Luận án tiến sĩ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn về định biên đối với cơ quan bộ ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thanh Tùng, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2017, trên cơ sở khoa học quả
Trang 1NGUYỄN ĐỨC HƯNG
ĐỀ TÀI TINH GIẢN BIÊN CHẾ CÔNG CHỨC TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
- LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Định hướng Nghiên cứu
Hà Nội – 2018
Trang 2NGUYỄN ĐỨC HƯNG
ĐỀ TÀI TINH GIẢN BIÊN CHẾ CÔNG CHỨC TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
Trang 3Các kết quả nêu trong luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN ĐỨC HƢNG
Trang 4NỘI DUNG 10
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TINH GIẢN BIÊN CHẾ CÔNG CHỨC TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 10
1.1 Khái quát chung về tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước 10
1.1.1 Khái niệm công chức 10
1.1.2 Khái niệm bộ máy hành chính nhà nước 15
1.1.3 Khái niệm biên chế 16
1.1.4 Khái niệm tinh giản biên chế và tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước 20
1.2 Đặc điểm và nội dung tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước 22
1.2.1 Đặc điểm tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước 22
1.2.2.Nội dung tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước 25
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước 27
1.4.Nguyên tắc tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước 33
CHƯƠNG II THỰC TIỄN TINH GIẢN BIÊN CHẾ CÔNG CHỨC TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 37
2.1 Chủ trương của Đảng và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước 38
2.1.2 Quy định pháp luật về tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước 43
2.2 Thực tiễn tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam trong những năm gần đây 49
Trang 52.2.1.1 Những kết quả đạt được trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật 51
2.2.1.2 Những kết quả thu được trong hoạt động thực thi quy định pháp luật về tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước 57
2.2.2 Những hạn chế trong hoạt động tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam những năm gần đây 62
CHƯƠNG III QUAN ĐIỂM VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TINH GIẢN BIÊN CHẾ CÔNG CHỨC TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 70
3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước 70
3.1.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng chính sách tinh giản biên chế 70
3.1.2 Xây dựng chính sách tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước gắn với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính vàtrong cả hệ thống chính trị 71
3.1.3 Xây dựng chính sách tinh giản biên chế phải bảo đảm tính đồng bộ, khả thi trong quá trình tổ chức thực hiện với các nguồn lực thực tế hiện có của đất nước 72
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước 73
3.3 Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tổ chức thực thi quy định của pháp luật về tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN 87
KẾT LUẬN CHUNG 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công chức trong bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam là một lực lượng đông đảo, chiếm số lượng lớn trong tổng biên chế của toàn hệ thống chính trị và có một vai trò hết sức quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước Qúa trình vận hành của bộ máy hành chính gắn với hoạt động công vụ của công chức luôn phát sinh những yêu cầu, đòi hỏi cần phải đổi mới, thay đổi hoặc thay thế nếu không còn phù hợp Chính vì vậy, chính sách tinh giản biên chế xuất hiện như một biện pháp hữu hiệu nhằm loại bỏ những công chức không đáp ứng được yêu cầu về nghiệp vụ, góp phần tinh gọn bộ máy hành chính và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức nói chung
Tinh giản biên chế đóng vai trò chiến lược trong công tác tổ chức nhân
sự của bộ máy hành chính nhà nước, nên giành được sự quan tâm lớn của cả
hệ thống chính trị và nền hành chính quốc gia Sự hiệu quả, tính minh bạch hay sự công bằng trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước có gắn bó mật thiết với công tác tinh giản biên chế Vào đầu thời kỳ Đổi mới giữa thập
niên 80, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định rõ: " Thực
hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy của các cơ quan Nhà nước Thực hiện một Quy chế làm việc khoa học, có hiệu suất cao; xây dựng bộ máy gọn nhẹ, có chất lượng cao, với một đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị và
năng lực Quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội "
Tuy nhiên, tinh giản biên chế lại là một vấn đề vô cùng phức tạp, nhạy cảm, khó làm, khó thực hiện vì tác động trực tiếp đến con người và ảnh hưởng trực tiếp tới những “nhóm lợi ích” khác nhau Chính vì thế, quá trình tinh giản biên chế nước ta trong giai đoạn vừa qua tuy đã thu được một số thành tựu nhưng vẫn gặp phải nhiều trở ngại với nhiều hạn chế lớn: bộ máy nhà nước vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc; tổng biên chế liên tục tăng trong khi chất lượng
Trang 7công chức còn thấp; chưa thực sự thu hút được nhân tài vào làm việc tại khu vực công; đãi ngộ chưa đáp ứng mức sống bình quân; còn nhiều “vấn nạn” trong quản lý, tuyển dụng và hoạt động công vụ của công chức…
Ngày 08 tháng 11 năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết 30c/NQ -
CP Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2011 - 2020 với nhiệm vụ trọng tâm là "đến năm 2020, đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức có số lượng cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ." và "trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức gắn với vị trí việc làm" Nghị quyết này được coi là “kim chỉ nam” cho hoạt động cải cách tổng
thể nền hành chính đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập của nền kinh tế, trong đó, tinh giản biên chế hay cơ cấu, xây dựng đội ngũ công chức (cùng với cán bộ và viên chức) được Nghị quyết xác định là một trong sáu lĩnh vực trọng yếu của cải cách hành chính Trong đó, người viết cho rằng, vấn đề tinh giản biên chế gắn với nâng cao đội ngũ công chức có tính chất quyết định với những lĩnh vực cải cách còn lại Bởi lẽ, đối với mọi chính sách, con người luôn được coi là nhân tố quan trọng nhất, là vốn quý, là động lực quyết định hàng đầu
Dưới tác động trực tiếp của quá trình cải cách hành chính nhà nước, của “cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” đang diễn ra sôi động hơn bao giờ hết, hoạt động tinh giản biên chế công chức của bộ máy hành chính mang những đặc điểm riêng biệt, những nội dung cụ thể so với những thời kỳ trước đây cũng như có mối quan hệ mật thiết, tác động và chi phối tất cả các lĩnh vực cải cách khác: thể chế, tài chính công, thủ tục hành chính và hiện đại hóa nền hành chính Vì vậy, tuy tinh giản biên chế không phải vấn đề mới nhưng tinh giản biên chế công chức dưới góc nhìn của cải cách hành chính lại là một lĩnh vực chưa thực sự nhận được nhiều quan tâm, thiếu vắng những nghiên cứu
toàn diện và có hệ thống
Trang 8Xuất phát từ tất cả những lý do trên, người viết đã mạnh dạn lựa chọn
vấn đề: “Tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn” đề tài luận văn của mình Người viết hi
vọng có thể đưa tới một điểm nhìn mới mẻ về những vấn đề vốn đã quen thuộc trong khoa học pháp lý hành chính với việc làm rõ lý luận về tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính, làm rõ những mặt được và chưa được trong công cuộc tinh giản biên chế công chức ở Việt Nam để hướng tới những giải pháp có tính chất thiết thực, cả trong xây dựng pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật
Luận văn được ấp ủ và hoàn thành trong thời gian vấn đề biên chế ở Việt Nam đang trở thành đề tài “nóng bỏng” nhất, rất nhiều những sai phạm nghiêm trọng của đội ngũ công chức trong thực thi công vụ; trong phòng, chống tham nhũng; trong cải tổ và tinh gọn bộ máy hành chính, tinh giản biên chế nói chung như “bê bối” sửa điểm trong kỳ thi quốc gia ở Hà Giang, Sơn La; các “đại án” kinh tế đang được xét xử; nhiều “ưu ái” tuyển dụng, bổ nhiệm người thân trong các cơ quan hành chính khiến không ít cán bộ, công chức bị bắt giữ, phải chịu thi hành kỷ luật và buộc “ra khỏi” biên chế…nói
theo cách của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: “lò đã nóng lên, củi tươi cũng
phải cháy!” Bởi thế, tác giả cũng mong muốn có thể cập nhật những thông
tin mới mẻ, sát hợp nhất phục nhằm phục vụ mục đích nghiên đồng thời có thêm cái nhìn sâu sắc hơn, toàn diện hơn, góp thêm “tiếng nói” riêng vào vấn
đề phức tạp, nhức nhối này dưới góc độ khoa học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực khoa học hành chính nói chung và khoa học pháp lý hành chính nói riêng, tinh giản biên chế là một lĩnh vực nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả, các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên Tuy nhiên, những công trình khoa học nghiên cứu trực tiếp đến lĩnh vực này dưới
Trang 9khía cạnh pháp lý rất ít mà chủ yếu được nghiên cứu dưới giác độ của khoa học hành chính, khoa học tổ chức và quản lý nhân sự
Chuyên ngành quản lý hành chính công và chính sách công tiếp cận
“tinh giản biên chế” từ góc chiếu của khoa học chính sách về tổ chức bộ máy
và quản lý nhân sự công Những đề tài về tinh giản biên chế được nghiên cứu
ở chuyên ngành có số lượng lớn, có thể kể tới một số công trình khoa học tiêu biểu, có giá trị và mới mẻ nhất hiện nay, như:
Sách chuyên khảo “Hành chính nhà nước và cải cách hành chính nhà
nước” của PGS.TS Ngô Thành Can và ThS Đoàn Văn Dũng do Nhà xuất
bản (NXB) Tư pháp ấn hành năm 2017 đề cập tới những vấn đề về công vụ, công chức tại chương II Cuốn sách bằng lý thuyết khoa học hành chính lý giải nguồn gốc biên chế ở xuất phát từ mô hình quản lý công chức tích hợp giữa hai dạng chức nghiệp (career system) và mô hình việc làm (job system)
từ đó đưa ra những giải pháp mang tính chính sách cho công cuộc cải cách hành chính tại Việt Nam, mà một trong những nội dung quan trọng nhất là cải cách công vụ và đội ngũ công chức
Luận án tiến sĩ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn về định biên đối với cơ
quan bộ ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thanh Tùng, Học viện Hành
chính Quốc gia, năm 2017, trên cơ sở khoa học quản lý hành công và khoa học quản lý lao động nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng
kế hoạch hóa nguồn nhân lực; vấn đề xác định biên chế, xác định nhu cầu nhân lực với các yêu cầu về số lượng và chất lượng tại các Bộ - cơ quan hành chính nhà nước tại Trung ương từ đó đề xuất những phương pháp định biên nhằm phát huy các kết quả hoạt động phân tích của tổ chức, phân tích công việc của các cơ quan Bộ
Trang 10Luận văn thạc sĩ chính sách công: “Thực hiện chính sách tinh giản
biên chế từ thực tiễn Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch” của tác giả Vũ Thị
Nhàn, Học viện Khoa học xã hội, 2017, kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu về chính sách tinh giản biên chế, thực trạng tinh giản biên chế trước đây để hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tinh giản biên chế và khảo sát, đánh giá thực tiễn từ một Bộ từ đó đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế phù hợp với yêu cầu khách quan ở nước ta
Trong lĩnh vực pháp lý, đề tài nghiên cứu khoa học: “Cơ cấu tổ chức,
cơ cấu nhân sự của Bộ, cơ quan ngang Bộ; Sở trong bối cảnh tinh giản biên chế” của các tác giả Hà Lê Thành Trung, Võ Diệp Minh Trang, Đồng Thu
Trang, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2017 là một công trình tiêu biểu, có nội dung gần sát với nội dung nghiên cứu của luận văn mà người viết thực hiện Đề tài này nghiên cứu một vấn đề rộng lớn, sử dụng kết hợp những lý thuyết về khoa học hành chính với khoa học pháp lý hành chính để xây dựng
hệ thống lý luận riêng trong đó có lý luận về cơ cấu tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang bộ, Sở,…; cơ cấu nhân sự và tinh giản biên chế Lăng kính khoa học đa chiều cùng với kết quả khảo sát phong phú, công phu được thực hiện tại nhiều tỉnh, thành và các Bộ khác nhau khiến đề tài có giá trị tham khảo rất lớn
Tuy nhiên, tất cả những công trình đề cập ở trên và cũng như các công trình khác đã được công bố hiện nay về tinh giản biên chế chưa có công trình nào bao quát vấn đề tinh giản biên chế đội ngũ công chức trong tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam Đội ngũ công chức thuộc bộ máy hành chính chiếm tỷ trọng lớn trong biên chế nhà nước là công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương tới địa phương, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp trực thuộc các cơ quan hành chính Đội ngũ này không những lớn về số lượng mà giữ vai trò tiên quyết trong hoạt động
Trang 11quản lý hành chính, cung cấp dịch vụ công phục vụ quần chúng nhân dân Bởi thế, nó quyết định những đặc điểm riêng biệt của hoạt động tinh giản biên chế
so với tinh giản biên chế cán bộ, viên chức hay với chính đội ngũ công chức trong các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội hoặc những đối tượng tinh giản khác theo quy định
Bên cạnh đó, bối cảnh cải cách hành chính có mối liên hệ mật thiết, quan trọng với hoạt động tinh giản biên chế công chức trong cơ quan hành chính Xu thế cải cách quyết định những nguyên tắc và yêu cầu riêng biệt cho đội ngũ công chức cũng như chi phối hoạt động tinh giản biên chế công chức
ở Việt Nam hiện nay
Lựa chọn một vấn đề rộng lớn nhưng trong khuôn khổ giới hạn của Luận văn Thạc sĩ, tác giả mong muốn tập trung làm rõ những vấn đề quan trọng, mới mẻ mà các công trình trước đó chưa đề cập, khu biệt phạm vi nghiên cứu là đội ngũ công chức trong cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc; đặc biệt là lý luận và thực tiễn về đặc điểm, nội dung tinh giản biên chế công chức của bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách hành chính; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp giải pháp xoay quanh từng nhóm vấn đề thuộc nội dung tinh giản biên chế công chức của bộ máy hành chính
3 Mục đích của luận văn
Thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động tinh giản biên chế được ban hành ngày càng nhiều, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc và trở thành động lực thúc đẩy toàn hệ thống chính trị nói riêng, bộ máy hành chính nhà nước nói chung tích cực tham gia vào quá trình tinh giản biên chế công chức, trong đó, tập trung chủ yếu trong Nghị định 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế
Trang 12Sau gần 5 năm thực hiện quy định Nghị định 108/2014/NĐ-CP, hoạt động tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính đạt được nhiều kết quả tích cực đáng khích lệ Tuy nhiên, biên chế công chức nhà nước vẫn tiếp tục “phình to”, gây áp ngân sách nhà nước và “thách thức” quyết tâm tinh giản biên chế của toàn hệ thống chính trị Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ công chức, chính sách về tiền lương chưa được cải thiện; nhiều sai phạm nghiêm trọng trong tuyển dụng, sử dụng cũng như quản lý đội ngũ công chức; một bộ phận không nhỏ công chức có biểu hiện suy thoái về đạo đức, phẩm chất chính trị, vi phạm pháp luật… còn xảy ra Những hạn chế đó bắt nguồn
từ những bất cập trong chính sách pháp luật cũng như hoạt động thực thi pháp luật về công chức, về tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về công chức, biên chế, bộ máy hành chính nhà nước và tinh giản biên chế từ đó xây dựng khái niệm tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước Từ đó, tác giả làm rõ những đặc điểm, yêu cầu và nội dung của hoạt động này kết hợp đối sánh với thực tiễn những ưu và nhược điểm của hoạt động tinh giản biên chế công chức qua các số liệu, thống kê, ví dụ thực tiễn phong phú để làm cơ sở
