1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm sát giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm và thực tiễn tại viện kiểm sát nhân dân thành phố lạng sơn, tỉnh lạng sơn

95 248 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Hiện nay, đã có rất nhiều công trình khoa học đề cập đến chức năng kiểm sát giải quyết các VADS của VKSND, cụ thể: * Các công trình được nghiên cứu trước khi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NÔNG THỊ NGA

KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC

SƠ THẨM VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NÔNG THỊ NGA

KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC

SƠ THẨM VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 8380103

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN THỊ THU HÀ

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Lời đầu tiên của Luận văn, học viên xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô đang công tác và giảng dạy tại trường Đại học Luật Hà Nội nói chung và các thầy cô công tác tại Khoa Đào tạo sau đại học và Khoa Pháp luật Dân sự nói riêng đã quan tâm, tạo điều kiện cho học viên trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn này Đặc biệt, học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà - Giảng viên Khoa Pháp luật Dân sự, đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ học viên hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Mặc dù nhận được nhiều sự giúp đỡ về chuyên môn, song học viên - với tư cách là tác giả của Luận văn này, cam đoan danh dự và hoàn toàn chịu trách nhiệm

cá nhân về nội dung của Luận văn./

Lạng Sơn, tháng 8 năm 2018

Học viên

Nông Thị Nga

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự

HĐXX Hội đồng xét xử

LTCVKSND Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

PLTTGQCVADS Pháp lệnh thủ tuc giải quyết các vụ án dân sự TTDS Tố tụng dân sự

TAND Tòa án nhân dân

VKSND Viện kiểm sát nhân dân

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM 7

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM 7

1.1.1 Khái niệm kiểm sát giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 7

1.1.2 Đặc điểm kiểm sát giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 10

1.1.3 Ý nghĩa của kiểm sát giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 14

1.2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM 15

1.2.1 Các quy định của pháp luật hiện hành về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ án dân sự của Tòa án 16

1.2.2 Các quy định của pháp luật hiện hành về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng và những người có liên quan 22

1.2.3 Các quy định của pháp luật hiện hành về sự tham gia phiên tòa giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Viện kiểm sát 23

1.2.4 Các quy định của pháp luật hiện hành về thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TTDS VIỆT NAM VỀ KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 35

2.1 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ SỰ THAM GIA CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 35

Trang 6

2.1.1 Những kết quả đạt được 35 2.1.2 Những hạn chế, tồn tại, khó khăn vướng mắc 57 2.1.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 61

2.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

VỀ KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM

VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM TẠI THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 67

2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về kiểm sát giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm 67 2.2.2 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của kiểm sát giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73 KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân

thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” Điều 4 Luật tổ chức Viện

kiểm sát nhân dân (LTCVKSND) năm 2014 quy định chức năng kiểm sát hoạt động

tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) Trong đó, lĩnh vực kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự đóng vai trò quan trọng, để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong giải quyết vụ việc dân sự Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội thông qua ngày 31 tháng 12 năm 1959 lần đầu tiên quy định về chế định VKSND, theo đó LTCVKSND năm 1960 quy

định “VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của các TAND và

trong việc chấp hành các bản án” (Điều 3) Tiếp sau đó Pháp lệnh thủ tục giải quyết

các vụ án dân sự năm 1989 (PLTTGQCVADS) đã quy định VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS Theo đó, VKS có quyền khởi tố, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, tham gia các phiên tòa khi VKS khởi

tố, kháng nghị hoặc khi xét thấy cần thiết Sau nhiều năm thi hành PLTTGQCVADS, VKSND đã thực hiện được chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhằm đảm bảo sự tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các VADS, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của nhà nước BLTTDS năm 2004 ra đời đã hạn chế chức năng nhiệm vụ của VKSND trong giải quyết các VADS, tuy nhiên, quá trình thi hành cho thấy, BLTTDS năm 2004 đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập, chưa tạo điều kiện cho VKSND thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ theo quy định tại Hiến pháp và LTCVKSND Thực tiễn xét xử trong những năm qua, nhiều VADS được giải quyết không tuân thủ đúng quy định của pháp luật, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

mà VKS không kịp thời phát hiện dẫn đến bản án bị hủy, sửa ở cấp phúc thẩm Thông báo Kết luận của Bộ Chính trị số 230-TB/TW ngày 26/3/2009 về sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư

pháp đến năm 2020 đánh giá “Tiến độ giải quyết các vụ việc còn chậm, chất lượng

xét xử các VADS còn thấp,… trong đó có nguyên nhân là chưa có cơ chế giám sát, kiểm sát có hiệu quả việc giải quyết các VADS”

Để khắc phục những vướng mắc, bất cập nêu trên của BLTTDS năm 2004, đảm bảo phù hợp với thực trạng hoạt động giải quyết các VADS, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo các Nghị quyết của Đảng, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XII

Trang 8

đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS ngày 29/3/2011 (sau đây gọi tắt là BLTTDS sửa đổi, bổ sung) và có hiệu lực thi hành từ ngày

01/01/2012 Điều 21 khoản 2 BLTTDS sửa đổi, bổ sung quy định: “VKSND tham

gia … các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần” Khoản 1 Điều 21 cũng khẳng định: “VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật” Điều 45 BLTTDS quy định nhiệm vụ, quyền

hạn của Kiểm sát viên Theo đó, Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa xét xử các VADS có quyền phát biểu quan điểm của VKS về giải quyết VADS Khi

đề cập đến việc giải quyết các VADS, cần phải xem xét cả việc tuân theo pháp luật

tố tụng và pháp luật nội dung được áp dụng để giải quyết vụ án Có nghĩa là, Kiểm sát viên có quyền phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và pháp luật

nội dung Tuy nhiên, Điều 234 khoản 1 BLTTDS sửa đổi, bổ sung quy định: “…,

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia TTDS, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án…” Theo

tinh thần của điều luật này thì Kiểm sát viên không có quyền phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật nội dung nên chưa đảm bảo cho việc giải quyết về nội dung các VADS được tuân thủ đúng quy định của pháp luật, dẫn đến việc bản án bị cấp trên hủy, sửa, vì vậy, vai trò của VKS trong giải quyết các VADS chưa đạt được hiệu quả tương xứng với vị trí của mình BLTTDS năm 2015 được Quốc hội XIII thông qua tại kỳ họp thứ 10 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2016 (trừ các quy định cụ thể hóa các quy định mới có liên quan của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có hiệu lực

từ ngày 01/01/2017), tại khoản 2 Điều 21 quy định: “Viện kiểm sát tham gia các

phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án

do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này” Theo quy định này phạm vi những vụ án thuộc

trường hợp VKS tham gia phiên tòa được mở rộng hơn, đồng thời về việc phát biểu

Trang 9

quan điểm của VKS tại phiên tòa sơ thẩm cũng có sự đổi mới so với BLTTDS sửa

đổi, bổ sung năm 2011 Theo đó, Điều 262 BLTTDS năm 2015 quy định: “Sau khi

những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét

xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án

kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến

về việc giải quyết vụ án

Để thực hiện các quy định mới của BLTTDS năm 2015, VKSND thành phố Lạng Sơn đã có nhiều nỗ lực, tuy nhiên trong việc giải quyết các VADS còn gặp

những tồn tại, hạn chế Do đó, học viên lựa chọn đề tài “Kiểm sát giải quyết VADS

theo thủ tục sơ thẩm và thực tiễn tại VKSND thành phố Lạng Sơn” làm đề tài

nghiên cứu nhằm góp phần tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng, vai trò của VKSND trong TTDS nói chung và trong việc giải quyết các VADS nói riêng, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, đã có rất nhiều công trình khoa học đề cập đến chức năng kiểm sát giải quyết các VADS của VKSND, cụ thể:

* Các công trình được nghiên cứu trước khi ban hành LTCVKSND năm 2014

- Các bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành Luật như bài biết “Về

quyền kháng nghị theo thủ tục phẩm dân sự của VKS” của tác giả Nguyễn Thị Thu

Hà đăng trên Tạp chí luật học số 11/2009; “Vai trò của VKSND trong TTDS” của tác giả Phan Vũ Ngọc Quang đăng trên Tạp chí kiểm sát, tháng 4/2005; “Những khó

khăn, vướng mắc, bất cập khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong TTDS”

của tác giả Kiều Trang đăng trên Tạp chí kiểm sát, số 22 tháng 11/2009; “Nhận thức

đầy đủ và thực hiện đúng quyền và trách nhiệm của VKS trong công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự” của tác giả Võ Huy Triết đăng trên Tạp chí kiểm sát, số 5 tháng

3/2009; “Mâu thuẫn trong một số quy định của BLTTDS về việc VKSND tham gia

tố tụng và một số kiến nghị” của tác giả Nguyễn Quang Lộc đăng trên Tạp chí

Trang 10

TAND, số 12 tháng 6/2013 Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của các tác giả còn giới hạn ở một số khía cạnh của chức năng kiểm sát trong TTDS của VKS, chưa nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về vai trò của VKS trong giải quyết các VADS Hơn nữa, các công trình này đều nghiên cứu về chức năng kiểm sát giải quyết các VADS của VKS trong TTDS theo quy định của BLTTDS năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011

* Các công trình được nghiên cứu sau khi ban hành LTCVKSND năm 2014 và BLTTDS năm 2015:

Sau khi LTCVKSND năm 2014, BLTTDS năm 2015 ban hành thì cũng có một số công trình đề cập đến sự tham gia của VKS trong TTDS như:

