Do đó, người viết đã lựa chọn đề tài “Quyền sở hữu chung của hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất và thực trạng giải quyết tranh chấp quyền sở hữu chung của hộ gia đình đối với quyền s
Trang 1LÊ ANH CƯƠNG
QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH
VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
SƠN LA - NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ ANH CƯƠNG
QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH
VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi Các số liệu, ví dụ trong luận văn là trung thực Những kết luận trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Anh Cương
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài……….… 2
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu ………4
a Đối tượng nghiên cứu ……….… 4
4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn……… 4
5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn ………6
6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn …6 7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ……… 7
8 Bố cục của luận văn ……… 7
PHẦN NỘI DUNG ……… ……9
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT………9
1.1 Những vấn đề chung về hộ gia đình……….9
1.2 Khái niệm quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất 12
1.2.1.Khái niệm, đặc điểm của quyền sử dụng đất……….…12
1.2.2 Nội dung quyền sở hữu chung của hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất……… 20
1.2.3 Căn cứ phát sinh quyền sở hữu chung của hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất……… 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA……… 31
Trang 62.1 Khái quát về Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Sơn La ……… 31 2.2 Nguyên nhân tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc sở hữu chung của
hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Sơn La……….37 2.3 Một số bất cập và các trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu của hộ gia
đình về quyền sử dụng đất giải quyết tại tòa án tỉnh Sơn La ………39
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT… 62
3.1 Giải pháp chung để thực hiện quyền sở hữu của hộ gia đình về quyền sử dụng đất……….….62 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và kiến nghị liên quan đến quyền
sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất……… 63 3.2.1 Cần sửa đổi các quy định trong luật đất đai cho phù với quy định trong Bộ luật dân sự 2015……….….65 3.2.2 Cần có văn bản hướng dẫn của Luật đất đai về hộ gia đình…… 65 3.2.3 Cần sửa đổi một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình trong việc xác định tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất.…….…….65 3.2.4 Giải pháp tổ chức thực thi pháp luật liên quan đến quyền sử dụng đất
của Hộ gia đình ……… …… …67
PHẦN KẾT LUẬN ……… …71
Trang 7
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là quà tặng của thiên nhiên ban cho con người, là tài sản vô cùng quý giá của mỗi Quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện tối thiểu đảm bảo cho quá trình tái sản xuất giúp xã hội không ngừng phát triển Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm
2020 Đất đai trở thành nguồn nội lực quan trọng để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do đó, việc quản lý đất đai được Đảng, nhà nước, các cấp các ngành đặc biệt quan tâm
Trong quá trình đổi mới từ 1986 đến nay, chính sách, pháp luật đất đai cũng từng bước đổi mới phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kế thừa các quy định của Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân” (Điều 17); “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch, pháp luật” (Điều 18); Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 1980, 1992; Luật Đất đai 1987, 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một
số Điều của Luật Đất đai 1998, 2001 và Luật Đất đai 2003 khẳng định Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu Trên cơ sở quán triệt chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; quyền sử dụng đất từng bước được mở rộng, từ 5 quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất (Luật đất đai 1993) đã phát triển thành 9 quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (Luật Đất đai 2003) và đến Luật đất đai
2013 là 8 quyền (bỏ quyền bảo lãnh trong Luật đất đai 2003) Tương ứng với
sự phát triển của quyền sử dụng đất là sự đa dạng của các chủ thể có quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, bao gồm: cá nhân,
Trang 8pháp nhân, hộ gia đình và các chủ thể khác Trong các loại chủ thể đó thì hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất Tuy nhiên, trước tình hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mạnh m , cơ chế kinh tế thị trường đã từng bước được hình thành, thị trường đất đai ngày càng phát triển và hòa nhập vào nền kinh tế thị trường và từng bước đồng bộ với các thị trường khác trong nền kinh tế quốc dân Thì cũng đã nảy sinh nhiều tranh chấp liên quan đến quyền
sở hữu chung của hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất Quá trình giải quyết các tranh chấp đã lộ ra nhiều bất cập trong công tác quản lý nhà nước đối với quyền sử dụng đất của hộ gia đình, trong quá trình giải quyết các tranh chấp
về quyền sử dụng đất của hộ gia đình tại các cấp Tòa án cũng xuất hiện nhiều quan điểm không thống nhất khi giải quyết vụ án do quy định của pháp luật dân sự liên quan đến vấn đề này còn nhiều điểm còn thiếu sót, chưa cụ thể,
chưa rõ ràng Do đó, người viết đã lựa chọn đề tài “Quyền sở hữu chung của
hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất và thực trạng giải quyết tranh chấp quyền sở hữu chung của hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Sơn La” với mong muốn làm rõ hơn các quy định của pháp luật, đồng
thời chỉ ra được phần nào những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại đó để từ đó
đề xuất phương án hoàn thiện pháp luật về vấn đề này cũng như kiến nghị
những giải pháp áp dụng pháp luật trên thực tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về vấn đề quyền sử dụng đất của hộ gia đình dưới nhiều cấp độ khác nhau như:
Luận văn thạc sĩ Phùng Văn Hiếu - Thế chấp Chấp Quyền Sử Dụng
Đất Của Hộ Gia Đình - Thực Tiễn Áp Dụng Tại Ngân Hàng Thương Mại Quốc Tế Việt Nam Luân văn phân tích về hợp đồng thế chấp, chủ thể, đối
Trang 9tượng của hợp đồng thế chấp là quyền sử dung đất thuộc sở hữu chung của hộ gia đình Nêu một số bất cập của việc xác định thành viên hộ gia đình trong thế chấp quyền sử dụng đất
Luận văn thạc sĩ Trần Thị Hòa Thực trạng và giải pháp thực hiện các
quyền sử dụng đất của hộ gia đình,cá nhân trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, Hòa bình 2013 Đây là công trình nghiên cứu thực tiễn về quyền sở hữu đối với
