Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Bộ luật Tố tụng Dân sự BLTTDS năm 2015 đã được Quốc hội thông qua với nhiều điều luật được sửa đổi, bổ sung mang tính
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Mã số : 8380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Hà
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ rang, đƣợc trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Đức
Trang 4BẢNG TỪ VIẾT TẮT
PLTTGQCVADS : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế PLTTGQCTCLĐ : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao
động
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 4
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN 4
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 5
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 6
1.1 Nhận thức chung về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 6
1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 6
1.1.2 Đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 11
1.1.3 Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 15
1.2 Thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 16
1.2.1 Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 16
1.2.2 Các công việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU VÀ KIẾN NGHỊ 33
2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu và nguyên nhân 33
Trang 62.1.1 Kết quả đạt được của việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn
bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu 33 2.1.2 Hạn chế, nguyên nhân vướng mắc từ thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu 50
2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và bảo đảm áp dụng pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 54
2.2.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 54 2.2.2 Một số kiến nghị nhằm bảo đảm áp dụng pháp luật về chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62 KẾT LUẬN 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là giai đoạn đầu tiên, quan trọng của quá trình giải quyết vụ án dân sự, trong đó chuẩn bị xét xử sơ thẩm là nội dung quan trọng của xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
sơ thẩm các bên đương sự tiến hành thu thập chứng cứ để cung cấp cho Tòa
án, chuẩn bị các lý lẽ lập luận để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Về phía Tòa án, chuẩn bị xét xử sơ thẩm là hoạt động thu thập chứng cứ, lập
hồ sơ vụ án dân sự chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm,
Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã được Quốc hội thông qua với nhiều điều luật được sửa đổi, bổ sung mang tính đột phá khi quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (CBXXSTVADS), thể hiện sự kết hợp giữa mô hình tranh tụng với mô hình thẩm xét ở nước ta như phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (VADS) Tuy nhiên, khi thi hành các quy định về CBXXSTVADS trong BLTTDS năm 2015, qua thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự tại TAND huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La cho thấy, có nhiều nội dung mới được quy định trong Bộ luật vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau, một số vấn đề quy định chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng dẫn đến việc áp dụng tại các Tòa
án không thống nhất; có những quy định chưa phù hợp với thực tế, không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Với mong muốn nghiên cứu các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự thông qua thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự tại TAND huyện Mộc Châu, em đã lựa chọn đề tài: “CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ Luật học của mình
Trang 82 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến việc chuẩn
bị xét xử sơ thẩm như:
- Về Luận văn thạc sĩ Luật học “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự” của tác giả Bùi Thị Thu Hiền năm 2013; Luận văn thạc sĩ Luật học “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự” của tác giả Nông Thị Biển năm 2017
- Về các bài viết trên các báo, tạp chí khoa học pháp lý gồm có: “Một số
những vướng mắc, bất cập khi áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015, trong giải quyết vụ án dân sự và đề xuất, kiến nghị” Của tác
giả Nguyễn Thị Hương, thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Tiên Nữ, tỉnh Hưng Yên, đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 5 tháng 3 năm 2018
“Thủ tục tiến hành phiên hòa giải kết hợp với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ” của tác giả TS Đặng Thanh Hoa
đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân ngày 19 tháng 7 năm 2005; “Đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Triều Dương, đăng trên Đặc san về
Bộ luật tố tụng dân sự, Tạp chí luật học năm 2005; “Vấn đề khởi kiện và thụ
lý vụ án dân sự” của tác giả Lê Thị Bích Lan đăng trên Đặc san về Bộ luật tố
tụng dân sự, Tạp chí luật học năm 2005…
Sau khi BLTTDS 2015 có hiệu lực thi hành cũng đã có một số công trình
nghiên cứu về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Đặc biệt cuốn “Bình
luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” – Chủ biên TS Bùi Thị
Huyền, Nhà xuất bản Lao động, năm 2016 và cuốn Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” – Chủ biên PGS.TS Trần Anh Tuấn, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2017 đã chỉ ra những điểm mới của BLTTDS năm 2015 về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện
Các công trình nghiên cứu trên đây góp phần cho nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn, đồng thời cũng gợi mở cho em những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Trang 9
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề chung về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về vấn đề này, từ đó phát hiện được những hạn chế, bất cập trong các quy định của BLTTDS về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, những vướng mắc, khó khăn trong việc áp dụng các quy định của BLTTDS năm 2015 về chuẩn
bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại TAND huyện Mộc Châu, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về chuẩn
bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của TAND huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La
Để thực hiện được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu đề tài luận văn có những nhiệm vụ chính sau:
- Nghiên cứu làm rõ hơn khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật TTDS hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
- Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của TAND huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La từ năm 2014 đến nay
- Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề chung về chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng các quy định này tại TAND huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thạc sĩ ứng dụng, luận văn tập trung nghiên cứu vào những nội dung cơ bản như sau:
- Luận văn tập trung nghiên cứu về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được giải quyết theo thủ tục thông thường, không nghiên cứu hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được giải quyết theo thủ tục rút gọn và
Trang 10chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự của Tòa án, không nghiên cứu hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự của các chủ thể khác như đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và VKS
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự của Tòa án, không nghiên cứu hoạt động hòa giải vụ án dân sự, mặc dù hòa giải vụ án dân sự là hoạt động nằm trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử vụ án dân sự, không nghiên cứu về thủ tục ra các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Luận văn tập trung nghiên cứu về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, các công việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự của TAND huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La từ năm 2014 đến nay
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp luận, phân tích, so sánh, tổng hợp, lịch sử, diễn giải, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê.v.v…
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Nghiên cứu việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự không phải là vấn
đề mới Tuy nhiên, luận văn này là nghiên cứu đầu tiên về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân từ thực tiễn giải quyết vụ án dân sự của TAND huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn được thể hiện ở các điểm cơ bản sau:
- Làm rõ hơn nội dung các quy định của BLTTDS năm 2015 về chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự; chỉ ra những hạn chế bất cập cần tiếp tục hoàn thiện
- Đánh giá đúng các vướng mắc, bất cập và nguyên nhân của các khó khăn, sai sót trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS năm 2015 về
Trang 11chuẩn bị xét xử vụ án dân sự qua thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự của TAND huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La từ năm 2014 đến nay
- Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của TAND huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La, góp phần hạn chế án hủy, án sửa và tồn đọng án của TAND huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của của luận văn gồm có 02 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân của TAND huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La và một số kiến nghị
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 1.1 Nhận thức chung về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Để làm rõ về khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, cần thiết phải làm rõ các khái niệm thành phần như: VADS, sơ thẩm dân sự và chuẩn bị
Trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời, trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) và Pháp lệnh giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ) tồn tại ba khái niệm: vụ án dân sự (VADS), vụ án kinh tế,
vụ án lao động và không có sự phân biệt giữa khái niệm VADS và việc dân
sự Theo đó, VADS bao gồm những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân và gia đình
Năm 2004, BLTTDS được ban hành, quy định thủ tục tố tụng chung để giải quyết các vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự Trong đó, khái niệm vụ việc dân sự, gồm vụ án dân sự và việc dân sự Khái niệm VADS dùng để chỉ các tranh chấp dân sự, tranh chấp về hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Tòa án thụ lý, giải quyết Khái niệm việc dân sự dùng để chỉ các yêu cầu (không có tranh chấp) về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động được Tòa án thụ lý, giải quyết Các tranh chấp về dân sự bao gồm các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại
và lao động được các cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục TTDS nhằm bảo vệ lợi ích của mình hoặc của các chủ thể khác theo quy định
Vậy, VADS là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong
quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động do cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền
Trang 13giải quyết theo thủ tục TTDS để bảo vệ lợi ích của mình hoặc của cá nhân khác và được Tòa án thụ lý để giải quyết
Trong lĩnh vực dân sự, khi tranh chấp dân sự phát sinh thì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các chủ thể có thể tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ, thông qua nhiều phương thức khác nhau, trong đó có hoạt động xét xử của Tòa án Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước, xem xét, đánh giá và ra phán quyết quyết giải quyết tranh chấp
và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau Để bảo đảm tính thận trọng, chính xác, khách quan, đúng pháp luật của bản án, quyết định thì việc xét xử của Tòa án được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm
“Sơ thẩm”, theo Đại từ điển Tiếng Việt là “xét xử lần đầu một vụ việc ở
lần đầu VADS tại Tòa án theo thủ tục TTDS Dưới góc độ khoa học pháp lý thì khái niệm sơ thẩm VADS cũng được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau là
“giai đoạn sơ thẩm VADS”, “chế định sơ thẩm VADS”, “thủ tục xét xử sơ thẩm VADS” và “cấp xét xử sơ thẩm VADS”
Dưới góc độ là giai đoạn thì sơ thẩm VADS là giai đoạn của quá trình TTDS, trong đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lần đầu VADS khi có việc khởi kiện của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và ra bản án, quyết định giải quyết nội dung VADS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củúa cá nhân, cơ quan, tổ chức Dưới góc độ là chế định pháp luật thì sơ thẩm VADS được hiểu là một
hệ thống những qui tắc xử sự do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan
hệ phát sinh trong quá trình xét xử lần đầu VADS khi có việc khởi kiện của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để bảo đảm việc giải quyết VADS đúng đắn, chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức Dưới góc độ là thủ tục xét xử thì sơ thẩm VADS được hiểu là thủ tục xét
xử do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành nhằm xét xử lần đầu VADS khi có việc
1 Tác giả Nguyễn Như Ý, Đại từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản: Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh
Trang 14khởi kiện của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và ra bản án, quyết định giải quyết về nội dung VADS để bảo đảm việc giải quyết VADS đúng đắn, chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củúa cá nhân, cơ quan, tổ chức
Dưới góc độ là một cấp xét xử, sơ thẩm VADS là cấp xét xử thứ nhất, theo đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lần đầu VADS khi có việc khởi kiện của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và ra bản án, quyết định giải quyết về nội dung VADS để bảo đảm việc giải quyết VADS đúng đắn, chính xác, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp củúa cá nhân, cơ quan, tổ chức
Như vậy, sơ thẩm VADS được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, phạm
vi khác nhau song tất cả đều coi sơ thẩm VADS là việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lần đầu VADS và ra bản án, quyết định giải quyết về nội dung VADS
Sơ thẩm VADS bao gồm các hoạt động khởi kiện, thụ lý, chuẩn bị xét xử, hòa giải và mở phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS Trong đó, khởi kiện là hành vi đầu tiên của cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS,
là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS Quyền khởi kiện của các chủ thể chỉ làm phát sinh nghĩa vụ thụ lý của Tòa án khi việc khởi kiện tuân thủ đúng và đủ các điều kiện về nội dung, hình thức và nộp tạm ứng án phí Việc xem xét, thụ lý yêu cầu khởi kiện chính là sự bảo đảm của Nhà nước đối với việc thực hiện các quyền dân sự của các chủ thể đã được pháp luật ghi nhận Khởi kiện và thụ lý VADS là những hoạt động tố tụng đầu tiên, là tiền
đề của chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS Để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án
có căn cứ và chính xác thì trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS, Tòa án phải làm sáng tỏ yêu cầu của các đương sự và những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án thông qua các chứng cứ, do các đương sự cung cấp hoặc thông qua hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án Tòa án còn có trách nhiệm hòa giải để giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau giải quyết tranh chấp, trừ các trường hợp không hòa giải được hoặc không được hòa giải Bên cạnh đó, Tòa án có thể ra các quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án; quyết định áp dụng BPKCTT; quyết định công nhận sự thỏa thuận và quyết định đưa vụ án ra xét xử Trên cơ sở quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án sẽ mở phiên tòa để ra phán quyết về vụ án Mở phiên tòa dân sự sơ
Trang 15thẩm là khâu cuối cùng của sơ thẩm dân sự và tại đó, Tòa án sẽ xét xử để ra
Với tư cách là một giai đoạn, thủ tục sơ thẩm, chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, trong phạm
vi của luận văn, em nghiên cứu các quy định của pháp luật TTDS về chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS (dưới góc độ là chế định pháp luật) và việc áp dụng các quy định của pháp luật TTDS về chuẩn bị xét xử tại các Tòa án ở Sơn La (dưới góc độ là hoạt động tố tụng)
Dưới góc độ chế định của pháp luật TTDS thì CBXXSTVADS là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình Tòa án chuẩn bị các điều kiện cần thiết để xét xử lần đầu VADS theo thủ tục
sơ thẩm
Khi các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện và Tòa án cấp sơ thẩm thụ