- Cuốn “Bình luận khoa học BLTTDS năm 2015”do TS Bùi Thị Huyền chủ biên năm 2016 và cuốn “Bình luận khoa học BLTTDS của Nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam năm 2015” do PGS.TS Trần Anh Tuấn làm chủ biên năm 2017

Hai cuốn sách chủ yếu phân tích về những điểm mới của BLTTDS năm 2015 đồng thời có phân tích, đánh giá những quy định mới về chức năng kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm của VKS trong TTDS Tuy nhiên, những bình luận, đánh giá này mang tính chất gợi mở và chưa hệ thống về chức năng này của VKS trong TTDS

- Bài viết “Những sửa đổi, bổ sung về kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục

phúc thẩm trong BLTTDS năm 2015”; “Những sửa đổi, bổ sung các quy định về xét

xử phúc thẩm trong BLTTDS năm 2015” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà được đăng

trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 6/2016, tạp chí Luật học số 7/2016 phân tích, đánh giá những quy định mới của BLTTDS 2015 về kháng cáo, kháng nghị và về xét xử phúc thẩm, tuy nhiên, bài viết chỉ thể hiện được một phần về sự tham gia của VKS trong TTDS (ở cấp xét xử phúc thẩm)

Như vậy, có thể khẳng định, từ khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực đến nay vai trò của VKS trong TTDS nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu nhưng các công trình này thường chỉ xem xét ở một khía cạnh về quyền hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm của VKS mà chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về chức năng kiểm sát giải quyết các VADS theo thủ tục sơ thẩm của VKSND dưới cả góc độ lý luận, luật thực định và thực tiễn thực hiện tại thành phố Lạng Sơn

Hy vọng những nghiên cứu của học viên sẽ góp phần vào kho tàng lý luận và có ý nghĩa thực tiễn nhất định nhằm nâng cao vai trò của Ngành Kiểm sát nhân dân nói chung và của VKSND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn nói riêng trong TTDS

Trang 11

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Tìm ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả trong thực hiện chức năng kiểm sát giải quyết VADS ở giai đoạn sơ thẩm của VKSND nói chung và tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn nói riêng

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm; những quy định của pháp luật TTDS và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật TTDS về công tác kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm của VKSND trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn chỉ đề cập đến Kiểm sát giải quyết VADS sơ thẩm theo thủ tục tố

tụng thông thường, luận văn không nghiên cứu về kiểm sát giải quyết VADS theo

thủ tục TTDS rút gọn, thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm cũng như kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong TTDS

- Kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chủ yếu nghiên cứu kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục dưới góc độ hoạt động

- Luận văn tập trung nghiên cứu công tác kiểm sát giải quyết các VADS theo thủ tục sơ thẩm theo quy định của BLTTDS năm 2015 và thực tiễn kiểm sát giải quyết VADS tại thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn trong khoảng thời gian từ năm

2015 đến nay

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học

Để hoàn thành luận văn này, học viên sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó đặc biệt coi trọng các phương pháp sau:

- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của triết học Mác - Lê Nin

về nhà nước và pháp quyền; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật;

Trang 12

- Phương pháp phân tích quy phạm được sử dụng khi đánh giá chuyên sâu những quy định của pháp luật TTDS về chức năng kiểm sát giải quyết VADS ở giai đoạn sơ thẩm;

- Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát chung về những vướng mắc từ thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật TTDS về chức năng kiểm sát giải quyết VADS ở giai đoạn sơ thẩm của VKSND;

- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển các quy định pháp luật TTDS về chức năng kiểm sát giải quyết VADS ở giai đoạn sơ thẩm của VKSND;

- Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn của công tác kiểm sát giải quyết VADS sơ thẩm trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh

Lạng Sơn

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu công phu, có tính hệ thống những vấn đề liên quan đến chức năng kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm của VKSND, thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây:

- Luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về hoạt động kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm, góp phần nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng của VKS trong TTDS

- Phân tích các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về hoạt động kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc, từ đó đưa ra kiến nghị đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong thực hiện kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn

- Luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về các vấn đề có liên quan

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 2 chương, gồm:

- Chương 1: Những vấn đề chung về kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ

thẩm;

- Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật TTDS Việt Nam về kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm tại VKSND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn

và một số kiến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT

VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT

VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM

1.1.1 Khái niệm kiểm sát giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

Trong TTDS, nếu như vị trí, vai trò của Tòa án và các bên đương sự được xác định một cách rõ ràng thì vị trí, vai trò của Viện công tố không hoàn toàn giống nhau giữa các quốc gia trên thế giới Sở dĩ có sự khác nhau này là do quan niệm về quyền lực Nhà nước, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, truyền thống văn hóa, hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội ở các quốc gia khác nhau, dẫn đến có những quy định khác nhau về vị trí, vai trò và chức năng của Viện công tố, đặc biệt là trong lĩnh vực dân sự Trong tố tụng hình sự, Viện công tố giữ quyền công tố có vai trò nhân danh quyền lực Nhà nước để truy tố và buộc tội kẻ thực hiện hành vi phạm tội trước Tòa án Trong TTDS, do bị chi phối bởi nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự nên vai trò của Viện công tố trong TTDS bị hạn chế hơn so với tố tụng hình sự, không những thế vị trí, vai trò của Viện công tố

trong TTDS của các nước còn được quy định khác nhau “Ở các nước theo truyền

thống luật án lệ Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ do tranh chấp, mâu thuẫn dân sự

là của các đương sự, nên các chủ thể không có lợi ích thì không được quyền kiện dân sự hay kháng cáo Thậm chí, các nước này còn cho rằng trong quan hệ dân sự, kinh tế, lao động càng ít sự can thiệp của công quyền càng tốt” 1 Do đó, trong TTDS

ở các nước theo truyền thống luật án lệ, Viện công tố hầu như không tham gia trong quá trình giải quyết các VADS mà chủ yếu giữ quyền công tố trong các vụ án hình

sự “Ở các nước theo truyền thống luật dân sự (như Cộng hòa Pháp, Cộng hòa liên bang Nga, Nhật Bản…) với mục đích là để đại diện cho lợi ích chung và bảo vệ trật

tự công nên VKS có thể tham gia tố tụng với tư cách là một bên đương sự hoặc với

tư cách là người giám sát”.2 Dù Viện công tố tham gia với tư cách là một bên đương sự hay với tư cách là người giám sát thì cũng đều xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, bảo đảm công bằng xã hội và sự tuân thủ pháp luật Trong các trường hợp này Viện công tố không có lợi ích liên quan đến vụ án

1 Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Phúc thẩm trong TTDS Việt Nam, Luận án Tiến sỹ, Hà Nội, tr 31

2

Nguyễn Thị Thu Hà (2011),Tlđd, tr 31

Trang 14

và kể cả trong trường hợp tham gia tố tụng với tư cách là một bên đương sự thì Viện công tố cũng vì lợi ích chung của xã hội, lợi ích của những người không có khả năng tự thực hiện quyền dân sự hoặc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Tại Việt Nam, tổ chức Bộ máy Nhà nước được tổ chức và hoạt động dựa trên nguyên tắc quyền lực Nhà nước thống nhất, tập trung vào Quốc hội, có sự phân công, phân nhiệm giữa Quốc hội, Chính phủ, Toà án và VKS để mỗi cơ quan có hiệu lực chức năng, nhiệm vụ của mình, với sự phối hợp và hiệp đồng chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp của quyền lực Nhà nước

Một trong những dấu mốc quan trọng đánh dấu sự thay đổi về vị ví, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND chính là sự ra đời của Hiến pháp năm 1959, theo

đó, VKSND được quy định thành một cơ quan tách khỏi hệ thống Toà án Sự tham gia của VKSND trong bộ máy Nhà nước góp phần bảo vệ chế độ xã hội, chống mọi

sự vi phạm đến quyền lợi dân chủ nhân dân; Tăng cường đấu tranh chống bọn phản cách mạng; Nâng cao chất lượng các khâu công tác kiểm sát, xây dựng từng bước ngạch Kiểm sát viên, tăng cường đào tạo cán bộ, cải tiến lề lối làm việc Bước vào hoạt động, VKSND thực hiện 3 chức năng: Công tác kiểm sát chung; Công tác kiểm sát hình sự; Công tác kiểm sát dân sự

Đến Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung thì VKSND là một hệ thống cơ quan có vị trí độc lập trong bộ máy nhà nước, được tổ chức thành một hệ

thống từ trung ương xuống địa phương (cấp huyện), có chức năng thực hành quyền

công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Theo Điều 20 LTCVKSND năm 2002,

VKSND là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực TTDS

Đến Hiến pháp năm 2013 và LTCVKSND năm 2014 thì VKS tiếp tục thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS và có nhiệm vụ bảo

vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ

xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Như vậy, so với Viện công tố các nước, nhiệm vụ và quyền hạn của VKS trong TTDS ở Việt Nam được quy định rộng hơn nhiều, VKS Việt Nam còn được trao thêm một số quyền mà Viện công tố các nước không có như: Quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của TAND và những người tham gia tố tụng, quyền kháng nghị tất cả các bản án, quyết định dân sự của Toà án theo thủ tục phúc thẩm, giám

Trang 15

đốc thẩm hoặc tái thẩm…

Với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS thì VKS có thẩm quyền khởi tố VADS hay không? Nếu trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời thì VKSND có quyền khởi tố VADS

nhưng khi BLTTDS năm 2015 ra đời, chức năng này đã bị bãi bỏ Bởi vì, thứ nhất,

để bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên trong quan hệ dân sự; thứ hai, nếu quy

