1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trong quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

97 462 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 6,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với giá trị pháp lý và các quy định chặt chẽ trong việc ban hành quyết định TV hình sự nên giai đoạn khởi tố kết thúc bằng việc ra quyết định TV hình sự đã xác định tiền đề pháp luật về

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN TIẾN LONG

ĐỀ TÀI KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA BỊ HẠI TRONG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Định hướng ứng dụng

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Tiến Long

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU BỊ HẠI 7

1.1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 7

1.2 Cơ sở của việc quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 24

1.3 Ý nghĩa của việc quy định và thực hiện quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 31

Kết luận chương 1 35

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA BỊ HẠI 36

2.1 Các trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu 36

2.2 Chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố 39

2.3 Nội dung và hình thức yêu cầu khởi tố 42

2.4 Hậu quả pháp lý của yêu cầu, không yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố 43

Kết luận chương 2 54

Chương 3 THỰC TRẠNG THI HÀNH VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA BỊ HẠI 55

3.1 Thực trạng thi hành pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 55

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 68

Kết luận chương 3 73

KẾT LUẬN 74

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Theo quy định của luật tố tụng hình sự khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm KTVA Quy định này phù hợp với đối tượng điều chỉnh của luật hình sự, là quan hệ xã hội giữa Nhà nước và người phạm tội Trong quan hệ này, người phạm tội có nghĩa vụ pháp lí phải chịu trách nhiệm hình sự còn Nhà nước buộc người phạm tội phải chịu nghĩa vụ pháp lí đó Như vậy, về lý luận, KTVA hình sự phải do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện mà không phụ thuộc vào ý chí của bị hại hay bất kì ai, không ai có quyền can thiệp Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp hậu quả của tội phạm không chỉ

là thiệt hại về thể chất, vật chất mà còn cả thiệt hại về tinh thần Việc KTVA để nhằm xác định sự thật của vụ án, xử lý tội phạm, người phạm tội chỉ đảm bảo về mặt bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội nhưng đối với bản thân bị hại,

là người trực tiếp bị tội phạm tác động, thì lại gây thêm nhưng tổn thất về tinh thần cho họ Trong những trường hợp như vậy, việc trao cho bị hại quyền quyết định có KTVA hay không sẽ đảm bảo được quyền và lợi ích của người này, đồng thời không làm họ phải chịu những tổn thất khác về tinh thần Quy định này không áp dụng đối với tất cả các loại tội phạm và tất cả các tội danh trong BLHS mà chỉ đối với những loại tội và tội danh nhất định

KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại là một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn rất quan trọng Quy định này trong BLTTHS năm 2015 kế thừa các quy định trước đây về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại, đồng thời có những sửa đổi, bổ sung quan trọng BLTTHS năm 2015 quy định thủ tục giải quyết những vụ

án khởi tố theo yêu cầu của bị hại khá chi tiết và cụ thể, trở thành cơ sở pháp lý quan trọng, đã và đang phát huy vai trò tích cực trong thực tiễn

Từ khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực ngày 01/01/2018, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại Lý luận về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại so với lý luận về người bị buộc tội

Trang 7

và các vấn đề khác của tố tụng hình sự chưa phát triển Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và đầy đủ về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại là yêu cầu khách quan và cần thiết, nhằm đặt vấn đề trong một chỉnh thể thống nhất, từ đó kịp thời sửa đổi, bổ sung hoàn thiện quy định của pháp luật, đáp ứng thực tiễn giải quyết vụ án

Từ những lý do nêu trên, việc tác giả chọn đề tài: “Khởi tố vụ án hình sự theo

yêu cầu của bị hại trong quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” làm luận

văn thạc sĩ luật học là có tính cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam, vấn đề TV hình sự theo yêu cầu của bị hại đã được đề cập ở những cấp độ và mức độ nghiên cứu khác nhau

Ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học, chưa có nhiều nghiên cứu về KTVA hình sự

theo yêu cầu của bị hại Gần đây, luận án tiến sỹ luật học Khởi tố theo yêu cầu của

người bị hại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam của tác giả Nguyễn Đức Thái bảo

vệ tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 là công trình nghiên cứu đầu tiên, trực tiếp và có hệ thống về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam Luận án đã phân tích khái niệm KTVA hình sự, bị hại, khởi tố theo yêu cầu của bị hại; nêu, đánh giá cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại, bản chất pháp lý và ý nghĩa của quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại Trên cơ sở lý luận, tác giả đánh giá thực trạng, nêu ra những ưu điểm và bất cập, khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng và hướng hoàn thiện những quy định về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại

Ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, có một số luận văn đã nghiên cứu trực tiếp

về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại trong tố tụng hình sự như: Khởi tố vụ án

hình sự theo yêu cầu người bị hại, những vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả

Nguyễn Đức Thái, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009; Khởi

tố vụ án hình sự theo yêu cầu người bị hại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam của

tác giả Hoàng Lan Phương, hoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009; Khởi

Trang 8

tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam

của tác giả Ma Thị Thắm, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015 Các luận văn nói trên đều đã phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại trong tố tụng hình sự; phân tích các quy định của BLTTHS năm

2003 để chỉ ra những điểm tiến bộ và bất cập, hạn chế trong các quy định đó và làm

rõ những vấn đề thực tiễn trong thực hiện quy định về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại

Ở cấp độ tạp chí chuyên ngành có nhiều bài viết về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại như: “Một số vấn đề lí luận về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của

người bị hại” của tác giả Trần Quang Tiệp (Tạp chí Kiểm sát số 01/2006); “Người

bị hại đã yêu cầu khởi tố trình bày lời buộc tội tại phiên toà theo trình tự, thủ tục nào” và “Cần sửa đổi các quy định liên quan đến quyền khởi tố theo yêu cầu của

người bị hại trong BLTTHS năm 2003” của tác giả Hoàng Thị Liên (Tạp chí Dân

chủ và Pháp luật số 8/2006 và Tạp chí Kiểm sát số 2/2008); “Một số vướng mắc khi

giải quyết vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại” của tác giả Lê Văn

Cân (Tạp chí Kiểm sát số 4/2008); “Đình chỉ điều tra vụ án khởi tố theo yêu cầu của

người bị hại khi họ rút đơn theo quy định tại khoản 2 điều 105 BLTTHS năm 2003”

của tác giả Mai Thế Bày (Tạp chí Kiểm sát số 20/2009); “Vấn đề khởi tố vụ án hình

sự theo yêu cầu người bị hại” của tác giả Nguyễn Hải Ninh (Tạp chí Luật học số

6/2010); “Vấn đề người bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án tại phiên toà trong một số

vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại” của tác giả Võ Hồng Sơn (Tạp

chí Nghề Luật số 2/2012); “Bàn về một số vấn đề về khởi tố vụ án hình sự theo yêu

cầu của người bị hại” của tác giả Phạm Thái (Tạp chí Khoa học pháp lý số 5/2012)

Những công trình khoa học trên đây, ở những mức độ khác nhau, đã đề cập những vấn đề lý luận, pháp luật cũng như thực tiễn về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam Tuy nhiên, những vấn đề pháp luật và thực tiễn trong các công trình nghiên cứu nói trên được nghiên cứu trên cơ sở quy định và thi hành BLTTHS năm 2003

Trang 9

Vấn đề KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại quy định tại BLTTHS năm

2015 mới được đề cập tại một số công trình như: Giáo trình Luật tố tụng hình sự

Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội; Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015

chủ biên Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng; Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015

chủ biên Nguyễn Văn Huyên, Lê Lan Chi Tuy nhiên, trong những công trình này, vấn đề KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại chỉ được nghiên cứu một cách khái quát nên cần những công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn Một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành gần đây, tuy có đề cập đến vấn đề khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại trong BLTTHS năm 2015 nhưng vẫn chỉ là những khía cạnh nhất định

như: “ hởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại” của tác giả Phạm Thái (Tạp

chí Luật học số 9/2016); “Bồi thường thiệt hại cho người bị buộc tội oan trong vụ

án hình sự khởi tố theo yêu cầu của bị hại” của tác giả Trần Hồng Ca (Tạp chí Nhà

nước và Pháp luật số 10/2016); “Quy định của BLTTHS năm 2015 về KTVA hình

sự theo yêu cầu của bị hại” của tác giả Lương Văn Công (Tạp chí Kiểm sát số 9/2016); “ hởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại - những vướng mắc khi thực hiện và kiến nghị khắc phục” của tác giả Vũ Gia Lâm (Tạp chí Luật học số