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả ban hành và thực thi quy định về vấn
đề này
4 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm:
- Các quan điểm lý luận, chính trị về công chức, bộ máy hành chính nhà nước và tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
- Hệ thống các quy định của pháp luật thực định về tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam
Trang 13- Thực trạng hoạt động tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay
- Các biện pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi pháp luật
4.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Trong phạm vi luận văn này, vấn đề tinh giản biên chế công chức trong
bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam được xem xét dưới hai phương diện:
- Phương diện pháp lý: Luận văn nghiên cứu các quy định hiện hành về tinh giản biên chế nói chung và tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nói riêng ở Việt Nam
Phương diện thực tiễn: Luận văn nghiên cứu những ưu và khuyết điểm trong hoạt động tinh giản biên chế công chức từ những số liệu thực tiễn từ giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2017 về công tác này từ đó nhằm đề xuất những giải pháp quan trọng về hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật
5 Phương pháp nghiên cứu để thực hiện luận văn
Đề tài vận dụng cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến tinh giản biên chế công chức Trên cơ sở đó, đối chiếu với kết quả hoạt động thực tiễn nhằm đề ra những giải pháp hoàn thiện, kiến nghị tích cực, phù hợp và có giá trị ứng dụng cao
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn trực tiếp góp phần trong việc tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
Trang 14ở Việt Nam hiện nay Ngoài ra, những kiến nghị khoa học liên quan trực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tinh giản biên chế công chức cũng có giá trị cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước tham khảo
Những đánh giá nhận định của tác giả đều lấy hoạt động tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước làm trung tâm, vậy nên những phân tích đánh giá cũng tập trung để làm rõ những ưu điểm, bất cập hiện nay trong phạm vi nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu thực tiễn tại một số cơ quan hành chính nhà nước
từ trung ương đến địa phương, luận văn cũng phát hiện nhiều điểm bất cập trong việc thực hiện pháp luật về tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính tại Việt Nam thời gian qua
Bện cạnh đó, các luận cứ, đánh giá, kết luận, kiến nghị của Luận văn có
độ tin cậy và có giá trị tham khảo tốt trong thực tiễn công tác nghiên cứu, giảng dậy, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước nói chung và tin giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước nói riêng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
7 Bố cục của luận văn
Luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về tinh giản biên chế công chức trong bộ máy
hành chính nhà nước
Chương 2 Thực tiễn tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành
chính nhà nước ở Việt Nam
Chương 3 Quan điểm và kiến nghị nâng cao hiệu quả tinh giản biên
chế trong bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TINH GIẢN BIÊN CHẾ CÔNG
CHỨC TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1 Khái quát chung về tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
1.1.1 Khái niệm công chức
Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước Do tính chất đặc thù của từng quốc gia, khái niệm công chức của các nước cũng không hoàn toàn đồng nhất Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người tham gia các hoạt động quản
lý nhà nước Một số nước khác có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng…
Ở Pháp, “công chức bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước
hoặc cộng đồng lãnh thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một ngạch của nền hành chính công”1
Các hoạt động chức năng công vụ do các công chức của bộ máy hành chính nhà nước thực hiện, đó cũng chính là lý do chủ yếu khi nói đến công
vụ, các học giả và các nhà hoạt động thực tiễn luôn đề cập tới đội ngũ công chức Mặc dù hiện nay quan niệm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia khác nhau, có nơi hiểu công chức theo nghĩa rất rộng như Pháp là bao gồm tất cả những người trong bộ máy hành chính nhà nước, tất cả những người tham gia
1 Chủ nhiệm: GS Đoàn Trọng Truyến, Đề tài Hành chính phát triển và cải cách hành chính, Hà Nội, 2000,
tr.49
Trang 16làm các dịch vụ công hay hẹp hơn như tại Anh, nơi công chức là những người thay mắt Nhà nước giải quyết công việc công, nhất là ở tại trung ương, cho nên phạm vi công chức thu hẹp hơn nhiều
Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau ở các quốc gia Trong một số tài liệu tham khảo, thuật ngữ công chức được hiểu theo nhiều cách khác nhau Một số cách tiếp cận phổ biến là:
Thứ nhất, công chức là người làm việc thường xuyên trong bộ máy
hành chính nhà nước Quan niệm này nhằm để phân biệt những người làm cho Nhà nước trong các tổ chức, cơ quan khác của Nhà nước bằng tính thường xuyên của công vụ
Thứ hai, công chức là người làm việc trong bộ máy nhà nước Cách
tiếp cận này mở rộng đối tượng làm việc cho nhà nước không chỉ trong các cơ quan thực thi quyền hành pháp mà cả các cơ quan quyền lực khác nhau như lập pháp, tư pháp Đồng thời bao gồm cả những người trong các lực lượng vũ trang, công an Cách tiếp cận này không hạn chế cả những người làm việc thường xuyên, bầu cử cũng như những người làm công khác
Thứ ba, công chức là người đại diện cho Nhà nước để thực thi quyền
hành pháp, là nhóm người làm việc cho Nhà nước trong bộ máy hành pháp, gắn liền với quyền lực hành pháp Điều đó cũng có nghĩa là những người thực thi nhiệm vụ (tác nghiệp) các loại công vụ mang tính dịch vụ không thuộc công chức Hay nói khác đi, công chức chỉ những người có quyền đưa ra các quyết định quản lý hành chính nhà nước và triển khai thực hiện các quyết định đó Cách tiếp cận này gắn liền với công vụ cho rằng tất cả những ai thực thi công vụ đều được gọi là công chức Ở mô hình công vụ theo việc làm, phần lớn các vị trí đều tìm để thuê và bổ nhiệm những người có năng lực, khả năng
Trang 17Thứ tư, công chức là những người làm việc trong bộ máy hành chính
nhà nước được tuyển dụng thông qua hình thức thi tuyển và được phân vào một ngành, ngạch, bậc trong cơ cấu thứ bậc của nền công vụ và được Nhà nước trả công Cách tiếp cận này cụ thể hơn và loại trừ những người làm việc thông qua bầu cử, cũng không tính đến những người làm việc có tính thường xuyên thông qua thi tuyển (như Thẩm phán). 2
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước Luật Cán bộ, công chức năm 2008 ra đời (có hiệu lực từ 01/01/2010) là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay cắt nghĩa được rõ ràng hơn về khái niệm “công chức” Trong Luật này, khái niệm công chức trong phạm vi rộng hơn Theo khoản 2 Điều 4 của
Luật quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ
nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp
và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung
là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” Ngoài ra, còn có công chức cấp xã,
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Như vậy, công chức theo Luật Cán bộ, công chức không bao gồm những người làm việc do Nhà nước chỉ định, bổ nhiệm trong các tổ chức kinh tế của Nhà nước Đó là những
2
PGS TS Ngô Thành Can - Ths Đoàn Văn Dũng, Hành chính nhà nước và Cải cách
hành chính nhà nước, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2016, tr.78-79
Trang 18thực thể hoạt động dựa trên nguyên tắc lợi nhuận Đối với nhóm lực lượng vũ trang, Công an nhân dân, những người là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, hạ sỹ quan chuyên nghiệp cũng không thuộc vào phạm vi công chức
