Nhìn chung, các công trình, các đề tài khoa ho ̣c trên chỉ đề câ ̣p cải cách hành chính, thủ tục hành chính nói chung hoặc cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa, một cửa liên
Trang 1VÀNG A CHUA
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA
LIÊN THÔNG TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG,
TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình khoa học ứng dụng của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chính xác và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
VÀNG A CHUA
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TT Từ viết tắt Nguyên nghĩa
1 HĐND Hội đồng nhân dân
2 TTHC Thủ tục hành chính
3 UBND Ủy ban nhân dân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích, đối tượng, giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
6 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1 8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA LIÊN THÔNG 8
1.1 Một số vấn đề chung về thủ tục hành chính 8
1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính 8
1.1.2 Đặc điểm của thủ tục hành chính 10
1.1.3 Các nguyên tắc của thủ tục hành chính 11
1.1.4 Vai trò của thủ tục hành chính 13
1.1.5 Các loại thủ tục hành chính 14
1.2 Cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam 15
1.2.1 Sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính 15
1.2.2 Mục tiêu của cải cách thủ tục hành chính 16
1.2.3 Các yêu tố tác động trực tiếp đến cải cách thủ tục hành chính 17
1.3 Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông 19
1.3.1 Khái niệm cơ chế một cửa liên thông 19
1.3.2 Ý nghĩa của việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông 22
1.4 Một số nội dung cơ bản của cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính của chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật hiện hành 23
1.4.1 "Bộ phận Một cửa" trong cơ chế một cửa liên thông ở địa phương 23
1.4.2 Quy trình hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trong cơ chế một cửa liên thông ở địa phương 25
Chương 2 28
THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN 28
2.1 Khái quát chung về huyện Điện Biên Đông 28
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Điện Biên Đông 28
2.1.2 Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn, nguyên tắc làm việc của UBND huyện Điện Biên Đông 29
Nguyên tắc làm việc: UBND huyện làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể UBND huyện, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND huyện và các Ủy viên Ủy ban nhân dân huyện 30
2.1.3 Mỗi quan hệ công tác của UBND huyện Điện Biên Đông 31
2.2 Thực trạng về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điện Biên Đông 32
2.2.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điện Biên Đông 32
Trang 62.2.2 Quá trình thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông
tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 34
2.2.3 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ và hoạt động của Bộ phận Một cửa của huyện Điện Biên Đông 40
2.2.4 Về cơ sở vật chất, trang thiết bị, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin phục vụ công tác cải cách thủ tục hành chính 44
2.2.5 Cải cách thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực 45
2.3 Thủ tục hành chính trước khi áp dụng cơ chế một cửa liên thông 53
2.4 Đánh giá những thành công và hạn chế trong cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điện Biên Đông 53
2.4.1 Những kết quả đạt được trong cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông 54
2.4.2 Những hạn chế, tồn tại trong cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điện Biên Đông 57
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn trên 59
Chương 3 62
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI HUYỆN ĐIÊN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN 62
3.1 Phương hướng 62
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 63
3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của chính quyền đối với công cải cách TTHC theo cơ chế một cửa liên thông 63
3.2.2 Công tác cán bộ 64
3.2.3 Nâng cao năng lực phục vụ nhân dân tại UBND huyê ̣n 65
3.2.4 Đẩy mạnh phân công, phân cấp quản lý 68
3.2.5 Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền 68
3.2.6 Cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính nhà nước 69 3.2.7 Xây dựng quy trình và niêm yết công khai thủ tục hành chính 69
3.2.8 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát 70
3.2.9 Cải thiện điều kiện làm việc, chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức 70
3.3 Kiến nghị 71
3.3.1 Đối với Chính phủ 71
3.3.2 Đối với UBND tỉnh Điện Biên 71
3.3.3 Đối với UBND huyê ̣n 71
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cải cách hành chính luôn là vấn đề mang tính toàn cầu Các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển đều xem cải cách hành chính như một động lực tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, đem lại dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Trong những năm vừa qua, cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng luôn là một trong những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm
Để cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước
về cải cách hành chính nói chung, cải cách thủ tục hành chính nói riêng, Chính phủ đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều văn bản pháp luật có liên quan đến lĩnh vực này như: Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007
của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế
một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Quyết định
số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy
chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính và Nghị định số 48/2013/NĐ- CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị quyết 25/NQ-CP ngày 02/6/2010 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính; Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 08/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013 - 2020; Nghị quyết số 30c/NQ-
CP ngày 8/11/2011 của Chính phủ về Ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020
Trang 8Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Bộ phận Một cửa phù hợp với tiến trình cải cách hành chính, trên cơ sở kế thừa những nội dung trong Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, ngày
23 tháng 04 năm 2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số: 61/2018/NĐ-CP
về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, thay thế Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ và có hiệu lực thi hành từ ngày 21 tháng 6 năm 2018
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và sự đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, tỉnh Điện Biên nói chung và huyện Điện Biên Đông nói riêng đã ban hành hàng nhiều văn bản để chỉ đạo thực hiện, đó là: Đã ban hành Chỉ thị số 16/2007/CT-UBND ngày 15/10/2007 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên về việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 395/QĐ-UBND ngày 25/3/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên về thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế một cửa liên thông; Công văn số 2353/UBND-NCNV ngày 26/6/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg; Quyết định số 1269/QĐ-UBND ngày 16/12/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên về việc phê duyệt Đề án triển khai thực hiện cơ chế một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân huyện Điện Biên Đông Ủy ban nhân dân huyện Điện Biên Đông đã ban hành Quyết định
số 2251/QĐ-UBND ngày 31/10/2013 về thành lập bộ phận một cửa liên thông huyện Điện Biên Đông, Quyết định số 2252/QĐ-UBND ngày 31/10/2013 về Ban hành quy trình thực hiện các thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa liên thông huyện Điện Biên Đông
Thông qua việc chỉ đạo quyết liệt công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông của các cấp chính quyền ở tỉnh Điện Biên nói