12/2017); “Về quy định Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại tại Điều 155

BLTTHS năm 2015” của tác giả Nguyễn Văn hánh (Tạp chí Nhà nước và Pháp

luật số 5/2017); “ hông yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố đối với các tội phạm chỉ

được khởi tố theo yêu cầu” của tác giả Mai Thanh Hiếu và Phạm Thái (Tạp chí

Khoa học pháp lý số 03/2018); “Quyền rút yêu cầu khởi tố của bị hại ở giai đoạn

xét xử phúc thẩm vụ án hình sự” của tác giả Huỳnh Thanh Đạm (Tạp chí Kiểm sát

số 15/2018)… Mặt khác, những vấn đề lý luận về KTVA hình sự theo yêu cầu của

bị hại vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu Luận văn của tác giả sẽ kế thừa và phát triển những vấn đề lý luận của những công trình nghiên cứu trước, phân tích những vấn đề pháp luật và thực tiễn mới về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại, tìm ra những điểm tiến bộ cũng như những hạn chế, bất cập trong BLTTHS năm 2015, từ

đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm thực hiện quy định về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại

Trang 10

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Luận văn xác định mục đích nghiên cứu là đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Đối tượng nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của luận văn, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu là:

- Quy định của BLTTHS năm 2015 về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại,

và những vấn đề khác có liên quan như không yêu cầu khởi tố, hậu quả pháp lý của rút yêu cầu khởi tố;

- Đánh giá việc áp dụng quy định này trong thực tiễn có những khó khăn, vướng mắc, bất cập, tồn tại gì, làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu về thời gian là các văn bản pháp luật có liên quan đến KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại, chủ yếu là BLTTHS năm 2015; số liệu giải quyết án được phân tích và đánh giá từ khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác -

Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về cải cách

tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, lịch sử để giải quyết những vấn đề đặt ra

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về mặt khoa học: Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quy

định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại trong BLTTHS năm 2015 và đề ra giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại

Trang 11

Về mặt thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở để cơ quan có

thẩm quyền nghiên cứu, vận dụng trong quá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng hình

sự Đồng thời, qua việc phát hiện những tồn tại trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự khởi tố theo yêu cầu của bị hại, luận văn đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật trong thực tiễn

Với ý nghĩa như vậy, những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo về pháp luật hình sự và tố tụng hình sự

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì luận án cấu trúc gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

THEO YÊU CẦU BỊ HẠI 1.1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Để rút ra khái niệm khởi tố tụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, trước hết cần làm rõ khái niệm bị hại và khái niệm KTVA hình sự

Về khái niệm bị hại

Trong khoa học pháp lý ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm bị hại:

Các quan điểm truyền thống cho rằng bị hại chỉ có thể là cá nhân (thể nhân)

mà không thể là cơ quan, tổ chức:

Theo tác giả Vũ Gia Lâm: “Người bị hại” được hiểu…là khái niệm dùng để

chỉ con người cụ thể, cá nhân bị tội phạm gây thiệt hại trực tiếp về thể chất, tinh

Theo tác giả Nguyễn Đức Thái: “Người bị hại là cá nhân bị hành vi phạm tội

trực tiếp tác động, gây ra các thiệt hại cụ thể và xác định được về thể chất, tinh thần, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác được pháp luật quy định”.2

Trong Từ điển giải thích thuật ngữ luật học pháp lí, người bị hại được xác định

là: “Người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra

Người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản chứ không thể là pháp nhân”.3

Các quan điểm khác thì cho rằng bị hại không chỉ là cá nhân mà còn có thể là

cơ quan, tổ chức:

1 Vũ Gia Lâm (2011), “Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự

Việt Nam, Luật học, (11), tr 29

2

Nguyễn Đức Thái (2015), Khởi tố vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Luật

học, Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr 33

3 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

tr 198

Trang 13

Theo tác giả Lê Tiến Châu: “Người bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt

hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”.4

Theo tác giả Lê Nguyên Thanh “Người bị hại là cá nhân, tổ chức bị tội phạm

trực tiếp gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản Người bị hại được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng công nhận khi xác định có dấu hiệu thiệt hại”.5

Trong quy định của BLTTHS hiện hành, bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại

về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín

do tội phạm gây ra hoặc đe doạ gây ra

Tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng bị hại không chỉ là cá nhân (thể nhân)

mà còn có thể là cơ quan, tổ chức Việc quy định vậy sẽ tháo gỡ được những vướng mắc trong thực tế quá trình tố tụng

Về nội dung, bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản Bị hại là cá nhân, một con người cụ thể đang tồn tại trong xã hội, cá nhân có thể là công dân Việt Nam hoặc người không có quốc tịch Việt Nam nhưng phải là người đang sống Theo pháp luật Việt Nam, sự tồn tại đó bắt đầu từ khi người ta sinh ra còn sống và kết thúc khi được xác định là đã chết.6

Thiệt hại do tội phạm gây ra cho cá nhân có thể là thiệt hại về thể chất (như tính mạng, sức khoẻ, bệnh tật); có thể là thiệt hại về tinh thần (uy tín, danh dự, nhân phẩm); tài sản thuộc quyền sở hữu của người đó (bị mất, chiếm đoạt, hư hỏng); hoặc thiệt hại về các quyền và lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật

Sự thiệt hại đó phải là thiệt hại trực tiếp do chính tội phạm gây ra, thiệt hại có mối liên hệ nhân quả với hành vi phạm tội Đối với thiệt hại về tinh thần thì thiệt hại thường không cụ thể, không có thể định lượng được Vì vậy, ngay cả trong trường

4 Lê Tiến Châu (2007), “Người bị hại trong tố tụng hình sự”, Khoa học pháp lí, (1), tr.38

5 Lê Nguyên Thanh (2012), Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án

tiến sĩ luật học, Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, tr 27 Dẫn theo: Võ Thị im Oanh, Ngô Quang Cảnh (2016), “Một số điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bị hại, đương sự

trong vụ án hình sự”, Khoa học pháp lý, (9), tr 67

6 Trần Thu Hạnh (2017), “Bị hại trong BLTTHS năm 2015 và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật”, Khoa

học Đại học quốc gia Hà Nội, (tập 33, số 2), tr 56

Trang 14

hợp tội phạm chưa gây ra thiệt hại thì cá nhân có nguy cơ bị xâm hại cũng được coi

là bị hại

Bị hại là cơ quan, tổ chức phải được thành lập, hoạt động một cách hợp pháp

và đang tồn tại vào thời điểm bị thiệt hại Bị hại là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về

tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra Việc dùng thuật ngữ “bị” thể

hiện những tác động gây ra thiệt hại phải mang tính tiêu cực từ bên ngoài mà cá nhân, cơ quan, tổ chức không mong muốn tiếp nhận nó

Về hình thức, người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản; cơ quan, tổ chức

bị thiệt về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra nhưng phải được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định là bị hại thì mới được coi là bị hại

Tổng hợp các yếu tố trên, có thể hiểu một cách khái quát bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra

Từ những phân tích nêu trên về bị hại, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của bị hại như sau:

- Thứ nhất, bị hại là cá nhân đang tồn tại vào thời điểm bị thiệt hại

Bị hại là cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch và phải là người đang sống, nghĩa là trước thời điểm sinh ra (thai nhi) và khi người đã chết (tử thi) hoặc đã chết do hành vi phạm tội gây ra không được gọi là bị hại Hành vi loại bỏ thai nhi hoặc xâm hại đến tử thi thì thai nhi và tử thi đó không phải là bị hại; Cá nhân đã chết do hành vi phạm tội gây ra không phải

là bị hại

- Thứ hai, bị hại là cơ quan, tổ chức phải được thành lập, hoạt động một cách

hợp pháp đang tồn tại vào thời điểm bị thiệt hại

Một trong những thay đổi về nhận thức trong BLTTHS năm 2015, đó là bị hại không chỉ là cá nhân mà còn là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín Cũng

có ý kiến cho rằng, bị hại phải là thể nhân chứ không thể là cơ quan hay tổ chức, vì

cơ quan, tổ chức thì không bị thiệt hại về thể chất Tuy nhiên, bị hại phải được hiểu

Trang 15

là con người pháp lý chứ không chỉ là con người tự nhiên nên bị hại có thể là cá nhân hay cơ quan, tổ chức.7

Cơ quan, tổ chức có thể có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân

“Pháp nhân là một tổ chức thống nhất, độc lập, hợp pháp có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.” 8