lý VADS thì các quan hệ phát sinh trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết VADS bắt đầu hình thành Trong đó, các quan hệ phát sinh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS bao gồm các quan hệ giữa Tòa án, VKS, đương sự và những người tham gia tố tụng khác Các chủ thể tham gia vào các quan hệ này có nhiệm vụ, quyền hạn và địa vị pháp lý khác nhau nhưng đều được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật cụ thể và đều nhằm thực hiện mục đích của chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS là chuẩn bị những điều kiện cần thiết bảo đảm cho việc xét xử lần đầu VADS theo thủ tục sơ thẩm Nội dung các quy định pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS bao gồm các quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, các công việc để chuẩn bị cho việc mở phiên tòa sơ thẩm, các quyết định tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Vậy, chế định chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS có thể được hiểu như sau: Chế
định chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm chuẩn bị các điều kiện
2 Nông Thị Biển (2017), Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, Luận
văn thạc sĩ
Trang 16cần thiết để đưa VADS ra xét xử lần đầu tại phiên tòa sơ thẩm
Việc áp dụng các quy định của pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS được thực hiện thông qua các hoạt động tố tụng của Tòa án Dưới góc
độ hoạt động TTDS, chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS là một hoạt động tố tụng của sơ thẩm VADS, nhằm chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đưa VADS ra xét xử lần đầu theo thủ tục sơ thẩm Kể từ thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm thụ
lý VADS, sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết lần đầu VADS và bắt đầu giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS Để giải quyết VADS thì những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phải xác định được đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, căn
cứ pháp lý và lý lẽ, lập luận Do đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS, các bên đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ
để chứng minh cho yêu cầu của mình và Tòa án có trách nhiệm lập hồ sơ vụ việc dân sự Tuy nhiên, tùy theo pháp luật của mỗi nước về vai trò của Tòa án trong TTDS mà việc hỗ trợ của Tòa án đối với việc thu thập chứng cứ của đương sự được quy định ở mức độ khác nhau, nên trong giai đoạn này, Tòa án
có thể thu thập chứng cứ Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định việc thu thập chứng cứ của vụ án trước hết thuộc về những người đưa ra yêu cầu Theo đó, người khởi kiện khi nộp đơn khởi kiện phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Đối với bị đơn, người liên quan khi đưa ra yêu cầu độc lập của mình về nguyên tắc phải cung cấp các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình và phản đối yêu cầu của người khác Khi các đương sự không thể thu thập được chứng
cứ thì có thể yêu cầu Tòa án hỗ trợ việc thu thập chứng cứ Bên cạnh vai trò của các đương sự thì Thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ án cũng được pháp luật quy định các biện pháp thu thập chứng cứ để có thể chủ động trong việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc mở phiên tòa sơ thẩm dân sự
Như vậy, dưới góc độ là một hoạt động tố tụng, chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS có các đặc trưng sau:
- Chuẩn bị các điều kiện cần thiết bảo đảm cho việc xét xử lần đầu nội
Trang 17dung VADS theo trình tự sơ thẩm Theo đó, Tòa án cấp sơ thẩm sau khi thụ lý
vụ án phải thực hiện một chuỗi những công việc có liên quan mật thiết với nhau như nghiên cứu hồ sơ, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, yêu cầu đương sự hoặc Tòa án tự mình
bổ sung các chứng cứ cần thiết, ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ (nếu
có căn cứ), quyết áp dụng BPKCTT hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử…
- Có rất nhiều chủ thể thực hiện hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm với các mục đích khác nhau, bao gồm: Tòa án cấp sơ thẩm, Viện kiểm sát, người tham gia tố tụng có nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… Trong đó, để bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, khách quan thì hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS có ý nghĩa quan trọng, Tòa án phải thực hiện hoạt động như phân công Thẩm phán, lập hồ sơ vụ án dân sự, ra các quyết định tố tụng…
- Khi kết thúc hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS, Tòa án phải ra một trong các quyết định: tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định đưa vụ án ra xét xử… Các hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS phải thực hiện theo đúng trình tự và thủ tục mà pháp luật quy định Từ những phân tích trên, có thể đưa
ra định nghĩa về chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS như sau: Chuẩn bị xét xử sơ
thẩm VADS là hoạt động tố tụng do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết để lần đầu đưa VADS ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm được khách quan, công bằng và đúng pháp luật
1.1.2 Đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
- CBXXSTVADS được bắt đầu từ sau khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi
có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm
Là một hoạt động tố tụng cho nên hoạt động CBXXSTVADS cũng phải thực hiện trong một khoảng thời gian hợp lý Về thời điểm bắt đầu hoạt động CBXXSTVADS bắt đầu kể từ sau khi Tòa án thụ lý VADS Trên cơ sở hoạt động thụ lý vụ án thì Tòa án mới có thẩm quyền thực hiện các hoạt động tố tụng tiếp theo theo quy định của pháp luật tố tụng Vì vậy, sau khi thụ lý vụ
Trang 18án, Tòa án sẽ có cơ sở pháp lý để thực hiện các công việc CBXXSTVADS
Về thời điểm kết thúc việc CBXXSTVADS thì cũng còn những cách hiểu, ý kiến khác nhau
Có ý kiến cho rằng, hoạt động CBXXSTVADS kết thúc khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Ý kiến khác lại cho rằng, thời điểm hoạt động CBXXSTVADS kết thúc trước ngày Tòa án mở phiên tòa và quan điểm này lập luận rằng sau khi Tòa án ra quyết định mở phiên tòa sơ thẩm vẫn phải thực hiện một số hoạt động như chuẩn bị cơ sở vật chất, chuyển hồ sơ cho VKS cùng cấp nghiên cứu… những hoạt động này cũng là những hoạt động chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc mở phiên tòa Theo quan điểm của tác giả thì thời điểm kết thúc của CBXXSTVADS là khi tòa án cấp sơ thẩm ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử Bởi lẽ, các hoạt động CBXXSTVADS được thực hiện cho việc mở phiên tòa tức là trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, còn sau khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì những hoạt động được Tòa án thực hiện là những hoạt động hành chính tư pháp tại Tòa án Cụ thể các hoạt động chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc mở phiên tòa như chuẩn bị hội trường xét xử, tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử…
- CBXXSTVADS là chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm VADS
CBXXSTVADS có bản chất là chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc giải quyết vụ án chính xác và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên như lập và nghiên cứu hồ sơ, xác định người tham gia tố tụng, thu thập chứng
cứ, ra các quyết định tố tụng
- Hoạt động CBXXSTVADS có mối liên hệ chặt chẽ với các hoạt động tố tụng khác
Hoạt động CBXXSTVADS có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động
tố tụng khác Chẳng hạn, hoạt động thụ lý vụ án là tiền đề cho hoạt động CBXXSTVADS Đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo chứng minh cho yêu cầu khởi kiện có căn cứ là những tài liệu, chứng cứ đầu tiên trong hồ sơ vụ án,
Trang 19có ý nghĩa cho hoạt động CBXXSTVADS trong việc xác định yêu cầu khởi kiện, xác định những người tham gia tố tụng, trên cơ sở đó tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ hoặc ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử Trong mối liên hệ với phiên tòa sơ thẩm thì hoạt động CBXXSTVADS tạo ra sự chủ động cho Thẩm phán trong việc điều khiển phiên tòa và giúp cho Hội đồng xét xử ra được phán quyết chính xác và bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án
- Có rất nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động CBXXSTVADS với vai trò khác nhau
Trong hoạt động CBXXSTVADS có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau Sau khi thụ lý vụ án, các đương sự tiến hành hoạt động chuẩn bị cho việc tranh tụng tại phiên tòa cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình như tham gia tích cực vào việc cung cấp các chứng cứ, tài liệu để chứng minh cho yêu cầu của mình, phản đối yêu cầu của đối phương Các đương sự