Trang 9chung, huyện Điện Biên Đông nói riêng, cơ chế một cửa liên thông được thực hiện có hiệu quả, đã nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân, các thủ tục hành chính đã được giải quyết đúng quy định, giảm bớt thời gian, công sức của người dân và doanh nghiệp khi đến liên hệ giao dịch
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại đó là: Thủ tục hành chính vẫn còn cứng nhắc, hình thức, đòi hỏi còn nhiều giấy tờ, rườm rà, nhiều cấp trung gian, việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính của các cơ quan công quyền còn nhiều hạn chế, có nơi còn chưa thực hiện đúng quy định đặc biệt là cấp xã; trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại Bộ phận Một cửa, cán bộ, công chức trực tiếp thụ lý hồ sơ còn hạn chế; cách thức giải quyết công việc vẫn còn hiện tượng chậm trễ theo lối dân cần, quan không vội Việc thực hiện liên thông trong giải quyết công việc cho tổ chức và cá nhân giữa các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, liên thông giữa cấp huyện và cấp
xã còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ
Vì vậy, nghiên cứu về cải cách thủ tục hành chính nói chung cũng như thực tế thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điện Biên Đông nói riêng, nhằm làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của cải cách thủ tục hành chính, chỉ ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân trên
cơ sở đó, đề ra những giải pháp tiếp tục thực hiện có hiệu quả cơ chế này
trong thời gian tiếp theo Với lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Cải cách thủ tục
hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điên Biên Đông, tỉnh Điên Biên” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Cải cách thủ tục hành chính là một trong những nội dung quan trọng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Cải cách thủ tục hành chính trong những năm qua là chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm
Trang 10Trước hết cần kể tới các công trình khoa học có tính giáo khoa như: Giáo trình Luật hành chính - Trường Đại học luật Hà Nội; giáo trình thủ tục hành chính - Học viện Hành chính Quốc gia; Giáo trình Luật hành chính Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, trong đó đã đề cập tới khái niệm, đặc điểm, các giai đoạn, các nguyên tắc của thủ tục hành chính
Công trình nghiên cứu chuyên sâu như: Nguyễn Văn Thâm (2002),
(Chủ biên), thủ tục hành chính, lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia Hà Nội
Bên cạnh đó vấn đề cải cách hành chính nhà nước nói chung và cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông nói riêng đã
được một số tác giả nghiên cứu như:
Luận văn thạc sỹ của Lưu Xuân Trịch (Đại học Quốc gia Hà Nội - năm
2016): "thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông
- qua thực tiễn tại quận Hai Bà trưng, thành phố Hà Nội"
Luận văn thạc sỹ của Phạm Xuân Cường (Ho ̣c viện Hành chính Quốc
gia - năm 2017): "Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông
tại Ủy ban Nhân dân huyê ̣n Lê ̣ Thủy, tỉnh Quảng Bình"
Ngoài ra còn có các bài báo khoa học về cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính đăng trên các tạp chí khoa học khác nhau như:
Nguyễn Thị Ngọc Mai, Đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước đáp
ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Tạp chí Khoa hoạc Nội
vụ, số 22, năm 2018
Nguyễn Nghị Thanh, Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính ở
nước ta, Tạp chí Khoa hoạc Nội vụ, số 18, năm 2017
Phạm Thị Thanh - Trần Thị Lan Anh, Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành
chính theo mô hình “một cửa”,“một cửa liên thông” tại tỉnh Hải Dương, Tạp
chí Khoa hoạc Nội vụ, số 19, năm 2017
Trang 11Cao Thành Hiếu, Giải quyết thủ tục thủ tục hành chính theo cơ chế một
cửa, một cửa liên thông tại thành phố Bến Tre, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số
7, năm 2017
Nguyễn Thị Thu Hà, Bàn về một số giải pháp thực hiện cơ chế một cửa,
một cửa tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả hiện nay, Tạp chí Tổ chức Nhà
nước, số 11, năm 2016
Nguyễn Thanh Hà, Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các
cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tạp chí Tổ
chức Nhà nước, số 10, năm 2016
Nhìn chung, các công trình, các đề tài khoa ho ̣c trên chỉ đề câ ̣p cải cách hành chính, thủ tục hành chính nói chung hoặc cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa, một cửa liên thông ở cấp huyện của một số tỉnh, thành phố; chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu việc thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế một cửa liên thông trên địa bàn huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên trong quá trình nghiên cứu, bản thân tôi có kế thừa, có cho ̣n lo ̣c một số ý tưởng trong các công trình nghiên cứu có liên quan, kết hợp với việc phân tích thực trạng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
3 Mục đích, đối tượng, giới hạn phạm vi nghiên cứu
Mục đích: Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn cải cách thủ tục
hành chính theo cơ chế một cửa liên thông, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một của liên thông tại Bộ phâ ̣n Một cửa của huyện huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên trong thời gian tới
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực tiễn việc thực hiện cải cách
thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điện Biên Đông,
tỉnh Điện Biên
Trang 12Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Về thời gian: Từ năm 2011 đến nay (năm 2011 là thời điểm bắt đầu triển khai cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điện Biên Đông theo Quyết định số 1269/QĐ-UBND ngày 16/12/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên về việc phê duyệt Đề án triển khai thực hiện cơ chế một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân huyện Điện Biên Đông)
4 Phương pháp nghiên cứu
Luâ ̣n văn được thực hiện dựa trên quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về cải cách hành chính và một số phương pháp nghiên cứu khoa ho ̣c cụ thể, như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp lịch sử, thống kê để đánh giá vấn đề một cách khách quan, toàn diện
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Góp phần làm sáng tỏ hệ thống lý luận về quá trình
thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông Chỉ ra những kết quả, tồn tại, hạn chế của quá trình cải cách thủ tục hành chính qua thực tiễn tại huyện Điện Biên Đông Đề xuất các giải pháp có tính khả thi trong cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luâ ̣n văn góp phần làm rõ bức
tranh thực tiễn trong việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điện Biên Đông, nhằm đảm bảo thực hiện tốt hơn cơ chế một cửa liên thông trong các dịch vụ hành chính công tại Bộ phâ ̣n Một cửa của huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Luâ ̣n văn, có thể làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng kế hoạch tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
6 Kết cấu của luận văn
Trang 13Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Một số vấn đề lý luận và pháp lý về cải cách thủ tục hành
chính theo cơ chế một cửa liên thông
Chương 2 Thực trạng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa
liên thông tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Chương 3 Phương hướng, giải pháp tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục
hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC
HÀNH HÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA LIÊN THÔNG
1.1 Một số vấn đề chung về thủ tục hành chính
1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính
Trong quản lý hành chính nhà nước nói riêng và quản lý nhà nước nói chung, bất kỳ một công việc cụ thể nào phát sinh cần giải quyết đều phải thực hiện theo cách thức, trình tự nhất định Cách thức, trình tự đó thường được gọi chung là thủ tục Tương ứng với các lĩnh vực hoạt động khác nhau của nhà nước có các loại thủ tục khác nhau Thủ tục luật pháp do cơ quan lập pháp thực hiện để xây dựng các đạo luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Thủ tục tư pháp do các
cơ quan tư pháp thực hiện để giải quyết các vụ án theo quy định của pháp luật Thủ tục thực hiện hoạt động hành pháp là thủ tục hành chính (TTHC) của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước Trên thực tế, thủ tục hành chính liên quan đến nhiều nội dung khác nhau và thông thường phải kể đến:1
- Các công việc phải thực hiện khi tiến hành những hoạt động quản lý hành chính nhà nước;
- Trình tự thực hiện, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong quản lý hành chính nhà nước
Như vậy, TTHC đảm bảo cho công việc đạt được mục đích đã định, phù hợp với thẩm quyền của cơ quan nhà nước hoặc của các cá nhân, tổ chức được ủy quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước Ở góc độ pháp luật, TTHC là những quy định pháp luật có nội dung là trình tự, cách thức giải quyết công việc của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản công an nhân dân,
Hà Nội, trang 145
Trang 15có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ hành chính và giữa các chủ thể quản
lý hành chính nhà nước có thẩm quyền với các tổ chức, cá nhân có liên quan
Dựa trên những luận điểm khoa học nêu trên, Nghị định
63/2010/NĐ-CP, ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính đã định
nghĩa TTHC là "trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do
cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc
cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức".2
Trên cơ sở định nghĩa về TTHC như đã nêu trên, Nghị định 63/2010/NĐ-CP, ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát TTHC cũng quy định về các thành tố hợp thành một TTHC được xây dựng và thực hiện trong quản lý hành chính nhà nước3 Theo quy định hiện hành, một TTHC được quy định và thực hiện trong quản lý hành chính nhà nước bao gồm các thành tố bắt buộc sau đây:
- Tên TTHC;
- Trình tự thực hiện;
- Cách thức thực hiện;
- Thành phần, số lượng hồ sơ;
- Thời hạn giải quyết;
- Đối tượng thực hiện TTHC;
- Cơ quan giải quyết TTHC
Ngoài các thành tố nêu trên, trong thành tố của một số loại TTHC còn có thể có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, kết quả thực hiện TTHC, yêu cầu, điều kiện, phí,lệ phí
Trang 16Như vậy, quy định nêu trên của pháp luật đã giúp chúng ta hình dung một cách cụ thể, rõ ràng hơn về TTHC
1.1.2 Đặc điểm của thủ tục hành chính
Dù đều là những thủ tục được pháp luật quy định và gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, nhưng TTHC có sự phân biệt với thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp ở một số đặc điểm chung, cơ bản sau đây:4
Thứ nhất, TTHC là thủ tục thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà
nước, được thực hiện bởi các chủ thể quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương và thường được gọi là chủ thể thực hiện TTHC (hay chủ thể giải quyết TTHC) Khi thực hiện TTHC, các chủ thể này thực hiện những nhiệm
vụ, quyền hạn được pháp luật quy định Cùng với chủ thể thực hiện TTHC, còn có các chủ thể tham gia TTHC (còn được gọi là đối tượng thực hiện TTHC) Đây chính là những cá nhân, tổ chức có thẩm quyền, nghĩa vụ trong quản lý hành chính nhà nước và tham gia TTHC để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
Thứ hai, TTHC được pháp luật hành chính quy định Những quy phạm
pháp luật hành chính quy định TTHC là những quy phạm TTHC Quy phạm vật chất (nội dung) xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các cá nhân, tổ chức trong các mối quan hệ pháp luật điều chỉnh còn quy phạm thủ tục quy định trình tự, cách thức thực hiện các quy phạm nội dung Các quy phạm TTHC không chỉ quy định thủ thục thực hiện quy phạm vật chất của ngành luật hành chính, mà cả quy phạm vật chất của hầu hết các ngành luật khác
Thứ ba, TTHC phong phú, đa dạng và có tính mềm dẻo, linh hoạt Hoạt
động quản lý hành chính nhà nước phong phú, da dạng về nội dung cũng như hình thức thể hiện nên tương ứng với điều này thủ tục để thực hiện hoạt động quản lý nhà nước cũng đa dạng, phong phú Trong quá trình thực hiện, phù
4 Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản công an nhân dân,
Hà Nội, trang 146
Trang 17hợp với yêu cầu thực tế của từng hoạt động quản lý hành chính nhà nước, việc linh hoạt trong quy định và tổ chức thực hiện TTHC cũng đặt ra bảo đảm tối
ưu hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong quản lý hành chính nhà nước Tính linh hoạt của TTHC còn thể hiện ở việc bãi bỏ TTHC cũ, quy định TTHC mới, thay đổi các TTHC đã có luôn phải bảo đảm thích ứng với sự biến đổi linh hoạt của hoạt động quản lý hành chính nhà nước
- Nguyên tắc pháp chế: Nguyên tắc này đòi hỏi:
+ Chỉ cơ quan nhà nước có thẩm quyền do luật định mới có quyền định
ra thủ tục hành chính
+ Thủ tục hành chính được ban hành phải bảo đảm sự đồng bộ, theo đó TTHC do cấp dưới quy định phải phù hợp với TTHC của cấp trên; của địa phương phải phù hợp với trung ương; của cơ quan quản lý ngành phải phù hợp với cơ quan hành chính có thẩm quyền chung
+ Chỉ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền mới có quyền thực hiện thủ tục hành chính và thực hiện thủ tục hành chính trong phạm vi thẩm quyền
Trang 18- Nguyên tắc khách quan
+ Việc quy định TTHC không phải xuất phát từ ý chí chủ quan của chủ thể ban hành quy định TTHC mà phải xuất phát từ nhu cầu khách quan của hoạt động quản lí hành chính nhà nước Có như vậy, TTHC với tính chất là cách thức tổ chức hoạt động quản lý hành chính nhà nước mới có khả năng đem lại hiệu quả tốt nhất Điều này có nghĩa là nếu hoạt động quản lý hành chính nhà nước có tác động lớn đến các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân, ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng, xã hội thì TTHC tương ứng phải quy định chi tiết, chặt chẽ Ngược lại, nếu nội dung quản lý hành chính nhà nước đơn giản, thì TTHC cần phải gọn nhẹ, linh hoạt, không gây phiền hà cho chủ thể tham gia THHC
+ Khi thực hiện thủ tục hành chính ở tất cả các khâu, các bước, các giai đoạn đều phải dựa trên những căn cứ khoa học, không tùy tiện, tự ý thêm bớt những yêu cầu, điều kiện không có cơ sở khoa học, hợp lý
- Nguyên tắc công khai, minh bạch
+ Trong trường hợp cần thiết Nhà nước tạo điều kiện cho những đối
tượng thực hiện thủ tục đóng góp ý kiến
+ Nội dung các thủ tục phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện
+ Các thủ tục hành chính phải được công bố cho người thực hiện thủ tục biết để có thể thực hiện dễ dàng
+ Quá trình thực hiện TTHC phải được công khai hóa dưới những hình thức khác nhau, bảo đảm cho Nhà nước, người có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân có liên quan phải có điều kiện giám sát, theo dõi việc thực hiện này
- Nguyên tắc đơn giản, tiếp kiệm, nhanh chóng, kịp thời
Nguyên tắc này có liên quan nhiều đến việc xây dựng các quy định TTHC và nó có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc khách quan Chủ thể có thẩm quyền quy định TTHC cần cố gắng xác định những nội dung thực sự
Trang 19cần thiết cho việc thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước; ấn định
rõ ràng những khoảng thời gian phù hợp nhất để thực hiện các nội dung của TTHC; sắp xếp trình tự thực hiện hợp lý, tránh gây những phiền hà không đáng có; đồng thời cũng phải đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện Trong quá trình thực hiện TTHC cần có những bước cải cách phù hợp để đảm bảo hiệu quả cao nhất cho việc thực hiện và tham gia các TTHC
- Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của các bên tham gia TTHC Nguyên tắc này chủ yếu được áp dụng trong thủ tục giải quyết các tranh chấp về quyền hoặc các vi phạm pháp luật
