1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự từ thực tiễn tại các tòa án trên địa bàn tỉnh lạng sơn

78 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ được giới hạn trong phạm vi sau đây: - Nghiên cứu về bản chất của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự; - Nghiên cứu các quy định

Trang 1

NGUYỄN THỊ HẰNG

Thu thËp chøng cø trong tè tông d©n sù tõ thùc tiÔn

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HẰNG

Thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự từ thực tiễn tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyờn ngành : Luật dõn sự và Tố tụng dõn sự

Mó số : 8 38 01 03

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Anh Tuấn

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU THẬP CHỨNG CỨ

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ

1.2 Quy định hiện hành về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án

Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ THU THẬP

CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ TẠI CÁC TÒA ÁN

2.1 Thực tiễn thực hiện các quy định về thu thập chứng cứ của Tòa án

2.2 Một số kiến nghị về thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÀO

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

bảng

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

biểu đồ

tố tụng dân sự của TAND hai cấp tỉnh Lạng Sơn từ năm

Thẩm phán của TAND hai cấp tỉnh Lạng Sơn từ năm

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015

và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016 đã thay thế BLTTDS số 24/2004/QH11

đã được sửa đổi và bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 Đây là văn bản có tính pháp lý cao nhất quy định về những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (TAND) giải quyết các vụ

án về tranh chấp dân sự; trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự và những vấn đề cơ bản khác nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ra đời đã có những quy định mới, những sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự trong giai đoạn hiện nay Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là một trong những nội dung quan trọng được điều chỉnh bởi BLTTDS năm 2015 với những quy định mới, góp phần tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án

Trong những năm gần đây, công cuộc cải cách tư pháp được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm, mục tiêu hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Nhằm tạo sự chuyển biến mang tính đột phá trong công cuộc đấu tranh bảo vệ công lý, bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020, theo đó đặt ra nhiệm vụ trọng tâm mang tính đột phá của hoạt động tư pháp là nâng cao chất lượng tranh tụng Do vậy, hơn bao giờ hết, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án càng được quan tâm, chú trọng bởi chứng minh, chứng cứ là cơ sở, là tiền đề của tranh tụng

Trang 8

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã khắc phục được một số tồn tại, hạn chế của BLTTDS năm 2004 về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, phù hợp hơn với thực tế áp dụng, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức Tuy nhiên, một số quy định của Bộ luật này điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án vẫn còn chưa thực sự hợp lý, thiếu tính rõ ràng, cụ thể dẫn tới những khó khăn, vướng mắc nhất định trong thực tiễn áp dụng tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trên cơ sở pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, từ đó đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả của hoạt động này là một việc làm cấp thiết

Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài "Thu thập chứng cứ

trong tố tụng dân sự từ thực tiễn tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn"

làm đề tài luận văn cao học luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Sau khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực đã có một số công trình nghiên cứu và các bài viết trên tạp chí viết về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Tuy nhiên, các công trình, bài viết này chỉ thuần tuý chứngn cứu hoạt động thu thập chứng cứ với tư cách là một giai đoạn của hoạt động

chứng minh trong tố tụng dân sự như đề tài "Thu thập chứng cứ theo quy định

của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015", của Hoàng Hải An (Luận văn cao học

bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2017) hoặc dưới khía cạnh là

hoạt động của Luật sư như đề tài "Hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư

trong tố tụng dân sự", của Đặng Minh Chiến (Luận văn cao học bảo vệ tại

Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2016) Về bài nghiên cứu có bài "Trình tự,

thủ tục thu thập chứng cứ", của Nguyễn Thị Thảo Trang, Trịnh Thị Minh

Trang trên Tạp chí TAND, số 8/2018 Việc nghiên cứu cho thấy các công trình trên nghiên cứu với phạm vi rộng về các hoạt động thu thập chứng cứ nói chung trong tố tụng dân sự hoặc nghiên cứu dưới góc độ nhiệm vụ, kỹ năng

Trang 9

của Luật sư liên quan đến hoạt động thu thập chứng cứ Gần đây nhất là đề tài

khóa luận tốt nghiệp về "Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố

tụng dân sự và thực tiễn thực hiện" của Nguyễn Thị Thu Hằng (bảo vệ tại

Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2016) cũng nghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự nhưng nội dung luận văn liên hệ thực tiễn tới các Tòa án nói chung, không gắn với hoạt động thu thập chứng cứ của một Tòa án địa phương cụ thể

Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu với những đề tài như

"Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam",

của Phạm Thị Hương; "Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố

tụng dân sự", của Nguyễn Văn Thành… nhưng các công trình này đều là

những luận văn được thực hiện trước khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực (Luận văn bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013)

Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân

sự theo BLTTDS năm 2015 có liên hệ đến thực tiễn các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận cũng như nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án (có đối chiếu, so sánh với các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trước đó) và thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu về pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Tuy nhiên, một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cũng được tiến hành nghiên cứu nhằm tạo cơ sở cho

Trang 10

việc đánh giá luật thực định và đề xuất kiến nghị Do vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ được giới hạn trong phạm vi sau đây:

- Nghiên cứu về bản chất của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự;

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự;

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động thu thập chứng

cứ trong tố tụng dân sự tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Trong phạm vi luận văn này chỉ đi sâu và nghiên cứu hoạt động chủ động thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án hoặc thu thập theo yêu cầu của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự thông qua các biện pháp mà pháp luật quy định, qua đó liên

hệ với thực tiễn thực hiện của các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Luận văn không đi sâu nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án bằng phương thức ghi nhận các chứng cứ do các chủ thể khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án hay hoạt động thu thập chứng cứ thông qua tranh tụng tại phiên tòa

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

4.1 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ được những vấn đề lý luận cũng như nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, chỉ ra những điểm mới mang tính ưu việt so với BLTTDS trước đó và những nội dung còn thiếu sót, chưa hợp lý trong các quy định hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Đồng thời liên hệ với thực tế thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, qua đó chỉ ra những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tổng hợp, Luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đối với hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

Trang 11

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Để thực hiện được mục tiêu trên, luận văn phải hoàn thành một số

nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự;

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân

sự Việt Nam tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; chỉ ra những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện, những điểm bất cập, thiếu hợp lý trong các quy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

- Đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nói chung và các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Việc nghiên cứu luận văn được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch

sử, chính sách của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Đồng thời luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống

kê, quy nạp, diễn dịch v.v…

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam có liên hệ thực tiễn thực hiện với các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Những đóng góp của luận văn thể hiện trên một số phương diện sau đây:

- Làm rõ được khái niệm và đặc điểm cơ bản của hoạt động thu thập

chứng cứ; chỉ ra được ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự

Trang 12

- Là công trình nghiên cứu đánh giá về các quy định hiện hành liên

quan đến hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án và thực tiễn thực hiện tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Do vậy, Luận văn chỉ ra được những hạn chế của pháp luật và bất cập trong thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS năm 2015 về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án từ thực tiễn tại tỉnh Lạng Sơn

- Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, nâng cao hiệu quả của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nói chung và đặc biệt là các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

- Luận văn được bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích

cho giảng viên, sinh viên chuyên ngành luật, các cán bộ làm công tác thực tiễn liên quan đến hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Ngoài ra, luận văn

sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan lập pháp liên quan tới việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm hai chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về thu thập chứng cứ của Tòa án

trong tố tụng dân sự

Chương 2: Thực tiễn thực hiện các quy định về thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn và kiến nghị

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU THẬP CHỨNG CỨ

CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng

cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự

1.1.1.1 Khái niệm về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong

tố tụng dân sự

Theo Từ điển tiếng Việt thì "hoạt động" có nghĩa là "làm những việc

khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội" "Thu thập" là "góp nhặt và tập hợp lại"; "chứng cứ" là "những cái cụ thể như lời nói, việc làm, vật chứng, tài liệu tỏ rõ điều gì đó có thật"

Như vậy, dưới góc độ ngôn ngữ học thì hoạt động thu thập chứng cứ

là hoạt động phát hiện, góp nhặt và tập hợp những tình tiết, sự kiện có liên quan đến vụ việc dân sự nhằm mục đích nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự đó

Vậy dưới góc độ lý luận thì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự là gì? Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án có phải là hoạt động chứng minh giải quyết vụ việc dân sự dân sự hay không?

Trong thế giới khách quan luôn tồn tại nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau đòi hỏi con người phải nhận thức và đánh giá, đó chính là các hoạt động chứng minh Đây là hoạt động diễn ra thường xuyên trong cuộc sống khi con người nhận thức thế giới xung quanh Theo Từ điển tiếng Việt thì chứng minh

là nhằm "làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ"

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án phải làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến vụ việc dân sự, phải nghiên cứu những chứng cứ khác nhau

Trang 14

do đương sự cung cấp và những chứng cứ tự mình thu thập được, đây chính là hoạt động chứng minh của Tòa án Hoạt động chứng minh được diễn ra suốt trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể tố tụng như cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ

và làm rõ các cơ sở pháp lý liên quan đến các yêu cầu trong vụ việc dân sự

Như vậy, hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là hoạt động mang tính chất pháp lý đặc thù được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật tố tụng dân sự, do các chủ thể được pháp luật quy định thực hiện và kết quả của hoạt động này sẽ cơ sở để Tòa án ra phán quyết giải quyết vụ việc Chủ thể của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và Tòa án, cụ thể là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc và Hội đồng xét xử vụ án đó

Nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu, phản đối yêu cầu trước hết thuộc

về đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án Tòa án chỉ có trách nhiệm xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ và có yêu cầu Tòa án có thể hỗ trợ đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh hoặc trong trường hợp cần thiết thì Tòa án có thể chủ động tiến hành thu thập chứng cứ nhằm làm rõ những sự kiện pháp lý của vụ việc

Đối với các đương sự, hoạt động chứng minh là phương tiện duy nhất

để họ có thể bảo vệ được các quyền và lợi ích của mình Đối với Tòa án, hoạt động chứng minh là công cụ để Tòa án có thể nhận thức được chính xác sự việc đã xảy ra trên thực tế, làm cơ sở để đưa ra phán quyết giải quyết các vụ việc phát sinh một cách nhanh chóng, chính xác và khách quan

Hoạt động chứng minh được thực hiện thông qua các hoạt động cụ thể bao gồm cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ Trong đó, cung cấp chứng cứ là hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng trong việc đưa lại cho Tòa án, Viện kiểm sát các chứng cứ của vụ việc dân sự Nghĩa vụ cung

Trang 15

cấp chứng cứ thuộc về các đương sự, người đại diện của họ và cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ Thu thập chứng cứ là hoạt động do các chủ thể chứng minh thực hiện nhằm phát hiện các chứng cứ của

vụ việc dân sự Nghiên cứu chứng cứ là hoạt động do các chủ thể tố tụng tiến hành trong suốt quá trình tố tụng dân sự nhằm kiểm tra các thuộc tính của chứng cứ, tài liệu thu thập được Đây là hoạt động có tính tiền đề, cơ sở cho hoạt động đánh giá chứng cứ Đánh giá chứng cứ là hoạt động cuối cùng của quá trình chứng minh do các chủ thể chứng minh thực hiện nhằm xác định giá trị chứng minh của chứng cứ Trong đó, việc đánh giá chứng cứ của Tòa án là quan trọng nhất vì Tòa án là chủ thể có quyền sử dụng chứng cứ để giải quyết

Từ những phân tích trên có thể kết luận, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, do Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử tiến hành nhằm tập hợp, ghi nhận, thu giữ và bảo quản các chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự

1.1.1.2 Đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong

tố tụng dân sự

- Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự là hoạt động có tính quyền lực nhà nước

Đây là đặc điểm cơ bản phân biệt hoạt động thu thập chứng cứ của

Tòa án với hoạt động thu thập chứng cứ của những người tham gia tố tụng

Trang 16

Tính quyền lực nhà nước được thể hiện ở chỗ các biện pháp thu thập chứng

cứ mà Tòa án tiến hành có tính ràng buộc trách nhiệm với các chủ thể liên quan Ví dụ, đương sự có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; những người tham gia tố tụng được triệu tập phải có mặt để tham gia đối chất; cơ quan hữu quan phải phối hợp với Tòa án trong việc tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, cử người tham gia Hội đồng định giá; Tòa án nhận được ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc ủy thác thu thập chứng cứ trong thời hạn luật định; các chủ thể đang quản lý, lưu giữ chứng cứ phải thực hiện yêu cầu cung cấp chứng cứ của Tòa án đúng thời hạn và phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi vi phạm của mình v.v

- Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc dân sự hoặc Hội đồng xét xử tiến hành

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự Thẩm phán được phân công giải quyết là người trực tiếp xây dựng hồ sơ vụ việc dân sự, thu thập chứng cứ thông qua các hoạt động như lấy lời khai, đối chất, hòa giải Đây là đặc điểm để phân biệt hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong lĩnh vực tố tụng dân sự với lĩnh vực tố tụng hình sự Khác với hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự, mục đích của hoạt động tố tụng hình sự là truy tố những hành vi vi phạm pháp luật

có tính chất nguy hiểm cho xã hội để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật

Do vậy, việc thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự thuộc trách nhiệm của

cơ quan điều tra Tòa án chỉ thu thập chứng cứ tại phiên tòa thông qua phần xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, nếu xét thấy các tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ thì Tòa án ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung chứ không trực tiếp thực hiện công việc thu thập chứng cứ như trong tố tụng dân sự Đồng thời, pháp luật tố tụng hình sự cũng không quy định bị can, bị cáo phải có nghĩa vụ chứng minh, họ cũng không phải chịu

