1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở tỉnh điện biên

93 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 4,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kết quả đạt được và những hạn chế yếu kém trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở Điện Biên 33 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO HOẠT ĐỘNG

Trang 1

CAO XUÂN TUÂN

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CAO XUÂN TUÂN

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật hiến pháp và Luật hành chính

Mã số : 8 38 01 02

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Thái Vĩnh Thắng

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Cao Xuân Tuân

Trang 4

hình sự và các mối quan hệ 7 1.2 Nội dung, vai trò, các điều kiện đảm bảo hoạt động tranh tụng tại

phiên tòa xét xử vụ án hình sự 16 1.3 Hoạt động tranh tụng trong xét xử vụ án hình sự của một số nước

trên thế giới và những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam 22

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA

TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN 32 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội, dân tộc của tỉnh Điện Biên 32 2.2 Những kết quả đạt được và những hạn chế yếu kém trong hoạt động

tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở Điện Biên 33

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO HOẠT

ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN

3.1 Các quan điểm về bảo đảm hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử

vụ án hình sự ở tỉnh Điện Biên 50 3.2 Những giải pháp bảo đảm hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử

vụ án hình sự ở tỉnh Điện Biên 57

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÀO

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự HĐXX : Hội đồng xét xử

TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao TTHS : Tố tụng hình sự

VAHS : Vụ án hình sự

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những vừa qua, hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung và hoạt động xét xử của ngành Tòa án nói riêng đã có những đóng góp quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao hơn của xã hội đối với việc bảo vệ công lý, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, hoạt động của các cơ quan tư pháp đã và đang bộc lộ những bất cập Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử còn có nhiều sai phạm, một mặt đã bỏ lọt tội phạm, mặt khác làm oan người vô tội mà hậu quả là vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, không bảo vệ triệt để các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Thực trạng trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân hoạt động xét xử của Tòa án chưa đề cao vai trò tranh tụng tại phiên tòa Thực tiễn xét xử trong thời gian qua cho thấy kết quả xét xử các vụ án còn dựa nhiều vào hồ sơ đã được chuẩn bị trước, việc tiến hành phiên tòa nhiều khi chỉ mang tính hình thức, tính dân chủ, khách quan trong hoạt động tố tụng như một đảm bảo quan trọng cho việc xét xử chính xác, đúng pháp luật, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án chưa được coi trọng đúng mức

Để đẩy mạnh công tác tư pháp cho ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

đã ra Nghị quyết số 08/NQ-TW về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp trong thời gian tới Nghị quyết đã chỉ ra những quan điểm chỉ đạo và một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp, trong đó có phần mở rộng tranh tụng tại phiên tòa

Năm 2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", Nghị quyết đã nêu rõ:

"Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách

nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp" 1

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội

Trang 8

Thực tế hiện nay, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Điện Biên diễn biến khá phức tạp, một số loại tội phạm có xu hướng gia tăng, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự và sự phát triển của tỉnh Từ đó đòi hỏi công tác xét xử của Tòa án phải được đổi mới theo hướng nâng cao chất lượng, nghiêm trị tội phạm, góp phần bảo vệ công lý, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển Muốn làm được điều này thì các nội dung liên quan đến tranh tụng tại phiên tòa như: Phạm vi, nội dung tranh tụng, chức năng của các chủ thể tham gia {Hội đồng xét xử (HĐXX), Kiểm sát viên, Luật sư } trong tranh tụng, phương pháp kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa phải có sự nhận thức thống nhất, đồng bộ Những người tiến hành

tố tụng phải được trang bị kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa Thiếu sự thống nhất trong nhận thức của thẩm phán, kiểm sát viên và luật sư về các nguyên tắc tố tụng tạo nên những khó khăn trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình

sự (VAHS) ở tỉnh Điện Biên

Vì lý do đó mà việc nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến tranh tụng tại phiên tòa; đánh giá thực trạng việc thực hiện tranh tụng tại phiên tòa

có ý nghĩa quan trọng cả trên phương diện lý luận lẫn phương diện thực tiễn ở tỉnh

Điện Biên, vì vậy tác giả đã chọn đề tài "Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động

tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Điện Biên" để nghiên cứu

viết luận văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong thời gian qua, tình hình nghiên cứu về tranh tụng đã được đề cập trong một số các bài viết trên tạp chí pháp lý chuyên ngành và trong các luận văn thạc sĩ luật học Những luận văn, bài viết này tập trung nghiên cứu ở một số khía cạnh, góc độ khác nhau như:

* Về đề tài khoa học và các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành

- Đề tài nghiên cứu khoa học "Tranh tụng tại phiên tòa - Một số vấn đề lý

luận và thực tiễn", của Học viện Tư pháp, năm 2003

- Bài viết "Bàn về một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tranh tụng

tại phiên tòa", của Nguyễn Mạnh Tiến, Tạp chí Tòa án nhân dân (TAND), số 17/2005

- Bài viết "Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện

hành nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm", của Nguyễn

Đức Mai, Tạp chí Luật học, số 7/2008

Trang 9

- Bài viết "Một số vấn đề về mối quan hệ giữa tranh tụng trong tố tụng hình

sự với chức năng xét xử của Tòa án trong bối cảnh cải cách tư pháp", của Nguyễn

Thường Tín, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10/2008

- Bài viết "Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng

hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam", của Nguyễn Đức Mai, Tạp chí

TAND, số 12/2009

- Bài viết "Vấn đề "Giới hạn của việc xét xử" trong luật tố tụng hình sự",

Tác giả: PGS.TS Phạm Hồng Hải, tháng 7/2011

- Bài viết "Nguyên tắc việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân

dân tham gia, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán: Thực tiễn và những bất cập",

của Trần Kỳ, tháng 3/2011

- Bài viết "Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng trong

phiên tòa hình sự", của ThS Nguyễn Kim Chi, tháng 04/2011

- Bài viết "Một số vấn đề giới hạn của việc xét xử", của ThS Đinh Văn

Quế, tháng 12/2011

- Bài viết "Vai trò của chủ tọa phiên tòa trong việc điều khiển tranh tụng tại

phiên tòa sơ thẩm hình sự", của ThS Đinh Văn Quế, tháng 12/2011

- Bài viết: "Một số vấn đề cần chú ý khi xét xử vụ án hình sự", của ThS Đinh

Văn Quế, tháng 12/2011

* Về đề tài khoa học:

- Luận văn thạc sĩ luật học "Thực hiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh

tụng trong xét xử án hình sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay", của Nguyễn Tiến Long,

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2005

- Luận văn thạc sĩ luật học "Chất lượng tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ

thẩm vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa", của

Mai Thị Nam, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2008

- Luận văn thạc sĩ luật học "Cơ sở lý luận và thực tiễn về tranh tụng tại

phiên tòa trong xét xử án hình sự", của Đỗ Anh Cường, Học viện Chính trị - Hành

chính Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2010

Các công trình và bài viết trên đã đề cập đến nguyên tắc tranh tụng và vấn

đề tranh tụng trong tố tụng hình sự (TTHS), trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật

Trang 10

TTHS, tuy nhiên cho đến nay tỉnh Điện Biên vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu

tương đối đầy đủ và toàn diện về đề tài "Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động

tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Điện Biên"

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Phân tích cơ sở lý luận về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử VAHS, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp bảo đảm hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử các VAHS ở tỉnh Điện Biên

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên luận văn có nhiệm vụ sau:

- Xây dựng khái niệm, đặc điểm, nội dung hoạt động tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử VAHS

- Đánh giá được thực trạng việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng, dân chủ trong quá trình tranh tụng tại các phiên tòa và chất lượng hoạt động xét xử của TAND tỉnh Điện Biên hiện nay

- Chỉ ra được những ưu điểm và khuyết điểm, hạn chế, bất cập trong việc tranh tụng tại các phiên tòa hiện nay; tìm ra nguyên nhân những khuyết điểm, hạn chế, bất cập đó

- Đưa ra những giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo hoạt động tranh tụng trong xét xử VAHS ở tỉnh Điện Biên nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xét xử của Tòa án; Từ đó đưa ra các quyết định, bản án khách quan, đúng pháp luật

4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Tranh tụng là vấn đề lớn trong hoạt động tố tụng xét xử các loại án, có nhiều nội dung thể hiện ở các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án Trong phạm

vi của một luận văn thạc sĩ, tác giả không thể xem xét và giải quyết hết mọi vấn đề

mà chỉ dừng lại nghiên cứu vấn đề tranh tụng tại phiên tòa xét xử VAHS

Với phạm vi nghiên cứu này, luận văn nghiên cứu về tranh tụng tại phiên tòa xét xử VAHS dưới góc độ lý luận, phân tích những quy định của pháp luật về tranh tụng tại phiên tòa, chỉ ra vướng mắc trong hoạt động thực tiễn của những chế định này Từ đó đưa ra những quan điểm, kiến nghị góp phần thực hiện tốt Nghị quyết 08/NQ-TW, Nghị quyết 49/NQ-TW nâng cao chất lượng của hoạt động xét

xử của Tòa án nói riêng và của các cơ quan tư pháp nói chung

Trang 11

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận của luận văn

Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm, chủ trương, nguyên tắc của Đảng trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

5.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh các tài liệu khoa học sơ cấp và thứ cấp; phương pháp khảo sát thực tiễn tranh tụng tại phiên tòa hình sự, phương pháp phỏng vấn các chuyên gia pháp luật, các thẩm phán có uy tín

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Là công trình nghiên cứu dưới góc độ Luật hiến pháp, nghiên cứu, phân tích về cơ sở lý luận và thực tiễn về tranh tụng tại phiên tòa xét xử án hình sự ở tỉnh Điện Biên luận văn có những điểm mới sau:

1 Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tranh tụng tại phiên tòa trong xét

xử VAHS, nâng cao nhận thức về nội dung, bản chất, ý nghĩa của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử VAHS trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người

và công dân

2 Luận văn khảo cứu các quy định pháp luật về tranh tụng tại phiên tòa, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định đó khi xét xử và chỉ ra những hạn chế tồn tại trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử VAHS ở tỉnh Điện Biên cũng như làm rõ nguyên nhân và điều kiện của những hạn chế đó