- Thứ ba, thiệt hại của bị hại là thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản, uy tín

trực tiếp do tội phạm gây ra hoặc đe doạ gây ra

Thiệt hại do tội phạm gây ra đó là những đối tượng tác động trực tiếp của tội phạm khi xâm phạm khách thể của luật hình sự Thiệt hại đó phải là thiệt hại trực tiếp, điều đó thể hiện: thiệt hại phải là hậu quả của hành vi phạm tội thì mới được coi là thiệt hại trực tiếp Giữa hành vi phạm tội và thiệt hại xảy ra hoặc đe doạ xảy

Thiệt hại gây ra phải là những thiệt hại cụ thể, thiệt hại đó phải có tính hiện tại

và xác định được Điều cơ bản khi xác định thiệt hại của bị hại là sự thiệt hại do một tội phạm được quy định trong luật hình sự, xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của người bị thiệt hại, các quyền được pháp luật bảo vệ Tuy nhiên, các thiệt hại về tinh thần, uy tín, danh dự thường không cụ thể và định lượng chỉ mang tính tương đối Vì vậy, không chỉ trong trường hợp tội phạm đã trực tiếp gây ra thiệt hại mà khi chưa gây ra thiệt hại thì cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng được coi là bị hại

Thiệt hại ở đây có thể là thiệt hại về sức khoẻ (do bị gây thương tích, gây tai nạn hay bị người phạm tội vi phạm quy tắc nghề nghiệp gây ra…), cũng có thể là thiệt hại về tính mạng (trong trường hợp hành vi tước bỏ tính mạng trái pháp luật

9 Thịnh Quang Thắng (2010), Người bị hại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học,

hoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, tr 9

Trang 16

người khác của người phạm tội nhưng trên thực tế bị hại không chết); thiệt hại về tinh thần (như bị người phạm tội lăng nhục, vu khống, bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín…); cũng có thể là thiệt hại đối với tài sản Mỗi loại thiệt hại này, thể hiện tính chất, mức độ xâm hại đến một loại khách thể tương ứng được luật hình sự bảo vệ

- Thứ tư, thiệt hại của bị hại phải là hậu quả trực tiếp và có mối quan hệ nhân

quả với hành vi phạm tội

Bị hại bị hành vi phạm tội gây thiệt hại, nhưng không phải mọi trường hợp chủ thể bị hành vi phạm tội gây thiệt hại đều là bị hại Bị hại phải là đối tượng tác động mà hành vi phạm tội hướng tới xâm hại, đồng thời hành vi phạm tội phải trực tiếp gây ra thiệt hại cho bị hại hoặc đe doạ gây ra thiệt hại, và nó có mối quan hệ

Để xác định bị hại thì thiệt hại mà tội phạm gây ra phải là thiệt hại trực tiếp Nghĩa là thể chất, tinh thần, tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức phải là đối tượng

mà tội phạm gây thiệt hại hoặc hướng đến gây thiệt hại

Thiệt hại trực tiếp này phải có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội thì

cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại mới được coi là bị hại nếu không chỉ có thể là nguyên đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

- Thứ năm, hành vi xâm hại đến bị hại phải là hành vi phạm tội, được quy định

trong BLHS

Không phải tất cả các hành vi xâm hại tới thể chất, tinh thần, tài sản, uy tín, danh dự và các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, cơ quan, tổ chức đều bị coi là tội phạm Chỉ những hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội và được BLHS ghi nhận thì mới bị coi là tội phạm Hành vi chỉ có thể bị coi là tội phạm nếu đã được quy định trong BLHS Còn những vi phạm khác tuy có tính nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải là tội phạm thuộc lĩnh vực điều chỉnh của các ngành luật khác

10 Nguyễn Đức Thái (2015), tlđd chú thích số 2, tr 36

Trang 17

Bị hại phải là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm được BLHS ghi nhận gây ra Nếu không, chỉ là trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh của các ngành luật khác điều chỉnh

- Thứ sáu, người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc cơ quan, tổ

chức bị thiệt hại về tải sản, uy tín do hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra chỉ trở thành bị hại trong tố tụng hình sự khi chủ thể đó được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng công nhận là bị hại (thông qua giấy triệu tập) Trường hợp hành vi phạm tội không bị phát hiện và xử lý hoặc trường hợp không xác định được người

bị thiệt hại thì mặc dù trên thực tế có người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản

- Thứ bảy, để bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị hại, pháp luật tố tụng hình sự

đã dự liệu trong trường hợp bị hại chết, mất tích, mất hoặc hạn chế năng lực hành vi

dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị hại

Cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sát nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định

Về khái niệm khởi tố vụ án hình sự

Tố tụng hình sự là trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý một cách công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội Trình

tự, thủ tục đó được chia thành các giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, TV hình sự là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng hình sự

hi đề cập đến “giai đoạn” trong một quá trình nào đó người ta phải chỉ ra

thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của nó cùng với mục đích, nhiệm vụ, kết quả cần đạt được cũng như cách thức tiến hành để đạt được mục đích đã đặt ra Giai

11 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, tr 148-149

Trang 18

đoạn TV hình sự được bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin

về tội phạm và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự mà quyết định này không bị hủy bỏ theo quy định của pháp luật

Quyết định KTVA hình sự là văn bản pháp lý kết thúc giai đoạn TV , mở ra giai đoạn điều tra Hay nói cách khác quyết định TV hình sự là cơ sở pháp lý để tiến hành điều tra Sau khi có quyết định KTVA hình sự, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới được phép áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự để tiến hành điều tra vụ án Trừ các trường hợp trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động trước khi KTVA như: thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin; khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản

Như vậy thuật ngữ “KTVA hình sự” dùng để chỉ một giai đoạn của quá trình

tiến hành tố tụng hình sự Còn quyết định TV hình sự là một quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền ban hành

Tác giả Lê Cảm đưa ra khái niệm: “KTVA hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự

đầu tiên mà trong đó cơ quuan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó.12

Theo Từ điển Luật học, “KTVA hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, mở

đầu các hoạt động điều tra Trong giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành các hoạt động để xác định dấu hiệu của tội phạm”.13

12 Lê Cảm (2004), “Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự”, Kiểm sát, (2), tr 26-27

13 Viện nghiên cứu hoa học Pháp lý Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, Nxb Tư pháp, Nxb Từ điển

bách khoa, Hà Nội, tr 429

Trang 19

Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà nội

đưa ra khái niệm: “KTVA hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó

cơ quan có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra có hay không có dấu hiệu tội phạm

để quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự”.14

Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của hoa Luật Đại học Quốc gia Hà

Nội đưa ra khái niệm: “KTVA hình sự là giai đoạn ban đầu của quá trình tố tụng

hình sự, trong giai đoạn này các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xác định sự việc có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự nhằm khẳng định về mặt pháp

lý có hay không có tội phạm xảy ra”.15

Theo tác giả Lê Lan Chi, “KTVA hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự,

trong đó các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để quyết định việc khởi tố vụ án, giai đoạn này mở đầu bằng hoạt động tiếp nhận thông tin về tội phạm và kết thúc bằng việc ra quyết định khởi tố hoặc không KTVA hình sự”.16

Tuy có sự khác nhau, nhưng các khái niệm trên đều có chung nội hàm: Thứ

nhất, đây là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự; Thứ hai, trong giai đoạn này cơ

quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định có sự việc phạm tội xảy ra hay

không; Thứ ba, trên cơ sở những căn cứ và trình tự, thủ tục của luật tố tụng hình sự,

cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ban hành quyết định KTVA hình sự sau khi xác định dấu hiệu của tội phạm, quyết định không KTVA hình sự sau khi xác định không có dấu hiệu của tội phạm hoặc có các căn cứ khác theo quy định của

pháp luật Trong trường hợp đặc biệt, khi xác định “những hành vi tuy có dấu hiệu

tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể…” thì không KTVA

16 Lê Lan Chi (2010), Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt

Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, hoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, tr 20

Trang 20

Từ nội hàm khái niệm KTVA hình sự nêu trên, có thể rút ra những đặc điểm của KTVA hình sự như sau:

- Thứ nhất, Với tính chất là một giai đoạn độc lập và đầu tiên của tố tụng hình

sự, giai đoạn KTVA hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể để xác định tiền đề về pháp luật nội dung (vật chất) và về pháp luật về hình thức (tố tụng) của việc điều tra vụ án hình sự.17