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức thì tiêu chí
để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
vụ, chức danh Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội và bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng (thi tuyển, xét tuyển), bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn hành chính nhất định) được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị Đây là điểm đặc thù của Việt Nam mặc dù rất khác so với một số nước trên thế giới nhưng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam
Bên cạnh đó, việc quy định công chức có trong bộ máy lãnh đạo, quản
lý của các đơn vị sự nghiệp công lập thể hiện và khẳng định được trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức cung cấp các dịch vụ thiết yếu và cơ bản cho người dân, bảo đảm sự cân đối giữa các vùng, lãnh thổ có mức sống chênh lệch, thực hiện mục tiêu dân chủ và công bằng xã hội Hiện nay, khi vai trò của Nhà nước đang được nhấn mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm khắc phục ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tác
Trang 19động đến sự ổn định của đời sống xã hội thì việc quy định công chức có trong
bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập lại càng có ý nghĩa và thể hiện tư duy pháp lý tiến bộ của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 Tuy nhiên, phạm vi công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập rộng hay hẹp còn tùy thuộc vào quy mô phạm vi hoạt động của từng đơn vị sự nghiệp, vào cấp thẩm quyền thành lập và quản lý
Trong điều kiện cụ thể của thể chế nhà nước của Việt Nam, công chức được phân loại theo 5 nhóm dựa trên mối quan hệ tổng thể không chỉ của cơ quan hành chính nhà nước các cấp mà còn phải đặt trong mối liên hệ với các
tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm: Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội; Công chức trong cơ quan nhà nước; Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn
vị sự nghiệp công lập; Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp (Điều 32, Luật cán bộ, công chức năm 2008)
Công chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị -
xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang đã được quy định cụ thể tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những người là công chức Cụ thể, công chức được xác định theo tiêu chí:
- Là công dân Việt Nam;
- Được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh;
- Trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật;
Trang 20- Làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề trên cơ sở khái niệm và phân loại công chức theo quy định của pháp luật hiện hành với đội ngũ công chức làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước và bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.2 Khái niệm bộ máy hành chính nhà nước
Nhà nước không chỉ là một thực thể được hình thành nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước, mà trên phương diện tổ chức, Nhà nước cũng là một tổ chức Hoạt động quản lý hành chính nhà nước có Bộ máy hành chính thực hiện chức năng hành pháp nhằm thực thi pháp luật trên tất cả các lĩnh vực Theo đó, quản lí hành chính mang tính chất toàn diện Mặt khác, hoạt động quản lý hành chính nhà nước tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau từ việc
đề ra những chính sách vĩ mô đến việc triển khai tổ chức thực hiện các chính sách đó; từ việc quản lý vĩ mô, quản lý nhà nước đến việc tổ chức cung cấp các loại dịch vụ công cho xã hội bao gồm những loại dịch vụ hành chính công (dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước) đến các loại dịch
vụ công khác Điều đó đòi hỏi đội ngũ nhân sự của tổ chức cũng rất đa dạng
về vị trí làm việc, về cấp bậc và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao3
Từ đó có thể thấy, việc thành lập các tổ chức hành chính nhà nước là để thực hiện các chức năng cơ bản của quản lí hành chính nhà nước
Tác giả quan niệm rằng: “bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận
của bộ máy nhà nước, đảm nhiệm chức năng cung quản lý nhà nước trong
3 Học viện Hành chính quốc gia, Giáo trình Nhân sự hành chính nhà nước, Hà Nội, 2014, Tr.37-38
Trang 21lĩnh vực hành pháp Bộ máy này bao gồm hệ thống các cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương và hệ thống đơn vị sự nghiệp trực thuộc”
Mỗi quốc gia đều có những nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nước nhằm bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất, thông suốt có hiệu lực, hiệu quả và phát triển ổn định, bền vững
Tổ chức bộ máy hành chính của nhà nước ta có thể phân thành hai nhóm:
- Các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương bao gồm: Chính phủ,
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ và một số cơ quan khác do Thủ tướng Chính phủ thành lập nhằm giúp Thủ tướng trên một số lĩnh vực cụ thể
- Các cơ quan hành chính ở địa phương bao gồm: Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn trực thuộc
Căn cứ vào tổ chức bộ máy hành chính nhà nước của nước ta và đối chiếu với điều kiện cụ thể của thể chế nhà nước của Việt Nam về phân loại công chức (Điều 32, Luật cán bộ, công chức năm 2008), tác giả xác định rõ trong phạm vi nghiên cứu của công trình nghiên cứu khoa học này, công chức trong bộ máy hành chính ở Việt Nam chính là công chức trong cơ quan nhà nước và công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.3 Khái niệm biên chế
Biên chế là một thuật ngữ được sử dụng và xuất hiện phổ biến trong các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề quản lý hành chính nhà nước cũng như quản lý nhân sự của một cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước Tuy nhiên, hiện nay, về mặt pháp lý, biên chế là một khái niệm chưa được pháp luật làm rõ Cụ thể, tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm
Trang 222008 chỉ nhắc đến thuật ngữ “biên chế” là một trong những đặc điểm để nhận diện các chủ thể là cán bộ, công chức trong đội ngũ nhân sự hành chính nhà nước Theo quy định tại điều 3 Nghị định 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế của Chính phủ: “Biên chế” sử dụng trong Nghị định được
hiểu gồm: biên chế cán bộ, biên chế công chức, số lượng người làm việc
trong đơn vị sự nghiệp công lập và lao động hợp đồng được cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật
Tham chiếu Quyết định 253/QĐ-TW về việc ban hành Quy định của
Bộ Chính trị về quản lý biên chế thống nhất của hệ thống chính trị thì biên
chế trong Quy định này bao gồm: “Cán bộ, công chức (theo quy định của
Luật Cán bộ, công chức); Viên chức (theo quy định của Luật Viên chức, gồm
cả các đơn vị sự nghiệp công đã được giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kinh phí theo quy định của pháp luật); Người hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước ở cơ sở ” Như vậy, pháp luật hiện hành chỉ mới thể hiện thuật ngữ
“biên chế” dưới phương pháp liệt kê mà không xác định rõ nội hàm, tính chất của khái niệm này Chính vì thế, để hiểu rõ hơn và có được nhận thức đúng đắn về khái niệm biên chế, ta cần xét đến nhiều giác độ tiếp cận khác nhau
Về mặt ngôn ngữ, mỗi một tổ chức được thành lập ra đều phải có đội ngũ nhân sự nhất định để đảm nhiệm công việc, thực hiện những mục tiêu, mục đích mà tổ chức đó đã đề ra, từ đó, biên chế có thể hiểu là một số lượng người nhất định đảm nhận các vị trí việc làm cần cho sự vận hành của một tổ chức Đặc biệt, số lượng người đó thường được cố định Hay nói cách khác, biên chế chính là số lượng người làm việc chính thức, lâu dài, ổn định, thường xuyên gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc trong một tổ chức
Tuy nhiên, trong hành chính công, thuật ngữ “biên chế” không chỉ được hiểu theo nghĩa thông thường mà biên chế còn thể hiện nhu cầu lao