Trang 17

tình tiết tăng nặng nếu không khai báo hoặc khai báo gian dối Nghĩa vụ thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm trong trường hợp này thuộc về Nhà nước mà cụ thể là các cơ quan tiến hành tố tụng Còn tại phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử là người trực tiếp thực hiện việc thu thập chứng cứ thông qua hoạt động xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự do Thẩm phán giải quyết vụ việc tiến hành Đây cũng là đặc điểm cơ bản để phân biệt với hoạt động thu thập chứng cứ của người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát Ngoài ra, đặc điểm này là dấu hiệu để khẳng định quyền năng của Thẩm phán trong việc thu thập chứng cứ đối với các vụ việc dân sự Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ việc dân sự là người nắm rõ nội dung vụ việc nhất, là người chịu trách nhiệm về kết quả của việc giải quyết vụ việc Chánh án và Phó chánh án không có vai trò trong việc thu thập chứng cứ

để giải quyết vụ việc Thư ký Tòa án cũng không có quyền thu thập chứng cứ

mà chỉ là người giúp việc cho Thẩm phán, hỗ trợ Thẩm phán trong một số hoạt động thu thập chứng cứ như ghi biên bản lấy lời khai, biên bản định giá tài sản, biên bản đối chất, nhận các tài liệu đương sự giao nộp khi được Thẩm phán giao nhiệm vụ

- Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm hỗ trợ cho đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh, được tiến hành theo yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự

Khi tham gia tố tụng, các đương sự có nghĩa vụ cung cấp, chứng minh, do vậy họ phải thu thập chứng cứ nộp cho Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình Một trong các nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong tố tụng dân

sự là nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự Xuất phát từ nguyên tắc

"quyền tự định đoạt của đương sự" mà tố tụng dân sự ghi nhận đương sự có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình, Tòa án chỉ thu thập chứng cứ trong một số trường hợp luật định Vì vậy, đương sự phải tiến hành thu thập chứng cứ để cung cấp cho Tòa án, nghĩa vụ thu thập chứng cứ để chứng minh

Trang 18

trước tiên thuộc về đương sự, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án chỉ mang tính hỗ trợ cho đương sự và phục vụ cho việc làm rõ cơ sở, quyết định của Tòa án Trong nhiều vụ án, khả năng tự bảo vệ của đương sự yếu, chứng cứ đương sự không tự thu thập được, các cơ quan, tổ chức, cá nhân lưu giữ chứng

cứ gây khó khăn, không có thiện chí cung cấp chứng cứ cho đương sự v.v , nếu đợi chứng cứ do đương sự giao nộp, cung cấp thì vụ việc sẽ bị kéo dài mà không có hướng giải quyết, dẫn đến tình trạng án quá hạn luật định, và trong nhiều trường hợp có thể sẽ làm cho vụ án thêm phức tạp, khó khăn nên cần thiết Tòa án phải tiến hành các biện pháp hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ Không phải vụ việc dân sự nào cũng yêu cầu Tòa án tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ như nhau mà tùy thuộc vào yêu cầu của từng vụ việc, Tòa

án sẽ tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ cần thiết, phù hợp Ví dụ trong vụ án hôn nhân gia đình mà các đương sự thỏa thuận được về con cái, tài sản, nợ chung, chỉ yêu cầu Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn với căn

cứ rõ ràng quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án không cần phải tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ như thẩm định, định giá tài sản Tuy nhiên, nếu trong trường hợp vụ án mà các đương sự yêu cầu chia tài sản mà không tự xác định được giá trị tài sản tranh chấp thì Tòa án sẽ phải tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ là thẩm định, định giá tài sản để có căn cứ giải quyết vụ án

Nếu như trong tố tụng dân sự, các bên đương sự có quyền và nghĩa

vụ ngang nhau trong việc cung cấp chứng cứ, Tòa án chỉ thu thập chứng cứ trong một số trường hợp luật định thì trong tố tụng hành chính, do đặc thù bên bị kiện là cơ quan nhà nước, bên khởi kiện là bên yếu thế hơn nên việc thu thập chứng cứ của nguyên đơn có thể gặp khó khăn Bởi vậy, trong tố tụng hành chính, vai trò của Tòa án trong việc xác minh, thu thập chứng cứ được đề cao hơn, giữ vai trò đặc biệt quan trọng và cần thiết nhằm đảm bảo việc xác định sự thật khách quan, giúp cho việc giải quyết vụ án được công bằng, minh bạch

Trang 19

- Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án phải được tiến hành theo quy định của pháp luật

Một trong những thuộc tính cơ bản của chứng cứ là tính hợp pháp Theo đó, những thông tin thực tế về vụ việc dân sự phải được Tòa án thu thập

từ các nguồn hợp pháp và theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Đặc điểm này nhằm bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ, tránh sự lạm quyền hay tùy tiện của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, ngăn ngừa các hành vi gây tổn hại đến quyền của đương sự

Các sự kiện, tình tiết để trở thành chứng cứ trong vụ việc dân sự có giá trị chứng minh cho yêu cầu hay phản đối của các bên thì cần phải được thu thập, bảo quản, củng cố, nghiên cứu và đánh giá theo một thủ tục do luật định, trình tự này nhằm bảo đảm giá trị của chứng cứ, buộc Thẩm phán tiến hành tố tụng dân sự một cách thận trọng, chặt chẽ, đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan của các chứng cứ do Tòa án thu thập và sử dụng, từ đó các phán quyết của Tòa án có được sức thuyết phục cao, thể hiện tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật Chứng cứ sẽ mất giá trị nếu trong quá trình thu thập có sự vi phạm quy định của pháp luật Chẳng hạn, pháp luật yêu cầu khi Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng chưa đủ chưa đủ mười tám tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc lấy lời khai phải được tiến hành với

sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó Với cách quy định chặt chẽ về thủ tục thu thập chứng cứ như trên sẽ hạn chế được việc lập khống các biên bản lấy lời khai hoặc giả mạo chứng cứ, đồng thời tránh được phản bác của đương sự đối lập

về tính hợp pháp của tài liệu, chứng cứ

1.1.2 Ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự

Hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có được tốt hay không phụ thuộc một phần rất lớn

Trang 20

vào việc chứng cứ có được cung cấp, thu thập đầy đủ hay không Do đó, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ việc dân sự

- Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án giữ vai trò là một trong các hoạt động chứng minh hiệu quả trong tố tụng dân sự

Chứng cứ là vấn đề trung tâm và quan trọng trong hoạt động chứng minh tố tụng dân sự Có thể nói, mọi hoạt động trong quá trình chứng minh chủ yếu xoay quanh vấn đề chứng cứ, chứng cứ là phần quan trọng nhất để chứng minh vụ việc dân sự Do vậy, hoạt động thu thập chứng cứ nói chung

và của Tòa án nói riêng là một trong các hoạt động chứng minh hiệu quả, tạo tiền đề cần thiết cho việc giải quyết vụ việc dân sự