Chỉ được TV khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Dấu hiệu tội phạm là tiền đề pháp luật về nội dung, việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên nguồn tin về tội phạm gồm: tố giác của cá nhân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; Người phạm tội tự thú

Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền

Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan,

tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng

Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm

Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm

là trường hợp trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đã phát hiện

sự việc có dấu hiệu tội phạm

Người phạm tội tự thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan,

tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện

17 Lê Cảm (2004), “Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự”, Kiểm sát, (2), tr 26-27

Trang 21

Sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo đúng trình tự, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin, tùy từng sự việc mà đề ra biện pháp kiểm tra, xác minh phù hợp Khi hết thời hạn kiểm tra, xác minh thông tin về tội phạm, xác định có dấu hiệu của tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền TV hình sự phải ra quyết định khởi tố; nếu không có dấu hiệu tội phạm hoặc có các căn cứ khác theo quy định của pháp luật thì

ra quyết định không TV hình sự, đây là các văn kiện tố tụng đặc trưng của giai đoạn TV Trong trường hợp đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả và đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không TV nhưng chưa có kết quả thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Dấu hiệu tội phạm được xác định trong giai đoạn TV hình sự là cơ

sở, căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành hoạt động điều tra, nói cách khác giai đoạn TV hình sự đã xác định tiền đề pháp luật về nội dung của việc điều tra

để kiểm tra, xác minh nguồn tin; khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản có thể thực hiện trước khi KTVA Quyết định TV hình sự là văn bản pháp lý làm cơ sở để tiến hành một cách hợp pháp các hoạt động tiếp theo nhằm làm rõ vụ án hình sự và là cơ sở pháp lý trực tiếp của các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự phát sinh liên quan đến việc giải quyết vụ án Chính vì vậy, quyết định TV hình sự phải tuân theo quy định chặt

18 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, tr 274

Trang 22

chẽ khi ban hành, quyết định KTVA hình sự phải ghi rõ căn cứ khởi tố, điều, khoản của BLHS được áp dụng và các nội dung số, ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành văn bản tố tụng; căn cứ ban hành văn bản tố tụng; nội dung của văn bản tố tụng; họ

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố

Ngày TV hình sự là thời điểm bắt đầu để tính thời hạn điều tra vụ án Sau khi ra quyết định KTVA, hàng loạt các biện pháp tố tụng trong đó có cả những biện pháp cưỡng chế đối với người thực hiện tội phạm sẽ được áp dụng Với giá trị pháp

lý và các quy định chặt chẽ trong việc ban hành quyết định TV hình sự nên giai đoạn khởi tố kết thúc bằng việc ra quyết định TV hình sự đã xác định tiền đề pháp luật về hình thức của việc điều tra vụ án hình sự.20

- Thứ hai, giai đoạn TV hình sự được bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm

quyền tiếp nhận được tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và kết thúc bằng quyết định TV hình sự hoặc quyết định không TV hình sự đối với hành

vi đó,21 mà quyết định này không bị hủy bỏ theo quy định của pháp luật

Thời hạn dành cho giai đoạn TV hình sự được luật quy định cụ thể để hạn chế việc kéo dài từ đó dẫn đến ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người chịu tác động của hành vi phạm tội, đặc biệt là bị hại, bảo đảm nguyên tắc trách nhiệm TV hình sự

Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: quyết

Trang 23

định KTVA hình sự; quyết định không KTVA hình sự; quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn quy định tại khoản này thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng

Chậm nhất là 05 ngày trước khi hết thời hạn kiểm tra, xác minh quy định tại khoản này, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát

có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh

Vai trò và ý nghĩa của giai đoạn KTVA hình sự được thể hiện chủ yếu ở các mặt như sau:

- Thứ nhất, khởi tố đúng đắn và kịp thời là một trong những bảo đảm quan

hoạt động tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án không được tiến hành khẩn trương, chậm trễ, không đầy đủ sẽ có thể không phát hiện ra dấu hiệu tội phạm, dẫn đến việc ra quyết định không khởi tố vụ án, bỏ lọt tội phạm

- Thứ hai, TV xác lập cơ sở pháp lí để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố

tụng tiến hành các hoạt động điều tra Chỉ khi TV thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mới được phép tiến hành đầy đủ hoạt động điều tra mà BLTTHS quy định để giải quyết vụ án, trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm BLTTHS quy định chỉ được tiến hành là một số hoạt điều tra

- Thứ ba, TV hình sự cũng góp phần loại trừ một thái cực khác trong tố

tụng hình sự, ngăn chặn kịp thời việc thông qua quyết định TV hình sự một cách

22 Võ hánh Vinh (chủ biên, 2012), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, tr

198

Trang 24

thiếu cân nhắc kỹ, vội vàng và do vậy, có thể sẽ kéo một loạt hậu quả tiêu cực tiếp theo trong việc truy cứu tố tụng hình sự ở các giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo.23

- Thứ tư, TV góp phần tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền con người,

cá nhân, cơ quan, tổ chức Việc quy định trình tự, thủ tục giai đoạn TV một cách chặt chẽ bảo đảm pháp luật được tôn trọng, thực thi một cách nghiêm túc từ phía các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng như những người liên quan Trên

cơ sở đó đảm bảo quyền lợi cho nhà nước, cá nhân, cơ quan, tổ chức

Về khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Khi có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan có thẩm quyền KTVA hình sự để mọi tội phạm đều bị xử lí kịp thời, đây là một nguyên tắc của luật tố tụng hình sự Việc KTVA hình sự không phụ thuộc vào bị hại có đồng ý hay không

Tuy nhiên, trong thực tế, không ít trường hợp việc TV để truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi phạm tội có thể gây thêm những tổn thất khác cho bị hại Vì thế, pháp luật đã quy định một số trường hợp tội phạm ít nghiêm trong, xâm phạm đến danh dự nhân phẩm con người cho phép KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại, tạo điều kiện cho bị hại được lựa chọn cách giải quyết.24 Trong những trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền chỉ được KTVA khi có yêu cầu của

bị hại Chỉ khi bị hại yêu cầu khởi tố thì người phạm tội mới bị đưa ra xử lý, còn nếu bị hại không yêu cầu thì cơ quan có thẩm quyền được TV và người phạm tội

sẽ không bị xử lý

Trong khoa học luật tố tụng hình sự nước ta, KTVA hình sự theo yêu cầu của

bị hại là trường hợp đặc biệt của KTVA hình sự và nguyên tắc Nhà nước thực hiện quyền công tố KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại có sự khác biệt so với các trường hợp KTVA hình sự thông thường, đây là trường hợp TV có điều kiện Đối với trường hợp KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại, ngoài căn cứ để KTVA hình sự như trong các trường hợp khác là phải có dấu hiệu của tội phạm thì còn phải

23 Lê Cảm (2004), “Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự”, Kiểm sát, (2), tr 27

24 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 280

Trang 25

có yêu cầu của bị hại Yêu cầu của bị hại có thể được trình bày bằng văn bản hoặc bằng lời.25

Hành vi có dấu hiệu tội phạm là có tính nguy hiểm cho xã hội và hành vi này được mô tả trong cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự Tội phạm chỉ được khởi tố khi bị hại yêu cầu là một số tội phạm do BLTTHS quy định

mà việc khởi tố theo yêu cầu của bị hại, những trường hợp TV theo yêu cầu của

bị hại chỉ trong giới hạn Nhà nước và xã hội chấp nhận được để bảo đảm mọi hành

nhân phẩm của cá nhân, hoặc tài sản, uy tín của cơ quan, tổ chức có tính nguy hiểm không cao hi phát hiện ra hành vi có dấu hiệu của tội phạm, các cơ quan tiến hành tố tụng không tự ý quyết định việc TV hình sự như trong trường hợp khác

Để TV hình sự đối với những tội khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì ngoài căn cứ vào dấu hiệu của tội phạm phải có yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc đại diện của bị hại, đây là yếu tố quan trọng, làm phát sinh việc TV và là cơ sở để chấm dứt việc truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp nhất định

Từ nhận thức về KTVA và nhận thức chung về bị hại, cũng như vai trò của bị hại trong tố tụng hình sự, tác giả rút ra khái niệm về KTVA hình sự theo yêu cầu

của bị hại như sau: KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại là trường hợp đặc biệt

của KTVA hình sự, áp dụng đối với một số tội phạm xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và một số quyền nhân thân của bị hại là cá nhân hoặc tài sản, uy tín của bị hại là cơ quan, tổ chức, theo đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi xác định có dấu hiệu của tội phạm chỉ được ra quyết định KTVA hình sự khi có yêu cầu của bị hại