quyền sử dụng đất của hộ gia đình tại Huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình Trên cơ sở những vụ việc thực tế của địa phương, luận văn kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật pháp luật đất đai và các luật liên quan đến hộ gia đình
Các bài nghiên cứu trên tạp chí chuyên ngành:
Xác định tư cách chủ thể thành viên hộ gia đình trong định đoạt quyền
sử dụng đất là tài sản chung của hộ.TS Nguyễn Minh Tuấn, Khoa pháp luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội (23/11- 13/1/2012) Bài viết phân tích
chủ thể hộ gia đình trong các quan hệ pháp luật như: Luật đất đai, luật Hộ tịch, Luật dân sự
Đinh Dũng Sỹ (2003), “Bảo vệ quyền sở hữu toàn dân về đất đai và
quyền sử dụng đất của người sử dụng đất: thực trạng và kiến nghị”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tr 55 - 64 Bài viết đã phân tích những vấn đề pháp
lý về bảo vệ quyền sở hữu toàn dân về đất đai và thực trạng vi phạm quyền
sở hữu toàn dân về đất đai và đưa ra kiến nghị về tăng cường quản lý nhà nước về đất đai
Đào Trung Chính (2005), “Một số vấn đề về quyền sử dụng đất trong
thị trường bất động sản”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, (5/2005) Tác
giả phân tích tầm quan trọng của thị trường bất động sản là giá trị quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất là hàng hóa có giá trị lớn, cho nên được các chủ thể đưa vào các giao dịch để kinh doanh
Trang 10Hầu hết những công trình nghiên cứu đều nghiên cứu một vài khía cạnh liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình mà không có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về quyền sở hữu chung của hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất
3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định liên quan đến quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất trong Bộ luật dân
sự (BLDS) năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành Ngoài ra, luận văn cũng nghiên cứu một số trường hợp cụ thể trên thực tế liên quan đến quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất
b Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất , luận văn tập trung nghiên cứu các quy định trong một số văn bản pháp luật như: Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai 1993; Luật Đất đai năm 2003; Luật Đất đai năm 2003; BLDS 1995, BLDS 2005, BLDS 2015 và các văn bản pháp luật khác có liên quan Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu một số trường hợp cụ thể trong hồ sơ, tài liệu của Tòa án nhân dân có liên quan đến quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất
4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất, luận văn phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật, nhận dạng những thuận lợi cũng như những bất cập, hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật về chế độ sở hữu chung về quyền
sử dụng đất của các thành viên trong hộ gia đình, trên cơ sở đó chỉ ra những
Trang 11điểm còn thiếu sót, chưa phù hợp của luật thực định và những bất cập trong quá trình áp dụng luật vào thực tiễn Từ đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp có tính chất khả thi nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về chế độ sở hữu chung về quyền sử dụng đất của các thành viên trong hộ gia đìnhđáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đời sống đang ngày càng phát triển đa dạng, phong phú
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn xác định những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất, hộ gia đình, quyền sở hữu, quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất
Thứ hai: Nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành
về quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay
Thứ ba: Tìm hiểu thực tiễn áp dụng, vận dụng các quy định của pháp luật về quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất qua hoạt động xét xử của ngành Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự liên quan trực tiếp đến vấn đề quyền sở hữu chung của hộ gia đình ; Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền sở hữu chung của hộ gia đình tại các Toà án nhân dân thông qua các việc xét xử các vụ án liên quan đến quyền sở hữu chung của hộ gia đình Qua đó, đánh giá về những thành công và hạn chế của việc áp dụng pháp luật về chế độ quyền sở hữu chung của hộ gia đình
Thứ tư: Trên cơ sở phân tích nội dung và thực tiễn áp dụng quyền sở hữu chung của hộ gia đình theo luật thực định, luận văn kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về chế sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất dưới góc độ pháp luật và áp dụng pháp luật
Trang 125 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
Quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất là gì?
Nội dung của Quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất là gì ?
Cách áp dụng Quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất vào thực tế đời sống và thực trạng áp dụng theo quy định của pháp luật như thế nào?
Với những bất cập, khó khăn còn tồn tại, phương án giải quyết là gì?
6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trên cơ sở nền tảng là các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, được hình thành từ một
cơ sở hạ tầng phù hợp Pháp luật được coi là tấm gương phản chiếu xã hội, còn xã hội được coi là cơ sở thực tiễn của pháp luật Như vậy, các quy định của pháp luật phải phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội thì mới có tính khả thi trong quá trình thực hiện và áp dụng, từ đó tạo cơ sở ổn định cho xã hội phát triển
Bên cạnh phương pháp chủ đạo dựa trên cơ sở nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, đề tài cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp nghiên cứu lịch sử để nghiên cứu, tìm hiểu về quyền sở hữu tài sản theo từng thời kỳ ở Việt Nam; phương pháp thống kê sử dụng trong quá trình nghiên cứu, khảo sát thực tế; phương pháp so sánh nhằm tìm ra những điểm tương đồng giữa pháp luật Việt Nam qua từng thời kỳ với pháp luật thế giới; phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để giải quyết các vấn đề
Trang 13về lý luận chung, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành…
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Sự ra đời của BLDS 2015 đã đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng về pháp lý trong lĩnh vực dân sự Với đề tài này, người viết hi vọng có thể xây dựng được một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy luật học nói chung và luật dân sự nói riêng Bên cạnh đó, luận văn cũng có ý nghĩa thiết thực cho những cá nhân không hoạt động trong lĩnh vực pháp luật, đặc biệt là các hộ gia đình Luận văn góp phần cung cấp những kiến thức lý luận và thực tiễn về chế độ sở hữu tài sản chung của hộ gia đình, quy định của pháp luật về Quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của các thành viên đối với tài sản chung là quyền
