Bộ Tư pháp kiểm tra là tương đối lớn, phạm vi kiểm tra toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội; số lượng văn bản phát hiện trái pháp luật gia tăng (so với năm trước), tình hình kiểm tra văn

bản QPPL được cụ thể hóa tại bảng thống kê sau 22

:

ban hành văn bản trái pháp luật

nội dung trái pháp luật đã được bộ tư pháp kiến nghị xử lý năm 2015, 2016, 2017 và Báo cáo số 170/BC-BTP ngày 26 tháng 7 năm 2018 về Công tác 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu công tác 6

Trang 33

2.1.1.4 Một số kết quả kiểm tra văn bản theo địa bàn, chuyên đề cụ thể trong thời gian gần đây

Thứ nhất, về kết quả thực hiện hoạt động kiểm tra theo địa bàn Tháng 5

năm 2018, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản theo thẩm quyền, Bộ Tư pháp

đã tiến hành kiểm tra 135 văn bản do HĐND, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh ban hành từ 01/01/2016 đến ngày 15/5/2018 Qua kiểm tra, Bộ Tư pháp đã phát hiện một số văn bản không phù hợp quy định pháp luật hiện hành: Có 12 văn bản QPPL vi phạm về nội dung và 83 văn bản sai sót về căn cứ, thể thức,

kỹ thuật trình bày 23

Cũng trong tháng 5, Đoàn công tác liên ngành do Bộ Tư pháp chủ trì đã

kiểm tra công tác xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL tại tỉnh Lạng Sơn và kết luận: Qua kiểm tra 247 văn bản QPPL

do HĐND, UBND tỉnh ban hành từ ngày 01/01/2015 đến ngày 15/5/2018, phát hiện có 04 văn bản trái pháp luật, 63/247 văn bản sai thể thức, kỹ thuật trình bày 24

Ngoài ra, theo kế hoạch công tác năm 2018, trong quý IV/2018, Bộ Tư pháp tiếp tục tổ chức kiểm tra theo địa bàn tại một số địa phương khác, cụ thể như: Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương

theo tình hình kinh tế, xã hội, lĩnh vực trọng tâm, trong điểm đã được xác định tại kế hoạch công tác, Bộ Tư pháp tổ chức kiểm tra văn bản theo nhiều chuyên đề Theo đó, Bộ Tư pháp chú trọng thực hiện kiểm tra văn bản trong

một số lĩnh vực có ảnh hưởng nhiều đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ

chức, cá nhân và doanh nghiệp

tác xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật tại tỉnh Bắc Ninh ngày 17/5/2018

Sơn

Trang 34

Thời gian gần đây, Bộ Tư pháp đã tổ chức kiểm tra văn bản trong lĩnh

vực Giao thông vận tải, Lao động - Thương binh và Xã hội, Nội vụ (2017) và Tài nguyên Môi trường (2018) Một số kết quả đạt được như sau:

Tháng 11 năm 2017, Cục Kiểm tra văn bản QPPL đã triển khai thực hiện việc kiểm tra đối với các văn bản thuộc Chuyên đề Nội vụ, qua kiểm tra, kết

luận 03/161 văn bản không phù hợp với quy định của pháp luật 25

Tháng 12 năm 2017, Cục phối hợp với các cơ quan liên quan, tiến hành kiểm tra 129 văn bản theo chuyên đề Lao động, thương binh và xã hội (các văn bản ban hành từ 01/01/2015 đến 31/10/2017), đã phát hiện 04 thông tư có nội dung không phù hợp với quy định của pháp luật 26

2.1.2 K ết quả thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước

Có thể khẳng định hoạt động kiểm tra văn bản đã góp phần hoàn thiện thể chế về quy định kiểm tra văn bản, thể chế kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa

Có thể thấy, tốc độ “sản sinh” văn bản QPPL là tương đối nhanh, do đó,

hệ thống pháp luật thành văn không tránh khỏi những quy định bất hợp hiến, bất hợp pháp và không thống nhất Nếu công tác xây dựng văn bản là việc