3 Đề xuất các giải pháp về hoàn thiện pháp luật, về cơ chế tổ chức, về đội ngũ cán bộ… nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử VAHS ở tỉnh Điện Biên hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ kiến thức của tác giả để áp dụng có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn

Góp phần hoàn thiện lý luận về tranh tụng nhằm nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử VAHS ở tỉnh Điện Biên

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy ở các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý

Trang 12

Tòa án nhân dân các cấp có thể tham khảo kết quả nghiên cứu để đưa ra một số giải pháp về hoạt động tranh tụng trong xét xử các VAHS trong tình hình mới

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án

hình sự

Chương 2: Thực trạng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án

hình sự ở tỉnh Điện Biên

Chương 3: Quan điểm và các giải pháp nhằm đảm bảo hoạt động ranh tụng

tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Điện Biên

Trang 13

1.1.1 Khái niệm hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự

Tranh tụng diễn ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau như tranh tụng trong tố tụng dân sự, tranh tụng trong tố tụng hành chính, kinh doanh thương mại, lao động… Trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ đề cập đến tranh tụng trong TTHS

Tố tụng là cụm từ gốc Hán (Có nguồn gốc từ tiếng Hán), theo Từ điển Việt - Trung, chữ "Tố" (gồm chữ ngôn và chữ cân hợp thành, có nghĩa là lời nói trong

quá trình tố tụng phải có sự suy nghĩ cẩn trọng, cân nhắc kỹ lưỡng, trung thực, đúng bản chất và mọi hành vi khi hành xử đều phải tuân theo quy định của pháp luật- tức thủ pháp) Chữ "tụng" (gồm chữ ngôn và chữ công hợp thành, có nghĩa là lời nói trong tố tụng phải công tâm, minh bạch, công khai nơi công đường, với mục đích bảo vệ chân lý, bảo vệ cái đúng, hoàn toàn phải tuân thủ và bảo vệ pháp luật- tức phụng công)

Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1998 do GS Hoàng Phê chủ biên thì "tranh tụng" có nghĩa là kiện tụng Trong tiếng Anh "Tranh tụng" là "Adversarial", có nghĩa là đối kháng, đương đầu Theo Từ điển Luật học do Viện khoa học pháp lý xuất bản năm 2006 "tranh tụng" có nghĩa là các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm, lợi ích của phía đối lập Tranh tụng tại phiên tòa là những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian, trọng tài2

Xuất phát từ quan niệm cho rằng tranh tụng là nguyên tắc đặc trưng cho TTHS Anh -Mỹ, trong khi đó, hệ thống tư pháp nước ta lại được tổ chức và hoạt động theo truyền thống luật Châu Âu lục địa, tức là hệ thống luật sử dụng mô hình

tố tụng xét hỏi; do đó, trước năm 2002 thuật ngữ " tranh tụng" chưa từng được sử

2 Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tử điển Bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 807-808

Trang 14

dụng trong văn bản pháp luật nước ta Sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS)

1988 ra đời, vấn đề tranh tụng đã được đề cập đến trong các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành Đặc biệt, nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định rằng: các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình

tố tụng; Tham gia hỏi cung; nghiên cứu hồ sơ vụ án; tranh luận dân chủ tại phiên tòa nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bảo chữa và những người tham gia tố tụng khác… Khi xét xử Tòa án phải đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Việc xét xử của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo…3 Do đó, vấn đề tranh tụng càng được đưa ra bàn luận sôi nổi và nghiên cứu chuyên sâu hơn

Cho đến nay, tranh tụng trong TTHS không còn là vấn đề mới Song đây vẫn là vấn đề gây nhiều tranh cãi với nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau Trong

đó, đa phần để làm sáng tỏ khái niệm này, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến các vấn đề về mô hình tố tụng tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng, quá trình tranh tụng… tức là giải thích tranh tụng dưới các góc độ khác nhau

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khái quát có thể thấy rằng các nội dung này không tách rời mà đan xen, liên hệ chặt chẽ với nhau Với mô hình tranh tụng với

sự tuân thủ và áp dụng nguyên tắc tranh tụng để góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án

Quá trình tranh tụng trong TTHS bắt đầu khi xuất hiện sự buộc tội của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với một cá nhân cụ thể hoặc một số người xác định (thể hiện bằng việc ra Quyết định khởi tố Bị can, Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, bắt, tạm giữ) Kể từ thời điểm này ở phía người bị buộc tội (Bị can, Người bị tạm giữ) xuất hiện sự bào chữa để chống lại sự buộc tội đó, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Hay nói một cách khác, tranh tụng chỉ có thể bắt đầu khi xuất hiện bên buộc tội và bên bào chữa với hai chức năng tương ứng là chức năng buộc tội và chức năng bào chữa Quá trình tranh tụng được xem là kết

nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội, tr.9

Trang 15

thúc khi có Bản án hay Quyết định của Tòa án về vụ án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị

Sự tồn tại của tranh tụng trong TTHS là một thực tế khách quan Bởi vì hoạt động TTHS là hoạt động gắn kết chặt chẽ của ba chức năng: buộc tội, bào chữa và xét xử Các chức năng này tồn tại, vận động trong sự tồn tại và vận động của chức năng kia Bào chữa chỉ xuất hiện khi có sự buộc tội và bào chữa được thực hiện để góp phần cho công tác xét xử đưa ra được một phán quyết khách quan, chính xác, đúng pháp luật Có buộc tội thì có xét xử và ngược lại chỉ xét xử khi có sự cáo buộc Trong TTHS nếu có buộc tội mà không có bào chữa thì hoạt động tố tụng sẽ mang tính áp đặt, một chiều, thiếu tính thuyết phục, thiếu tính dân chủ Sự tồn tại khách quan của tranh tụng đòi hỏi được thừa nhận trên thực tế và được ghi nhận trong luật Khi chính thức được ghi nhận thì tranh tụng sẽ là nguyên tắc cơ bản của TTHS Nguyên tắc này đòi hỏi sự bình đẳng giữa các chức năng buộc tội và gỡ tội

Chức năng buộc tội còn gọi là "Chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự, là một dạng hoạt động tố tụng nhằm phát hiện kẻ phạm tội, chứng minh lỗi của người

đó, bảo đảm phán xử và hình phạt đối với người đó"4 Chức năng này không chỉ thuộc về Viện kiểm sát mà trước hết nó còn thuộc về cơ quan điều tra, người bị hại (trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại) và Đại diện hợp pháp cũng như Người bảo vệ quyền lợi của họ

Về nội dung, chức năng buộc tội bao gồm tổng thể những hoạt động của các chủ thể thuộc bên buộc tội Đầu tiên là khởi tố Bị can, tiếp theo là hoạt động điều tra, truy tố Bị can bằng bản Cáo trạng và cuối cùng là chứng minh Cáo trạng đó đúng trước Tòa án Có thể chia buộc tội thành hai phần là buộc tội về nội dung và buộc tội về tố tụng Buộc tội về nội dung (đối tượng chứng minh) là việc đưa ra những cáo buộc đối với cá nhân cụ thể về tội phạm và hành vi của người bị buộc tội

có dấu hiệu của tội phạm đó Buộc tội về tố tụng là tổng hợp các hành vi tố tụng cụ thể nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ để chứng minh sự đúng đắn của buộc tội về nội dung đã đưa ra đối với người bị buộc tội Buộc tội về nội dung là cơ

sở định hướng cho buộc tội về tố tụng và ngược lại, buộc tội về tố tụng giúp cho buộc tội về nội dung có đủ căn cứ pháp lý và thực tiễn

Về tính chất, chức năng buộc tội có thể được thực hiện dưới các hình thức:

Tư tố (tức là do người Bị hại hoặc người đại diện hợp pháp tự truy tố Bị cáo), tư

4 Đinh Văn Quế (2004), "Về chế định Người bào chữa", Tạp chí Tòa án, số 3, tr 22

Trang 16

công tố và công tố (do cơ quan có thẩm quyền truy tố) Theo pháp luật Việt Nam, chức năng buộc tội có thể được thực hiện dưới một trong ba hình thức nêu trên hoặc

ba hình thức đồng thời được thực hiện

Về thời điểm bắt đầu và kết thúc chức năng buộc tội xuất hiện từ khi có cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định khởi tố Bị can (buộc tội chính thức) Có một số trường hợp đặc biệt thì chức năng buộc tội xuất hiện sớm hơn khi cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định tạm giữ người bị tình nghi (buộc tội chính thức) thuộc trường hợp bắt khẩn cấp, bắt quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã (Điều 58,59 BLTTHS năm 2015) Khi kết thúc thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm thì chức năng buộc tội kết thúc sớm hơn khi những căn cứ của việc buộc tội không còn và dẫn đến hệ quả là Cơ quan điều tra đình chỉ điều tra hoặc Viện kiểm sát hay Toà án đình chỉ vụ án

Về vai trò, chức năng buộc tội là một trong những chức năng cơ bản của TTHS là nhân tố làm phát sinh quá trình tranh tụng, đối trọng với chức năng bào chữa và là tiền đề cần thiết cho chức năng xét xử Không có buộc tội thì sẽ không có hoạt động tố tụng và hoạt động tố tụng đó sẽ không có định hướng

Khái quát hóa về chủ thể, phạm vi, cách thức thực hiện cũng như nội dung của chức năng bào chữa THS Lê Tiến Châu (2001) trong luận văn Thạc sĩ Luật học

"Các chức năng tố tụng cơ bản trong tố tụng hình sự", Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã cho rằng: "Chức năng bào chữa là một dạng hoạt động tranh tụng được pháp luật đảm bảo cho người bị buộc tội khả năng bằng cách tự mình hoặc nhờ người khác đưa ra các chứng cứ và lập luận nhằm không chỉ bác bỏ sự buộc tội, làm giảm trách nhiệm cho mình mà còn đưa ra những gì có lợi cho người

bị buộc tội trong quá trình tố tụng"

Về nội dung, chức năng bào chữa là tất cả các hoạt độg của người bị buộc tội

và người bào chữa từ khi bị buộc tội đến khi có Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị Thông qua các hành vi cụ thể, họ sử dụng các quyền theo quy định của pháp luật để làm sáng tỏ những tình tiết khác có lợi cho người bị buộc tội Nội dung của chức năng bào chữa giới hạn trong phạm vi nội dung của chức năng buộc tội và phụ thuộc vào nội dung của chức năng buộc tội