sử dụng đất… Trên cơ sở đó, người đọc có thể tự mình nghiên cứu lý thuyết
và ứng dụng vào thực tế để giải quyết các vấn đề, tạo nền tảng cho việc thực hiện pháp luật một cách đầy đủ, chính xác
Ngoài ra, những vấn đề pháp lý cũng như những kiến nghị được đề xuất trong luận văn này cũng phần nào đóng góp cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, củng cố việc thực thi pháp luật ở nước ta hiện nay Người viết hi vọng luận văn có thể đem đến một cái nhìn tổng quát về Quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất theo BLDS 2015 và những vấn đề cần tập trung nghiên cứu thêm để trong tương lai không xa, chúng ta có thể xây dựng một hệ thống pháp luật dân sự thật hoàn thiện, phù hợp với định hướng phát triển của đất nước và mong muốn của mỗi người dân
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về quyền sở hữu chung của hộ gia
Trang 14đình đối với quyền sử dụng đất
Chương 2 Thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Sơn La
Chương 3 Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1 Những vấn đề chung về hộ gia đình
1.1.1 Khái niệm hộ gia đình
Hộ gia đình là khái niệm được nhắc đến trong các văn bản pháp luật từ rất sớm (từ những năm 1964) và được ghi nhận như là một chủ thể pháp lý tham gia các quan hệ dân sự, chẳng hạn như: chủ thể quan hệ pháp luật dân sự (điều 106 đến Điều 110 BLD 2005; Điều 101 đến 104 BLDS 2015); chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014); chủ thể quan hệ pháp luật cư trú, hộ tịch (Điều 24, 25 Luật cư trú năm 2006); chủ thể quan hệ pháp luật về đăng ký kinh doanh, kinh doanh (Nghị định số 88/2006/NĐ-CP); chủ thể quan hệ pháp luật về đất đai (quan hệ giao đất, cho thuê đất, nhận khoán đất sản xuất, chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất)… Ngoài ra, hộ gia đình còn là chủ thể của quan
hệ pháp luật dân sự là vấn đề có nguồn gốc từ lịch sử và mang tính đặc thù của Việt Nam
Theo từ điển Luật học, Hộ gia đình là “tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng”
Còn trong BLDS 2005, khái niệm Hộ gia đình không được định nghĩa một cách chính thức, mà chỉ khẳng định Hộ gia đình có thể là chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự (Điều 106 BLDS 2005): „Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này Điều 106 BLDS 2005 không xác định người nào là
Trang 16thành viên hộ gia đình, cho nên trong hộ gia đình có những người thân như cháu gọi chủ hộ là bác ruột thì có phải là thành viên hộ gia đình hay không Vấn đề này cần xác định tư cách hộ gia đình trong quan hệ pháp luật đất đai hay quan hệ hành chính Trong quản lý nhà nước về hộ khẩu s căn cứ vào sổ
hộ khẩu xác định những người có tên trong sổ hộ khẩu là thành viên hộ Trong quan hệ đất đai thì hộ gia đình phải là những người sinh ra và cùng chung sống trong một nhà và được giao quyền sử dụng đất1
Sau khi BLDS 2015 ra đời thì xác định tư cách chủ thể của hộ gia đình theo quy định tại khoản 2 Điều 101 BLDS 2015:
“ Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai”
Đối chiếu với quy định tại Luật Đất đai 2013, tại khoản 29, 30 Điều 3 Luật Đất đai 2013 có ghi:
“ Hộ gia đình sử dụng đất” là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thông, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhạn quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất”
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó”
1 TS Nguyễn Minh Tuấn.Xác định tư cách chủ thể thành viên hộ gia đình trong định đoạt quyền sử dụng đất
là tài sản chung của hộ Tạp chí Luật học 11.2012
Trang 17Như vậy, ngay cả trong các quy định này cũng không có khái niệm chính thức về Hộ gia đình mà chỉ có khái niệm về trường hợp cụ thể của hộ gia đình sử dụng đất
Theo quy định trên có thể hiểu “Hộ gia đình sử dụng đất” có 02 dấu hiệu nhận biết là:
Dấu hiệu 1: Thành viên gồm những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình
Dấu hiệu 2: Đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất (tức là thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)
- Phân loại hộ gia đình:
Hộ gia đình được phân loại như sau:
Hộ một người (01 nhân khẩu) Là hộ chi có một người đang thực tế thường trú tại địa bàn, như hộ gia đình trước đây nhiều người nhưng hiện tại chỉ còn một người
Hộ hạt nhân: Là loại hộ chỉ bao gồm một gia đình hạt nhân đơn (gia đình chỉ có 01 thế hệ) và được phân tổ thành: Gia đình có một cặp vợ chồng
có con đẻ hoặc không có con đẻ hay bố đẻ cùng với con đẻ, mẹ đẻ cùng với con đẻ
Hộ mở rộng: Là hộ bao gồm gia đình hạt nhân đơn và những người có quan hệ gia đình với gia đình hạt nhân Ví dụ: một người cha đẻ cùng với con
đẻ và những người thân khác, hoặc một cặp vợ chồng với người thân khác;
Hộ hỗn hợp: Là trường hợp đặc biệt của loại hộ gia đình hỗn hợp có nhiều thế hệ cùng chung sống và có chung nền kinh tế
Trang 181.2 Khái niệm quyền sở hữu chung của hộ gia đình về quyền sử dụng đất
1 2.1 Khái niệm, đặc điểm của quyền sử dụng đất
- Khái niệm
Quyền sử dụng đất là một thuật ngữ pháp lý lần đầu tiên được ghi nhận trong Luật Đất đai năm 1987 Thuật ngữ này tiếp tục sử dụng trong Luật Đất đai năm 1993 Hơn thế nữa, Luật Đất đai năm 1993 đã chính thức ghi nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài của hộ gia đình, cá nhân và cho phép họ được chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn sử dụng Với quy định này của Luật Đất đai năm 1993, quan hệ sở hữu đất đai ở nước ta được mang một ý nghĩa mới: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, quyền sử dụng đất thuộc về người
sử dụng đất Hay nói cách khác, kể từ đây quyền sử dụng đất đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai và được chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho người sử dụng đất thực hiện hiện và trở thành một quyền tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất Từ đó đến nay, khái niệm quyền sử dụng đất vẫn tiếp tục được ghi nhận trong Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 nhưng hai văn bản này vẫn chưa định nghĩa được khái niệm
Theo quan điểm của đa số các nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu pháp luật ở nước ta thì quyền sử dụng đất được hiểu là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
- Đặc điểm của quyền sử dụng đất
Quyền sử dụng đất là quyền tài sản gắn với đất đai có một số đặc điểm của quyền sử dụng đất
Thứ nhất, quyền sử dụng đất là quyền được tách ra từ quyền sở hữu đất đai và tồn tại độc lập với quyền sở hữu đất đai
Trang 19Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ
sở hữu Nước ta không thừa nhận quyền sở hữu của bất kỳ chủ thể nào khác ngoài Nhà nước đối với đất đai Nhưng mọi cá nhân, hộ gia đình, tổ chức trong xã hội đều cần có những quyền nhất định đối với đất đai như quyền sử dụng đất để xây dựng nhà ở, nhà máy sản xuất, để trồng trọt, chăn nuôi…Do