có thể tự mình yêu cầu các cơ quan, tổ chức nắm giữ tài liệu cung cấp các tài liệu để cung cấp cho Tòa án, trong trường hợp không thu thập được có thể yêu cầu Tòa án thu thập Ngoài ra, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng có thể tham gia vào hoạt động CBXXSTVADS như tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ VKS với tư cách là cơ quan tiến hành TTDS có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng trong CBXXSTVADS, VKS tiến hành hoạt động kiểm sát việc thụ lý vụ án, nghiên cứu hồ sơ vụ án, yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án, tiến hành một số hoạt động hoạt động thu thập, chứng cứ bảo đảm cho việc kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm… Bên cạnh hoạt động của những người tham gia tố tụng, VKS thì hoạt động của Tòa án đặc biệt là các Thẩm phán có ý nghĩa tích cực, nhất là mô hình tố tụng của Việt Nam về cơ bản vẫn là mô hình thẩm xét với việc đặt vai trò thu thập chứng cứ của Thẩm phán rất cao Hơn nữa, Tòa án có trách nhiệm giải quyết VADS nên để ra phán quyết công bằng, chính xác và đúng pháp luật thì Tòa án cần chuẩn bị thật kỹ hoạt động CBXXSTVADS Như vậy, chủ thể tham gia hoạt động CBXXSTVADS rất rộng và có những vai trò khác
Trang 20nhau Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài của luận văn chỉ nghiên cứu
về hoạt động CBXXSTVADS của Tòa án
- CBXXSTVADS bao gồm nhiều hoạt động do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trên cơ sở các quy định pháp luật TTDS
Nội dung của hoạt động CBXXPTVADS bao gồm các công việc có mối liên hệ mật thiết với nhau do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành theo quy định của pháp luật TTDS Hoạt động CBXXSTVADS đầu tiên mà Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện việc thông báo về việc thụ lí vụ án Để có thể giải quyết vụ án dân sự thì Tòa án cấp sơ thẩm phải phân công Thẩm phán trực tiếp tiến hành việc giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm; giải quyết các trường hợp từ chối, thay đổi người tiến hành tố tụng; lập và nghiên cứu hồ sơ VADS trong đó tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp xem xét, công khai chứng cứ và hòa giải theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định… Trong quá trình thực hiện các hoạt động CBXXSTVADS, Tòa án cấp sơ thẩm phải xem xét để ra một trong các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết VADS, quyết định
áp dụng BPKCTT hoặc đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm
- CBXXSTVADS phải được tiến hành trong thời gian hợp lý đủ bảo đảm Tòa án chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc mở phiên tòa sơ thẩm VADS
Việc giải quyết các VADS tiến hành nhanh chóng sẽ bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể Để thực hiện được điều này thì mỗi hành vi của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đều phải thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Hoạt động CBXXSTVADS có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc giải quyết
vụ án, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Để nâng cao tinh thần trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thì hoạt động CBXXSTVADS cũng như các hoạt động tố tụng khác được pháp luật quy định trong một khoảng thời gian hợp lý đủ để Tòa án chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc mở phiên tòa sơ thẩm VADS Việc xác định khoảng thời gian hợp lý phụ thuộc vào tính chất của quan hệ tranh chấp và các yếu tố khác như trình độ chuyên môn của Thẩm phán, văn hóa pháp lý của người tham gia
Trang 21tố tụng… theo từng thời kỳ mà có sự khác biệt nhất định
1.1.3 Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.1.3.1 Ý nghĩa về chính trị - xã hội
CBXXSTVADS là một hoạt động quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án Trong CBXXSTVADS Thẩm phán sẽ phải xác định đúng quan hệ tranh chấp, từ đó xác định đủ và đúng nguyên đơn, bị đơn và người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trên cơ sở xác định đúng đương sự, Thẩm phán sẽ xác định các yêu cầu của họ từ đó yêu cầu họ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác Trong trường hợp cần thiết Thẩm phán sẽ thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ
án theo quy định pháp luật TTDS để hoàn thiện hồ sơ vụ án Hoạt động thu thập, chứng minh của Tòa án tuân thủ đúng quy trình TTDS sẽ bảo đảm tính khách quan, chính xác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự Nếu xác định thiếu đương sự trong vụ án sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Mặc dù không đưa ra một phán quyết như tại phiên tòa sơ thẩm nhưng các hoạt động CBXXSTVADS có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án, tiết kiệm chi phí tố tụng cho Nhà nước và các đương sự, bảo đảm các giao lưu dân sự được ổn định, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
1.1.3.2 Ý nghĩa pháp lý
- CBXXSTVADS giúp Tòa án cấp sơ thẩm có điều kiện nắm vững nội dung
vụ án tạo tiền đề cho việc xét xử VADS được chính xác và đúng pháp luật
Mục đích của CBXXSTVADS là chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc mở phiên tòa sơ thẩm giải quyết VADS Do đó, ý nghĩa pháp lý đầu tiên
mà CBXXSTVADS mang lại là tạo điều kiện cho Tòa án cấp sơ thẩm có điều kiện nắm vững nội dung vụ án, tạo sự chủ động cho Thẩm phán trong việc đánh giá chứng cứ khi nghe, tranh tụng tại phiên tòa, từ đó giúp cho việc xét
xử VADS được chính xác và đúng pháp luật
- CBXXSTVADS là điều kiện bảo đảm chất lượng xét xử tại phiên tòa cũng như Tòa án ra phán quyết đúng đắn và chính xác, hạn chế kháng cáo,
Trang 22kháng nghị phúc thẩm, khiếu nại giám đốc thẩm, tái thẩm Trong quá trình CBXXSTVADS, Tòa án đã tiến hành lập và nghiên cứu hồ sơ vụ án trong đó xem xét đến các vấn đề tố tụng và nội dung của vụ án Việc nghiên cứu hồ sơ giúp Thẩm phán tìm ra những mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự cũng như các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, giúp cho việc đánh giá công khai chứng cứ tại phiên tòa được chính xác; chuẩn bị những căn cứ pháp lý điều chỉnh quan hệ tranh chấp… Những công việc đó là những điều kiện cần thiết bảo đảm cho chất lượng xét xử tại phiên tòa tốt nhất Do đó, nếu hoạt động CBXXSTVADS được Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện tốt sẽ là cơ sở để Tòa án cấp sơ thẩm ra phán quyết giải quyết vụ án đúng đắn và chính xác Bên cạnh đó, việc tiến hành các hoạt động CBXXSTVADS được thực hiện tốt
sẽ góp phần hạn chế được kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, khiếu nại giám đốc thẩm giúp cho quá trình giải quyết vụ án được kết thúc nhanh chóng Hoặc nếu có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm thì việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm một cách đầy đủ cũng giúp cho toà án cấp phúc thẩm giải quyết các kháng cáo, kháng nghị nhanh chóng, thuận lợi
1.2 Thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.2.1 Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Thời hạn CBXXSTVADS là khoảng thời gian tối đa mà Tòa án cấp sơ thẩm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm
CBXXSTVADS được tính từ sau ngày Tòa án vào sổ thụ lý đến ngày Tòa án
Trang 23Như vậy, việc xác định chính xác thời điểm thụ lý vụ án có ý nghĩa hết sức quan trọng Đối với những vụ án chỉ có yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện thì ngày thụ lý là ngày người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí, trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày nhận đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo Trong trường hợp Toà án nhận được đơn về yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết trong cùng một vụ án, thì (thời hạn chuẩn bị xét xử được xác định từ ngày hoàn thành thủ tục phản tố, yêu cầu độc lập) ngày thụ
lý vụ án để tính thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án đó được xác định như sau:
- Trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, thì ngày thụ lý vụ án là ngày Toà án nhận được đơn về yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo
- Trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp tiền tạm ứng án phí, thì ngày thụ lý vụ án là ngày bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí Bên cạnh việc quy định thời hạn CBXXSTVADS cho các vụ án thông thường, BLTTDS năm 2015 đã quy định về việc gia hạn thời hạn CBXXSTVADS trong một số trường hợp nhất định, bao gồm: (1) “Những vụ
án có tính chất phức tạp” là những vụ án có nhiều đương sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định
kỹ thuật phức tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh
sự, ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài…Tuy nhiên, đối với trường hợp cần phải chờ ý kiến của các cơ quan chuyên môn,
Trang 24cần phải chờ kết quả giám định kỹ thuật phức tạp hoặc cần phải chờ kết quả
uỷ thác tư pháp mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử (kể cả thời gian gia hạn), thì Thẩm phán căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 214 của BLTTDS ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS (2) Còn “trở ngại khách quan” là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động như: thiên tai, địch họa, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu… làm cho Toà án không thể giải quyết được vụ án trong thời hạn do pháp luật quy định (3) “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy
ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục
Việc gia hạn chuẩn bị xét xử không được quá 02 tháng đối với vụ án được quy định tại điểm a khoản 1 và không quá 01 tháng đối với các vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 203 Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa khi giải quyết VADS và hôn nhân gia đình là 6 tháng, đối với vụ
án kinh doanh thương mại và lao động là 3 tháng
1.2.2 Các công việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.2.2.1 Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án
Để giải quyết VADS thì Tòa án phải phân công một Thẩm phán giải quyết VADS theo các quy định của pháp luật TTDS Theo Điều 197 BLTTDS năm 2015 quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án bảo đảm nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên Đối với vụ án phức tạp, việc giải quyết có thể phải kéo dài thì Chánh án phải Thẩm phán dự khuyết để bảo đảm xét xử đúng thời hạn theo quy định của Bộ luật TTDS
Để bảo đảm tính công khai, minh bạch và bình đẳng giữa các Thẩm phán trong một đơn vị Tòa án, hạn chế được sự lạm quyền của Chánh án trong việc phân công Thẩm phán giải quyết, Điều 197 BLTTDS năm 2015 quy định nguyên tắc trong việc phân công Thẩm phán giải quyết án, tuy nhiên BLTTDS năm 2015 không quy định việc phân công Thẩm phán có thể hiện
4 Khoản 1 Điều 156 BLDS năm 2015
Trang 25bằng một quyết định hay không Theo tác giả không quy định việc phân công Thẩm phán bằng một quyết định sẽ không bảo đảm được tính công khai, minh bạch, để bảo đảm các nguyên tắc mà luật đưa ra được thi hành trên thực tế thì việc phân công Thẩm phán phải được thể hiện bằng một quyết định để lưu trong hồ sơ vụ án và gửi cho VKS cùng cấp, các đương sự
Cùng với việc phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, Chánh án Tòa án phân công Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với mỗi vụ án Thư ký Tòa án
sẽ giúp Thẩm phán lấy lời khai, thu thập chứng cứ, tài liệu, soạn thảo các biểu mẫu tố tụng, sắp xếp hồ sơ vụ án, tống đạt các văn bản tố tụng… Theo quy định Điều 47 BLTTDS năm 2015 thì Chánh án phân công Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với mỗi VADS cũng phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch và vô tư
1.2.2.2 Thông báo việc thụ lý vụ án dân sự
Sau khi vào sổ thụ lý vụ án, để thực hiện các công việc CBXXSTVADS tiếp theo Tòa án phải ra thông báo thụ lý vụ án Điều 196 BLTTDS năm 2015 quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và VKS cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án Đối với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý
Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án phải được gửi cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và VKS cùng cấp sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể được thông báo nắm bắt được thời điểm thụ lý vụ án, những yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu chứng cứ ban đầu của vụ án So với BLTTDS năm 2011, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung nguyên đơn cũng được nhận thông báo thụ lý của Tòa án Thông báo thụ lý phải thể hiện dưới hình thức bằng văn bản và bao gồm các nội dung chính tại khoản 2 Điều 196
và biểu mẫu tố tụng theo Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP/2017 Trong đó, thông báo thụ lý vụ án phải thể hiện được VADS được giải quyết theo thủ tục thông
Trang 26thường hay thủ tục rút gọn
Khoản 2 Điều 196 BLTTDS năm 2015 quy định nghĩa vụ của người được thông báo Theo đó, trong một thời hạn do Tòa án ấn định thì bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp ý kiến bằng văn bản về yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo hoặc yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có) cho Tòa án Nếu bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan không nộp văn bản ý kiến cho Tòa án sẽ phải chịu những hậu quả pháp lý nhất định Tuy nhiên, do BTTDS không quy định cụ thể về hậu quả pháp lý nên trên thực tế đương sự thường không gửi cho Tòa án ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn
Bên cạnh, việc đưa ra ý kiến của mình về việc khởi kiện của nguyên đơn, nếu bị đơn có yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố theo Điều 200 BLTTDS năm 2015, người có quyền và nghĩa liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lâp theo Điều 201 BLTTDS năm 2015 Trong trường hợp này yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập sẽ được giải quyết cùng với vụ án mà nguyên đơn đã khởi kiện Việc pháp luật quy định như trên góp phần tạo điều kiện cho Tòa án có thể tiến hành hoạt động CBXXSTVADS được nhanh chóng, tiết kiệm, tránh được việc Tòa án phải mở phiên tòa riêng đối với yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 chỉ có quy định khi thông báo thụ lý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà chưa có quy định thông báo thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trong khi giải quyết VADS, nếu có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập thì Tòa án chỉ ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí cho các đương sự đối với yêu cầu của mình, ngoài ra không có văn bản nào thể hiện yêu cầu phản
tố, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Do vậy, không bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự trong TTDS Bên cạnh đó, Điều 96 BLTTDS năm 2015 quy định nghĩa vụ của các đương sự khi giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự
Trang 27khác; đối với các tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của BLTTDS hoặc tài liệu, chứng cứ không thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện của đương sự khác Trong trường hợp nguyên đơn không gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ cho bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì họ có thể yêu cầu cầu Tòa án hỗ trợ Do đó, nếu nguyên đơn có yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu, chứng cứ thì kèm theo thông báo thụ lý vụ án, Tòa án gửi cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bản sao tài liệu, chứng
cứ do nguyên đơn cung cấp (Khoản 3 Điều 196) Theo chúng tôi, để bảo đảm
sự nhất quán với quy định tại Điều 96 BLTTDS về nghĩa vụ gửi bản sao tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn, BLTTDS cần quy định Tòa án chỉ hỗ trợ khi nguyên đơn không thể tự thực hiện được và việc phải nộp chi phí tố tụng cho yêu cầu Tòa án hỗ trợ việc sao gửi tài liệu, chứng cứ
1.2.2.3 Lập và hoàn thiện hồ sơ vụ án
Thẩm phán có nhiệm vụ lập hồ sơ vụ án Điều 204 BLTTDS năm 2015 quy định, hồ sơ VADS bao gồm đơn và toàn bộ tài liệu, chứng cứ của đương
sự, người tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, VKS về việc giải quyết VADS Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ VADS phải được đánh số bút lục, sắp xếp theo thứ tự ngày, tháng, năm Giấy tờ, tài liệu có trước thì để ở dưới, giấy tờ, tài liệu có sau thì để ở trên và phải được quản lý, lưu giữ, sử dụng theo quy định của pháp luật Quy định này chính thức ghi nhận nhiệm vụ của Thẩm phán để tạo được căn cứ pháp lý áp dụng thống nhất cũng như nâng cao hơn trách nhiệm của Thẩm phán trong việc bảo đảm giải quyết chính xác VADS Theo quy định tại Điều 198 BLTTDS năm 2015 hoạt động lập hồ sơ VADS của Tòa án được thực hiện thông qua các hoạt động sau:
- Yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án
Giao nộp tài liệu, chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của đương sự, việc giao nộp tài liệu, chứng cứ là một trong những nội dung quan trọng của tranh tụng cho nên đương sự phải giao nộp đầy đủ và công khai các tài liệu, chứng cứ,