Mặc dù pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để Tòa án xem xét giải quyết vụ việc, nhưng các chứng

cứ, tài liệu mà đương sự và những người tham gia tố tụng cung cấp có thể chưa đủ để giải quyết vụ việc dân sự Thẩm phán phải đánh giá, xác định xem trong vụ việc dân sự cần phải chứng minh, làm rõ những sự kiện, tình tiết nào,

từ đó phải xác định cần phải thu thập chứng cứ ở đâu, từ đối tượng nào để có thể làm rõ vấn đề cần chứng minh Thẩm phán trực tiếp thụ lý giải quyết vụ việc dân sự là người tiếp xúc trực tiếp với chứng cứ, với các đương sự trong

vụ việc, nghe đương sự trình bày yêu cầu và chứng minh cho yêu cầu của mình Do vậy, hơn ai hết Thẩm phán hiểu rõ những vấn đề khúc mắc trong vụ việc, những vấn đề gì đã rõ và vấn đề nào cần làm rõ, từ đó bằng kỹ năng, nghiệp vụ của mình xác định được phương hướng, vấn đề cần chứng minh, yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ chứng minh hoặc tự thu thập chứng cứ chứng minh, tránh tình trạng thu thập chứng cứ tràn lan, không có trọng tâm dẫn đến chứng cứ thu thập được không có giá trị chứng minh

- Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án giúp đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ

Việt Nam với đặc thù là một nước đang phát triển, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân còn hạn chế nên mặc dù đề cao vai trò chứng minh

Trang 21

của đương sự trong tố tụng dân sự nhưng vẫn chưa thể xóa bỏ vai trò của Tòa

án trong hoạt động chứng minh Thực tế cho thấy khi sự hiểu biết pháp luật của đa số đương sự ở nước ta còn thấp, khả năng tự bảo vệ còn hạn chế, chưa

có điều kiện thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức lưu giữ chứng cứ chưa cao thì việc đương sự

tự mình thu thập toàn bộ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình sẽ gặp rất nhiều khó khăn, dẫn đến hậu quả là quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ Trong khi đó, một bên đương sự khác có thể được hưởng lợi không có căn cứ do đương sự có quyền không có khả năng chứng minh được quyền lợi của mình Bởi vậy, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự sẽ giúp đương sự trong việc định hướng các nguồn chứng

cứ, thu thập những chứng cứ mà đương sự không có khả năng thu thập Theo

đó, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ khi có căn cứ chứng minh mình không thể tự thu thập được theo yêu cầu của Tòa án Căn cứ theo yêu cầu của đương sự, Tòa án ra các quyết định như trưng cầu giám định, định giá tài sản, yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức giao nộp chứng cứ… Chính bởi vậy, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là hoạt động cần thiết giúp đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình

- Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm giúp Tòa án thực hiện vai trò là cơ quan bảo vệ công lý

Trong thực tế, nếu không làm sáng tỏ được các tình tiết, sự kiện của

vụ việc dân sự thì có thể dẫn tới những đánh giá sai lầm trong quá trình giải quyết vụ việc đó Do vậy, thu thập chứng cứ không chỉ có ý nghĩa đối với việc bảo đảm cho quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà còn có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ việc của Tòa án bởi đây là hoạt động chứng minh

có tính chất tiền đề cho các hoạt động chứng minh khác, giúp Tòa án giải quyết vụ việc một cách chính xác, khách quan, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự

Trang 22

Với vai trò là cơ quan tư pháp thực hiện chức năng xét xử, cơ quan bảo vệ công lý thì việc thu thập, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ để giải quyết vụ việc một cách khách quan, công tâm, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân là mục tiêu cao nhất để Tòa án hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình

1.2 Quy định hiện hành về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự

1.2.1 Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng

1.2.1.1 Lấy lời khai của đương sự

Đương sự trong tố tụng dân sự là người có quyền và lợi ích gắn liền với vụ việc dân sự, hơn ai hết họ là người trực tiếp biết rõ các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự Mỗi đương sự ở một địa vị tố tụng khác nhau họ có sự tiếp cận, nhận thức các tình tiết, sự kiện khác nhau Do vậy, biện pháp lấy lời khai của đương sự là một biện pháp có ý nghĩa quan trọng Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì Tòa án đã yêu cầu các đương

sự giao nộp tài liệu, chứng cứ Do vậy, việc Tòa án tiến hành lấy lời khai đương sự trong nhiều trường hợp mang tính xác minh, bổ sung Trên cơ sở

đó, BLTTDS năm 2015 quy định: "Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của

đương sự khi chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng" Theo đó, trước khi tiến hành lấy lời

khai của đương sự, Thẩm phán phải yêu cầu đương sự viết bản tự khai Chỉ khi nội dung trong bản khai chưa đầy đủ hoặc chưa rõ ràng thì mới tiến hành lấy lời khai đối với những nội dung đó Để đánh giá được những nội dung trong bản khai đã đầy đủ, rõ ràng hay chưa yêu cầu Thẩm phán phải nắm chắc các tình tiết mấu chốt có ý nghĩa quan trọng

Nếu như trước khi BLTTDS năm 2004 có hiệu lực thi hành, Thẩm phán và cán bộ Tòa án thường hướng dẫn cho đương sự thực hiện việc tự khai

trình bày qua đơn thì đến BLTTDS năm 2015 đã quy định rõ "Đương sự phải

Trang 23

tự viết bản khai và ký tên của mình" Thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ

việc dân sự sẽ hướng dẫn đương sự viết bản tự khai, tập trung làm rõ những vấn đề mà đương sự chưa khai hoặc khai chưa rõ ràng, đầy đủ; những mâu thuẫn trong chính bản khai của đương sự hoặc giữa bản khai của đương sự này với đương sự khác, giữa bản khai của đương sự với lời khai của nhân chứng hoặc các tài liệu, chứng cứ có liên quan trong hồ sơ

Quy định này có ý nghĩa thực tiễn, bảo đảm cung cấp chứng cứ một cách chính xác, khách quan mà không bị bất cứ sự ép buộc nào, giảm bớt một phần công việc cho Tòa án Từ đó, Thẩm phán xác định được phương hướng

để triển khai kế hoạch giải quyết vụ việc dân sự phù hợp

Việc viết bản khai có thể do đương sự tự viết tay hoặc đánh máy, trong trường hợp đương sự không tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự, Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại biên bản; kết thúc quá trình lấy lời khai, người khai phải được tự đọc lại hoặc nghe đọc lại, phải yêu cầu đương sự ký hoặc điểm chỉ vào tất cả các trang, có đoạn nào cần sửa chữa, bổ sung thì yêu cầu đương sự ghi chú và xác nhận bằng ký tên hoặc điểm chỉ Biên bản phải có chữ ký của người tiến hành lấy lời khai, người được lấy lời khai và người ghi biên bản và đóng dấu của Tòa án Trường hợp người khai không ký vào biên bản thì phải yêu cầu họ ghi rõ lý do vì sao không ký Nếu đã giải thích cho họ mà họ vẫn không ký thì Thẩm phán mời người làm chứng đến xác nhận sự việc và ký tên vào biên bản

