1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy định pháp luật về đình công trong doanh nghiệp ở việt nam hiện nay và kiến nghị hoàn thiện bộ luật lao động năm 2012

103 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ILO cũng chỉ đưa ra nhận định như sau về đình công: Đình công là một trong những biện pháp thiết yếu mà NLĐ và các tổ chức của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế

Trang 1

NGUYỄN THẾ ANH

THỰC HIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG TRONG DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN BỘ LUẬT LAO ĐỘNG

NĂM 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

NGUYỄN THẾ ANH

THỰC HIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG TRONG DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN BỘ LUẬT LAO ĐỘNG

NĂM 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh Tế

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Minh Tiến

Hà Nội - 2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Thực hiện quy định pháp luật về đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay và kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Lao

động năm 2012” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Vũ

Minh Tiến Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy

và trung thực

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Người cam đoan

Nguyễn Thế Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn “Thực hiện quy định pháp luật về đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay và kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Lao động năm 2012”, tuy có những khó khăn trong quá trình nghiên cứu bởi vì chúng tôi là những học viên đầu tiên theo học hệ cao học theo định hướng ứng dụng của Trường Đại học Luật Hà Nội, nhưng tôi đã hoàn thành luận văn với sự hỗ trợ, hướng dẫn, giúp

đỡ của nhiều thầy cô giáo, gia đình và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo thuộc Khoa Pháp luật kinh tế, Bộ môn Luật Lao động của Trường Đại học Luật

Hà Nội Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn sự chỉ dạy và hướng dẫn nhiệt tình của giảng viên hướng dẫn là TS Vũ Minh Tiến đã đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ này

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Học viên

Nguyễn Thế Anh

Trang 5

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

1 BLLĐ Bộ luật lao động

2 BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự

3 ILO Tổ chức Lao động quốc tế

4 LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội

5 NLĐ Người lao động

6 NSDLĐ Người sử dụng lao động

7 TCLĐ Tranh chấp lao động

8 QHLĐ Quan hệ lao động

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ PHÁP LUẬT ĐÌNH CÔNG 7

1.1.Một số khái niệm cơ bản 7

1.1.1 Khái niệm tranh chấp lao động 7

1.1.2 Khái niệm đình công 8

1.2 Các dấu hiệu cơ bản của đình công 14

1.2.1 Đình công là sự phản ứng của những người lao động thông qua hành vi ngừng việc tạm thời 14

1.2.2 Đình công phải có sự tự nguyện của người lao động 14

1.2.3 Đình công luôn có tính tập thể 14

1.2.4 Đình công được thực hiện một cách có tổ chức 15

1.2.5 Mục đích của đình công là nhằm đạt được các yêu sách của tập thể người lao động thông qua việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại về kinh tế, đạt được những yêu sách gắn với lợi ích của tập thể lao động với người sử dụng lao động 15

1.3 Phân loại đình công 15

1.4 Nội dung điều chỉnh pháp luật đối với đình công 16

1.4.1 Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với vấn đề đình công 16

1.4.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về đình công 17

1.5 Khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về đình công 20

1.5.1 Khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế 20

1.5.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 25

2.1 Nội dung quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đình công 25

2.1.1 Đối tượng được đình công và chủ thể tổ chức, lãnh đạo đình công 25

2.1.2 Thời điểm, trình tự, thủ tục đình công 28

2.1.3 Đình công bất hợp pháp 31

2.1.4 Trường hợp không được đình công, hoãn, ngừng đình công 37

2.1.5 Quyền của các bên trước và trong quá trình đình công 38

2.1.6 Xử phạt vi phạm hành chính về đình công 39

Trang 7

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam trong

giai đoạn hiện nay 41

2.2.1 Khái quát tình hình đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 41

2.2.2 Một số vấn đề thực tiễn nổi bật trong thực hiện pháp luật về đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam 45

2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay 56

2.3.1 Đánh giá chung 56

2.3.2 Nguyên nhân của thực trạng 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62

CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG TRONG BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2012 VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG TRONG DOANH NGHIỆP 63

3.1 Yêu cầu của việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đình công 63

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Lao động năm 2012 về đình công 64

3.2.1 Về xác định đối tượng và phạm vi của cuộc đình công 64

3.2.2 Về trình tự, thủ tục đình công 65

3.2.3 Về quy định người sử dụng lao động có quyền đóng cửa tạm thời nơi làm việc65 3.2.4 Về quy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật về đình công 66

3.3 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đình công và giải quyết đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam 66

3.3.1 Nhóm giải pháp đối với người lao động 66

3.3.2 Nhóm giải pháp đối với người sử dụng lao động 71

3.3.3 Nhóm giải pháp đối với Nhà nước và các cơ quan quản lý 75

3.3.4 Nhóm giải pháp đối với tổ chức Công đoàn 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 8

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đình công ở Việt Nam những năm qua ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp Theo Bộ LĐ-TB&XH: Từ năm 1995 đến tháng 5 năm 2017, cả nước đã có 6.533 cuộc đình công Trong đó, số lượng các cuộc đình công tập trung ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhiều nhất, đình công ở các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ thấp nhất, còn trung bình ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước Từ năm 2010 đến năm

2017 có 3.146 cuộc đình công, tập trung ở 40 tỉnh, thành phố

Đình công là hiện tượng xã hội xuất hiện và tồn tại khách quan trong nền kinh tế thị trường NLĐ có quyền được đình công khi gặp phải những vướng mắc cơ bản trong quá trình lao động Quyền đình công được ghi nhận ở pháp luật Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, kể từ khi BLLĐ năm 1994 được ban hành, đình công cũng được chính thức ghi nhận là quyền của NLĐ, NLĐ được sử dụng đình công như một vũ khí sắc bén để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong QHLĐ Tổ chức ILO Cho rằng quyền đình công là một trong những biện pháp thiết yếu NLĐ và các tổ chức của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế

và xã hội của mình

Tuy nhiên, khi xảy ra đình công sẽ gây ra một số hậu quả cho doanh nghiệp, xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, trật tự quản lý doanh nghiệp Doanh nghiệp có đình công sẽ bị giảm năng suất chất lượng sản phẩm, nghiêm trọng hơn có thể gây mất uy tín trên thị trường Đồng thời, hoạt động đình công thường gây thiệt hại về máy móc và thiết bị sản xuất, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội

Chính vì vậy, pháp luật lao động Việt Nam (từ BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm

2002, 2006, 2007) cho đến BLLĐ năm 2012) và quốc tế đều quy định chặt chẽ các vấn

đề về chủ thể, trình tự, thủ tục khi tiến hành đình công để nhằm giảm thiểu những rủi

ro tiêu cực từ hoạt động đình công gây ra

Dưới sự tác động của thời kỳ mở cửa và hội nhập, sự ảnh hưởng bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế ở trong nước và thế giới, cũng như hoạt động cạnh tranh ngày càng phát triển, thì hoạt động đình công đã xảy ra ngày càng nhiều với quy mô và tính chất phức tạp, ở các thành phố lớn hoặc các khu công nghiệp tập trung nhiều doanh nghiệp sản xuất lớn Bên cạnh đó, đình công cũng thường xảy ra ở quy mô doanh nghiệp vừa và lớn Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó việc thực hiện pháp luật là một nguyên nhân quan trọng

Theo số liệu báo cáo của Bộ LĐ-TB&XH thì 100% các cuộc đình công đều diễn

ra không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, các cuộc đình công xảy ra bất ngờ, không báo trước khiến NSDLĐ và cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết đình công không chủ động trong công tác đối phó để giảm thiểu thiệt hại Giải quyết đình công thông qua hoạt động Tòa án nhân dân xét tính hợp pháp của cuộc đình công không được thi hành trên thực tế, chưa cuộc đình công nào được Tòa án thụ lý và

Trang 9

2

giải quyết Để giải quyết các cuộc đình công không đúng trình tự thủ tục, nhiều địa phương đã thành lập tổ công tác giải quyết đình công không theo trình tự thủ tục, tuy nhiên chưa phù hợp với Điều 222 BLLĐ năm 2012, việc giải quyết chỉ mang tính chất thời điểm, không mang lại giá trị lâu dài

Những hiện tượng này một phần là do NLĐ không có ý thức thực hiện pháp luật, chưa nắm rõ các quy định pháp luật về đình công để áp dụng vào thực tế, không chỉ NLĐ mà NSDLĐ và những cơ quan khác cũng không tích cực thực hiện pháp luật về đình công Chính vì vậy, cần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đình công và giải quyết đình công trong doanh nghiệp để phù hợp với thực tế Đồng thời cần có những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật đình công và giải quyết đình công, để giảm thiểu đình công không theo trình tự thủ tục, đình công bất hợp pháp và hoạt động giải quyết đình công phát huy được vai trò đảm bảo cân bằng giữa lợi ích về kinh tế xã hội và lợi ích của NLĐ

Chính vì lý do trên, học viên quyết định lựa chọn đề tài: “Thực hiện quy định pháp luật về đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay và kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Lao động năm 2012” để làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Đình công là một chế định quan trọng của pháp luật lao động nói riêng và là vấn

đề quan trọng trên thị trường lao động và QHLĐ nói chung Chính vì vậy, nhiều tác giả, nhóm tác giả đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề đình công hoặc nghiên cứu về một

số góc độ của vấn đề thực hiện pháp luật về đình công Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như sau:

Về dự án và đề tài nghiên cứu:

- Dự án “Xây dựng QHLĐ ở Việt Nam” do ILO thực hiện từ năm 2007 đến năm

2009 Dự án đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra đánh giá, nhận định về tình hình QHLĐ ở Việt Nam hiện nay: Hệ thống pháp luật lao động ở Việt Nam được đánh giá

là có nhiều điểm “tiến bộ” nhất khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, đặc trưng của QHLĐ ở Việt Nam lại là “sự thiếu tuân thủ pháp luật lao động”; Các bên trong QHLĐ

sử dụng kém hiệu quả các những công cụ như “đàm phán, thương lượng”; vấn đề có tính chất đặc thù trong QHLĐ ở Việt Nam là tình trạng đình công tự phát

- Một số nghiên cứu của TS Chang-Hee Lee (chuyên gia cao cấp của ILO) từ năm 2006 - 2008: “QHLĐ và giải quyết TCLĐ tại Việt Nam”; “Từ QHLĐ mang đậm nét đình công tự phát đến QHLĐ hài hòa dựa trên thương lượng tập thể tại Việt Nam - Xác định các vấn đề và thử tìm kiếm những giải pháp khả thi”; “Hướng tới một hệ thống QHLĐ lành mạnh ở Việt Nam” Những nghiên cứu của tác giả đã khẳng định rằng: đặc điểm tiêu biểu trong TCLĐ, đình công ở Việt Nam là tự phát, không thông qua thương lượng, đàm phán; nặng về “mệnh lệnh hành chính”, sử dụng “đoàn công tác liên ngành” của cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở địa phương, vai trò Công đoàn cơ sở “mờ nhạt”, Công đoàn cơ sở không đủ năng lực lãnh đạo và tổ chức đình

Trang 10

Về tạp chí, đề tài nghiên cứu: Nhiều tác giả đã có những bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành như: Phạm Công Bảy (2012), Thực trạng TCLĐ, đình công và kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung trong Dự thảo BLLĐ sửa đổi, bổ sung, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10/2012; Trần Thị Thúy Lâm (2012), Những điểm mới về đình công trong BLLĐ năm 2012, Tạp chí Luật học; Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Bình luận khoa học BLLĐ, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, tháng 3/2015;…

Về luận án, luận văn, có một số công trình như sau:

- Chử Thị Xuyên (2013), Những điểm mới về TCLĐ và đình công trong BLLĐ năm 2012, Luận văn thạc sĩ luật học Tác giả nghiên cứu về TCLĐ nói chung có sự so sánh và phân biệt với đình công

- Hà Thị Hoa Phượng (2013), Đình công và giải quyết đình công theo BLLĐ năm

2012, Luận văn thạc sĩ luật học

- Trần Thị Trúc Chi (2015), Quy định về thủ tục đình công trong pháp luật Việt Nam – Thực trạng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Luận văn thạc sĩ luật học Tác giả tập trung chủ yếu và thủ tục đình công và đưa ra thực trạng tại một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà không nghiên cứu về thực trạng thực hiện

ở các doanh nghiệp trong nước nói chung

- Cao Xuân Dũng (2016), Đình công bất hợp pháp theo quy định pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học Tác giả trình bày một số vấn đề lý luận về đình công

và pháp luật về đình công bất hợp pháp Nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đình công bất hợp pháp và thực tiễn thi hành, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

- Nguyễn Thùy Trang (2016), Pháp luật về đình công, giải quyết đình công và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ luật học Tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận và pháp luật về đình công, giải quyết đình công Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đình công, giải quyết đình công và thực trạng đình công, giải quyết đình công trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về vấn đề này tại tỉnh Bắc Ninh

- Nguyễn Hồng Nhung (2017), Những hạn chế đối với quyền đình công trong pháp luật Việt Nam – Tiêu chuẩn quốc tế và những vấn đề đặt ra, luận văn thạc sỹ luật

Trang 11

4

học Tác giả đã trình bày khái quát về đình công và hạn chế quyền đình công Nghiên cứu các quy định của pháp luật lao động Việt Nam và tiêu chuẩn lao động quốc tế về hạn chế quyền đình công Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về hạn chế đình công tại Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này ở nước ta hiện nay

Để tiến hành sửa đổi, bổ sung một số Điều của BLLĐ năm 2002 và đặc biệt sửa đổi, bổ sung Chương XIV (Chương về giải quyết TCLĐ và đình công) của BLLĐ năm 2006, Bộ LĐ-TB&XH, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại

và Công nghiệp Việt Nam, Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế tại Việt Nam, Viện FES, Oxfam Bỉ và nhiều tổ chức phi chính phủ khác đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo, nghiên cứu về TCLĐ, đình công Tiêu biểu như:

- Báo cáo nghiên cứu “Công đoàn với vấn đề đình công, giải quyết đình công và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đình công” của TS Đặng Ngọc Tùng (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, năm 2006); “Một số nét tình hình đình công của NLĐ, vai trò của tổ chức Công đoàn và những kiến nghị, giải pháp” của Nguyễn Hòa Bình (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, năm 2005) đã khẳng định một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến TCLĐ, đình công là sự vi phạm pháp luật lao động và việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật lao động còn nhiếu yếu kém, hạn chế Các tác giả cũng đề xuất một số giải pháp xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định, không để xảy ra đình công như: sửa đổi, bổ sung pháp luật lao động; nâng cao năng lực cán bộ Công đoàn, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và có chế tài, xử lý kiên quyết những vi phạm pháp luật lao động

- Báo cáo “Mục tiêu, quan điểm và những vấn đề đặt ra trong xây dựng Pháp lệnh đình công và giải quyết đình công” của TS Lê Duy Đồng (Bộ LĐ-TB&XH, năm 2004) đã phân tích, đánh giá tình hình đình công từ năm 1995 - 2003 Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cụ thể và kiến nghị sửa đổi pháp luật lao động về đình công

- Nghiên cứu “Vấn đề đình công và giải quyết đình công từ góc độ NSDLĐ” của Nguyễn Hữu Hải (năm 2005) đã có “góc nhìn” khác đối với vấn đề đình công - từ phía NSDLĐ Những đề xuất đáng lưu ý như: cần hoàn thiện pháp luật lao động về giải quyết TCLĐ và đình công; cần có chế tài xử lý những hành vi vi phạm khi đình công, đình công bất hợp pháp

- Một trong những công trình tiêu biểu gần đây là đề tài cấp Nhà nước "TCLĐ và đình công trong các công ty liên doanh và công ty có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta"

do Viện Tâm lý (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) thực hiện 2010 - 2012 Đề tài đã hệ thống hóa, phát triển lý luận về TCLĐ, đình công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta giai đoạn hiện nay; đánh giá thực trạng, phân tích, chỉ ra những đặc trưng, xác định đúng các nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm

về việc giải quyết TCLĐ và đình công trong các công ty liên doanh và công ty có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong 10 năm (2001 – 2010); đề xuất các giải pháp, kiến nghị tổng thể nhằm xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ, hạn chế TCLĐ; đề

Trang 12

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định pháp luật và thực tiễn về thực hiện pháp luật đình công trong doanh nghiệp và đưa ra những kiến nghị cho vấn đề Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Luận văn nghiên cứu về vấn đề thực hiện đình công theo quy định của pháp luật Việt Nam trong doanh nghiệp trong giai đoạn gần đây, đặc biệt là trong thời gian BLLĐ năm 2012 có hiệu lực thi hành Phạm vi nghiên cứu tập trung vào việc làm sáng tỏ các quy định pháp luật năm 2012 đồng thời đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về đình công để đưa ra những kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện vấn đề Phạm vi nghiên cứu đề tài không đi sâu vào việc đình công

và TCLĐ theo quy mô rộng lớn

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là: trên cơ sở lý luận, pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật về đình công ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay sẽ đưa ra một góc nhìn sâu sắc, đa chiều về thực hiện pháp luật về đình công trong doanh nghiệp, từ đó

đề xuất và kiến một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật đình công trong BLLĐ năm 2012 và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đình công

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau: (i) Nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về đình công, thực hiện pháp luật đình công; (ii) Phân tích các quy định của BLLĐ năm 2012 về đình công; (iii) Nghiên cứu và đánh giá thực tiễn những vụ việc đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam xảy ra trong giai đoạn hiện nay; (vi) Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định của pháp luật về đình công

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp luận duy vật biện chứng Trong từng chương cụ thể có sử dụng các phương pháp: phương pháp lịch sử, logic, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh Phương pháp nghiên cứu của từng chương như sau:

Chương 1: Tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử cụ thể, liệt kê, phân tích

và tổng hợp, phương pháp hệ thống để đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về đình công và thực hiện pháp luật đình công

Chương 2: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp luật học so sánh và phương pháp thống kê để làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành

và thực tiễn thực hiện pháp luật đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Trang 13

6

Chương 3: Tác giả sử dụng phương pháp liên hệ, tổng hợp, hệ thống và đối chiếu

để đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Luận văn làm rõ các vấn đề pháp lý cơ bản về thực hiện pháp luật đình công trong doanh nghiệp, từ đó, có cơ sở khoa học để nghiên cứu sâu hơn về lý luận về đình công Đề tài có thể sử dụng trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại các cơ

sở đào tạo luật

Luận văn có ý nghĩa thực tiễn Luận văn đánh giá thực tiễn thi hành quy định về đình công của doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả thực hiện quy định pháp luật về đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 Chương với 10 mục:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đình công và pháp luật đình công

- Chương 2: Quy định pháp luật về đình công và thực tiễn thực hiện pháp luật đình công trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

- Chương 3: Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đình công trong doanh nghiệp

Trang 14

7

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ PHÁP LUẬT ĐÌNH CÔNG

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm tranh chấp lao động

Theo Điều 3 khoản 7 BLLĐ năm 2012: “TCLĐ là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ

và lợi ích phát sinh giữa các bên trong QHLĐ TCLĐ bao gồm TCLĐ cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ và TCLĐ tập thể giữa tập thể lao động với NSDLĐ."

Từ khái niệm trên có thể rút ra đặc điểm của TCLĐ như sau:

TCLĐ phát sinh tồn tại gắn liền với QHLĐ Mối quan hệ này thể hiện ở hai điểm

cơ bản: Các bên tranh chấp bao giờ cũng là chủ thể của QHLĐ và đối tượng tranh chấp chính là nội dung của QHLĐ đó Trong quá trình thực hiện QHLĐ, có nhiều lý

do để các bên không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đã được thống nhất ban đầu Ví dụ một trong hai bên chỉ quan tâm đến lợi ích riêng của mình, hoặc điều kiện thực hiện hợp đồng, thoả ước đã thay đổi làm cho những quyền và nghĩa vụ

đã xác định không còn phù hợp, hoặc cũng có thể do trình độ xây dựng hợp đồng và sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế dẫn đến các bên không hiểu đúng các quy định của pháp luật, các thoả thuận trong hợp đồng …

TCLĐ không chỉ là những tranh chấp về quyền mà còn bao gồm cả những tranh chấp về lợi ích của các bên trong QHLĐ Thực tế, hầu hết các tranh chấp khác (như tranh chấp dân sự) thường xuất phát từ sự vi phạm pháp luật, vi phạm hợp đồng hoặc

do không hiểu đúng quyền và nghĩa vụ đã được xác lập mà dẫn đến tranh chấp Riêng TCLĐ có thể phát sinh trong trường hợp không có vi phạm pháp luật Đặc điểm này bị chi phối bởi bản chất QHLĐ và cơ chế điều chỉnh của pháp luật Trong nền kinh tế thị trường các bên của QHLĐ được tự do thương lượng, thoả thuận hợp đồng, thoả ước phù hợp với quy luật của pháp luật cũng như khả năng đáp ứng của mỗi bên Quá trình thoả thuận thương lượng đó không phải bao giờ cũng đạt kết quả Ngay cả khi đạt kết quả thì những nội dung đã thoả thuận được cũng có thể trở thành không phù hợp do các yếu tố mới phát sinh tại thời điểm tranh chấp

Tính chất và mức độ của TCLĐ luôn phụ thuộc vào quy mô và số lượng tham gia của một bên tranh chấp là NLĐ TCLĐ nếu chỉ phát sinh giữa một NLĐ và NSDLĐ (đối tượng tranh chấp là quyền, nghĩa vụ, lợi ích chỉ liên quan đến một cá nhân NLĐ) thì tranh chấp đó đơn thuần là tranh chấp cá nhân Sự ảnh hưởng của TCLĐ cá nhân đến hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ ở mức độ hạn chế nên thường được xem là ít nghiêm trọng Nhưng nếu trong một thời điểm, có nhiều NLĐ cùng tranh chấp với NSDLĐ, những tranh chấp đó lại cùng nội dung và nhất là khi những NLĐ này cùng liên kết với nhau thành một tổ chức thống nhất để đấu tranh đòi quyền lợi chung thì những TCLĐ đó đã mang tính tập thể Mức độ ảnh hưởng của tranh chấp tập thể tuỳ thuộc vào phạm vi xảy ra tranh chấp TCLĐ có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của bản thân, gia đình NLĐ, nhiều khi còn tác động đến an ninh công cộng

Trang 15

đó có thể ảnh hưởng tới an ninh công cộng và đời sống chính trị xã hội của quốc gia

1.1.2 Khái niệm đình công

Để đưa ra cách nhìn thống nhất và tương đối toàn diện về đình công, trước hết cần xem xét đình công dưới những góc độ khác nhau Cụ thể là đình công cần được xem xét dưới các góc độ kinh tế, xã hội, chính trị và pháp lý với tư cách là một hiện tượng tồn tại khách quan trong nền kinh tế thị trường

Dưới góc độ kinh tế, đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế được thực hiện bởi

những NLĐ, nhằm gây sức ép để đạt những yêu sách nhất định gắn với lợi ích kinh tế hoặc lợi ích nghề nghiệp Thực tế đình công của nhiều nước trên thế giới cho thấy chủ thể bị gây sức ép có thể là NSDLĐ trực tiếp tham gia QHLĐ, cũng có thể là một chủ

sử dụng lao động ở nơi khác trong trường hợp đình công hưởng ứng, hoặc có thể là Nhà nước1 Đình công là biện pháp đấu tranh mang tính tập thể nên thường có những biểu hiện quá khích, nếu không kiểm soát kịp thời sẽ gây những hậu quả nghiêm trọng Chính khả năng gây thiệt hại về kinh tế hay đe doạ gây thiệt hại về kinh tế mà đình công là phương thức có thể gây được áp lực với chủ thể đối diện, giúp tập thể lao động đạt được các yêu sách về quyền và lợi ích Đình công không phải là biện pháp duy nhất để những NLĐ đạt được mục đích của mình, nhưng với sức ép mà đình công có khả năng tạo ra, đình công thường được những NLĐ coi là cách thức có hiệu quả nhất

để bảo vệ các quyền và lợi ích của họ

Để giải quyết những mâu thuẫn về quyền và lợi ích trong QHLĐ, tập thể lao động

có thể sử dụng các giải pháp mang tính ôn hoà như thương lượng trực tiếp với chủ sử dụng lao động, hoặc thông qua vai trò của người trung gian giải quyết tranh chấp theo phương thức hoà giải Trong những trường hợp mâu thuẫn đã trở nên quá bức xúc và tập thể lao động cho rằng họ có nhiều lợi thế hơn trong tương quan lao động, tập thể lao động có thể tiến hành đình công Đình công trở thành “vũ khí lợi hại” mà tập thể lao động sử dụng trong cuộc đấu tranh kinh tế với NSDLĐ và Nhà nước (trong những trường hợp chủ thể bị gây sức ép là Nhà nước), nhằm mục đích gây sức ép để giải quyết những bất đồng về quyền và lợi ích theo hướng có lợi cho tập thể lao động

1 Đại từ điển bách khoa toàn thư Xô viết (1972), Tập 9, Nxb Từ điển bách khoa Xô viết, Mátxcơva, tr.259- 271

Trang 16

9

Đình công để lại nhiều hậu quả cho doanh nghiệp, ảnh hưởng đến lợi ích của tập thể và cá nhân NLĐ ở một mức độ nhất định, hoặc gây thiệt hại cho kinh tế xã hội nói chung Do vậy, đã có ý kiến cho rằng đình công có thể ví như mặt trái của kinh tế thị trường Đối với NSDLĐ, khi đình công xảy ra sẽ làm ngưng trệ sản xuất, đảo lộn trật

tự quản lý doanh nghiệp, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm Đây được coi là những thiệt hại trực tiếp do đình công gây ra và có thể dễ dàng xác định trong thực tế Ngoài ra, sự ngừng trệ sản xuất trong đình công còn ảnh hưởng đến việc hoàn thành các hợp đồng kinh tế, làm mất uy tín của doanh nghiệp trong kinh doanh Đây là những thiệt hại khó xác định và gây hậu quả không nhỏ trong thực tiễn Vì vậy, đình công được coi là biện pháp đấu tranh kinh tế mà NLĐ áp dụng trong cuộc đọ sức với NSDLĐ

Đình công có thể để lại những hậu quả lâu dài trong QHLĐ Nếu không được giải quyết triệt để, đình công sẽ làm xấu đi tình trạng của QHLĐ Đối với các cuộc đình công không trực tiếp nhằm vào chủ sử dụng lao động và có yêu sách vượt khỏi phạm

vi QHLĐ, nhằm gây áp lực với một chủ thể khác hay Nhà nước, đình công vẫn gây hậu quả xấu cho doanh nghiệp đang diễn ra đình công Đình công làm cho tiến độ sản xuất bị giảm sút, bản thân NLĐ (kể cả người tham gia và không tham gia đình công) bị thiệt hại về thu nhập và ảnh hưởng đến công việc

Như vậy, đình công mặc dù được nhìn nhận như một biện pháp đấu tranh kinh tế của tập thể lao động nhằm đạt những yêu sách có lợi cho chính họ, nhưng lại gây những thiệt hại về vật chất đối với các chủ thể khác, có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội Điều đó đòi hỏi các quốc gia cần có những giải pháp nhằm kiềm chế các ảnh hưởng tiêu cực của đình công, hạn chế tình trạng đình công bất hợp pháp và những cuộc đình công không có mục đích chính đáng

Dưới góc độ xã hội, đình công là hành vi ngừng việc được thực hiện bởi ý chí tự

nguyện của nhiều NLĐ Thực tế có những cuộc đình công diễn ra ở quy mô nhỏ, chỉ thu hút sự tham gia của một số lượng rất ít NLĐ, nhưng cũng có những cuộc đình công diễn ra trên quy mô toàn quốc, thu hút sự tham gia của hàng vạn NLĐ

Khả năng liên kết và tập hợp đông đảo sự tham gia của những NLĐ là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của một cuộc đình công Trong nhiều cuộc đình công, những NLĐ thường tụ tập trước cổng xí nghiệp để ngăn cản hay kích động những công nhân khác không vào làm việc, kêu gọi sự giúp đỡ để ủng hộ những NLĐ đang tham gia đình công, hay chiếm xưởng ngăn không cho NLĐ khác vào làm việc Những hành vi nhằm thu hút sự tham gia đông đảo và lôi kéo sự ủng hộ của những NLĐ khác đối với cuộc đình công không phải lúc nào cũng được coi là hợp pháp Tuy nhiên, nó đã chứng tỏ tính quần chúng của đình công và là sự thể hiện rõ nét bản chất

xã hội của đình công

Đình công xét dưới góc độ xã hội còn là hiện tượng có khả năng gây mất ổn định đối với trật tự xã hội Với các cuộc đình công diễn ra ở quy mô nhỏ, hành vi ngừng việc diễn ra một cách hoà bình, mức độ ảnh hưởng đến trật tự xã hội sẽ không lớn

Trang 17

có vai trò thiết yếu trong đời sống cộng đồng, gây bất ổn đến sinh hoạt của dân cư, hoặc gây tâm lý hoang mang cho những người dân bởi lo ngại một cuộc khủng hoảng kinh tế có thể sẽ xảy ra nếu đình công kéo dài

Trong một vai trò nhất định, đình công cũng góp phần bảo vệ những giá trị tiến

bộ xã hội như quyền dân chủ trong lĩnh vực lao động, quyền tự do định đoạt và một số quyền khác Để có được quyền đình công như hiện nay, giai cấp công nhân đã phải trải qua quá trình đấu tranh lâu dài để giành những giá trị dân chủ trong đời sống chính trị

xã hội nói chung và trong lĩnh vực lao động nói riêng Nếu dân chủ được hiểu là “sự thống trị của đa số”2, thì dân chủ trong lao động được hiểu là sự thực hiện quyền lực của số đông (những NLĐ) trong quá trình lao động

Bản chất của QHLĐ là quan hệ mua bán sức lao động, do đó về mặt nguyên tắc cần đảm bảo sự thoả thuận bình đẳng của NLĐ và NSDLĐ Nhưng các yếu tố khách quan tồn tại trong nền kinh tế thị trường đã hạn chế sự thương lượng bình đẳng của NLĐ Với việc tiến hành đình công, NLĐ có thể giành lại những lợi ích hợp pháp và chính đáng mà họ có quyền được hưởng Các yêu sách trong đình công thường có xu hướng kết hợp giữa lợi ích kinh tế với lợi ích văn hoá, xã hội, giữa những mục tiêu trước mắt với những vấn đề lâu dài như bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện an sinh

xã hội Như vậy, đình công đã góp phần tạo nên không khí dân chủ hoá trong lao động, mang lại lợi ích thiết thực, dễ thấy cho mỗi người và góp phần tạo thêm động lực thúc đẩy NLĐ hoạt động3

Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực do đình công gây ra đối với trật tự ổn định

xã hội, ở một mức độ nhất định, đình công đã góp phần đem lại những giá trị dân chủ trong lĩnh vực lao động xã hội Các cuộc đình công của giai cấp công nhân trong lịch

sử đã chứng minh vai trò quan trọng của đình công trong việc đảm bảo các giá trị nhân văn, tạo điều kiện cho sự phát triển của cá nhân NLĐ, kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân của NLĐ với lợi ích chung của tập thể, xoá đi khoảng cách giữa lợi ích của ông chủ với lợi ích của những NLĐ4

2 V.I Lê nin (1979), Toàn tập, Tập 8, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, tr 66

3 Nguyễn Trọng Chuẩn (1996), “Vai trò động lực của dân chủ đối với hoạt động và sáng tạo của con người”, Tạp chí Triết học (05), tr.5

4

Đỗ Nguyên Phương (1993), Những vấn đề chính trị xã hội của cơ cấu xã hội giai cấp ở nước ta, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, tr 92-93

Trang 18

11

Dưới góc độ chính trị, đình công là hiện tượng có thể gây bất ổn đến tình hình

chính trị của quốc gia Đình công có mục đích chủ yếu là bảo vệ các quyền và lợi ích nghề nghiệp của những NLĐ trong QHLĐ Nhưng đình công có thể bị lợi dụng để đưa thêm các yêu sách chính trị Trong trường hợp đó, hình thức đình công kinh tế sẽ biến tướng thành các hình thức đình công chính trị (thuần tuý có yêu sách chính trị) hay đình công hỗn hợp (kết hợp những yêu sách kinh tế và những yêu sách chính trị) Những cuộc đình công này được coi như một loại công cụ chính trị mà giai cấp công nhân có thể sử dụng để phản đối một quyết định của Chính phủ trong chính sách đối nội hay đối ngoại mà sự thực thi chính sách đó có thể ảnh hưởng đến đời sống của NLĐ

Việc có thừa nhận các hiện tượng ngừng việc mang màu sắc chính trị là hợp pháp hay không còn tuỳ thuộc vào quan điểm của từng quốc gia Nhưng sự tồn tại của các cuộc đình công chính trị trong thực tiễn đã cho thấy tính chất nhạy cảm của vấn đề đình công Đình công là một hiện tượng phản kháng thường có khuynh hướng mở rộng phạm vi và luôn biến đổi hình thái, nó có khả năng trở thành mối đe doạ, hoặc trực tiếp gây ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị của một quốc gia Để gây được sức

ép, đình công có thể được thực hiện bất ngờ trong những thời điểm cần thiết, nhằm chớp thời cơ Đây là một trong các yếu tố góp phần tạo nên thắng lợi của mỗi cuộc đình công Nhưng nếu không được báo trước, chính quyền sở tại rất khó có thể biết trước về khả năng xảy ra đình công, cũng như dự liệu trước hậu quả của đình công

Dưới góc độ pháp lý, đình công là một quyền của NLĐ được pháp luật thừa nhận

(theo Điều 8 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá của Liên hiệp quốc)5 Quyền đình công được hiểu là quyền ngừng việc tạm thời của những NLĐ, nhằm buộc NSDLĐ hoặc các chủ thể khác phải thoả mãn những yêu sách về quyền và lợi ích và được NLĐ tự nguyện tiến hành trong khuôn khổ pháp luật Việc thừa nhận quyền đình công của NLĐ có thể được quy định trong Hiến pháp (như ở Cộng hoà liên bang Đức, Pháp) hoặc được quy định trong BLLĐ (như ở Liên bang Nga, Philippin, Thái lan) Vì là một loại quyền của NLĐ nên đình công phải được thực hiện thông qua hành vi ngừng việc của chính những NLĐ, nhằm hướng tới những lợi ích nghề nghiệp

và xuất phát từ QHLĐ Quyền đình công chỉ được thừa nhận là quyền của những NLĐ Những NSDLĐ, những cá nhân không có việc làm, thành viên của các tổ chức chính trị xã hội không được quyền đình công Tuy nhiên, cách hiểu khái niệm NLĐ hiện cũng rất khác nhau, dẫn đến việc xác định đối tượng có quyền đình công ở các quốc gia cũng rất khác nhau

Quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và đa số các quốc gia đều cho rằng các cuộc đình công kinh tế, được thực hiện vì những lợi ích gắn với QHLĐ mới thuộc phạm vi cho phép của quyền đình công Những cuộc đình công chính trị đều không thuộc phạm vi QHLĐ và vượt ra ngoài khuôn khổ của quyền đình công

5 Đại hội đồng Liên hiệp quốc (1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá

Trang 19

12

Không như các loại quyền khác có thể được thực hiện thông qua hành vi cá nhân của NLĐ (như quyền được hưởng lương, quyền được bảo hiểm xã hội hay quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp ), quyền đình công không thể được thực hiện thông qua hành vi ngừng việc của cá nhân một cách đơn lẻ Đình công chỉ được thừa nhận là quyền của NLĐ khi đó là hành vi đồng loạt nghỉ việc của tập thể lao động một cách có tổ chức, nhằm hướng tới những mục tiêu chung Nét đặc trưng của quyền đình công là quyền của cá nhân NLĐ nhưng phải được thực hiện thông qua hành vi mang tính tập thể Đình công vì thế là một hiện tượng tập thể Trong thực tế, quyền đình công thường được thực hiện thông qua hành vi ngừng việc của nhiều NLĐ Các cuộc đình công thường có xu hướng tìm cách thu hút sự tham gia và ủng hộ của đông đảo NLĐ vì đó là một trong các yếu tố tăng thêm sức ép của đình công Do vậy, đã có nhà nghiên cứu cho rằng: “Quyền đình công là một quyền tập thể” Quan điểm này dựa trên cơ sở đánh giá các biểu hiện bên ngoài của hiện tượng đình công, nhưng chưa phản ánh chính xác bản chất của loại quyền đặc biệt này Xét về bản chất pháp lý, đình công là một loại quyền của cá nhân NLĐ Theo đó, NLĐ có quyền tự quyết định tham gia hay không tham gia đình công, tự do ý chí trong việc đưa yêu sách Nhưng việc thực hiện quyền đình công của NLĐ lại không thể thông qua hành vi cá nhân, mà phải được thực hiện thông qua hành động đồng loạt ngừng việc của tập thể lao động Việc một cá nhân NLĐ ngừng việc nhằm nêu yêu sách mang tính cá nhân, không được sự ủng hộ của những NLĐ khác thông qua hành vi cùng ngừng việc không được coi là biểu hiện của quyền đình công và nằm ngoài phạm vi được phép thực hiện của quyền đình công Như vậy, đình công là một loại quyền cho phép NLĐ được tự do lựa chọn cách xử sự trong khuôn khổ pháp luật, nhưng việc thực hiện quyền này phải thông qua hành vi mang tính tập thể là sự tự nguyện ngừng việc của những NLĐ

Trên cơ sở những vấn đề nêu trên, có thể thấy bản chất chung nhất của đình công

là biện pháp đấu tranh kinh tế của những NLĐ, được thực hiện bằng cách ngừng việc tập thể và có tổ chức, nhằm gây sức ép buộc NSDLĐ hoặc một chủ thể khác phải chấp nhận các yêu sách gắn với lợi ích nghề nghiệp

Tham khảo pháp luật về đình công của một số nước, có thể thấy không phải quốc gia nào khi thừa nhận quyền đình công cũng đưa ra khái niệm đình công ILO cũng chỉ đưa ra nhận định như sau về đình công: Đình công là một trong những biện pháp thiết yếu mà NLĐ và các tổ chức của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình, không chỉ nhằm đạt tới những điều kiện làm việc tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể mang tính nghề nghiệp, mà còn nhằm tìm ra những giải pháp cho các vấn đề chính sách kinh tế - xã hội và các vấn đề lao động bất kỳ loại nào

mà NLĐ trực tiếp quan tâm6

6

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (1997), Công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động

trước Toà án, Hà Nội, tr.31

Trang 20

13

Với quan điểm này, ILO bước đầu chỉ rõ đình công là một trong các biện pháp để bảo vệ NLĐ, đình công phải nhằm đạt các mục đích kinh tế - xã hội vì quyền đình công thuộc loại quyền kinh tế xã hội Tuy nhiên nhận định này chưa chỉ ra được các dấu hiệu để nhận dạng đình công, cũng như phân biệt đình công với các hiện tượng xã hội gần giống nó, do đó chưa thể coi là định nghĩa về đình công Tại Cộng hoà Pháp, mặc dù đã thừa nhận quyền đình công của NLĐ từ năm 1946, song trong BLLĐ hiện hành có hiệu lực từ ngày 23/11/19737

và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa có khái niệm chính thức, đầy đủ và thống nhất về đình công Tác giả của một số học thuyết pháp lý, cũng như các Thẩm phán trong quá trình giải quyết đình công đã nêu lên quan điểm riêng về đình công Cuốn Bách khoa toàn thư của Cộng hoà Pháp nhận

định: “Đình công là ngừng việc có bàn tính, nhằm nhấn mạnh những yêu sách mà

công là sự từ chối công việc tập thể và có bàn tính, thể hiện ý định của NLĐ tự đặt mình tạm thời ra ngoài hợp đồng lao động, để đảm bảo thành công cho các yêu sách

các dấu hiệu cơ bản của đình công là sự ngừng việc có tính tập thể và nhằm gây sức ép với NSDLĐ Có thể các khái niệm này chưa đầy đủ và chi tiết, song chúng ta cũng có thể tham khảo khi đưa ra khái niệm chính thức về đình công trong pháp luật Việt Nam Việc đưa ra một khái niệm tương đối chuẩn về đình công trong pháp luật thực định là vấn đề cần thiết để nhận dạng đình công, cũng như xác định các quy chế pháp

lý cho việc giải quyết đình công Ngoài ra, do đình công là một hiện tượng mang tính khách quan trong kinh tế thị trường, nên trong quá trình nhận thức về đình công, không thể bỏ qua việc xem xét đặc điểm của đình công gắn với bối cảnh kinh tế xã hội nơi đình công phát sinh và tồn tại

Trên cơ sở những vấn đề nêu trên, có thể đưa ra khái niệm đình công như sau:

Đình công là hiện tượng ngừng việc hoàn toàn (ngừng việc triệt để), có tổ chức của tập thể lao động nhằm gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại về kinh tế để buộc NSDLĐ hay một chủ thể khác phải thoả mãn những yêu sách gắn với lợi ích của tập thể lao động Khái niệm này bao quát đầy đủ những thuộc tính phổ biến nhất của mọi

trường hợp đình công phát sinh và tồn tại trong kinh tế thị trường, có thể vận dụng để nhận dạng đình công trong thực tiễn, cũng như phân biệt đình công với các hiện tượng tương tự khác Tuy nhiên, việc vận dụng khái niệm này trong quá trình ban hành pháp luật cần rất thận trọng bởi việc giữ nguyên khái niệm trên hay thu hẹp khái niệm đình công dưới góc độ pháp lý khi quy định trong văn bản pháp luật còn phụ thuộc vào quan điểm lập pháp và sự định hướng của Nhà nước

7 Cộng hoà Pháp, Đạo luật số 79-634 ngày 26/7/1979

8

Lenouveau Mémo (1999), Presses larousse, tr.4060

9 Helene Siney ((1981), Que sais-je Presses Universitaire de France, tr.35

Trang 21

14

1.2 Các dấu hiệu cơ bản của đình công

1.2.1 Đình công là sự phản ứng của những người lao động thông qua hành vi ngừng việc tạm thời

Sự phản ứng của những NLĐ thông qua ngừng việc tạm thời là dấu hiệu cơ bản giữ vị trí quan trọng để phân biệt đình công với các dấu hiệu khác NLĐ khi ngừng việc tạm thời khác với sự ngừng việc thông thường là cần có sự đồng ý của NSDLĐ hoặc có lý do bất khả kháng nào khác mà NSDLĐ cho phép nghỉ Ngừng việc tạm thời

và hoàn toàn này xuất phát từ ý chí chủ quan của tập thể NLĐ nhằm tạo một áp lực lên NSDLĐ thông qua ý chí chủ quan của tập thể NLĐ

Vấn đề tạm thời ngừng việc trong một thời gian ngắn nhưng triệt để và hoàn toàn, trong quá trình đó NLĐ không làm bất kỳ công việc gì khác có liên quan đến QHLĐ, trừ trường hợp phải tiến hành công việc do phạm vi luật định hoặc an toàn xã hội

Sự ngừng việc này diễn ra ở mức độ khác nhau trong mỗi QHLĐ, việc ngừng việc hoàn toàn sau khi tuyên bố đình công cho đến khi có được đáp ứng nhu cầu hay không thường diễn ra đến khi có lệnh quay trở lại làm việc do đã đáp ứng được yêu cầu hoặc quay trở lại làm việc do người lãnh đạo đình công quyết định.10

1.2.2 Đình công phải có sự tự nguyện của người lao động

Sự tự nguyện của NLĐ chính là tự bản thân NLĐ có mong muốn tham gia đình công thông qua ý chí của họ, NLĐ tham giao vào đình công mà trong khi vẫn có những cách giải quyết khác cho vấn đề đang phải đối mặt Họ hoàn toàn không bị người khác bắt buộc, cưỡng ép ngừng việc Nếu tập thể lao động hay NLĐ bị cưỡng

ép phải ngừng việc hoặc ngừng việc do thiếu nguyên liệu sản xuất kinh doanh thì trường hợp đó cũng không coi là đình công11

1.2.3 Đình công luôn có tính tập thể

Tính tập thể là một trong những dấu hiệu cơ bản của đình công Đình công là sự phản ứng nhằm gây sức ép với NSDLĐ nên thường có xu hướng thu hút và kêu gọi sự tham gia của đông đảo NLĐ nhằm làm tăng sức mạnh của cuộc đình công, những người tham gia đình công thường tìm cách vận động hoặc thậm chí ép buộc những NLĐ khác tham gia đình công Hành vi ép buộc NLĐ khác ngừng việc hoặc ngăn cản NLĐ khác vào làm việc thực chất đã vi phạm nguyên tắc tự do ý chí trong việc thực hiện quyền đình công Do đó, pháp luật của đa số các nước (Thái Lan, Philippin, Pháp, Nga ) đều quy định cấm thực hiện hành vi đe dọa, lừa dối hay ép buộc trong quá trình đình công Với mục đích hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đình công do khả năng mở rộng phạm vi và gây mất ổn định trật tự xã hội, một số quốc gia (Thái Lan, Philippin ) còn có những quy định hạn chế quy mô đình công Quy định này thực tế rất ít tính khả thi.12

Hơn nữa, tính tập thể là dấu hiệu không thể thiếu, luôn gắn liền với hiện tượng đình công Dấu hiệu này là căn cứ cơ bản để phân biệt đình công với sự

10 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.547

11

Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.548

12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.549

Trang 22

15

ngừng việc của cá nhân NLĐ Chính vì vậy, quyền đình công dù là quyền của cá nhân NLĐ nhưng thực hiện đình công bao giờ cũng là hành vi mang tính tập thể Việc thực hiện quyền đình công của NLĐ không thể thông qua hành vi cá nhân mà phải được thực hiện thông qua hành động ngừng việc của tập thể lao động; thông qua sự kết hợp nhau lại, cùng chung ý chí, mục đích và hành động ngừng việc của các cá nhân NLĐ

1.2.4 Đình công được thực hiện một cách có tổ chức 13

Đình công là phản ứng mang tính tập thể của nhiều NLĐ Để đạt được mục đích của cuộc đình công, không thể thiếu vai trò của người lãnh đạo Vì vậy, tính tập thể và tính tổ chức là hai dấu hiệu không thể tách rời của một cuộc đình công Về cơ bản dấu hiệu này được biểu hiện ở sự chủ định từ trước, có sự phối hợp về mặt ý chí và tổ chức của NLĐ Sự ngừng việc này phải có sự tổ chức, lãnh đạo, Điều hành thống nhất của một hay một nhóm người với yêu sách rõ ràng Thành phần lãnh đạo đình công có thể

là tổ chức đại diện của những NLĐ như Công đoàn hay nghiệp đoàn, có thể chỉ là một người hay một nhóm người được tập thể lao động bầu ra tại thời điểm chuẩn bị đình công Theo quy định của pháp luật Việt Nam, Công đoàn là tổ chức đại diện cho NLĐ

có quyền quyết định và lãnh đạo cuộc đình công

1.2.5 Mục đích của đình công là nhằm đạt được các yêu sách của tập thể người lao động thông qua việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại về kinh tế, đạt được những yêu sách gắn với lợi ích của tập thể lao động với người sử dụng lao động 14

Mục đích của đình công chính là đạt được các yêu sách tập thể mà những yêu sách đó có thể đã được pháp luật quy định hoặc chưa được pháp luật quy định, có thể xuất phát từ những yêu cầu chính đáng, cũng có thể xuất phát từ nguyện vọng khác nhưng phải liên quan đến QHLĐ và nhằm vào một chủ thể nhất định, với nội dung rõ ràng hoặc tương đối rõ ràng Hiện tượng ngừng việc tập thể của những NLĐ chỉ là biểu hiện bên ngoài của ý chí phản kháng khi họ cần bảo vệ những quyền và lợi ích nhất định Thông qua hành động ngừng việc, tập thể lao động muốn gây sức ép với chủ thể đối diện nhằm đạt được những yêu sách về kinh tế Chủ thể bị gây sức ép thông thường là NSDLĐ hoặc giới sử dụng lao động trực tiếp tham gia QHLĐ với những NLĐ Khi NSDLĐ hoặc giới sử dụng lao động không thực hiện đúng những nghĩa vụ theo quy định của pháp luật lao động hay không chấp nhận những yêu sách

về lợi ích của tập thể lao động thì TCLĐ phát sinh Nếu không được giải quyết, TCLĐ

là nguyên nhân cơ bản dẫn đến đình công

1.3 Phân loại đình công

Việc phân loại đình công giúp cho quá trình giải quyết đình công được nhanh chóng và hiệu quả, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nó tới sản xuất và đời sống của NLĐ cũng như đối với nền kinh tế xã hội nói chung

13

Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.550

14 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.551

Trang 23

Căn cứ vào phạm vi đình công có thể phân thành đình công doanh nghiệp, đình công bộ phận, đình công toàn ngành.16

Đình công doanh nghiệp là những cuộc đình công do tập thể NLĐ trong phạm vi một doanh nghiệp tiến hành Đình công bộ phận là những cuộc đình công do tập thể lao động trong phạm vi một bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp tiến hành Đình công toàn ngành là những cuộc đình công của những NLĐ trong phạm vi một ngành trên toàn quốc tiến hành Pháp luật nước ta chỉ thừa nhận những cuộc đình công trong phạm vi doanh nghiệp (đình công doanh nghiệp và đình công bộ phận) là hợp pháp

Căn cứ vào mục đích đình công có thể phân chia thành đình công yêu sách và đình công hưởng ứng (ủng hộ).17

Đình công yêu sách là đình công nhằm đạt được một

số yêu sách nhất định về kinh tế Đình công hưởng ứng là đình công nhằm ủng hộ, bày

tỏ thái độ đồng tình để ủng hộ các cuộc đình công khác mà không hưởng những yêu sách cho mình

1.4 Nội dung điều chỉnh pháp luật đối với đình công

1.4.1 Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với vấn đề đình công

Đình công là hiện tượng xuất hiện khách quan trong nền kinh tế thị trường và là một vấn đề phức tạp, mặc dù có những ảnh hưởng tích cực đến đời sống xã hội như đảm bảo quyền dân chủ của NLĐ, giúp cân bằng lợi ích trong QHLĐ vốn không cân bằng, nhưng đình công luôn tiềm ẩn những nguy cơ gây ra tác động xấu đến xã hội, nền kinh tế và đôi khi là chính trị của một quốc gia Sự điều chỉnh bằng pháp luật đối với đình công là cần thiết, đảm bảo phát huy những mặt tích cực và kiểm soát được những vấn đề tiêu cực mà đình công mang lại

Thứ nhất, việc điều chỉnh bằng pháp luật về đình công nhằm góp phần định

hướng cho sự phát triển của QHLĐ theo ý chí chủ quan của nhà nước Đảm bảo việc đình công không gây ảnh hưởng lớn đến chính trị, sự ổn định cho xã hội và sự phát triển của nền kinh tế

Thứ hai, việc điều chỉnh bằng pháp luật về đình công giúp bảo vệ quyền và lợi

ích cho bên yếu thế trong QHLĐ, là NLĐ Mặc dù pháp luật quốc tế thừa nhận quyền đình công của NLĐ, tuy nhiên chỉ khi pháp luật từng quốc gia cụ thể hóa bằng những quy định cụ thể, đảm bảo khung pháp lý cho NLĐ tiến hành đình công, khi đó NLĐ mới có cơ sở tiến hành thực hiện quyền dân chủ của mình, bởi đảm bảo bằng pháp luật

15 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.565

16

Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.564

17 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.543

Trang 24

17

là một trong những điều kiện quan trọng nhất để các quyền con người, quyền công dân được thực hiện

Thứ ba, điều chỉnh bằng pháp luật đình công giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của

NSDLĐ Mặc dù là bên có lợi thế trong QHLĐ, nhưng trước những tính chất cũng như diễn biến phức tạp của đình công, NSDLĐ cũng sẽ có nguy cơ gặp phải hậu quả tiêu cực như bị xâm phạm quyền sở hữu tài sản, quyền được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng Bởi vậy, để đảm bảo quyền dân chủ của một số đối tượng trong xã hội không làm ảnh hưởng đến những quyền pháp định của đối tượng khác, việc quy định rõ những việc được làm và không được làm khi tiến hành đình công của tập thể NLĐ là cần thiết đối với việc xây dựng pháp luật

Thứ tư, điều chỉnh pháp luật bằng đình công giúp bảo đảm sự bình ổn tương đối

của QHLĐ sau đình công Thông thường, khi xung đột về quyền và lợi ích giữa các bên trong QHLĐ không thể dàn xếp được thông qua các biện pháp ôn hoà, đình công

sẽ nổ ra, dẫn đến hiện tượng ngừng trệ sản xuất Nếu không giải quyết kịp thời, đình công sẽ gây ra những phản ứng dây chuyền đối với toàn bộ nền sản xuất xã hội Vì vậy, giải quyết đình công nhanh chóng và hiệu quả chính là góp phần bảo vệ sự ổn định của phương thức sản xuất hiện hành

1.4.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về đình công

Nội dung của pháp luật đình công chính là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nuốc ban hành để điều chỉnh các quan hệ pháp luật về đình công, mà các chủ thể thực hiện pháp luật về đình công cần phải thực hiện

Pháp luật về đình công bao gồm những nội dung như sau:

Thứ nhất, mục đích của đình công

Mục đích chủ yếu của đình công là đòi lợi ích kinh tế Điều này cũng phù hợp với quan điểm của tổ chức ILO khi chấp nhận các cuộc đình công về mục đích kinh tế, có một số cuộc đình công mang mục đích chính trị nhưng không mang bản chất kinh tế

xã hội không được thừa nhận, một số quốc gia thừa nhận đình công tập thể hưởng ứng khi đình công hợp pháp và có bản chất kinh tế như Anh, Thụy Điển, bên cạnh đó, một

số quốc gia như Pháp, Đức, Nga không thừa nhận đình công vì mục đích chính trị.18

Ngoài ra, mục đích của đình công khi tham gia vào quan hệ trong nền kinh tế thị trường còn bảo đảm việc bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ – được coi là một bên yếu thế trong QHLĐ

Thứ hai, đối tượng được phép đình công

Ở một số quốc gia đang phát triển thường thừa nhận quyền đình công của NLĐ

để tránh việc đình công vì mục đích chính trị Ở Việt Nam cũng tương tự như vậy, NLĐ và tập thể lao động là đối tượng làm công ăn lương chính và họ phải tuân thủ các nguyên tắc mà NSDLĐ đưa ra, nay nếu không tiến hành việc lao động thì họ chính là

18

Đỗ Ngân Bình (2005), Pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị

trường và hội nhập quốc tế, Luận án Tiến sỹ luật học, tr.42

Trang 25

18

đối tượng được phép đình công Một số quốc gia trên thế giới nhấn mạnh đình công là quyền của NLĐ, họ được sử dụng đình công để bảo vệ lợi ích nghề nghiệp Một số quốc gia còn thừa nhận cả việc đình công của công chức nhà nước như Hy Lạp, Pháp,… còn một số quốc gia không thừa nhận quyền đình công của công chức như

Mỹ, Thái Lan, Thụy Sỹ19

Theo ILO, đối tượng đình công không giới hạn và không có quy định bắt buộc,

mà tùy điều kiện của mỗi quốc gia, đối tượng đình công được quy định khác nhau Ví

dụ ở Cộng hòa Pháp thừa nhận tính chất hợp pháp của đối tượng đình công trong phạm

vi doanh nghiệp, đình công ngành và đình công toàn quốc thông qua việc không quy định phạm vi đình công trong BLLĐ và các văn bản hướng dẫn Hoặc ở Cộng hòa liên bang Đức cũng không hạn chế phạm vi đình công, đình công toàn ngành, tổng đình công toàn quốc vẫn có thể coi là hợp pháp20

Ở Việt Nam, đối tượng được đình công chủ yếu là NLĐ (theo khoản 1 Điều 5 BLLĐ năm 2012) NLĐ ở đây phải là người được làm việc theo hợp đồng lao động và phải thuộc đối tuộng được đình công không bị cấm bởi các quy định của pháp luật, để nhằm mục đích ổn định kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng

Thứ ba, thời điểm tiến hành đình công

Thời điểm có quyền đình công được hiểu là thời điểm tập thể lao động được phép

sử dụng quyền đình công theo quy định của pháp luật Thời điểm tiến hành đình công

ở nước ta quy định là kể từ khi có tranh chấp, phía NLĐ buộc phải trải qua một thời gian và thực hiện một số thủ tục nhất định để giải quyết tranh chấp sau đó mới được đình công.21

Quan điểm của đa số các quốc gia là chỉ cho phép thực hiện quyền đình công khi thật sự cần thiết để tránh tối đa các tiêu cực của cuộc đình công Đình công xuất phát từ những TCLĐ, các quốc gia đều có quy định về việc hòa giải trước khi tiến hành đình công, tuy nhiên về mức độ hòa giải đối với mỗi loại tranh chấp hoặc các quốc gia lại khác nhau Theo Khuyến nghị số 92 về hòa giải và trọng tài tự nguyện năm 1951, ILO có lưu ý các nước cần tránh việc hòa giải hoặc trọng tài như một thủ tục để hạn chế đình công, đặc biệt là không nên dùng trong tài bắt buộc để cấm đoán việc đình công.22

Thứ tư, trình tự, thủ tục đình công

- Trình tự, thủ tục đình công là các bước công việc tập thể NLĐ phải thực hiện khi đình công Tuy nhiên nhiều quốc gia lại quy định trình tự thủ tục rất phức tạp khiến cho việc đình công đã được chuẩn bị kỹ lưỡng vẫn không thể diễn ra theo đúng quy trình trên thực tế Theo quy định của pháp luật hiện hành, thủ tục đình công bao gồm thủ tục chuẩn bị đình công, thủ tục tiến hành đình công Chuẩn bị đình công bao

19

Báo điện tử (2006), “Công chức Pháp đình công đòi tăng lương” tại địa chỉ: chuc-Phap-dinh-cong-doi-tang-luong/40121169/267/, truy cập ngày 10/7/2016

http://vietbao.vn/Viec-lam/Cong-20 Đỗ Ngân Bình (2005), Pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị

trường và hội nhập quốc tế, Luận án Tiến sỹ luật học, tr.49

21

Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.571

22 Hà Thị Hoa Phượng (2013), Đình công và giải quyết đình công theo Bộ luật Lao động năm 2012”, tr.24

Trang 26

19

gồm lấy ý kiến tập thể, ra quyết định, đưa yêu cầu và thông báo về đình công Tiến hành đình công không được pháp luật quy định cụ thể mà quy định về những hành vi cấm khi tham gia đình công, nếu rơi vào các hành vi cấm đó sẽ không được tiến hành đình công

- Chủ thể lãnh đạo đình công: Tính tổ chức của đình công thường biểu hiện ra

bên ngoài thông qua việc phải có một chủ thể lãnh đạo đình công, có khả năng tập hợp những NLĐ, định hướng hành động và tiến hành chỉ đạo quá trình đình công từ khi khởi xướng đến khi chấm dứt đình công Trong thực tế, mọi cuộc đình công đều có thành phần lãnh đạo, nhưng tư cách pháp lý của chủ thể đó có được coi là hợp pháp hay không lại phụ thuộc vào quy định của pháp luật mỗi quốc gia Đa số pháp luật các nước đều có xu hướng quy định tổ chức đại diện lao động (thường là các tổ chức Công đoàn hay nghiệp đoàn) là chủ thể hợp pháp có tư cách lãnh đạo đình công Tại Cộng hoà liên bang Đức, tuy không có Luật liên bang chính thức quy định vấn đề này, nhưng qua các án lệ của Toà án liên bang có thể thấy rõ quan điểm của Nhà nước chỉ thừa nhận vai trò của các tổ chức Công đoàn trong việc lãnh đạo và chịu trách nhiệm

về đình công Tại Cộng hoà Pháp, vai trò lãnh đạo của Công đoàn chỉ có tính chất bắt buộc trong khu vực nhà nước Còn ở khu vực tư nhân, Công đoàn không đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp của cuộc đình công

- Các hành vi cấm thực hiện trước, trong và sau đình công: Các hành vi bị cấm

thực hiện trước trong và sau đình công được hiểu là các hành vi của NLĐ hoặc NSDLĐ thực hiện nhằm xâm hại đến quyền và lợi ích khác ngoài phạm vi được đình công hợp pháp cho phép Các hành vi bị cấm thường thấy của NLĐ đó là phá hoại tài sản của NSDLĐ, xâm hại tới sức khỏe, tính mạng của NSDLĐ, các hành vi bị cấm của NSDLĐ như đuổi việc hoặc trù dập, trả thù những người lãnh đạo hoặc tham gia đình công Quy định cấm những hành vi tiêu cực này không những góp phần bảo vệ quyền được phép tiến hành đình công theo pháp luật của NLĐ mà còn bảo vệ quyền chính đáng cho NSDLĐ, giúp cho QHLĐ không phát triển theo hướng tiêu cực khi có đình công xảy ra, đảm bảo môi trường đình công “sạch” Pháp luật nước ta cấm các hành vi sau đây:

+ Cản trở việc thực hiện quyền đình công của NLĐ hoặc kích động, lôi kéo, ép buộc NLĐ đình công; cản trở người không tham gia đình công đi làm việc;

+ Dùng bạo lực; hủy hoại máy, thiết bị, tài sản của NSDLĐ;

+ Xâm phạm trật tự, an toàn công cộng;

+ Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với NLĐ, người lãnh đạo đình công hoặc Điều động họ sang làm công việc khác, đi làm ở nơi khác vì

lý do chuẩn bị hoặc tham gia đình công;

+ Trù dập, trả thù người tham gia hoặc lãnh đạo đình công;

+ Lợi dụng đình công để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác

- Những trường hợp đình công bất hợp pháp: Pháp luật các nước đặt ra những

quy định chung để hướng cuộc đình công xảy ra phù hợp với tình hình của từng quốc

Trang 27

20

gia, trong đó có quy định về các trường hợp đình công bất hợp pháp Đình công bất hợp pháp thường dựa trên một số tiêu chí như người lãnh đạo đình công, mục đích đình công, phạm vi đình công, trình tự thủ tục đình công, thời điểm đình công… Có quốc gia quy định đình công bất hợp pháp bao gồm đình công xảy ra không đúng trình

tự thủ tục, có quốc gia quy định đình công không theo trình tự thủ tục không phải là một trường hợp đình công bất hợp pháp và có cách thức xử lý riêng Đối với các cuộc đình công bất hợp pháp, hậu quả pháp lý thường là tập thể lao động phải dừng hoạt động đình công, phải bồi thường thiệt hại nếu có, khi có quyết định cuộc đình công bất hợp pháp mà NLĐ vẫn nghỉ việc có thể sẽ bị xử lý kỷ luật

Pháp luật về giải quyết đình công bao gồm những nội dung sau:

Hiện nay tồn tại hai quan điểm về việc giải quyết đình công Quan điểm thứ nhất cho rằng giải quyết đình công bao gồm việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công, giải quyết nguyên nhân và hậu quả của cuộc đình công; quan điểm thứ hai cho rằng giải quyết đình công chỉ là việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công Việt Nam theo quan điểm thứ nhất, theo đó tập trung vào hai vấn đề chính đó là xét tính hợp pháp của đình công và giải quyết nguyên nhân, hậu quả của cuộc đình công Nói chung các quy định

về giải quyết đình công thường bao gồm các vấn đề cụ thể như: thẩm quyền giải quyết đình công, thủ tục giải quyết đình công và một số nội dung khác của hoạt động giải quyết đình công

Về thẩm quyền giải quyết đình công, đa số các nước đều trao thẩm quyền xét tính hợp pháp của cuộc đình công cho Tòa án, bởi vì Tòa án là cơ quan tư pháp xét xử độc lập, quyết định của Tòa án có giá trị bắt buộc áp dụng đối với mỗi bên Đối với các nước có quan điểm giải quyết đình công không chỉ bao gồm xét tính hợp pháp của đình công, thì thẩm quyền giải quyết đình công còn bao gồm các cơ quan như các cơ quan hòa giải bắt buộc, trọng tài lao động… (Nauy, Pêru, Romania…) Về thủ tục giải quyết đình công, một số quốc gia không quy định cụ thể ở trong các văn bản pháp luật

mà chỉ giải quyết theo thông lệ của Tòa án (Đức, Pháp) Tuy nhiên các quốc gia khác lại quy định cụ thể thủ tục giải quyết đình công trong các văn bản pháp luật để tạo cơ

sở pháp lý cho việc giải quyết đình công một cách thống nhất như Thái Lan, Philippin,

Nga…

1.5 Khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về đình công

1.5.1 Khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế

Tuân thủ vấn đề tự do hiệp hội trên toàn thế giới là yêu cầu cơ bản và không thể tránh khỏi của Tổ chức Lao động quốc tế do đặc điểm hoạt động quan trọng nhất của

tổ chức này, đó là quan hệ ba bên và những trách nhiệm quan trọng dựa trên cơ sở bản Điều lệ và các văn kiện của ILO mà theo đó các tổ chức của NLĐ và NSDLĐ được yêu cầu thực hiện trong khuôn khổ ILO cũng như tại các nước Thành viên Bản Tuyên

bố mới của ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong công việc được thông qua tại

Hội nghị lao động quốc tế năm 1998, “… tuyên bố rằng tất cả các nước Thành viên,

Trang 28

xã hội và văn hóa năm 1966 (Được thông qua và để ngỏ cho các nước ký, phê chuẩn

và gia nhập theo Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc Có hiệu lực từ ngày 3/01/1976, căn cứ theo Điều 27 Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982)

Một số nước áp dụng cơ chế giải quyết TCLĐ chỉ bằng hòa giải và trọng tài bắt buộc, pháp luật không có quy định về đình công Nhóm NSDLĐ cho rằng quyền thực hiện trực tiếp – đối với NLĐ là quyền đình công và đối với NSDLĐ là quyền bế xưởng – có thể được coi là một phần không thể thiếu trong luật pháp quốc tế và quyền

đó không được cấm hoàn toàn hoặc chỉ được phép thực hiện trong những điều kiện hạn chế Ở một số nước, nếu đình công bất hợp pháp thì sẽ là phạm tội và có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù (ví dụ: Bangladet; Philippin; Ba Lan, Nhật Bản) Tòa án áp dụng chế tài hình sự đối với những NLĐ tổ chức hoặc vận động đình công trong các ngành công cộng) Có nước coi đó là việc Điều hành lao động không đúng đắn và xử lý về dân sự và về kỷ luật ILO cho rằng, chỉ áp dụng chế tài hình sự đối với việc vi phạm những quy định cấm đình công nào mà phù hợp với nguyên tắc tự do liên kết, và cả trong trường hợp đó chế tài cũng phải tương xứng với tội phạm, không thể phạt tù đối với trường hợp đình công hòa bình ILO cho rằng, nếu áp dụng những chế tài hình sự không tương xứng thì sẽ không phát triển được những mối QHLĐ hài hòa

1.5.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Kinh nghiệm của Trung Quốc: Trung Quốc là nước chưa thừa nhận quyền đình công của NLĐ Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, vấn đề TCLĐ dẫn tới đình công trong doanh nghiệp là không tránh khỏi Để hạn chế tình trạng này, ngay từ năm 1979, chính phủ Trung Quốc đã cải tổ cơ cấu việc làm, hoàn thiện dần các quy tắc về tổ chức lao động và tái thiết lập một cách cơ bản QHLĐ mới Việc giải quyết các khiếu kiện về lao động ngày càng được quan tâm thông qua hoạt động của các hội đồng trung gian hòa giải Hệ thống hơn 200 tiêu chuẩn quốc gia về lao động được tuân thủ rất nghiêm ngặt và được điều chỉnh, hoàn thiện thường xuyên

để tương thích với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trung Quốc cũng

đã thực hiện hai cuộc vận động lớn về thành lập Công đoàn và thương lượng tập thể, phát huy vai trò của cơ chế tham vấn ba bên, đẩy mạnh sự tương tác giữa chính sách của Chính phủ và hoạt động thương lượng tập thể Các cuộc vận động này đã làm tăng

Trang 29

22 nhanh số đoàn viên Công đoàn và tổ chức Công đoàn cơ sở, nhất là trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Cùng với đó, cuộc vận động về thỏa ước lao động tập thể thực hiện từ năm 1995 cũng phát huy kết quả tích cực, số NLĐ tham gia thỏa ước lao động tập thể tăng lên, nội dung đàm phán giữa các bên trở nên thực chất hơn Cơ chế tham vấn ba bên được thiết lập từ năm 2001 cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiến hành thương lượng tập thể và giám sát thực thi pháp luật các cấp, trở thành chỗ dựa vững chắc cho tổ chức Công đoàn tiến hành thương lượng tập thể và giám sát thực thi pháp luật các cấp, trở thành chỗ dựa vững chắc cho tổ chức Công đoàn tiến hành thương lượng tập thể từ cấp doanh nghiệp đến cấp ngành và cấp vùng Vai trò và năng lực của tổ chức Công đoàn ngày được nâng lên, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích của NLĐ Đặc biệt trong những năm gần đây, Trung Quốc đã có những thay đổi căn bản trong định hướng chính sách tiền lương, chuyển dần từ việc duy trì lợi thế nhân công giá rẻ nhằm thu hút đầu tư sang thực hiện chính sách tiền lương công bằng hơn, gắn với năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động để cải thiện đời sống NLĐ và từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tất cả những Điều này, đang dần giúp QHLĐ trong các doanh nghiệp Trung Quốc vốn chứa đựng nhiều vấn đề phức tạp phát sinh cùng với quá trình dài tăng trưởng kinh tế “nóng” dần đi vào ổn định.23

Kinh nghiệm của Nhật Bản: Nhật Bản là nước có nền kinh tế thị trường phát triển, với nhiều lợi ích đan xen đa dạng Để hạn chế TCLĐ, đình công xảy ra, Nhật Bản rất chú trọng phát triển tổ chức Công đoàn để bảo vệ quyền lợi cho NLĐ Tổ chức Công đoàn ở Nhật Bản có đặc điểm là không tổ chức theo ngành dọc trên phạm vi toàn quốc mà chỉ tổ chức trong phạm vi từng doanh nghiệp rồi tự các Công đoàn cấp doanh nghiệp đó liên hiệp lại với nhau Chính phủ có thể thương lượng với liên hiệp này về những vấn đề chung nhất như mô hình tiền lương toàn quốc Các vấn đề cụ thể hơn thì được thương lượng ở cấp doanh nghiệp Công đoàn luôn chú trọng và bảo vệ NLĐ thành công trong vấn về an toàn việc làm Chính phủ Nhật Bản luôn khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện chế độ tuyển dụng lâu dài và trả lương thâm niên tạo nên sự gắn bó trung thành của NLĐ với công ty, gắn lợi ích riêng với lợi ích chung hạn chế được rất nhiều các mâu thuẫn về quyền lợi Hệ thống quản lý “kiểu Nhật Bản” vẫn tiếp

tục được duy trì, tuy có nhiều sự thay đổi cho phù hợp với thực tế, đó là chế độ làm

việc suốt đời, chế độ lên lương và thưởng theo thâm niên, Công đoàn trong nhà Cách

quản lý này hoàn toàn khác hẳn với Phương Tây – nơi coi trọng năng lực cá nhân hơn

là kinh nghiệm và tuổi tác Chính vì vậy, ở Nhật Bản nhìn chung vấn đề TCLĐ, bãi công không sôi động như ở các nước phát triển khác Thậm chí, thập kỷ gần đây dù kinh tế đất nước rơi vào trì trệ khó khăn, song, vấn đề xung đột lao động giữa chủ và thợ ở Nhật Bản không trở thành phong trào rầm rộ và hầu như chưa cần đến sự can

23 https://www.ilo.org/global/lang en/index.htm

Trang 30

Luật QHLĐ (1975) của Thái Lan quy định các hình thức và mức xử lý rất tỷ mỉ cho các vi phạm về đình công Nhưng nói chung cũng đều có hai loại phạt tiền và phạt tù hoặc cả hai Phạt tiền không quá 40.000 bạt, phạt tù không quá 2 năm Điều 272 Luật Lao động Philippin (1989) nếu vi phạm những Điều quy định về điều kiện, trình tự đình công thì bị phạt tiền không dưới 1000 pexô (tiền Philippin) và không quá 1.00 pexô hoặc bị tù không dưới 3 tháng và không quá 3 năm

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Từ một số kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia Châu Á nêu trên, có thể rút

ra một số kinh nghiệm về vấn đề liên quan đến đình công và quyền lợi ích hợp pháp của NSDLĐ trong đình công như sau:

Mặc dù có những nguyên tắc chung cần tuân thủ nhưng việc phát triển QHLĐ để giảm thiểu TCLĐ, đình công lại gắn liền với lịch sử, chính trị, kinh tế của mỗi nước, phù hợp với điều kiện riêng biệt của xã hội mỗi nước và thích ứng với những thay đổi theo thời gian của các điều kiện đó Tuy nhiên, bất cứ một hệ thống QHLĐ nào cũng phải dựa trên một nền tảng pháp lý vững vàng là Luật lao động và các đạo luật có liên quan khác Hệ thống pháp luật này càng cụ thể, rõ ràng thì càng có điều kiện ổn định hóa QHLĐ Sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, tổ chức đại diện NLĐ và tổ chức đại diện cho NSDLĐ (cơ chế ba bên) là điều kiện rất quan trọng để phát hiện và giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh trong QHLĐ

Đình công, về mặt pháp lý không phải là chấm dứt quan hệ lao động mà chỉ tạm thời dừng QHLĐ để chờ giải quyết Do đó, việc giải quyết hậu quả của đình công là vấn đề mang tính phức tạp mà các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật cần phải lưu ý Một cuộc đình công dù là hợp pháp thì xét về góc

độ kinh tế vẫn có thể có lợi hoặc không có lợi cho NLĐ Còn đối với NSDLĐ và xã hội thì thường là bị thiệt hại hoặc ít hoặc nhiều Do đó, có thể hiểu đình công chỉ là biện pháp cuối cùng khi không còn giải pháp nào khác, tuyệt đối không được coi đình công là một “vũ khí” duy nhất của NLĐ trong việc giải quyết TCLĐ tập thể

Ở phần lớn các nước mà luật pháp hạn chế đình công đều có những Điều khoản quy định chế tài đối với những NLĐ nào vi phạm Ở một số nước, nếu đình công bất hợp pháp thì sẽ là phạm tội và có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù Tuy nhiên cũng cần

24 Điều 25 A Luật Công đoàn (1959) của Malaixia

Trang 31

24

nghiên cứu và xem xét việc áp dụng chế tài hình sự đối với việc vi phạm những quy định cấm đình công nào là phù hợp với nguyên tắc tự do liên kết và cả trong trường hợp đó, chế tài cũng phải tương xứng với tội phạm, không thể phạt tù đối với trường hợp đình công hoà bình Nếu áp dụng những chế tài hình sự không tương xứng thì sẽ không phát triển được những mối QHLĐ hài hoà

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ những vấn đề lý luận cơ bản về đình công và thực hiện pháp luật về đình công trong Chương 1 đã trình bày, sau khi nghiên cứu và thấy rõ khái niệm và bản chất của đình công và thực hiện pháp luật về đình công, chúng ta thấy đình công là một hiện tượng tự nhiên trong nền kinh tế thị trường, là quyền lợi chính đáng của NLĐ được Tổ chức lao động Quốc tế ILO quy định trong các Công ước Quốc tế và được pháp luật của hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường thừa nhận

Thực hiện pháp luật về đình công là quá trình hoạt động của các chủ thể tham gia đình công và giải quyết đình công đảm bảo đình công và giải quyết đình công được thực hiện đúng quy định của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ được giải quyết thỏa đáng Vấn đề đình công và thực hiện pháp luật đình công không chỉ nhận được sự quan tâm của Việt Nam mà còn nhận được sự quan tâm của tổ chức ILO và nhiều quốc gia trên thế giới

Để đảm bảo thực hiện pháp luật về đình công, cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, có tính khả thi; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể tham gia đình công và giải quyết đình công; và xây dựng được hệ thống các thiết chế để đảm bảo thực hiện pháp luật về đình công

Trang 32

25

CHƯƠNG 2:

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI

DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Nội dung quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đình công

2.1.1 Đối tượng được đình công và chủ thể tổ chức, lãnh đạo đình công

Mục đích của đình công

Pháp luật nước ta chỉ công nhận đình công với mục đích kinh tế, mặc dù không

có quy định trực tiếp việc không thừa nhận các cuộc đình công với mục đích chính trị, nhưng qua định nghĩa về đình công tại khoản 1 Điều 209 BLLĐ năm 2012, pháp luật

đã gián tiếp khẳng định Điều này: “Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và

có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết TCLĐ” Theo khoản 7 Điều 3 BLLĐ năm 2012 thì TCLĐ là tranh chấp về quyền,

nghĩa vụ và lợi ích giữa các bên trong QHLĐ Quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ là quan

hệ mua bán hàng hóa sức lao động, đó là quan hệ có bản chất là kinh tế, bởi vậy quyền, nghĩa vụ, lợi ích trong QHLĐ sẽ xoay quanh vấn đề kinh tế Như vậy với định nghĩa về đình công, pháp luật đã gián tiếp chỉ thừa nhận các cuộc đình công với mục đích kinh tế

Đối tượng, phạm vi được đình công

Kế thừa BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm 2002, 2006, 2007), tại điểm đ khoản 1 Điều 5 BLLĐ năm 2012 đã tiếp tục ghi nhận NLĐ có quyền đình công Quyền đình công là quyền của cá nhân NLĐ, song đình công phải được thực hiện bởi tập thể lao động Điều 209 BLLĐ năm 2012 đã định nghĩa về đình công thông qua đó khẳng định đối tượng của đình công là tập thể lao động Pháp luật ghi nhận quyền đình công của NLĐ và quy định đối tượng đình công là tập thể lao động, tuy nhiên không phải tập thể lao động nào cũng có quyền được đình công, cụ thể:

- Tập thể lao động theo định nghĩa tại khoản 3 Điều 3 BLLĐ năm 2012 là “tập

hợp có tổ chức của NLĐ cùng làm việc cho một NSDLĐ hoặc trong một bộ phận thuộc

cơ cấu tổ chức của NSDLĐ”, qua định nghĩa này, BLLĐ năm 2012 đã gián tiếp khẳng

định tập thể lao động chỉ được đình công để gây áp lực, nhằm đạt được yêu sách đối với NSDLĐ của họ, việc đình công gây áp lực đối với NSDLĐ khác hoặc một chủ thể khác là không có cơ sở Tinh thần này đã được cụ thể tại quy định về những trường

hợp đình công bất hợp pháp theo Điều 215 BLLĐ năm 2012, bao gồm trường hợp “tổ

chức cho những NLĐ không cùng làm việc cho một NSDLĐ đình công” Như vậy, tập

thể lao động là đối tượng của đình công chỉ khi tập thể lao động đình công đối với NSDLĐ của chính họ Hay nói theo cách khác, phạm vi đình công được pháp luật cho phép là đình công trong doanh nghiệp, Việt Nam gián tiếp không công nhận đình công ngành, liên ngành hay tổng đình công

- Theo khoản 4 Điều 215 BLLĐ năm 2012, tập thể lao động không được tiến hành đình công tại những doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục do

Trang 33

26

Chính phủ quy định Theo quy định tại danh mục các đơn vị sử dụng lao động không được đình công ban hành kèm theo Nghị định số 41/2013/NĐ-CP ngày 08/05/2013 của Chính phủ, thì các đơn vị sử dụng lao động không được đình công là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc bộ phận của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức cho thuê mướn, sử dụng lao động theo quy định của pháp luật lao động, hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân mà việc đình công có thể đe dọa đến an ninh, quốc phòng, sức khỏe, trật tự công cộng, bao gồm các ngành điện lực; dầu khí và gas; bảo đảm an toàn hàng không, hàng hải; bưu chính, viễn thông; cung cấp nước sạch, thoát nước, vệ sinh môi trường; trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng Đây là quy định nhằm hạn chế tác động tiêu cực của đình công lên lợi ích chung của cộng đồng Như vậy đối tượng của đình công là tập thể NLĐ không làm việc cho các doanh nghiệp nằm trong danh mục các đơn vị sử dụng lao động không được đình công

- NLĐ là người làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản

lý, Điều hành của NSDLĐ Xét về bản chất thì công chức, viên chức nhà nước là NLĐ đặc biệt mà NSDLĐ chính là nhà nước Mặc dù không có Điều khoản cấm công chức, viên chức tổ chức đình công, nhưng căn cứ vào Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức 2010, có thể thấy pháp luật cũng không trao quyền đình công cho công chức, viên chức nhà nước Công chức, viên chức nhà nước là những người tham gia các quan hệ có tính chất mệnh lệnh hành chính, họ buộc phải tuân thủ các quy định của pháp luật theo nguyên tắc chỉ được làm những gì pháp luật cho phép Do đó, khi pháp luật không trực tiếp quy định công chức, viên chức nhà nước có quyền đình công thì đương nhiên phải hiểu công chức, viên chức nhà nước không có quyền đình công Đình công bắt nguồn từ TCLĐ tập thể Căn cứ vào tính chất, TCLĐ tập thể được chia thành TCLĐ về quyền và TCLĐ tập thể về lợi ích BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm

2002, 2006, 2007) cho phép đình công được phát sinh từ hai loại TCLĐ tập thể này Tuy nhiên, BLLĐ năm 2012 đã thu hẹp trường hợp được phép tiến hành đình công, chỉ ghi nhận tính hợp pháp của cuộc đình công bắt nguồn từ TCLĐ tập thể về lợi ích Nhiều quan điểm cho rằng TCLĐ tập thể về quyền là tranh chấp khi có sự vi phạm về quyền được quy định trong các văn bản pháp luât, nội quy lao động đã đăng ký với cơ quan nhà nước hoặc thỏa ước lao động tập thể, đây là những tranh chấp hoàn toàn có

cơ sở pháp lý để giải quyết, nên sẽ được giải quyết theo cơ chế giải quyết TCLĐ thông qua hệ thống các cơ quan giải quyết tranh chấp

Tuy nhiên việc bó hẹp quy định về trường hợp được quyền đình công tồn tại những hạn chế như sau:

- Trên thực tế, có nhiều vụ TCLĐ khó có thể xác định được đó là tranh chấp về quyền hay lợi ích Đó là các cuộc tranh chấp về các Điều khoản không rõ ràng được hai bên thỏa thuận trong thỏa ước lao động tập thể hoặc được quy định trong nội quy lao động Ví dụ tranh chấp giữa NLĐ và doanh nghiệp xảy ra liên quan đến chất lượng bữa ăn khi thỏa thuận trong thỏa ước về bữa ăn không cụ thể rõ ràng, thì việc xác định

Trang 34

- Đối với những TCLĐ tập thể về quyền đã được Tòa án ra quyết định cuối cùng, tuy nhiên NSDLĐ vẫn không chấp hành và tiếp tục vi phạm quyền của NLĐ, đến thời điểm này, NLĐ không còn công cụ nào khác để bảo vệ quyền hợp pháp của mình

Chủ thể lãnh đạo đình công

Theo Điều 210 BLLĐ năm 2012, chủ thể lãnh đạo đình công bao gồm: Ban chấp hành Công đoàn cơ sở (ở nơi có tổ chức Công đoàn) và Tổ chức Công đoàn cấp trên theo đề nghị của NLĐ (ở nơi chưa có tổ chức Công đoàn)

Công đoàn Việt Nam có thẩm quyền và vai trò to lớn trong lĩnh vực lao động nói chung và giải quyết TCLĐ, tổ chức và lãnh đạo đình công nói riêng Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, các quyền của tổ chức Công đoàn, về phương diện lao động, được đề cập chủ yếu là các quyền của chủ thể trong quan hệ pháp lý giữa một bên là tổ chức Công đoàn và một bên là NSDLĐ Quan hệ này là quan hệ trực tiếp, song phương, chứ không phải là quyền của một chủ thể thứ ba trong QHLĐ Một mặt, Công đoàn nhân danh mình, mặt khác có quyền thay mặt cho tập thể NLĐ thực hiện các hành vi cần thiết để đảm bảo các điều kiện lao động tốt hơn cho NLĐ

BLLĐ năm 2012 đã bác bỏ quyền được cử đại diện từ tập thể lao động lãnh đạo đình công đối với doanh nghiệp chưa có tổ chức Công đoàn Đây là quy định thể hiện

sự nhất quán về vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ Đại hội X Công đoàn Việt Nam cũng xác định Công đoàn cấp trên của Công đoàn cơ sở phải đóng vai trò chủ động và trực tiếp hơn trong việc hỗ trợ

và tăng cường sức mạnh cho Công đoàn cơ sở

So với Công đoàn cơ sở, Công đoàn cấp trên có một số điều kiện thuận lợi hơn,

cụ thể:

- Độc lập với NSDLĐ nên họ dễ dàng hơn trong việc nói lên những mong muốn của NLĐ Họ không bị gây sức ép từ phía NSDLĐ, nên chỉ có trách nhiệm bảo vệ quyền hợp pháp và lợi ích chính đáng của NLĐ

- Các cán bộ Công đoàn đều hoạt động chuyên trách nên họ có nhiều thời gian, toàn tâm, toàn ý cống hiến cho công việc Công đoàn; có kiến thức và kỹ năng hoạt động Công đoàn tốt hơn cán bộ Công đoàn cơ sở kiêm nhiệm

- NSDLĐ thường có thái độ tôn trọng hơn đối với cán bộ Công đoàn cấp trên, vì đây là những cán bộ chuyên nghiệp, có kiến thức pháp luật tốt, có quyền tổ chức đình công theo pháp luật

Như vậy, quyền lãnh đạo và tổ chức đình công được pháp luật Việt Nam ghi nhận

là một trong những quyền của tổ chức Công đoàn Vì vậy, nếu xem xét là một quyền,

Trang 35

28

thì rõ ràng cần đối xử với nó đúng với vị trí là một quyền, nghĩa là tạo những điều kiện pháp lý, cơ chế, chính sách và những điều kiện vật chất, tinh thần để thuận lợi hóa trong việc thực hiện quyền Mặt khác, với tư cách là tổ chức đại diện của tập thể NLĐ trong doanh nghiệp thì Công đoàn có trách nhiệm, nghĩa vụ đứng ra tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật

2.1.2 Thời điểm, trình tự, thủ tục đình công

Thời điểm có quyền thực hiện thủ tục đình công

Thời điểm được quyền đình công là khi TCLĐ tập thể về lợi ích đã được giải quyết theo thủ tục hòa giải và trọng tài nhưng không không thành hoặc hòa giải thành nhưng một trong các bên không thực hiện thỏa thuận đã đạt được (Điều

204, 206) BLLĐ năm 2012 đã kéo dài thời điểm có quyền đình công hơn so với BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm 2002, 2006, 2007) Trong khi theo BLLĐ năm

1994 (sửa đổi năm 2002, 2006, 2007) thì sau khi Hội đồng trọng tài lao động hoà giải không thành hoặc hết thời hạn giải quyết mà Hội đồng trọng tài lao động không tiến hành hoà giải thì tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công; thì BLLĐ năm 2012 quy định sau thời gian 05 ngày kể từ ngày Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải thành mà một trong các bên không thực hiện thỏa thuận đã đạt được hoặc sau thời hạn 03 ngày, kể từ ngày Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải không thành, lúc này tập thể lao động mới

có quyền tiến hành các thủ tục để đình công

BLLĐ năm 2012 đã bổ sung trường hợp được phép đình công đó là khi trọng tài hòa giải thành nhưng một trong các bên không thực hiện Tuy nhiên lại không quy định về trường hợp khi hết thời gian cho phép (7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết) mà Hội đồng trọng tài chưa kết thúc hòa giải hoặc thậm chí không tiến hành hòa giải thì NLĐ có được quyền đình công hay không

Thủ tụctiến hành đình công: Theo quy định tại Điều 211 BLLĐ 2012, trình tự

thủ tục đình côngtiến hành theo 3 bước Sơ đồ trình tự thủ tục đình công như sau:

Trang 36

29 Như vậy, cuộc đình công được diễn biến theo 03 bước sau đây:

- Bước 1: Lấy ý kiến tập thể lao động: Chỉ tổ chức Công đoàn cơ sở hoặc tổ chức Công đoàn cấp trên mới có quyền lấy ý kiến tập thể lao động về vấn đề đình công Việc tổ chức lấy ý kiến có thể thực hiện bằng phiếu hoặc chữ ký Tại doanh nghiệp đã

có tổ chức Công đoàn cơ sở thì chỉ cần lấy ý kiến thành viên Ban chấp hành Công đoàn cơ sở và tổ trưởng các tổ sản xuất Đối với doanh nghiệp chưa có tổ chức Công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của tổ trưởng các tổ sản xuất hoặc của NLĐ Nội dung lấy ý kiến để đình công bao gồm phương án của Ban chấp hành Công đoàn (về thời điểm bắt đầu đình công, địa điểm đình công; phạm vi tiến hành đình công; yêu cầu của tập thể lao động); ý kiến của NLĐ đồng ý hay không đồng ý đình công

Quy định về đối tượng lấy ý kiến của BLLĐ năm 2012 phần nào dễ thực thi hơn

so với BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm 2002, 2006, 2007) Trong khi BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm 2002, 2006, 2007) yêu cầu phải lấy ý kiến trực tiếp của NLĐ đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp dưới 300 lao động, thì BLLĐ năm 2012 cho phép chỉ lấy ý kiến của Ban chấp hành Công đoàn cơ sở và các tổ trưởng tổ sản xuất, trường hợp không có Ban chấp hành Công đoàn thì có thể lấy ý kiến của các tổ trưởng

tổ sản xuất

- Bước 2: Ra quyết định đình công: Khi có trên 50% số người được lấy ý kiến đồng ý với phương án của Ban chấp hành Công đoàn đưa ra thì Ban chấp hành Công đoàn ra quyết định đình công bằng văn bản Sau khi ra quyết định đình công, Ban chấp hành Công đoàn phải gửi quyết định đình công cho NSDLĐ, đồng thời gửi 01 bản cho

cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh, 01 bản cho Công đoàn cấp tỉnh, ít nhất

05 ngày trước ngày bắt đầu đình công

- Bước 3: Tiến hành đình công nếu NSDLĐ không chấp nhận giải quyết yêu cầu của tập thể lao động: Việc quy định trình tự, thủ tục chuẩn bị đình công chặt chẽ như trên nhằm những mục đích cơ bản sau đây: i) Bảo đảm quyền tự do định đoạt và ý chí

tự nguyện của những NLĐ khi quyết định đình công; ii) Tạo điều kiện để tập thể lao động có sự chuẩn bị kỹ lưỡng các tiền đề cơ bản, tạo khả năng thành công cho cuộc đình công; iii) Thủ tục gửi yêu sách đến người sử dụng lao động sẽ tạo điều kiện cho NSDLĐ có cơ hội xem xét lại những yêu sách của tập thể lao động, cân nhắc giữa việc chấp nhận những yêu sách của NLĐ hay để đình công xảy ra; iv) Thủ tục thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giúp chính quyền sở tại biết trước về khả năng xảy ra đình công và dự liệu những hậu quả của đình công để có biện pháp xử lý kịp thời, hoặc khắc phục những hậu quả của đình công, đặc biệt là những bất ổn về chính trị, xã hội (nếu xảy ra); vi) Giảm đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực của đình công do đã được thông báo và có sự chuẩn bị trước để đối phó với những ảnh hưởng tiêu cực của đình công

Cách thức đình công

Cách thức đình công được hiểu là các phương thức ngừng việc của tập thể lao động Pháp luật Việt Nam không quy định về cách thức đình công, nhưng thực tế đã

Trang 37

30

ghi nhận nhiều cách thức đình công mà tập thể lao động thực hiện như đình công ngồi, đình công đứng tại cổng doanh nghiệp, thậm chí có NLĐ còn đình công bằng cách nằm phơi nắng, tuyệt thực Tuy chưa có quy định cụ thể về cách thức tiến hành đình công, song BLLĐ năm 2012 có quy định về những hành vi bị cấm khi thực hiện đình công đối với tập thể lao động, cụ thể: Dùng bạo lực; hủy hoại máy, thiết bị, tài sản của NSDLĐ; Xâm phạm trật tự, an toàn công cộng; Lợi dụng đình công để thực hiện hành

vi vi phạm pháp luật khác

Như vậy có thể hiểu tập thể lao động có thể tùy chọn cách thức đình công ngoài những Điều mà pháp luật cấm Pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể về cách thức đình công giúp việc thực hiện đình công được linh hoạt hơn

Những hành vi vị cấm trước, trong và sau khi đình công

BLLĐ năm 2012 quy định cấm 06 nhóm hành vi trước, trong và sau đình công,

cụ thể:

- Cản trở việc thực hiện quyền đình công hoặc kích động, lôi kéo, ép buộc NLĐ

đình công; cản trở NLĐ không tham gia đình công đi làm việc;

- Dùng bạo lực; hủy hoại máy, thiết bị, tài sản của NSDLĐ;

- Xâm phạm trật tự, an toàn công cộng;

- Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với NLĐ, người

lãnh đạo đình công hoặc Điều động NLĐ, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công;

- Trù dập, trả thù NLĐ tham gia đình công, người lãnh đạo đình công;

- Lợi dụng đình công để thực hiện hành vi vi phạm pháp luât khác

Đây là những quy định nhằm hạn chế việc gây thiệt hại về vật chất, tinh thần, xâm phạm quyền hợp pháp của chủ thể đối diện trong đình công hoặc ảnh hưởng đến lợi ích chung của toàn xã hội Về cơ bản, BLLĐ năm 2012 đã kế thừa tinh thần của BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm 2002, 2006, 2007), tuy nhiên BLLĐ năm 2012 đã bỏ đi

một hành vi cấm “Tự ý chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp để chống lại đình

công” Đây là quy định hợp lý, bởi lẽ việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp phải

thỏa mãn những điều kiện và tuân theo trình tự thủ tục phá sản hoặc giải thể doanh nghiệp do pháp luật về doanh nghiệp quy định, vậy nên không cần quy định cấm doanh nghiệp tự ý chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp để chống lại đình công trong pháp luật lao động Hơn nữa, BLLĐ năm 2012 đã bổ sung quyền của NSDLĐ trong thời gian đình công được tạm thời đóng cửa doanh nghiệp do không đủ điều kiện để duy trì hoạt động bình thường hoặc để tránh những trường hợp quá khích phá hoại tài sản của doanh nghiệp

NLĐ hoặc NSDLĐ vi phạm quy định cấm các hành vi thực hiện trước, trong và sau đình công sẽ bị xử phạt hành chính theo Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động và Nghị định 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số Điều của Nghị định 95/2013/NĐ-CP

Trang 38

31

2.1.3 Đình công bất hợp pháp

Đặc điểm của đình công bất hợp pháp

Đình công là quyền của NLĐ, tuy nhiên phải đặt quyền của NLĐ trong mối tương quan lợi ích đối với lợi ích chung của cộng đồng, vì vậy pháp luật Việt Nam đã quy định một số trường hợp đình công bất hợp pháp, ngăn chặn những hành vi đình công ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định của xã hội, chính trị, sự phát triển của nền kinh tế Các trường hợp đình công bất hợp pháp được quy định tại Điều 215 BLLĐ năm 2012, cụ thể: Không phát sinh từ TCLĐ tập thể về lợi ích; Tổ chức cho những NLĐ không cùng làm việc cho một NSDLĐ đình công; Khi vụ việc TCLĐ tập thể chưa được hoặc đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết theo quy định; Tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định; Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công

Thứ nhất, đình công không phát sinh từ TCLĐ tập thể về lợi ích TCLĐ tập thể

về lợi ích là tranh chấp phát sinh từ việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động so với quy định của pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động hoặc các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác trong quá trình thương lượng giữa tập thể NLĐ với NSDLĐ Như đã phân tích ở trên, BLLĐ năm 2012 đã thu hẹp quyền đình công của NLĐ so với BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm 2002, 2006, 2007, khi BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm 2002, 2006, 2007) cho phép đình công đối với cả trường hợp TCLĐ tập thể về quyền

Thứ hai, đình công được tổ chức từ những NLĐ không cùng làm việc cho một

NSDLĐ Cuộc đình hợp pháp là cuộc đình công mà phạm vi đình công chỉ được phép diễn ra trong một đơn vị sử dụng lao động hoặc một bộ phận của đơn vị sử dụng lao động Quy định này vẫn tiếp tục tiếp nối tinh thần từ BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm

2002, 2006, 2007), tuy nhiên đã có sự chỉnh sửa chính xác hơn về thuật ngữ Trong khi BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm 2002, 2006, 2007) sử dụng thuật ngữ pháp lý “doanh nghiệp” trong quy định về đình công bất hợp pháp là đình công “không do những NLĐ cùng làm việc trong một doanh nghiệp tiến hành”, thì đến năm 2012, BLLĐ đã chỉnh sửa và sử dụng từ “NSDLĐ” Thuật ngữ “NSDLĐ” đã bao hàm được những trường hợp mà thuật ngữ “doanh nghiệp” không nhắc đến được đó là các cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động, hợp tác xã, hộ gia đình

Thứ ba, đình công khi vụ TCLĐ tập thể chưa được hoặc đang được cơ quan, tổ

chức, cá nhân giải quyết theo quy định của BLLĐ Theo quy định của BLLĐ năm

2012, trước khi tập thể lao động tiến hành đình công thì TCLĐ tập thể về lợi ích phải được giải quyết bằng Hòa giải viên lao động và Hội đồng trọng tài lao động Khi tranh chấp này chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết thì tập thể lao động không được phép tổ chức đình công

Thứ tư, đình công tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh

mục do Chính phủ quy định Do tính chất quan trọng và tầm ảnh hướng lớn của các

Trang 39

32

doanh nghiệp hoạt động thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân nên pháp luật đã không cho phép tập thể lao động ở các doanh nghiệp này được đình công Tuy nhiên, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích đối với tập thể lao động tại các doanh nghiệp thiết yếu này, pháp luật có quy định cơ quan quản lý nhà nước phải định kỳ tổ chức lắng nghe ý kiến của tập thể lao động và NSDLĐ để kịp thời giúp đỡ và giải quyết các yêu cầu chính đáng của tập thể lao động

Thứ năm, khi có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công Nghị định

46/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của BLLĐ về TCLĐ đã hướng dẫn cụ thể về các trường hợp hoãn, ngừng đình công, thủ tục, thẩm quyền và vấn đề giải quyết quyền lợi cho NLĐ, theo đó:

Hoãn đình công là việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định chuyển thời điểm bắt đầu thực hiện cuộc đình công đã được dự kiến sang một thời điểm khác

Ngừng đình công là việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định chấm dứt cuộc đình công đang diễn ra cho đến khi không còn nguy cơ xâm hại nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc dân và lợi ích công cộng

Thẩm quyền ra quyết định hoãn hoặc ngừng đình công đã có sự thay đổi Trước đây Thủ tướng Chính phủ có quyền hoãn hoặc ngừng đình công, tuy nhiên hiện nay thẩm quyền này thuộc về Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh Đây là một sự thay đổi hợp lý bởi nếu theo quy định cũ, thì người đứng đầu bộ máy hành pháp sẽ bị dồn quá nhiều việc, hơn nữa Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh là người chịu trách nhiệm cao nhất đối với cuộc đình công xảy ra trên địa bàn mình, là người nắm rõ thông tin và đặc điểm tình hình địa phương hơn, nên việc đưa ra quyết định hoãn hoặc ngừng đình công sẽ chính xác và kịp thời hơn

BLLĐ năm 2012 đã giảm bớt hai trường hợp đình công bất hợp pháp so với BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm 2002, 2006, 2007), đó là trường hợp đình công vi phạm

về trình tự thủ tục và vi phạm về tổ chức lãnh đạo đình công Việc không quy định trường hợp đình công không theo trình tự thủ tục là đình công bất hợp pháp là sự sửa đổi hợp lý, bởi lẽ theo dữ liệu của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, kể từ năm 1995 đến tháng 6/2015, có 5.988 cuộc đình công diễn ra và tất cả các cuộc đình công đều vi phạm về trình tự, thủ tục pháp luật quy định, tức là cuộc đình công không do Công đoàn lãnh đạo, không thông qua hòa giải, trọng tài… Nếu áp dụng theo quy định của BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm 2002, 2006, 2007) thì tất cả các cuộc đình công xảy ra đều bất hợp pháp dù lý do đình công của tập thể lao động là chính đáng, đây là điểm bất lợi lớn đối với tập thể lao động Theo BLLĐ năm 2012, đối với những cuộc đình công không theo trình tự, thủ tục luật định, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ chủ trì phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan trực tiếp gặp gỡ NSDLĐ và Ban chấp hành Công đoàn để nghe ý kiến và hỗ trợ các bên tìm biện pháp giải quyết

Xét tính hợp pháp của cuộc đình công

Thứ nhất, quyền yêu cầu xét tính hợp pháp của đình công

Theo BLTTDS 2015, trong quá trình đình công hoặc trong thời hạn 03 tháng, kể

từ ngày chấm dứt đình công, mỗi bên có quyền nộp đơn đến Tòa án yêu cầu xét tính

Trang 40

33

hợp pháp của cuộc đình công Theo đó, chủ thể có quyền yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công sẽ là Công đoàn lãnh đạo đình cuộc đình công hoặc NSDLĐ Quy định này vẫn giữ nguyên so với BLLĐ năm 2012 và BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm

2002, 2006, 2007), có sự thay đổi so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các TCLĐ năm

1996 Ngoài những chủ thể được đề cập phía trên, Pháp lệnh thủ tục giải quyết TCLĐ năm 1996 quy định thêm chủ thể có quyền yêu cầu giải quyết đình công bao gồm Sở LĐ-TB&XH, Liên đoàn Lao động cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân

Về thời hạn, việc nộp đơn yêu cầu chỉ được thực hiện trong quá trình đình công hoặc trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt đình công Như vậy trước thời điểm xảy ra đình công, các chủ thể không có quyền yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công Đây là một điểm thay đổi so với BLLĐ năm 1994 (sửa đổi năm 2002,

2006, 2007) cho phép các chủ thể nộp đơn yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công trước thời điểm diễn ra đình công

Lý do cho sự sửa đổi: i) Nhiều trường hợp chưa có cơ sở để xét tính hợp pháp của cuộc đình công như đối với trường hợp đình công bất hợp pháp do vẫn tiến hành khi

có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công, lúc này đình công chưa xảy ra, vậy đương nhiên Tòa án không có cơ sở để xét đến trường hợp này; ii) Trong thực tế sẽ có những trường hợp Toà án đã thụ lý giải quyết đình công nhưng cuộc đình công lại không xảy

ra trong thực tiễn; iii) Để phù hợp với tính chất đình công tại Việt Nam, đa phần là các cuộc đình công chớp nhoáng, không tuân theo trình tự thủ tục, chỉ mới xuất hiện TCLĐ, tập thể lao động đã ngừng việc, tham gia đình công, vậy nên NSDLĐ không có

cơ hội gửi đơn yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công khi đình công chưa xảy ra

Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, không thể vì những lý do trên mà pháp luật bác bỏ quyền được gửi đơn yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công trước thời điểm đình công diễn ra Ví dụ đối với các trường hợp cuộc đình công đã có dấu hiệu bất hợp pháp, Tòa án không cần thiết phải đợi đến khi đủ các căn cứ mới có thể xét tính hợp pháp, bởi chỉ cần có một trong năm trường hợp được quy định tại Điều

215 BLLĐ năm 2012 là đủ để xác định một cuộc đình công là bất hợp pháp Việc quy định trong hoặc sau thời gian đình công các chủ thể mới có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa

án xét tính hợp pháp vô hình chung đã hạn chế quyền lợi chính đáng của NSDLĐ khi biết trước cuộc đình công diễn ra sẽ là bất hợp pháp, ví dụ khi cuộc đình công sắp diễn

ra tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định, họ phải đợi khi đình công xảy ra, có thiệt hại thực tế mới có quyền yêu cầu giúp ngăn chặn đình công Hơn nữa theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì Tòa án

có thời hạn tối đa 10 ngày để ra quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công, như vậy NSDLĐ sẽ tiếp tục đợi tối đa 10 ngày để có thể giải quyết một cuộc đình công bất hợp pháp Mục đích của việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công nhằm giảm thiểu thiệt hại do đình công bất hợp pháp gây ra, đảm bảo sự ổn định cho xã hội và phát triển của nền kinh tế Việc bỏ quyền nộp đơn xét tính hợp pháp của cuộc đình công

Ngày đăng: 02/08/2019, 20:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w