Khái niệm trên thể hiện một số đặc trưng cơ bản của KTVA theo yêu cầu của

bị hại trong tố tụng hình sự như sau:

25 Mai Bộ (1999), “Bàn về khởi tố theo yêu cầu của người bị hại”, Kiểm sát, (3), tr 30

26 Trần Quang Tiệp (2006), “Một số vấn đề lý luận về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại”, Kiểm sát,

(01), tr.29

Trang 26

- Thứ nhất, KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại là một quy định đặc biệt so

với quy định chung về KTVA hình sự và một số nguyên tắc chung được quy định trong BLTTHS

KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại không như các trường hợp KTVA hình

sự thông thường khác, do tính chất của vụ án và vì lợi ích của người bị hại, cơ quan

có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có (hay không có) dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, làm cơ sở để ban hành quyết định về việc TV hình sự liên quan đến hành vi đó Tuy nhiên, Cơ quan tiến hành tố tụng không tự ý TV hình sự, điểm khác biệt là phải có yêu cầu khởi tố của bị hại trước khi ban hành quyết định KTVA hình sự Quy định này có tính biệt lệ so với quan niệm chung về quan hệ pháp luật hình sự

Quan hệ pháp luật hình sự được hiểu là quan hệ xã hội giữa Nhà nước và người phạm tội hi có sự kiện phạm tội xảy ra – một loại quan hệ xã hội đặc biệt

quan hệ pháp luật hình sự, Nhà nước mới là chủ thể có thẩm quyền quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, thể hiện ở nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự, với yêu cầu đặt ra

“Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án,

áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội”

Mặc dù đó nguyên tắc chung, nhưng trong các vụ án khởi tố theo yêu cầu của

bị hại thì việc KTVA phụ thuộc vào ý chí bị hại Cơ quan có thẩm quyền tiến hành

tố tụng chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị hại

là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết Nghĩa là nếu bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu thì cơ quan có

27 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, tr 11

Trang 27

thẩm quyền không được KTVA Quy định KTVA hình sự theo yêu cầu bị hại như vậy có mâu thuẫn với quan niệm chung về quan hệ pháp luật hình sự thể hiện ở nguyên tắc về trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hay không?

TV hình sự theo yêu cầu bị hại không mâu thuẫn với nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự Đây là sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích chung của toàn xã hội và lợi ích của bị hại, khi lợi ích của bị hại không mâu thuẫn với lợi ích chung

Về nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án nhằm bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, nó bắt buộc mọi chủ thể thực hiện hành vi phạm tội đều phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước Nhà nước giao trách nhiệm cho TV hình sự cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thay mặt mình, cam kết bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân, thể hiện ở việc TV khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm và áp dụng các biện pháp cần thiết được pháp luật quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, mọi hành vi phạm tội xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại sẽ bị Nhà nước xử lý theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự Tuy nhiên, khi xem xét những quy định TV hình sự theo yêu cầu của bị hại nhận thấy: 1 TV theo yêu cầu của bị hại chỉ giới hạn trong trong những vụ án

mà đối tượng tác động của tội phạm trước tiên và trên hết là các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân bị hại, không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội trên bình diện chung; 2 bị hại là cá nhân, cơ quan,

tổ chức mặc dù có quyền và lợi ích bị xâm hại nhưng nếu TV và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong trường họ sẽ có khả năng phải gánh chịu những bất lợi lớn hơn; 3 trong một số việc TV hình sự và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện tội phạm không đem lại hiệu quả bằng việc không cần thiết phải xử lý bằng hình sự mà vẫn đạt được mục đích của luật hình

sự.28

28 Lê Lan Chi (2010), Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt

Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, hoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 29

Trang 28

Do vậy việc dành cho bị hại quyền yêu cầu hay không yêu cầu khởi tố người phạm tội không mâu thuẫn với nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc trách nhiệm khởi tố

vụ án Quy định này vừa đạt mục tiêu ổn định xã hội, vừa bảo vệ và thỏa mãn lợi ích của bị hại Đây là sự kết hợp giữa lợi ích chung của toàn xã hội và lợi ích của bị hại

- Thứ hai, quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại áp dụng đối với các

trường hợp phạm tội có tính chất nguy hiểm không cao

Đó là một số trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xâm hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền sở hữu công nghiệp của bị hại và không có các tình tiết tăng nặng.29

Tùy tình hình thực tế và chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước trong mỗi giai đoạn mà các tội danh KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại thay đổi cho phù hợp, trước đây BLTTHS năm 1988 quy định 6 tội, BLTTHS năm 2003 đã nâng lên thành 11 tội, BLTTHS năm 2015 hiện hành quy định 10 tội Các tội danh thuộc trường hợp KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại sẽ luôn cập nhật, thay đổi, bổ sung, tùy theo các điều kiện kinh tế xã hội và sự phát triển của đất nước, cũng như những thay đổi về nhận thức trong quá trình xây dựng pháp luật

- Thứ ba, yếu tố ý chí của bị hại hoặc đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi,

người có nhược điểm về tâm thần và thể chất hoặc đã chết có vai trò quan trọng, là điều kiện để KTVA hình sự, cũng như căn cứ quan trọng chấm dứt việc giải quyết

vụ án

Đối với các vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, ý chí của bị hại hoặc đại diện của bị hại tuy không phải là căn cứ để KTVA hình sự nhưng đây là điều kiện bắt buộc phải có trước khi KTVA Chỉ KTVA khi họ có yêu cầu khởi tố, còn nếu bị hại, người đại diện không yêu cầu thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết không khởi

tố vụ án Đồng thời, khi bị hại rút yêu cầu thì đó là cơ sở chấm dứt việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm không

29 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, tr 281

Trang 29

giới hạn ở giai đoạn tố tụng nhất định Như vậy có thể nói, ý chí của bị hại là điều kiện pháp lý làm phát sinh việc KTVA hình sự, cũng là cơ sở để chấm dứt việc giải quyết vụ án theo trình tự tố tụng hình sự trong những trường hợp nhất định

1.2 Cơ sở của việc quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Quy định TV hình sự theo yêu cầu của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam được thiết lập trên cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây:

Về cơ sở lý luận

Pháp luật hình sự và tố tụng hình sự của bất cứ quốc gia nào cũng đều hướng đến mục tiêu phòng ngừa tội phạm, phát hiện và xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội, nhằm bảo vệ chế độ chính trị, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức Trong đó, bảo vệ bị hại là một trong những mục tiêu và nhiệm vụ mà pháp luật hướng tới Bảo vệ bị hại không chỉ đơn thuần là trừng trị người phạm tội tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả mà họ đã gây ra cho bị hại, mà trong một số trường hợp còn phải xem xét đến nguyện vọng của bị hại

Nghiên cứu pháp luật ở một số nước quy định về vấn đề TV theo yêu cầu của bị hại ở một số nước như Liên bang Nga, Nhật Bản ta thấy rằng những trường hợp TV hình sự theo yêu cầu của bị hại được quy định rộng hơn so với các trường hợp tương ứng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Trong pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga còn có những quy định cụ thể về vụ án công tố, công –

tư tố và vụ án tư tố.31

Pháp luật tố tụng hình sự của Trung Quốc thì chia các vụ án có tính chất tư tố thành ba loại: thứ nhất, là các vụ án chỉ khởi tố khi có đơn tố cáo (gồm các tội về làm nhục; phỉ báng người khác; dùng vũ lực can thiệp vào tự do hôn nhân của người khác; tội ngược đãi các thành viên trong gia đình; tội chiếm đoạt tài sản); thứ hai, là các vụ án ít nghiêm trọng và người bị hại phải có chứng cứ chứng minh sự

30 Nguyễn Đức Thái (2015), tlđd chú thích số 2, tr 47

31 Trần Quang Tiệp (2006), “Một số vấn đề lý luận về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại”, Kiểm sát,

(01), tr.32

Trang 30

thật của vụ án Nếu không vụ án sẽ được xử lí bằng công tố; thứ ba, là các vụ án mà người bị hại có chứng cứ chứng minh rằng bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình

sự vì xâm phạm đến các quyền nhân thân và tài sản của họ, trong khi đó cơ quan công an, hoặc Viện kiểm sát nhân dân lại không truy cứu trách nhiệm hình sự của bị cáo Loại vụ án này vốn là do cơ quan công an hoặc Viện kiểm sát điều tra vụ án Sau khi kết thúc điều tra thì do Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo trình tự công tố, nhưng thực tế thì cơ quan công an, hoặc Viện kiểm sát lại không TV hoặc trong khi điều tra đã xóa bỏ vụ án hoặc Viện kiểm sát ra quyết định không truy tố bị can,

mà bị hại có chứng cứ chứng minh rằng bị can phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp này, bị hại có thể lên Tòa án truy tố trực tiếp, tòa án phải thụ lý những vụ việc như vậy.32