định thẩm quyền khởi tố VADS của VKS thì VKS phải là một bên đương sự, như vậy sẽ làm mất đi sự bình đẳng giữa các bên trong TTDS vì VKS còn là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS Đối với những trường hợp không có khả năng tự bảo vệ khi quyền dân sự bị vi phạm thì nên giao cho các tổ chức xã hội khởi kiện thay3 Vì vậy, theo quy định của BLTTDS năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLTTDS năm 2011 và BLTTDS năm 2015, VKS là cơ quan tiến hành tố tụng, thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS Theo đó, VKS có thẩm quyền kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án; thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp pháp luật quy định; tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan điểm của VKSND về việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật; kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; kháng nghị, kiến nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng…

Việc loại bỏ thẩm quyền khởi tố của VKS đã làm thay đổi vị trí, vai trò của VKSND khi tham gia giải quyết các vụ việc dân sự, trước đây, VKSND có thể tham gia TTDS với hai tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng (Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng) và người tham gia tố tụng (với tư cách là người khởi tố), mặc dù khi tham gia phiên tòa, vai trò này của Kiểm sát viên không được tách bạch một cách rõ ràng, nhưng nó khá giống với vị trí, vai trò của Viện công tố một số nước phát triển trên thế giới, tuy nhiên, việc xóa bỏ thẩm quyền khởi tố của VKSND trong TTDS

đã loại bỏ luôn cả vai trò người tham gia TTDS của VKS Hiện nay, Điều 46 của BLTTDS năm 2015 quy định VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng Được coi là cơ quan tiến hành tố tụng, song các quyền và nghĩa vụ của VKSND chủ yếu để thực

3 Trần Văn Trung (2004), “Thẩm quyền khởi tố các VADS của VKSND”, Tạp chí Luật học - Đặc san góp ý

Dự thảo BLTTDS

Trang 16

hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự tại Toà án, nhằm đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ trong hoạt động xét xử của Toà án

Với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS để đảm bảo sự tuân thủ đúng pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng, qua đó đảm bảo pháp chế XHCN, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ công lý

Qua việc phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về kiểm sát giải quyết VADS

theo thủ tục sơ thẩm như sau: Là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp

của các hành vi, quyết định TTDS của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong việc giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm nhằm bảo đảm việc giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm được thực hiện đúng quy định của pháp luật cũng như bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

1.1.2 Đặc điểm kiểm sát giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

Kiểm sát giải quyết VADS thuộc về chức năng của VKS:

Hiến pháp năm 2013 quy định VKSND có chức năng thực hành quyền công tố

và kiểm sát hoạt động tư pháp LTCVKSND cụ thể hóa chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND là hoạt động kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, trong đó có việc giải quyết VADS của Tòa án, nhằm bảo đảm việc giải quyết VADS được thực hiện đúng quy định của pháp luật4

Lịch sử Hiến pháp các thời kỳ cũng đã khẳng định, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là của VKSND, cụ thể: Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I (từ ngày 16/4/1958 đến ngày 29/4/1958) Quốc hội đã quyết định Viện công tố Trung ương trực thuộc Chính phủ được thành lập trên cơ sở tách bộ phận công tố trực thuộc ra khỏi Tòa án Tuy nhiên ngay cả trong mô hình này thì Viện công tố cũng đã có những nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp như giám sát việc chấp hành pháp luật việc xét xử của Tòa án, giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án dân sự và tham gia tố tụng những VADS Như vậy, ngay từ lúc mới hình thành, Cơ quan công tố đã thể hiện rõ xu hướng độc lập cả về tổ chức lẫn thẩm quyền hoạt động, chức năng không chỉ giới hạn ở thực hành quyền công tố mà còn

4

Xem Điều 107Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 LTCVKSND năm 2014

Trang 17

giám sát hoạt động điều tra, giám sát đối với các hoạt động tư pháp và tham gia hoạt động TTDS, kháng nghị bản án dân sự Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử lập hiến của nước ta ghi nhận sự ra đời của một loại hình cơ quan nhà nước mới trong bộ máy nhà nước, đó là cơ quan Viện kiểm sát Sự ra đời của mô hình Viện kiểm sát thay thế cho mô hình Viện công tố ở nước ta gắn liền với yêu cầu của nhiệm vụ bảo đảm pháp chế thống nhất, điều kiện nền tảng cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới Đến Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 tuy có những bổ sung, thay đổi về tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhưng chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp vẫn luôn được giao cho Viện kiểm sát, trong đó bao gồm chức năng kiểm sát giải quyết các VADS của Tòa án

- Kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm nhằm mục đích bảo đảm cho việc chấp hành pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 LTCVKSND năm 20145đã khẳng

định: "VKSND có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công

dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” Trong TTDS, VKSND thực hiện nhiệm vụ bảo vệ

pháp luật thông qua việc kiểm sát hoạt động tư pháp Thực chất chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND là bảo đảm cho việc giải quyết VADS được thực hiện đúng quy định của pháp luật; bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh; bảo đảm mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh

Vì vậy, quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, VKS có thẩm quyền kiểm sát các hoạt động tố tụng của Tòa án như kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, thụ lý VADS, kiểm sát bản án, quyết định và các văn bản tố tụng khác có liên quan đến việc giải quyết VADS của Tòa án; kiểm sát việc tống đạt các văn bản tố tụng và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật TCVKSND và BLTTDS

- Kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng

Mặc dù chức năng, vị trí, vai trò của VKSND có thể có sự thay đổi qua các giai đoạn để phù hợp với tình hình phát triển chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước nhưng dù là thời kỳ nào thì cũng nhằm mục đích bảo vệ quyền con người, quyền

5

Xem Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 LTCVKSND năm 2014

Trang 18

công dân, bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của những người yếu thế trong xã hội như: người chưa thành niên, người mất hoặc hạn chế năng lực hành

vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi… cũng là nhiệm

vụ và mục đích hướng đến của VKSND

Trong TTDS, với tư cách người tiến hành tố tụng thì VKSND thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết VADS kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi Tòa án ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật

- VKS thực hiện chức năng Kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm phải tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

Trước hết, TTDS là một ngành luật hình thức và chức năng chủ yếu của VKS trong TTDS chính là kiểm sát việc tuân thủ các trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định đối với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Do đó, để đảm bảo hoạt động của VKS có hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ thì cần được tiến hành theo những quy định về trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Đồng thời, là một cơ quan Nhà nước với chức năng đặc thù, VKS phải tiến hành và tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục một cách nghiêm ngặt để bảo vệ trật tự chung của bộ máy nhà nước

Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động giải quyết VADS tại phiên toà, trong phạm vi quyền hạn của mình Kiểm sát viên phải tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật TTDS quy định như thứ tự hỏi tại phiên tòa, phạm vi phát biểu ý kiến, thời hạn và cách thức để thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị… Ngoài ra, kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm có đặc điểm riêng sau:

- VKS thực hiện chức năng kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm thông qua nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng VKS cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên

VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết VADS Theo đó, VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và kiểm sát việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng Tuy nhiên, hoạt động kiểm sát này thực hiện thông qua những con người cụ thể đó là, Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên

Khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm, Viện trưởng VKS cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm là người tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự (kiểm sát việc tuân

Trang 19

theo pháp luật trong TTDS); quyết định phân công Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật; quyết định thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án; yêu cầu, kiến nghị; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật

Về quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của VKS “ở các nước theo truyền thống luật dân sự, nhìn chung Viện công tố có quyền kháng cáo phúc thẩm trong các vụ án liên quan đến lợi ích công cộng, bảo vệ quyền lợi của những người không có khả năng tự thực hiện quyền dân sự hoặc không có khả năng tự bảo vệ mình như người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, người bị Tòa án tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự…”.6 Ở Việt Nam, mặc dù hiện nay không có bất kỳ một sự hạn chế nào đối với việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của VKS Tuy nhiên, cần phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa việc VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và việc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự Bởi vì, việc quy định quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của VKSND là cần thiết để bảo đảm pháp luật TTDS được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất Hơn nữa, trong một số trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm sau khi tuyên xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của các đương sự mà họ không có khả năng tự thực hiện quyền dân sự hoặc không có khả năng tự bảo vệ mình hoặc xâm phạm đến quyền lợi của người thứ ba không được triệu tập với tư cách là đương sự ở Tòa án cấp sơ thẩm hoặc vụ án chưa có điều luật để áp dụng thì VKS cần thiết phải kháng nghị Còn các trường hợp khác thì cần tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự Do đó, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng cần phải hạn chế quyền kháng nghị phúc thẩm của VKS.7

Đối với Kiểm sát viên khi được phân công kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm thì Kiểm sát viên sẽ kiểm sát các hoạt động tố tụng của Tòa án khi giải quyết VADS như kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện; kiểm sát việc thụ lý VADS; nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết vụ án trong quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án; thu thập tài liệu, chứng cứ; tham gia phiên tòa và phát biểu ý kiến của VKS về việc giải quyết VADS; kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện đúng các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật; đề nghị Viện trưởng VSK kháng nghị bản án, quyết định của

6Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Phúc thẩm trong TTDS Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, tr 60

7Nguyễn Thị Thu Hà (Chủ nhiệm đề tài) (2017), Cơ chế đảm bảo quyền con người, quyền cơ bản của công

dân trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp và thi hành Hiến pháp năm 2013, Đề tài cấp trường,

Đại học Luật Hà Nội, tr.51

Trang 20

Tòa án có vi phạm pháp luật; kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án Ngoài ra, Kiểm sát viên kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật

- Kiểm sát giải quyết VADS tại phiên tòa sơ thẩm được thực hiện trong một số trường nhất định