“khai sinh” ra văn bản, thì công tác kiểm tra tính hợp Hiến, hợp pháp, tính

thống nhất của văn bản sau khi văn bản được ban hành sẽ quyết định “sức

sống” và hiệu lực pháp lý của văn bản, góp phần đánh giá chất lượng văn bản được ban hành Theo đó, văn bản được kiểm tra phải được đối chiếu với Hiến pháp, quy định của các văn bản cơ quan nhà nước cấp trên, các điều ước quốc

Trang 35

tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia27; ngoài ra, văn bản còn phải được kiểm tra về hình thức, thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành văn bản; từ đó chỉ ra

những quy định chưa hợp Hiến, hợp pháp, những nội dung chưa thống nhất

để tiếp tục hoàn thiện Hoạt động kiểm tra văn bản ở khía cạnh này đã góp phần tích cực đến tính phù hợp, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật Ngoài ra, xem xét công tác kiểm tra bao gồm cả hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật Theo những số liệu đã dẫn chứng, qua kiểm tra đã phát hiện và

kiến nghị xử lý kịp thời, xác đáng nhiều văn bản có nội dung trái pháp luật Các cơ quan kiểm tra, cùng lúc phân tích cặn kẽ những sai phạm của văn bản

để cơ quan ban hành tránh mắc phải những lỗi tương tự khi xử lý văn bản trái pháp luật bằng một văn bản khác Do vậy, điều này tác động ngược lại đến

hoạt động ban hành văn bản

Đồng thời, tác động đến trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân tham gia vào quá trình xây dựng văn bản về chấp hành kỷ luật ban hành văn bản và chất lượng của văn bản QPPL được ban hành, thông qua việc xử lý và khắc phục hậu quả

Hoạt động kiểm tra văn bản với ý nghĩa là hoạt động bảo vệ Hiến pháp đặc thì đã từng bước khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà theo quan điểm của Đảng và

Nhà nước ta, đảm bảo tính “đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh

Hoàn thiện pháp luật (bằng các hình thức đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ, đính chính văn bản) là khâu tất yếu sau quá trình kiểm tra sau khi phát hiện ra dấu hiệu trái pháp luật, đặc biệt có ý nghĩa đối với những văn bản là đối tượng kiểm tra

Nam hi ện nay, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, tr.18

Nam đến năm 2010, định hướng năm 2020, phần Mục tiêu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

Trang 36

Nhìn chung, hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản QPPL được thực hiện

cơ bản đúng nguyên tắc, nội dung, trình tự, thủ tục; đã đảm bảo cho hệ thống pháp luật liên tục được hoàn thiện

khai trên phạm vi cả nước

Trong phạm vi trách nhiệm của mình, Bộ Tư pháp tham mưu cho Chính

phủ từng bước hoàn thiện thể chế về văn bản QPPL, trong đó có các quy định

về kiểm tra văn bản, cụ thể:

Năm

2003 29

Nghị định 135/2003/NĐ-CP về Kiểm tra và xử lý văn bản QPPL

Năm 2008 Luật số 17/2008/QH12 Ban hành văn bản QPPL năm 2008

(Chương 11: Giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, hợp nhất văn bản và hoàn thiện hệ thống văn bản QPPL)

Năm 2010 Nghị định 40/2010/NĐ-CP về Kiểm tra và xử lý văn bản

QPPL

Năm 2015 Luật số 80/2015/QH13 Ban hành văn bản QPPL (Chương

XV: Kiểm tra, giám sát, xử lý văn bản) Năm 2016 Nghị định 34/2016/NĐ-CP về Quy định chi tiết và biện pháp

thi hành Luật ban hành văn bản QPPL (Chương XIII: Kiểm tra, xử lý văn bản QPPL)

việc tuân theo pháp luật của Viện Kiểm sát nhân dân, và hoạt động kiểm tra văn bản (kiểm tra tính hợp hiến,