đó, Nhà nước phải trao đổi cho người dân những quyền nhất định để người dân thỏa mãn nhu cầu của họ Từ nhu cầu thực tế đó, Nhà nước trao cho người dân quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất đã được tách khỏi quyền sở hữu và trở thành một quyền độc lập, tồn tại bên cạnh quyền sở hữu đất đai của Nhà nước
Thứ hai, chủ thể của quyền sử dụng đất là người sử dụng đất
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Do đó, Nhà nước là chủ thể có các quyền như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với đất đai “Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất ” Như vậy, người sử dụng đất chính là chủ thể có quyền sử dụng đất Đó là những cá nhân, hộ gia đình, tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Những chủ thể này không có quyền sở hữu đất đai, nhưng có quyền sử dụng đất
Thứ ba, quyền sử dụng đất là một hệ thống các quyền của người sử dụng đất
Quyền sử dụng đất không phải là một quyền đơn lẻ mà là một tập hợp các quyền của người sử dụng đất Nội hàm khái niệm quyền sử dụng đất có sự
kế thừa và ngày càng mở rộng cùng với sự phát triển của pháp luật về đất đai
và sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội Quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai 1987 chính là quyền khai thác, sử dụng đất đúng mục đích sử dụng đất đã
Trang 20được xác định Người sử dụng đất được hưởng những quyền lợi hợp pháp trên đất được giao, kể cả quyền chuyển, nhượng, bán thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao khi không còn sử dụng đất và đất đó được giao cho người khác sử dụng theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Nội hàm quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân có thêm các quyền chuyển đổi, chuyển nhượn, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai 1993 Trong Luật Đất đai 2003, các quyền của người sử dụng đất được
mở rộng thành hệ thống các quyền, bao gồm quyền chung của tất cả những người sử dụng đất và các quyền cụ thể của từng người sử dụng đất gắn với hình thức sử dụng đất của họ Ngoài các quyền đã có trong Luật Đất đai năm
2003, Luật Đất đai năm 2013 còn bổ sung thêm các quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề Tổng thể các quyền do pháp luật quy định đều là những quyền cụ thể của quyền sử dụng đất
Thứ tư, quyền sử dụng đất là quyền tài sản
Đất đai là tài sản tồn tại ở hình thức vật chất cụ thể Quyền sử dụng đất
là tài sản tồn tại ở dạng quyền, còn gọi là quyền tài sản Với tư cách là quyền tài sản, quyền sử dụng đất là quyền trị giá được bằng tiền,c so thể chuyển giao hoặc không chuyển giao trong giao dịch dân sự
Thứ năm, quyền sử dụng đất là một hệ thống các quyền “cho phép chủ thể tiếp cận, nắm giữ, khai thác năng lực sinh lợi và công dụng của đất theo quy định của pháp luật”
Đặc điểm này nói lên khía cạnh kinh tế của quyền sử dụng đất Trong bối cảnh Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất đối với đất đai, mà đất đai lại là tài sản có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống kinh tế, xã hội và giao lưu dân sự thì việc thừa nhận giá trị kinh tế của quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng
Trang 21trong việc ổn định đời sống, xóa bỏ những rào cản để phát huy mọi tiềm năng của xã hội phục vụ cho sự phát triển kinh tế
Thứ sáu, quyền sử dụng đất là một quyền có giới hạn
Khác với quyền sở hữu đất đai của Nhà nước, quyền sử dụng đất của các chủ thể không phải là một quyền tuyệt đối với vĩnh viễn Quyền sử dụng đất của người sử dụng bị giới hạn bởi các yếu tố sau:
Một là, quyền sử dụng đất bị giới hạn bởi thời hạn sử dụng đất nếu phân loại theo thời hạn sử dụng, thì đất đai được chia làm hai loại: Đất sử dụng ổn định, lâu dài và đất sử dụng có thời hạn Đất sử dụng ổn định, lâu dài
là loại đất mà Nhà nước không quy định cụ thể thời hạn sử dụng, người sử dụng đất có quyền sử dụng đất đó cho đến khi Nhà nước ra quyết định thu hồi đất Đất sử dụng có thời hạn là đất mà luật quy định thời hạn sử dụng cụ thể, người sử dụng chỉ có quyền sử dụng đất trong thời hạn sử dụng đất
Hai là, quyền sử dụng đất bị giới hạn bởi hình thức Nhà nước trao quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất của người sử dụng đất được Nhà nước trao quyền sử dụng đất theo hình thức giao đất không thu tiền sử dụng khác với quyền sử dụng đất của người sử dụng đất được Nhà nước trao quyền sử dụng đất theo hình thức giao đất có thu tiền Quyền sử dụng đất của người sử dụng đất theo hình thức thuê đất khác quyền sử dụng đất của người sử dụng đất theo hình thức giao đất có thu tiền Quyền sử dụng đất của người sử dụng đất theo hình thức trả tiền một lần cho cả thời gian thuê cũng có quyền sử dụng đất khác với quyền sử dụng đất của người sử dụng đất thuê đất trả tiền hàng năm
- Quyền sử đất là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của Hộ gia đình
Quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình chính là khối tài sản
do các thành viên của cả hộ tạo lập nên trong quá trình tiến hành các hoạt
Trang 22động kinh tế chung và các tài sản mặc dù thuộc sở hữu cá nhân nhưng có thỏa thuận góp vào khối tài sản chung, hoặc các tài sản được sử dụng vào mục đích hoạt động kinh tế chung Hoạt động kinh tế chung có thể hiểu là việc cùng canh tác trên một thửa ruộng, cùng làm một nghề thủ công như: làm giấy, in tranh, đồ mộc, đồ sành sứ, làm đồ thủ công mỹ nghệ, cùng sản xuất một loại sản phẩm… mà mỗi thành viên phụ trách một công đoạn trong quá trình sản xuất hoặc cùng tạo ra một nhóm sản phẩm và tiến hành phân phối, bán, cho thuê trong một tổng thể… và cùng được hưởng lợi từ các hoạt động kinh tế chung nêu trên Việc hưởng lợi có thể là trực tiếp (nhận tiền, tài sản chia cho từng người) hoặc thông qua việc thụ hưởng chung các lợi ích như nhà ở, ăn uống, đi lại bằng tài sản chung
Như vậy, các hoạt động riêng của thành viên hộ gia đình như mua bán phục vụ tiêu dùng cá nhân không được coi là quan hệ của hộ gia đình và hộ gia đình không phải chịu trách nhiệm với hành vi của cá nhân đó (trong trường hợp cá nhân đã thành niên và có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự)
Theo quy định tại Điều 108 BLDS 2005 thì:
Tài sản chung của hộ gia đình bao gồm: quyền sử dụng đất, quyền sử
dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ”
Tại BLDS 2015 thì việc xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình được thông qua các quy định sau:
Theo quy định tại Điều 115 BLDS 2015: Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác
Trang 23Theo quy định tại khoản 1 Điều 102 BLDS 2015: “Việc xác định tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này.”