Về bản chất, quan hệ TTHC giữa chủ thể thực hiện TTHC và chủ thể tham gia TTHC là quan hệ pháp luật hành chính giữa chủ thể bắt buộc - chủ thể được sử dụng quyền lực Nhà nước (chủ thể thực hiện TTHC) và chủ thể thường - chủ thể phục tùng quyền lực nhà nước (chủ thể tham gia TTHC) Sự bất bình đẳng về ý chí của hai bên trong quan hệ TTHC là khá rõ nét Tuy nhiên, cả hai bên tham gia quan hệ TTHC đều bình đẳng trước pháp luật Mỗi bên đều có thể làm xuất hiện TTHC và yêu cầu hợp pháp của bất cứ bên nào đều có thể làm cơ sở phát sinh quan hệ TTHC Mặt khác trong việc đưa ra yêu cầu hợp pháp, mỗi bên đều phải đáp ứng yêu cầu hợp pháp bên kia Trong quan hệ TTHC, mỗi bên đều có những quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định Nhà nước tạo điều kiện và đưa ra những bảo đảm như nhau cho các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ Nếu xảy ra vi phạm pháp luật trong khi thực hiện TTHC thì chủ thể vi phạm pháp luật, bất kể là chủ thể nào trong thủ tục đều phải chịu trách nhiệm pháp lí về hành vi của mình
1.1.4 Vai trò của thủ tục hành chính
TTHC đảm bảo cho các quy phạm vật chất luật hành chính và quy phạm vật chất của một số ngành luật khác được thực hiện trong thực tiễn TTHC bảo đảm cho việc thi hành các quyết định hành chính được thống nhất
và có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý cũng như các hệ quả do việc
Trang 20thực hiện các quyết định hành chính được tạo ra Việc xây dựng và thực hiện TTHC theo đúng các nguyên tắc đã được pháp luật quy định có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước, giảm sự phiền hà, sách nhiễu của hệ thống công quyền gây ra cho người dân, doanh nghệp, góp phần quan trọng vào việc củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước với các cá nhân,tổ chức khác trong xã hội
Các quy phạm TTHC cũng là một bộ phận của pháp luật về hành chính, nên việc xây dựng và thực hiện tốt các TTHC sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình xây dưng và triển khai pháp luật Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang tiếp tục công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ kiến tạo thì TTHC lại càng có vai trò quan trọng TTHC có ý nghĩa như một chiếc cầu nối quan trọng giữa cơ quan nhà nước với nhân dân và doanh ngiệp Làm bền chặt các mối quan hệ, làm cho Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân
Thủ tục hành chính nội bộ: TTHC nội bộ là thủ tục thực hiện các công
việc nội bộ của cơ quan, công sở trong hệ thống cơ quan nhà nước và trong
bộ máy nhà nước nói chung Nó bao gồm các thủ tục quan hệ lãnh đạo, kiểm tra của cơ quan nhà nước cấp trên với cấp dưới, quan hệ hợp tác, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước cùng cấp, ngang cấp, quan hệ công tác giữa chính
quyền các cấp với nhau
6 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
Trang 21Thủ tục hành chính liên hệ: Là thủ tục giải quyết các công việc liên
quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, phòng ngừa, ngăn chặn, xử phạt các hành vi vi phạm hành chính, trưng thu, trưng mua các động sản và bất động sản của tổ chức và cá nhân khi Nhà nước có nhu cầu giải quyết một nhiệm vụ nhất định vì lợi ích cộng đồng Việc xây dựng và thực hiện các thủ tục này phụ thuộc vào quan niệm về mối quan hệ giữa Nhà nước
và nhân dân, về vai trò Nhà nước trong quản lý TTHC liên hệ ảnh hưởng rõ rệt tới hiệu quả quản lý và người dân đánh giá thái độ, năng lực hoạt động của chính quyền chủ yếu thông qua việc thực hiện các thủ tục này Thủ tục hành chính liên hệ rất đa dạng như: Thủ tục cho phép; thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính; thủ tục trưng thu, trưng dụng
1.2 Cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam
1.2.1 Sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính
TTHC liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan nhà nước, một cấp chính quyền, cả hệ thống nhà nước cũng như liên quan đến mối quan hệ giữa cá nhân, tổ chức với Nhà nước Các yêu cầu, nguyện vọng chính đáng, các quyền, nghĩa vụ pháp lý của cá nhân, tổ chức muốn được thực hiện trên thực tế hầu như đều gắn với TTHC do các cơ quan nhà nước ở các cấp chính quyền trực tiếp giải quyết Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng hội nhập khu vực và quốc tế, vai trò của việc xây dựng và thực hiện TTHC tuân thủ các nguyên tắc khách quan công khai minh bạch, hiệu quả, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người dân và doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ sự cần thiết phải tiến hành cải cách hành chính trong đó cải cách TTHC và coi đây là một giải pháp quan trọng góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Trên thực tế, cải cách TTHC đã được đặt ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình cải cách hành chính ở nước ta Cải cách TTHC đã có những
Trang 22tác động đáng kể đối với việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần gỡ
bỏ những rào cản về TTHC đối với môi trường kinh doanh và đời sống của người dân; giúp cắt giảm thời gian, chi phí của người dân và doanh nghiệp trong việc tham gia các TTHC Đồng thời, công cuộc cải cách TTHC đã góp phần nâng cao hành ảnh, lòng tin của nhân dân và doanh nghiệp vào Nhà nước, các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, ổn định và phát triển, từ đó nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả rất đáng khích lệ, cải cách TTHC của nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Thực tế ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều loại thủ tục ở nhiều lĩnh vực khác nhau, thậm chí có nhiều loại TTHC phức tạp, rườm rà, nhiều tầng nấc trung gian, vẫn mang nạng dấu ấn của cơ chế "xin - cho", gây tốn kém, phiền hà cho người dân, doanh nghiệp và
tổ chức Trong việc thực hiện TTHC, nhiều cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức vẫn coi trọng việc dành thuận lợi cho phía Nhà nước, ít chú ý đến việc tạo điều kiện thuận lợi và giảm bớt chi phí cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp; ở nhiều địa phương, cơ quan sự chồng chéo, thiếu công khai, minh bạch trong thực hiện TTHC vẫn xảy ra Tất cả những bất cập, hạn chế này đã cản trở hoạt động của nền hành chính cũng như hoạt động của các ngành, lĩnh vực liên quan, kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước, tạo ra những rào cản cho việc mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế, giảm khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Vì vậy, cải cách TTHC nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân; loại bỏ những TTHC rườm rà, chồng chéo, bất hợp lý, dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho người dân là nhu cầu cần thiết, khách quan trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Mục tiêu của cải cách thủ tục hành chính
Trang 23Trong bối cảnh hiện nay, cải cách TTHC ở nước ta, hướng đến các mục tiêu cụ thể dưới đây:
Thứ nhất, phát hiện và xoá bỏ những TTHC thiếu đồng bộ, chồng chéo,
rườm rà, phức tạp gây trở ngại trong việc tiếp nhận và xử lý công việc giữa các
cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước với cá nhân và tổ chức
Thứ hai, xây dựng và ban hành các TTHC giải quyết công việc đơn
giản, rõ ràng, nhanh gọn, thống nhất và phù hợp với thực tiễn
Thứ ba, Tổ chức thực hiện TTHC đảm bảo đúng quy định, tạo thuận lợi
cho cá nhân, tổ chức; nâng cao mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với việc thực hiện TTHC của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước
1.2.3 Các yêu tố tác động trực tiếp đến cải cách thủ tục hành chính
Việc thực hiện cải cách TTHC có hiệu quả phải thực hiện đồng bộ từ khâu xây dựng và ban hành TTHC, đến việc tổ chức thực hiện TTHC ở các cơ quan nhà nước, bên cạnh đó còn phụ thuộc vào trình độ hiểu biết và ý thức pháp luật của người dân
Về cơ bản các yếu tố sau đóng vai trò quan trọng tác động đến cải cách TTHC:
Hệ thống văn bản pháp luật về TTHC và cơ chế chính sách liên quan:
Để thực hiện có hiệu quả một TTHC không chỉ có các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp quy định TTHC mà còn rất nhiều các quy định khác của các cơ quan nhà nước ảnh hưởng đến Một quy định hành chính, TTHC được ban hành ra để giải quyết các công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức chỉ được thực hiện một cách thuận lợi khi các văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước được phân công, phân nhiệm rõ ràng, đồng bộ và thống nhất Bên cạnh đó việc ban hành ra các TTHC phải hợp Hiến và hợp pháp, phải phù hợp với yêu cầu thực tiễn và đáp ứng được lợi ích của Nhà
Trang 24nước và người dân Cùng với đó là chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp thực thi công vụ cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các TTHC
Công tác cán bộ: Đội ngũ cán bộ có ảnh hưởng quyết định đến hiệu
lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy cơ quan nhà nước, đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Cán bộ, công chức có trình độ, năng lực, có phẩm chất chính trị, đạo đức, trách nhiệm, vì lợi ích thật sự của người dân sẽ giải quyết các công việc được thấu tình, đạt lý; ngược lại những cán bộ, công chức
có năng lực, trình độ chuyên môn yếu, có thái độ sách nhiễu, vụ lợi cá nhân sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện cải cách TTHC, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Thực tế cho thấy mức độ hài lòng của người dân đối việc giải quyết công việc của các cơ quan nhà nước phần lớn phụ thuộc vào phương pháp giải quyết công việc và thái độ, ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức
Cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc thực
hiện cải cách TTHC Cơ sở vật chất bao gồm trụ sở làm việc, các thiết bị văn phòng, điều kiện làm việc, các trang thiết bị máy tính, máy in, internet và việc ứng dụng khoa học, công nghệ để cải tiến phương thức làm việc của các cơ quan nhà nước, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Nếu không được trang bị đầy đủ thì việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân sẽ rất khó thực hiện được
Công khai, minh bạch TTHC: Việc công khai, minh bạch TTHC, quy
trình thực hiện TTHC phải được thực hiện đầy đủ, kịp thời và đúng quy định, các hình thức công khai phải thuận tiện, bảo đảm cho người dân dễ tiếp cận, tìm hiểu TTHC Bên cạnh việc công khai minh bạch các quy định TTHC, công khai, minh bạch thông tin liên lạc liên quan đến tổ chức, cá nhân, người
có trách nhiệm giải quyết TTHC cũng rất quan trọng, bởi lẽ việc làm này tạo điều kiện cần thiết cho người dân và doanh nghiệp có thể trực tiếp trao đổi, làm rõ vẫn đề trong quá trình tham gia vào các TTHC có liên quan
Trang 25Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật: Các chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước phải được quán triệt, phổ biến
học tập kịp thời, đầy đủ và thường xuyên trong nhân dân, để nhân dân hiểu, ủng hộ và tạo sự đồng thuận
1.3 Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông
1.3.1 Khái niệm cơ chế một cửa liên thông
Để cải cách TTHC theo hướng tinh gọn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tham gia TTHC, tránh được phiền hà, tiết kiệm chi phí, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước, cơ chế một cửa, một cửa liên thông đã được đề xuất trong việc tiếp nhận yêu cầu giải quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức Văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận về cơ chế một cửa, một cửa liên thông là Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Văn bản pháp luật này sau đó được thay thế bằng Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Gần đây nhất, trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cải cách TTHC, ngày 23/4/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2018/NĐ-CP về thực hiện
cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, thay thế Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ và có hiệu lực thi hành từ ngày 21 tháng 6 năm 2018 So với các văn bản pháp luật trước đây quy định về cơ chế một cửa, một cửa liên thông, Nghị định này có nhiều đổi mới, thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của cải cách TTHC trong giai đoạn hiện nay
Về thực chất, cơ chế một cửa hay một cửa liên thông trong giải quyết TTHC là giải pháp đổi mới cách thức tổ chức, giải quyết công việc trong thực hiện TTHC của các chủ thể có thẩm quyền theo hướng bảo đảm thực hiện
Trang 26triệt để các nguyên tắc thực hiện TTHC đã được pháp luật quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng tham gia TTHC, tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ quan công quyền với các tổ chức, cá nhân Quy định của pháp luật hiện hành phân biệt "cơ chế một cửa" và "cơ chế một cửa liên thông" trong giải quyết TTHC Vì vậy, cần thiết phải làm rõ nội hàm của hai thuật ngữ này
Theo quy định của pháp luật hiện hành "cơ chế một cửa" trong giải quyết TTHC được hiểu là "phương thức tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân của một cơ quan có thẩm quyền thông qua Bộ phận Một cửa"7 Trong khi đó "cơ chế một cửa liên thông"
trong giải quyết TTHC được hiểu là " phương thức phối hợp giữa các cơ quan
có thẩm quyền trong tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả giải quyết một thủ tục hành chính hoặc một nhóm thủ tục hành chính có liên quan với nhau, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân thông qua Bộ phận Một cửa".8
Như vậy, "cơ chế một cửa" và "một cửa liên thông" trong giải quyết TTHC đều liên quan đến những công việc cơ bản của hoạt động giải quyết TTHC như hồ sơ, giải quyết, trả kết quả giải quyết TTHC cũng như việc theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC Điều đặc biệt quan trọng là trong "cơ chế một cửa" và "một cửa liên thông", thiết chế có tên gọi "Bộ phận Một cửa" là đầu mối duy nhất "hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết hoặc chuyển
hồ sơ giải quyết, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân"9 Đây chính
là yếu tố thể hiện rõ nội dung cải cách TTHC Bởi lẽ nếu không có thiết chế
Trang 27"Bộ phận Một cửa" này, những công việc liên quan đến hoạt động giải quyết TTHC được thực hiện thông qua nhiều đầu mối, tầng nấc khác nhau, làm cho TTHC trở nên cồng kềnh, phức tạp, gây phiền hà, tốn kém
Sự khác biệt giữa "cơ chế một cửa" và "một cửa liên thông" thể hiện ở chỗ: "Cơ chế một cửa" liên quan đến việc giải quyết TTHC của một cơ quan
có thẩm quyền; trong khi đó "một cửa liên thông" liên quan đến việc giải quyết TTHC của nhiều cơ quan có thẩm quyền Liên thông trong "một cửa liên thông" có thể là liên thông giữa các cơ quan có thẩm quyền cùng cấp (liên thông ngang) và liên thông giữa các cơ quan có thẩm quyền không cùng cấp hành chính (liên thông dọc)
Để "cơ chế một cửa" cũng như "một cửa liên thông" thực sự là phương thức tạo bước chuyển căn bản trong việc thực hiện TTHC nói riêng, cải cách TTHC nói chung, cần thiết phải xác lập những nguyên tắc chỉ đạo việc thực hiện những cơ chế này trong thực tiễn giải quyết TTHC Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc thực hiện "cơ chế một cửa" cũng như "một cửa liên thông" đều cần quán triệt những nguyên tắc cơ bản dưới đây:10
- Lấy sự hài lòng của tổ chức, cá nhân là thước đo chất lượng và hiệu quả phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan có thẩm quyền
- Việc giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân theo cơ chế một cửa liên thông được quản lý tập trung, thống nhất
- Giải quyết TTHC kịp thời, nhanh chóng, thuận tiện, đúng pháp luật, công bằng, bình đẳng, khách quan, công khai minh bạch và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền
- Quá trình giải quyết TTHC được đôn đốc, kiểm tra, theo dõi, giám sát, đánh giá bằng các phương thức khắc nhau trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và có sự tham gia của tổ chức, cá nhân
10 Điều 4 Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ quy định về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính
Trang 28- Không làm phát sinh chi phí thực hiện TTHC cho tổ chức, cá nhân ngoài quy định của pháp luật
- Cán bộ, công chức, viên chức cơ quan có thẩm quyền thực hiện trách nhiệm giải trình về thực thi công vụ trong giải quyết TTHC theo quy định của pháp luật
- Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế
có liên quan đến thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết TTHC
mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập
1.3.2 Ý nghĩa của việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông
Việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông nhằm đảm bảo thuận lợi nhất cho tổ chức và cá nhân tham gia các TTHC trong quản lý hành chính nhà nước Cơ chế này tạo sự thống nhất, đồng bộ và thông suốt trong quá trình giải quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức Cơ chế "một cửa liên thông" với thiết chế "Bộ phận Một cửa" góp phần quan trọng vào việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời TTHC liên quan đến các cá nhân, tổ chức, bảo đảm thực hiện TTHC đúng pháp luật, chống phiền hà, sách nhiễu hoặc những biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi nhiệm vụ
Việc thực hiện cơ chế này đã góp phần nâng cao năng lực hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Tổ chức bộ máy được sắp xếp lại tổ chức theo hướng go ̣n nhẹ, hợp lý, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả bằng việc xác định rõ trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan các cấp của từng cán bộ, công chức Mối quan hệ giữa các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền trong phối hợp giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân được thắt chặt
Thông qua thực hiện cơ chế một cửa liên thông năng lực, trách nhiệm,
ý thức, thái độ phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức được nâng cao nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Trang 29Cơ chế một cửa liên thông góp phần tạo lập niềm tin của nhân dân vào
cơ quan công quyền bằng thái độ phục vụ thân thiện của cán bộ, công chức, viên chức Đảm bảo cho mỗi người dân có thể tham gia vào hoạt động giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nước
1.4 Một số nội dung cơ bản của cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính của chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật hiện hành
Như đã nêu trên, so với các văn bản pháp luật trước đây quy định về cơ chế một cửa, một cửa liên thông, Nghị định 61/2018/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính
có một số điểm mới, một trong số đó là việc mở rộng đối tượng áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC Hiện tại không chỉ các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương như trước đây mà các Bộ, cơ quan ngang Bộ; Tổng cục và tương đương, cục, vụ thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết TTHC và tham gia vào quá trình giải quyết TTHC cũng áp dụng cơ chế này trong giải quyết TTHC để tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện TTHC cũng như đảm bảo khả năng theo dõi, giám sát việc giải quyết TTHC thống nhất ở cả trung ương và địa phương Ngoài
ra Nghị định này cũng khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và các cơ quan, tổ chức khác áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong việc giải quyết thủ tục nói chung cho các cá nhân, tổ chức
Tuy nhiên phải phù hợp với nội dung nghiên cứu, phần này của Luận văn chỉ đề cập đến một số nội dung cơ bản của một cửa liên thông trong giải quyết TTHC của chính quyền địa phương
1.4.1 "Bộ phận Một cửa" trong cơ chế một cửa liên thông ở địa phương
Như đã nêu trên, trong cơ chế một cửa nói chung, một cửa liên thông nói riêng, thiết chế "Bộ phận Một cửa" là yếu tố mấu chốt của việc triển khai thực hiện TTHC theo cơ chế này Pháp luật hiện hành quy định "Bộ phận Một
Trang 30cửa" là tên gọi chung của Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính hoặc Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết hoặc chuyển hồ sơ giải quyết, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân".11
Pháp luật hiện hành cũng quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ phận Một cửa, trách nhiệm của người đứng đầu Bộ phận Một cửa, người làm việc tại Bộ phận Một cửa, tiêu chuẩn, trách nhiệm, quyền lợi, thời hạn làm việc của công chức, viên chức làm việc tại Bộ phận Một cửa và những yêu cầu liên quan đến điều kiện cơ sở vật chất để làm việc Trong đó cần đặc biệt chú ý đến việc bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại Bộ phận Một cửa là người của các cơ quan, đơn vị, phòng ban chuyên môn cử đến phải là những người am hiểu về nghiệp vụ, đảm bảo các tiêu chuẩn, trách nhiệm theo quy định của pháp luật Đồng thời Bộ phận Một cửa phải có trang thiết bị điện tử và áp dụng phần mềm điện tử trong các giao dịch hành chính giữa các cá nhân, tổ chức với các cơ quan hành chính nhà nước và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau trong việc công khai, hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ để chuyển đến các cơ quan chuyên môn giải quyết và nhận kết quả cho cá nhân, tổ chưc.12
Ở cấp tỉnh, theo quy định của pháp luật hiện hành, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh quyết định thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh thuộc Văn phòng UBND cấp tỉnh Đây là đơn vị hành chính đặc thù,
có con dấu và tài khoản riêng để phát huy được tính chủ động, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ, do lãnh đạo Văn phòng đứng đầu và dưới sự chỉ đạo trực tiếp Chủ tịch UBND cấp tỉnh Cơ sở vật chất, trụ sở, tranh thiết bị, máy móc,
kỹ thuật của Trung tâm Phục vụ hành chính công do Văn phòng UBND cấp
Trang 31tỉnh bảo đảm và quản lý Riêng đối với Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, pháp luật hiện hành quy định, UBND thành phố căn cứ tần suất tiếp nhận hồ
sơ TTHC, tình hình bố trí trụ sở của các cơ quan chuyên môn và điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, trình Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố quyết định số lượng Trung tâm Phục vụ hành chính công của thành phố Trường hợp địa phương chưa đủ điều kiện thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công thì giao cho người đứng đầu cơ quan chuyên môn đó và giao cho Văn phòng UBND cấp tỉnh nhiệm vụ tổng hợp theo dõi, giám sát, đôn đốc việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan chuyên môn thông quan Hệ thống Thông tin một cửa điện tử các tỉnh
Cơ sở vật chất, trụ sở, tranh thiết bị, máy móc, kỹ thuật của Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả tại các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh do cơ quan đó đảm bảo
Ở cấp huyện UBND cấp huyện quyết định thành lập Bộ phận Tiếp nhận
và Trả kết quả thuộc Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện bảo đảm và quản lý trụ sở, trang thiết bị, máy móc, phần mềm ứng dụng, hệ thống mạng Ở cấp xã, UBND cấp xã quyết định thành lập Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả thuộc UBND cấp xã
1.4.2 Quy trình hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trong
cơ chế một cửa liên thông ở địa phương
Theo quy định của pháp luật hiện hành cán bộ, công chức của Bộ phận Một cửa có trách nhiệm hướng dẫn các cá nhân, tổ chức kê khai, chuẩn bị hồ
sơ TTHC và chuẩn bị các điều kiện khác để giải quyết TTHC Việc hướng dẫn này có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau: Trực tiếp tại Bộ phận Mộ cửa; qua tổng đài điện thoại hoặc số điện thoại chuyên dùng; hướng dẫn trực tuyến; bằng văn bản gửi qua đường bưu điện 13
13 Điều 15 Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ quy định về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính
Trang 32Theo quy định của pháp luật hiện hành tổ chức, cá nhân tham gia THHC có thể nộp hồ sơ, nhận kết quả giải quyết TTHC theo một trong các cách thức: Trực tiếp tại Bộ phận Mộ cửa; trực tuyến tại cổng dịch vụ công cấp tỉnh; thông qua dịch vụ bưu chính công ích; dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật Toàn bộ quy trình từ tiếp nhận, chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết, phân công cán