Trang 23động cần có cho một tổ chức thuộc bộ máy hành chính nhà nước do pháp luật
về hành chính quy định, để đảm bảo cho tổ chức đó vận hành có hiệu quả, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong bộ máy hành chính nhà nước Tổng số người trong các đơn vị do nhà nước quản lý hợp thành tổng biên chế của hệ thống công vụ
Như vậy, theo giác độ khoa học hành chính, biên chế là thuật ngữ về hành chính tổ chức Biên chế gắn với việc duy trì việc làm ổn định cho người lao động của mình (cán bộ, công chức, v.v) theo hình thức “việc làm suốt đời” Đây là một trong những đặc điểm thu hút nhiều người lao động muốn vào được biên chế để có được việc làm ổn định, lâu dài, không lâm vào tình trạng thất nghiệp Cụm từ “vào được biên chế” thường được hiểu là người lao động có được một vị trí công việc phục vụ (hành nghề) lâu dài trong cơ quan nhà nước Thực ra, biên chế hành chính là cách gọi chung nhất để nói về con
số công chức, viên chức hành chính trong hệ thống chính trị, trong đó chiếm
số đông nằm trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp nhà nước Số lượng này được chia thành lực lượng công chức hành chính và viên chức sự nghiệp, hưởng lương từ ngân sách nhà nước nên có thể gọi chung là biên chế nhà nước4
Bên cạnh đó, biên chế không đơn thuần là số người làm việc trong bộ máy, mà là số lượng người cần thiết với một cơ cấu hợp lý để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ hay công việc của bộ máy Biên chế là số nhân lực, lao động cần thiết trong một cơ cấu hợp lý để thực hiện có hiệu quả chức năng nhiệm vụ hay công việc của cơ quan, đơn vị, tổ chức và trong số nhân lực cần thiết đó phải xác định rõ bao nhiêu người là lãnh đạo, quản lý, bao nhiêu người là chuyên gia, chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, cán sự, bao
4
Nguyễn Hữu Khiển, “Giải pháp cho vấn đề biên chế trong hệ thống hành chính hiện
Trang 24nhiêu người là nhân viên kỹ thuật, bao nhiêu người là nữ, bao nhiêu người là nam, bao nhiêu người có trình độ trên đại học, đại học, trung học chuyên nghiệp, sơ cấp hay cơ cấu độ tuổi, cơ cấu giới tính, dân tộc v.v nghĩa là số nhân lực đó phải đảm bảo cả về số và chất lượng theo một cơ cấu hợp lý để thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, công việc của cơ quan, đơn vị Biên chế của cơ quan, đơn vị do tính chất, nội dung, tầm quan trọng, độ phức tạp, khối lượng công việc, kỹ thuật và công nghệ giải quyết công việc quyết định Các cơ quan, tổ chức, đơn vị có địa vị pháp lý, tầm quan trọng, chức năng, nhiệm vụ, tính chất, quy mô, khối lượng công việc khác nhau, có nhu cầu biên chế khác nhau
Biên chế hay nguồn nhân lực với cơ cấu, số, chất lượng hợp lý là yếu tố quyết định sự tồn tại, phát triển của cơ quan, đơn vị, tổ chức Chất lượng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức phụ thuộc phần nhiều vào nguồn nhân lực hay biên chế của nó Sự thực là mọi cơ quan, đơn
vị, tổ chức đều có các nguồn lực vật chất do con người vận hành, đảm bảo thực hiện đạt mục tiêu của tổ chức Sức mạnh của cơ quan, đơn vị, tổ chức phụ thuộc vào con người, con người chính là nguồn gốc của các nguồn lực khác là cơ sở của mọi thành công hay thất bại của cơ quan, đơn vị, tổ chức
Từ mục đích, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, tổ chức xác định biên chế cần thiết của nó Thiếu biên chế hay thừa biên chế đều ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của nó Nhưng biên chế ở đây phải được hiểu đầy đủ cả hai mặt: cả số lượng và chất lượng trong một cơ cấu hợp lý Cần phải hiểu đầy đủ bản chất, nội dung, nội hàm của biên chế
Như vậy, tóm lại, “biên chế” là “một số lượng nhân sự phù hợp, cần
thiết; được bố trí theo ngạch, bậc, chức vụ; đảm bảo sự vận hành ổn định cho hoạt động của bộ máy nhà nước”
Trang 251.1.4 Khái niệm tinh giản biên chế và tinh giản biên chế công chức trong
bộ máy hành chính nhà nước
Trong một tổ chức, nguồn nhân lực khi thiếu cần phải tuyển thêm để bổ sung, nhưng đồng thời, trong nhiều trường hợp, tổ chức phải chịu thách thức với việc cắt giảm nguồn nhân lực Nếu biên chế biểu thị số lượng người cần thiết, được bố trí vị trí công việc lâu dài trong cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước thì thuật ngữ “tinh giản biên chế” là một thuật ngữ thể hiện việc cắt giảm, cơ cấu hay sắp xếp lại đội ngũ nhân lực công của bộ máy nhà nước
Về mặt ngôn ngữ, “tinh” có nghĩa là “tinh lọc”, “giản” có nghĩa với
“cắt giảm” Như vậy, bản chất của tinh giản biên chế “tinh giản biên chế là sự
kết hợp giữa giảm số lượng và tăng chất lượng của nguồn nhân lực trong cơ quan nhà nước” Cụ thể, tinh giản biên chế không đơn thuần là một sự thay
đổi về cơ học mà nó còn bao gồm việc giảm số lượng người nhất định vào biên chế trong từng giai đoạn cụ thể và giảm những người không đạt hệu quả cao trong công việc để thay vào đó những người làm được việc tốt hơn, từ đó làm cho nguồn nhân lực trở nên chất lượng hơn
Về mặt pháp lý, tại khoản 2, Điều 3, Nghị định 108/2014/NĐ-CP: Về
chính sách tinh giản biên chế: “Tinh giản biên chế” trong Nghị định, này
được hiểu là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những người dôi
dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế” Có thể thấy, việc giải thích từ ngữ của Nghị định này chưa thể
hiện một cách bao quát, toàn diện ý nghĩa nội hàm của thuật ngữ “tinh giản biên chế” Vì tinh giản biên chế ngoài việc giảm về số lượng người nhất định thì còn nhằm mục đích nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự Hay nói cách khác, tinh giản biên chế là việc áp dụng các giải pháp phân loại, đánh giá,
Trang 26sàng lọc loại ra khỏi bộ máy những biên chế không cần thiết, những cán bộ công chức, viên chức không đủ trình độ năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp làm cho đội ngũ cán bộ, công chức chất lượng hơn, tinh thông hơn theo nguyên tắc “ít mà tốt” Tinh giản biên chế không chỉ thuần túy giảm theo
số lượng một cách cơ học mà phải tinh giản theo cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị, tổ chức
Mục đích của mọi cuộc tinh giản biên chế là nhằm tạo ra được bộ máy công quyền hoạt động hiệu quả trên cơ sở cơ cấu tổ chức tinh gọn với số lượng nhân sự phù hợp, được vận hành một cách khoa học để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đã được xác định Chủ trương này đã được xác định ngay từ ban đầu trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam rằng một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần thực
hiện trong nhiệm kỳ 2016 - 2020 mà Đảng ta đã nêu ra là: “Xây dựng tổ chức
bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”
Như vậy, mục đích của tinh giản biên chế không chỉ đơn thuần là giảm cơ học
số lượng nhân lực (thay đổi về lượng) mà hơn thế, đây là cách thức để các cơ quan nhà nước tinh lọc lại nhân lực (thay đổi về chất) nhằm làm cho hoạt động của cơ quan nhà nước có hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp
Tóm lại, từ quá trình “bóc tách” nội hàm các khái niệm cấu thành, có thể khẳng định trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, tinh giản biên chế là một chính sách lớn và có ảnh hưởng quyết định công cuộc cải cách hành chính, giúp cho bộ máy hành chính nhà nước bớt đi sự phức tạp và cồng kềnh;
cơ cấu lại đội ngũ công chức với chất lượng cao; giảm bớt gánh nặng cho ngân sách; đồng thời là động lực để thúc đẩy sự phát triển chung của kinh tế - văn hóa - xã hội trong đó bao hàm hoạt động tinh giản biên chế đội ngũ công
chức trong bộ máy hành chính Nói cách khác, “tinh giản biên chế công chức
Trang 27trong bộ máy hành chính nhà nước” là bộ phận hợp thành của chính sách tinh
giản biên chế đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hay một phần của chính sách xây dựng, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức mà Chương trình Cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn 2011 - 2020 của Chính phủ đã vạch ra