Thông thường, Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án,

"trường hợp cần thiết" có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án (khoản 1 Điều 98 BLTTDS năm 2015) BLTTDS không quy định rõ như thế nào là trường hợp cần thiết nhưng trên thực tiễn thì đó có thể là những trường hợp như đương sự mới sinh con, ốm đau, bệnh tật nặng, già yếu, đang bị giam giữ không có điều kiện đi lại Trường hợp biên bản ghi lời khai của đương

sự được lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận

Trang 24

của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã hoặc công an xã, phường, thị trấn hoặc

cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản

Việc lấy lời khai của đương sự là người chưa đủ 6 tuổi; đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự; đương sự là người từ đủ 6 tuổi đến chưa

đủ 15 tuổi; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện hợp pháp của đương sự đó

1.2.1.2 Lấy lời khai của người làm chứng

Khác với đương sự, người làm chứng không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gì trong vụ án nhưng họ là người biết những tình tiết có liên quan đến vụ án Việc lấy lời khai của người làm chứng có thể được Tòa án tiến hành theo yêu cầu của đương sự hoặc do Tòa án chủ động tiến hành khi xét thấy cần thiết để làm rõ sự thật của vụ việc dân sự Về cách thức, thủ tục lấy lời khai người làm chứng cũng thực hiện như việc lấy lời khai của đương sự Tuy nhiên, để bảo đảm tính xác thực của lời khai, trước khi lấy lời khai của người làm chứng, Thẩm phán phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người làm chứng theo quy định của BLTTDS năm 2015 và yêu cầu người làm chứng cam đoan về lời khai của mình Trong trường hợp người làm chứng khai báo sai sự thật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý

kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

Việc tiến hành lấy lời khai người làm chứng có thể được tiến hành tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án

Việc lấy lời khai của người làm chứng chưa đủ mười tám tuổi, người

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó

Việc lấy lời khai là cách thức thu thập chứng cứ được áp dụng phổ biến nhất trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, giúp Tòa án có được

Trang 25

chứng cứ sinh động, thực tế Tuy nhiên, trên thực tế nhiều khi hoạt động này chưa mang lại hiệu quả chứng minh như mong muốn Nguyên nhân là do tính tin cậy của chứng cứ thu được thông qua hoạt động lấy lời khai không được đảm bảo Người được lấy lời khai có thể cung cấp cho Tòa án thông tin chính xác, trung thực nhưng cũng có thể thông tin đó không chính xác, sai sự thực nhằm mục đích có lợi cho mình, bất lợi cho đương sự phía bên kia; hoặc với những trường hợp người làm chứng không khách quan, có quan hệ thân thiết, gần gũi với một bên đương sự hoặc người làm chứng có những quan hệ tiêu cực với một bên đương sự hay có thể vì những mục đích tư lợi khác thì lời khai của họ có thể không đúng sự thực khách quan Bởi vậy, tất cả các chứng

cứ sau khi thu thập được từ biện pháp lấy lời khai đều cần phải được Thẩm phán xem xét, đánh giá một cách khách quan, thận trọng, toàn diện và logic với các chứng cứ khác

1.2.2 Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng

Đối chất là biện pháp thu thập chứng cứ do Tòa án tiến hành cho các đương sự, người làm chứng gặp mặt nhau để đối chiếu, so sánh hoặc chất vấn nhau về cùng một vấn đề để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vấn đề đó Bởi lẽ, cùng một hiện tượng, sự kiện nhưng mỗi cá nhân có thể có những cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau, từ đó khai báo với Tòa khác nhau Để làm rõ những khác biệt đó, Thẩm phán cần tiến hành cho các đương sự, người làm chứng đối chất với nhau nhằm làm rõ nguyên nhân, nội dung cụ thể của mâu thuẫn, tính đúng đắn, tin cậy của những căn cứ mà mỗi người đưa ra chứng minh cho lời khai của mình Biện pháp đối chất có thể được Tòa án chủ động tiến hành hoặc tiến hành theo yêu cầu của đương sự Tại Điều 100 BLTTDS năm 2015 quy định: Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau Khi đối chất Thẩm phán

Trang 26

hỏi hai người cùng một lúc và hỏi về cùng một vấn đề của sự việc mà giữa lời khai của họ có tồn tại mâu thuẫn Tùy từng trường hợp cụ thể mà tiến hành đối chất từng vấn đề một hoặc để từng người trình bày về các vấn đề cần đối chất theo thứ tự Sự tác động lẫn nhau giữa hai người bằng chính sự hiện diện của họ đối với nhau qua cử chỉ, thái độ, lời khai… trong cuộc đối chất có ý nghĩa như một loại phương tiện tác động tâm lý đặc biệt, riêng có của đối chất

đánh giá được sự thật khách quan đòi hỏi Thẩm phán tiến hành đối chất phải

có sự tinh tường, óc phán đoán, tính logic trong cách đặt câu hỏi; có khả năng phân tích và đánh giá thái độ khai báo, tình tiết được khai báo của từng bên

Từ đó, Thẩm phán xác định được lời khai nào là đúng, có giá trị như một chứng cứ; lời khai nào là sai, không có cơ sở chấp nhận Có như vậy mới phát huy được hiệu quả của biện pháp thu thập chứng cứ đối chất, sự thực khách quan được làm sáng tỏ, mâu thuẫn trong lời khai giữa những người đối chất được loại trừ

Theo quy định việc đối chất phải được ghi thành biên bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia đối chất Cũng tương tự như biên bản lấy lời khai, biên bản đối chất phải được người tham gia đối chất tự đọc lại hoặc nghe đọc lại trước khi ký tên hoặc điểm chỉ Thẩm phán tự mình tiến hành đối chất Thư ký ghi biên bản đối chất và đóng dấu của Tòa án

Phần lớn biện pháp đối chất được Thẩm phán tiến hành tại trụ sở Tòa

án Tuy nhiên, có thể thực hiện được đối chất ở những địa điểm khác ngoài trụ sở Tòa án hay không thì pháp luật hiện hành còn chưa có quy định về vấn

đề này

1.2.3 Trưng cầu giám định

Trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự, có nhiều trường hợp việc đánh giá chứng cứ cần phải sử dụng các kiến thức chuyên môn như xác định vân tay, tuổi cây, chữ viết, chữ ký, ADN, mức độ thiệt hại sức khỏe v.v

Do vậy, theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án cần

Trang 27

phải trưng cầu giám định để có căn cứ giải quyết vụ việc dân sự Ngoài ra, đương sự có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự Đây là điểm mới tích cực của trong BLTTDS năm 2015 mà các quy định trước đây chưa

đề cập đến Quy định này đã khẳng định vai trò của đương sự trong việc yêu cầu giám định, đề cao vai trò cung cấp chứng cứ của đương sự ngay cả trong trường hợp bị Tòa án từ chối yêu cầu trưng cầu giám định thì đương sự có thể

tự mình yêu cầu giám định Để vụ việc không bị kéo dài thời gian giải quyết

do nhiều trường hợp đương sự cố tình lấy lý do trì hoãn, BLTTDS năm 2015 quy định quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự

định tư pháp năm 2012, Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật giám định tư pháp để

ra quyết định trưng cầu giám định Quyết định trưng cầu giám định của Tòa

án phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định

Để đảm bảo tính xác thực của kết quả giám định, trong trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Tòa án có quyền yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp và yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì Tòa án yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp; trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó thì Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung; trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám

Trang 28

định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án TANDTC theo quy định của Luật giám định tư pháp thì Tòa án ra quyết định giám định lại

Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự hiện hành chưa có quy định trong một vụ việc dân sự thì có thể tiến hành giám định tối đa bao nhiêu lần, thời hạn giám định là bao lâu cũng như chưa có cơ chế trong việc giải quyết nhiều kết luận giám định về cùng một đối tượng mâu thuẫn nhau gây ra nhiều khó khăn trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự

Ngoài ra, Điều 103 của BLTTDS năm 2015 cũng quy định trường hợp trưng cầu giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo Trên thực tế, người đưa ra chứng cứ là giả mạo có thể biết hoặc không biết chứng cứ đó là giả mạo Do vậy, BLTTDS năm 2015 quy định trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì người đưa ra chứng cứ đó có quyền rút lại chứng cứ đó nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc nhanh chóng mà không cần phải tiến hành giám định gây lãng phí về thời gian và tiền bạc Nếu đương sự không rút lại chứng cứ đó thì người tố cáo có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định đối với chứng

cứ đó để xác minh về tính hợp pháp của chứng cứ Trường hợp việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án chuyển tài liệu, chứng cứ có liên quan cho Cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền xem xét về trách nhiệm hình sự đối với người cung cấp đó, và người đưa ra chứng cứ giả mạo có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác

Trong giai đoạn mà khoa học công nghệ phát triển ở trình độ cao như hiện nay thì trưng cầu giám định là hoạt động thu thập chứng cứ có vai trò hết sức quan trọng với công tác giải quyết các vụ việc dân sự Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, trong suốt thời gian qua, việc trưng cầu giám định đã phục vụ đắc lực cho hoạt động thu thập chứng cứ, góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vụ việc được chính xác, khách quan, đúng pháp luật Việc

Trang 29

BLTTDS năm 2015 có những sửa đổi, bổ sung như trên là điểm mới tích cực, cần thiết cho thực tiễn hiện nay

1.2.4 Định giá tài sản

Trong thực tiễn giải quyết của Tòa án, hầu hết các vụ án dân sự đều có tranh chấp về tài sản Để giải quyết vụ việc dân sự có liên quan đến tài sản, BLTTDS năm 2015 quy định đương sự có quyền cung cấp giá tài sản đang tranh chấp, thỏa thuận về giá tài sản đang tranh chấp; có quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thực hiện việc thẩm định giá tài sản và cung cấp kết quả thẩm định giá cho Tòa án Bên cạnh đó, Tòa án có thể tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ định giá tài sản để xác định giá trị của tài sản tranh chấp khi có yêu cầu của đương sự, nhưng trong một số trường hợp luật định thì Tòa án có thể chủ động tiến hành mà không cần có yêu cầu của đương sự như trong trường hợp các đương sự không thể xác định, thỏa thuận, thống nhất về giá trị tài sản đang tranh chấp; không thể thỏa thuận lựa chọn

tổ chức thẩm định giá tài sản; hoặc các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ; hoặc

có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá

Trình tự, thủ tục để thành lập Hội đồng định giá tài sản (HĐĐGTS) đã được BLTTDS năm 2015 quy định đầy đủ tại khoản 4 Điều 104 Theo đó, HĐĐGTS do Tòa án quyết định thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn

có liên quan Trên cơ sở xem xét đối tượng cần định giá là loại tài sản nào, có liên quan đến cơ quan chuyên môn nào, ví dụ định giá tài sản là nhà, đất đô thị thì thành phần HĐĐGTS có đại diện của phòng quản lý đô thị cấp huyện; tài sản là đất rừng thì thành phần HĐĐGTS có đại diện của Chi cục kiểm lâm Đồng thời việc định giá tài sản có thể mời đại diện chính quyền địa phương cấp xã, phường nơi có tài sản định giá chứng kiến việc định giá Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người thuộc trường hợp phải từ

Trang 30

chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng (quy định tại Điều 52 của BLTTDS năm 2015) không được tham gia Hội đồng định giá

Để chuẩn bị cho hoạt động định giá tài sản, Tòa án phải có công văn gửi cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn yêu cầu cử đại diện tham gia HĐĐGTS Cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ Sau khi cơ quan chuyên môn có công văn trả lời về việc cử người định giá, Thẩm phán cần kiểm tra những người được cử có đáp ứng được các yêu cầu cụ thể mà Tòa án đưa ra hay chưa, có ai trong số họ là người thân thích với đương sự trong vụ án thì đề nghị cơ quan chuyên môn đã cử người

đó cử người khác thay thế Người được cử làm thành viên Hội đồng định giá

có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá Trường hợp cơ quan tài chính, các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá thì Tòa án yêu cầu cơ quan quản lý có thẩm quyền trực tiếp chỉ đạo cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn thực hiện yêu cầu của Tòa án Người được cử tham gia Hội đồng định giá không tham gia mà không có lý do chính đáng thì Tòa án yêu cầu lãnh đạo cơ quan đã cử người tham gia Hội đồng định giá xem xét trách nhiệm, cử người khác thay thế và thông báo cho Tòa án biết để tiếp tục tiến hành định giá Quy định này là cần thiết nhằm ràng buộc trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan đến việc định giá tài sản, đảm bảo sự phối hợp và tôn trọng Tòa án trong việc giải quyết nhanh vụ án, tránh trường hợp các cơ quan này từ chối cử người tham gia HĐĐGTS, cũng như cá nhân người được cử làm thành viên HĐĐGTS nhưng không tham gia, gây khó khăn, tốn kém tiền bạc cũng như thời gian của các đương sự

Khi định giá tài sản Tòa án cũng phải thông báo cho các đương sự biết, họ có quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá Quyền quyết định về giá đối với tài sản định giá thuộc HĐĐGTS Việc định giá phải được lập thành văn bản, ghi rõ ý kiến của các thành viên, của đương sự nếu họ tham dự Quyết định của HĐĐGTS phải được quá nửa tổng số thành viên