Về tính chất, chức năng bào chữa chỉ được thực hiện dưới hình thức cá nhân, nhân danh và bảo vệ lợi ích cá nhân người bị buộc tội

Chức năng bào chữa xuất hiện từ khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố Bị can hoặc Quyết định tạm giữ Chức năng bào chữa kết thúc khi thủ tục

Trang 17

tranh luận tại phiên tòa hình sự chấm dứt Khi những căn cứ của việc buộc tội không còn thuộc các trường hợp Cơ quan điều tra đình chỉ hoặc Viện kiểm sát hay Tòa án đình chỉ vụ án thì chức năng bào chữa sẽ kế thúc sớm hơn

Về vai trò, chức năng bào chữa là một trong những chức năng cơ bản của TTHS, có vai trò đối trọng với chức năng buộc tội Chính sự đối trọng này đảm bảo cho TTHS được dân chủ, khách quan Tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng

"Có buộc tội mà không có bào chữa thì hoạt động tố tụng sẽ mang tính chất một chiều

và kết buộc chứ không phải là tranh tụng TTHS không thể được thừa nhận là dân chủ khi chức năng buộc tội không có đối trọng là chức năng bào chữa"5

Vì các lẽ đó, tranh tụng TTHS có thể được hiểu như sau:

Tranh tụng trong TTHS là hoạt động do các chủ thể có chức năng đối trọng nhau (buộc tội và bào chữa) thực hiện; Dựa trên nguyên tắc bình đẳng trong việc đưa ra, bảo vệ chứng cứ, lập luận của mình và phản bác chứng cứ, lập luận của đối phương, nhằm góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án; Được bắt đầu

từ khi có Quyết định khởi tố Bị can và kết thúc khi bản án, Quyết định của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng cáo, kháng nghị

1.1.2 Đặc điểm hoạt động tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án hình sự

Thứ nhất, tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành với nhiều cách thức khác

nhau để khẳng định tính pháp lý của chứng cứ và nội dung của vụ án

Tố tụng tranh tụng là hệ thống tố tụng mà Tòa án là cơ quan xét xử và tiến hành tố tụng chính, sự tập trung nhất của hệ thống tố tụng Các hoạt động khác như điều tra của cảnh sát, truy tố của công tố viên chỉ là những hoạt động mang tính hành chính - tư pháp không được điều chỉnh bởi Luật TTHS Chỉ có Tòa án mới là chủ thể tiến hành tố tụng với ý nghĩa đầy đủ nhất theo quy định của pháp luật TTHS Vì vậy, mọi điều tra của luật sư và của cơ quan điều tra có thể được tiến hành theo nhiều cách khác nhau, với những phương pháp thu thập chứng cứ khác nhau, nhưng đều phải được kiểm chứng tại phiên tòa và thông qua sự xem xét đánh giá của HĐXX thì mới được công nhận về mặt pháp lý và được phục vụ cho vụ án, khi đó chứng cứ do các bên cung cấp mới có ý nghĩa đối với phán quyết của Tòa án Chính vì việc điều tra tại phiên tòa là chủ yếu, thông qua việc xem xét đánh giá

5 Từ Văn Nhũ (2002), "Đối với thủ tục xét xử nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự",

Tòa án nhân dân, số 11, tr 7

Trang 18

chứng cứ do các bên đưa ra nên phiên tòa theo thủ tục tố tụng tranh tụng thường rất dài và triệu tập nhiều nhân chứng

Thứ hai, tranh tụng tại phiên tòa hình thành hai bên với những lợi ích đối

kháng rõ rệt - bên buộc tội và bên bị buộc tội Trong tranh tụng, Kiểm sát viên và Luật sư hoàn toàn bình đẳng nhau, họ được pháp luật trao những quyền tương ứng với chức năng để có thể điều tra độc lập và thu thập chứng cứ phục vụ cho công việc của mình Kiểm sát viên dưới danh nghĩa là người đại diện cho quyền lợi của Nhà nước đưa ra các quan điểm, các lập luận, các chứng cứ để buộc tội bị cáo Còn bên bị buộc tội là bị cáo và những luật sư cũng dùng mọi lý lẽ, dùng mọi phương tiện được luật pháp cho phép để phản bác lại Hai bên sẽ trực tiếp, liên tục chất vấn

và trả lời chất vấn nhau công khai tại phiên tòa để làm rõ những vấn đề Tất cả các tình tiết, các chứng cứ mà Tòa án áp dụng để ra bản án đều phải được các bên tranh tụng tại phiên tòa

Thứ ba, thẩm phán giữ vai trò của người trọng tài Phẩn tranh tụng chứng

cứ đều do các bên trực tiếp đưa ra trong quá trình tranh tụng giữa Kiểm sát viên và

Bị cáo, Luật sư Thẩm phán có vai trò chính trong việc làm sáng tỏ nội dung vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán có thể sẽ trực tiếp chất vấn nếu như lời khai của Bị cáo còn có mâu thuẫn hay Bị cáo chối tội Trong phần tranh tụng mỗi bên có quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho bên kia cũng như cho những người tham gia tố tụng khác Trong nhiều trường hợp họ có quyền ngắt lời bên kia, phản đối lại các ý kiến mà bên kia vừa đưa ra nhưng Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận các vấn đề mà các bên đưa ra tranh luận

Thứ tư, tranh tụng có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân (trừ án phúc

thẩm) tham gia phiên tòa và quyết định cả về việc Bị cáo có tội hay không có tội, quyết định cả về lượng hình đối với Bị cáo, ở thủ tục tố tụng thẩm vấn Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa có địa vị pháp lý ngang với Hội thẩm nhân dân

1.1.3 Mối quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự

Trong quá trình giải quyết VAHS từ khi khởi tố vụ án cho đến khi Tòa án tuyên án, có nhiều người tham gia vào quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử BLTTHS quy định những người này vào hai nhóm: Những người tiến hành tố tụng

và những người tham gia tố tụng

Trang 19

Mối quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng và những người tham gia

tố tụng tại phiên tòa xét xử VAHS được hiểu là mối quan hệ giữa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký, Luật sư và Những người tham gia tố tụng khác Đây là những mối quan hệ được thiết lập trên cơ sở pháp luật tố tụng, chỉ phát sinh khi Những người tiến hành tố tụng, Người tham gia tố tụng cùng tham gia vào quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa; Đây đồng thời cũng là mối quan hệ phối hợp để đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật, nhằm giải quyết vụ án đúng đắn

Thứ nhất: những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự

Những người tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự gồm có:

Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên;

Chánh án, Phó chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng trong cơ quan điều tra được quy định tại các Điều 34, 35 BLTTHS; Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát được quy định tại các Điều 41 BLTTHS 2015; Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án được quy định tại Điều 44 BLTTHS 2015; Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thư ký Tòa án được quy định tại Điều 47 BLTTHS

Những người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự gồm có:

Bị cáo là người đã bị Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 61 BLTTHS 2015)

Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây nên (Điều 62 BLTTHS 2015)

Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây

ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 63 BLTTHS 2015)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Điều 65 BLTTHS 2015) Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án trừ những người là bào chữa cho Bị can, Bị cáo, Người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn (Điều 66 BLTTHS 2015)

Trang 20

Người bào chữa có thể là Luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo, bào chữa viên (Điều 72 BLTTHS năm 2015)

Người giám định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định được cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu theo quy định của pháp luật (Điều 68 BLTTHS năm 2015)

Người phiên dịch: Do các cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt (Điều 70 BLTTHS 2015)

Thứ hai: Mối quan hệ giữa những Người tiến hành tố tụng và những Người tham gia tố tụng trong xét xử VAHS

Những người tiến hành tố tụng gồm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư

ký tòa án và Kiểm sát viên, theo quy định của pháp luật tố tụng thì họ có những quyền năng nhất định Vai trò của HĐXX đặc biệt là Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa giữ vị trí, vai trò chủ đạo trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa vừa là Người tiến hành tố tụng, vừa là Người điều khiển toàn bộ hoạt động tố tụng tại phiên tòa của Những người tiến hành tố tụng và Người tham gia tố tụng khác

Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân là thành viên của HĐXX giữ vai trò quyết định trong việc giải quyết VAHS từ khi khai mạc cho đến khi kết thúc phiên tòa, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những quyết định của mình

Thư ký phiên tòa giúp việc cho HĐXX trong quá trình chuẩn bị mở phiên tòa, ghi bút ký phiên tòa một cách trung thực Bút ký phiên tòa phản ánh một cách toàn diện, khách quan diễn biến phiên tòa Bút ký phiên tòa còn là tài liệu hết sức quan trọng để xem xét lại vụ án nếu có kháng cáo, kháng nghị hoặc án có khiếu nại Đòi hỏi người cán bộ thư ký phải có trình độ, năng lực, phẩm chất, khách quan, vô tư khi thực hiện nhiệm vụ

Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử VAHS có trách nhiệm thực hành quyền công tố, bảo đảm cho việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội Ngoài việc công bố bản Cáo trạng, Kiểm sát viên trình bày bản luận tội đề nghị kết tội Bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung Cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn, rút quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố Bị cáo không phạm tội Như vậy, nhiệm vụ rất quan trọng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử VAHS là luận tội Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của Bị cáo,

Trang 21

Người bào chữa, Người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những Người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa

Những người tham gia tố tụng gồm Bị cáo, Người bị hại, Nguyên đơn dân

sự, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa, Người bảo

vệ quyền lợi của đương sự, Người làm chứng, Người giám định, Người phiên dịch Ngoài ra, trong từng vụ án cụ thể còn có những người như: Người đại diện hợp pháp cho Bị cáo (khi Bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần)