Điều 212 BLDS 2015 quy định: “Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”
Do vậy, quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản chung của hộ gia đình Căn cứ pháp lý để xác lập quyền sở hữu chung đối với tài sản chung của
hộ gia đình là quyền sử dụng đất được thể hiện thông qua Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được nhắc tới bắt đầu từ Luật Đất đai 1987, Luật đất đai 1993, Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ
về việc ban hành quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất đất nông nghiệp và Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục địa chính hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Song khái niệm về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ được ghi nhận từ Luật đất đai 2003 Luật đất đai năm 2003 quy định:
“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất” Đến năm 2013, Khái niệm này có bổ sung thêm theo Khoản 16, Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định “ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đai là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
Trang 24nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau: Tại điểm b, khoản 3, Điều 43 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai thì: “Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất
là tài sản chung của cả hộ gia đình không thuộc trường hợp quy định tại điểm
a khoản này thì ghi họ, tên chủ hộ” Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều
43 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP thì: “Trường hợp hộ gia đình sử dụng
đất nông nghiệp được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất là tài sản chung của cả vợ và chồng thì ghi cả họ tên vợ và
họ, tên chồng; trường hợp hộ gia đình đề nghị chỉ ghi họ, tên vợ hoặc họ, tên chồng thì phải có văn bản thỏa thuận của vợ và chồng có chứng thực của Ủy ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn”
Khoản 2 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 quy định về nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:
“ 2 Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người
sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy
đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà
ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện ”
Tại điểm c, khoản 1 Điều 5 của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Trang 25có quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất thì ghi “Hộ ông” (hoặc “Hộ bà”), sau
đó ghi họ tên, năm sinh, tên và số của giấy tờ nhân thân của chủ hộ gia đình như quy định tại điểm a khoản này; địa chỉ thường trú của hộ gia đình Trường hợp chủ hộ gia đình không có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi người đại diện là thành viên khác của hộ gia đình có chung quyền
sử dụng đất của hộ gia đình
Trường hợp chủ hộ gia đình hay người đại diện khác của hộ gia đình
có vợ hoặc chồng cùng có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi cả
họ tên, năm sinh của người vợ hoặc chồng đó”
Tại Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29-9-2017 của Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6-1-2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (gọi tắt là Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ) có đưa ra quy định mới về việc “ghi tên tất cả thành viên hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất (QSDĐ) vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), quyền sở hữu nhà” thay vì một người đại diện như trước đây (khoản 5 Điều 6) có hiệu lực từ ngày 05/12/2017 Tuy nhiên, thông tư này hiện đã bị tạm ngưng hiệu lực theo Thông tư số 53/2017/TT-BTNMT ngày 04/12/2017 quy định ngưng hiệu lực thi hành khoản 5 điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29-9-2017 do vấp phải dư luận về những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện; trong đó, lo ngại làm phát sinh thêm thủ tục hành chính, gây phiền hà, nhũng nhiễu khi thực hiện…
Tuy nhiên Bộ Tài nguyên môi trường khẳng định, việc hướng dẫn ghi tên các thành viên có chung quyền sử dụng đất đối với trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình tại Khoản 5 Điều 6 của Thông tư số
Trang 2633/2017/TT-BTNMT là phù hợp với quy định tại Khoản 29 Điều 3, Khoản 1 Điều 97 và Khoản 2 Điều 98 của Luật Đất đai; Điều 101 và Điều 212 của BLDS năm 2015
Điều này, cũng đã được Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ
Tư pháp khẳng định tại Công văn số 704/KTVB-KT ngày 29-11-2017 của Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Bộ Tư pháp về việc báo cáo kết quả kiểm tra Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT Trong công văn, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp khẳng định: Nội dung quy định này là có cơ sở pháp lý, phù hợp với quy định của Luật đất đai năm 2013
“Thống nhất cao việc Khoản 2 Điều 98 Luật Đất đai được điều chỉnh cho trường hợp người có chung quyền sử dụng đất nói chung và thành viên hộ gia đình sử dụng đất có chung quyền sử dụng đất nói riêng Đồng thời khẳng định quy định nêu trên tại Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT là có cơ sở pháp lý và phù hợp với Luật đất đai năm 2013”
1.2.2 Nội dung quyền sở hữu chung của hộ gia đình đối với quyền
sử dụng đất
Nội dung quyền sở hữu là tổng hợp các hành vi của chủ sở hữu tác động vào tài sản trong phạm vi pháp luật cho phép Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nội dung quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Khi thực hiện nội dung quyền sở hữu là thể hiện ý chí tự do của chủ sở hữu đối với tài sản Nội dung quyền sở hữu có thể khái quát theo quy định của Bộ luật dân sự Nhật bản như sau: Nội dung quyền sở hữu bao gồm quyền tự do sử dụng thu lợi nhuận và định đoạt quyền đó với giới hạn luật định 2
2 Bộ Tư pháp Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý Bình luận khoa học BLDS Nhật Bản NXB Chính Trị Quốc gia Hà Nội 1995
Trang 27Nội dung quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất là tổng hợp các quyền của người sử dụng đất bao gồm quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế, góp vốn… Ngoài ra, người sử dụng đất có quyền thực hiện các hành vi khác không bị pháp luật cấm đối với quyền sử dụng đất như khai thác công dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất, lợi ích tinh thần và các nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu sản xuất kinh doanh 3
Quyền sở hữu chung là quyền của hai hay nhiều chủ thể đối với tài sản chung, các chủ sở hữu thỏa thuận về việc thực hiện nội dung quyền sở hữu Đối với hộ gia đình có quyền sở hữu chung đối với quyền sử dụng đất được thể hiện thông qua các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng đất là tài sản chung của các thành viên hộ gia đình
* Nội dung Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt của các thành viên hộ gia đình về quyền sử dụng đất
Theo quy định tại Điều 182 BLDS 2005 thì “quyền chiếm hữu là quyền
nắm giữ, quản lý tài sản”
Theo quy định tại Điều 186 BLDS 2015 thì: “Chủ sở hữu được thực
hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”
Điều 212 BLDS 2015 quy định: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng
ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác
3
Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên) Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2015 NXB Tư pháp 2016
Trang 28Như vậy có thể hiểu quyền chiếm hữu đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất của hộ gia đình là quyền của các thành viên hộ gia đình trong việc nắm giữ, quản lý tài sản chung là quyền sử dụng đất trong quá trình sinh sống Các thành viên có quyền ngang nhau trong việc chiếm giữ Nhưng điều đó không có nghĩa tất cả phải là người trực tiếp nắm giữ tài sản chung là quyền
sử dụng đất mà cho dù chỉ một người nắm giữ (có thể là người đại diện hộ gia đình hoặc một người bất kỳ trong số các thành viên hộ gia đình có quyền chiếm hữu) thì các bên đều có quyền định đoạt, sử dụng đối với quyền sử dụng đất đó Việc chiếm hữu được thực hiện thông qua thỏa thuận của các thành viên trong hộ gia đình Thỏa thuận này có thể bằng miệng hoặc xác lập bằng văn bản Trường hợp tham gia các quan hệ pháp luật dân sự thì phải được xác lập bằng văn bản
Về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong hộ gia đình liên quan đến quyền sử dụng đất là tài sản chung thì các bên có thể tự do thỏa thuận theo ý chí chủ quan của mình, không bị ràng buộc bởi quy định của pháp luật
Quyền sử dụng được quy định tại Điều 189 BLDS 2015:
“ Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức
từ tài sản
Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.”
Trong sở hữu chung, quyền sử dụng chung quyền sử dụng đất của hộ
gia đình được hiểu là quyền của các thành viên trong hộ gia đình trong việc
tự mình sử dụng để khai thác công dụng của tài sản chung, quyền được hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung đó nhằm phục vụ cho lợi ích chung của gia đình, đáp ứng lợi ích chính đáng các thành viên trong hộ gia đình trong cuộc sống hàng ngày
Trang 29Một tài sản khi đã trở thành tài sản chung của hộ gia đình thì các thành viên đều có quyền ngang nhau trong việc khai thác công dụng từ tài sản đó Khi tài sản chung sinh ra hoa lợi, lợi tức thì dù người đã trực tiếp khai thác công dụng của tài sản đó là bất kỳ ai trong hộ gia đình thì hoa lợi, lợi tức đó vẫn đương nhiên trở thành tài sản chung Các thành viên đều có quyền hưởng hoa lợi, lợi tức do tài sản chung đó sinh ra mà không phụ thuộc vào việc người nào đã tạo ra hoa lợi, lợi tức đó
Tương tự như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng trong trường hợp này
là sự thỏa thuận của các thành viên hộ gia đình trong việc khai thác công dụng của tài sản, các vấn đề về hoa lợi, lợi tức phát sinh từ quyền sử dụng đất nhằm làm tăng giá trị của khối tài sản chung, phục vụ cho nhu cầu chung của gia đình
Quyền định đoạt đối với quyền sử dụng đất:
Điều 192 BLDS 2015 có ghi: Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản
Theo quy định tại Điều 194 BLDS 2015 là “Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.”
Đối với tài sản là quyền sử dụng đất của hộ gia đình được có thể hiểu
quyền định đoạt quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình là quyền của các thành viên hộ gia đình trong việc đưa ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt số phận pháp lý của tài sản chung là quyền sử dụng đất theo các quy định của pháp luật
Do tính chất đặc thù của đất đai, việc định đoạt quyền sử dụng đất của
hộ gia đình theo Luật đất đai 2013 được thực hiện thông qua các quyền sau:
Trang 30Chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế Cụ thể, tại Điều 167 Luật đất đai 2013 có ghi:
“ 1.Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này
2 Nhóm người sử dụng đất mà có chung quyền sử dụng đất thì có các quyền và nghĩa vụ như sau:
a) Nhóm người sử dụng đất gồm hộ gia đình, cá nhân thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật này”
Việc thỏa thuận trong định đoạt quyền sử dụng đất của hộ gia đình có
sự khác biệt so với quyền chiếm hữu và quyền sử dụng Việc chiếm hữu, sử dụng chỉ ghi chung theo phương thức thỏa thuận Còn việc định đoạt quyền
sử dụng đất (chuyển, nhượng, tặng cho, thừa kế) phải có sự thỏa thuận của tất
cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác
* Các nguyên tắc chi phối việc thực hiện quyền sở hữu chung của hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất
Nguyên tắc bình đẳng
Với tư cách là đồng sở hữu, các thành viên hộ gia đình bình đẳng với nhau khi thực hiện quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất Vấn đề bình đẳng trong quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất được thể hiện cụ thể ở ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng đất phù hợp với quy định tại BLDS Trong quá trình sinh sống, các thành viên hộ gia đình đều
có quyền nắm giữ, quản lý về quyền sử dụng đất thuộc sở hữu chung, đều có
Trang 31quyền khai thác công dụng, hưởng lợi ích, cũng như quyền định đoạt liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền nắm giữ, quản lý về quyền sử dụng đất thuộc sở hữu chung, đều có quyền khai thác công dụng, hưởng lợi ích, cũng như quyền định đoạt liên quan đến quyền sử dụng đất được xác định là như nhau Đồng thời, các thành viên trong hộ gia đình khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự đều có được hưởng quyền, chịu trách nhiệm, nghĩa vụ như nhau liên quan đến tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất
Nguyên tắc bình đẳng được thể hiện thông qua sự thỏa thuận của các thành viên hộ gia đình Khi tiến hành chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung là bất động sản, động sản có đăng ký thì các thành viên trong hộ gia đình đều phải biết được và phải có sự thỏa thuận về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đó
Điều 216 BLDS 2015 quy định: “Các chủ sở hữu chung cùng quản lý
tài sản chung theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”
Điều 27 BLDS 2015 quy định: “Các chủ sở hữu chung hợp nhất có
quyền ngang nhau trong việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”
Như vậy, có thể thấy rằng, nguyên tắc bình đẳng chính là nguyên tắc quan trọng trong việc thực hiện quyền sở hữu chung của thành viên hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất
Nguyên tắc thỏa thuận
Cùng với nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc thỏa thuận là nguyên tắc chi phối trong việc thực hiện quyền sở hữu chung của thành viên hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất
Trang 32Theo quy định tại khoản 2 Điều 212 BLDS 2015 có ghi:
“Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác
Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật này”
Như vậy, khi bất cứ một thành viên nào sử dụng đất vào một mục đích nào đó hay muốn chuyển nhượng, góp vốn, …bằng quyền sử dụng đất thì phải được sự thỏa thuận nhất trí của tất cả các thành viên gia đình Việc thỏa thuận có thể thực hiện bằng miệng hoặc bằng văn bản
Trường hợp không thỏa thuận được thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại BLDS Theo đó:
“ Trường hợp các bên không có thỏa thuận, hợp đồng hợp tác hoặc luật không có quy định khác thì các thành viên chịu trách nhiệm dân sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này theo phần tương ứng với phần đóng góp tài sản của mình, nếu không xác định được theo phần tương ứng thì xác định theo phần bằng nhau” (Khoản 3 Điều 103 BLDS 2015)
1.2.3 Căn cứ phát sinh quyền sở hữu chung của hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất
- Hộ gia đình được giao quyền sử dụng đất
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại điện chủ sở hữu và
Trang 33thống nhất quản lý Nhà nước căn cứ theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hàng năm, phân bổ đất đai, nhu cầu sử dụng đất của người dân để giao đất (người sử dụng đất) Khoản Điều 5 Luật Đất đai 2013 có quy định:
“Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, bao gồm:
Hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình là trường hợp “Hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức theo quy định tại Điều 129 của Luật này” (Khoản 1 Điều 54 Luật Đất đai 2015)
Hình thực giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình trong trường hợp Hộ gia đình được giao đất ở (Khoản 1 Điều 55 Luật Đất đai 2015)
Nhà nước cho thuê đất thu tiền hàng năm hoặc thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê trong các trường hợp sau đây (Điều 56 Luật Đất đai 2015):
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối
- Hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức được giao quy định tại Điều 129 của Luật này
Trang 34- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thương mại, dịch vụ, đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vậ liệu xây dựng, làm đồ gốm, đất cơ
sở sản xuất phi nông nghiệp
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để xây dựng công trình công cộng
có mục đích kinh doanh
Khi Nhà nước tiến hành giao đất, cho hộ gia đình thuê đất thì cũng đồng nghĩa phát sinh quyền sở hữu chung của hộ gia đình đối với quyền sử
dụng đất
- Hộ gia đình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Hộ gia đình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 169 Luật đất đai 2013, cụ thể:
“1 Người nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:
a)…
b) Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được nhận quyền sử dụng đất thông qua nhận chuyển nhượng quyền sư dụng đất, trừ trường hợp quy định tại Điều 191 của Luật này…
2 Hộ gia đình, cá nhân được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phụ thuộc vào nơi cư trú, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 191 và Điều 192 của Luật này”
Khoản 3, 4 Điều 191 Luật Đất đai 2013 quy định chi tiết các trường hợp cá nhân, hộ gia đình không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bao gồm trường hợp hộ gia đình không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa; hộ gia đình không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục
Trang 35hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, nếu không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đó
Như vậy, sau khi hộ gia đình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không thuộc các trường hợp bị cấm nhận chuyển nhượng) thì phát sinh quyền sở hữu chung của hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất
- Hộ gia đình được thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc
Theo quy định của Luật Đất đai thì hộ gia đình cũng là một trong những chủ thể được thừa kế quyền sử dụng đất Cụ thể, tại điểm d, khoản 1,
Điều 169 Luật Đất đai 2013 có ghi: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng
đồng dân cư được nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua nhận thừa kế quyền sử dụng đất”
Mặt khác, trong trường hợp thành viên hộ gia đình chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được thừa kế theo di chúc hoặc pháp luật (điểm đ khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai 2013) Việc thừa kế được thực hiện theo trình
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Sở hữu chung của hộ gia đình đối với quyền sử dụng đất mà trong đó
có nhiều thành viên là sở hữu chung theo phần Cho nên các thành viên hộ gia đình có phần quyền và phần nghĩa vụ phụ thuộc vào các căn cứ như được Nhà nước giao quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất Trên
cơ sở đó, pháp luật quy định cách xác định phần quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung Tỉ lệ phần tài sản đóng góp vào tài sản chung là căn
cứ xác định phần quyền, nghĩa vụ của mỗi đồng chủ sở hữu Phần quyền của các chủ sở hữu có thể bằng nhau hoặc khác nhau Trong hộ gia đình phần quyền của mọi người như nhau nếu mức đóng góp của các thành viên gia đình
để tạo lập tài sản chung là như nhau hoặc các thành viên thỏa thuận về phần quyền của từng chủ chủ sở hữu là như nhau Trên cơ sở phần quyền của mỗi thành viên gia đình để xác định các nghĩa vụ tương ứng như nghĩa vụ bảo dưỡng tài sản, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi tài sản gây thiệt hại
Trường hợp hộ gia đình chỉ có vợ và chồng thì quyền sử dụng đất thuộc
sở hữu chung hợp nhất mà không phụ thuộc vào tỉ lệ đóng góp công sức của vợ hoặc chồng vào tài sản chung, có nghĩa là trong thời kỳ hôn nhân mà vợ chồng tạo lập được khối tài sản là quyền sử dụng đất, thì phát sinh quyền sở hữu chung hợp nhất Vợ và chồng bình đẳng trong việc sử dụng, định đoạt quyền sử dụng đất đó
Hộ gia đình có quyền sở hữu chung đối với quyền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất…Khi tham gia vào các giao dịch về quyền sử dụng đất thì các thành viên gia đình có đầy
đủ năng lực hành vi phải thỏa thuận hoặc ủy quyền cho một thành viên đại diện tham gia giao dịch theo quy định của Bộ luật dân sự 2015
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH VỀ QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA 2.1 Khái quát về Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Sơn La
Tòa án nhân dân (TAND) hai cấp tỉnh Sơn La bao gồm 01 Tòa án nhân dân tỉnh, 11 Tòa án nhân dân huyện và 01 Tòa án nhân dân thành phố trực thuộc
Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La bao gồm: Tòa hình sự; Tòa dân sự; Tòa hành chính; Tòa kinh tế; Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; Phòng tổ chức cán bộ, thanh tra và thi đua khen thưởng, Văn phòng Tổng biên chế của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Sơn La vào thời điểm năm