Ở nước ta, tố tụng hình sự lấy nguyên tắc công tố là nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất, nghĩa là Nhà nước toàn quyền quyết định việc buộc tội Buộc tội, với tư cách là một chức năng tố tụng, nhằm truy tố một cá nhân, pháp nhân cụ thể

và buộc người đó phải chịu trách nhiệm hình sự khi người này thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Nhà nước quyết định việc buộc tội, nhưng vẫn dành cho bị hại quyền yêu cầu khởi tố hay không TV hình sự đối với một số tội phạm Yêu cầu khởi tố của bị hại là điều kiện để TV hình sự, khởi phát hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội là tội phạm Đây là quyền buộc tội của bị hại, có tính chất “tư tố”, là điều

kiện phát sinh quyền công tố của Nhà nước nhưng nằm trong giới hạn của quyền công tố, vì bị hại chỉ có quyền yêu cầu KTVA hình sự, sau đó vụ án được giải quyết theo thủ tục chung Nghĩa là quyền tư tố nằm trong giới hạn và không làm mất đi quyền công tố của Nhà nước Hay nói cách khác, cơ sở lý luận của việc hình thành quy định TV hình sự theo yêu cầu của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam chính là sự kết hợp giữa quyền công tố và quyền tư tố trong tố tụng hình sự.33

32 Ngũ Hồng Quang (2009), “Tư tố trong tố tụng hình sự Trung Quốc”, Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội –

Luật học, (25), tr 254-255

33 Nguyễn Đức Thái (2015), tlđd chú thích số 2, tr 47-48

Trang 31

Quyền công tố là một bộ phận của quyền lực Nhà nước, đây là quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hình sự, gắn liền với sự buộc tội nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) Về bản chất, công tố nghĩa là nhân danh quyền lực công truy tố trước tòa những hành vi tội phạm, thông qua đó thể hiện thái độ, quan điểm và sự phản ứng của công quyền đối với hành vi vi phạm pháp luật mang tính tội phạm, bị truy cứu theo quy định của BLHS.34

Cùng với hình thức buộc tội nhân danh Nhà nước (quyền lực công) do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thay mặt Nhà nước thực hiện, trong tố tụng hình sự còn có hình thức buộc tội nhân danh cá nhân, với quyền tư tố do tư nhân thực hiện Quyền tư tố được pháp luật tố tụng hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận Tuy nhiên, trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam chưa đề cập nhiều, cũng một phần bởi lý do luật thực định ở Việt Nam không nhắc đến cụm

từ“tư tố”

Do chỉ có sự khác nhau về chủ thể tiến hành buộc tội, từ nội hàm khái niệm

“quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy tố trước tòa những hành vi tội phạm” đã nêu trên, có thể thấy tư tố chính là hoạt động truy tố do

cá nhân (tư nhân) thực hiện, và quyền tư tố là quyền của cá nhân được Nhà nước cho phép nhằm thực hiện việc truy tố đối với người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm.35

Cho đến nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, tư tố vẫn tồn tại song song với công tố, nhưng vai trò và phạm vi áp dụng của nó dần thu hẹp lại Hiện nay, tố tụng hình sự vận hành chủ yếu dựa vào công tố, tư tố chỉ còn giữ vai trò thứ yếu

gia mà quyền tư tố được ghi nhận ở những mức độ khác nhau

34 Viện nghiên cứu lập pháp Ủy ban thường vụ Quốc hội (2016), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam năm 2013 và thành tựu lập pháp trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, tr 428

35 Nguyễn Đức Thái (2015), tlđd chú thích số 2, tr 49-50

36 Ngũ Hồng Quang (2009), “Tư tố trong tố tụng hình sự Trung Quốc”, Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội –

Luật học, (25), tr 254

Trang 32

Như vậy, cùng với sự phát triển của xã hội, vị trí pháp lí của quyền công tố và quyền tư tố đã có sự thay đổi rất cơ bản Tư tố, từ vị trí chủ yếu trong pháp luật hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ bị công tố vượt qua Ngày nay, công tố trong pháp luật tố tụng hình sự trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có vị trí chủ yếu trong việc truy tố, nhưng từ thực tiễn, cũng như lý luận thấy rằng tư tố có vai

trò và giá trị riêng trong tố tụng hình sự nên vẫn tiếp tục tồn tại như một hình thức

tố tụng hỗ trợ, bổ sung cho công tố Thực tế hiện nay cho thấy cần thiết phải tiếp tục duy trì, phát triển quyền tư tố trong tố tụng hình sự, giữa công tố và tư tố phải đặt quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội lên trước tiên, trong đó có tính đến quyền

và lợi ích của người bị tội phạm gây thiệt hại đặc biệt là bị hại, cần tránh việc quá

đề cao quyền tư tố hoặc coi nhẹ tư tố Từ đó, quy định phạm vi của quyền tư tố, các đảm bảo để thực hiện quyền tư tố cho phù hợp

Trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, không đề cập đến tư tố, nhưng quy định

“KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại” Tuy nhiên, đây không phải là quyền tư tố

đúng với ý nghĩa “tư tố”, mà chỉ có một số quyền nhất định đối với việc truy tố

người có hành vi phạm tội đó là quyền KTVA hình sự, sau khi KTVA hình sự, vụ

án vẫn được giải quyết theo thủ tục chung Quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại được hình thành từ BLTTHS năm 1988, và tiếp tục được bổ sung, phát triển trong BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015

Quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại được áp dụng đối với hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, thuộc nhóm tội xâm phạm sức khoẻ, danh

dự, nhân phẩm của con người, xâm phạm đến quyền sở hữu công nghiệp Bị hại tuy vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng chỉ có quyền quyết định trong việc KTVA hình

sự Trên cơ sở có sự tiếp thu những điểm tiến bộ trong quy định về quyền tư tố trên thế giới, đã dung hòa và tránh được quá đề cao hoặc hạ thấp quyền tư tố, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh Việt Nam

Về cơ sở thực tiễn

Ở nước ta, trước khi có BLTTHS năm 1988, bị hại không được pháp luật quy định có quyền yêu cầu TV hình sự, mà thậm chí trong nhiều trường hợp bị hại

Trang 33

làm đơn xin giảm nhẹ hoặc miễn hình phạt một cách có tình, có lý cho người phạm tội cũng không được chấp nhận Lúc đó, quan niệm phổ biến là không chấp nhận việc TV hình sự theo yêu cầu của người bị hại Quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội, trong đó với tình chất là người bảo vệ lợi ích của toàn xã hội, Nhà nước có quyền khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính

Qua nghiên cứu, tham khảo pháp luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới và tổng kết thực tiến xét xử vấn đề TV theo yêu cầu của hị hại chính thức

được ghi nhận tại Điều 88 BLTTHS năm 1988, điều luật quy định: “Những vụ án

về các tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 109; đoạn 1 khoản 1 Điều 112; đoạn 1 khoản 1 Điều 113; khoản 1 Điều 116; khoản 1 Điều 117 và Điều 126 Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại

… Trong trường hợp cần thiết, tuy người bị hại rút yêu cầu, Viện kiểm sát hoặc Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.”

