1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp đồng mua bán doanh nghiệp – pháp luật một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho việt nam

103 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khác với sáp nhập, các công ty thâu tóm sẽ mua công ty mục tiêu, không có sự thay đổi về chứng khoán hoặc sự hợp nhất thành Quy định số 139/2004 ngày 20/01/2004 về sáp nhập của Cộng đồng

Trang 1

ĐẶNG HOÀNG ANH

HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP - PHÁP LUẬT

MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh Tế

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn chưa được công

bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực,

có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đặng Hoàng Anh

Trang 3

Sáp nhập và mua lại

Bộ luật Thương mại Thống nhất của Hoa Kỳ

Trang 4

MỤC LỤC

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển hoạt động mua bán doanh nghiệp 7

1.1.2 Khái niệm mua bán doanh nghiệp 11

1.1.3 Đặc trưng của việc mua bán doanh nghiệp 16

1.1.4 Ý nghĩa của hoạt động mua bán doanh nghiệp 17

1.2.1 Khái niệm hợp đồng mua bán doanh nghiệp 19

1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán doanh nghiệp 22

1.2.3 Nội dung của hợp đồng mua bán doanh nghiệp 23

1.2.4 Phân loại hợp đồng mua bán doanh nghiệp 27

1.3.1 Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về hợp đồng mua bán

2.1.1 Các quy định về Bên bán doanh nghiệp 32

2.2.2 Các quy định về Bên mua doanh nghiệp 35

2.2 Các quy định về hình thức của hợp đồng mua bán doanh nghiệp 41 2.3 Các quy định về nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán doanh

2.3.1 Quy định về đối tượng của hợp đồng mua bán doanh nghiệp 44

2.3.2 Quy định về giá mua bán doanh nghiệp 48

2.3.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên 50

2.3.4 Quy định về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu doanh nghiệp cho

2.4.1 Quy định về trường hợp hợp đồng vô hiệu 58

2.4.2 Quy định về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu 60

2.5 Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

Trang 5

2.6 Quy định về giải quyết tranh chấp khi thực hiện hợp đồng mua bán

NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP

3.1 Thực tiễn thực hiện hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam 68

3.1.1 Nghiên cứu thực tiễn tranh chấp hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở

3.1.2 Nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp về hợp đồng mua bán doanh

3.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hợp đồng mua

3.2.1 Xuất phát từ thực tiễn tình hình hoạt động mua bán doanh nghiệp ở

3.2.2 Xuất phát từ thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về hợp đồng

3.3 Nguyên tắc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán

3.4 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán

3.4.1 Cần thống nhất khái niệm doanh nghiệp, mua bán doanh nghiệp 77 3.4.2 Về chủ thể của hợp đồng mua bán doanh nghiệp 79

3.4.3 Về hình thức của hợp đồng mua bán doanh nghiệp 80

3.4.4 Về nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán doanh nghiệp 80

3.4.5 Về vi phạm hợp đồng mua bán doanh nghiệp và chế tài 83

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế, làn sóng sáp nhập và mua lại (M&A) ở các nước có nền kinh tế phát triển đã và đang diễn ra mạnh mẽ Từ năm 1986 đến 1989 ở Anh, đã có khoảng 5.200 công ty công nghiệp, thương mại được mua bán, sáp nhập (trung bình mỗi năm có 1.301 công ty) Ở Mỹ, hoạt động này xuất hiện sớm hơn, ngay từ đầu thế kỷ XX và đến những năm 1980-1990 thì bùng nổ mạnh mẽ Theo phân tích của các chuyên gia kinh tế, M&A là một trong những giải pháp cơ cấu lại doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả M&A doanh nghiệp đối với thế giới không còn là hoạt động mới, nhưng đây là một phương thức tổ chức lại doanh nghiệp mới đối với Việt Nam Đặc biệt, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn

về thu hút vốn đầu tư nước ngoài phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, nếu chỉ thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo các hình thức truyền thống thì không đón bắt được xu hướng đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư của các tập đoàn xuyên quốc gia từ các nước phát triển

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây thị trường mua bán, sáp nhập doanh nghiệp diễn ra rất sôi động trong các lĩnh vực bất động sản, phân phối - bán lẻ, y tế, giáo dục, công ty chứng khoán với những thương vụ lớn Thị trường mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam trong năm 2017 đã tạo bước đột phá mới với những thương vụ quy mô lớn, giá trị hàng tỷ USD Tổng giá trị M&A năm 2017 theo thống kê của Viện Hợp nhất, Thâu tóm và liên minh Quốc tế đạt mốc kỷ lục trên 10 tỷ USD – giá trị cao nhất tứ trước đến nay và tăng trưởng 45% so với năm 2016 Hoạt động M&A tại Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt mới, hứa hẹn nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư Việt Nam