Đối với Bị cáo (hoặc người đại diện hợp pháp của Bị cáo) là người bị Viện kiểm sát truy tố bằng bản Cáo trạng về một tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) Nhiều trường hợp Bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần thì pháp luật quy định phải có người đại diện hợp pháp của Bị cáo Người đại diện hợp pháp là người giúp đỡ Bị cáo thực hiện quyền

và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của BLTTHS Người đại diện hợp pháp có thể đồng thời là Người bào chữa cho Bị cáo nếu Bị cáo và người đại diện hợp pháp không mời Người bào chữa hoặc không chấp nhận người bào chữa hoặc không chấp nhận người bào chữa mà văn phòng Luật sư cử Khi người đại diện hợp pháp của Bị cáo là người bào chữa thì họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của Người bào chữa đồng thời họ vẫn có quyền và nghĩa vụ với tư cách là người đại diện hợp pháp của Bị cáo; Đại diện hợp pháp của Bị cáo nếu là cha, mẹ Bị cáo thì còn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Bị cáo theo quy định của BLDS Như vậy, Đại diện hợp pháp của Bị cáo có thể tham gia tố tụng với nhiều tư cách khác nhau nhưng đều với một mục đích là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Bị cáo là người chưa thành niên

Người bị hại: Là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra Đại diện hợp pháp của Người Bị hại là người mà quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyền họ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người Bị hại hoặc chính bản thân họ Đại diện hợp pháp của Bị hại bao gồm người đại diện đương nhiên và đại diện theo ủy quyền

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc xét xử VAHS của Tòa án và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia với tư cách là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VAHS Họ có thể liên quan đến hành vi phạm tội của Bị cáo nhưng cũng có thể chỉ liên quan đến vật chứng, đến tài sản, đến trách nhiệm dân sự trong VAHS

Trang 22

Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại

Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra

Xuyên suốt trong một phiên tòa hình sự đó là quá trình xét hỏi, tranh luận,

đề xuất ý kiến giữa một bên đại diện cho Nhà nước với một bên vi phạm pháp luật trên cơ sơ tôn trọng các quy định của Nhà nước pháp quyền Nói cách khác, đây chính là mối quan hệ ràng buộc, chỉ phát sinh giữa những người tiến hành tố tụng

và người tham gia tố tụng trong phiên tòa hình sự

1.2 Nội dung, vai trò, các điều kiện đảm bảo hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự

1.2.1 Nội dung hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự

Trong phiên tòa xét xử VAHS, nội dung của hoạt động tranh tụng chính là việc thể hiện sự xung đột về lợi ích, tâm lý giữa các bên buộc tội, bên gỡ tội và bị hạn chế về mặt không gian, thời gian do pháp luật tố tụng quy định Nội dung tranh tụng tại phiên tòa xét xử VAHS bao gồm:

Thứ nhất, đưa ra chứng cứ mới bằng cách yêu cầu triệu tập thêm Người làm chứng, đưa ra vật chứng hoặc tài liệu mới Hồ sơ, chứng cứ được xác lập trong

giai đoạn điều tra là rất quan trọng cho việc xét xử tại phiên tòa Tuy nhiên, nhiều trường hợp chưa thể đầy đủ và không loại trừ việc thiếu khách quan Đặc biệt đối với VAHS, trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng; Cho nên đa số các trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chỉ thu thập chứng cứ buộc tội, không chú trọng trong thu thập chứng cứ gỡ tội; Trong khi đó bên bào chữa (Người bào chữa, Bị can, Bị cáo) không được quyền chủ động thu thập chứng

cứ làm hạn chế khả năng tranh tụng của họ tại phiên tòa Vì vậy cho nên pháp luật

tố tụng quy định các bên tham gia tố tụng có quyền yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, quyền đưa ra các chứng cứ mới tại phiên tòa Nhiệm vụ của Tòa án là đảm bảo để các bên thực hiện quyền tố tụng này; Tránh trường hợp sợ phiền phức,

sợ phiên tòa đi chệch quỹ đạo chuẩn bị nên không chú trọng thủ tục này tại phần mở đầu phiên tòa

Thứ hai, thực hiện việc xét hỏi tại phiên tòa Xét hỏi thực chất là cuộc điều

tra chính thức tại phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án Vì vậy các bên tham gia tố tụng đều có quyền điều tra dưới sự điều khiển của Thẩm phán- chủ

Trang 23

tọa phiên tòa từ hỏi người khác, xem xét vật chứng, tài liệu Việc xét hỏi này chỉ kết thúc khi Tòa án thấy rằng thông qua xét hỏi sự thật khách quan, đối tượng chứng minh trong vụ án đã được xác định đầy đủ, các tình tiết liên quan đến việc giải quyết đã được làm rõ Vì thế cho nên, thủ tục tố tụng quy định quyền thu thập chứng cứ chỉ cho các cơ quan tiến hành tố tụng, quy định gánh nặng xét hỏi cho Tòa

án, quy định chỉ cho phép một số ít các bên tham gia xét hỏi (đại diện Viện kiểm sát, Luật sư) cần được xem xét lại từ góc độ tranh tụng

Thứ ba, phát biểu ý kiến về đánh giá chứng cứ Qua việc điều tra chính

thức, công khai tại phiên tòa, mỗi bên tham gia tố tụng đều có cách nhìn nhận, đánh giá của mình về kết quả chứng minh Để thực hiện chức năng tố tụng, nhiệm vụ tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các bên tham gia tố tụng phải công khai đưa ra ý kiến đánh giá của mình về sự thật khách quan của vụ án để giúp cho Tòa án cân nhắc khi ra phán quyết Các đánh giá khác nhau, phản biện nhau của các bên tham gia tố tụng tại phiên tòa sẽ giúp cho Tòa án khách quan hơn, toàn diện hơn, thận trọng hơn khi đánh giá để ra phán quyết

Thứ tư, phát biểu ý kiến về pháp luật áp dụng Thực tiễn cho thấy rằng, do

nhiều lý do khác nhau như kỹ thuật lập pháp chưa tốt, quy định của pháp luật chưa rõ ràng, thiếu cụ thể, trình độ nhận thức pháp luật chưa tốt mà pháp luật được nhận thức rất khác nhau trong hoạt động tố tụng Vì vậy, nội dung của tranh tụng trong giai đoạn tranh luận tại phiên tòa bao gồm việc các bên tham gia tố tụng đề nghị áp dụng luật

để bảo vệ quan điểm của mình trong giải quyết vụ án theo chức năng, nhiệm vụ được giao Ví dụ: Trong phiên tòa hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng pháp luật hình sự để bảo vệ cáo trạng, bảo vệ việc buộc tội; Người bào chữa đề nghị

áp dụng pháp luật hình sự để gỡ tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Bị cáo v.v

Thứ năm, đề nghị biện pháp giải quyết vụ án liên quan đến quyền và lợi ích liên quan Mỗi bên tham gia tố tụng đều nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của mình Vì vậy, nội dung không thể thiếu trong tranh tụng tại phiên tòa xét xử VAHS là các bên đề xuất ý kiến và lập luận trên cơ sở chứng cứ, quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích đó Tùy theo tư cách tố tụng của mình mà phạm vi xét hỏi, tranh luận, đề xuất ý kiến của mỗi người tham gia tố tụng cũng có khác nhau; Đại diện Viện kiểm sát bảo vệ Cáo trạng, người bào chữa, Bị cáo bảo vệ quan điểm không có tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, Nguyên đơn dân sự đòi hỏi việc bồi thường, Bị đơn dân sự bác bỏ hoặc giảm mức bồi thường…

Trang 24

Như vậy, tranh tụng tại phiên tòa là hình thức tố tụng mà trong đó Tòa án thay mặt Nhà nước xác định sự thật của vụ án trên cơ sở điều tra công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến của các bên tham gia tranh tụng để ra quyết định phán xét giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật

1.2.2 Vai trò của tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án hình sự

Trong toàn bộ quá trình tố tụng, tranh tụng đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi Nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân

Trong các vai trò cơ bản được đặt ra thì việc xác định sự thật khách quan của vụ án được coi là một trong những điều kiện quyết định đảm bảo cho Tòa án ra phán quyết đúng đắn Xét cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn, tranh tụng có vai trò rất quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án Tại phiên tòa xét

xử VAHS, tranh tụng thể hiện những vai trò cơ bản sau:

Thứ nhất, tranh tụng tại phiên tòa góp phần quan trọng vào việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án

Thực tiễn cho thấy rằng tại các phiên tòa, do xuất phát từ các lợi ích khác nhau, do tư cách tố tụng khác nhau, cho nên các kết quả đánh giá chứng cứ, nhận thức về pháp luật cũng như các đề nghị cụ thể giải quyết vụ án về thực chất cũng rất khác nhau

Trên cơ sở các chứng cứ được thu thập, các phân tích, đánh giá nhiều chiều

về chứng cứ cũng như pháp luật áp dụng HĐXX có đầy đủ điều kiện xem xét, quyết định về vụ án một cách toàn diện, đầy đủ và khách quan Yếu tố tranh tụng không chỉ đòi hỏi các bên tham gia tố tụng có địa vị pháp lý như nhau để có phiên tòa thực sự có tranh tụng pháp luật tố tụng cần bảo đảm cho các bên khả năng thực

tế để thực hiện các quyền tố tụng mà pháp luật quy định một cách hiệu quả, không hình thức HĐXX phải xem xét toàn bộ, không được xem nhẹ chứng cứ nào đã được thu thập và kiểm tra tại phiên tòa; Cân nhắc các quan điểm khác nhau về áp dụng pháp luật, về đánh giá tính chất vụ án… để ra phán quyết đúng đắn, khách quan, hợp pháp

Thứ hai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng

Tranh tụng bảo đảm quan trọng để những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng của mình Đồng thời, thực hiện việc tranh tụng cũng có

Trang 25

nghĩa là các cơ quan tiến hành tố tụng, các bên tham gia tranh tụng phải thực hiện nghĩa vụ tố tụng của mình để bảo đảm cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền tương ứng Chỉ trong phiên tòa có sự tranh tụng thì người tham gia tố tụng mới có các điều kiện pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình liên quan đến vụ án Tại phiên tòa, những người tham gia tranh tụng không bị hạn chế

về thời gian để trình bày ý kiến của mình về vụ án, đề nghị Tòa án ra phán quyết cụ thể liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình; Nếu không đồng ý với các ý kiến tranh luận khác thì họ có quyền đối đáp Trên cơ sở đánh giá chứng cứ và các ý kiến tranh luận của các bên tham gia tố tụng, HĐXX có đủ điều kiện cân nhắc, xem

xé để ra quyết định đúng đắn, khách quan và đúng pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng

Thứ ba, đảm bảo sự bình đẳng và tính hiệu quả của hoạt động tố tụng

Thực hiện việc tranh tụng trong xét xử VAHS bảo đảm cho bên buộc tội và bên bào chữa bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ tố tụng Các bên đều được pháp luật dành cho những khả năng ngang nhau trong việc chứng minh trong tranh luận về nội dung cũng như pháp luật áp dụng… để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Tranh tụng bảo đảm cho các chủ thể tham gia vào hoạt động tố tụng thực hiện một cách có hiệu quả nhất chức năng, nhiệm vụ tố tụng của mình Nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi phải có sự phân định rõ ràng các chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử của bên buộc tội, bên bào chữa và Tòa án… Trong đó chức năng xét xử không bao gồm cả việc buộc tội hay bào chữa; Tòa án là "Trọng tài" điều khiển sự tranh luận giữa các bên và ra phán quyết theo chức năng độc lập của mình

Thứ tư, tranh tụng tại phiên tòa có vai trò giáo dục pháp luật

Tranh tụng tại phiên tòa đòi hỏi sự có mặt của những người tham gia tố tụng Việc xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng là rất hạn chế Việc tranh tụng trực tiếp, công khai tại phiên tòa không hạn chế về thời gian, nơi những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đánh giá các hành vi vi phạm pháp luật

về pháp lý cũng như xã hội, phân tích các quy định pháp luật cần được áp dụng giúp cho những người tham gia tố tụng và những người tham dự phiên tòa nâng cao nhận thức về pháp luật, xác định định hướng giá trị trong hành vi, giúp cho việc tuân thủ pháp luật

Trang 26

Tóm lại, tranh tụng tại phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng

và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, giúp Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa thực hiện đúng các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra Tranh tụng là trọng tâm của phiên tòa hình sự, thông qua tranh tụng để có cơ sở xác định sự thật khách quan của

vụ án; Xác định các quy định của pháp luật để áp dụng trong trường hợp cụ thể của

vụ án và ra phán quyết giải quyết vụ án trên cơ sở sự thật khách quan được xác định theo các quy định của pháp luật

1.2.3 Điều kiện bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án hình sự

Để xác định sự thật khách quan của vụ án thì phiên tòa phải đảm bảo nguyên tắc tranh tụng, và như thế cần phải có những cơ chế, điều kiện nhất định để thực hiện:

Thứ nhất, tham gia vào quá trình tranh tụng bao giờ cũng phải có ba chủ thể của quan hệ tranh tụng Một bên là Kiểm sát viên nhân danh Nhà nước thực

hiện quyền công tố (bên buộc tội) và một bên là Luật sư, Bị cáo (bên gỡ tội) và bên kia là Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhân dân Quá trình tranh tụng phải được diễn ra và tiến hành theo đúng những quy định của pháp luật TTHS cả về hình thức, nội dung cũng như về không gian và thời gian Trong quá trình này từ khi bắt đầu phiên tòa đến khi kết thúc phiên tòa, vai trò trung tâm và quyết định luôn luôn thuộc về HĐXX, Thẩm phán- chủ tọạ phải đóng vai trò là người điều khiển, không can thiệp vào nội dung tranh tụng nhưng phải đánh giá, nhận định và xem xét

để quyết định chính xác và đúng đắn Theo tôi, quá trình tranh tụng chỉ có ý nghĩa đầy đủ nhất khi có đầy đủ và đồng thời các chủ thể của quan hệ tranh tụng trong TTHS và được thể hiện bằng phán quyết cuối cùng của Toà án

Thứ hai, để việc tranh tụng tại phiên tòa đạt kết quả cao thì các bên buộc tội và gỡ tội phải có trình độ năng lực cũng như đạo đức nghề nghiệp, có sự chuẩn

bị kỹ càng Trong quá trình tranh tụng dân chủ tại phiên tòa, trình độ năng lực của

những người tham gia tranh tụng có ảnh hưởng rất lớn, nếu trình độ năng lực chênh lệch giữa bên buộc tội và bên gỡ tội thì hiển nhiên tranh tụng không mang lại hiệu quả cao Kiểm sát viên là bên buộc tội vì vậy không chỉ việc chuẩn bị chu đáo các tài liệu, nghiên cứu kỹ càng vụ án mà trình độ tư duy lý luận cao là đòi hỏi quan trọng Quá trình nghiên cứu hồ sơ cũng chưa hoàn toàn đánh giá được hết tính chất mức độ vụ án và càng không thể căn cứ vào đó để có lời luận tội; Chỉ có thể qua

Trang 27

quá trình thẩm vấn, tranh luận tại phiên tòa mà Kiểm sát viên có trình độ cũng như kinh nghiệm tham gia tranh tụng Vai trò của Luật sư, Người bào chữa trong tranh luận là hết sức quan trọng, bởi tính chất công việc của Luật sư là một bên trong quá trình tranh tụng, đồng thời Luật sư có được những quyền tố tụng cho phép để điều tra thu thập chứng cứ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho Bị cáo Vì vậy, không chỉ năng lực trình độ của Luật sư, mà đạo đức nghề nghiệp của họ có ảnh hưởng lớn đến việc tận lực cho công việc bào chữa, đến quá trình tranh tụng

Nếu trong suốt quá trình trước khi mở phiên tòa xét xử cả hai bên Kiểm sát viên và Bị cáo - Luật sư bào chữa cho Bị cáo không có sự chuẩn bị kỹ, không dự trù trước những tình huống có thể xảy ra trong quá trình tranh tụng thì đến khi tranh luận họ sẽ có thể bị đuối lý và tất nhiên phán quyết của Tòa án sẽ trên cơ sở của bên thuyết phục Vì vậy, tự bản thân hai phía buộc tội và gỡ tội sẽ phải có sự chuẩn bị cho quá trình tranh tụng của mình và luật pháp cũng có những quy định để đảm bảo cho quá trình chuẩn bị thu thập chứng cứ của các bên, đảm bảo cho việc tranh tụng đạt kết quả cao nhất Hai bên buộc tội và gỡ tội không chỉ chuẩn bị kỹ càng về lý lẽ,

về chứng cứ được thu thập trong suốt quá trình trước khi mở phiên tòa mà còn tự đánh giá xem những luận điểm nào còn yếu, dự trù những tình huống có thể xảy đến trong quá trình tranh luận để đến khi ra tranh tụng đạt được kết quả theo mong muốn

Nâng cao trình độ, nhận thức của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, đảm bảo cho họ có đủ năng lực về chuyên môn, về phong cách, về khả năng diễn đạt để thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa Những trường hợp người tham gia tố tụng không có khả năng đó thì nhất thiết phải được sự giúp đỡ của Luật sư

Thứ ba, để quá trình tranh tụng đạt kết quả tốt thì cần có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và các điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo Hệ thống pháp luật

hoàn chỉnh có vai trò rất lớn trong việc tạo điều kiện cho quá trình tranh tụng và thực tế cũng cho thấy, để áp dụng được tranh tụng tại phiên tòa hình sự cần có sự đồng bộ của các ngành luật riêng lẻ, đầy đủ và chặt chẽ để tạo ra cơ chế cho tranh tụng

Bên cạnh đó, về cơ sở vật chất như phòng xử án phải đáp ứng các điều kiện

về tính trang nghiêm, đảm bảo các phương tiện kỹ thuật như ánh sáng, âm thanh, đảm bảo phòng cách ly nhân chứng, bị cáo, thậm chí có cả Camera để đảm bảo tính công khai dân chủ Quá trình chuẩn bị phiên tòa phải tốt, bởi lẽ chỉ khi triệu tập đầy

đủ những người tham gia tố tụng đến phiên tòa thì mới có điều kiện đầy đủ để tiến hành việc tranh tụng được tốt Trường hợp vắng mặt một số người tham gia tố tụng

Trang 28

sẽ gây nên tốn kém, làm cho phiên tòa phải hoãn hoặc phải xử dài ngày, làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử

1.3 Hoạt động tranh tụng trong xét xử vụ án hình sự của một số nước trên thế giới và những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam

1.3.1 Hoạt động tranh tụng trong xét xử vụ án hình sự của một số nước trên thế giới

Trên thế giới ngày nay hoạt động tranh tụng được chia thành hai hệ thống tố tụng chính là hệ thống tố tụng thẩm vấn (inquisitorrial system) - chủ yếu tồn tại trong hệ thống dân luật và hệ thống đối tụng (adversary system) - chủ yếu tồn tại trong hệ thống luật án lệ Cụm từ "adversary system" được nhiều tài liệu nghiên cứu tại Việt nam dịch là " hệ thống tranh tụng" hay " thủ tục tranh tụng" Điển hình của

hệ thống tố tụng thẩm vấn là các nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ, điển hình của

hệ thống tố tụng thẩm vấn là các nước theo mô hình luật lục địa, tiêu biểu là Cộng hòa Pháp Trong phạm vi nghiên cứu của mình tôi không đi sâu vào nguồn gốc mà chỉ bàn luận đến đặc điểm cơ bản của hai hệ thống này trong hoạt động xét xử VAHS nói chung ở các nước Anh, Mỹ và Pháp

Hệ thống tố tụng thẩm vấn ở Cộng hòa pháp:

Trong xét xử VAHS ở Pháp tồn tại chế định Bồi thẩm đoàn, chế định này dựa trên nguyên tắc xét xử tập thể tuyệt đối được bảo đảm giữa Bồi thẩm và Thẩm phán chuyên nghiệp, có nghĩa là Thẩm Phán chuyên nghiệp và Bồi thẩm cùng tham gia xét xử về tất cả các vấn đề về pháp luật cũng như mức phạt Nguyên tắc này được bảo đảm thực hiện như sau:

Khi khai mạc phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét

xử Sau đó thư ký tòa phổ biến nội quy phiên tòa, kiểm tra và báo cáo với HĐXX danh sách những người được triệu tập đến tòa Trước tiên Chủ tọa phiên tòa hỏi Bị cáo về căn cước của họ nhằm xác định đúng người được xét xử tại phiên tòa và sau