Trang 37

Ngoài nhiệm vụ trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản, Bộ Tư pháp còn phối hợp các các cơ quan nhà nước cấp Bộ khác củng cố hàng lang pháp lý cũng như xây dựng các quy định tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho công tác kiểm tra văn bản Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 122/2011/TTLT-BTC-BTP quy định về hỗ trợ kinh phí cho công tác kiểm tra văn bản; trong đó với nội dung chi, mức chi kinh phí hỗ trợ tương đối hợp lý, đặc biệt là kinh phí thuê cộng tác viên, đã tạo cơ chế giúp các cơ quan kiểm tra văn bản khắc phục tình trạng thiếu cán bộ, công chức kiểm tra văn bản Ngoài ra, phối hợp với Bộ Nội vụ, hai Bộ ban hành hoặc trình Chính phủ ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy

của tổ chức pháp chế bộ, cơ quan ngang bộ, Sở Tư pháp, tổ chức pháp chế ở

cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, trong đó có chức năng, nhiệm vụ

về kiểm tra văn bản

Như vậy, có thể thấy hệ thống thể chế phục vụ hoạt động quản kiểm tra văn bản QPPL là tương đối đầy đủ

Một mặt hoàn thiện hệ thống văn bản ở cấp Trung ương, mặt khác, dựa vào những văn bản, đường lối của Chính phủ mà cơ quan tham mưu trực tiếp

là Bộ Tư pháp; các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương đã tự xây dựng các quy chế kiểm tra, các quy định về kinh phí, chế độ cộng tác viên phù hợp với điều kiện và tình hình phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương và theo đặc thù của cơ quan, tổ chức Điều này không những góp phần thống nhất thể

chế từ Trung ương đến địa phương, mà còn nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm tra văn bản QPPL, giúp các công tác kiểm tra văn bản được triển khai thuận lợi trong thực tiễn Ví dụ, tại tỉnh An Giang, để triển khai có hiệu quả Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả, UBND tỉnh đã Quyết định số 79/2016/QĐ-UBND ngày 28 tháng 11 năm 2016 quy chế về kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ

thống hóa văn bản QPPL và tổ chức, quản lý cộng tác viên kiểm tra văn bản

Trang 38

QPPL trên địa bàn30

Hầu hết các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương đều có văn bản hướng dẫn hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL tại địa phương,

cơ quan mình mình và hoạt động này đã dần đi vào nề nếp

QPPL

Về hoạt động đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm tra văn bản QPPL tại các bộ, địa phương, Bộ Tư pháp thể hiện rõ vai trò là cơ quan tham mưu đắc lực giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác này Bộ Tư pháp đôn đốc, chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương ban hành kế hoạch kiểm tra thường xuyên, đều đặn hàng năm Phần lớn các cơ quan này đều tích cực, chủ động thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong kế

hoạch Bộ Tư pháp cũng chủ động thành lập các Đoàn kiểm tra liên ngành, đánh giá hoạt động kiểm tra tại địa phương, từ đó, đưa ra những đề xuất, kiến nghị khả thi cho các đơn vị, địa phương Trên cơ sở đó, công tác kiểm tra văn bản của các Bộ, ngành, địa phương thời gian qua đạt nhiều kết quả tích cực trong việc nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức về bảo đảm tính hợp

hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản cũng như công tác hoàn thiện thể

chế về kiểm tra văn bản tại địa phương Công tác kiểm tra văn bản của các

Bộ, ngành, địa phương, từ đó từng bước có sự gắn kết với công tác xây dựng

và theo dõi thi hành pháp luật

Ngoài ra, để đảm bảo hơn nữa hiệu quả của quản lý nhà nước và tính chủ động của các địa phương, Bộ đã ban hành tiêu chí chấm điểm thi đua và xếp

hạng hàng năm đối với Sở Tư pháp, trong đó có tiêu chí chấm điểm về công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL

2017 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2018

Trang 39

Bên cạnh đó, hiện nay, thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao tại Nghị quyết Phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8 năm

2018 số 109/NQ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2018 31

và chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình tại Công văn số 7674/VPCP-PL ngày

14 tháng 8 năm 2018 của Văn phòng Chính phủ về việc Báo cáo công tác

kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL năm 2017, phương hướng, nhiệm vụ năm 2018 32, để đảm bảo việc tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính

phủ đầy đủ, toàn diện, đúng yêu cầu về chất lượng và tiến độ, Bộ Tư pháp đã phát hành Công văn số 3447/BTP-KTrVB ngày 14/9/2018 yêu cầu 17 bộ, cơ quan ngang bộ và 59 địa phương thực hiện xử lý văn bản trái pháp luật đã được Bộ Tư pháp kiểm tra, phát hiện hoặc do chính cơ quan đó kiểm tra, phát

hiện (qua tự kiểm tra hoặc kiểm tra văn bản theo thẩm quyền); tổ chức thực

hiện việc đánh giá hậu quả, tác hại và đề xuất biện pháp khắc phục hậu quả do văn bản trái pháp luật gây ra đối với từng văn bản đã được phát hiện trái pháp luật; kiểm điểm, xử lý, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với người đứng đầu, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc ban hành văn bản trái pháp

luật; đồng thời, chủ trì tổ chức các Đoàn công tác liên ngành kiểm tra tại 03

Bộ và 08 địa phương về tình hình xử lý văn bản trái pháp luật 33

tướng Chính phủ; phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông có hình thức công khai thông tin phù hợp, tránh tác động xã hội tiêu cực về kết quả xử lý văn bản Trên cơ sở báo cáo của các Bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Nội

cán bộ, công chức có liên quan đến việc ban hành văn bản trái pháp luật, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý IV năm 2018

văn bản quy phạm pháp luật; kịp thời phát hiện, xử lý dứt điểm hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các văn bản trái pháp luật, văn bản có sai sót trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương; tổng hợp kết quả, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong Quý IV năm 2018

năm 2018 của Cục Kiểm tra văn bản QPPL

Trang 40

2.1.2.3 Trong ho ạt động bồi dưỡng nghiệp vụ

Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong công tác kiểm tra, nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng của đội ngũ công chức kiểm tra, đồng thời giải đáp, xử lý kịp thời các vấn đề khúc mắc Các hình thức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đang được Bộ Tư pháp áp

dụng là: hội nghị tập huấn nghiệp vụ tại theo địa bàn tỉnh hoặc theo khu vực;

tọa đàm chuyên đề; đăng tải tài liệu hướng dẫn trực tuyến (trên trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp); phát hành “Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật” (2016), hướng dẫn nghiệp vụ trực tiếp thông qua các hình thức khác “Riêng Bộ Tư pháp, tính từ năm 2003 đến 2015, đã

Có thể nói, Bộ Tư pháp ngày càng chú trọng vào hoạt động bồi dưỡng nguồn nhân lực, bằng các hình thức khác nhau, linh hoạt theo địa bàn, tình

trạng thực thi công tác kiểm tra văn bản tại các cơ quan, đơn vị

Như đã phân tích, một trong những điều kiện tác động đến hoạt động kiểm tra nói chung và kiểm tra theo thẩm quyền của Bộ Tư pháp nói riêng là việc xây dựng, sử dụng hệ cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác kiểm tra văn

bản Hệ cơ sở dữ liệu là kho lưu trữ thông tin tài liệu liên quan đến nghiệp vụ

kiểm tra văn bản

Điển hình cho hoạt động này là quá trình cập nhật văn bản trên cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tư pháp Căn cứ cơ

sở dữ liệu về văn bản QPPL thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư

Nam hiện nay, tr 97.

Ngày đăng: 02/08/2019, 21:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w