Từ đó, người viết cho rằng “tinh giản biên chế công chức trong bộ máy
hành chính nhà nước là hoạt động nhằm cắt giảm những công chức dư thừa, không đáp ứng được yêu cầu về nhiệm vụ đồng thời cơ cấu lại và nâng cao chất lượng công chức gắn với ngạch, chức vụ, chức danh và vị trí việc làm cụ thể trong cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập”
1.2 Đặc điểm và nội dung tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
1.2.1 Đặc điểm tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
Với tư cách là một bộ phận của hoạt động tinh giản biên chế đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, hoạt động tinh giản biên chế công chức trong
bộ máy hành chính nhà nước mang những điểm chung nhưng đồng thời cũng
có những đặc trưng riêng biệt:
Thứ nhất, tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước là việc cắt giảm những đối tượng là những công chức không còn phù hợp về năng lực, sức khỏe hay dư thừa ra khỏi bộ máy hành chính Dưới góc
độ này, tinh giản biên chế công chức là sự cắt giảm, loại bỏ thuần túy nhằm giảm thiểu số lượng công chức một cách hữu cơ để giảm áp lực tới ngân sách, chi tiêu công và đồng thời cũng loại bỏ những công chức yếu kém về năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị ra khỏi bộ máy công quyền
Trang 28Thứ hai, tinh giản biên chế công chức không chỉ có cắt giảm về mặt số lượng đơn thuần mà phải tiến hành song song với quá trình cơ cấu lại đội ngũ công chức, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, thu hút nhân tài vào làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước nhằm cải thiệt hiệu quả quản lý hành chính và phục vụ của đội ngũ này với quần chúng, nhân dân Điều đó có nghĩa, quá trình tinh giản cũng bao hàm quá trình đổi mới trong tuyển dụng, đào tạo và bổ nhiệm công chức phù hợp với năng lực và điều kiện của từng cơ quan, địa phương gắn với chức vụ, chức danh cụ thể đồng thời cải thiện thu nhập từ việc trả lương đảm bảo tính hiệu quả của công việc, trách nhiệm, sự khuyến khích, khen thưởng và đặc biệt là tiến tới cân bằng mức sống của đội ngũ công chức với khu vực phi nhà nước
Thứ ba, tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước bắt buộc phải gắn với vị trí việc làm Đây là đặc điểm quan trọng nhất của hoạt động này Khoản 2, điều 5 Luật Cán bộ, công chức 2008 đã xác định
nguyên tắc quản lý công chức: “kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc
làm và chỉ tiêu biên chế” Đặc điểm này có nghĩa, quá trình tinh giản biên chế
phải phát xuất từ kế hoạch định biên hay xác định cơ cấu vị trí việc làm Trong cơ quan hành chính, khối lượng công việc mà công chức đảm nhiệm phải được tính toán nhằm xây dựng kế hoạch đảm bảo khoa học, minh bạch
và thiết thực Tức là, tinh giản nhưng vẫn phải đảm bảo yêu cầu quản lý, không thừa, không thiếu; kết hợp chặt chẽ với xây dựng cơ cấu công chức hợp lý về số lượng, chức vụ, ngạch, chức danh nghề nghiệp, trình độ, độ tuổi, giới tính hay dân tộc
Thứ tư, tinh giản biên chế là quá trình gắn bó chặt chẽ với yếu tố con người, bởi thế đặc trưng của hoạt động này cũng đòi hỏi phải đảm bảo tính hài hòa, hợp lý hợp tình Mặt khác, do liên quan đến vấn đề con người, nên quá trình này có ảnh hưởng sâu rộng trong toàn cơ quan, đơn vị, vì thế phải có
Trang 29cách làm phù hợp đi kèm với những cơ chế, chính sách cụ thể, hướng tới nâng cao chất lượng thực thi công vụ, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu quả Tinh giản biên chế phải làm từng bước, có lộ trình rõ ràng, kế hoạch thực hiện cụ thể Trong khi đó, quá trình triển khai chủ trương này nếu không có sự chuẩn
bị đầy đủ, kỹ lưỡng biểu hiện qua những đề án tổng thể về sắp xếp tổ chức, tinh giản biên chế, không có phương án cụ thể ngay từ đầu nên không có kế hoạch tinh giản biên chế hoặc thiếu tính khả thi Từ đó dẫn đến việc thực hiện tinh giản biên chế hầu như chỉ giải quyết thực hiện tinh giản biên chế hầu như chỉ giải quyết thụ động, theo nguyện vọng mà thiếu sự chủ động và chuẩn bị một cách tích cực
Thứ năm tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước có phạm vi rất rộng lớn, diễn ra từ trung ương tới địa phương với quy
mô rộng khắp Cho đến nay, theo thống kê của Bộ Nội vụ, Việt Nam có 22
bộ, cơ quan ngang bộ, 8 cơ quan thuộc Chính phủ; 56.839 đơn vị sự nghiệp trực thuộc các bộ và các Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 713 đơn vị hành chính cấp huyện; 11.162 đơn vị hành chính cấp xã5 Tương ứng với đó, có 272.952 biên chế công chức Kết quả quá trình này ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập hay rộng ra, là cả hệ thống chính trị
Thứ sáu, thực tiễn tinh giản biên chế cho thấy hoạt động này gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp bởi đây là một lĩnh vực nhạy cảm, khó làm, thậm chí được nhìn nhận như một cách thức phòng, chống tham nhũng và đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong bộ máy nhà nước Tinh giản biên chế công chức là quá trình tấn công trực diện vào các “nhóm lợi ích”; cải tổ và thay đổi
tư duy “ăn bám” suốt đời, phụ thuộc cũng như ý thức trì trệ tồn tại rất lâu do
5 https://moha.gov.vn/danh-muc/linh-vuc-chinh-quyen-dia-phuong-dia-gioi-hanh-chinh-26074.html
Trang 30những hệ quả để lại của thời kỳ tập trung quan liệu và bao cấp Bởi thế, tinh giản biên chế còn mang tính xã hội, góp phần giúp thay đổi nhận thức của xã hội về bộ máy nhà nước
Thứ bảy, tinh giản biên chế là một yêu cầu xuyên suốt nhưng qua từng thời kỳ thì yêu cầu ấy được biểu hiện ở những nội dung, mức độ khác nhau Trong giai đoạn hiện nay, quá trình tinh giản biên chế đội ngũ công chức chịu
sự tác động trực tiếp của quá trình cải cách hành chính và ngược lại kết quả của nó là một trong những yếu tố chi phối và quyết định sự thành - bại của cải cách hành chính Tinh giản biên chế và xây dựng lại đội ngũ công chức (cùng với cán bộ, viên chức) vì thế phải được tiến hành đồng bộ với các hoạt động cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính; nâng cao chất lượng dịch vụ công và đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công; ứng dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật công nghệ trong thời đại “cách mạng khoa học, kỹ thuật 4.0”
1.2.2.Nội dung tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
Những đặc trưng của hoạt động tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước trong giai đoạn cải cách hành chính đang diễn ra sôi động quyết định trực tiếp đến những nội dung của hoạt động này Người viết cho rằng, tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước giai đoạn hiện nay được thể hiện trong những nội dung lớn như sau:
Thứ nhất, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước
Tinh giản biên chế công chức gắn bó chặt chẽ với cơ cấu vị trí việc làm Đây chính là mối quan hệ giữa cơ cấu tổ chức và cơ cấu nhân sự Muốn tinh giản biên chế, trước hết phải tiến hành cải tổ bộ máy hành chính Quá trình này bao gồm:
Trang 31Một là, tiến hành rà soát và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước từ đó có cơ sở tổ chức lại, sắp xếp, sáp nhập nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp, bỏ trống hay nhiều tầng nấc trung gian trong cơ cấu tổ chức hiện hành; đặc biệt loại bỏ những văn bản quy phạm pháp luật không thuộc lĩnh vực về tổ chức, bộ máy nhưng
có quy định về tổ chức, bộ máy và biên chế
Hai là, tích cực đổi mới mạnh mẽ phương thức làm việc trong nội bộ cơ quan hành chính; mạnh dạn phân cấp, phân quyền và chuyển giao những công việc mà công chức không nên làm hoặc làm không hiệu quả cho khu vực phi nhà nước đảm nhiệm; thực hiện và áp dụng thống nhất những phương thức làm việc tiến bộ thông qua cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong thực hiện thủ tục hành chính đi đôi với quá trình cắt giảm những thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp hướng tới sự hài lòng của tổ, chức cá nhân đối với sự phục
vụ của nhà nước; tiến tới xây dựng chỉ số hài lòng của người dân làm cơ sở tinh giản biên chế, đánh giá tính hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính
Ba là, đối với hệ thống đơn vị sự nghiệp phải phát huy mạnh mẽ quá trình tự chủ, tự chịu trách nhiệm; nâng cao chất lượng dịch vụ công đảm bảo cạnh tranh theo cơ chế tính giá; xã hội hóa dịch vụ công và tiến hành chuyển đổi đơn vị sự nghiệp theo hướng cổ phần hóa nhằm tinh giản biên chế, nâng cao sự hài lòng của tổ chức, cá nhân nhất là trong các lĩnh vực sự nghiệp thiết yếu, cơ bản
Thứ hai, tiến hành cắt giảm số lượng công chức dư thừa trong biên chế
do sắp xếp lại bộ máy, cơ cấu lại vị tri việc làm; kiên quyết đưa ra khỏi biên chế những công chức yếu kém và năng lực và phẩm chất đạo đức công vụ, đạo đức chính trị; phấn đấu đạt được những mục tiêu trước mắt như không tăng tổng biên chế; hằng năm giảm 50% số biên chế thuộc diện tinh giản và
Trang 32giảm 50% biên chế công chức nghỉ hưu đúng tuổi hoặc thôi việc theo quy định
Thứ ba, tiến hành xây dựng cơ cấu đội ngũ công chức và nâng cao chất lượng công chức trong bộ máy hành chính thông qua hoạt động rà soát, đánh giá phù hợp theo ngạch, chức vụ, chức danh nghề nghiệp; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, chức vụ gắn với quy định ngạch tương ứng; hoàn thiện quy định về tuyển dụng, đánh giá và đổi mới nội dung đào tạo công chức; đặc biệt quá trình tinh giản biên chế phải tập trung nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương với mục tiêu đến năm 2020 tiền lương của công chức
được cải thiện, đảm bảo mức trung bình khá trong xã hội
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
Để đánh giá đầy đủ và chính xác các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính cần nhìn nhận hoạt động này dưới góc độ một chính sách, trong đó, công chức được coi là đối tượng thực thi của chính sách Bằng phương pháp phân tích khoa học chính sách, người viết tiếp cận những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này thông qua những biểu hiện sau:
Một là, tính chất của chính sách tinh giản biên chế trong cơ quan hành chính nhà nước
Tính chất của vấn đề chính sách nói chung là yếu tố gắn liền với mỗi chính sách Tính chất của vấn đề chính sách có tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn đề bằng chính sách Tính chất của vấn đề chính sách tinh giản biên chế công chức rất phức tạp, thể hiện ở chỗ phạm vi đối tượng điều chỉnh của chính sách quá rộng, đặc điểm, tính chất của các đối tượng chính sách rất khác nhau: công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương, ở
Trang 33địa phương, trong đơn vị sự nghiệp hay công chức cấp xã hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Đối tượng tinh giản biên chế công chức thuộc một trong các trường hợp như: dôi dư do cơ cấu lại công chức dôi dư theo vị trí việc làm nhưng không thể bố trí, sắp xếp việc làm khác; do chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ; do có chuyên ngành đào tạo không phù hợp với vị trí việc làm đang đảm nhiệm
Các đối tượng thuộc chính sách tinh giản biên chế là công chức có quá trình công tác, đóng góp cho các cơ quan, đơn vị sự nghiệp nhà nước khác nhau, có quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau nên thực hiện chính sách tinh giản biên chế đối với họ hết sức khó khăn, phức tạp Do đó trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế công chức phải chú ý đến yếu tố khách quan này
để có giải pháp, phương pháp thực hiện chính sách tinh giản biên chế đối với
cụ thể, nên độc lập với quá trình thực thi chính sách Theo nghĩa rộng, môi trường thực thi chính sách chứa đựng toàn bộ các thành phần vật chất và phi vật chất tham gia thực hiện chính sách như các nhóm lợi ích có được từ chính sách trong xã hội; các điều kiện vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế; bầu không khí chính trị; xã hội trật tự; quan hệ quốc tế mở
Môi trường thực hiện chính sách tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính ở nước ta hiện nay cơ bản là thuận lợi Tình hình chính trị xã hội tương đối ổn định, kinh tế nước ta mặc dù còn khó khăn do tác động của
Trang 34khủng hoảng tài chính trên thế giới và khu vực, nhưng vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá, duy trì và phát huy được các thành tựu đạt được sau 30 năm đổi mới Công cuộc cải cách hành chính, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và mở cửa hội nhập quốc tế được nhân dân đồng tình ủng hộ và tích cực tham gia Đó là môi trường hết sức thuận lợi cần phải tận dụng và phát huy để thực hiện chính sách tinh giản biên chế
Ba là, mối quan hệ giữa các đối tượng công chức là chủ thể của chính sách tinh giản biên chế
Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách thể hiện sự thống nhất hay không về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách Nếu lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách không mâu thuẫn với nhau và với đối tượng thụ hưởng thì chính sách được triển khai thực hiện dễ dàng và ngược lại, lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách mâu thuẫn với lợi ích của đối tượng thụ hưởng thì thực hiện chính sách sẽ khó khăn, thậm chí còn thất bại
Trong trường hợp cụ thể này, nhìn chung mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách tinh giản biên chế là công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước với các chủ thể có thẩm quyền quản lý biên chế về cơ bản là đồng thuận Tuy nhiên, không loại trừ những trường hợp hoạt động tinh giản
bị lợi dụng vào các mục đích, động cơ cá nhân hoặc bị chống đối hay làm cho sai lệch từ chính chủ thể quản lý biên chế và đối tượng là công chức bị tinh giản trong biên chế Bởi lẽ, như đã phân tích, lợi ích của nhà nước, tập thể không phải bao giờ cũng “giao cắt” với lợi ích của cá nhân
Bốn là, ảnh hưởng từ nhận thức của đội ngũ công chức trong bộ máy hành chính nhà nước - đối tượng của chính sách tinh giản biên chế
Trang 35Đặc tính của đối tượng chính sách công nói chung, chính sách tinh giản biên chế nói riêng là những đặc điểm, tính chất đặc trưng mà các đối tượng chính sách có được từ bản tính cố hữu hoặc do môi trường sống tạo nên trong quá trình vận động mang tính lịch sử Các đối tượng thuộc chính sách tinh giản biên chế làm việc trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp khác nhau, có thời gian công tác và đóng góp cho nhà nước ở mức độ khác nhau, trong đó có người giữ chức vụ lãnh đạo quản lý quan trọng
Công chức thuộc về biên chế nhà nước, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, có điều kiện và hoàn cảnh sống khác nhau, nhưng đều bị ảnh hưởng bởi truyền thống văn hóa lịch sử và triết lý học để “tiến vi quan” để làm quan, làm việc cho nhà nước Vì ở nước ta nói đến biên chế là nói đến nguồn nhân lực làm việc cho nhà nước hay làm việc trong biên chế nhà nước Đặc biệt trong thời kỳ bao cấp, thậm chí cho đến nay vẫn có sự phân biệt về quyền lợi
và danh dự giữa những người “làm trong biên chế nhà nước” và những người
“không làm trong biên chế nhà nước”, tạo ra cuộc chạy đua để được vào làm việc trong biên chế nhà nước
Vì vậy, trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế phải đặc biệt chú ý đến tác động không tích cực của đặc tính đối tượng chính sách, để
có các giải pháp hữu hiệu tuyên truyền, vận động làm công tác tư tưởng, đả thông, thuyết phục để họ chia sẻ với khó khăn và quyết tâm chính trị của nhà nước, tự giác thực hiện chính sách tinh giản biên chế của nhà nước
Năm là, năng lực thực thi chính sách tinh giản biên chế của cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý nhà nước
Năng lực thực thi chính sách tinh giản biên chế của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước là yếu tố chủ quan có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế Năng lực thực thi chính sách của cán bộ, công chức là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về đạo đức