đó sẽ đề cập đến nội dung của hồ sơ Trong chừng mực nào đó, Chủ tọa phiên tòa phải tiến hành thẩm tra lại vụ việc bằng cách đặt câu hỏi cho Bị cáo, lấy lời khai của các nhân chứng và có thể cho đối chất Luật sư của Bị cáo bắt buộc phải có mặt tại phiên tòa Các bên đều có quyền hỏi tất cả nhân chứng của vụ án, được trình bày cách lập luận của mình một cách bình đẳng trước Tòa án Các Thẩm phán thành viên HĐXX và Bồi thẩm có thể hỏi Bị cáo và người làm chứng sau khi được Chủ

Trang 29

tọa phiên tòa cho phép Sau khi kết thúc thẩm vấn tại phiên tòa, Nguyên đơn dân sự hay Luật sư của Nguyên đơn dân sự được trình bày Tiếp theo Công tố viên nêu rõ lập luận, lý do truy tố Bị cáo và nhân danh xã hội đề nghị mức hình phạt đối với Bị cáo, Bị cáo và Luật sư của Bị cáo có quyền bào chữa, tranh luận chống lại Cáo trạng

đã truy tố Bị cáo Thời gian biện hộ của Luật sư không hạn chế, Nguyên đơn dân sự

và Công tố viên được quyền đáp lại nhưng Bị cáo hay Luật sư của Bị cáo luôn được nói sau cùng Ở Pháp tuy không có sự phân chia quyền lực giữa Bồi thẩm và Thẩm phán nhưng trong tranh tụng Chủ tọa phiên tòa có toàn quyền trong việc áp dụng mọi biện pháp cần thiết để xác định sự thật với điều kiện không được biểu lộ ý kiến của mình về tội trạng của Bị cáo, không được tóm tắt lý do buộc tội hay bào chữa Thẩm phán chuyên nghiệp và Bồi thẩm cùng tham gia xét xử, cùng quyết định các vấn đề về pháp luật cũng như hình phạt Bản án mà Tòa sẽ tuyên dựa hoàn toàn vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa

Ưu điểm của hệ thống tố tụng thẩm vấn

- Đề cao vai trò chủ động của Thẩm phán trong suốt quá trình tố tụng Thẩm phán không chỉ thể hiện quyền năng tại phiên tòa hay giai đoạn xét

xử mà còn có quyền và nghĩa vụ tham gia tích cực trong quá trình điều tra, thẩm tra chứng cứ Điều này khẳng định việc tham gia trực tiếp của Thẩm phán trong tố tụng thẩm vấn với ý nghĩa quan trọng, tích cực, người Thẩm phán là trung tâm của quá trình thu thập dữ kiện trong hệ thống thẩm vấn, quyết định của Thẩm phán là quyết định quan trọng

- Đề cao vai trò của cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt ở giai đoạn điều tra bởi vậy việc điều tra, thẩm tra chứng cứ trong các vụ án được yêu cầu khắt khe và

kỹ lưỡng, bảo đảm sự chính xác, khách quan trong việc xác định sự thật của vụ án

Trang 30

Nhược điểm của hệ thống tố tụng thẩm vấn

Hệ thống tố tụng thẩm vấn được coi là không tôn trọng đầy đủ quyền của các bên đương sự bởi vì họ không có nghĩa vụ chứng minh chứng cứ Vì chứng cứ

là do Thẩm phán điều tra tập hợp nên có thể nói tố tụng thẩm vấn đi ngược lại nguyên tắc vô tư, khách quan và cho rằng đôi khi Thẩm phán đã có sẵn trong đầu quyết định xét xử trước khi diễn ra giai đoạn xét xử Xét dưới góc độ đó, việc tranh luận tại phiên tòa trở nên vô nghĩa

Hệ thống tố tụng tranh tụng ở các nước Anh, Mỹ:

Tố tụng tranh tụng ở Vương quốc Anh: Theo quy định trong hoạt động tranh tụng luôn có sự phân công rõ ràng quyền hạn giữa cảnh sát và công tố viên Cảnh sát có nhiệm vụ điều tra, thu thập chứng cứ Khi bắt người, cảnh sát phải nói với người bị bắt là họ có thể thuê luật sư đại diện cho mình Các thông tin có được trong quá trình điều tra hình sự và có thể liên quan đến việc điều tra được ghi lại và bất kỳ bản ghi nào cũng được lưu lại Bị can được giao một bản thông tin mà cảnh sát có được khi có yêu cầu được tiết lộ của bị can Công tố viên không có quyền can thiệp vào hoạt động điều tra của cảnh sát Nhiệm vụ chủ yếu của công tố viên là truy tố bị can ra trước Tòa Công tố viên phải tiết lộ cho bị can biết bất kỳ tài liệu nào mà theo quan điểm của công tố viên là có thể giảm nhẹ việc truy tố bị can và cho phép bị can thẩm tra tài liệu mà theo kiến nghị của công tố viên là không có lợi ích công trong việc tiết lộ Khi bị can được tống đạt bản sao cáo trạng và bản sao bộ tài liệu chứa đựng chứng cứ làm cơ sở cho việc buộc tội, Bị can phải đưa ra lời bào chữa bằng văn bản cho Tòa án và công tố viên với các nội dung, lý do đối đáp với bên công tố và các thông tin cụ thể hỗ trợ cho lời bào chữa Khi bị can đưa ra lời bào chữa, công tố viên hoặc Tòa án (Theo yêu cầu của bị can) sẽ ra lệnh để công tố viên tiếp tục phải tiết lộ cho bị can bất kỳ tài liệu truy tố nào mà trước đó chưa tiết

lộ cho bị can Trong trường hợp việc tiết lộ không có lợi cho lợi ích công thì Toà án

lộ ra lệnh không tiết lộ Tại phiên tòa, công tố viên là một trong những bên tranh tụng, thực hiện chức năng buộc tội, khi thẩm phán tòa án Hoàng Gia thấy rằng vụ

án phức tạp, thì trước khi bồi thẩm đoàn tuyên thệ, thẩm phán có quyền ra lệnh tiến hành xét hỏi sơ bộ, Quyết định truy tố phải được đưa ra tại lúc bắt đầu xét hỏi Thẩm phán có thể hoãn việc xét hỏi sơ bộ nhiều lần Thẩm phán có thể ra lệnh cho công tố viên chuẩn bị chứng cứ truy tố và bất kỳ tài liệu nào mà thẩm phán thấy giúp ích cho sự hiểu biết của bồi thẩm đoàn, cũng như có quyền ra lệnh cho bị can

Trang 31

gửi cho Tòa án và công tố viên lời bào chữa và các vấn đề bị can dựa vào đó để tranh luận với bên truy tố Tại phiên tòa xét hỏi trước khi phán xử, Thẩm phán có thể ra phán quyết về việc chấp nhận chứng cứ Khi xét xử, công tố viên trình bày các nội dung, tình tiết của vụ án cho HĐXX nghe Luật sư bào chữa với nhiệm vụ xuất hiện trước Tòa, thực hiện chức năng bào chữa Bất kỳ bên nào cũng có thể làm khác với những gì được tiết lộ trước đó và bồi thẩm đoàn có thể rút ra kết luận Việc tiến hành tố tụng về nguyên tắc là trách nhiệm chính của các bên buộc tội và bào chữa Bồi thẩm đoàn xem xét và phán quyết xem bị cáo có phạm tội hay không Vai trò chính của thẩm phán trong xét xử là đảm bảo có sự tuân thủ các thủ tục tố tụng, thẩm phán có quyền quyết định những vấn đề liên quan đến luật và giải thích luật Sau khi đoàn bồi thẩm quyết định rằng bị cáo phạm tội thì thẩm phán xem xét và quyết định mức hình phạt đối với bị cáo

Những người tham gia tố tụng đều phải ra trước Tòa Theo pháp luật TTHS Vương Quốc Anh, nhân chứng là trẻ em không được đưa ra chứng cứ liên quan ngoài phương diện ghi hình Tuy nhiên Tòa án có thể cho phép điều này nếu thấy rằng cho phép là có lợi cho công lý

Để bảo đảm tranh tụng được thực hiện, Tòa án Hoàng Gia có quyền triệu tập nhân chứng Nếu nhân chứng không có đơn vô hiệu hóa lệnh triệu tập với lý do

là họ không thể đưa ra chứng cứ quan trọng và không có chỉ thị của Tòa án bằng lệnh thì Luật TTHS Vương Quốc Anh quy định rằng họ phạm tội khinh thường Tòa

án và có thể bị Tòa án trừng phạt theo thủ tục rút gọn

Tất cả các phán quyết, kể cả phán quyết khi xét hỏi sơ bộ của Tòa án đều có thể bị kháng cáo

Tố tụng tranh tụng ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ:

Thực tiễn hoạt động của Tòa án Hoa kỳ hệ thống tranh tụng là sự tìm kiếm chân lý trong việc bảo vệ quyền cá nhân của người bị buộc tội Hệ thống tranh tụng

ở Hoa kỳ đòi hỏi người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi chứng minh được là họ có tội Như vậy, tội phạm cần phải được chứng minh và loại trừ mọi nghi ngờ có thể Vì vậy, vai trò của Chính phủ là phải bảo đảm công lý chứ không chỉ đơn thuần tìm mọi cách để kết tội bị can, bị cáo, luật sư của Chính phủ cần phải công bằng đối với cả những người đứng ra buộc tội và những người bị buộc tội

Việc truy tố phải được tiến hành tại phiên tòa công khai (trừ những trường hợp đã thực hiện trước đó) Sau khi phiên tòa chính thức được bắt đầu, Luật sư của

Trang 32

Chính phủ cần phải công bằng đối với cả những người đứng ra buộc tội và những người bị buộc tội