Đó là các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, tội hiếp dâm, tội làm nhục người khác, tội vu khống, tội xâm phạm quyền tác giả, quyền sáng chế, phát minh

Trên cơ sở kế thừa và khắc phục những tồn tại trong BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 đã quy định: Những vụ án về các tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131, và 171 BLHS chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện của bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Như vậy, BLTTHS năm 2003 đã mở rộng phạm vi các tội chỉ được khởi tố theo yêu cầu của

bị hại đối với 05 tội (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh quy định tại khoản 1 Điều 105 BLHS năm 1999; tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người

37 Trần Quang Tiệp (2006), “Một số vấn đề lý luận về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại”, Kiểm sát,

(01), tr.29

Trang 34

khác quy định tại khoản 1 Điều 108 BLHS năm 1999; tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc hành chính quy định tại khoản 1 Điều 109 BLHS năm 1999; tội cưỡng dâm quy định tại Điều 113 BLHS năm 1999)

Trên cơ sở kết quả thực tiễn thi hành BLTTHS năm 1988 và năm 2003, việc quy định khởi tố theo yêu cầu của bị hại đã đánh dấu một bước tiến bộ về kỹ thuật lập pháp về tố tụng hình sự ở nước ta, góp phần quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật BLTTHS năm 2015 đã tiếp tục kế thừa và có những điều chỉnh cho phù hợp

Cơ sở thực tiễn của một quy định pháp luật chính là nhu cầu thực tiễn quan hệ

xã hội cần thiết phải có quy phạm pháp luật điều chỉnh Việc ghi nhận quy định

TV hình sự theo yêu cầu của bị hại trong BLTTHS hiện hành dựa trên những cơ

sở thực tiễn sau đây:

- Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 khẳng định sự tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ

quyền con người và quyền công dân (Điều 3) và ghi nhận đây là một nguyên tắc hiến định đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng trong việc triển khai quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân

Quy định vấn đề KTVA hình sự theo yêu cầu bị hại cho thấy rằng nhà nước ta không chỉ quan tâm đến lợi ích của Nhà nước và xã hội trong pháp luật tố tụng hình

sự mà còn quan tâm đến quyền và lợi ích của những người bị tội phạm gây thiệt hại, đặc biệt là bị hại, là cá nhân, cơ quan, tổ chức trực tiếp bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại Chính vì vậy, quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của

bị hại là sự ghi nhận của Nhà nước đối với quyền và lợi ích của bị hại, trong phạm

vi nhất định bị hại là người có quyền quyết định liên quan đến việc giải quyết vụ án Quyền KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại không trái với các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự mà còn là sự bổ trợ cần thiết, hiệu quả trong thực tiễn áp dụng pháp luật

Trang 35

- Thứ hai, việc thiết lập quy định TV hình sự theo yêu cầu của bị hại còn

xuất phát từ cơ sở thực tiễn đó là điều kiện thực tế của nền tư pháp Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu, rộng với các nước trên thế giới trong đó có cả khoa học về pháp lí Trên cơ sở đó, pháp luật của nước ta có điều kiện để tiếp thu những kinh nghiệm của các nước khác về kĩ thuật lập pháp cũng như thực tiễn Đối với quy định về KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại

không phải chỉ bây giờ mới xuất hiện mà có lịch sử tồn tại mang tính chất “tư tố”

xuất phát từ hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ và tồn tại song song với quyền công tố của nhà nước Trong pháp luật hiện này, mặc quyền công tố đóng vai trò chủ yếu song pháp luật tố tụng hình sự của nhiều nước vẫn ghi nhận quyền này với nội dung và phạm vi khác nhau Điều đó cho thấy KTVA hình sự theo yêu cầu của

bị hại có vai trò quan trọng trong tố tụng hình sự hỗ trợ, bổ sung cho quyền công tố của Nhà nước

Thực tiễn áp dụng quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại tại Việt Nam cũng cho thấy vai trò, giá trị pháp lí của quy định này Việc nghiên cứu quy định pháp luật của một số nước từ đó vận dụng trong điều kiện kinh tế – xã hội tại Việt Nam là bắt buộc trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay

- Thứ ba, việc thiết lập quy định TV hình sự theo yêu cầu của bị hại trong

tố tụng hình sự Việt Nam còn xuất phát từ cơ sở thực tiễn đó là lợi ích đạt được khi đặt ra quy định này Điều này thể hiện rõ ở ba vị trí chủ thể:

Nhà nước, về nguyên tắc, những tội phạm những tội phạm khởi tố theo yêu

cầu của bị hại chỉ giới hạn trong những vụ án mà đối tượng tác động trước tiên và trên hết là các quyền và lợi ích của bị hại, không ảnh hưởng tới lợi ích của Nhà nước và xã hội trên bình diện chung

Bị hại, là cá nhân, cơ quan, tổ chức trực tiếp bị tội phạm xâm hại, mặc dù

quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm, nhưng nếu vụ án được khởi tố và người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự, họ sẽ có khả năng phải gánh chịu những bất lợi

Trang 36

lớn hơn (bất lợi về thời gian, về kinh tế, bất lợi về danh dự, uy tín, nhân phẩm, về tinh thần )

Người phạm tội, trong một số trường hợp, việc khởi tố, truy cứu trách nhiệm

hình sự lại không hiệu quả bằng việc không KTVA hình sự, không xử lý bằng pháp luật hình sự; đồng thời cũng đạt được mục đích của pháp luật hình sự là cảm hóa, giáo dục người phạm tội.38

Như vậy, quy định TV hình sự theo yêu cầu của bị hại cho thấy với việc cho phép bị hại quyết định việc khởi tố người phạm tội vừa có lợi cho bị hại, vừa đạt hiệu quả về mặt xã hội mà không cần phải xử lý người phạm tội, giảm thời gian

và chi phí tố tụng Đây cũng là một cơ sở thực tiễn khẳng định sự cần thiết của việc thiết lập quy định TV hình sự theo yêu cầu của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam

1.3 Ý nghĩa của việc quy định và thực hiện quy định khởi tố vụ án hình

sự theo yêu cầu của bị hại

KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam ngoài ý nghĩa chung của KTVA hình sự, còn mang nhiều ý nghĩa riêng về mặt lý luận và thực tiễn:

- Thứ nhất, quy định và thực hiện quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị

hại đã góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ mà BLTTHS đặt ra là “bảo vệ công

lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” Đây

cũng đồng thời là nhiệm vụ được đặt ra trong BLHS

Quyền con người là khát vọng và thành quả của quá trình phát triển nhận thức lâu dài trong lịch sử nhân loại, là một giá trị mà các dân tộc văn minh đều hướng

38 Lê Lan Chi (2010), Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt

Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, hoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, tr 28-29

Trang 37

tới.39 Quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại góp phần bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cụ thể là quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là cá nhân Nhà nước không chỉ tôn trọng và bảo vệ quyền con người mà còn tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức Chính vì vậy, Nhà nước cho phép bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền yêu cầu khởi tố đối với một số vụ án hình sự mà tội phạm xâm hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, hoặc tài sản, uy tín của cơ quan, tổ chức, không chỉ bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại bị hành vi phạm tội xâm hại mà còn tránh gây ra các tổn thất khác cho bị hại Quy định này cũng là sự cụ thể hóa nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong tố tụng hình sự

Quy định và thực hiện quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại còn góp phần bổ sung cho quy định trách nhiệm KTVA của các cơ quan có thẩm quyền

tiến hành tố tụng từ đó“góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền

công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”

- Thứ hai, quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại góp phần đạt được

mục tiêu đối với người phạm tội là giáo dục họ có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm mà không cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội

Mục đích của việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và áp dụng hình phạt đối với người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội, mà mục đích cuối cùng mà Nhà nước chính là cải tạo, giáo

39 Viện nghiên cứu lập pháp Ủy ban thường vụ Quốc hội (2016), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam năm 2013 và thành tựu lập pháp trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, tr 96

Trang 38

dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời thông qua việc trừng trị người phạm tội, còn có tác dụng phòng ngừa chung giáo dục người khác tuân thủ pháp luật Việc quy định một số tội phạm chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại sẽ đạt được mục đích này Bởi lẽ trong một

số trường hợp người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm đã thấy được hậu quả

do mình gây ra và tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, được bị hại

bỏ qua không yêu cầu xử lý nữa thì xem như mục đích cải tạo, giáo dục đã đạt được

mà không cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt Còn nếu người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm không thấy được sai trái, không chịu sửa chữa lỗi lầm và khắc phục hậu quả, thì lúc đó bị hại sẽ yêu cầu xử lý, và người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự, lúc đó

- Thứ ba, quy định và thực hiện quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị

hại là thể hiện tính dân chủ, sự tôn trọng và cảm thông trước sự thiệt hại, mất mát, đau đớn của bị hại

Mặc dủ nguyên tắc cơ bản trong BLTTHS là nguyên tắc công tố, mọi hành vi xâm hại đến các quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức sẽ bị Nhà nước xử

lý nghiêm khắc Tuy nhiên, khi xử lý hành vi phạm tội, Nhà nước còn quan tâm đến nguyện vọng và lợi ích chính đáng của bị hại.41