Trang 31

biểu quyết tán thành Các thành viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến ký tên vào biên bản Nếu có người không ký tên thì phải hỏi rõ lý

do và ghi rõ vào biên bản vì sao họ không ký tên Sau khi HĐĐGTS đã ký tên vào biên bản, nếu các đương sự có ý kiến gì khác thì ghi ý kiến của họ vào bên dưới chữ ký của hội đồng định giá Dù các đương sự có ý kiến khác, nhưng HĐĐGTS đã làm việc khách quan theo đúng quy định của pháp luật thì quyết định của Hội đồng định giá vẫn có giá trị pháp lý và được coi là chứng cứ Trước đây, pháp luật không quy định Chủ tịch Hội đồng định giá tài sản là người đại diện của cơ quan tài chính, nên tại BLTTDS năm 2015 nhà làm luật đã khắc phục hạn chế này và quy định cụ thể Chủ tịch HĐĐGTS

là người đại diện của cơ quan tài chính, điều này là hoàn toàn phù hợp với lý luận và thực tiễn trong việc định giá tài sản Trước đây, mặc dù pháp luật không ghi cụ thể Chủ tịch HĐĐGTS là thuộc cơ quan nào, song trong thực tế các Tòa án khi ban hành quyết định định giá tài sản phần lớn đều phân công Chủ tịch Hội đồng định giá tài sản là đại diện của cơ quan tài chính bởi đây là

cơ quan chuyên môn có thể xác định được giá trị các loại tài sản theo mức giá Nhà nước ban hành và theo giá trị thực tế trên thị trường; còn các thành viên khác trong HĐĐGTS chỉ có vai trò xác định, mô tả hiện trạng tài sản như thời gian sử dụng, khấu hao tài sản, đặc điểm, kết cấu công trình để giúp cho đại diện cơ quan tài chính xác định giá trị tài sản cần định giá

Về việc định giá lại tài sản, nếu như trước đây BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường hợp bản án, quyết định bị Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án, quyết định để giao hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại mà thời gian kéo dài, giá cả có nhiều biến động thì đến BLTTDS 2015 quy định: "Việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự"

Trang 32

Có thể nhận thấy, về cơ bản quy định về định giá tài sản trong BLTTDS năm 2015 đã khắc phục được phần lớn những vấn đề tồn tại, chưa hợp lý của các bộ luật trước đó Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại, vướng mắc

mà luật vẫn chưa giải quyết được như không quy định về việc ký và đóng dấu vào biên bản định giá: Tòa án, cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn hay UBND, tổ chức, cơ quan nơi có tài sản định giá là cơ quan đóng dấu biên bản định giá thì chưa được quy định Điều này sẽ gây ra nhiều cách hiểu, cách áp dụng khác nhau cho Tòa án ở các địa phương Ngoài ra, trong trường hợp kết quả định giá tài sản khác biệt so với kết quả thẩm định giá tài sản do đương sự yêu cầu tiến hành thì cần ghi nhận kết quả nào hoặc giải quyết như thế nào cũng chưa được quy định Điểm hạn chế này cần có hướng dẫn cụ thể Bên cạnh đó, Điều 217 BLTTDS năm 2015 quy định trường hợp nguyên đơn không nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản là một trong những căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án Đây là quy định mới nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xét xử đối với những trường hợp đương sự không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá mặc dù chính họ là người yêu cầu tiến hành định giá tài sản Tuy nhiên, xét về phương diện lý luận thì việc định giá tài sản chỉ là một trong các biện pháp thu thập chứng cứ, nếu Tòa án vẫn có thể giải quyết vụ án dựa trên các chứng cứ, tài liệu khác thì không nhất thiết phải đình chỉ giải quyết vụ án Đồng thời, quy định mới này tuy có thể giải quyết được vấn đề thực tiễn nhưng chưa đảm bảo được quyền khởi kiện của đương

sự, nhất là những trường hợp đương sự có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không

có điều kiện kinh tế để nộp khoản tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản Do vậy, cần thiết có những hướng dẫn cụ thể, sửa đổi phù hợp để việc giải quyết

vụ án đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

1.2.5 Xem xét, thẩm định tại chỗ

Trong thực tế rất nhiều vụ án có những tài sản là đối tượng tranh chấp không thể mang đến trụ sở Tòa án để xem xét được hoặc nếu chỉ xem xét qua giấy tờ, tài liệu thì không thể đánh giá toàn diện được đặc điểm, trạng thái

Trang 33

thực tế của chúng Do vậy, để đảm bảo Tòa án có quyết định giải quyết vụ án chính xác, đảm bảo khả năng thi hành án thì biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ là biện pháp hữu hiệu được pháp luật quy định Trước đây do pháp luật tố tụng dân sự không quy định chặt chẽ nên trong thực tiễn tố tụng tại Tòa án khi tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ nhiều trường hợp Thẩm phán không thông báo cho chính quyền sở tại, không thông báo cho đương sự đến để chứng kiến việc xem xét; thậm chí có trường hợp không ghi biên bản, mà chỉ nhận định trong bản án, điều này làm cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án bị giảm hiệu quả hoặc không có giá trị pháp lý Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 đã có những quy định mới về việc thực hiện biện pháp thu thập chứng cứ xem xét, thẩm định tại chỗ Tòa án có thể chủ động tiến hành biện pháp này khi xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của đương sự Theo quy định tại Điều 101 BLTTDS năm 2015 thì việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải

do Thẩm phán tiến hành với sự có mặt của đại diện UBND cấp xã hoặc Công

an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết

và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 chưa quy định về việc Thẩm phán ra quyết định tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ; nội dung quyết định; việc giao, gửi quyết định… Những nội dung này trước đây đã từng được quy định tại Điều 9 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định về "chứng minh và chứng cứ" của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) Tuy nhiên, vấn đề này lại không được ghi nhận tại BLTTDS năm 2015 Do vậy, TANDTC cần tiếp tục hướng dẫn việc thực hiện điều này theo tinh thần

mà Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP nêu trên đã thể hiện

Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ

Trang 34

có mặt, của đại diện UBND cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện UBND cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: "Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ" Nếu có người nào cản trở Tòa án tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ thì Thẩm phán yêu cầu đại diện UBND hoặc cơ quan, tổ chức có biện pháp can thiệp, hỗ trợ kịp thời để thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ Theo đó, Thẩm phán có quyền đề nghị UBND cấp

xã, Công an xã, phường, thị trấn nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định tại chỗ hỗ trợ trong trường hợp có hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu lực lượng Cảnh sát bảo

vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân có thẩm quyền để có các biện pháp can thiệp, hỗ trợ theo quy định tại Thông tư số 15/2003/TT-BCA (V19) ngày 10/9/2003 của Bộ Công an hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân Trường hợp đã thực hiện đầy đủ các biện pháp trên mà vẫn không tiến hành được thì Thẩm phán lập biên bản về việc đương sự cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ để lưu vào hồ sơ vụ việc, đồng thời gửi cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử

lý theo pháp luật về hành vi chống người thi hành công vụ của đương sự

1.2.6 Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ

Ủy thác thu thập chứng cứ là việc Tòa án này yêu cầu Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền để lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp tư pháp khác

để thu thập chứng cứ, xác minh tình tiết của các vụ việc dân sự Việc ủy thác này chỉ xảy ra trong trường hợp Tòa án đang giải quyết vụ việc không có đủ điều kiện để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự

Trang 35

hoặc có thể tự tiến hành được nhưng không thuận lợi bằng Tòa án khác hoặc

cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định Ví dụ như TAND thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn ủy thác cho Tòa án huyện X, tỉnh Bình Dương lấy lời khai của đương sự đang cư trú tại đó và không có điều kiện để đến trụ sở Tòa án thành phố Lạng Sơn cung cấp lời khai Trường hợp ủy thác này sẽ tiết kiệm được chi phí cho đương sự, giúp Tòa án có thêm chứng cứ để giải quyết vụ án