Việc truy tố phải được tiến hành tại phiên tòa công khai (trừ những trường hợp đã thực hiện trước đó) Sau khi phiên tòa chính thức được bắt đầu, Luật sư của Chính phủ sẽ đưa ra bằng chứng và nhân chứng để làm rõ việc kết tội của mình Tòa án có thể dừng tố tụng để cho phép một bên có thời gian kiểm tra lời khai và chuẩn bị để sử dụng Luật sư bào chữa có thể phản đối việc áp dụng những vật chứng và nếu được chấp nhận thì sẽ loại những vật chứng khỏi diện được xem xét Ngược lại, nếu phản đối của Luật sư bào chữa không được chấp nhận, thì vật chứng của Luật sư Chính phủ đưa ra sẽ xác định chủng loại và chính thức đưa vào hồ sơ

vụ án Luật sư bào chữa có quyền chất vấn những chứng cứ từ phía buộc tội và có thể đưa ra sự bác bỏ những chứng cứ này với lý lẽ của mình Bên buộc tội cũng có thể chất vấn những nhân chứng từ phía bào chữa và đưa ra những lý lẽ, chứng cứ để bác bỏ chúng Sự khác biệt giữa đưa lý lẽ từ phía buộc tội và Luật sư bào chữa là: Luật sư bào chữa không bị pháp luật yêu cầu đưa ra bất kỳ chứng cứ nào mới, bổ sung vật chứng hay nhân chứng nào Việc bào chữa có thể thực hiện theo cách chất vấn độ tin cậy hay tính hợp pháp của chứng cứ của Chính phủ đưa ra để buộc tội Như vậy, quá trình xét xử VAHS đòi hỏi đáp ứng các nguyên tắc sau: Luật sư Chính phủ phải chứng minh tội phạm và loại trừ mọi nghi ngờ về việc thực hiện hành vi phạm tội của Bị cáo; Nguyên tắc thẩm vấn nhân chứng trước phiên tòa, các bên đều có quyền yêu cầu nhân chứng và người giám định tham dự phiên tòa công khai và đối chất với họ Việc tranh luận tại phiên Tòa được khép lại theo trình tự: Luật sư Chính phủ tranh luận - bên bào chữa tranh luận và Luật sư Chính phủ tranh luận tại phiên Tòa, Thẩm phán cần phải tập trung lập nhưng phải bảo vệ các quyền của Bị cáo Trong khi hai bên buộc tội và gỡ tội thực hiện thủ tục tranh tụng, Thẩm phán đóng vai trò trung gian với công việc đầu tiên là theo dõi phiên tòa, sau đó là xem xét các đơn đề nghị của các bên liên quan đến các dạng chứng cứ và các câu hỏi được đặt ra cho nhân chứng Thẩm phán phải duy trì trật tự tại phiên tòa Không

bị pháp luật cấm, mà do truyền thống của các Tòa án Hoa Kỳ, Bổi thẩm đoàn không được phép đặt câu hỏi cho các nhân chứng hay Thẩm phán và cũng không được ghi chép gì về vụ án Các bên đều có quyền yêu cầu bằng văn bản những nội dung cụ thể về luật pháp để Tòa án hướng dẫn cho Bồi thẩm đoàn và đề có quyền phản đối những nội dung trong hướng dẫn hoặc phản đối việc hướng dẫn không theo yêu cầu

Trang 33

của mình Bản án của Bồi thẩm đoàn sẽ tuyên về phần tội danh đối với Bị cáo Nếu Bồi thẩm đoàn không đưa ra được phán quyết thống nhất, họ vẫn được yêu cầu nỗ lực để đạt được phán quyết, nhưng trong trường hợp không đưa ra được quyết định thì Thẩm phán có thể giải tán Bồi thẩm đoàn và triệu tập một phiên tòa xét xử mới Nếu Bồi thẩm đoàn phán quyết là Bị cáo có tội thì giai đoạn kết án và quyết định hình phạt sẽ bắt đầu Tòa án phải có báo cáo trước khi quyết định hình phạt về tiền

án, tiền sự, khung hình phạt, án phí Bị cáo và Luật sư của Bị cáo có quyền đọc báo cáo và có thể được chấp nhận phản đối báo cáo Trước khi quyết định hình phạt, Tòa án phải gặp gỡ riêng Bị cáo để Bị cáo trình bày tình tiết giảm nhẹ; Cho Luật sư của Bị cáo, nạn nhân cũng như Luật sư của Chính phủ cơ hội được phát biểu Sau khi kết án, Tòa án phải tư vấn cho Bị cáo biết quyền kháng cáo

Ưu điểm

- Bảo đảm quyền tranh tụng trước Tòa án cho cả phía buộc tội (đại diện của Nhà nước) và phía gỡ tội (các Luật sư bào chữa) một cách bình đẳng, khách quan, không bên nào được lấn át hay áp đặt nhận thức đối với bên kia về quan điểm mà mình đưa ra Thẩm phán giữ vai trò trọng tài, điều khiển cuộc tranh tụng, bảo đảm cho các bên có đầy đủ các điều kiện và quyền hạn tranh tụng như nhau, bảo đảm cho các bên có đầy đủ các điều kiện và quyền hạn tranh tụng như nhau, buộc bên bị phản đối phải chấm dứt việc đưa ra các quan điểm suy diễn, áp đặt nếu sự phản đối của bên kia là có căn cứ (phản đối hữu hiệu), đồng thời, ngăn chặn những phản đối không có căn cứ (phản đối vô hiệu)

- Sử dụng việc kiểm tra chéo, đối chất để xác định chính xác, có căn cứ của chứng cứ Các bên (buộc tội và gỡ tội) đều có quyền thẩm vấn các nhân chứng để kiểm tra tính trung thực trong lời khai của họ, kiểm tra tính xác thực, lô gíc và có căn cứ về những chứng cứ mà họ đã khai, nhằm bảo đảm rằng lời khai của nhân chứng là cái họ đã nhìn thấy, chứng kiến cụ thể chứ không phải do suy diễn hoặc họ nghĩ rằng sẽ diễn ra như vậy

- Đề cao tính trung lập của Tòa án, trong hệ thống tố tụng tranh tụng, Thẩm phán, Bồi thẩm đoàn chỉ đưa ra kết luận cuối cùng và đứng ngoài mọi tranh luận và

họ cũng bị cấm tham gia vào các thủ tục thu thập chứng cứ hay thuyết phục các bên

có các thao tác hoà giải với nhau Trách nhiệm trình bày chứng cứ thuộc về các bên

Lý luận của mô hình tranh tụng đòi hỏi rằng các bên phải có trách nhiệm đưa ra chứng cứ trước Tòa án Nguyên tắc này bảo đảm cho Tòa án thoát khỏi mọi ảnh

Trang 34

hưởng hay định kiến - nếu tham gia vào việc thu thập chứng cứ Điều đó cũng khuyến khích các bên phải tận dụng hết mọi cơ hội hay khả năng để tìm tòi, đưa ra những chứng cứ thuyết phục nhất và qua đó Thẩm phán có điều kiện để suy xét, đưa

ra phán quyết thích hợp nhất

- Chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật được giao cho Tòa án Với vị trí trung tâm của hệ thống tư pháp, của hoạt động tố tụng, tòa án có quyền và có trách nhiệm bảo đảm cho các bên nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật

Nhược điểm

- Tố tụng tranh tụng bị phê phán là xa rời thực tế, một số ý kiến cho rằng, trong mô hình tố tụng tranh tụng, bên nào có nhiều tiền để thuê Luật sư thì sẽ có nhiều khả năng giành thắng lợi hơn Do vậy tố tụng tranh tụng chỉ cho phép tìm ra một phần sự thật mà không phải là tất cả

- Chi phí mở phiên tòa cao, thời gian xét xử thường kéo dài, thành viên Bồi thẩm đoàn có thề bị ảnh hưởng quá mức bởi thông tin đại chúng liên quan đến vụ việc và khó có thể ước định ngay thiệt hại cũng như phân tích những chứng cứ phức tạp tại phiên Toà; Bồi thẩm đoàn không có trách nhiệm đưa ra lý do đối với các quyết định của họ6…

Mặc dù có những điểm khác nhau cơ bản, thậm chí trái ngược nhau, cả hai

hệ thống đều có một đặc điểm chung là Nhà nước độc quyền trong việc xác định có hay không có một vụ việc phạm tội và quyết định hình phạt với một mục đích cơ bản và chủ yếu là ngăn ngừa việc trả thù cá nhân Hệ thống tố tụng tranh tụng và hệ thống tố tụng thẩm vấn có thể tóm lược cơ bản như sau:

Thẩm phán dành quyền cho các bên: Cảnh

sát và Công tố viên chịu trách nhiệm

điều tra và thu thập chứng cứ Bị can

trong VAHS và Bị đơn trong vụ việc

dân sự phải tự điều tra vụ việc của mình

Trong suốt quá tình tranh tụng, Thẩm

phán không dẫn dắt chứng cứ mà chỉ đặt

ra câu hỏi và yêu cầu nhân chứng làm rõ

những điểm được nêu ra bởi các bên

Thẩm phán giữ quyền chủ động, tích cực:

Trang 35

Nội dung Hệ thống tố tụng tranh tụng Hệ thống tố tụng thẩm vấn

Vai trò

của đại

diện

pháp lý

Đại diện pháp lý đóng vai trò quan

trọng nhất trong việc điều tra vụ việc

cho khách hàng và đưa ra các chứng cứ

đến Tòa để thẩm tra

Đại diện pháp lý là không cần thiết, các đại diện pháp lý chỉ giữ vai trò giúp Thẩm phán tìm ra sự thật Họ có thể đặt câu hỏi cho nhân chứng sau khi Thẩm phán kết thúc kiểm tra và phải được sự đồng ý của Thẩm phán

Hệ thống này chủ yếu dựa trên chứng

cứ viết mặc dù nhân chứng phải thẩm vấn tại Tòa (Tình trạng án tại hồ sơ) Tuy nhiên, không có những quy định chặt chẽ về chứng cứ và thủ tục thu thập chứng cứ

nhân thân cũng không được chấp nhận

trước Tòa án nếu nó được sử dụng để

chống lại Bị cáo trừ một số vụ việc như

những chứng cứ về thiên hướng của Bị

cáo trong các vụ án hiếp dâm

Nhân chứng phải trả lời câu hỏi

Nhân chứng chỉ được phép trả lời câu

hỏi và thường bị ngắt nếu họ cố gắng

minh chứng cho một luận điểm Điều

này thường làm cho nhân chứng mất

bình tĩnh, do đó, những thông tin quan

trọng có thể không được đưa ra ánh sáng

Nhân chứng kể lại sự việc theo cách hiểu của mình mà không bị ngắt quãng bởi các câu hỏi