2018 được giao là 173 người, tổng số hiện có là 159 người Trong đó Tòa án nhân dân tỉnh là 36 người, tổng biên chế của Tòa án nhân dân cấp huyện, thành phố là 123 người trong đó có 51 Thẩm phán Hàng năm, Tòa án nhân dân hai cấp trong tỉnh thụ lý, giải quyết khoảng 2.700 đến 2.800 vụ án các loại Đặc biệt, trong những năm gần đây, số lượng vụ án xét xử ngày càng gia tăng, số vụ án thụ lý năm 2016 là 3.179 vụ, năm 2017 là 3.421 vụ, với mức
độ ngày càng phức tạp, nhưng đơn vị đã đưa ra nhiều biện pháp đẩy nhanh tiến độ giải quyết, xét xử, đồng thời đảm bảo về chất lượng giải quyết các loại
án
Để đạt được kết quả tốt trên nhiều mặt công tác, trong những năm qua, lãnh đạo TAND tỉnh Sơn La đã quán triệt sâu sắc đến toàn thể cán bộ, công chức trong Tòa án hai cấp không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, khắc phục mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao Đồng thời, xác định được vị trí, tầm quan trọng của công tác thi đua, khen thưởng trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn nên ngay từ đầu
Trang 38năm, lãnh đạo đơn vị đã phối hợp với tổ chức công đoàn xây dựng chương trình hành động về công tác thi đua, khen thưởng theo định hướng có chiều sâu, có kế hoạch, mục tiêu cụ thể để phát động phong trào thi đua, khen thưởng thường xuyên; định kỳ hoặc theo chuyên đề; xây dựng cá nhân điển hình tiên tiến qua từng đợt thi đua
Đặc biệt, lãnh đạo TAND tỉnh Sơn La cũng chỉ đạo công tác thi đua, khen thưởng phải gắn liền với công tác giải quyết dứt điểm các loại án, nâng cao chất lượng xét xử; tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua do ngành và địa phương phát động gắn với việc thực hiện các chỉ tiêu về chuyên môn, nghiệp vụ và thông qua việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, nhân rộng các điển hình tiên tiến, biểu dương gương người tốt việc tốt, qua đó từng bước xây dựng TAND hai cấp ngày càng trong sạch và vững mạnh
Bên cạnh đó, TAND hai cấp tỉnh còn phối hợp chặt ch , hiệu quả với các tổ chức đoàn thể ở địa phương trong việc tổ chức phong trào thi đua yêu nước, thu hút được sự tham gia của đông đảo cán bộ công chức, làm cho phong trào thi đua yêu nước thực sự là động lực, đòn bẩy cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của hệ thống TAND và địa phương
Trong công tác xét xử, các đơn vị trong Tòa án hai cấp đã chú trọng việc nâng cao chất lượng xây dựng hồ sơ vụ án, tăng cường các biện pháp xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ và hướng dẫn đương sự thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo quy định của pháp luật, tiếp tục làm tốt việc giải thích pháp luật, kiên trì hòa giải, góp phần hạn chế mâu thuẫn, bức xúc giữa các bên, giảm thời gian, công sức cũng như các chi phí phát sinh
Trang 39Các vụ án đều được Tòa án hai cấp thụ lý, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội, không có trường hợp xét xử oan, không bỏ lọt tội phạm Ngoài ra, các công tác khác như: Công tác kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án hình sự, công tác xây dựng Tòa án, cải cách thủ tục hành chính - tư pháp, công tác hội thẩm nhân dân, công tác tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm… cũng được các đơn vị trong Tòa án hai cấp thực hiện tốt
Nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác, lãnh đạo TAND tỉnh Sơn La
đã quán triệt đến toàn thể cán bộ, công chức trong Tòa án hai cấp một số nhiệm vụ trọng tâm, trong đó đặc biệt chú trọng các biện pháp để đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các loại án, hạn chế đến mức thấp nhất án sửa, hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán, không có án quá hạn luật định, kiên quyết không để xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm; tăng cường tổ chức các phiên tòa xét xử lưu động, nâng cao chất lượng tranh tụng đối với tất
cả các phiên tòa; tăng cường kiểm tra công tác xét xử của TAND các huyện, thành phố; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện có hiệu quả việc công khai, minh bạch các hoạt động của Tòa án theo quy định của pháp luật, trọng tâm là việc thực hiện tốt các phần mềm quản lý, thống kê của TANDTC; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính tư pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tiếp cận với hoạt động của tòa án…
Nhờ vậy, trong những năm qua, tỷ lệ giải quyết án của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Sơn La luôn đạt từ 97- 98% Đặc biệt, trong năm 2017, trong lĩnh vực Hôn nhân gia đình, Tòa án nhân hai cấp tỉnh Sơn La đã thụ lý 1350 vụ án
sơ thẩm, trong đó số vụ hòa giải thành là 1037 vụ, đạt tỷ lệ 76,8% Đây là điểm sáng về công tác hòa giải được biểu dương trong cả nước, vượt xa chỉ tiêu 60% mà Tòa án nhân dân tối cao đã giao Thành tích của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Sơn La đã được ghi nhận thông qua các bằng khen của Ủy ban
Trang 40nhân dân tỉnh Sơn La, Tòa án nhân dân Tối cao, được Thủ tướng Chính phủ tặng cờ thi đua, đơn vị được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng
ba
Kết quả giải quyết án dân sự: Trong những năm gần đây, số lượng các
vụ án dân sự mà Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Sơn La thụ lý và giải quyết ngày càng tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp
Trong 05 năm từ 2013 đến 2017, hai cấp tòa án ở tỉnh Sơn La đã thụ lý 7.545 vụ, việc dân sự sơ thẩm, đã giải quyết 7.239 vụ việc, tỉ lệ giải quyết trung bình đạt 95,94% Số lượng vụ việc dân sự Tòa án đã thụ lý giải quyết xét xử không ngừng tăng theo từng năm: Năm 2013, thụ lý 1.086 vụ, năm
2014 thụ lý 1.268 vụ, năm 2015 thụ lý 1612 vụ, năm 2016 thụ lý 1696 vụ, năm 2017 thụ lý 1883 vụ
Bảng 1: Kết quả thụ lý, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của Tòa án hai cấp tỉnh Sơn La trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017
Năm Tổng số án dân sự thụ lý Tổng số án dân sự xét xử Tỷ lệ