Trang 36công vụ, năng lực thiết kế tổ chức, năng lực thực tế, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó với những tình huống phát sinh trong tương lai v.v
Năng lực thực tế và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức còn thể hiện ở khả năng thực hiện các quy trình và thủ tục hành chính để giải quyết các mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với cá nhân và tổ chức trong xã hội có liên quan đến thực thi chính sách công Năng lực thực thi chính sách tinh giản biên chế của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý nhà nước là khả năng của họ trong tổ chức thực hiện chính sách Cụ thể đó là kiến thức, kỹ năng và thái độ của họ trong tổ chức thực hiện chính sách Năng lực thực thi chính sách của cán bộ, công chức trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế là yếu tố chủ quan quan trọng, quyết định hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách Vì vậy trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước cần phải chú ý đến yếu tố chủ quan này Cần phải lựa chọn những công chức có đủ năng lực thực hiện chính sách tham gia tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế
Sáu là, điều kiện vật chất bảo đảm cho quá trình thực hiện chính sách tinh giản biên chế
Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực hiện chính sách là yếu tố ngày càng có vị trí quan trọng để cùng nhân sự và các yếu tố khác thực hiện thắng lợi chính sách của nhà nước Để thực hiện chính sách trong nền kinh tế thị trường hội nhập hiện nay, Nhà nước luôn phải tăng cường các nguồn lực vật chất và nhân sự, trong đó có nguồn lực vật chất cần tăng nhanh cả về số lượng
và chất lượng Trong thực tế, do chỉ thiếu các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách thì các cơ quan nhà nước khó có thể chuyển tải những nội dung chính sách đến với chủ thể tham gia và đối tượng thụ hưởng một cách thường xuyên
Trang 37Bảy là, sự đồng tình ủng hộ của người dân đối với chính sách tinh giản biên chế công chức
Sự đồng tình ủng hộ của người dân là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của chính sách Đây là vấn đề hết sức lớn bởi việc tổ chức thực hiện các mục tiêu chính sách không thể chỉ do các cơ quan
và cán bộ, công chức nhà nước làm, mà phải có sự tham gia và sự đồng tình ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Công chức vốn xuất phát từ nhân dân mà ra, được nhân dân ủy thác và trao quyền lực của mình để thực thi nhiệm vụ công, được nhân dân đóng thuế để nhà nước có ngân sách trả lương; phục vụ nhân dân là bổn phận và nghĩa vụ pháp lý của công chức
Chính sách tinh giản biên chế với mục tiêu làm cho biên chế tinh thông, chất lượng hơn góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có
đủ trình độ năng lực chuyên môn, phẩm chất, đạo đức công vụ và đạo đức nghề nghiệp phục vụ đắc lực nhân dân và sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước nhất định sẽ được nhân dân ủng hộ Do đó nhân dân không chỉ là người trực tiếp tham gia hiện thực hóa mục tiêu chính sách, mà còn là đối tượng trực tiếp hoặc gián tiếp thụ hưởng lợi ích do chính sách mang lại Nếu chính sách tinh giản biên chế đáp ứng được nhu cầu thực tế của người dân và xã hội về mục tiêu và biện pháp thi hành thì nó sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân, được nhân dân ủng hộ thực hiện và sự đồng tình ủng hộ của người dân là yếu tố cực
kỳ quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế, nó quyết định sự thành công của việc thực hiện mục tiêu chính sách Cần phải chú ý đến yếu tố quan trọng này trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế
Trang 381.4.Nguyên tắc tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
Thứ nhất, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò giám sát của
cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong quá trình thực hiện Theo nguyên tắc này, các chủ trương, đường lối của
Đảng phải được thấm nhuần và coi là ”kim chỉ nam” cho công tác tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính Nhà nước Bên cạnh đó, các cơ quan dân cử là đại diện của nhân dân trong hệ thống chính trị, thay mặt nhân dân giám sát các hoạt động của Nhà nước cũng như đề đạt các nguyện vọng của nhân dân tới nhà nước Nếu cơ quan dân cử hoạt động không hiệu quả, không phát huy được vai trò của mình, nhiệm vụ tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước sẽ trở nên xa xôi và thiếu minh bạch đối với nhân dân Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và chính nhân dân cũng phải được đảm bảo vai trò giám sát nhằm phát huy tính công khai, minh bạch, qua đó nâng cao hiệu quả nhiệm vụ tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
Thứ hai, tinh giản biên chế công chức trong bộ máy nhà nước phải được tiến hành trên cơ sở rà soát, sắp xếp lại tổ chức và thực hiện đánh giá, phân loại công chức trong cơ quan, đơn vị Tinh giản đúng đối tượng là một yêu
cầu rất quan trọng Tuy nhiên việc đánh giá đối tượng tinh giản lại đang là một vướng mắc lớn hiện nay Yêu cầu của nguyên tắc này đảm bảo tính pháp
lý khoa học và hợp lý trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế: Một là, bảo đảm tính pháp lý trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế công chức đòi hỏi phải tuân thủ và chấp hành đầy đủ các quy định về thực thi chính sách, pháp luật; đảm bảo cho việc tổ chức thiện hiện chính sách được tập trung, thống nhất
Trang 39Hai là, bảo đảm bộ máy hành chính nhà nước phải gọn, nhẹ, đủ năng lực
tổ chức thực hiện chính sách theo qui trình khoa học Tính khoa học thể hiện trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế ở việc phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý chính sách, ở việc thu hút các nguồn lực hướng mạnh vào thực hiện mục tiêu chính sách, hình thành các chương trình, dự án để thực hiện có hiệu quả chính sách tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước
Thứ ba, phải bảo đảm nguyên tắc công khai, dân chủ, khách quan, công bằng và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Tất cả mọi hoạt động của
bộ máy hành chính nhà nước đều phải thể hiện tính thượng tôn pháp luật và tôn trọng sự tham gia, giám sát của nhân dân Do đó, đối với vấn đề tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước; người dân phải được tiếp cận thông tin một cách công khai, tham gia trực tiếp bằng những kiến nghị, phản ánh để khẳng định tính dân chủ, khách quan Đồng thời, phải coi chỉ số hài lòng của người dân về công tác phục vụ của đội ngũ công chức hành chính là điều kiện tiên quyết để tinh giản biên chế
Thứ tư, tinh giản biên chế công chức phải bảo đảm chi trả chế độ, chính sách tinh giản biên chế kịp thời, đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật
Nguyên tắc này yêu cầu phải đảm bảo lợi ích thực sự cho đối tượng thụ hưởng chính sách tinh giản biên chế - đội ngũ công chức hành chính Trong quá trình thực hiện tinh giản biên chế, phải xác định chính xác và cụ thể các đối tượng trực tiếp được thụ hưởng chính sách Chỉ những đối tượng nào thuộc phạm vi điều chỉnh của chính sách thì mới được thụ hưởng do chính sách tinh giản biên chế Tuân thủ yêu cầu này để tránh các trường hợp giải quyết chính sách không đúng, không đủ hay không phù hợp
Thứ năm, phát huy thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu các
cơ quan trong bộ máy hành chính Nhà nước trong quá trình thực hiện Trách
Trang 40nhiệm của người đứng đầu là yếu tố quan trọng trong quá trình cải cách bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam Đối với nhiệm vụ tinh giản biên chế công chức trong bộ máy hành chính nhà nước, việc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu để thông qua đó thực hiện quá trình tinh giản biên chế là một trong những nguyên tắc chiến lược Nguyên tắc này đòi hỏi người đứng đầu phải hết sức khách quan, minh bạch