Tìm

kiếm

sự thật

Hệ thống này được thiết kế giúp các bên

tự kiểm soát vụ việc và cung cấp cho

các bên cơ hội bình đẳng để thắng kiện

Sự thật có thể không được luôn luôn tìm

thấy trong hệ thống này

Hệ thống này được thiết kế nhằm tìm kiếm sự thật Thẩm phán phải điều tra

vụ việc để tìm ra sự thật Tuy nhiên,

có một nhược điểm là do Thẩm phán

đã hiểu rõ những thông tin về nhân cách và lý lịch nhân thân của Bị cáo nên những điều này có thể ảnh hưởng, làm sai lệch quan điểm của Thẩm phán đối với Bị cáo

Trang 36

Tóm lại, mỗi mô hình tố tụng có những mặt hạn chế và tích cực nhất định,

đồng thời có những điểm bất cập tương đồng Áp dụng mô hình tố tụng nào phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, xã hội và truyền thống pháp luật của từng nước Tuy nhiên, việc hiểu rõ những mặt tích cực và hạn chế của mỗi mô hình luôn tạo ra sự chủ động tích cực trong quyết định lựa chọn của quốc gia

1.3.2 Một số kinh nghiệm có thể vận dụng tại Việt Nam

Như đã trình bày ở mục 3.1.1 có thể nhận thấy so với hoạt động tranh tụng trong xét xử VAHS của các nước Anh, Mỹ, Pháp hệ thống tranh tụng truyền thống của Việt Nam trong xét xử VAHS thời gian qua đã quá "coi trọng" vai trò của người tiến hành tố tụng và chưa coi trọng vai trò của người tham gia tố tụng Tuy nhiên cũng dễ dàng nhận thấy hệ thống tố tụng tranh tụng có nhược điểm là không quan tâm đầy đủ tới việc xác định sự thật của vụ án, mỗi bên đều cố gắng thuyết phục thẩm phán và bồi thẩm đoàn về tính chính xác của phiên bản sự thật do mình đưa ra

Hệ thống tố tụng thẩm vấn thì có sự thiên lệch về một phía dẫn đến chất lượng hồ

sơ vụ án bị giảm sút Trên cơ sở phân tích những ưu điểm và nhược điểm nổi bật của 02 hệ thống này, tôi nhận thấy có một số kinh nghiệm phù hợp có thể vận dụng vào nước ta trong giai đoạn hiện nay như sau:

Thứ nhất, cần phát huy niềm tin rằng nhân viên Nhà nước sẽ tiến hành theo cách khách quan và chuyên nghiệp để xác định sự thật cùng với việc bảo vệ các lợi

ích của người bị buộc tội trong hệ thống thẩm tra và sự khẳng định mục đích nêu trên chỉ được bảo vệ tốt nhất bởi chính các bên trong hệ thống tranh tụng Để làm được điều này chúng ta cần kết hợp: Cân đối lợi thế của bên truy tố là tính chuyên nghiệp và trang thiết bị, quyền bắt, khám xét, giam giữ, chất vấn… được sử dụng và bên bào chữa tự lập về nguồn lực cũng như tài chính bằng cách toàn bộ hồ sơ vụ án được cung cấp cho bên bào chữa khi có yêu cầu; Hạn chế việc cơ quan Nhà nước làm thay chức năng của nhau, dẫn đến việc tồn tại những định kiến bằng cách phân định rõ chức năng tố tụng trong giải quyết VAHS

Thứ hai, xây dựng nguyên tắc tranh tụng trong TTHS của nước ta theo ưu điểm của hệ thống tố tụng thẩm vấn, xác định giai đoạn điều tra VAHS trước khi

mở phiên tòa là điều quan trọng nhằm giảm thiểu thời gian giải quyết vụ án cũng như tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm

Thứ 3,tiếp thu các yếu tố hợp lý trong hệ thống tố tụng tranh tụng vào quá trình giải quyết VAHS của Việt Nam trong việc phân định rạch ròi ba chức năng tố

Trang 37

tụng; Tăng cường yếu tố trao đổi, tranh luận, phản bác của các bên trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử cũng như tại phiên tòa để nâng cao chất lượng xét xử một cách dân chủ, công khai, giảm tỉ lệ oan, sai trong TTHS là những bài học kinh nghiệm, vấn đề then chốt, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong TTHS ở Việt Nam giai đoạn hiện nay

Có thể nói, mặc dù được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau song hoạt động tranh tụng (hay thủ tục tố tụng, giai đoạn tố tụng, mô hình tố tụng…) luôn tồn tại bên buộc tội và bên gỡ tội có chức năng đối kháng, phủ định lẫn nhau, đây là một trong những phương pháp hữu hiệu để tìm ra sự thật của vụ án Việc ghi nhận

và áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong TTHS ở nước ta là một yêu cầu mang tính tất yếu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đây cũng

là một nội dung quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp của nước ta từ nay đến năm 2020 nhằm đạt được mục tiêu xây dựng một nền tư pháp dân chủ, hiện đại, hiệu quả, đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhà nước và

xã hội7

7 Trương Hòa Bình và Ngô Cường (Chủ biên), Hệ thống tranh tụng của tòa án một số nước trên thế giới (kinh nghiệm cho Việt Nam), Nxb Thế giới, tr 46-47

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội, dân tộc của tỉnh Điện Biên

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội của Điện Biên có ảnh hưởng tới hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự

* Diện tích tỉnh Điện Biên

Diện tích tự nhiên: 9.562,9 km2 (theo Nghị quyết số 45/NQ-CP, ngày

25/8/2012 của Chính phủ)

* Vị trí địa lý

Điện Biên là một tỉnh biên giới miền núi thuộc vùng Tây Bắc của Tổ quốc,

có tọa độ địa lý 20o54’ - 22o33’ vĩ độ Bắc và 102o10’ - 103o36’ kinh độ Đông Nằm cách Thủ đô Hà Nội 504 km về phía Tây, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây và Tây Nam giáp Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với 2 quốc gia: Trung Quốc (dài 38,5km) và Lào (dài 360 km) Đây

là điều kiện và cơ hội rất lớn để Điện Biên đẩy mạnh thương mại quốc tế, tiến tới xây dựng khu vực này thành địa bàn trung chuyển chính trên tuyến đường xuyên Á phía Bắc, nối liền vùng Tây Bắc Việt Nam với khu vực Bắc Lào - Tây Nam Trung Quốc và Đông Bắc Mianma

* Địa hình

Do ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo nên địa hình của Điện Biên rất phức tạp, chủ yếu là đồi núi dốc, hiểm trở và chia cắt mạnh Được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với độ cao biến đổi từ 200m đến hơn 1.800m Ở phía Tây có các điểm cao 1.127m, 1.649m, 1.860m và dãy điểm cao Mường Phăng kéo xuống Tuần Giáo Xen lẫn các dãy núi cao là các thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc

* Khí hậu

Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, mùa Đông tương đối lạnh

và ít mưa; mùa hạ nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến thất thường, phân hóa

đa dạng, chịu ảnh hưởng của gió tây khô và nóng Nhiệt độ trung bình hàng năm từ

21o - 23oC, nhiệt độ trung bình thấp nhất thường vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau

Trang 39

(từ 14o - 18oC), các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất từ tháng 4 - 9 (25oC) - chỉ xảy ra các khu vực có độ cao thấp hơn 500m Lượng mưa hàng năm trung bình từ 1.300 - 2.000mm, thường tập trung theo mùa, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau

* Về dân số

Tính đến năm 2016, dân số của tỉnh Điện Biên là 557400 người với mật

độ dân số là 58 người/km² Trong đó, dân số nam và dân số nữ xấp xỉ nhau, khoảng 278.700 người; dân số thành thị đạt 84.000 người và dân số nông thôn đạt 473.400 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số của Điện Biên là 13,3 ‰

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến năm 2009, tỉnh Điện Biên có 33 dân tộc sinh sống bao gồm: Thái, Mông, Kinh, Dao, Khơ Mú, Hà Nhì, Giáy, La Hủ, Lự, Hoa, Kháng, Mảng, Tày, Nùng, Mường, Trong đó, dân tộc Thái là dân tộc có dân số đông nhất với 186270 người, chiếm 38,4% dân số toàn tỉnh Dân tộc Mông xếp thứ hai với 170648 người, chiếm 34,8% dân số toàn tỉnh

Với những điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế và xã hội và đa dạng các dân tộc thiểu số, đa dạng các nền văn hóa trong đó có văn hóa pháp lý như vậy ít nhiều cũng có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của ngành Tòa án nói chung, và hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử VAHS nói riêng

2.2 Những kết quả đạt được và những hạn chế yếu kém trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở Điện Biên

2.2.1 Những kết quả đã đạt được trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở Điện Biên

Được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Tỉnh ủy tỉnh Điện Biên, sự hướng dẫn kịp thời của Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC); Sự phối hợp, giúp đỡ của các ngành có liên quan; Ban cán sự Đảng TAND tỉnh Điện Biên

đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, các chỉ thị của Ban cán sự Đảng TANDTC, các ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Tỉnh ủy về tổ chức và hoạt động; Đội ngũ cán bộ, Thẩm phán Tòa án được bổ sung, kiện toàn cả về số lượng và chất lượng; Cơ sở vật chất và trang thiết

bị làm việc được đảm bảo Ngay từ khi Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 về nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 được ban hành, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp tỉnh điện Biên đã có chương trình cụ

Trang 40

thể xây dựng chiến lược cải cách Tư Pháp đến năm 2020 trong đó chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa Ngành TAND Điện Biên đã tiếp thu, triển khai và có những chuyển biến rõ nét trong công tác xét xử VAHS đặc biệt

là giai đoạn tranh tụng tại phiên tòa Tổng số án hình sự giải quyết trong 5 năm từ năm (2011- 2016) trên 6000 vụ án, tuy số lượng thụ lý và giải quyết năm sau nhiều hơn năm trước nhưng các vụ án đều được giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định; Chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án được đảm bảo Qua nghiên cứu, phân tích đánh giá các báo cáo, số liệu thống kê cụ thể tôi nhận thấy tranh tụng trong thời gian qua ở Điện Biên đã đạt được một số kết quả cơ bản sau đây

Ngày đăng: 02/08/2019, 21:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w