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKS theo quy định tại Điều 21 BLTTDS năm 2015, Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giải quyết VADS sơ thẩm đối với một

số trường hợp: Vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, đối tượng tranh chấp trong VADS là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở; vụ án có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành

vi và các vụ án Tòa án thụ lý mà chưa có điều luật để áp dụng Với quy định này thì phần lớn các VADS Tòa án đưa ra xét xử đều thuộc trường hợp VKS tham gia phiên tòa, vì chỉ cần Thẩm phán có hoạt động lấy lời khai đương sự, người làm chứng trong vụ án đã là thu thập chứng cứ.8

Tuy nhiên, đối với việc tham gia phiên tòa sơ thẩm và phát biểu ý kiến của VKS về việc giải quyết VADS thì có quan điểm cho rằng, việc VKS được tham gia các phiên tòa sơ thẩm và phát biểu về việc tuân theo pháp luật cũng chưa hợp lý, ít nhiều ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án Qua thực tiễn thực hiện công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án thấy VKS tham gia phiên tòa là để thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, nhằm đảm bảo cho pháp luật TTDS được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất Hơn nữa việc đề xuất phát biểu quan điểm giải quyết vụ án chỉ là một trong những đề nghị để HĐXX xem xét, không ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án

1.1.3 Ý nghĩa của kiểm sát giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

- Khi kiểm sát giải quyết VADS, VKSND có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo

vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS của VKS chính là hoạt động giám sát, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ đối với hành vi của các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng, đối với văn bản áp dụng pháp luật giải

8

Xem Điều 97 BLTTDS năm 2015

Trang 21

quyết VADS của Tòa án; đồng thời, đó là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước

Vì vậy, pháp luật quy định VKS có quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân chấm dứt vi phạm, nhằm đảm bảo cho hành vi của các chủ thể tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và việc áp dụng pháp luật phải đúng quy định Thông qua đó, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất

- VKS là một thiết chế quan trọng để thực hiện cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp VKS thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động

tư pháp để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; kiềm chế, kiểm sát sự lạm dụng quyền lực của các cơ quan được nhà nước giao thực hiện các hoạt động tư pháp

Quyền tư pháp là một dạng quyền lực nhà nước, được khẳng định trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, khi quyền lực nhà nước phân chia thành ba quyền độc lập với nhau, bổ trợ cho nhau và kiểm soát lẫn nhau Đó là các quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Mặc dù pháp luật Việt Nam không thừa nhận và không tổ chức Nhà nước theo nguyên lý tam quyền phân lập, nhưng có thể nói pháp luật Việt Nam đã có sự tiếp thu nhiều yếu tố hợp lý của thuyết tam quyền

Đó là coi trọng tính độc lập của hoạt động tư pháp, xác định Toà án là trung tâm của

hệ thống tư pháp cùng với phương hướng tăng cường kiểm soát quyền lực nói chung và kiểm soát giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nói riêng

“Trong TTDS, Tòa án là chủ thể đại diện cho Nhà nước, được Nhà nước trao

cho quyền lực để giải quyết các VVDS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước Do đó, toàn bộ hoạt động thụ lí VVDS, lập hồ sơ, hòa giải, thu thập, xác minh chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ và tổ chức các phiên tòa, phiên họp giải quyết VVDS đều do Tòa án thực hiện Điều này rất dễ và hoàn toàn có khả năng dẫn đến tình trạng Tòa án (cụ thể

là những người tiến hành tố tụng) lạm dụng quyền lực trong khi giải quyết các VVDS”9 Do đó, VKS với chức năng kiểm sát tố tụng tư pháp, tức là không chỉ kiểm sát quá trình xét xử mà còn kiểm sát quá trình thụ lý, lập hồ sơ giải quyết VADS của Tòa án và các chủ thể có liên quan trong suốt quá trình giải quyết vụ án

1.2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM

9Nguyễn Công Bình, Nguyễn Thị Thu Hà (2017), “Những nguyên tắc cơ bản của luật TTDS”, Bình luận

khoa học BLTTDS sửa đổi, Nxb Lao động-xã hội, tr.22

Trang 22

1.2.1 Các quy định của pháp luật hiện hành về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ án dân sự của Tòa án

1.2.1.1 Về kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự

BLTTDS quy định kiểm sát việc thụ lý vụ án hoặc không thụ lý vụ án (trả lại đơn khởi kiện) là hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đầu tiên của VKSND khi kiểm sát việc giải quyết VADS.10

Quy định này được khẳng định trong LTCVKSND năm 2014.11

Thực hiện công tác kiểm sát này VKS chỉ tập trung vào kiểm sát sự tuân theo pháp luật của TAND và Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án trên cơ sở Thông báo thụ lý hoặc Thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án Mặc dù hoạt động này chưa thể hiện rõ vai trò của VKS, nhưng là một hoạt động quan trọng nhằm bảo đảm cho việc thụ lý hoặc không thụ lý VADS của Tòa án được chính xác ngay từ giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án Tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa VKS và Tòa án cùng cấp; Là tiền đề để Kiểm sát viên xác định quan hệ tranh chấp dân sự, chủ động trong các hoạt động thực hiện chức năng, quyền hạn tiếp theo của VKS khi kiểm sát việc giải quyết VADS Đảm bảo việc giải quyết vụ án của Tòa án tuân thủ đúng thời hạn tố tụng được quy định tại Điều 203 BLTTDS 2015 Qua đó, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự

- Hoạt động kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện:

Trường hợp Tòa án không chấp nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện Tuy nhiên, Tòa án phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện và gửi cho VKS cùng cấp12 Quy định này đã loại trừ sự tùy tiện của Tòa án trong việc trả lại đơn khởi kiện, làm ảnh hưởng quyền khởi kiện của đương

12 Xem Điều 192 BLTTDS năm 2015

13 Xem Điều 194 BLTTDS năm 2015

14 Xem Điều 170 Bộ luật tố tụng năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011

Trang 23

nhiên, vì quy định thời hạn thực hiện quyền kiến nghị của VKS đã bỏ từ “ngày làm việc” nên nếu Tòa án gửi văn bản trả lại đơn khởi kiện cho VKS vào trước những ngày nghỉ Tết nguyên đán (do thời gian nghỉ Tết nguyên đán thường kéo dài từ 7- 9 ngày) nên việc thực hiện chức năng, quyền hạn của VKS về nội dung này lại là điều bất cập

- Hoạt động kiểm sát việc thụ lý VADS:

Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS 2015 thì trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án Văn bản thông báo phải có các nội dung chính quy định tại Khoản 2 Điều 196 BLTTDS Nội dung kiểm sát thông báo thụ lý VADS của VKS cụ thể như sau:

+ Kiểm sát về thẩm quyền thụ lý vụ án của Tòa án, nhằm đảm bảo việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, kịp thời phát hiện và có yêu cầu khắc phục, chấm dứt vi phạm về thụ lý vụ án sai thẩm quyền Tạo tiền đề cho việc giải quyết

vụ án đúng quy định của pháp luật

Đối với VADS đã được thụ lý không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

đã thụ lý, thì Tòa án đã thụ lý ra quyết định chuyển hồ sơ VADS cho Toà án có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 41 BLTTDS, đồng thời quyết định này phải được gửi ngay cho VKS cùng cấp

+ Kiểm sát về trình tự, thủ tục thụ lý vụ án được thực hiện theo quy định tại Điều 195 BLTTDS 2015

1.2.1.2 Về kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án dân sự

Lập hồ sơ VADS là việc Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, VKS

về việc giải quyết VADS.15 Kiểm sát việc lập hồ sơ VADS là một trong những hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết các VADS của VKS, nhằm đảm bảo cho việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án được khách quan, đầy

đủ, đúng pháp luật, có đủ cơ sở pháp lý để Tòa án đưa ra bản án, quyết định đúng đắn

Khi nhận được hồ sơ vụ án do Tòa án chuyển đến, Kiểm tra viên, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với vụ án có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ theo quy định tại Điều 59, khoản 3 Điều 58 BLTTDS năm 2015

15

Xem Điều 204 BLTTDS 2015

Trang 24

Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ

lý đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu hồ

sơ, Kiểm sát viên nắm chắc nội dung vụ án để chuẩn bị các tài liệu, gồm: Báo cáo

án, trong đó, Kiểm sát viên đề xuất về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong thời gian chuẩn bị xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng và

đề xuất cả về hướng giải quyết vụ án; Chuẩn bị đề cương hỏi, dự kiến các tình huống phát sinh tại phiên tòa và phương án xử lý tình huống; dự thảo phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa Theo đó, Kiểm sát viên tập trung nghiên cứu, kiểm sát toàn diện cả về thủ tục tố tụng giải quyết vụ án và nội dung của các tài liệu, chứng

Để xác định quan hệ tranh chấp, Kiểm sát viên nghiên cứu, xem xét nội dung đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo do nguyên đơn cung cấp, xem xét nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vấn đề gì; quan hệ pháp luật từ đó phát sinh tranh chấp là quan hệ gì; loại tranh chấp nguyên đơn khởi kiện tương ứng với khoản, điều nào thuộc một trong các điều 26, 28, 30 và 32 của BLTTDS năm 2015

- Xác minh, thu thập chứng cứ: Chứng cứ là phương tiện của việc chứng minh, của việc xác định các sự kiện có ý nghĩa với quá trình giải quyết vụ án Kiểm sát viên nghiên cứu, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, đánh giá chứng cứ đầy đủ và toàn diện, xác định sự phù hợp để tìm ra hướng giải quyết tranh chấp