Trang 28trừ trường hợp quy định được giữ bí mật Theo Điều 6 BLTTDS năm 2015 thì các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Việc giao nộp chứng cứ được thực hiện ngay sau khi đương sự nộp đơn khởi kiện Tuy nhiên, nếu xét thấy tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ VADS chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự tiếp tục giao nộp, bổ sung chứng cứ Khi yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ, Thẩm phán cần phải nêu rõ, cụ thể chứng cứ cần giao nộp bổ sung và xác định rõ đương sự nào phải nộp bổ sung các tài liệu, chứng cứ đó Khi nhận chứng cứ do các đương sự giao nộp, Tòa án phải tiến hành lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ Nội dung biên bản phải thể hiện đầy đủ nội dung của chứng cứ, số bản, số trang, hình thức của chứng cứ, chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nhận và dấu của Tòa án
Điểm mới của BLTDS năm 2015 là đã quy định thời hạn các đương sự được cung cấp, giao nộp chứng cứ Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết VADS quyết định nhưng không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Việc quy định thời hạn cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự buộc đương sự có trách nhiệm hơn trong việc thu thập, cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình đồng thời tránh trường hợp đương sự lợi dụng quy định của pháp luật để gây khó khăn cho đối phương cũng như hoạt động giải quyết vụ án của Tòa án Về mặt nguyên tắc các đương sự chỉ được cung cấp chứng cứ, tài liệu trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Tuy nhiên, nhằm bảo đảm quyền cung cấp chứng cứ, tài liệu của các đương sự pháp luật đã quy định những ngoại lệ Theo khoản 4 Điều
96 BLTTDS, trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ vẫn được chấp nhận trong các trường hợp:
+ Đương sự không giao nộp được các tài liệu theo yêu cầu của Tòa án vì
lý do chính đáng Đương sự phải có nghĩa vụ chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó
+ Đối với các tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu
Trang 29đương sự giao nộp hoặc các chứng cứ mà đương sự không thể biết trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp trình bày tại phiên tòa sơ thẩm hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo Tuy nhiên, theo tác giả đối với trường hợp Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp thì có quyền trình bày trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo là không phù hợp với nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự Quy định này dẫn đến cách hiểu và áp dụng là Tòa án có trách nhiệm nêu rõ những tài liệu, chứng cứ mà đương sự phải cung cấp Điều này có thể dẫn đến việc nếu Tòa
án không nêu rõ các tài liệu chứng cứ phải cung cấp và đương sự lợi dụng cố tình không cung cấp chứng cứ thì đương sự vẫn có quyền cung cấp chứng cứ
ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo Vì vậy, theo tác giả chỉ nên quy định đương
sự được quyền cung cấp chứng cứ quá hạn do Thẩm phán ấn định khi có lý do chính đáng
- Tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTDS
Xác minh, thu thập chứng cứ là việc phát hiện, tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ án để nghiên cứu và đánh giá giúp cho việc giải quyết
sở để giải quyết vụ án thì Tòa án thu thập thêm chứng cứ để hoàn thiện hồ sơ
vụ án
Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ theo khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015 Theo đó, trong các trường hợp do BLTTDS quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ: a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng; c) Trưng cầu giám định; d) Định giá tài sản; đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ; e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú; i) Các biện pháp khác theo quy
5
Trang 30định của Bộ luật này
So với BLTTDS năm 2011, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm biện pháp “xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú” Mặc
dù bổ sung thêm biện pháp thu thập chứng cứ là xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú nhưng BLTTDS năm 2015 chưa quy định trình tự, thủ tục khi Tòa án tiến hành biện pháp này Tòa án có cần phải
ra quyết định trước khi thực hiện hay không? Khi tiến hành xác minh tại nơi
cư trú của đương sự thì cần phải có sự có mặt của tổ trường, trưởng xóm hay đại diện của UBND xã, phường nơi tiến hành xác minh hay không? Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho các Tòa án khi áp dụng biện pháp này, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể hơn về các biện pháp này
1.2.2.4 Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự
Nghiên cứu hồ sơ vụ án là tổng hợp các hoạt động đọc, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án,
từ đó kết hợp với việc tranh tụng tại phiên tòa để Hội đồng xét xử đưa ra kết luận về các vấn đề về tố tụng và nội dung của vụ án một cách khách quan toàn diện Nghiên cứu hồ sơ vụ án là một hoạt động diễn ra đồng thời cùng với việc lập hồ sơ của Tòa án Việc nghiên hồ sơ vụ án sẽ giúp Thẩm phán phát hiện các chứng cứ không có giá trị chứng minh để có biện pháp khác thu thập chứng cứ giúp cho việc xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách tố tụng trong vụ án được chính xác hơn Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án phải được thực hiện một cách kỹ lưỡng và toàn diện nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của
vụ án Do mỗi vụ án có đặc thù riêng nên các bước để nghiên cứu hồ sơ vụ án không theo một trình tự thống nhất Nghiên cứu hồ sơ vụ án có mối quan hệ chặt chẽ với các kỹ năng thu thập và cung cấp chứng cứ trước đó Khi nghiên cứu hồ sơ VADS cần phải nghiên cứu tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án, không được bỏ sót bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào Khi nghiên cứu hồ
sơ, cần làm rõ những tài liệu, chứng cứ mà các bên đương sự thống nhất và các tài liệu chứng cứ mẫu thuẫn giữa các đương sự
Về phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án, cần thực hiện bắt đầu từ nghiên
Trang 31cứu đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản đối chất, biên bản hòa giải và các tài liệu, chứng cứ khác do những người tham gia tố tụng cung cấp, Tòa án thu thập Trên thực tế, khi nghiên cứu hồ sơ VADS, Thẩm phán phải làm rõ quan hệ pháp luật tranh chấp, những vấn đề về tố tụng
và nội dung
- Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và văn bản pháp luật nội dung
áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và văn bản pháp luật nội dung áp dụng là hai vấn đề quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đối với phương án
tư vấn Để xác định quan hệ tranh chấp, cần làm rõ các bên tranh chấp với nhau về vấn đề gì, tranh chấp giữa ai với ai, đồng thời dựa vào văn bản pháp luật nội dung áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp đó Xác định đúng luật nội dung và các nguồn bổ trợ khác của pháp luật giải quyết tranh chấp dân sự; hôn nhân và gia đình; kinh doanh, thương mại, lao động (viết tắt là dân sự) không chỉ có ý nghĩa trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp mà còn
có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định vấn đề mấu chốt của vụ việc, thu thập, cung cấp chứng cứ, đưa ra phương án giải quyết, góp phần cho việc giải quyết tranh chấp dân sự đúng đắn, chính xác Xác định được chính xác, đúng,
đủ luật nội dung áp dụng giải quyết vụ án dân sự đòi hỏi phải phân tích trong
vụ án dân sự mà mình tham gia có bao nhiêu quan hệ pháp luật cần giải quyết, các tình tiết, sự kiện pháp lý nào đã được xác lập, thực hiện; thời điểm xảy ra các tình tiết, sự kiện pháp lý; tài liệu, chứng cứ chứng minh các tình tiết, sự kiện đó như thế nào từ đó tìm kiếm các văn bản pháp luật áp dụng phù hợp Thông thường, văn bản pháp luật nội dung áp dụng để giải quyết vụ việc dân
sự là pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịch hoặc sự kiện pháp lý xảy ra Trong trường hợp không có văn bản luật điều chỉnh cụ thể nội dung tranh chấp, sẽ áp dụng các nguồn bổ trợ khác của pháp luật Nguồn bổ trợ của pháp luật theo quy định của BLTTDS năm 2015 và BLDS năm 2015 bao gồm: tập quán; tương tự pháp luật; các nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ, lẽ công bằng Theo quy định của BLTTDS năm 2015 và BLDS năm 2015 thì: “Tòa
án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều
Trang 32luật để áp dụng” (khoản 2, Điều 4 BLTTDS năm 2015) Đây là quy định bổ sung mang tính đột phá của BLTTDS năm 2015 Theo Điều 45 BLTTDS, Điều 5, 6 BLDS năm 2015, trong trường hợp không có văn bản pháp luật áp dụng sẽ được áp dụng theo thứ tự sau:
+ Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự + Án lệ của Việt Nam: “là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà
án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử” (Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28 tháng 10 năm 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về quy trình lựa chọn, công bố
và áp dụng án lệ)
+ Lẽ công bằng được quy định tại Điều 45 BLTTDS năm 2015: “được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và sự bình đẳng về quyền và nghĩa
vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó”
Trên cơ sở việc nắm vững quan hệ pháp luật tranh chấp, pháp luật nội dung áp dụng và yêu cầu của đương sự, Thẩm phán đưa ra phương án giải quyết vụ án dân sự
Tùy từng trường hợp, vụ án chỉ phát sinh một mối quan hệ pháp luật cần phải giải quyết như quan hệ vay nợ, thuê hoặc phát sinh nhiều mối quan hệ khác nhau cần phải giải quyết trong vụ án về thừa kế, thanh toán nghĩa vụ Việc xác định rõ những quan hệ tranh chấp trong vụ kiện có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó định hướng cho việc giải quyết vụ án vì cần phải căn cứ vào quan hệ pháp luật làm phát sinh tranh chấp mới xác định được những vấn đề
về thủ tục tố tụng và những vấn đề về nội dung giải quyết vụ án
- Xác định các vấn đề về tố tụng cần được làm rõ trong quá trình nghiên
Trang 33cứu hồ sơ bao gồm: người khởi kiện có quyền khởi kiện hay không, thẩm quyền, thủ tục tiền tố tụng, thời hiệu, thành phần và tư cách tố tụng của các đương sự, tranh chấp đã được Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết hay chưa? Trong đó, thời hiệu khởi kiện là vấn đề phức tạp Cần lưu ý các quy định mới BLDS năm 2015, BLTTDS năm 2015 về thời hiệu khởi kiện vụ án đặc biệt quy định tại điều khoản chuyển tiếp BLDS năm
2015, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ để kết luận còn hay hết thời hiệu khởi kiện Trường hợp thời hiệu khởi kiện đã hết, Trợ giúp viên pháp lý, Luật
sư nghiên cứu các vấn đề khác liên quan đến thời hiệu khởi kiện được quy định trong BLDS, cụ thể là: i) Có sự kiện pháp lý về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện không? Tài liệu, chứng cứ nào phản ánh vấn đề này? ii)
Có tài liệu, chứng cứ nào trong hồ sơ vụ án phản ánh sự kiện pháp lý về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện không? iii) Nghiên cứu đầy đủ các vấn đề trên mới
có thể kết luận còn hay hết thời hiệu khởi kiện
- Xác định các vấn đề về nội dung cần được làm rõ trong quá trình
nghiên cứu hồ sơ bao gồm: Vấn đề mấu chốt của vụ án là gì, tài liệu chứng cứ
đã đủ chưa? Có cần xác minh, thu thập thêm hay không? Bằng cách nào? Nghiên cứu về nội dung của vụ án, được thực hiện bắt đầu từ nghiên cứu yêu cầu của các đương sự Đương sự có thể thay đổi, bổ sung, rút một phần yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án Vì vậy, cần nghiên cứu các tài liệu như bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản đối chất, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc hòa giải để xác định yêu cầu cuối cùng của đương sự Kết quả của việc nghiên cứu yêu cầu của đương sự là phải xác định được chính xác từng loại yêu cầu và thủ tục thực hiện các yêu cầu đó có đúng pháp luật không? Cần chú ý nghiên cứu kỹ trình tự, thủ tục Tòa án áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ, đối chiếu với quy định của BLTTDS về thu thập chứng cứ để xác định Tòa án có thực hiện đúng không Các biện pháp thu thập chứng cứ mà Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự bao gồm: Lấy lời khai của đương
sự, người làm chứng; đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng; trưng cầu giám định; định giá tài sản, thẩm định giá tài
Trang 34sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; ủy thác thu thập chứng cứ, xác minh tài liệu, chứng cứ; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ
Sau khi nghiên cứu yêu cầu của đương sự, Thẩm phán tiếp tục nghiên cứu các vấn đề cần chứng minh, nghĩa vụ chứng minh, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án Việc nghiên cứu các vấn đề cần chứng minh gắn liền với hoạt động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ Khi nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, nghiên cứu và đánh giá cả về hình thức và nội dung của chứng cứ
Về mặt nguyên tắc, cần nghiên cứu tất cả các vấn đề về tố tụng và nội dung của vụ án, tuy nhiên Thẩm phán tập trung vào việc xác định các bên đương sự đang tranh chấp những vấn đề gì để tập trung nghiên cứu
Các vấn đề về tố tụng và nội dung có mối quan hệ chặt chẽ Tuy nhiên,
để bảo đảm tính logíc, khoa học trong việc nghiên cứu, trước hết nghiên cứu
và đưa ra kết luận các vấn đề về tố tụng trong vụ án Việc nghiên cứu bắt đầu
từ quyền khởi kiện của nguyên đơn, thẩm quyền của Tòa án, quyền phản tố của bị đơn, quyền yêu cầu độc lập của người liên quan; thời hiệu khởi kiện vụ
án, sau đó đến các vấn đề khác như tư cách đương sự; trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ; trình tự thủ tục phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải… Ngoài ra, cần chú ý nghiên cứu các vấn đề khác như: nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, tính chất, mức độ của tranh chấp; hoàn cảnh, điều kiện; tâm tư, nguyện vọng của từng đương sự; đặc biệt đương sự thuộc nhóm người yếu thế như trẻ em, người già, phụ nữ, người có nhược điểm về thể chất, về tâm thần và các đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí khác Từ
đó, mới có thể hiểu được đầy đủ, sâu sắc hơn về bối cảnh của vụ án
Nghiên cứu hồ sơ vụ án không tách rời với việc đánh giá các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án Khi nghiên cứu, đánh giá chứng cứ cần có phương pháp nghiên cứu từng chứng cứ, xác định giá trị chứng minh của từng chứng cứ và nghiên cứu tổng hợp chứng cứ (đặt các chứng cứ trong mối liên
hệ so sánh, đối chiếu với nhau), từ đó kết luận về từng tình tiết, từng vấn đề cần chứng minh của vụ án và các yêu cầu của đương sự
1.2.2.5 Phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ
Trang 35Mặc dù theo BLTTDS năm 2015, phiên họp kiểm tra việc giao, nộp,
tiếp cận và công khai chứng cứ và phiên hòa giải được quy định trong cùng một điều luật Tuy nhiên, bản chất và mục đích của hai phiên họp này là khác nhau Bản chất của phiên hòa giải là giúp các đương sự thỏa thuận với nhau
về giải quyết vụ án dân sự, nên trong phạm vi của luận văn này, tác giả không nghiên cứu về hòa giải Còn bản chất của phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ là chuẩn bị các điều kiện cần thiết, nên phiên họp này là một trong các nội dung của chuẩn bị xét xử sơ thẩm Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là một quy định mới của BLTTDS năm 2015 nó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện quyền,
và nghĩa của đương sự để chứng minh cho yêu cầu của minh, là phương thức
để bảo đảm các đương sự quyền được biết và tiếp cận tất cả các tài liệu, chứng cứ, xác định những chứng cứ đã giao nộp Thông qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ các bên đương sự trọng vu
án nắm bắt được nội dung của vụ án và có thể tự thỏa thuận được với nhau về giải quyết các nội dung của vụ án khi đã được tiếp cận các chứng cứ của các bên, dẫn đến vụ án kết thúc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng và đoàn kết trong nhân dân Còn đối với các nội dung chưa thống nhất được thì các đương sự có sự chủ động trong việc tiếp tục chứng minh và cung cấp chứng cứ cho yêu cầu của mình
Đối với Tòa án án thông qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận
và công khai chứng cứ đã xác định được nội dung nào đã thống nhất và không trái với quy định của pháp luật thì công nhận, nội dung nào còn mâu thuẫn thì tập trung vào làm rõ trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, giúp các đương sự có đủ điều kiện chuẩn bị các chứng cứ trong việc tranh tụng tại phiên tòa Nhằm sáng tỏ sự thực khách quan của vụ việc, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngươi tham gia tố tụng
- Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ : Theo quy định của BLTTDS năm 2015 trước khi tiến hành phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Thẩm phán phải
Trang 36thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành và nội dung của phiên họp
- Thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ:
So với BLTTDS năm 2011, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thành phần tham gia hòa giải bao gồm cả người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự cho nên Tòa án phải triệu tập họ tham gia việc hòa giải
- Trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng
cứ và hòa giải
Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ sẽ được tiến hành trước khi tiến hành hòa giải Trước khi tiến hành phiên họp Tòa án phải thực hiện đầy đủ thủ tục, phổ biến quyền và nghĩa vụ của những người tham gia theo quy định của BLTTDS Tại phiên họp Thẩm phán sẽ công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hỏi các đương sự về yêu cầu của mình, các tài liệu, chứng cứ đã nộp, những yêu cầu khác liên quan đến vụ án… Khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án phải lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ Biên bản phải bảo đảm các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 211 BLTTDS 2015 Như vậy, mục đích tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ là nhằm xác định yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết, bổ sung các tài liệu, chứng cứ, yêu cầu Tòa án triệu tập người tham gia tố tụng
Mục đích của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm xác định và chốt lại yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết, tài liệu, chứng cứ đã nộp cho Tòa án và việc gửi các tài liệu, chứng cứ cho các đương sự khác; yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ, tài
Trang 37liệu, yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Do đó về nguyên tắc, sau phiên họp các bên không có quyền cung cấp thêm chứng cứ và các đương sự không có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu Song, Điều 96 BLTTDS năm 2015 vẫn chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập ban đầu Vì vậy, có thể thấy hai quy định này là không thống nhất với nhau
Sau khi tiến hành nhiều hoạt động CBXXSTVADS, Thẩm phán nhận thấy đã chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc mở phiên tòa xem xét công khai các yêu cầu và các chứng cứ tại phiên tòa sơ thẩm, không có căn cứ công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và đình chỉ giải quyết VADS, Thẩm
xử đánh dấu kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử và vụ án được giải quyết bởi thủ tục tố tụng tiếp theo là phiên tòa sơ thẩm dân sự Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có đầy đủ các nội dung được quy định tại khoản 1 Điều 220 BLTTDS năm 2015 và đúng mẫu trong Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP như ngày, tháng, năm ra quyết định; Tên Tòa án ra quyết định; Vụ án được đưa ra xét xử; Tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện quy định tại Điều 187 của Bộ luật này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án;
họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết (nếu có); Họ, tên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa; họ, tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có); Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa; Xét xử công khai hoặc xét xử kín; Họ, tên người được triệu tập tham gia phiên tòa
6 Khoản 2 Điều 203 BLTTDS năm 2015
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
CBXXSTVADS là một hoạt động có sự tham gia của nhiều chủ thể với vai trò khác nhau trong đó vai trò của Tòa án là chủ động và cơ bản nhất nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc mở phiên tòa sơ thẩm cũng như có mối liên hệ với các hoạt động tố tụng khác Từ việc nghiên cứu khái niệm CBXXSTVADS, luận văn rút ra được những đặc điểm cơ bản của CBXXSTVADS: cũng như các hoạt động tố tụng khác CBXXSTVADS được Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật trong một khoảng thời gian hợp lý CBXXSTVADS được thực hiện tốt không chỉ có ý nghĩa pháp lý mà còn có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc CBXXSTVADSVADS được quy định xuất phát từ việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân mà cụ thể nhất là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
Theo quy định BLTTDS 2015, CBXXSTVADS bao gồm các hoạt động: Phân công Thẩm phán, Thư ký tòa án, thông báo thụ lý vụ án, lập hồ sơ vụ án,
tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Ban hành các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Khi thấy đã đủ điều kiện để
mở phiên tòa thì Tòa án sơ thẩm ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm Các quy định này trong BLTTDS 2015 có nhiều điểm mới, khắc phục được nhiều hạn chế của BLTTDS 2011 và bảo đảm thực thi các nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, nhất là nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong giải quyết các vụ án tại tòa án Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 có những quy định mới chưa được hướng dẫn cụ thể dẫn đến khó khăn cho Thẩm phán trong hoạt động CBXXSTVADS
Trang 39Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN
SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU VÀ KIẾN NGHỊ
Mộc châu là huyện miền nùi, cao nguyên và biên giới, nằm ở hướng Đông Nam của tỉnh Sơn La Diện tích tự nhiên là 1.081,66 km2 đứng thứ 8 trong số 12 huyện, thành phố của tỉnh Sơn La Huyện Mộc Châu có Quốc lộ
6, 43 đi qua, có trung đường biên giới Việt Nam – Lào dài 40,6 km, dân số khoảng 111.000 người Phía đông giáp huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, phía nam giáp huyện Sốp Bâu, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào, phía tây giáp huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, phía bắc giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Mộc Châu có đặc điểm đặc chưng địa hình vùng miền núi Tây Bắc, chia cắt phức tạp đường xá đi lại khó khăn Mộc châu có 12 dân tộc anh em cùng sinh sống Trong đó chiếm đa số là người Thái 33%, người Mông 18%, người Kinh 15% ngoài ra còn người Dao, người Tày, người Khơ mú Về điều kiện kinh tế, xã hội đang còn nhiều khó khăn, phụ thuộc chủ yếu vào chăn nuôi, trồng trọt Trình dộ văn hóa, hiểu biết pháp luật còn hạn chế và không đồng đều Bà con dân tộc thiểu số thường sống ở vùng cao, vùng xa, nhiều hủ tục vẫn còn tồn tại trong đời sống của nhân dân như cúng ma, chữa bệnh bằng thầy mo, du canh du cư, tảo hôn giải quyết các mâu thuẫn trong đời sống bằng lệ làng Do đó là nhữn khó khăn thực tế trong công tác của TAND huyện Mộc Châu nói riêng và của huyện Mộc Châu nói chung
thẩm vụ án dân sự của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu và nguyên nhân
2.1.1 Kết quả đạt được của việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu
TAND huyện Mộc Châu trong những năm qua phải tập trung giải quyết
Trang 40một số lượng các VADS ngày càng tăng Các bản án và quyết định của Tòa
án được ban hành đúng pháp luật, khách quan, dân chủ, thấu tình đạt lý, đúng thời hạn luật định Điều này góp phần vào việc ổn định các tranh chấp dân sự trong đời sống xã hội, bảo vệ lợi ích công dân, nhà nước và xã hội Theo báo cáo tổng kết công tác của ngành Tòa án từ khi BLTTDS năm 2011 có hiệu lực thi hành cho thấy việc thụ lý và giải quyết VADS như sau:
Năm 2014, TAND huyện Mộc Châu đã thụ lý 241 vụ việc, đã giải quyết
220 vụ việc, đạt 91,28% Trong đó phải đưa ra xét xử 43 vụ
Năm 2015, TAND huyện Mộc Châu đã thụ lý 214 vụ việc, đã giải quyết
201 vụ việc, đạt 93,92% Trong đó phải đưa ra xét xử 39 vụ
Năm 2016, TAND huyện Mộc Châu đã thụ lý 253 vụ việc, đã giải quyết
228 vụ việc, đạt 90,11% Trong đó phải đưa ra xét xử 47 vụ
Năm 2017, TAND huyện Mộc Châu đã thụ lý 268 vụ việc, đã giải quyết
235 vụ việc, đạt 87,68%, Trong đó phải đưa ra xét xử 62 vụ
Khi giải quyết vụ án, về cơ bản TAND huyện Mộc Châu đã thực hiện việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm đúng các quy định của pháp luật tố tụng, cũng như áp dụng đúng các quy định của pháp luật nội dung; quan tâm làm tốt việc hướng dẫn cho các đương sự thực hiện các nghĩa vụ về cung cấp chứng cứ, đồng thời tích cực xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp cần thiết, theo quy định để giải quyết vụ án đúng pháp luật Toà án đã chú trọng làm tốt công tác hoà giải trong quá trình giải quyết các VADS, thông qua đó giúp cho việc giải quyết vụ án nhanh chóng, đồng thời góp phần củng cố mối đoàn kết trong nội bộ nhân dân
Có thể thấy tỷ lệ án sửa hủy do lỗi chủ quan qua các năm đã giảm, có được kết quả như vậy là do TAND huyện Mộc Châu đã có sự cố gắng rất lớn khi giải quyết các vụ án, đã làm tốt công tác chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS Trong thời gian chuẩn bị xét xử, TAND huyện Mộc Châu đã thực hiện đúng thời hạn, thực hiện tốt việc thông báo thụ lý VADS, phân công Thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ, tiến hành các hoạt động để lập