bộ, công chức, viên chức xử lý, xem xét, thẩm định hồ sơ, trình phê duyệt kết quả giải quyết TTHC được thực hiện trên Hệ thống thông tin một cửa điện tử, đảm bảo khả năng theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết.14
Ở cấp tỉnh Trung tâm Phục vụ hành chính công tiếp nhận hồ sơ TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của UBND cấp tỉnh, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, những TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết thuộc cơ quan được tổ chức theo
hệ thống ngành dọc tại địa phương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, những TTHC thuộc thảm quyền giải quyết của các Bộ, ngành thuộc UBND cấp huyện được giao tiếp nhận tại Trung tâm Phục vụ hành chính công Trường hợp không có Trung tâm Phục vụ hành chính công mà thành lập Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thì bộ phận này tiếp nhận TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của cơ quan mình, TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của các Bộ, ngành, UBND các huyện được giao tiếp nhận tại cơ quan chuyên môn cấp tỉnh.15
Ở cấp huyện, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả thực hiện tiếp nhận hồ
sơ tất cả TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của UBND cấp huyện, một số TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của các cơ quan được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, TTHC thuộc thẩm quyền giải
Trang 33quyết của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND cấp xã được giao tiếp nhận tại cấp huyện.16
Ở cấp xã, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả tiếp nhận hồ sơ TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp xã và những TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện được giao tiếp nhận tại cấp xã.17
Toàn bộ quy trình giải quyết TTHC bao gồm các bước: Tiếp nhận hồ
sơ TTHC, chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết, giải quyết TTHC, trả hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC được thực hiện theo những quy định cụ thể, rõ ràng thông qua đầu mối Bộ phận Một cửa
Kết luận Chương 1
Trong chương này, luâ ̣n văn đã tâ ̣p trung khái quát một số lý luâ ̣n và pháp lý chung nhất về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa nói chung Đã làm rõ được khái niệm, đặc điểm, các nguyên tắc, vai trò của thủ tục hành chính, các loại thủ tục hành chính, sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính, mục tiêu của cải cách thủ tục hành chính, các yêu tố tác động trực tiếp đến cải cách thủ tục hành chính Trong đó đặc biệt đã làm rõ khái niệm cơ chế một cửa liên thông, ý nghĩa của việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông Đồng thời phân tích một số nội dung cơ bản của cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính của chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật hiện hành Những nội dung này tạo cơ sở cần thiết để đánh giá thực tiễn cải cách thủ tục hành chính theo
cơ chế một cửa liên thông được trình bày trong Chương 2 của Luận văn này
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA LIÊN THÔNG TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH
ĐIỆN BIÊN 2.1 Khái quát chung về huyện Điện Biên Đông
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Điện Biên Đông
Huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên là một huyện vùng cao miền núi được tách ra từ 10 xã vùng cao của huyện Điện Biên theo Nghị định 59/NĐ-CP, ngày 07/10/1995 của Chính phủ, chính thức đi vào hoạt động từ 20/01/1996 Huyện Điện Biên Đông nằm ở phía Đông Nam tỉnh Điện Biên và
có vị trí như sau: Phía Bắc giáp huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Phía Đông giáp huyện Sông Mã, Sốp Cốp, Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Phía Tây Bắc giáp huyện Điện Biên và Thành Phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điên Biên; Phía Tây Nam và phía Nam giáp huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Huyện có diện tích tự nhiên trên 120 nghìn ha, địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều khe suối, vực sâu; đồi núi chiếm 90% diện tích đất tự nhiên Toàn huyện có 14 đơn vị hành chính, với 243 bản và tổ dân cư, trong
đó có 13 xã thuộc diện đặc biện khó khăn (nằm trong Chương trình 135 của Chính phủ); dân số toàn huyện trên 64 nghìn người, mật độ dân số: 52,6 người/km2; có 6 dân tộc chính sinh sống, trong đó dân tộc Mông chiếm đa số trên 53% tổng dân số
Là huyện có địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, xa các trung tâm không có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội; trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, nền kinh tế còn nhỏ lẻ chưa phát triển, sản phẩm chính của huyện là nông sản và chăn nuôi
Trang 352.1.2 Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn, nguyên tắc làm việc của UBND
Cơ cấu tổ chức: Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày
19/6/2015, UBND huyện gồm Chủ tịch và 2 Phó Chủ tịch và các Ủy viên là trưởng của 13 phòng chuyên môn và Ủy viên phụ trách công an là Trưởng Công an huyện, Ủy viên phụ trách Quận sự là Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự huyện
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện gồm có 13 phòng chuyên môn và 8 đơn vị sự nghiệp gồm: Phòng Nội vụ, Tư pháp, Tài chính - Kế hoạch, Giáo dục - Đào tạo, Y tế, Văn hóa và Thông tin, Tài nguyên và Môi trường, Kinh tế hạ tầng, Lao động Thương binh và Xã hội, Văn phòng HĐND&UBND, Thanh tra huyện, phòng NN&PTNT, phòng Dân tộc; Ban quản lý dự án các công trình, Tổ chức phát triển quỹ đất, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Trạm khuyến nông - khuyến ngư, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên, Ban quản lý dự án giảm nghèo, Đài Truyền thanh - Truyền hình, Trung Tâm Chữa bệnh - Giáo dục LĐ-XH
Nhiệm vụ, quyền hạn: Xây dựng, trình HĐND quyết định các nội dung
sau và tổ chức thực hiện các Nghị quyết của HĐND huyện:
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm của huyện Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách huyện; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; quyết định, chủ trương đầu tư chương trình, dự án trên địa bàn huyện trong phạm vi được phân quyền
Quyết định các biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp; quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa
18 Quốc hội nước CHXHCNVN (2015), Luật Tổ chức chính quyền địa phương
Trang 36phương, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện
Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp
và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục, đào tạo, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hành chính tư pháp,
và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền Phân cấp, ủy quyền cho UBND xã, thị trấn, cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của UBND huyện
Nguyên tắc làm việc: 19UBND huyện làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể UBND huyện, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND huyện và các Ủy viên Ủy ban nhân dân huyện
Giải quyết công việc đúng phạm vi trách nhiệm, đúng thẩm quyền, bảo đảm sự lãnh đạo của Huyện ủy, sự giám sát của HĐND huyện và sự chỉ đạo, điều hành của cơ quan nhà nước cấp trên
Trong phân công công việc, mỗi việc chỉ giao cho một cơ quan, đơn vị, một người phụ trách và chịu trách nhiệm chính Cấp trên không làm thay công việc của cấp dưới, tập thể không làm thay công việc của cá nhân và ngược lại Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ phải chịu trách nhiệm trước UBND huyện, Chủ tịch UBND huyện về nhiệm vụ được giao
Tuân thủ trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết công việc theo quy định của pháp luật, chương trình, kế hoạch công tác và quy chế làm việc của UBND huyện
19 Ủy ban nhân dân huyện Điện Biên Đông (2016), Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 19/8/2016 về việc Ban hành Quy chế làm việc của UBND huyện Điện Biên Đông khóa V, nhiệm kỳ 2016 - 2021
Trang 37Đề cao sự phối hợp công tác, trao đổi thông tin trong giải quyết công việc, bảo đảm dân chủ, minh bạch trong mọi hoạt động theo đúng phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định
UBND huyện chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh Điện Biên, Huyện ủy; đồng thời chịu sự giám sát của HĐND huyện trong việc chỉ đạo, điều hành thực hiện các nghị quyết của Huyện ủy, HĐND huyện và đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
UBND huyện phối hợp chặt chẽ với Thường trực HĐND huyện trong việc chuẩn bị nội dung, chương trình làm việc của kỳ họp HĐND, các báo cáo, tờ trình, đề án của UBND huyện trình HĐND cùng cấp; giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện Nghị quyết của HĐND; giải quyết theo thẩm quyền các kiến nghị của HĐND, các Ban của HĐND huyện và trả lời chất vấn của đại biểu HĐND huyện
UBND huyện phối hợp với các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp thuộc UBND tỉnh Điện Biên trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội, giữ gìn quốc phòng - an ninh trên địa bàn
UBND huyện phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận tố quốc Việt Nam
và các Đoàn thể chính trị - xã hội chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia xây dựng, củng
cố chính quyền vững mạnh, tự giác thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước UBND huyện có trách nhiệm tạo điều kiện
để Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các Đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ; xem xét, giải quyết theo thẩm quyền các kiến nghị của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các Đoàn thể chính trị cùng cấp
20 Ủy ban nhân dân huyện Điện Biên Đông (2016), Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 19/8/2016 về việc Ban hành Quy chế làm việc của UBND huyện Điện Biên Đông khóa V, nhiệm kỳ 2016 - 2021
Trang 38UBND huyện phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân huyện trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật; bảo đảm thi hành pháp luật, giữ vững kỷ cương, kỷ luật hành chính
và tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật tại địa phương
2.2 Thực trạng về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điện Biên Đông
2.2.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điện Biên Đông
Nhằm hiện thực hóa công tác cải cách hành chính nói chung, cải cách TTHC nói riêng theo chủ trương chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và của cấp ủy, chính quyền cấp trên, Ban Thường vụ Huyện ủy Điện Biên Đông đã ban hành Chương trình hành động số 38-CTr/HU ngày 28/7/2008 về việc thực hiện Nghị
quyết TW5 (Khóa X) về "đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước"; Chủ tịch UBND huyện ban hành Kế
hoạch số 202/KH-UBND ngày 04/11/2008 để chỉ đạo các phòng, ban, ngành,
cơ quan, đơn vị, UBND các xã, thị trấn thực hiện Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện triển khai Nghị quyết TW5 (Khóa X) về
"đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ
máy nhà nước"
Trên cơ sở Quyết định số 1269/QĐ-UBND ngày 16/12/2011 của UBND tỉnh Điện Biên về việc phê duyệt Đề án triển khai thực hiện cơ chế một cửa liên thông tại UBND huyện Điện Biên Đông UBND huyện Điện Biên Đông đã ban hành các quyết định như: Quyết định số 2251/QĐ-UBND ngày 31/10/2013 thành lập Bộ phận một cửa liên thông huyện Điện Biên Đông; Quyết định số 2252/QĐ-UBND ngày 31/10/2013 về Ban hành quy trình thực hiện các TTHC tại Bộ phận một cửa liên thông huyện Điện Biên Đông; Quyết định số 2253/QĐ-UBND ngày 31/10/2013 về việc phân công lịch làm việc của cán bộ, công chức, viên chức tại bộ phận một cửa liên thông
Trang 39thông huyện Điện Biên Đông; Quyết định số 2254/QĐ-UBND ngày 31/10/2013 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Bộ phận một cửa liên thông huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên; Thông báo số 62/TB-UBND ngày 01/11/2013 về việc Bộ phận một cửa liên thông huyện Điện Biên Đông vào hoạt động
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Điện Biên Đông lần thứ
V nhiệm kỳ 2015-2020, Huyện ủy Điện Biên Đông đã có Chương trình số CTr/HU ngày 20/11/2015 về đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm, chất lượng phục vụ và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Bộ máy chính quyền các cấp trên địa bàn huyện Điện Biên Đông giai đoạn 2015-2020, bám sát mục tiêu, định hướng Chương trình cải cách hành chính của Chính phủ giai đoạn 2011-2020 tại Nghị quyết 30c/NQ-CP, trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác cải cách TTHC theo cơ chế một cửa liên thông theo tinh thần của Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg, nay là Nghị định số: 61/2018/NĐ-
06-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ
Ngay sau khi UBND tỉnh Điện Biên ban hành Văn bản số 1216/UBND-NCNV ngày 8/4/2015 về triển khai Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 23/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ UBND huyện Điện Biên Đông đã có văn bản chỉ đạo các phòng chuyên môn, Bộ phận Một cửa của UBND huyện và UBND các xã, thị trấn rà soát, kiện toàn lại tổ chức, sắp xếp cán bộ làm việc tại Bộ phận Một cửa, bổ sung, thay thế hệ thống văn bản, biểu mẫu, sổ sách đang thực hiện tại Bộ phận Một cửa làm sao đảm bảo đúng quy định, đặc biệt là quy trình giải quyết TTHC, không để cho nhân dân và doanh nghiệp phải đi lại, bổ sung hồ sơ quá một lần, nếu để hồ sơ quá hạn, không giải quyết được người có thẩm quyền phải có văn bản xin lỗi tổ chức,
cá nhân Đồng thời UBND huyện đã chỉ đạo Bộ phận Một cửa của UBND huyện và UBND các xã, thị trấn xây dựng, tổng hợp và niêm yết công khai, đầy đủ, kịp thời các văn bản liên quan đến TTHC, để thuận tiện cho tổ chức,
cá nhân tiếp cận khi đến yêu cầu giải quyết công việc
Trang 40Hằng năm UBND huyện đều xây dựng kế hoạch cải cách hành chính,
kế hoạch kiểm soát TTHC trên địa bàn huyện Điện Biên Đông Đồng thời thực hiện sơ kết, đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành cải cách TTHC theo yêu cầu cấp trên
2.2.2 Quá trình thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Một cửa liên thông là mô hình ứng dụng các trang thiết bị điện tử và công nghệ thông tin nhằm tin ho ̣c hóa các giao dịch về TTHC giữa cá nhân, tổ chức với UBND huyện, các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền liên quan trong việc tiếp nhâ ̣n, giải quyết hồ sơ theo cơ chế một cửa liên thông trên các lĩnh vực đã được UBND tỉnh quy định Mục đích thực hiện cơ chế một cửa liên thông là chuyển cơ quan hành chính từ trạng thái buộc tổ chức,
cá nhân phải tìm đến mình sang trạng thái tích cực chủ động chờ tổ chức, cá nhân đến để phục vụ và phục vụ một cách chu đáo; các lĩnh vực dịch vụ hành chính công được tâ ̣p trung chuyển hẳn về đầu mối Bộ phận Một cửa để tổ chức, cá nhân đến giải quyết tất cả các lĩnh vực thông thường trong đời sống
xã hội mà không bị gây phiền hà, gây tốn kém về tiền của, thời gian Vì vâ ̣y,
mô hình một cửa liên thông vừa là mục tiêu, vừa là quyết tâm xây dựng và thực hiện của Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền địa phương
2.2.2.1 Mục đích:
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện công tác cải cách TTHC và đầu tư các trang thiết bị, điều kiện làm việc hiện đại để nâng cao chất lượng phục cá nhân, tổ chức; điện tử hoá phương thức phục vụ cá nhân, tổ chức; quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ; công tác quản lý, thống kê, báo cáo tình trạng giải quyết hồ sơ theo cơ chế một cửa liên thông tại huyện
Điện Biên Đông
Tạo điều kiện thuâ ̣n lợi cho tổ chức, cá nhân đến giải quyết công việc nhanh chống, kịp thời, đúng pháp luật, giảm bất thời gian, tiền của; phục vụ