Việc ủy thác thu thập chứng cứ phải được tiến hành bằng việc Tòa án đang giải quyết vụ việc ra một quyết định ủy thác Trong quyết định ủy thác ngoài việc phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật tranh chấp, ngoài ra quyết định còn phải ghi rõ địa chỉ của đương sự, người làm chứng, cơ quan cần hỏi và nêu rõ những yêu cầu cụ thể cần làm rõ trong việc ủy thác thu thập chứng cứ như đặt ra các nội dung cần hỏi, xem xét

cụ thể tài sản, đồ vật, đặc biệt những điểm cần hỏi, cần lưu ý, xem xét kỹ Tòa

án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác

Trường hợp việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định trường hợp không thực hiện được việc ủy thác hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ việc trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ việc dân sự Tuy nhiên bộ luật chưa có quy định về việc Tòa

án, cơ quan có thẩm quyền được ủy thác nhưng không thực hiện thì phải chịu

Trang 36

trách nhiệm như thế nào? Bởi thực tế có không ít các trường hợp Tòa án ủy thác đi nhưng không nhận được kết quả gây ảnh hưởng tới tiến độ và chất lượng giải quyết vụ việc Mặt khác có thể thấy, nghĩa vụ thu thập chứng cứ là của đương sự, Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ trong những trường hợp cần thiết theo quy định tại Điều 97 của BLTTDS Do đó, việc ủy thác thu thập chứng cứ chỉ xảy ra khi cả đương sự và cả Tòa án đang giải quyết vụ việc đó không có khả năng hoặc không có điều kiện thuận lợi để thu thập tài

về vấn đề trách nhiệm của các Tòa án, cơ quan có thẩm quyền được ủy thác

nhưng không thực hiện công việc được ủy thác

1.2.7 Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự

Trên cơ sở nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá

nhân, cơ quan, tổ chức, BLTTDS năm 2015 đã quy định trường hợp đương sự

đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn Đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cần thu thập đó Khi xét thấy yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ của đương sự là có căn cứ hoặc xét thấy cần thiết thì Tòa án ra quyết định yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ Tòa án có thể trực tiếp hoặc bằng văn bản yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản

lý, lưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản

lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của

Trang 37

Tòa án thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do, tùy theo mức độ vi phạm

có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

Tại Điều 55 Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực

bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định về hành vi vi phạm quy định về

nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ như sau: "Phạt tiền từ 1.000.000 đồng

đến 3.000.000 đồng đối với hành vi đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ

có liên quan đến vụ việc phá sản mà không cung cấp đầy đủ, kịp thời hoặc cung cấp không chính xác tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc phá sản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của chủ nợ, doanh nghiệp, hợp tác xã, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản nếu không có lý do chính đáng" Ngoài

ra, Điều 48 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 cũng đã quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của TAND Điều 383 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp số liệu, theo đó, từ chối cũng cấp số liệu mà không có lý do chính đáng thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm Những quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của các cá nhân,

cơ quan, tổ chức lưu giữ chứng cứ trong việc tạo điều kiện cho việc thu thập chứng cứ của Tòa án, hạn chế hành vi cố tình gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ, làm chậm hoặc gây khó khăn cho việc giải quyết các vụ việc dân sự

Ngoài các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ nêu trên, BLTTDS năm 2015 còn quy định Tòa án có quyền thực hiện một số biện pháp khác như xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú, ghi nhận các tài liệu, chứng cứ do các cá nhân, cơ quan tổ chức giao nộp v.v…

Trang 38

Đối với biện pháp xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú BLTTDS năm 2015 mới chỉ liệt kê tại điểm h khoản 2 Điều 97 vào danh mục các biện pháp mà Tòa án có thể tiến hành thu thập tài liệu, chứng

cứ mà chưa có một quy định hướng dẫn cụ thể Tuy nhiên, qua thực tiễn thực hiện có thể hiểu, trong trường hợp một bên đương sự cố tình không hợp tác, không đến Tòa án để giải quyết vụ việc, trốn tránh việc tống đạt các giấy tờ, quyết định của Tòa án hoặc trốn tránh liên hệ với chính quyền địa phương nhưng vẫn ở tại địa chỉ đó thì bên đương sự còn lại có quyền yêu cầu Tòa án thực hiện việc xác minh đương sự có mặt tại nơi cư trú; hoặc trong trường hợp không thể xác định được địa chỉ chỗ ở mới nhưng họ vẫn đăng ký địa chỉ thường trú ở tại địa chỉ đó thì phía đương sự còn lại có quyền yêu cầu Tòa án

Tòa án có căn cứ tiếp tục giải quyết vụ việc thông qua thủ tục niêm yết công khai, giải quyết vắng mặt một bên đương sự

Ngoài ra, tại điểm i, khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015 quy định

mở các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án "các biện pháp

khác theo quy định của Bộ luật này" Các biện pháp khác mà Tòa án tiến hành

nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ có thể kể đến như việc Thẩm phán xem xét, ghi nhận các chứng cứ, tài liệu do đương sự giao nộp; Hội đồng xét xử thu thập, đánh giá chứng cứ thông qua hoạt động xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa… Có thể nói, quy định này của BLTTDS nhằm tạo điều kiện cho Tòa án phát huy tối đa trách nhiệm hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ để giải quyết

vụ việc dân sự nhanh chóng, chính xác

Kết luận Chương 1

Chương 1 luận văn đã luận giải những vấn đề lý luận và pháp lý về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án, theo đó đã phân tích nội dung, trình tự thủ tục của từng biện pháp, đồng thời cũng đề cập tới những ưu, nhược điểm cơ bản của pháp luật hiện hành của vấn đề này

Trang 39

Qua nghiên cứu có thể thấy các quy định hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án đã tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để xây dựng, hoàn thiện hồ sơ giải quyết vụ việc dân sự Tòa

án thực hiện các biện pháp chủ động thu thập tài liệu, chứng cứ khi đương sự không thể thu thập được và có đơn yêu cầu, hoặc khi Tòa án xét thấy việc thu thập chứng cứ là cần thiết cho việc giải quyết vụ việc dân sự Những quy định này đã góp phần nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong vai trò hỗ trợ đương

sự thu thập chứng cứ nhằm giải quyết vụ việc dân sự một cách khách quan, toàn diện, đúng pháp luật Qua phân tích luật thực định, tác giả cũng đã chỉ ra được một số những hạn chế, khiếm khuyết của pháp luật về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án

Để có thể đánh giá toàn diện và xác thực hơn nữa, Chương 2 của luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về thực tiễn việc thực hiện các quy định của pháp luật về thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, từ đó có cơ sở đề xuất, kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật và thực hiện có hiệu quả các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án

Ngày đăng: 02/08/2019, 20:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm