Việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật được chỉ ra tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị, trong đó hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm là một phần của yêu cầu về
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi dưới sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Hải Ninh Các kết quả nêu trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Văn Đức
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự HLPL Hiệu lực pháp luật TAND Tòa án nhân dân TTHS Tố tụng hình sự VKSND Viện kiểm sát nhân dân
Trang 540
Bảng 2.2
Tình hình thụ lý các vụ án đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm tại VKSND và TAND cấp cao so với tổng số thụ lý tại các VKSND và TAND
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm của kháng nghị giám đốc thẩm hình sự 7
1.2 Ý nghĩa của kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHS 16
1.2.1 Ý nghĩa chính trị 16
1.2.2 Ý nghĩa xã hội 17
1.2.3 Ý nghĩa pháp lý 17
Chương 2 KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH 2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về kháng nghị giám đốc thẩm 20
2.1.1 Đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm 20
2.1.2 Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm 22
2.1.3 Phát hiện, thông báo bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm 28
2.1.4 Thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm 30
2.1.5 Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm 35
2.1.6 Nội dung và việc gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm 36
2.1.7 Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc thẩm 38
2.2 Thực tiễn thi hành kháng nghị giám đốc thẩm hình sự 40
2.2.1 Thực tiễn kháng nghị giám đốc thẩm hình sự theo quy định của BLTTHS năm 2003 40
2.2.2 Thực tiễn kháng nghị giám đốc thẩm hình sự theo quy định của BLTTHS năm 2015 49
Chương 3 YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM HÌNH SỰ 3.1 Yêu cầu của việc nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm 52
3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm hình sự 55
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 55
3.2.2 Các giải pháp khác 63
KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, đất nước ta đã có những thành tựu phát triển mạnh
mẽ trong tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, khoa học và đời sống… Bên cạnh sự phát triển đó, nền tư pháp nước ta cũng có những thành tựu quan trọng góp phần vào sự phát triển chung của đất nước, phần nào đã đáp ứng được mục tiêu phấn đấu cho một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Để đạt được những thành công như hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có những quan điểm chỉ đạo về chiến lược cải cách tư pháp nhằm hoàn thiện bộ máy, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là các cơ quan Tòa án và Viện kiểm sát Việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật được chỉ ra tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị, trong đó hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm là một phần của yêu cầu về cải cách tư pháp được nêu trong Nghị quyết như sau: “Từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiện lực pháp luật; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ”
Tòa án là cơ quan tư pháp có quyền nhân danh Nhà nước đưa ra những phán quyết về một vụ án cụ thể nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội được xử lý nghiêm minh trước pháp luật góp phần giữ gìn an ninh trật tự, duy trì lẽ phải và sự công bằng trong xã hội Vì vậy, mọi bản án, quyết định của Tòa án phải đảm bảo được tính đúng đắn, hợp pháp và được sự tôn trọng trong xã hội Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn những bản án, quyết định của Tòa án có những sai lầm nghiêm trọng và cần được khắc phục Vì lý do đó trong TTHS luôn quy định một thủ tục đặc biệt để xem xét lại tính đúng đắn và hợp pháp trong các bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa
án đó là thủ tục giám đốc thẩm Giám đốc thẩm trong TTHS là thủ tục Tòa án có thẩm quyền xét lại những bản án hoặc quyết định hình sự đã có HLPL bị người có thẩm quyền kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án, nhằm đảm bảo pháp luật được áp dụng đúng đắn và thống nhất Mặc dù vậy, thủ tục giám đốc thẩm không đương nhiên được phát sinh khi có yêu cầu của các đương sự hoặc người bị kết án mà chỉ được phát sinh khi có kháng nghị giám đốc thẩm của người có thẩm quyền Nếu không có kháng nghị giám đốc thẩm, việc xem xét lại bản án, quyết định đã có HLPL theo thủ tục giám đốc thẩm không được đặt ra Như vậy, kháng nghị giám đốc thẩm là tiền đề để tiến hành thủ tục
Trang 8giám đốc thẩm tại Toà án nhằm kiểm tra lại tính đúng đắn, tính hợp pháp và là điểm mấu chốt để phát hiện vi phạm trong bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án Thông qua kháng nghị giám đốc thẩm, một thủ tục đặc biệt được phát sinh nhằm khắc phục những sai lầm của các cơ quan tư pháp góp phần cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh, thống nhất đảm bảo công bằng xã hội, tạo lòng tin trong nhân dân đối với các cơ quan tư pháp nói riêng và Đảng, Nhà nước nói chung Thủ tục giám đốc thẩm trong TTHS nước ta được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật từ năm 1959 Hiến pháp năm 1959 lần đầu ghi nhận thủ tục xét lại bản án quyết định đã có HLPL Một số văn bản hướng dẫn về thủ tục này như Thông tư số 2397-TC ngày 22/12/1961 của TAND Tối cao, thông tư số 06-TC ngày 23/7/1964 của TAND Tối cao giải thích về trình tự giám đốc xét xử Chế định giám đốc thẩm lần đầu được quy định một cách đầy đủ, chi tiết và có hệ thống tại BLTTHS năm 1988 Sau đó được kế thừa và hoàn thiện hơn trong BLTTHS 2003 Chế định giám đốc thẩm nói chung và kháng nghị giám đốc thẩm nói riêng đã được quy định tương đối đầy đủ và chi tiết tại BLTTHS 2003 Tuy nhiên, thực tiễn thi hành trong những năm qua đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế như chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm chưa cao dẫn đến số lượng các vụ án phải rút kháng nghị hoặc Hội đồng giám đốc thẩm không chấp nhận kháng nghị vẫn còn; việc phát hiện vi phạm trong các bản án, quyết định đã có HLPL chưa kịp thời dẫn đến việc mặc dù
đã phát hiện căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm nhưng đã quá thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm; nghiên cứu giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm chưa triệt để khiến cho một số lượng đơn rất lớn đang tồn đọng tại các cơ quan có thẩm quyền giải quyết;… Những hạn chế trong kháng nghị giám đốc thẩm do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có những nguyên nhân về pháp luật chưa được hoàn thiện và đầy đủ
Khắc phục những hạn chế của BLTTHS 2003, dưới yêu cầu về cải cách tư pháp, BLTTHS 2015 kế thừa những điểm tích cực và hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm về căn cứ, đối tượng, thẩm quyền… Mặc dù vậy, quy định của BLTTHS 2015 chưa giải quyết một cách triệt để và toàn diện những hạn chế của BLTTHS 2003 về kháng nghị giám đốc thẩm Chính vì vậy
mà việc nghiên cứu về chế định kháng nghị giám đốc thẩm về mặt lý luận và thực tiễn là cần thiết Trên cơ sở đó đánh giá được những ưu điểm cũng như chỉ ra những hạn chế chưa được khắc phục trong quy định của pháp luật TTHS về kháng nghị giám đốc thẩm của BLTTHS 2015 so với BLTTHS 2003 Qua đó đề xuất những
Trang 9giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm hướng tới mục đích đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp như trong Nghị quyết
số 49-NQ/TW của Bộ chính trị Việc nghiên cứu đề tài “Kháng nghị giám đốc
thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” là hoàn toàn cần thiết
và là yêu cầu cấp bách hiện nay, nhất là trong bối cảnh BLTTHS 2015 mới có HLPL và đi vào cuộc sống, các văn bản để giải thích, hướng dẫn thi hành pháp luật
về chế định kháng nghị giám đốc thẩm chưa có nhiều
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thủ tục giám đốc thẩm nói chung và kháng nghị giám đốc thẩm đã được các nhà khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Hầu hết các công trình nghiên cứu chuyên sâu về thủ tục giám đốc thẩm đều có một phần đề cập đến vấn
đề kháng nghị giám đốc thẩm Một số công trình chuyên sâu nghiên cứu về thủ tục giám đốc thẩm như luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Văn Trượng với đề tài
“Giám đốc thẩm trong luật Tố tụng hình sự” năm 1996 tại trường Đại học Luật Hà
Nội Trong luận văn tác giả đã xây dựng khái niệm giám đốc thẩm; sơ lược khái quát sự hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật về giám đốc thẩm từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945; phân tích, đánh giá các quy định của BLTTHS
1988 và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giám đốc thẩm
Cuốn sách của tác giả Đinh Văn Quế “Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự - Những
vấn đề lý luận và thực tiễn”; xuất bản năm 1997 của NXB Chính trị Quốc gia đã
phân tích những quy định của BLTTHS năm 1988 về giám đốc thẩm, nêu các vướng mắc trong thi hành pháp luật về giám đốc thẩm và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Một trong những công trình nghiên cứu sâu sắc và toàn diện nhất về thủ tục giám đốc thẩm là luận án tiến sỹ của tác giả Phan Thị Thanh
Mai với đề tài “Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” năm 2007, trường
Đại học Luật Hà Nội Luận án đã làm rõ các vấn đề lý luận chung về giám đốc thẩm trong TTHS, phân tích đánh giá lịch sử hình thành và phát triển của chế định giám đốc thẩm ở nước ta, chọn lọc những quy định pháp luật về giám đốc thẩm ở một số nước trên thế giới, đánh giá một cách khoa học những quy định của pháp luật về giám đốc thẩm trong BLTTHS năm 2003 và thực tiễn thi hành qua đó xác định những bất cập tồn tại và kiến nghị giải pháp khắc phục cũng như hoàn thiện pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm
Các công trình nghiên cứu độc lập về kháng nghị giám đốc thẩm là không nhiều, bởi phạm vi nghiên cứu về kháng nghị giám đốc thẩm hẹp hơn thủ tục giám
Trang 10đốc thẩm Đề tài khoa học cấp bộ của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao với nội dung
“Nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm các vụ án hình sự đáp ứng yêu
cầu cải cách tư pháp hiện nay” năm 2012 làm rõ tình hình kháng nghị giám đốc
thẩm của VKSND đối với những bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có HLPL trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2012 Trên cơ sở đánh giá các ưu điểm, thiếu sót và nguyên nhân để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác này Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Như Thắng với đề tài
“Kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” năm 2014 tại
Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã nghiên cứu các vấn đề cơ bản về
lý luận cũng như pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm đồng thời phân tích thực tiễn
và chỉ ra những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật
Các công trình nghiên cứu ở phạm vi hẹp có liên quan về kháng nghị giám đốc thẩm được công bố trên các tạp chí, báo chuyên ngành như bài viết của tác giả Đinh
Văn Quế “Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 22 năm 2004; Mai Thanh Hiếu, “Điều kiện kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam và Cộng hòa Pháp”,
Tạp chí Luật học, số 4 năm 2006; Phan Thị Thanh Mai, “Thời hạn kháng nghị giám
đốc thẩm theo điều 278 Bộ luật tố tụng hình sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số
11 năm 2006; Trần Văn Độ “Khái niệm giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình
sự”, Tạp chí Tòa án, số 15 năm 2010; Phan Thị Thanh Mai, “Một số ý kiến về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm”, Tạp chí Luật học, số 11 năm 2006;
Nguyễn Văn Trượng, “Cần sửa đổi, bổ sung một số quy định của bộ luật tố tụng
hình sự về thời hạn kháng nghị và thời hạn xét lại bản án, quyết định khi đã quyết định giám đốc thẩm hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 23 năm 2010;…
BLTTHS 2015 mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, vì vậy không có nhiều các công trình nghiên cứu về thủ tục giám đốc thẩm nói chung và kháng nghị giám đốc thẩm nói riêng theo quy định của BLTTHS 2015 Công trình nghiên cứu đáng kể nhất về thủ tục giám đốc thẩm theo quy định của BLTTHS 2015 là bài viết nghiên
cứu của tác giả Trần Văn Độ với đề tài “Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết
định đã có hiệu lực” được đăng trong sách chuyên khảo “Những nội dung mới trong BLTTHS năm 2015” chủ biên Nguyễn Hòa Bình, NXB Chính trị Quốc gia năm
2016 Bài viết so sánh và bình luận một cách toàn diện những thay đổi về thủ tục giám đốc thẩm của BLTTHS 2015 so với BLTTHS 2003
Trang 11Các công trình nghiên cứu kể trên đã làm rõ các nội dung về khái niệm giám đốc thẩm, ý nghĩa và vai trò của thủ tục giám đốc thẩm nói chung và kháng nghị giám đốc thẩm nói riêng Phần lớn các công trình nghiên cứu tập trung vào các quy định của BLTTHS 2003, đánh giá những ưu điểm cũng như những hạn chế của BLTTHS 2003 về kháng nghị giám đốc thẩm Trong luận văn này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu và hệ thống lại về mặt lý luận, các quy định của pháp luật, đánh giá thực tiễn thi hành của BLTHS 2003 và BLTTHS 2015 qua đó so sánh đối chiếu
để thấy được những thành tựu đã đạt được đồng thời chỉ ra những hạn chế, bất cập cần khắc phục trong các quy định của BLTTHS 2015 Cùng với đó, tác giả mạnh dạn đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao chất lượng trong công tác kháng nghị giám đốc thẩm
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề về lý luận, pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định của BLTTHS về kháng nghị giám đốc thẩm ở Việt Nam Phạm vi nghiên cứu của luận văn: các vấn đề về lý luận về kháng nghị giám đốc thẩm; các quy định của BLTTHS 2015 về kháng nghị giám đốc thẩm có so sánh đối chiếu với các quy định của BLTTHS 2003; thực tiễn kháng nghị giám đốc thẩm trên phạm vi cả nước từ năm 2013 đến hết tháng 5 năm 2018
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm xây dựng hệ thống lý luận cơ bản về kháng nghị giám đốc thẩm, nghiên cứu các quy định của pháp luật, thực tiễn thi hành và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm Trong đó mục đích cơ bản của luận văn là chỉ ra những thành tựu đã đạt của BLTTHS 2015 cũng như những hạn chế mà BLTTHS 2015 chưa giải quyết được trong chế định kháng nghị giám đốc thẩm Bên cạnh đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHS như khái niệm, ý nghĩa của kháng nghị giám đốc thẩm
+ Phân tích đánh giá các quy định của pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm của BLTTHS 2015, so sánh đối chiếu với các quy định của BLTTHS 2003; nghiên
Trang 12cứu, phân tích tình hình thực tiễn thi hành kháng nghị giám đốc thẩm của BLTTHS
2003 và BLTTHS 2015
+ Đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm hình sự và các giải pháp khác nhằm khắc phục những hạn chế, nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, Nhà nước Việt Nam
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn bao gồm: phân tích, tổng hợp nhằm làm rõ các quy định của BLTTHS 2015 về kháng nghị giám đốc thẩm; So sánh để đánh giá những thành tựu đã đạt được của BLTTHS
2015 so với BLTTHS 2003, so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới; phương pháp thống kê để làm rõ thực tiễn kháng nghị giám đốc thẩm
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về
kháng nghị giám đốc thẩm trong BLTTHS 2015, góp phần hệ thống lại những quy định của pháp luật, làm sáng tỏ về bản chất của kháng nghị giám đốc thẩm thông qua đó thống nhất nhận thức về căn cứ, thẩm quyền, thời hạn theo quy định của pháp luật Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận khoa học luật TTHS Việt Nam nói chung và lý luận về kháng nghị giám đốc thẩm nói riêng
Ý nghĩ thực tiễn: Kết quả nghiên cứu luận văn là có giá trị tham khảo trong
quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm, nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm, đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp Ngoài ra luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ cho mục đích nghiên cứu và học tập
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm ba chương chính:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kháng nghị giám đốc thẩm
Chương 2: Kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định của BLTTHS 2015 và thực tiễn thi hành
Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm kháng nghị giám đốc thẩm hình sự
Tòa án là cơ quan tư pháp duy nhất có thẩm quyền xét xử ở nước ta Khi xét
xử, Tòa án là chủ thể có quyền xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật của các chủ thể khác, ra bản án hoặc quyết định phán xét hành vi của chủ thể đó Các bản
án, quyết định này mang tính quyền lực Nhà nước, được Tòa án tuyên nhân danh Nhà nước và thể hiện thái độ của Nhà nước đối với vụ án Do tầm quan trọng như vậy mà các phán quyết của Tòa án trong các bản án, quyết định phải đảm bảo chính xác, công bằng và đúng pháp luật nhằm tạo lòng tin trong nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, trên thực tế không phải mọi bản án, quyết định của Tòa án đều đảm bảo tính đúng đắn và đúng pháp luật Do những lý do khác nhau của những người tiến hành tố tụng như trình độ năng lực yếu kém, tinh thần trách nhiệm chưa cao dẫn đến việc xem xét vụ án chưa toàn diện khiến cho các phán quyết trong bản
án, quyết định có sai lầm nghiêm trọng xâm phạm đến quyền và lợi ích của người bị kết án, của cá nhân, cơ quan tổ chức và của Nhà nước Để khắc phục điều này, nhiều nước trên thế giới và cả ở nước ta đều quy định một thủ tục đặc biệt nhằm xem xét lại các bản án, quyết định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng đó là thủ tục giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm là một thủ tục tố tụng đặc biệt nhằm xem xét lại tính đúng đắn của bản án, quyết định của Tòa án bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của cơ quan tổ chức và của Nhà nước Giám đốc thẩm như một công cụ hữu hiệu để khắc phục và sửa chữa những sai lầm trong các bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án Trên
cơ sở phân tích các đặc điểm đặc trưng của thủ tục giám đốc thẩm mà tác giả Phan
Thị Thanh Mai đưa ra khái niệm về giám đốc thẩm trong TTHS như sau: “Giám đốc
thẩm trong TTHS là thủ tục Tòa án có thẩm quyền xét lại những bản án hoặc quyết định hình sự đã có HLPL bị người có thẩm quyền kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án nhằm đảm bảo
hiện bản án, quyết định đã có HLPL có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, người có
1
Phan Thị Thanh Mai (2007), Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ,
Trường Đại học Luật Hà Nội tr 35
Trang 14thẩm quyền kháng nghị và thủ tục giám đốc thẩm chính thức được phát sinh Như vậy, có thể nói thủ tục giám đốc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng nghị giám đốc thẩm của người có thẩm quyền
Kháng nghị theo quan niệm được ghi nhận trong Từ điển tiếng Việt là “tỏ lòng
phản đối” 2 Thuật ngữ kháng nghị xuất hiện nhiều trong các ngành luật tố tụng nhằm bày tỏ sự phản đối của một chủ thể này đối với quan điểm của một chủ thể khác đã được thể hiện bằng văn bản Trong TTHS, thuật ngữ kháng nghị được đề cập với quan điểm và vai trò như trên Kháng nghị trong TTHS xét trên khía cạnh động từ dùng để chỉ một hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền nhằm bày tỏ
sự phản đối của mình với một hành vi tố tụng khác Xét trên khía cạnh danh từ, kháng nghị trong TTHS là một văn bản pháp lý cũng bày tỏ sự phản đối của người
có thẩm quyền đối với hành vi tố tụng của người khác Như vậy, dù xem xét trên khía cạnh nào thì kháng nghị trong TTHS cũng với mục đích bày tỏ sự phản đối của người có thẩm quyền kháng nghị đối với một hành vi tố tụng của người khác Kháng nghị trong TTHS thường gắn liền với việc ra các bản án, quyết định của Tòa
án hoặc các cơ quan tiến hành tố tụng khác Kháng nghị trong TTHS dẫn đến hậu quả bản án, quyết định hoặc hành vi tố tụng bị xem xét lại nhằm đảm bảo tính đúng đắn theo pháp luật Chủ thể có thẩm quyền nhận thấy trong bản án, quyết định hoặc hành vi tố tụng của chủ thể khác có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, cần thiết phải đưa ra quyết định kháng nghị nhằm kịp thời khắc phục các vi phạm Có thể nói kháng nghị là một hành vi pháp lý của chủ thể có thẩm quyền được thể hiện bằng văn bản nhằm phản bác lại quan điểm, hành vi hoặc quyết định của chủ thể khác Kháng nghị dẫn đến hậu quả các bản án, quyết định bị xem xét lại theo một thủ tục đặc biệt, nhằm đảm bảo tính đúng đắn và hợp pháp trong bản án, quyết định đó Kháng nghị trong TTHS bao gồm kháng nghị phúc thẩm, kháng nghị giám đốc thẩm và kháng nghị tái thẩm Như đã phân tích ở trên, kháng nghị trong TTHS sự thường gắn liền với các bản án, quyết định của Tòa án Các bản án, quyết định của Tòa án là đối tượng của kháng nghị trong TTHS Ở mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau, các hoàn cảnh tố tụng khác nhau mà người có thẩm quyền sử dụng các loại kháng nghị khác nhau để bày tỏ sự phản đối với các bản án, quyết định của Tòa án Căn cứ vào các đặc điểm về đối tượng kháng nghị, căn cứ kháng nghị, thẩm quyền
2
Từ điển Tiếng Việt (2007), NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr 569
Trang 15kháng nghị, hậu quả pháp lý của kháng nghị,… mà chúng ta có thể phân biệt các loại kháng nghị trong TTHS
Từ điển Luật học giải thích kháng nghị trong TTHS như sau: “Kháng nghị
trong TTHS là việc Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp yêu cầu Tòa án xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có HLPL theo thủ tục phúc thẩm, xét lại bản án hoặc quyết định đã có HLPL theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm”3 Khái niệm trên xây được xây dựng dưới góc nhìn kháng nghị là một hoạt động tố tụng Tuy nhiên, khái niệm trên về kháng nghị trong TTHS rất sơ sài, chưa nêu rõ đặc điểm, ý nghĩa cũng như mục đích của kháng nghị Đặc biệt, trong khái niệm trên chưa phản ánh đầy đủ chủ thể của kháng nghị khi chỉ nêu duy nhất một chủ thể có thẩm quyền kháng nghị đó là Viện kiểm sát Tòa án cũng là một chủ thể
có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHS nhưng không được đề cập trong khái niệm trên Trong TTHS nước ta, chủ thể có quyền đưa ra tất cả các kháng nghị là Viện kiểm sát Viện kiểm sát kháng nghị đối với hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân 4 Tuy nhiên, Tòa án cũng có thẩm quyền ra một quyết định kháng nghị đó chính là kháng nghị giám đốc thẩm Các cơ quan Tòa án và Viện kiểm sát có thẩm quyền nhận thấy trong bản án, quyết định đã
có HLPL của Tòa án khác có vi phạm pháp luật nghiêm trọng sẽ ban hành kháng nghị giám đốc thẩm xem xét lại bản án, quyết định đó nhằm khắc phục những vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đã có HLPL
Trên cơ sở những phân tích đánh giá ở trên, chúng tôi cho rằng: Kháng nghị
trong TTHS là một hoạt động của người có thẩm quyền được thể hiện bằng văn bản với nội dung bày tỏ sự phản đối với bản án, quyết định của Tòa án dẫn đến hậu quả bản án, quyết định bị xem xét lại Kháng nghị trong TTHS nhằm đảm bảo tính đúng đắn và tính hợp pháp của các bản án, quyết định hình sự”
Kháng nghị giám đốc thẩm là một loại kháng nghị trong TTHS Do đó, kháng nghị giám đốc thẩm cũng mang các đặc điểm chung của kháng nghị trong TTHS như là một hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền, được thể hiện bằng văn bản
cụ thể bày tỏ sự phản đối với bản án, quyết định của Tòa án và nhằm đảm bảo tính đúng đắn của các bản án, quyết định đó Tuy nhiên, kháng nghị giám đốc thẩm cũng
Trang 16có những đặc trưng riêng để phân biệt với các loại kháng nghị trong TTHS khác là kháng nghị phúc thẩm và kháng nghị tái thẩm Kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHS là một hoạt động tố tụng nằm trong một thủ tục tố tụng chung được gọi tên là thủ tục giám đốc thẩm Thủ tục giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt nhằm xét lại các bản án, quyết định đã có HLPL nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng Thủ tục giám đốc thẩm bao gồm nhiều hoạt động tố tụng được tổng hợp lại như phát hiện bản án, quyết định có vi phạm pháp luật; kháng nghị giám đốc thẩm; tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định; xét xử giám đốc thẩm;… Kháng nghị giám đốc thẩm là một hoạt động mang tính quyết định trong thủ tục giám đốc thẩm Kháng nghị giám đốc thẩm là cơ sở để phát sinh thủ tục giám đốc thẩm, không có kháng nghị giám đốc thẩm thì không phát sinh thủ tục giám đốc thẩm Kháng nghị giám đốc thẩm là một hoạt động TTHS được thể hiện bằng một văn bản cụ thể là quyết định kháng nghị giám đốc thẩm Cũng giống như kháng nghị phúc thẩm và kháng nghị tái thẩm, kháng nghị giám đốc thẩm đòi hỏi phải được thể hiện bằng văn bản của người có thẩm quyền và có nội dung thể hiện việc phản đối bản án, quyết định của Tòa án vì bị cho rằng có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong các bản án, quyết định đó Với cách tiếp cận kháng nghị giám đốc thẩm dưới góc độ là một hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền, chúng tôi phân tích các đặc điểm về đối tượng, chủ thể, cơ sở phát sinh và hậu quả pháp lý của kháng nghị giám đốc thẩm để thấy được những nét đặc trưng riêng của kháng nghị giám đốc thẩm so với các loại kháng nghị trong TTHS khác như sau:
* Về đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm
Đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm là các bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án Chỉ có các bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án mới là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm Các bản án, quyết định chưa có HLPL thì không phải là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm mà là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm Đây cũng là cơ sở để phân biệt kháng nghị giám đốc thẩm và kháng nghị phúc thẩm Sau khi xét xử sơ thẩm, người có thẩm quyền nhận thấy có
vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định của Tòa án nên ban hành kháng nghị phúc thẩm để xem xét lại vụ án ở cấp cao hơn Việc vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định được nhận ra ngay từ lúc bản án, quyết định đó vừa được ban hành và chưa có HLPL nhằm kịp thời khắc phục sửa chữa những sai lầm, vi phạm đó Kháng nghị phúc thẩm khi bản án quyết định chưa có HLPL đã tránh để lại hậu quả đối với các sai lầm trong bản án như thi hành án đối với người không có
Trang 17tội, trả tự do đối với người có tội,… Có thể nói kháng nghị phúc thẩm được ban hành khi các sai lầm trong bản án, quyết định của Tòa án chưa gây hậu quả thiệt hại đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc gây thiệt hại cho Nhà nước Đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm là các bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án Vì các bản án, quyết định đã có HLPL được thi hành ngay nên các vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định có thể đã gây thiệt hại hoặc chưa gây thiệt hại nhưng có nguy cơ gây thiệt hại cho các chủ thể khác Kháng nghị giám đốc thẩm nhằm ngăn chặn các thiệt hại đã xảy ra hoặc có thể sẽ xảy ra Chính vì vậy mà chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm có quyền tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có HLPL Việc phân biệt kháng nghị phúc thẩm và kháng nghị giám đốc thẩm thông qua tính có HLPL trong các bản án, quyết định của Tòa án cho chúng ta thấy tầm quan trọng của kháng nghị giám đốc thẩm Tuy nhiên, các bản án, quyết định đã có HLPL cũng là đối tượng của kháng nghị tái thẩm Vì vậy, khi phân biệt kháng nghị giám đốc thẩm và kháng nghị tái thẩm cần căn cứ vào các đặc trưng khác của mỗi loại kháng nghị mà không phải căn cứ vào đối tượng là tính có HLPL trong các bản án, quyết định của Tòa án
* Về chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm
Chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm là Viện kiểm sát và Tòa án Đây là một đặc trưng riêng của kháng nghị giám đốc thẩm để phân biệt với kháng nghị phúc thẩm và kháng nghị tái thẩm Theo quy định của BLTTHS, chỉ có duy nhất kháng nghị giám đốc thẩm Tòa án mới là chủ thể có thẩm quyền kháng nghị Kháng nghị phúc thẩm và kháng nghị tái thẩm Tòa án không có thẩm quyền kháng nghị mà thẩm quyền đó chỉ thuộc về Viện kiểm sát Phúc thẩm là một cấp xét xử nên chỉ những chủ thể có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát là đại diện cho Nhà nước có quyền kháng nghị để yêu cầu xét xử vụ án lại lần thứ hai ở Tòa án cấp cao hơn 5 Nếu quy định Tòa án có thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm là bất hợp lý Bởi lẽ Tòa án đã xét xử vụ án không thể kháng nghị phúc thẩm chính bản án, quyết định mà chính mình đã ban hành Tòa án cấp trên trực tiếp kháng nghị phúc thẩm sau đó lại chính Tòa án đó xét xử phúc thẩm sẽ không đảm bảo sự vô tư, khách quan trong các phán quyết đối với các bản
án, quyết định bị kháng nghị Trong thủ tục tái thẩm, căn cứ để kháng nghị tái thẩm
là phát hiện những tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án mà Tòa án
5
Phan Thị Thanh Mai (2007), Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ,
Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 30, 31
Trang 18không biết được khi ra các bản án, quyết định Khi xuất hiện các tình tiết mới do người bị kết án, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp, Tòa án không tự mình kiểm tra tính hợp pháp của các tình tiết mới để đánh giá một cách khách quan Các tình tiết mới không nằm trong hồ sơ vụ án nên Tòa án cũng không thể phát hiện thông qua công tác giám đốc, kiểm tra các bản án, quyết định Chính vì vậy mà Tòa án không
có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có HLPL mà chủ thể của kháng nghị tái thẩm phải là Viện kiểm sát Trong thủ tục giám đốc thẩm, căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm là các vi phạm pháp luật nghiêm trọng Các vi phạm pháp luật này có thể được nhận thấy thông qua công tác kiểm tra, kiểm sát các hồ sơ vụ án Các vi phạm pháp luật được thể hiện trong chính hồ sơ vụ án và
có thể nhận biết thông qua việc đối chiếu với các quy định của pháp luật Do vậy, Tòa án và Viện kiểm sát đều có thể nhận biết và đánh giá được những vi phạm pháp luật đó để ban hành kháng nghị giám đốc thẩm Tuy nhiên, theo chúng tôi không nên quy định Tòa án có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm để đảm bảo nguyên tắc khách quan và nguyên tắc chế ước giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
* Về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm
Căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm là có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án Đây là điểm khác nhau căn bản giữa kháng nghị giám đốc thẩm và kháng nghị tái thẩm Căn cứ để kháng nghị tái thẩm là việc phát hiện tình tiết mới làm thay đổi cơ bản về nội dung vụ án Tình tiết mới được phát hiện chưa được điều tra xác minh chưa có trong hồ sơ vụ án và Tòa
án chưa biết được vì thế không được cân nhắc, đánh giá dẫn đến sai lầm khi đưa ra các phán quyết trong bản án, quyết định6 Đối với căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, các tình tiết đã được điều tra xác minh, đã có trong hồ sơ vụ án hoặc không có trong hồ sơ vụ án nhưng Tòa án phải nhận biết được thiếu sót trong quá trình điều tra xác minh của các cơ quan tiến hành tố tụng khác Nhưng do các lý do như năng lực trình độ chuyên môn yếu, đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ,… mà Tòa án không nhận ra các thiếu sót trong quá trình chứng minh dẫn đến sai lầm trong các bản án, quyết định Tóm lại, các chứng cứ, tình tiết không phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, không nằm trong hồ sơ vụ án mà Tòa án không nhận biết được khi
ra bản án quyết định dẫn đến sai lầm trong việc ra bản án, quyết định là căn cứ để kháng nghị tái thẩm Những chứng cứ, tình tiết phản ánh không đúng sự thật khách
6
Nguyễn Hải Ninh (2016), Tái thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 35
Trang 19quan của vụ án được thể hiện trong hồ sơ vụ án, hoặc những tình tiết không được thể hiện trong hồ sơ vụ án nhưng có ý nghĩa quan trọng mà lẽ ra Tòa án phải nhận biết được trọng quá trình xem xét, đánh giá chứng cứ nhưng Tòa án không nhận biết dẫn đến vi phạm pháp luật trong việc xác định sự thật vụ án là căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm Mặc dù vậy, trên thực tết việc xác định căn cứ nào để kháng nghị tái thẩm, căn cứ nào để kháng nghị giám đốc thẩm là một việc không dễ dàng
Căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm là các vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án Bằng các nguồn khác nhau, người có thẩm quyền kháng nghị phát hiện và đánh giá vi phạm pháp luật
là nghiêm trọng hay không nghiêm trọng Nếu có vi phạm pháp luật nhưng không đến mức nghiêm trọng thì không phải là căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, nếu vi phạm là nghiêm trọng thì là căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm Tuy nhiên, thế nào là vi phạm pháp luật nghiêm trọng vẫn còn được nhìn nhận rất khác nhau và chưa thống nhất Các quan điểm hiện nay đều cho rằng không nên quan niệm một cách máy móc hình thức các vi phạm pháp luật mà phải tính đến hậu quả pháp lý của các vi phạm đó đối với lợi ích xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, nhất là của người bị kết án7 để đánh giá mức độ nghiêm trọng của các vi phạm Mức độ nghiêm trọng và hậu quả pháp lý của các vi phạm trong các bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án là cơ sở để kháng nghị giám đốc thẩm Tuy nhiên, kháng nghị giám đốc thẩm không mặc nhiên khẳng định bản án, quyết định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng Kháng nghị giám đốc thẩm chỉ dừng lại ở việc người có thẩm quyền nhận thấy có các
“dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng” trong bản án, quyết định đã có HLPL
chứ không khẳng định là có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hay không Việc khẳng định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án hay không sẽ được quyết định bởi Hội đồng giám đốc thẩm sau phiên xét xử giám đốc thẩm bằng việc chấp nhận hay không chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm Có thể nói rằng kháng nghị giám đốc thẩm là việc
người có thẩm quyền đã nhận thấy có các dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm
trọng trong bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án và cần thiết phải xem xét lại bản án, quyết định đó theo một thủ tục đặc biệt nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong bản án
7
Trần Văn Độ (2010), “Khái niệm giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (15), tr 12
Trang 20* Về hậu quả pháp lý của kháng nghị giám đốc thẩm
Kháng nghị giám đốc thẩm dẫn đến hậu quả phát sinh một thủ tục đặc biệt là thủ tục giám đốc thẩm nhằm xem xét lại các bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án Kháng nghị giám đốc thẩm làm bắt đầu một thủ tục tố tụng và thủ tục đó kết thúc bằng phiên tòa xét xử giám đốc thẩm Đây là điểm tương đồng của kháng nghị giám đốc thẩm so với kháng nghị phúc thẩm và kháng nghị tái thẩm Các kháng nghị đều làm phát sinh một thủ tục tố tụng và thủ tục tố tụng đó sẽ kết thúc bằng một phiên tòa xét xử lại vụ án Tuy nhiên khác với kháng nghị phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm chỉ được phát sinh khi có kháng nghị giám đốc thẩm Ở giai đoạn phúc thẩm, thủ tục phúc thẩm còn được phát sinh cả khi có kháng cáo của người bị kết án hoặc các đương sự trong vụ án Mặc dù mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có quyền phát hiện các vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án và đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Tuy nhiên việc phát hiện và đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm của các chủ thể khác không đương nhiên làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm mà chỉ có kháng nghị giám đốc thẩm mới làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm Từ kháng nghị giám đốc thẩm, các hoạt động tố tụng khác trong thủ tục giám đốc thẩm mới bắt đầu được phát sinh như tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định; xét xử giám đốc thẩm,…
Đã có một số tác giả đưa ra khái niệm về kháng nghị giám đốc thẩm như sau:
Tác giả Đinh Văn Quế cho rằng “Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là quyết
định của người có thẩm quyền đối với một phần hoặc toàn bộ bản án hay quyết
Khái niệm trên tiếp cận kháng nghị giám đốc thẩm dưới góc nhìn một hành vi tố tụng của người có thẩm quyền Khái niệm đã nêu ra một cách khái quát về kháng nghị giám đốc thẩm cũng như cụ thể hóa đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm có thể là một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án Tuy nhiên, khái niệm chưa nêu được các đặc điểm đặc trưng của kháng nghị giám đốc thẩm để phân biệt với các loại kháng nghị khác trong TTHS Khái niệm trên dễ gây nhầm lẫn với khái niệm về kháng nghị tái thẩm khi chưa nêu rõ được căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm là các vi phạm pháp luật nghiêm trọng, chưa nêu cụ thể các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm cũng như chưa nêu nên mục đích đảm bảo tính đúng đắn trong các bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án
8
Đinh Văn Quế (2007), Bình luận khoa học BLTTHS, NXB Tổng hợp, tr.318
Trang 21Tác giả Nguyễn Như Thắng trong luận văn thạc sĩ của mình cũng đưa ra khái
niệm về kháng nghị giám đốc thẩm như sau: “Kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm về hình sự là một quyền năng mang tính đặc thù của Tòa án và Viện kiểm sát,
do người có thẩm quyền thực hiện bằng một văn bản pháp lý, trong đó nêu rõ lý do của việc kháng nghị và đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm xét lại bản án, quyết định
đã có HLPL nhưng có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, nhằm làm cho việc giải quyết vụ án được đúng quy định của pháp luật”.9 Khái niệm trên được tác giả xây dựng dưới góc nhìn kháng nghị giám đốc thẩm như một quyền năng mang tính đặc thù của Tòa
án và Viện kiểm sát Trong khái niệm đã nêu rõ chủ thể của kháng nghị giám đốc thẩm là Tòa án và Viện kiểm sát Hình thức và nội dung của kháng nghị giám đốc thẩm cũng được tác giả đề cập đến là một văn bản pháp lý trong đó nêu rõ lý do kháng nghị và đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm xét lại bản án, quyết định Bên cạnh
đó khái niệm trên cũng đã chỉ ra đối tượng và căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm
là các bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án nhưng có vi phạm pháp luật về áp dụng pháp luật hoặc vi phạm về thủ tục tố tụng Tuy nhiên, trong khái niệm tác giả
đã đồng nhất khái niệm kháng nghị giám đốc thẩm và vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật Tức là, có kháng nghị giám đốc thẩm là có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án Như đã phân tích ở trên, quan điểm này theo chúng tôi là không phù hợp về mặt lý luận cũng như theo các quy định của pháp luật hiện hành Kháng nghị giám đốc thẩm mới chỉ ra vi phạm pháp luật trong bản
án, quyết định đã có HLPL theo quan điểm của người có thẩm quyền kháng nghị Việc đánh giá và quyết định có vi phạm hay không, vi phạm có nghiêm trọng hay không sẽ được Hội đồng giám đốc thẩm xem xét tại phiên tòa giám đốc thẩm và được phán quyết tại Quyết định giám đốc thẩm Khái niệm về kháng nghị giám đốc thẩm được tác giả Nguyễn Như Thắng đưa ra cụ thể hơn so với khái niệm của tác giả Đinh Văn Quế, tuy nhiên khái niệm trên vẫn chưa thực sự thuyết phục và nêu nên bản chất của kháng nghị giám đốc thẩm
Từ những phân tích, đánh giá như trên, kết hợp với sự chọn lọc tiếp thu từ những khái niệm của các tác giả cũng như các nhà khoa học khác, chúng tôi xin
mạnh dạn đưa ra khái niệm về kháng nghị giám đốc thẩm như sau: Kháng nghị
9
Nguyễn Như Thắng (2014), Kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam,
Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 22giám đốc thẩm là một hoạt động tố tụng của Tòa án và Viện kiểm sát, được thể hiện bằng một văn bản pháp lý xác định có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án và là cơ sở để phát sinh thủ tục giám đốc thẩm nhằm xem xét lại bản án, quyết định đó đảm bảo tính đúng đắn và tính hợp pháp trong bản án, quyết định của Tòa án
1.2 Ý nghĩa của kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHS
1.2.1 Ý nghĩa chính trị
Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền, chính vì vậy mà pháp luật luôn được đặt lên hàng đầu Mọi cá nhân, cơ quan tổ chức trên lãnh thổ Việt Nam đều phải sống, học tập và làm việc theo pháp luật Bên cạnh đó, pháp luật là một công
cụ để bảo vệ đất nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức Kháng nghị giám đốc thẩm góp phần đảm bảo cho pháp luật được thực thi một cách đúng đắn hay nói cách khác kháng nghị giám đốc thẩm góp phần xây dựng một Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tòa án trong hoạt động của mình phải đảm bảo việc xét xử đúng đắn, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên, không phải bán án, quyết định nào của Tòa án cũng chính xác tuyệt đối Thực tế vẫn còn những bản án, quyết định có sai lầm xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của các cơ quan tổ chức và làm giảm uy tín của Nhà nước với nhân dân Kháng nghị giám đốc thẩm là một công cụ để chỉ ra những sai lầm trong bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án có ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, của các cơ quan Nhà nước có liên quan Do đó, kháng nghị giám đốc thẩm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và công dân Bảo đảm cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh, thống nhất hay nói cách khác là bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Kháng nghị giám đốc thẩm là một hình thức thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua việc kiểm tra, giám sát đối với việc thực thi và áp dụng pháp luật Nhà nước có quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và kháng nghị giám đốc thẩm là một trong những hoạt động nhằm thực hiện quyền lực đó Kháng nghị giám đốc thẩm nhằm kiểm tra lại tính đúng đắn của các bản án, quyết định của Tòa án Đây chính là việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đối với hoạt động xét xử của Tòa án các cấp
Như vậy, có thể nói về mặt chính trị, kháng nghị giám đốc thẩm có ý nghĩa bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần vào công cuộc xây dựng một Nhà
Trang 23nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân hướng tới sự thống nhất về pháp luật đồng thời thống nhất về chính trị
1.2.2 Ý nghĩa xã hội
Kháng nghị giám đốc thẩm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án, của đương sự, các cơ quan tổ chức và của Nhà nước Sai lầm trong các bản án, quyết định của Tòa án thường xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác Kháng nghị giám đốc thẩm kịp thời phát hiện những dấu hiệu vi phạm trong các bản án, quyết định của Tòa án nhằm đưa ra xem xét lại các bản án, quyết định đó Từ kháng nghị giám đốc thẩm, bản án, quyết định đã có HLPL được đưa ra xem xét lại một lần nữa Thông qua phiên tòa giám đốc thẩm, bản án, quyết định được xem xét lại một cách toàn diện, những tình tiết trong vụ án được đánh giá lại một cách chính xác nhất và được xác định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hay không, vi phạm pháp luật đó gây thiệt hại đến người bị kết án, cá nhân, cơ quan
tổ chức như thế nào Những vi phạm pháp luật nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người bị kết án, cá nhân, cơ quan tổ chức sẽ được khắc phục thông qua kháng nghị giám đốc thẩm, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị ảnh hưởng bởi bản án, quyết định có vi phạm pháp luật
Kháng nghị giám đốc thẩm góp phần đảm bảo tính thống nhất của pháp luật Tính thống nhất của pháp luật thể hiện ở việc các hành vi phạm tội có cùng tính chất
và mức độ nghiêm trọng sẽ được xử lý như nhau Không vì sai lầm trong các bản
án, quyết định mà hành vi phạm tội bị xử lý nặng hơn hay nhẹ hơn so với hành vi phạm tội có cùng mức độ nghiêm trọng Kháng nghị giám đốc thẩm giúp cho các bản án, quyết định sai lầm được khắc phục, qua đó duy trì sự công bằng xã hội, củng cố lòng tin trong nhân dân đối với pháp luật, với đường lối của Đảng và Nhà nước Như vậy có thể nói, kháng nghị giám đốc thẩm góp phần đảm bảo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Đảm bảo sự công bằng xã hội và góp phần củng cố lòng tin trong nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án nói riêng
và của các cơ quan tư pháp nói chung
1.2.3 Ý nghĩa pháp lý
Kháng nghị giám đốc thẩm là cơ sở phát sinh thủ tục giám đốc thẩm nhằm xem xét lại vụ án có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng Kháng nghị giám đốc thẩm là một tiền đề cho một thủ tục để sửa chữa, khắc phục những sai lầm, vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá
Trang 24trình giải quyết vụ án mà cụ thể là khắc phục, loại bỏ những vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đã có HLPL, hướng dẫn Tòa án cấp dưới áp dụng pháp luật thống nhất Như vậy, từ kháng nghị giám đốc thẩm thì những vi phạm pháp luật trong bản án mới được chỉ ra, được xem xét một cách toàn diện và được khắc phục triệt để Không có kháng nghị giám đốc thẩm thì mặc dù bản án, quyết định có vi phạm, có sai lầm nghiêm trọng cũng không được đưa ra xem xét lại và các cơ quan tiến hành tố tụng không có cơ hội để khắc phục những sai lầm đó dẫn đến quyền và lợi ích của người bị kết án, của đương sự,… không được đảm bảo theo đúng pháp luật Có thể nói rằng kháng nghị giám đốc thẩm là một công cụ để phát hiện, sửa chữa khắc phục những sai lầm, vi phạm trong các bản án đã có HLPL của Tòa án
Từ việc phát hiện nhằm sửa chữa, khắc phục những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong các bản án, quyết định của Tòa án nên kháng nghị giám đốc thẩm có ý nghĩa bảo đảm tính đúng đắn của các bản án, quyết định Bản án, quyết định của Tòa án là những phán quyết nhân danh Nhà nước do đó cần có tính chính xác, đúng đắn một cách tuyệt đối Kháng nghị giám đốc thẩm đã chỉ ra những vi phạm trong bản án, quyết định này nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong các phán quyết của Tòa
án Có thể nói kháng nghị giám đốc thẩm góp phần đảm bảo cho pháp luật được thực thi một cách chính xác, thống nhất qua đó đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS như: nguyên tắc bảo đảm pháp chế, nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, nguyên tắc giám đốc việc xét xử,…10
Thông qua thực tiễn kháng nghị giám đốc thẩm, các cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án, Viện kiểm sát phát hiện các nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đã có HLPL như quy định của pháp luật chưa đầy đủ, chưa
rõ ràng dẫn đến nhận thức pháp luật khác nhau, tính không thống nhất trong áp dụng pháp luật của các địa phương khác nhau, … Thông qua đó Tòa án, Viện kiểm sát đưa ra những kiến nghị, giải pháp đối với những cơ quan xây dựng pháp luật nhằm sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp hiện nay
10
Phan Thị Thanh Mai (2007), Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ,
Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 41
Trang 25Kết luận chương 1
Giám đốc thẩm là một thủ tục tố tụng đặc biệt nhằm xem xét lại tính đúng đắn
của các bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án Thủ tục giám đốc thẩm chỉ
được phát sinh khi có kháng nghị giám đốc thẩm của người có thẩm quyền Kháng
nghị giám đốc thẩm là một loại kháng nghị trong TTHS do đó kháng nghị giám đốc
thẩm mang những đặc điểm chung của kháng nghị trong TTHS đó là một hoạt động
của người có thẩm quyền bày tỏ sự phản đối với bản án, quyết định của Tòa án và
dẫn đến hậu quả bản án, quyết định của Tòa án bị xem xét lại nhằm đảm bảo tính
đúng đắn và tính hợp pháp trong các bản án, quyết định hình sự
Bên cạnh những đặc điểm chung, kháng nghị giám đốc thẩm còn mang những
đặc điểm riêng để phân biệt với các loại kháng nghị khác trong TTHS là kháng nghị
phúc thẩm và kháng nghị tái thẩm Những đặc điểm riêng đó bao gồm về đối tượng
của kháng nghị giám đốc thẩm là các bản án, quyết định đã có HLPL; không chỉ
riêng Viện kiểm sát mà Tòa án cũng là chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc
thẩm; căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm là những vi phạm pháp luật nghiêm
trọng trong bản án, quyết định đã có HLPL; hậu quả pháp lý của kháng nghị giám
đốc thẩm làm phát sinh một thủ tục đặc biệt để xem xét lại các bản án, quyết định
đã có HLPL của Tòa án
Kháng nghị giám đốc thẩm có ý nghĩa sâu sắc về mặt chính trị, xã hội và pháp
luật Kháng nghị giám đốc thẩm bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần vào
công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân Kháng nghị giám đốc thẩm góp phần đảm bảo sự công bằng trong xã hội, củng
cố lòng tin trong nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án và của các cơ quan
tư pháp Thông qua kháng nghị giám đốc thẩm, pháp luật thực thi một cách thống
nhất đồng thời được hoàn thiện hơn nhằm đáp ứng các yêu cầu về cải cách tư pháp
Trang 26Chương 2 KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM THEO QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH 2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về kháng nghị giám đốc thẩm
2.1.1 Đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm
Điều 370 BLTTHS năm 2015 quy định “Giám đốc thẩm là xét lại bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có
vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án” Từ quy định trên cho
thấy đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm là những bản án, quyết định đã có HLPL bị phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng
Như vậy, chỉ có những bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án mới là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm Tuy nhiên không phải bất cứ bản án, quyết định nào đã có HLPL của Tòa án cũng là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm Theo quy định tại Điều 373 BLTTHS 2015 thì quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao không phải là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm BLTTHS 2015 giữ nguyên quy định của BLTTHS 2003 về việc quy định quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không phải là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm Đây là sự kế thừa đúng đắn bởi quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là quyết định của cơ quan có quyền phán quyết cao nhất Quyết định này mang tính phán quyết tối thượng và chỉ bị xem xét lại nếu có yêu cầu, kiến nghị, đề nghị của những chủ thể có thẩm quyền đặc biệt và được quy định một thủ tục riêng tại chương XXVII của BLTTHS 2015
Đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm là bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án BLTTHS 2015 cũng như BLTTHS 2003 không quy định cụ thể những quyết định nào của Tòa án là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm mà chỉ nêu một cách khái quát là các quyết định đã có HLPL Điều này là một hạn chế trong các quy định TTHS Việt Nam về chế định giám đốc thẩm gây lúng túng trong quá trình áp dụng pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm Theo chúng tôi, chỉ có các quyết định mang tính chất phán quyết đối với vụ án mới là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm như Quyết định đình chỉ vụ án, Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm,…
Theo quy định của pháp luật TTHS một số nước trên thế giới thì không phải mọi bản án, quyết định mang tính phán quyết của Tòa án đều là đối tượng của
Trang 27kháng nghị giám đốc thẩm Điều 572 BLTTHS Cộng hòa Pháp quy định: “Quyết định xử bị cáo trắng án của Tòa đại hình chỉ có thể bị kháng cáo, kháng nghị lên Tòa phá án vì lợi ích của pháp luật và không gây thiệt hại cho bên đã được xử trắng án” 11
Đối với những bản án, quyết định tuyên bị cáo vô tội chỉ là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm (kháng nghị lên Tòa phá án) vì lợi ích của pháp luật và không được gây thiệt hại cho bị cáo Nếu vì lợi ích của pháp luật mà gây thiệt hại cho người đã được xử trắng án thì không được kháng nghị giám đốc thẩm BLTTHS Liên bang Nga quy định nguyên tắc của việc xem xét lại bản án, quyết định đã có HLPL theo thủ tục giám đốc thẩm không được phép làm xấu đi tình trạng ban đầu của người bị kết án, cụ thể Điều 405 quy định: “Việc xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm bản án kết tội cũng như quyết định của Tòa án liên quan đến
sự cần thiết phải áp dụng luật hình sự về tội nặng hơn do hình phạt quá nhẹ hoặc do những căn cứ khác dẫn đến làm xấu hơn tình trạng của người bị kết án, cũng như việc xét lại bản án vô tội hoặc quyết định của Tòa án về việc đình chỉ vụ án là không được phép” Đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm trong TTHS Liên bang Nga chỉ là những bản án, quyết định đã có HLPL phán quyết bất lợi cho người
bị kết án như quyết định về tội nặng hơn, hình phạt nặng hơn,… Kháng nghị giám đốc thẩm hướng tới việc xem xét lại bản án, quyết định theo hướng có lợi cho người
bị kết án mà không được phép xem xét ngược lại
BLTTHS 2015 quy định về phạm vi đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm rộng hơn so với pháp luật của một số nước trên thế giới BLTTHS 2015 hầu như không giới hạn về đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm xét trên khía cạnh tính chất của phán quyết trong bản án, quyết định đã có HLPL Một số nước trên thế giới hạn chế đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm theo xu hướng không có lợi cho người bị kết án Việc kháng nghị giám đốc thẩm chỉ đặt ra đối với những bản án, quyết định không ảnh hưởng đến người bị kết án hoặc có lợi cho họ Bắt nguồn từ việc quy định thủ tục giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt nhằm khắc phục những sai lầm trong các bản án, quyết định của Tòa án Việc xét xử sai lầm trong bản án, quyết định của Tòa án không do lỗi của người bị kết án mà do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng Các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng quyền lực Nhà nước, nhân danh Nhà nước để ra bản án, quyết định đối với người bị kết án cho nên nếu có sai lầm trong bản án, quyết định thì các cơ quan này phải chịu hậu quả khắc phục
11
Nhà pháp luật Việt – Pháp (1998), Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa Pháp, bản dịch tiếng
Việt, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Trang 28không phải người bị kết án Nếu bản án, quyết định sai lầm theo hướng có lợi cho người bị kết án thì người bị kết án đương nhiên được hưởng lợi, nếu sai lầm theo hướng bất lợi cho người bị kết án thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải khắc phục hậu quả bằng thủ tục giám đốc thẩm Đây là yếu tố nhân đạo trong pháp luật và là
xu hướng của một số nước trên thế giới (Điều 572 BLTTHS Cộng hòa Pháp, Điều
405 BLTTHS Liên bang Nga) Tuy nhiên, tại Việt Nam vì nhiều lý do khách quan
và chủ quan nên chất lượng xét xử các vụ án còn chưa cao, còn nhiều những bản án
có sai lầm nghiêm trọng như tuyên bị cáo vô tộ hay tuyên hình phạt quá nhẹ Mặt khác việc nhận thức, áp dụng pháp luật tại một số địa phương còn chưa thống nhất
dẫn đến các cơ quan tiến hành tố tụng thường sử dụng giải pháp “an toàn” là tuyên
bị cáo vô tội hoặc tuyên hình phạt quá nhẹ so với hành vi phạm tội Do đó nếu quy định đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm bị hạn chế không được kháng nghị đối với các bản án, quyết định tuyên bị cáo vô tội hay tuyên hình phạt quá nhẹ là không phù hợp với thời điểm hiện nay
2.1.2 Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm
Căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do luật TTHS quy định, buộc người có quyền kháng nghị phải tuân theo12 Các quy định của BLTTHS 2003 về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm đã góp phần hạn chế tình trạng kháng nghị tràn lan, chất lượng kháng nghị không ngừng được nâng lên, nội dung kháng nghị đã bám sát với các căn cứ kháng nghị theo quy định của pháp luật góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân13 Kế thừa và phát huy BLTTHS 2003, các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại Điều 371 BLTTHS 2015 Bản án, quyết định của Tòa án đã có HLPL bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ sau: Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; Có vi phạm pháp luật nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án; Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật
Khác với BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 không quy định “Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ” là căn cứ kháng nghị giám đốc
Trang 29thẩm Việc sửa đổi này hoàn toàn phù hợp với các quan điểm của các nhà khoa học trong các công trình nghiên cứu về kháng nghị giám đốc thẩm Thực chất việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ đã vi phạm các nguyên tắc trong TTHS như nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, nguyên tắc tranh tụng,…
Do đó, căn cứ này là một trong những trường hợp thuộc căn cứ thứ hai của BLTTHS 2015 “Có vi phạm pháp luật nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án” Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm này và cho rằng việc sửa đổi điều luật như trong quy định của BLTTHS 2015 là phù hợp với lý luận và thực tiễn trong chế định về kháng nghị giám đốc thẩm14 Các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm quy định tại Điều 371 BLTTHS 2015 bao gồm:
* Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án
Tòa án căn cứ vào các tình tiết khách quan của vụ án, đối chiếu với các quy định của pháp luật để đưa ra kết luận trong bản án, quyết định phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án Tình tiết khách quan của vụ án là những sự kiện có thật
đã xảy ra trong quá khứ và được các cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh đầy đủ
và toàn diện Sau khi xem xét các tình tiết khách quan của vụ án, vì những lý do khác nhau như nghiên cứu hồ sơ chưa đầy đủ, đánh giá chứng cứ sai lầm,… mà Tòa
án đưa ra kết luận trong bản án, quyết định của mình không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án Có quan điểm cho rằng không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án là không phản ánh đúng bản chất của vụ việc phạm tội, ví
dụ tỉ lệ thương tích là 4% nhưng giáp định pháp y lại kết luận tỉ lệ thương tích tới 40% Tòa án đã tin vào kết luận đó nên kết luận bị cáo phạm tội theo khoản 2 Điều
104 BLHS 1999 (nay là Điều 134 BLHS 2015) mà lẽ ra người đó có hành vi gây thương tích chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự 15 Quan điểm trên không được sự đồng tình của nhiều nhà khoa học 16 Bởi lẽ, bản chất của thủ tục giám đốc thẩm là khắc phục những sai lầm mang tính của Tòa án Ví dụ trên cho thấy việc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định để đưa ra kết luận trong bản án là hoàn toàn phù hợp Việc kết luận có sai lầm là lỗi của người giám định Tòa án không phải là
Phan Thị Thanh Mai (2006), “Một số ý kiến về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm theo điều 273
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003”, Tạp chí Luật học, (2), tr 31-38
Trang 30cơ quan chuyên môn về giám định nên không thể nhận biết được việc kết luận giám định có chính xác hay không Bản án của Tòa án dựa trên tổng hợp những chứng cứ
mà một trong những chứng cứ đó là kết luận giám định, nếu có căn cứ cho rằng kết luận giám định đó không đúng sự thật mà Tòa án không biết được khi ra bản án thì
đó là căn cứ của kháng nghị tái thẩm
Theo tác giả, kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án là việc Tòa án có nhận định sai lầm trong việc đánh giá chứng
cứ để xác định sự thật của vụ án Đây là vi phạm về việc đánh giá các tình tiết khách quan về mặt nội dung vụ án Để làm rõ điều này chúng tôi phân tích ví dụ sau:
Ví dụ vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Đào Ngọc Hà là công nhân của Công
ty Sao Đỏ ở xã Hồng Thái, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương Mặc dù không có khả năng lo cho người khác không phải đi nhập ngũ năm 2016 nhưng Hà đã nhận tiền của anh Ngô Văn Tuấn và Ngô Văn Thuấn mỗi người 7.000.000 đồng và nói là tiền để lo cho Tuấn và Thuấn không phải đi nhập ngũ Sau khi nhận tiền Hà đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết Ngày 22/02/2016, Tuấn và Thuấn có giấy báo gọi nhập ngũ nên đã trình báo toàn bộ vụ việc Sau khi bị cơ quan công an triệu tập đến làm việc, Hà đã trả lại toàn bộ số tiền cho Tuấn và Thuấn
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 24/2016/HSST ngày 15/6/2016 của TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đã tuyên Đào Ngọc Hà phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Bản án hình sự phúc thẩm số 95/2016/HSPT ngày 21/9/2016 của TAND tỉnh Hải Dương đã tuyên hủy bản án sơ thẩm nói trên để cấp sơ thẩm điều tra lại, xét xử lại với lý do chưa đủ chứng cứ kết tội đối với Đào Ngọc Hà Ngày 21/11/2016, VKSND cấp cao tại Hà Nội đã ban hành kháng nghị giám đốc thẩm số 22/KNGĐT-VC1-HS đề nghị hủy bản án phúc thẩm để xét xử lại phúc thẩm Kháng nghị trên đã được Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận.17
Trong vụ án trên, Tòa án cấp phúc thẩm đã cho rằng sau khi Tuấn và Thuấn có giấy gọi nhập ngũ, bị cáo Đào Ngọc Hà đã trả lại cho Tuấn và Thuấn đầy đủ số tiền
đã nhận của hai người này và kết luận chưa đủ căn cứ để kết luận Hà có ý thức chiếm đoạt nên chưa có đủ căn cứ kết luận Hà phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên các tình tiết khách quan của vụ án lại phản ánh Hà đã có ý thức chiếm đoạt tài sản của Tuấn và Thuấn khi nhận tiền của hai người này để lo việc không phải đi nghĩa vụ quân sự nhưng Hà không có khả năng giải quyết việc đó Mặt khác
17
Hội đồng giám đốc thẩm TAND cấp cao tại Hà Nội (2017), Quyết định giám đốc thẩm số 97/2017/QĐ-GĐT ngày 28/4/2017
Trang 31việc Hà trả lại tiền sau khi bị cơ quan Công an mời lên làm việc chỉ được coi là đã khắc phục hậu quả Do đó đủ căn cứ để kết luận Đào Ngọc Hà phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 139 BLHS năm 1999
Như vậy, kết luận không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án là những kết luận không đảm bảo các quy định của pháp luật về vấn đề xem xét đánh giá chứng cứ, vi phạm các nguyên tắc chứng minh đã được pháp luật quy định Xét
về bản chất, đó chính là vi phạm pháp luật TTHS trong quá trình chứng minh khi xem xét về mặt nội dung của vụ án, việc đánh giá chứng cứ, tổng hợp các tình tiết
để xác định sự thật khách quan của vụ án có những sai lầm Những vi phạm đó hoàn toàn có thể phát hiện khi kiểm tra, xem xét hồ sơ vụ án khi đối chiếu những hoạt động của Tòa án với những quy định cụ thể của pháp luật
* Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án
Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 371 BLTTHS năm 2015 so với căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 273 BLTTHS năm
2003 bổ sung thêm cụm từ “…dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết
vụ án” Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được hiểu là trong quá trình điều tra,
truy tố, xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ trình tự thủ tục do BLTTHS quy định Khác với BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 coi những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng phải dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án thì mới được coi là căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Những vi phạm này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ
án, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Nếu có vi phạm nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng và không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án thì không phải là căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm 18 Chúng tôi không đồng tình với quan điểm này Bởi lẽ đã có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án thì dù ít hay nhiều quyền và lợi ích của người bị kết án, cá nhân, cơ quan tổ chức đều bị xâm hại Việc quy định phải có hậu quả sai lầm nghiêm trọng xảy ra mới là căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm sẽ dễ dẫn đến tình trạng các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
18
Phạm Thị Thu (2018), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự 2015, NXB Công an nhân dân,
tr 630
Trang 32chỉ quan tâm đến kết quả xử lý vụ án mà không chú trọng vào trình tự, thủ tục nhằm đảm bảo các quyền con người, quyền công dân Ngoài ra, nước ta đang xây dựng một nhà nước pháp quyền, pháp luật phải được tôn trọng và bảo đảm thực hiện, mỗi sai lầm nghiêm trọng đều phải khắc phục mà không quan tâm đến hậu quả của sai lầm đó có nghiêm trọng hay không, điều này làm tăng lòng tin trong nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đối với pháp luật Chính vì vậy, theo chúng tôi việc quy định căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm trên như quy định của BLTTHS năm 2003 là hợp lý hơn
Tại Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần “Xét xử sơ thẩm” của BLTTHS 2003 có hướng dẫn “Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là trường hợp BLTTHS quy định bắt buộc phải tiến hành theo thủ tục tố tụng đó, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bỏ qua hoặc thực hiện không đúng xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan, toàn diện” Những vi phạm tố tụng nghiêm trọng trong giai đoạn điều tra thường là khởi tố vụ án không có yêu cầu khởi tố trong những trường hợp pháp luật quy định phải có yêu cầu khởi tố của
bị hại; cơ quan điều tra không trưng cầu giám định trong trường hợp bắt buộc, Điều tra viên tiến hành các hoạt động điều tra không đúng quy định,… Những vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng ở giai đoạn truy tố thường là truy tố sai thẩm quyền, truy tố đối với những người đã được cơ quan điều tra đình chỉ vụ án,… Những vi phạm tố tụng nghiêm trọng ở giai đoạn xét xử thường là xét xử sai thẩm quyền, thành phần hội đồng xét xử không đúng quy định của pháp luật, vi phạm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; xét xử vượt quá giới hạn theo quy định của pháp luật,…
Có quan điểm cho rằng các vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng ở giai đoạn điều tra thường được khắc phục ở chính giai đoạn điều tra thông qua việc kiểm sát điều tra của viện kiểm sát, những vi phạm ở giai đoạn truy tố thường được phát hiện ở giai đoạn xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm Những vi phạm tố tụng nghiêm trọng thường được phát hiện nhiều nhất ở giai đoạn xét xử của Tòa án Do đó việc quy định phạm vi xem xét căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm bao gồm cả những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng ở giai đoạn điều
Trang 33tra, truy tố là quá rộng 19 Chúng tôi không đồng ý với quan điểm nêu trên, bởi lẽ các giai đoạn tố tụng mặc dù liên tiếp nhau và có sự kiểm soát lẫn nhau tuy nhiên
do các cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau nên cũng có sự độc lập nhất định Nếu chỉ quy định những vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng trong hoạt động xét xử của Tòa án đã ra bản án hoặc quyết định có hiệu lực mới là căn cứ
để kháng nghị giám đốc thẩm thì không đảm bảo được mục đích khắc phục sai lầm của những người tiến hành tố tụng trong thủ tục giám đốc thẩm Ngoài ra nếu quy định như vậy thì đối với những vi phạm tố tụng nghiêm trọng ở giai đoạn điều tra hoặc truy tố sẽ phải có đường lối xử lý khác Trên thực tế, vì nhiều
lý do khách quan mà những vi phạm tố tụng trong điều tra, truy tố không được Hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm phát hiện Mặc dù có phần lỗi của Tòa án trong giai đoạn xét xử nhưng vi phạm đó bắt nguồn từ giai đoạn điều tra và truy
tố nên việc xem xét toàn bộ vụ án để đánh giá vi phạm nghiêm trọng ở giai đoạn nào để có phương hướng khắc phục là cần thiết Chính vì vậy mà Khoản 3 Điều
388 BLTTHS năm 2015 quy định Hội đồng giám đốc thẩm có thẩm quyền hủy bản án để điều tra hoặc xét xử lại Nếu vi phạm tố tụng ở giai đoạn xét xử thì hủy bản án để xét xử lại nhưng nếu vi phạm tố tụng ở giai đoạn điều tra thì cần phải hủy bản án để điều tra lại từ đầu
* Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật
Sai lầm trong việc áp dụng pháp luật là những sai lầm trong việc áp dụng pháp luật nội dung trong quá trình giải quyết vụ án Những sai lầm trong áp dụng pháp luật thường là sai lầm trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự, sai lầm trong việc định tội danh không đúng, sai lầm trong áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sai lầm trong tổng hợp hình phạt, quyết định hình phạt,… Những sai lầm này có thể trong việc áp dụng sai những nguyên tắc, quy định trong BLHS hoặc văn bản hướng dẫn thi hành,… dẫn đến việc có vi phạm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án Khác với căn cứ kháng nghị thứ nhất, sai lầm xuất phát
từ việc nhận thức các tình tiết của vụ án trong quá trình chứng minh, căn cứ thứ ba
để kháng nghị giám đốc thẩm xuất phát từ việc hiểu không đúng, áp dụng không đúng điều luật trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù việc nhận thức các tình tiết khách quan là đúng Người tiến hành tố tụng đã làm rõ sự thật khách quan của vụ án nhưng quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án có những sai lầm nghiêm
19
Phan Thị Thanh Mai (2006), “Một số ý kiến về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm theo điều 273
BLTTHS năm 2003”, Tạp chí Luật học, (2), tr 31-38
Trang 34trọng Sự khác nhau giữa căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm quy định tại Khoản 2
và Khoản 3 Điều 371 BLTTHS 2015 hiểu một cách đơn giản đều là sai lầm trong việc thực hiện các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án Tuy nhiên sai lầm làm căn cứ kháng nghị quy định tại Khoản 2 là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định trong BLTTHS còn sai lầm tại Khoản 3 là sai lầm trong việc áp dụng các quy định của BLHS trong việc giải quyết vụ án
Khoản 4 Điều 273 BLTTHS 2003 quy định căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm
là “Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự” So với quy định của BLTTHS 2003, Khoản 3 Điều 371 đã sửa đổi căn cứ này với việc bỏ đi từ
“những” và thay thế “Bộ luật hình sự” bằng từ “pháp luật” Các sửa đổi bổ sung này
là hoàn toàn chính xác và phù hợp Việc bỏ đi từ “những” trước cụm từ “sai lầm nghiêm trọng” đã nhấn mạnh chỉ cần một sai lầm nghiêm trọng là đủ căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm Ngoài ra không chỉ sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS mà còn cả sai lầm trong việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật khác dẫn tới việc quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án, các đương sự bị xâm phạm nghiêm trọng đều là căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm Do đó BLTTHS
2015 đã bỏ cụm từ “Bộ luật hình sự” và thay thế bằng từ “pháp luật” là đảm bảo tính bao quát và chính xác của kháng nghị giám đốc thẩm
2.1.3 Phát hiện, thông báo bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.
2.1.3.1 Phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
Theo quy định tại Điều 372 của BLTTHS 2015, có ba nguồn để phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, đó là:
Thứ nhất, người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân đều có quyền phát
hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có HLPL và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị Kế thừa quy định của BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 không hạn chế các chủ thể có quyền phát hiện vi phạm trong bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án Tất cả mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức qua các kênh thông tin khác nhau như trực tiếp tham gia tố tụng (người bị kết án, các đương sự,…) hay qua các báo, đài phát thanh, truyền hình đều có quyền phát hiện vi phạm trong bản án, quyết định của Tòa án và thông báo với người có thẩm quyền kháng nghị Việc không giới hạn phạm vi các chủ thể có quyền phát hiện giúp cho việc
Trang 35phát hiện các vi phạm được kịp thời và chính xác cũng như thể hiện tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp luật, bảo vệ lẽ phải và sự công bằng của Đảng và Nhà nước ta trong chính sách hình sự
Thứ hai, kiến nghị của TAND cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu Đây là
một quy định mới được bổ sung vào BLTTHS 2015, quy định trách nhiệm của TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu trong việc kiểm tra các bản án, quyết định đã có HLPL của TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực Theo đó TAND cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra các bản án, quyết định của TAND cấp huyện, Tòa
án quân sự quân khu có trách nhiệm kiểm tra các bản án, quyết định của Tòa án quân sự khu vực đã có HLPL để phát hiện vi phạm và kiến nghị với người có thẩm quyền kháng nghị Có thể nói đây là một bổ sung cần thiết và hợp lý trong BLTTHS năm 2015 nhằm nâng cao trách nhiệm của TAND cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu trong việc phát hiện bản án, quyết định có vi phạm pháp luật cần kháng nghị Bởi lẽ, việc phát hiện vi phạm trong các bản án, quyết định thông qua hình thức trực tiếp kiểm tra bản án, quyết định tỏ ra khá hiệu quả và Chánh án TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu đã không còn thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.20
Thứ ba, thông qua công tác giám đốc việc xét xử, kiểm sát việc xét xử hoặc
qua các nguồn thông tin khác Thực chất Khoản 3 Điều 372 BLTTHS 2015 làm rõ
và cụ thể hơn quy định tại Điều 274 BLTTHS 2003 về việc phát hiện bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật Công tác giám đốc việc xét xử của Tòa án được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như tiến hành kiểm tra thường xuyên, kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới, các hội nghị sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm,… Bằng các hình thức khác nhau Tòa án cấp trên phát hiện vi phạm trong bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa án cấp dưới và báo cho người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm VKSND các cấp thông qua việc kiểm sát xét xử, kiểm sát bản án, quyết định
mà phát hiện vi phạm thì thông báo ngay cho người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm VKSND có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm Thông qua công tác của mình
mà VKSND các cấp phát hiện các vi phạm nhanh chóng, đầy đủ và chính xác Sau khi phát hiện vi phạm pháp luật trong các bản án, quyết định đã có HLPL của Tòa
20
Nguyễn Hòa Bình (chủ biên), Trần Văn Độ (2016), Những nội dung mới trong BLTTHS 2015,
NXB Chính trị Quốc gia, tr 336, 337
Trang 36án các cấp, Viện kiểm sát xây dựng báo cáo đề nghị kháng nghị và gửi cho những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm Ngoài ra, Viện kiểm sát cấp trên
có chức năng, nhiệm vụ kiểm sát các bản án của Toà án cấp dưới Thông qua công tác kiểm sát bản án, Viện kiểm sát cũng kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật và báo cho người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm
2.1.3.2 Thông báo, tiếp nhận thông báo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
Người bị kết án, cơ quan tổ chức hoặc cá nhân khi phát hiện bản án, quyết định có đã có HLPL của Tòa án có vi phạm pháp luật có thể thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị thông qua hai hình thức là bằng văn bản hoặc trình bày trực tiếp đối với người có thẩm quyền kháng nghị hoặc Tòa án, Viện kiểm sát gần nhất kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật (Khoản 1 Điều 374 BLTTHS 2015) Đối với trường hợp thông báo bằng văn bản thì Tòa án, Viện kiểm sát phải vào sổ thụ lý Đối với trường hợp trình bày trực tiếp thì Tòa án, Viện kiểm sát phải lập biên bản, nếu có chứng cứ, tài liệu, đồ vật thì phải lập biên bản thu giữ Tòa án, Viện kiểm sát nhận được thông báo phải gửi ngay cho người có thẩm quyền kháng nghị và thông báo cho người bị kết án, cơ quan, tổ chức cá nhân đã kiến nghị, đề nghị biết và theo dõi kết quả xem xét kháng nghị giám đốc thẩm (Điều 375 BLTTHS 2015)
Về nội dung văn bản thông báo phát hiện vi phạm được quy định tại Khoản 2, Điều 374 BLTTHS 2015 Nội dung của văn bản thông báo bao gồm: Ngày, tháng, năm của thông báo; Tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo; Bản án, quyết định của Tòa án đã có HLPL bị phát hiện có vi phạm pháp luật; Nội dung vi phạm pháp luật được phát hiện; Kiến nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị Về hình thức của văn bản thông báo được quy định tại Khoản 3 Điều 374 BLTTHS 2015 Theo đó người thông báo là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp cơ quan, tổ chức thông báo thì người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu
2.1.4 Thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm
Những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm quy định tại Điều 373 BLTTHS 2015, bao gồm: Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Chánh án TAND cấp cao và Viện trưởng VKSND cấp cao
Chánh án TAND tối cao và Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có HLPL của TAND cấp cao; bản
Trang 37án, quyết định đã có HLPL của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao So với quy định tại Khoản 1 Điều 275 BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 vẫn giữ nguyên phạm vi thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án TAND tối cao và Viện trưởng VKSND tối cao Theo
đó cả hai chủ thể này có quyền kháng nghị giám đốc thẩm đối với mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án các cấp trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao Quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao là quyết định mang tính phán quyết cao nhất nên chỉ bị xem xét lại nếu có yêu cầu, kiến nghị, đề nghị của những chủ thể có thẩm quyền đặc biệt và được quy định một thủ tục riêng tại chương XXVII của BLTTHS 2015 Tuy nhiên, BLTTHS 2015 đã sửa đổi bổ sung làm rõ hơn về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án TAND tối cao và Viện trưởng VKSND tối cao Với sửa đổi bổ sung này hai chủ thể trên tập trung quyền kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực của TAND cấp cao Đối với các bản án, quyết định của Tòa án khác chỉ khi xét
thấy “cần thiết” Chánh án TAND tối cao và Viện trưởng VKSND tối cao mới
kháng nghị giám đốc thẩm Việc sửa đổi bổ sung này không làm thay đổi bản chất vấn đề mà chỉ mang tính chất làm rõ hơn thẩm quyền của hai chủ thể trên đồng thời hoàn thiện hơn về kỹ thuật lập pháp
Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã
có HLPL của Tòa án quân sự cấp quân khu và Tòa án quân sự khu vực Thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của Chánh án Tòa án quân sự trung ương và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương không có gì thay đổi so với quy định của BLTTHS 2003 BLTTHS 2015 quy định cụ thể hơn về những bản án, quyết định thuộc thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án Tòa quân sự trung ương và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương là những bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án quân sự cấp quân khu và Tòa án quân sự khu vực BLTTHS 2003 chỉ nêu thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của hai chủ thể trên là các bản án, quyết định của Tòa án quân sự cấp dưới
Một trong những thay đổi lớn nhất của BLTTHS 2015 về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm được quy định tại Khoản 3 Điều 373 Theo đó, Chánh án TAND cấp cao và Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bán án, quyết định đã có HLPL của TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ Không quy định thẩm quyền kháng
Trang 38nghị giám đốc thẩm cho Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu Việc sửa đổi, bổ sung nhằm phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 29 Luật tổ chức TAND và Khoản 2 Điều 41 Luật tổ chức VKSND năm 2014 Mặc dù BLTTHS 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, tuy nhiên việc thay đổi thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm như trên đã được áp dụng từ ngày 01/6/2015 theo Nghị quyết số 81/2014/QH1321 và Nghị quyết số 82/2014/QH1322 ngày 24/11/2014 của Quốc hội về việc thi hành Luật tổ chức TAND và Luật tổ chức VKSND năm 2014 Việc thu hẹp các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là hợp lý nhằm đảm bảo việc áp dụng thống nhất pháp luật trên phạm vi rộng, tránh tình trạng mỗi địa phương áp dụng pháp luật khác nhau đồng thời khắc phục tình trạng nhiều tỉnh hàng năm không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng vẫn tồn tại tổ chức, bộ máy để thực hiện nhiệm vụ này gây tốn kém, lãng phí không cần thiết Theo tác giả đây là sửa đổi bổ sung hoàn toàn đúng đắn và cần thiết Bởi lẽ các văn bản hướng dẫn của người có thẩm quyền chưa đầy đủ do vậy cần thiết phải
áp dụng pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm trên diện rộng để đảm bảo tính thống nhất cũng như tính ổn định trong các quyết định kháng nghị giám đốc thẩm Tuy nhiên điều này cũng dẫn đến tình trạng quá tải trong việc nghiên cứu giải quyết các thông báo, đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm của những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm Bởi lẽ theo BLTTHS 2003 người bị kết án, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thể gửi đơn, thông báo phát hiện vi phạm đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm cho Chánh án TAND cấp tỉnh và Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp khu vực và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp khu vực thì đến nay theo quy định của BLTTHS 2015 các đơn đề nghị và thông báo phát hiện vi phạm đó sẽ dồn về ba TAND cấp cao hoặc ba VKSND cấp cao cũng như Chánh án Tòa án quân sự trung ương hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương
Về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định của pháp luật các nước trên thế giới không giống nhau
+ Trong luật TTHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có nhiều điểm tương đồng với TTHS Việt Nam BLTTHS Trung Hoa quy định Viện kiểm sát có quyền kháng nghị giám đốc thẩm, Tòa án các cấp có quyền yêu cầu xem xét lại bản án,
Trang 39quyết định đã có hiệu lực của Tòa án lên Ủy ban thẩm phán hoặc Tòa án cấp trên Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo giám đốc thẩm nhưng kháng cáo của đương sự không đương nhiên làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm mà phải qua sự thẩm tra của chính Tòa án đã ra bản án, quyết định23
+ Trong Luật TTHS Liên bang Nga quy định Viện kiểm sát có quyền kháng nghị giám đốc thẩm Người bị tình nghi, bị can, bị cáo người được tòa án tuyên vô tội, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của các chủ thể này, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo giám đốc thẩm đối với những bản án, quyết định đã có HLPL Tuy nhiên kháng cáo của đương sự và kể cả kháng nghị của Viện kiểm sát cũng không đương nhiên làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị, Tòa án có thẩm quyền quyết định việc có xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực theo thủ tục giám đốc thẩm hay không 24
+ Trong Luật TTHS Cộng hòa Pháp quy định quyền kháng cáo giám đốc thẩm thuộc về tất cả các bên bị ảnh hưởng tiêu cực từ bản án Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa án phá án, Công tố viên có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Đối với các bản án đã có HLPL của Tòa phúc thẩm, Tòa đại hình, Tòa tiểu hình hoặc Tòa vi cảnh, mặc dù các bên không kháng cáo, thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết nhưng vì lợi ích của pháp luật, Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Tòa
án phá án vẫn có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm25 Trong TTHS Pháp, Tòa án không có quyền kháng nghị để rồi xem xét lại những vi phạm pháp luật do chính Tòa án cấp dưới của mình gây ra Luật TTHS Pháp phân biệt đối tượng và chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm theo nội dung kháng nghị vì lợi ích của đương sự hay vì lợi ích pháp luật 26
+ Một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc chỉ quy định một chủ thể duy nhất có quyền kháng nghị giám đốc thẩm đó là Tổng công tố Trong BLTTHS của Nam Tư
23
Xem Điều 203, 205 BLTTHS nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa, bản dịch tiếng Việt, NXB
Chính trị Quốc gia năm 1994
Mai Thanh Hiếu (2006), “Điều kiện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trong luật tố tụng
hình sự Việt Nam và Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Luật học, (4), tr 7-14
Trang 40và Hung-ga-ri trước đây quy định chỉ các Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh trở lên mới có quyền kháng nghị giám đốc thẩm 27
Nhìn chung, luật TTHS của các nước hầu hết đều quy định quyền kháng nghị giám đốc thẩm chỉ thuộc về Viện kiểm sát hoặc những người có quyền, lợi ích pháp
lý liên quan đến vụ án mà không quy định quyền kháng nghị giám đốc thẩm thuộc
về Tòa án28 Bởi lẽ khi Tòa án thực hiện quyền kháng nghị giám đốc thẩm tức là phát động thủ tục giám đốc thẩm sau đó chính Tòa án thực hiện việc xét xử giám đốc thẩm sẽ dẫn đến việc thiếu vô tư, khách quan trong việc nhìn nhận, đánh giá chứng cứ cũng như không đảm bảo được nguyên tắc phối hợp, chế ước giữa Tòa án
và Viện kiểm sát trong TTHS
Điều 377 BLTTHS 2015 quy định “Người ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó” Như vậy, ngoài quyền kháng nghị giám đốc thẩm thì các chủ thể được quy định tại Điều 373 BLTTHS còn có quyền tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị giám đốc thẩm Quy định về việc tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm trong BLTTHS 2015 gần như không có sự thay đổi so với BLTTHS 2003 Người có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có HLPL cần xem xét cân nhắc đến hậu quả của việc ra quyết định tạm đình chỉ Không phải mọi trường hợp đều cần thiết phải tạm đình chỉ việc thi hành án, người có thẩm quyền chỉ ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án đối với những người bị kết án có liên quan trực tiếp đến các tình tiết cần xem xét lại hoặc những người nếu tiếp tục thi hành án có thể sẽ gây thiệt hại đáng kể đến quyền và lợi ích của họ Theo chúng tôi chỉ những kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án mới cần cân nhắc đến việc ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án Ngoài ra chúng ta cần hiểu thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định là một quyền được phát sinh sau khi các chủ thể đã thực hiện xong quyền kháng nghị giám đốc thẩm Quyết định tạm đình chỉ thi hành án chỉ được ban hành cùng thời điểm hoặc sau khi người có thẩm quyền đã ban hành quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Phan Thị Thanh Mai (2007), Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ,
Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 80