Điều 93 BLTTDS năm 2015 quy định: “Chứng cứ trong VADS là những gì có

thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa

án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do

Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là

Trang 25

Theo quy định của BLTTDS, khi nghiên cứu hồ sơ nếu thấy hồ sơ chưa đủ chứng cứ để bảo đảm giải quyết đúng đắn vụ án thì VKS có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ.18 Tuy nhiên, thời hạn nghiên cứu hồ sơ của VKS chỉ

có 15 ngày nên việc thực hiện quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ

vụ án còn hạn chế Vì vậy, trong trường hợp chứng cứ có thể bổ sung tại phiên tòa qua lời khai của các đương sự, Kiểm sát viên tập hợp những tình tiết của vụ án chưa

đủ chứng cứ, tài liệu chứng minh, làm rõ (nếu có) để đưa vào phương án hỏi đương

sự, người tham gia tố tụng khác hoặc Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ của Thẩm phán, HĐXX tại phiên tòa và xét thấy cần thiết phải thu thập xác minh thêm chứng cứ mới giải quyết được vụ án thì áp dụng Điều 259 BLTTDS đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa

1.2.1.3 Về kiểm sát hoạt động hòa giải vụ án dân sự

Hòa giải trong TTDS là hoạt động bắt buộc phải tiến hành trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, trừ những VADS không được tiến hành hòa giải hoặc không hòa giải được Đây là hoạt động do Tòa án tiến hành nhưng về bản chất là sự thỏa thuận của các đương sự, giúp cho các đương sự giải quyết vụ án một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất, giảm bớt được nhiều thời gian và công sức giải quyết vụ án cho các chủ thể tham gia tố tụng Do đó, hòa giải có ý nghĩa rất quan trọng khi giải quyết VADS Việc thỏa thuận của các đương sự phải xuất phát từ ý chí tự nguyện, không

vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội Để đảm bảo việc ra quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự đúng pháp luật thì VKS có quyền kiểm sát việc hòa giải của Tòa án Việc kiểm sát này có ý nghĩa phát hiện sai sót trong quá trình hòa giải để kiễn nghị hoặc báo cáo đề nghị cấp trên kháng nghị quyết định công nhận sự thỏa thuận theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm VKSND hoàn toàn không tham gia việc hòa giải của đương sự mà chỉ kiểm sát thông qua quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được Tòa án cùng cấp gửi tới trong vòng

5 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương

sự.19 Tuy nhiên, quy định của pháp luật TTDS về vấn đề này còn bất cập và hoạt động kiểm sát loại quyết định này không dễ phát hiện vi phạm của Tòa án trong quá trình hòa giải VADS Nguyên nhân là do VKSND chỉ kiểm sát quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự mà không có điều kiện kiểm sát biên bản hòa

Trang 26

giải thành Do đó, việc kiểm sát loại quyết định đó rất khó để VKS xác định quá trình hòa giải có vi phạm pháp luật hay không

1.2.1.4 Về kiểm sát hoạt động xét xử vụ án dân sự

Trong pháp luật tố tụng nói chung và pháp luật TTDS nói riêng, hoạt động xét

xử có vai trò vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của phiên tòa và là một cơ chế đảm bảo hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Do đó, cũng giống như các giai đoạn tố tụng khác, VKSND có thẩm quyền kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án Kiểm sát xét xử sẽ giúp cho quá trình xét xử của Tòa án nghiêm minh, đúng pháp luật, từ đó đưa ra được những bản án, quyết định đúng đắn, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên là người thay mặt cho VKSND kiểm sát hoạt động xét xử tại phiên tòa Cụ thể: Kiểm sát toàn bộ hoạt động tố tụng trong hoạt động xét xử của Tòa án nhằm đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời; kiểm sát những hoạt động TTDS của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác nhằm đảm bảo việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ, qua đó hỗ trợ cho hoạt động xét xử của Tòa án Trước khi bắt đầu phiên tòa, Kiểm sát viên kiểm sát các hoạt động của Thư ký Tòa án về chuẩn bị khai mạc phiên tòa.20

- Thủ tục bắt đầu phiên tòa: Kiểm sát các hoạt động khai mạc phiên tòa của Chủ tọa phiên tòa; kiểm tra tư cách pháp lý của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng; yêu cầu HĐXX quyết định thay đổi người tiến hành

tố tụng trong trường hợp quy định tại các Điều 53, 54 BLTTDS21; đề nghị quyết định hoãn phiên tòa trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 56, khoản 2 Điều 62, khoản 2 Điều 84, Điều 227, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 230, khoản 2 Điều 231 và Điều 241 của BLTTDS năm 2015; kiểm sát hoạt động hỏi đương sự của HĐXX để xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu, thay đổi địa vị tố tụng hoặc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại các Điều từ 242 đến 246 BLTTDS năm 2015

- Tại phần tranh tụng tại phiên tòa: Kiểm sát viên theo dõi và ghi chép trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ghi chép việc hỏi và các câu trả lời của đương sự tại phiên tòa

Tham gia hỏi theo thứ tự quy định tại Điều 249 BLTTDS Đặt câu hỏi ngắn

Trang 27

gọn, rõ ràng, dễ hiểu, không bị trùng lặp với nội dung HĐXX và người tham gia tố tụng khác đã hỏi, nhằm làm rõ nội dung vụ án; Yêu cầu HĐXX công bố các tài liệu, chứng cứ; cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết

bị khác chứa âm thanh, hình ảnh tại phiên tòa; xem xét vật chứng theo quy định tại các Điều 254, 255, 256 BLTTDS Với trình tự này, Kiểm sát viên có thể theo dõi và kiểm sát toàn bộ việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX; việc chấp hành pháp luật của người tham gia TTDS

1.2.1.5 Về kiểm sát việ ra ản án qu ết đ nh ủa òa án

Bản án, quyết định của Tòa án là phán quyết giải quyết về mặt nội dung vụ án hoặc đó là quyết định làm chấm dứt việc giải quyết vụ án hoặc quyết định làm cho quá trình tố tụng bị tạm thời dừng lại , có ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Do đó, cần phải có cơ quan kiểm sát hoạt động này nhằm bảo vệ quyền lợi của đương sự, cũng như tính nghiêm minh của pháp luật, tính đúng đắn bản án, quyết định Theo quy định tại khoản 5 Điều 58 BLTTDS năm 2015 thì VKSND có thẩm quyền kiểm sát việc ra bản án, quyết định của Tòa án Cụ thể:

- Quyết định nhập, tách VADS phải được gửi ngay cho VKS cùng cấp.22

- Quyết định áp dụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời gửi ngay

cho VKS cùng cấp sau khi ra quyết định.23Theo đó, VKSND không có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà VKS chỉ kiểm sát quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án trên cơ sở

đó nếu phát hiện có sai sót thì VKS kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết

vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Quy định này làm hạn chế quyền năng của VKSND trong hoạt động kiểm sát giải quyết các VADS, nó chỉ mang tính hình thức mà không có sự ràng buộc nào đối với Tòa

án Nếu như VKSND phát hiện việc Tòa án không ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong những trường hợp cần thiết và cấp bách, gây thiệt hại đối với đương sự khi mà quyền yêu cầu, kiến nghị của VKS đối với Tòa án cũng chỉ dừng lại ở việc yêu cầu, kiến nghị còn Tòa án có quyền trả lời hoặc không trả lời yêu cầu, kiến nghị của VKS

- Quyết định công nhận sự thỏa thuận: Theo quy định tại khoản 1 Điều 212

BLTTDS năm 2015 thì hết thời hạn 7 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành

mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó Thẩm phán chủ trì

22 Xem Điều 42 BLTTDS năm 2015

23 Xem Điều 139 BLTTDS năm 2015

Trang 28

phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho VKS cùng cấp trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định

- Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết VADS: Trong thời hạn 3 ngày

làm việc kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS, Tòa án phải gửi quyết định đó cho VKS cùng cấp.24

Nếu như trước đây, đối với trường hợp sau khi Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS mà lý do tạm đình chỉ không còn, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án thì BLTTDS năm 2011 không có quy định việc thông báo cho VKS biết vụ án đã được tiếp tục giải quyết, đến BLTTDS năm 2015 thiếu sót này đã được khắc phục Theo đó, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS, Tòa án phải gửi quyết định đó cho VKS cùng cấp

- Quyết định đưa vụ án ra xét xử: Phải được gửi cho VKS cùng cấp ngay sau

khi ra quyết định.25 Qua việc xem xét quyết định đưa vụ án ra xét xử, VKS sẽ nắm được thông tin về số vụ án được đưa ra xét xử trong tổng số vụ án thụ lý, từ đó kiểm sát thời hạn ra bản án có đúng quy định pháp luật hay không Đồng thời, VKS căn

cứ vào đó để phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với những vụ án thuộc trường hợp VKS tham gia phiên tòa và để xác định việc ra bản án và gửi bản án của Tòa án có đúng thời hạn luật định hay không

- Đối với việc sửa chữa, bổ sung bản án phải được thông báo ngay cho VKS cùng cấp.26

- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản

án cho VKS cùng cấp.27 Đối với những vụ án không thuộc trường hợp VKS tham gia phiên tòa, VKS chỉ kiểm sát bản án của Tòa án mà không được tiếp cận hồ sơ hoặc không được tiếp cận biên bản phiên tòa thì rất khó phát hiện được vi phạm pháp luật của Tòa án

1.2.2 Các quy định của pháp luật hiện hành về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng và những người có liên quan

Theo quy định tại chương VI, BLTTDS năm 2015 thì người tham gia tố tụng bao gồm đương sự và những người tham gia tố tụng khác như người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên

24 Xem các Điều 214; Điều 217 BLTTDS năm 2015

25 Xem các Điều 220, Điều 290 BLTTDS năm 2015

26 Xem các Điều 268 BLTTDS năm 2015

27

Xem Điều 269 BLTTDS năm 2015

Trang 29

dịch, người đại diện hợp pháp của đương sự Theo quy định tại khoản 8 Điều 58

BLTTDS năm 2015 thì VKS có nhiệm vụ “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của

những người tham gia tố tụng”, có nghĩa là xem họ có thực hiện đúng nội quy

phiên tòa không? Có đủ tư cách tham gia phiên tòa hay không? Có thực hiện việc hỏi và tranh luận theo đúng trình tự thủ tục mà pháp luật quy định hay không? Các bên đương sự có được bình đẳng trong việc thực hiện quyền tranh tụng hay không? VKS thực hiện chức năng này của mình thông qua phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý

vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án, sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong.28

1.2.3 Các quy định của pháp luật hiện hành về sự tham gia phiên tòa giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Viện kiểm sát

Đây là hoạt động thể hiện tập trung và nổi bật vai trò của VKS khi kiểm sát việc giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm Các hoạt động kiểm sát ở giai đoạn chuẩn bị xét xử chỉ tập trung vào kiểm sát hành vi tố tụng của TAND, Thẩm phán

và các chủ thể khác trên cơ sở hồ sơ, tài liệu do Tòa án cung cấp Các hoạt động trên chỉ tạo ra mối quan hệ giữa VKS và Tòa án mà các chủ thể khác (các đương sự hay các chủ thể khác tham gia vào việc giải quyết vụ án) không thấy được sự tham gia của VKS Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hiện việc kiểm sát trực tiếp sự tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, sự chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, đảm bảo cho phiên tòa diễn ra nghiêm minh, khách quan, đúng pháp luật Đồng thời, bảo đảm cho các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo pháp định, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tại phiên tòa

1.2.3.1 Các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 BLTTDS 2015 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC, VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm trong trường hợp sau:

Thứ nhất, VKSND tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án

thu thập chứng cứ Như vậy, bất cứ VADS nào Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ thì VKS có trách nhiệm phải tham gia phiên tòa

Thứ hai, VKSND tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án có đối

28 Xem Điều 262 BLTTDS năm 2015

Trang 30

tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng.29

Cách xác định như thế nào là “tài sản công” và “lợi ích công cộng” đã được hướng dẫn khá cụ thể tại Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC Theo đó, tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật (chẳng hạn tranh chấp về tài sản của một cơ quan nhà nước mà tài sản đó được mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước) Đối với trường hợp này, thay vì thu hẹp khái niệm tài sản công theo quy định tại Điều 7 TTLT số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC, Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC đã có sự thay đổi cho phù hợp với quy định tại Điều 53 Hiến pháp 2013 và Điều 197 BLDS năm 2015; Lợi ích công cộng là những lợi ích vật chất hoặc tinh thần liên quan đến xã hội hoặc cộng đồng dân cư (VADS mà người khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp phải bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường) Việc tham gia phiên tòa của VKSND trong những trường hợp này đã đáp

ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế “VKSND vừa là cơ quan

đại diện và bảo vệ luật pháp, vừa đại diện và bảo vệ cho lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng”30 trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS

Thứ ba, VKSND tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án có đối tượng

tranh chấp là quyền sử dụng đất, nhà ở Cụ thể, tại khoản 3 Điều 27 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC đã quy định 7 trường hợp về tranh chấp quyền sử dụng đất, nhà ở, bao gồm: Tranh chấp về việc ai là người có quyền

sử dụng đất hay sở hữu nhà ở; Tranh chấp về hợp đồng có đối tượng của hợp đồng

là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở; Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất hoặc thừa kế nhà ở; Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất hoặc đòi lại nhà ở đang cho mượn, cho sử dụng nhờ; Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở trong thời kỳ hôn nhân; Tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở khi ly hôn, sau khi ly hôn; Tranh chấp trong các giao dịch dân

sự khác có đối tượng giao dịch là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở.31 Thực tế cho thấy, trong TTDS, những tranh chấp kể trên khó giải quyết và dễ gây ra sai sót, do giá trị

Trang 31

tài sản lớn và liên quan đến nhiều loại giấy tờ, đặt biệt trong lĩnh vực đất đai Do đó, cần thiết phải có sự tham gia của VKSND để giám sát việc thực hiện các thủ tục tố tụng tại phiên tòa

Thứ tư, VKSND tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án có một bên

đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành

vi Theo khoản 4 Điều 27 Thông tư liên tịch số TANDTC thì người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải là những người đã

02/2016/TTLT-VKSNDTC-có quyết định của Tòa án 02/2016/TTLT-VKSNDTC-có hiệu lực pháp luật tuyên bố họ bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.32

Đây là một quy định mang tính nhân đạo, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho những đối tượng này Mặc dù trước pháp luật, các đương sự có địa vị bình đẳng, tuy nhiên, những đối tượng kể trên không tự mình thực hiện được những quyền mà bản thân họ có, việc thực hiện thông qua những người tham gia tố tụng khác như người đại diện… không đảm bảo được quyền và lợi ích cho họ, do đó sự tham gia của VKSND vào phiên tòa là cần thiết

Thứ năm, VKS tham gia phiên tòa đối với các trường hợp quy định tại khoản 2

Điều 4 BLTTDS năm 2015

“Tòa án không được từ chối giải quyết việc dân sự vì lý do chưa có điều luật

để áp dụng”33là quy định mới, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong áp dụng pháp luật hiện nay Quy định này góp phần bảo đảm quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích chính đáng của công dân; đồng thời, đảm bảo việc giải quyết những tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội mà pháp luật chưa thể dự liệu

Thực tế cho thấy, các mối quan hệ về dân sự, kinh tế - xã hội luôn vận động và phát triển, do đó sẽ tạo ra các quan hệ dân sự mà pháp luật chưa kịp điều chỉnh Trách nhiệm giải quyết các quan hệ tranh chấp phát sinh trên phải thuộc về Nhà nước, không thể đẩy trách nhiệm về phía nhân dân với lý do chưa có điều luật áp dụng nên từ chối yêu cầu giải quyết

Vì vậy, với vai trò là cơ quan tiến hành tố tụng, kiểm sát hoạt động tư pháp, VKS sẽ tham gia phiên tòa giám sát các hoạt động tố tụng và giảm được sự tùy tiện

32 VKSNDTC-TANDTC (2016) Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC về phối hợp giữa hai cơ quan trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS

33 Xem khoản 2 Điều 4 BLTTDS năm 2015

Trang 32

trong áp dụng pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan

1.2.3.2 Về sự ó mặt ủa Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm

Trường hợp tại phiên tòa, để bảo đảm cho việc xét xử VADS được nhanh chóng, tôn trọng quyền định đoạt của các bên đương sự, đồng thời nâng cao trách nhiệm của VKSND, BLTTDS quy định, Kiểm sát viên vắng mặt thì HĐXX vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa.34

Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự bởi vì, khi các bên đương sự có mặt để tham gia phiên tòa, giải quyết tranh chấp quyền lợi của mình thì không có lý do gì sự vắng mặt của Kiểm sát viên lại dẫn đến phải hoãn phiên tòa

Tuy nhiên, quy định như trên sẽ gây khó khăn cho Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Bởi, tại phiên tòa, Kiểm sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của HĐXX, thư ký Tòa án

và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng; đảm bảo vụ án được xét xử một cách khách quan, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; đồng thời, tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia hỏi đương sự để làm rõ nội dung vụ án, làm căn cứ cho bài phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Vì vậy, trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt vì lý do khách quan (một Kiểm sát viên có 02 hoặc nhiều vụ án khác có lịch xét xử cùng một thời điểm hoặc do tham gia xét xử vụ án khác còn kéo dài thời gian nghị án mà không có Kiểm sát viên dự khuyết; hay Tai nạn, ốm đau ) thì phải hoãn phiên tòa lần thứ nhất Tuy nhiên vấn đề này hiện nay Luật chưa có quy định

1.2.3.3.Về hoạt động ủa Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm

Tại phiên tòa sơ thẩm Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng Tham gia hỏi để kiểm tra chứng cứ, khắc phục thiếu sót trong việc các đương

sự tự đặt câu hỏi cho nhau hoặc HĐXX đã hỏi thêm nhưng các vấn đề mâu thuẫn chưa được làm rõ Khi kết thúc việc hỏi, Chủ tọa chuyển sang phần tranh luận tại phiên tòa Tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, Kiểm sát viên không có nghĩa vụ phải tranh luận với những người tham gia phiên tòa Sau khi những người tham gia phiên tòa tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của VKS về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm

34 Xem khoản 1 Điều 232 BLTTDS năm 2015

Trang 33

HĐXX nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.35

Trước đây, theo quy định tại Điều 234 BLTTDS năm 2004, Kiểm sát viên căn

cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa

và diễn biến phiên tòa để phát biểu ý kiến, trong đó có đề xuất hướng giải quyết vụ

án (chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự ).36 Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là một trong các căn cứ để HĐXX thảo luận, xem xét giải quyết vụ án khi nghị án Kể từ ngày 01/01/2012, BLTTDS (sửa đổi) có

hiệu lực thi hành, VKS không phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như

trước đây mà chỉ phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết tranh chấp Bởi, việc giải quyết các tranh chấp dân sự dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự, đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng

cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình, Tòa án dựa trên những chứng cứ do đương cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập theo yêu cầu của đương sự để đưa ra những quyết định phù hợp với quy định của pháp luật Với vai trò kiểm sát, VKS chỉ phát biểu về những hoạt động tố tụng đã thực hiện trước và trong phiên tòa để xem xét, phát hiện những vi phạm (nếu có) Về nội dung giải quyết vụ án, VKS thực hiện sau khi có bản án, khi phát hiện quan điểm giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm thì VKS thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Tuy nhiên, quy định trên đã phần nào thu hẹp phạm vi thực hiện chức năng của VKS.37

Bởi, hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa là nhằm bảo đảm cho pháp luật được phấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, kể cả pháp luật về hình thức và pháp luật về nội dung Với địa vị pháp lý và nhiệm vụ như trên, cần quy định mở rộng phạm vi, quyền hạn của VKS tại phiên toà giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, Kiểm sát viên không chỉ phát biểu ý kiến về sự tuân thủ pháp luật TTDS của Thẩm phán, HĐXX

và những người tham gia tố tụng trong quá trình tố tụng giải quyết VADS mà còn phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, việc áp dụng pháp luật nội dung đối với

vụ án đó

Khắc phục hạn chế nêu trên, Khoản 4 Điều 27 LTCVKSND năm 2014 quy

định nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát giải quyết VADS: “Tham gia

phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan điểm của VKSND về việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật” 38 Để bảo đảm sự thống nhất với quy định của

Trang 34

LTCVKSND, Điều 262 BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nội dung quy định

về phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm

Theo Điều 28 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC thì Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của VKS về những vấn đề sau:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa

kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án Trường hợp kiểm sát viên yêu cầu HĐXX khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng thì HĐXX xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu; trường hợp không chấp nhận thì nêu rõ lý do Quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận của HĐXX được thảo luận và thông qua tại phòng xử án và được ghi vào biên bản phiên tòa

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia TTDS kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án;

- Về việc giải quyết vụ án thì Kiểm sát viên phân tích, đánh giá, nhận định về nội dung tranh chấp và các tình tiết của vụ án; đánh giá, nhận định về tài liệu, chứng

cứ trong hồ sơ vụ án; nêu rõ căn cứ pháp luật hoặc các căn cứ quy định tại Điều 45 BLTTDS được áp dụng để giải quyết vụ án; đề nghị Tòa án kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết VADS

có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (nếu có); Nêu rõ quan điểm về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, đề nghị của nguyên đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản

tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.39

Ngoài ra, ngay sau khi kết thúc phiên tòa Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.40 Thực tế vận dụng quy định này còn

có khó khăn, bất cập, vì yêu cầu đối với bản phát biểu của Kiểm sát viên phải phù hợp với diễn biến phiên tòa, do đó có vụ án tại phiên tòa đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ mới mà trước đó Tòa án chưa yêu cầu họ cung cấp hoặc có vụ án đương

sự thay đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện, có vụ án các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì bản phát biểu của Kiểm sát viên chuẩn bị trước

đó phải có sự điều chỉnh phù hợp Nếu theo quy định phải gửi ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên sẽ không kịp thời bổ sung, hoàn thiện bản phát biểu cả về

39 VKSNDTC-TANDTC (2016) Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC về phối hợp giữa hai cơ quan trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS

40 Xem Điều 262 BLTTDS năm 2015

Trang 35

hình thức và nội dung cũng như quan điểm giải quyết vụ án để gửi cho Tòa án đúng hạn luật định

1.2.4 Các quy định của pháp luật hiện hành về thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án dân

sự theo thủ tục sơ thẩm

1.2.4.1 Về thực hiện quyền yêu cầu của Viện kiểm sát

Việc thực hiện quyền yêu cầu được thực hiện theo quy định của BLTTDS năm

2015 và hướng dẫn tại Thông tư số 02/TTLT-VKSNDTC-TANDTC, cụ thể:

- Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết VADS Theo đó, trước khi mở phiên tòa, Kiểm sát viên gửi văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ cho Tòa án đang giải quyết VADS Văn bản yêu cầu phải nêu rõ chứng cứ cần xác minh, thu thập, lý do cần xác minh, thu thập chứng cứ

đó Tòa án gửi cho Kiểm sát viên bản sao tài liệu, chứng cứ ngay sau khi Tòa án thu thập được Nếu tại phiên tòa, Tòa án mới nhận được tài liệu, chứng cứ đó thì Tòa án công bố tài liệu, chứng cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 254, khoản 1 Điều

303 BLTTDS năm 2015 Trường hợp việc xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của Kiểm sát viên là không thể thực hiện được hoặc Tòa án xét thấy không cần thiết thì chậm nhất là đến ngày hết thời hạn mở phiên tòa theo quyết định của Tòa

án, Tòa án thông báo cho Kiểm sát viên bằng văn bản và nêu rõ lý do Tại phiên tòa, Kiểm sát viên yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ phải nêu rõ chứng cứ cần xác minh, thu thập, lý do cần xác minh, thu thập chứng cứ đó Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 259 BLTTDS, thẩm phán, HĐXX quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên Trường hợp HĐXX không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên thì phải nêu rõ lý do, Kiểm sát viên tiếp tục tham gia phiên tòa Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên tại phiên tòa và Hội đồng chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên phải được ghi vào biên bản phiên tòa Trường hợp đã tạm ngừng phiên tòa nhưng việc xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của Kiểm sát viên là không thể thực hiện được thì trước ngày Tòa án tiếp tục xét xử vụ án, Tòa án thông báo cho VKS bằng văn bản và nêu rõ lý do

- Yêu cầu Tòa án thực hiện đúng các hoạt động tố tụng; Yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật;41Yêu cầu HĐXX công bố tài liệu, chứng cứ của vụ án, cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi

41

Xem Điều 58 BLTTDS năm 2015

Trang 36

âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh tại phiên tòa;42 Yêu cầu tiếp tục hỏi tại phiên tòa.43

- Yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ VADS để tham gia phiên tòa; xem xét việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; xem xét việc kiến nghị

- Yêu cầu Tòa án cho sao chụp bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ trong trường hợp trả lại đơn khởi kiện Theo đó, trường hợp VKS cần xem xét kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện hoặc sau khi nhận được thông báo mở phiên họp giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện thì VKS gửi văn bản yêu cầu Tòa án cho sao chụp một số hoặc toàn bộ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu của VKS, Tòa án giao cho VKS văn bản cần sao chụp theo yêu cầu tại trụ sở Tòa án Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được văn bản cần sao chụp, VKS phải trả lại văn bản cho Tòa án

- Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa.44 Theo đó, sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên có quyền xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản Yêu cầu của Kiểm sát viên được thực hiện ngay và Kiểm sát viên ký xác nhận những nội dung sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 236 BLTTDS

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ.45

1.2.4.2 Về thực hiện quyền kiến ngh của Viện kiểm sát

VKS thực hiện quyền kiến nghị theo quy định tại Điều 5 LTCVKSND và Điều

21 BLTTDS năm 2015 trong các trường hợp sau đây:

- Kiến nghị quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc việc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;46

- Kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu theo khoản 1 Điều 194, khoản 3 Điều 364 BLTTDS.47

- Kiến nghị Quyết định chuyển hồ sơ VADS cho Tòa án khác.48

Có thể thấy, VKSND thực hiện quyền kiến nghị là để giúp Tòa án phát hiện và khắc phục những vi phạm nhất định trong quá trình giải quyết VADS nhưng kết quả đạt được không cao Xuất phát từ thiếu sót của pháp luật đó là không có một điều

42 Xem Điều 254, 255 BLTTDS năm 2015

43 Xem Điều 258 BLTTDS năm 2015

44 Xem Điều 236 BLTTDS năm 2015

45

Xem Điều 106 BLTTDS năm 2015;

46 Xem Điều 140 BLTTDS năm 2015;

47 Xem Điều 17 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC về phối hợp giữa hai cơ quan trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS

48

Xem Điều 41 BLTTDS năm 2015

Trang 37

luật nào quy định về việc bắt buộc Tòa án phải thực hiện theo kiến nghị của VKS, nên Tòa án có thể không hoặc chậm khắc phục theo những kiến nghị của VKS Như vậy, VKSND tốn thời gian, tốn kinh phí vào việc thực hiện quyền kiến nghị mà vai trò của VKS không được khẳng định, quyền lợi của đương sự không được đảm bảo tạo ra sự bất cập trong quy định của pháp luật

1.2.4.3 Về thực hiện quyền kháng ngh của Viện kiểm sát

Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của VKS là văn bản pháp lý làm phát sinh một thủ tục tố tụng mới yêu cầu Tòa án phải xem xét lại toàn bộ hoặc một phần bản

án, quyết định bị kháng nghị nhằm mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công minh và đúng pháp luật, đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của toà án; kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hoặc quyết định của Toà án

Trong công tác kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm Viện trưởng VKSND cùng cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.49

Thời hạn kháng nghị đối với bản án sơ thẩm của VKS cùng cấp là 15 ngày, kể

từ ngày tuyên án Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày VKS cùng cấp nhận được bản án; Thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày VKS cùng cấp nhận được quyết định.50

Một số ý kiến nghiên cứu cho rằng, các quy định về kháng nghị phúc thẩm chưa thực sự tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, làm kéo dài quá trình tố tụng Bởi vì, khi giải quyết VADS, việc quyết định phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự trước Tòa án phải do chính họ quyết định chứ VKSND không thể định đoạt được điều này Thậm chí ngay cả trong trường hợp giải quyết vụ án của Tòa án, tuy có sai lầm về nội dung và thủ tục tố tụng và sai lầm đó không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội nhưng các bên đương sự đồng ý với cách giải quyết đó của Tòa án cấp sơ thẩm mà không có yêu cầu, kháng cáo thì không có lý do gì vụ án lại bị đưa ra xét xử bởi kháng nghị của VKSND Việc kháng nghị trong trường hợp này sẽ ảnh hưởng đến tính ổn định của bản án, quyết định Chưa kể đến việc kháng nghị của VKSND có thể làm thay đổi toàn bộ quyết định giải quyết vụ án do Tòa án xét xử mà đương sự đã nhất trí Khi đó, việc

Trang 38

kháng nghị vô hình chung đã ảnh hưởng đến quyền định đoạt của đương sự.51 Bởi vậy, việc kháng nghị của VKSND là cần thiết, nhưng cần hạn chế trong một phạm

vi nhất định, theo đó pháp luật cần giải quyết hài hòa việc đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự và việc thực hiện chức năng kháng nghị phúc thẩm trong kiểm sát giải quyết VADS của Tòa án

Tuy nhiên, tại VKSND thành phố Lạng Sơn nói riêng và VKSND tỉnh Lạng Sơn nói chung, VKS chỉ thực hiện kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định

có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng như thu thập, đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ, khách quan, toàn diện dẫn đến làm thay đổi bản chất nội dung vụ án; những bản án, quyết định có sai sót trong việc áp dụng pháp luật nội dung, chưa giải quyết hết yêu cầu của đương sự, xác định nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, nghĩa vụ chịu án phí không chính xác, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự và đương sự có kháng cáo về những nội dung đó thì VKS mới thực hiện quyền kháng nghị Ngoài ra có một số trường hợp ngoại lệ, do điều kiện sinh sống khu vực miền núi khó khăn, trình độ nhận thức pháp luật hạn chế, một số đương sự không biết quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm thì VKS kháng nghị đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án, quyết định có vi phạm để bảo vệ quyền lợi đương sự

BLTTDS năm 2015 quy định cho VKS ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm Trường hợp chưa hết thời hạn kháng nghị thì việc thay đổi, bổ sung kháng nghị không bị giới hạn bởi phạm vi kháng nghị ban đầu Quy định trên chưa được đề cập đến trong BLTTDS năm 2004 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011) Bởi Điều 256 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 chỉ quy định về việc thay đổi, bổ sung kháng nghị không được vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng nghị đã hết, mà không đề cập đến việc thay đổi, bổ sung kháng nghị trong thời hạn kháng nghị Tuy nhiên, việc thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã được hướng dẫn tại Điều 11 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn phần thứ 3 BLTTDS Vì vậy, trên cơ sở pháp điển hóa những văn bản hướng dẫn BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung, BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị Quy định này

thể hiện sự “tôn trọng quan điểm của VKS và của người ký kháng nghị trong trường

51 Nguyễn Thị Thu Hà (Chủ nhiệm đề tài) (2017), Cơ chế đảm bảo quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp và thi hành Hiến pháp năm 2013, Đề tài cấp trường, Đại học Luật Hà Nội, tr.51

Trang 39

hợp họ muốn thay đổi, bổ sung kháng nghị”.52 Hơn nữa, quy định này, một mặt đảm bảo quyền kháng nghị của VKS; mặt khác, việc thay đổi, bổ sung kháng nghị được thông báo cho các đương sự có liên quan đến kháng nghị nên vẫn đảm bảo thời hạn (trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm) để các đương sự chuẩn bị tài liệu, chứng

cứ, các căn cứ pháp lý để đưa ra ý kiến đối với kháng nghị của VKS, không làm ảnh

hưởng đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự

Nếu thời hạn kháng nghị đã hết thì việc thay đổi, bổ sung kháng nghị không được vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu.53 Trước khi bắt đầu phiên tòa, việc rút kháng nghị có thể do VKS ra quyết định kháng nghị hoặc VKS cấp trên trực tiếp quyết định Tại phiên tòa phúc thẩm, việc rút kháng nghị thuộc thẩm quyền của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.54

Tuy nhiên, hiểu như thế nào là việc thay đổi, bổ sung kháng nghị không được vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu nếu thời hạn kháng nghị đã hết? Trước đây, Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn phần thứ 3 BLTTDS hướng dẫn phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu là phạm vi kháng cáo, kháng nghị đã gửi cho Toà án trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị Căn cứ theo nội dung quyết định kháng nghị của VKS55 và phạm vi xét xử phúc thẩm.56 Để xác định phạm vi kháng nghị ban đầu chính là phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật đã bị kháng nghị Như vậy, phạm vi kháng nghị của VKS bị giới hạn bởi phạm vi mà bản án, quyết định sơ thẩm đã giải quyết Tuy nhiên, khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực pháp luật thì vấn đề này một lần nữa lại chưa được hướng dẫn

cụ thể

52 Vũ Thị Hồng Vân, Một số vấn đề về quyền kháng nghị phúc thảm của VKSND trong BLTTDS, Tạp chí

Kiểm sát, số 11/2005, tr.17

53 Xem khoản 1, khoản 2 Điều 284 BLTTDS năm 2015

54 Xem các Điều 284, Điều 294, Điều 298 BLTTDS năm 2015

55 Xem Điều 279 BLTTDS năm 2015

56

Xem Điều 293 BLTTDS năm 2015

Trang 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương 1, tác giả tập trung phân tích, luận giải một số vấn đề lý luận về chức năng của VKSND trong kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa về kiểm sát giải quyết VADS; hoạt động kiểm sát giải quyết các VADS sơ thẩm của VKSND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; các quy định của pháp luật và thực trạng pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm Thông qua việc phân tích các quy định hiện hành về chức năng kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm, tác giả đã luận giải chi tiết và làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong kiểm sát việc thụ lý hoặc không thụ lý VADS; kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án; thu thập chứng cứ; tham gia phiên tòa theo luật định; thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị Tác giả đã chỉ ra một số tồn tại, hạn chế của pháp luật TTDS hiện hành cần được tiếp tục nghiên cứu nhằm sửa đổi, bổ sung qua thực tiễn áp dụng pháp luật

Với những nội dung được trình bày ở Chương 1 là cơ sở, tiền đề cho việc phân tích, đánh giá quy định của pháp luật TTDS hiện hành về vị trí, vai trò, nhiệm

vụ, quyền hạn của VKSND trong kiểm sát giải quyết VADS theo thủ tục sơ thảm và

đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật thông qua hoạt động kiểm sát thực tiễn của VKSND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn trong Chương 2

Ngày đăng: 02/08/2019, 21:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Công Bình, Nguyễn Thị Thu Hà (2017), “Những nguyên tắc cơ bản của luật TTDS”, Bình luận khoa học BLTTDS sửa đổi, Nxb Lao động - xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên tắc cơ bản của luật TTDS
Tác giả: Nguyễn Công Bình, Nguyễn Thị Thu Hà
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2017
3. Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Phúc thẩm trong TTDS Việt Nam, Luận án Tiến sỹ, Hà Nội, tr. 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phúc thẩm trong TTDS Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2011
8. Quốc hội (2002), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dânnăm 2002 9. Quốc hội (2004), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dânnăm 2002" 9. Quốc hội (2004)
Tác giả: Quốc hội (2002), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dânnăm 2002 9. Quốc hội
Năm: 2004
12. Quốc hội (2014), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dânnăm 2014 13. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dânnăm 2014" 13. Quốc hội (2015)
Tác giả: Quốc hội (2014), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dânnăm 2014 13. Quốc hội
Năm: 2015
14. Trần Văn Trung (2004), “Thẩm quyền khởi tố các VADS của VKSND”, Tạp chí Luật học - Đặc san góp ý Dự thảo BLTTDS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền khởi tố các VADS của VKSND
Tác giả: Trần Văn Trung
Năm: 2004
15. Vũ Thị Hồng Vân, Một số vấn đề về quyền kháng nghị phúc thẩm của VKSND trong BLTTDS, Tạp chí kiểm sát, số 11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quyền kháng nghị phúc thẩm của VKSND trong BLTTDS
16. VKSNDTC-TANDTC (2014), Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT- VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về kiểm sát. việc tuân theo pháp luật trong TTDS Sách, tạp chí
Tiêu đề: số
Tác giả: VKSNDTC-TANDTC
Năm: 2014
17. VKSNDTC-TANDTC (2016), Thông tư liên tịch 02/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC về phối hợp giữa hai cơ quan trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch 02/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC" về phối hợp giữa hai cơ quan trong việc thi hành một "số
Tác giả: VKSNDTC-TANDTC
Năm: 2016
2. Bộ chính trị (2009), Kết luận của Bộ Chính trị số 230-TB/TW ngày 26/3/2009 về sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
5. Quốc hội (1959), Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1959 Khác
6. Quốc hội (1960), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 Khác
7. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Khác
10. Quốc hội (2011), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 Khác
11. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Khác
18. Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự những của VKSND tỉnh Lạng Sơn (2015-2017) Khác
19. TANDTC (2013), Báo cáo số 05 ngày 18/01/2013 của TANDTC về tổng kết công tác năm 2012 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2013 của ngành TAND Khác
20. VKSND thành phố Lạng Sơn (2017), Kiến nghị số 91/KN-VKS-DS ngày 17/5/2017 Khác
21. VKSND thành phố Lạng Sơn (2018), Kiến nghị số 68/KN-VKS-DS ngày 06/3/2018 Khác
22. VKSND thành phố Lạng Sơn (2018), Kiến nghị số 97/KN-VKS-DS ngày 30/3/2018 Khác
23. VKSND thành phố Lạng Sơn (2017), Kháng nghị số 138/QĐ-KNPT-VKS ngày 03/7/2017 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w