Việc xử lí người phạm tội không phải trong mọi trường hợp đều là giải pháp tốt nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, bởi vì có thể thiệt hại đã xảy ra rồi, trừng trị người phạm tội như thế nào cũng không khôi phục lại được các thiệt hại gây ra đặc biệt là các thiệt về thể chất, danh dự, nhân phẩm của cá nhân hoặc tài sản, uy tín của cơ quan, tổ chức Không những vậy, trong nhiều trường hợp

bị hại không muốn xử lý người phạm tội vì có thể việc xử lý còn làm cho bị hại phải gánh chịu hậu quả nặng nề hơn, như ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và

40 Nguyễn Đức Thái (2015), tlđd chú thích số 2, tr.65-66

41 Trần Thu Hạnh (2017), “Bị hại trong BLTTHS năm 2015 và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật”, Tạp

chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, (tập 33, số 2), tr 59

Trang 39

tương lai của họ hoặc những mối quan hệ nhất định Chính vì vậy, việc để cho bị hại có quyền được tự do lựa chọn cách giải quyết là KTVA hay không KTVA là cần thiết phù hợp thực tiễn khách quan

Quy định KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại, tạo ra thêm căn cứ pháp lí giải quyết vụ án hình sự, thay vì chỉ có một biện pháp duy nhất là KTVA hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Trong trường hợp việc KTVA hình sự mang lại thêm những thiệt hại cho bị hại, mất thời gian, tốn kém chi phí giải quyết, bản thân bị hại cũng không muốn KTVA hình sự để xử lí người phạm tội vì vậy, pháp luật tố tụng quy định trong những trường hợp nhất định chỉ được KTVA hình sự khi có yêu cầu của bị hại là giải pháp phù hợp

Trang 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nội dung Chương 1 phân tích TV dưới góc độ một giai đoạn tố tụng và một quyết định tố tụng, để có một cái nhìn khái quát về TV trong tố tụng hình

sự Việt Nam và nhận thức về bị hại, sau khi nghiên cứu các quan điểm khác nhau

Từ những phân tích về KTVA và bị hại trong tố tụng hình sự, có thể thấy KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại là trường hợp đặc biệt của KTVA hình sự, được áp dụng đối với một số tội phạm xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền sở hữu công nghiệp của bị hại, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sau khi xác định có dấu hiệu của tội phạm không ra Quyết định KTVA hình sự ngay, chỉ được ban hành quyết định KTVA hình sự khi có yêu cầu của bị hại

Cơ sở lý luận của quy định này chính là sự kết hợp giữa quyền công tố và quyền tư tố trong tố tụng hình sự, trong đó quyền tư tố chỉ trong phạm vi nhất định

và mang ý nghĩa bổ trợ cho quyền công tố của Nhà nước

Qua phân tích khái niệm, nội dung và chủ thể của KTVA hình sự theo yêu cầu của bị hại trong tố tụng hình sự chính là sự cho phép của nhà nước bị hại trong trường hợp nhất định có quyền quyết định việc KTVA hình sự, yêu cầu của bị hại là điều kiện phát sinh quyền công tố của Nhà nước nhưng sau khi khởi tố việc giải quyết vụ án được thực hiện theo thủ tục chung

Quy định này mang nhiều ý nghĩa quan trọng, góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quuan, tổ chức, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; đồng thời góp phần đạt được mục tiêu giáo dục, cải tạo người phạm tội mà BLTTHS và BLHS đặt ra, đồng thời giáo dục mọi người có ý thức tuân thủ pháp luật Đây cũng là căn cứ pháp lí cho bị hại bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời tạo ra thêm những

lựa chọn giải quyết vụ án hình sự

Ngày đăng: 02/08/2019, 20:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Mai Bộ (1999), “Bàn về khởi tố theo yêu cầu của người bị hại”, Kiểm sát, (3), tr. 30 – 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khởi tố theo yêu cầu của người bị hại”, "Kiểm sát
Tác giả: Mai Bộ
Năm: 1999
11. Lê Cảm (2004), “Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự”, Kiểm sát, (2), tr. 26 – 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự”, "Kiểm sát
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2004
12. Lê Tiến Châu (2007), “Người bị hại trong tố tụng hình sự”, Khoa học pháp lí, (1), tr. 38 – 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người bị hại trong tố tụng hình sự”, "Khoa học pháp lí
Tác giả: Lê Tiến Châu
Năm: 2007
13. Lê Lan Chi (2010), Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Lan Chi
Năm: 2010
14. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên, 2013), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội
15. Lương Văn Công (2016), “Quy định của BLTTHS năm 2015 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại”, Kiểm sát, (08), tr. 36 – 38,62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định của BLTTHS năm 2015 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại”, "Kiểm sát
Tác giả: Lương Văn Công
Năm: 2016
16. Huỳnh Thanh Đạm (2018), “Quyền rút yêu cầu khởi tố của bị hại ở giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự”, Kiểm sát, (15), tr.24 – tr.28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền rút yêu cầu khởi tố của bị hại ở giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự”, "Kiểm sát
Tác giả: Huỳnh Thanh Đạm
Năm: 2018
17. Nguyễn Đức Thái (2015), Khởi tố vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khởi tố vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Thái
Năm: 2015
18. Trần Thu Hạnh (2017), “Bị hại trong BLTTHS năm 2015 và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật”, Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, (tập 33, số 2), tr.55 – 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bị hại trong BLTTHS năm 2015 và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật”, "Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội
Tác giả: Trần Thu Hạnh
Năm: 2017
19. Mai Thanh Hiếu (2010), “Yêu cầu khởi tố vụ án hình sự”, Nghề luật, (01), tr. 38 – 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu khởi tố vụ án hình sự”, "Nghề luật
Tác giả: Mai Thanh Hiếu
Năm: 2010
20. Mai Thanh Hiếu, Phạm Thái (2018), “ hông yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố đối với các tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại”, Khoa học pháp lý, (03), tr. 25 – 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hông yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố đối với các tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại”, "Khoa học pháp lý
Tác giả: Mai Thanh Hiếu, Phạm Thái
Năm: 2018
21. Phạm Mạnh Hùng (2016), “Vấn đề khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong BLTTHS năm 2015”, Khoa học kiểm sát, (3), tr. 3 – 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong BLTTHS năm 2015”, "Khoa học kiểm sát
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Năm: 2016
22. Nguyễn Văn hánh (2017), “Về quy định “ hởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại” tại Điều 155 BLTTHS năm 2015”, Nhà nước và pháp luật, (05), tr. 43 – 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quy định “ hởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại” tại Điều 155 BLTTHS năm 2015”, "Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn hánh
Năm: 2017
23. Vũ Gia Lâm (2017), “ hởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại - những vướng mắc khi thực hiện và kiến nghị khắc phục”, Luật học, (12), tr.28 – tr.37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại - những vướng mắc khi thực hiện và kiến nghị khắc phục”, "Luật học
Tác giả: Vũ Gia Lâm
Năm: 2017
24. Vũ Gia Lâm (2017), “Thay đổi quyết định KTVA, quyết định khởi tố bị can trong BLTTHS năm 2015”, Kiểm sát, (12), tr.23 – tr.30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi quyết định KTVA, quyết định khởi tố bị can trong BLTTHS năm 2015”, "Kiểm sát
Tác giả: Vũ Gia Lâm
Năm: 2017
25. Võ Thị Kim Oanh, Ngô Quang Cảnh (2016), “Một số điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bị hại, đương sự trong vụ án hình sự”, Khoa học pháp lý, (9), tr.66 – tr.73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bị hại, đương sự trong vụ án hình sự”, "Khoa học pháp lý
Tác giả: Võ Thị Kim Oanh, Ngô Quang Cảnh
Năm: 2016
26. Ngũ Hồng Quang (2009), “Tư tố trong tố tụng hình sự Trung Quốc”, Đại học Quốc gia Hà Nội – Luật học, (25), tr. 254 – 258 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tố trong tố tụng hình sự Trung Quốc”, "Đại học Quốc gia Hà Nội – Luật học
Tác giả: Ngũ Hồng Quang
Năm: 2009
27. Nguyễn Đức Thái (2015), Khởi tố vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khởi tố vụ án hình sự trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Thái
Năm: 2015
28. Phạm Thái (2012), “Bàn về một số vấn đề về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại”, Khoa học pháp lý, (5), tr.8 – tr.17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về một số vấn đề về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại”, "Khoa học pháp lý
Tác giả: Phạm Thái
Năm: 2012
29. Phạm Thái (2016), “ hởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại”, Luật học, (9),tr.46 – tr.56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại”, "Luật học
Tác giả: Phạm Thái
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w