Trang 7

triệu USD Đứng thứ ba là thương vụ nhà đầu tư Singapore Jardine Cycle & Carriage mua thêm 3,3% cổ phần của Vinamilk với số tiền lên đến 396 triệu USD Bên cạnh đó còn là các thương vụ mua bán lớn trong lĩnh vực bất động sản, nhựa, bán lẻ, tài chính ngân hàng giúp cho giá trị M&A toàn thị trường ghi nhận kỷ lục lớn nhất từ trước đến nay và lần đầu tiên vượt ngưỡng hơn 8

tỉ USD

Năm 2017 cũng là năm thứ tư liên tiếp chứng kiến giá trị M&A liên tục tăng sau khi suy giảm trong giai đoạn 2012-2013 Điều này phản ánh một điều là đi cùng với nền tảng kinh tế ổn định hơn, lạm phát được kiểm soát và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn đang quay trở lại, giới đầu tư trong và ngoài nước đã mạnh dạn trong việc mở hầu bao, tìm kiếm cơ hội đầu tư vào thị trường Đông Nam Á gần 100 triệu dân

Hiện nay, hệ thống pháp luật của Việt Nam quy định vấn đề này rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau, thí dụ như Điều 187 Luật Doanh nghiệp (2014) quy định về quyền bán doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp tư nhân; Nghị định số 128/2014/NĐ-CP quy định các trường hợp bán công ty,

bộ phận công ty nhà nước

Như vậy, có thể nhận thấy rằng hoạt động M&A ngày càng phát triển

và trở thành xu thế tất yếu của thị trường Tuy nhiên, khung pháp lý về vấn đề này và những quy định riêng về hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam lại chưa hoàn thiện, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp Trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu các quy định về hợp đồng mua bán doanh nghiệp của một số quốc gia tiêu biểu, có nền kinh tế phát triển mạnh và nhiều kinh nghiệm như Nga, Đức, Hoa Kỳ là hết sức cần thiết, giúp chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm tốt nhất, để hoàn thiện các quy định pháp

luật Việt Nam Với những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: "Hợp đồng mua

bán doanh nghiệp – Pháp luật một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam" làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học Luật của mình

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Dưới góc độ pháp lý, qua tìm hiểu và rà soát các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, tác giả luận văn nhận thấy các công trình nghiên cứu đã được công bố chủ yếu tập trung phân tích các quy định pháp luật về hoạt động mua bán doanh nghiệp mà ít có công trình nghiên cứu vấn đề hợp đồng mua bán doanh nghiệp

Về vấn đề mua bán doanh nghiệp có rất nhiều công trình nghiên cứu

Có thể kể tên một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:

Sách nước ngoài có cuốn “Mua lại và sáp nhập từ A đến Z” của Andrew J.Sherman, Milledge A Hart, Nxb Tri thức, Hà Nội (2009) Sách tiếng Việt có cuốn “M&A - Sáp nhập và mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam – Hướng dẫn cơ bản dành cho bên bán” của Phạm Trí Hùng và Đặng Thế Đức, Nxb Lao động – Xã hội, Megabooks – Tp.Hồ Chí Minh (2011) Cuốn sách này cung cấp cái nhìn tổng quát về các bước quan trọng khi tiến hành các thương vụ mua lại và sáp nhập doanh nghiệp, những bài học và hướng dẫn cơ bản trong lần đầu tiên thực hiện thương vụ mua lại và sáp nhập

Cuốn sách “Pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam” của Tiến

sĩ Trần Thị Bảo Ánh (2014) đã đề cập tổng quan về mua bán doanh nghiệp và hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam

Ngoài ra, còn có rất nhiều bài viết như: “Các vấn đề cần lưu ý khi tham gia giao dịch M&A tại Việt Nam” của Luật sư Gregoty Crovo (Công ty Kelvin ChiaPartnership) đăng trên đặc san của Báo Đầu tư với chủ đề M&A - Toàn cảnh thị trường Mua bán - Sáp nhập doanh nghiệp Việt Nam 2012; bài viết “Thâu tóm và hợp nhất: nhìn từ khía cạnh quản trị công ty” đăng trên Tạp chí Quản lý Kinh tế số năm 2007 của hai tác giả Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức…

Về vấn đề hợp đồng mua bán doanh nghiệp có một số ít công trình như:

“Hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp của Từ Duy Anh, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2012; “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ

Trang 9

Luật học của Nguyễn Thị Hồng Phúc, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2015; “Pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Hương Giang, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2015

Các công trình trên đã đề cập đến vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán doanh nghiệp, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu các quy định pháp luật của các nước trên thế giới về M&A một cách chuyên sâu

và tổng hợp Trên cơ sở tiếp tục kế thừa thành quả nghiên cứu của các công trình này, luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích một cách có hệ thống, toàn diện các quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về hợp đồng mua bán doanh nghiệp, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là trên cơ sở tìm hiểu, phân tích quy định pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp của một số quốc gia trên thế giới như Nga, Đức, Hoa Kỳ rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam

Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lý luận về hoạt động mua bán doanh

nghiệp và hợp đồng mua bán doanh nghiệp

Thứ hai, nghiên cứu, phân tích và đánh giá những quy định pháp luật

hiện hành về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới,

cụ thể là Nga, Đức, Hoa Kỳ; so sánh các quy định này với quy định của Việt Nam Từ đó chỉ ra những bất cập, nhược điểm trong các quy định pháp luật của Việt Nam về các vấn đề như chủ thể, đối tượng, hình thức, nội dung cơ bản…của hợp đồng mua bán doanh nghiệp

Thứ ba, đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện

pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi của việc nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là

pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới

và Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Tác giả luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ

yếu trong các vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán doanh nghiệp và những nét khái quát pháp luật của Việt Nam về hợp đồng mua bán doanh nghiệp, đồng thời phân tích thực trạng pháp luật của Việt Nam về vấn đề này Luận văn cũng trình bày quy định pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp của một số quốc gia trên thế giới làm cơ sở cho việc đưa ra những đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán doanh nghiệp

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những yêu cầu do đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật Đồng thời, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể thích hợp như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh luật học, lịch sử

Phương pháp tổng hợp, phân tích, lịch sử được tác giả sử dụng chủ yếu tại chương một của luận văn khi nghiên cứu về một số vấn đề lý luận chung

về hoạt động mua bán doanh nghiệp và pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp Qua việc thu thập các tài liệu, so sánh, tổng hợp các quan điểm, ý kiến khác nhau về hoạt động mua bán doanh nghiệp nói chung và hợp đồng mua bán doanh nghiệp nói riêng, tác giả luận văn bước đầu đưa ra quan niệm

và các đặc trưng của các vấn đề này

Phương pháp phân tích, bình luận, so sánh, tổng hợp, đối chiếu… được tác giả luận văn sử dụng chủ yếu trong chương hai của luận văn để phân tích, đánh giá các quy định pháp luật trên thế giới về hợp đồng mua bán doanh nghiệp; đồng thời so sánh các quy định này với các quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam

Trang 11

Trong Chương ba, tác giả luận văn sử dụng phương pháp diễn giải, quy nạp để đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế

6 Những điểm mới của luận văn

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình

đã được công bố về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam, đồng thời với quá trình nghiên cứu độc lập và nghiêm túc, tác giả luận văn đã hoàn thành một công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu về hợp đồng mua bán doanh nghiệp dưới góc độ pháp lý Đặc biệt, với việc viện dẫn quy định pháp luật của nước ngoài, tác giả luận văn đưa ra những phân tích, đề xuất có tính thực tiễn và ứng dụng cao để khắc phục những hạn chế, thiếu sót của pháp luật hiện hành đồng thời hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có ba chương như sau:

Chương 1: Lý luận về hợp đồng mua bán doanh nghiệp và pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới

Chương 3: Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về hoạt động mua bán doanh nghiệp

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển hoạt động mua bán doanh nghiệp

1.1.1.1 Sự ra đời và phát triển của hoạt động mua bán doanh nghiệp

trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới không có khái niệm về mua bán doanh nghiệp

mà chỉ có các thuật ngữ liên quan đến mua bán doanh nghiệp thường được sử dụng như sáp nhập (mergers) và mua lại (acquisitions) (viết tắt là M&A)

Hoạt động M&A tập trung phát triển qua sáu đợt sáp nhập lớn từ cuối thế kỷ XIX và phần lớn trong số đó có nguồn gốc từ Mỹ, bởi đây là thị trường M&A lớn nhất và cởi mở nhất trên thế giới Trong đa số các trường hợp, những cải tiến mới nhất trong lĩnh vực M&A đều được áp dụng đầu tiên tại

rằng trước thập niên 1990, ở một số khu vực kinh tế lớn trên thế giới cũng có xuất hiện một vài làn sóng sáp nhập doanh nghiệp khác Mỹ, nhưng nhìn chung, chúng đều chịu tác động của những nhân tố tương tự nhau Kể từ thập niên 1990 trở đi, các làn sóng sáp nhập doanh nghiệp thực sự mang tầm vóc toàn cầu

Làn sóng sáp nhập doanh nghiệp đầu tiên xảy ra trong khoảng thời gian

1897 - 1904 Làn sóng này được bắt đầu tại Mỹ sau khi cuộc suy thoái năm

1893 kết thúc và tồn tại tới khi thị trường chứng khoán sụp đổ vào năm 1904 Cao điểm của đợt này là khoảng thời gian từ năm 1898 tới 1902 Đa số các giao dịch được thực hiện trong giai đoạn này là sáp nhập ngang (chiếm 3/4 tổng số các cuộc sáp nhập thời đó) Kết quả là làn sóng này đã tạo ra một chế

độ gần như độc quyền trong các ngành công nghiệp chính: kim khí, thực phẩm, dầu lửa, hóa học, xe lửa, máy móc và than đá Vì vậy, đây còn được

1 Scott Moeller & Chris Brady (2006), M&A mua lại và sáp nhập thông minh, Thái Hà Books, Hà Nội

Trang 13

gọi là “làn sóng sáp nhập độc quyền” Xu hướng tương tự cũng xảy ra tại các thị trường khác, đặc biệt là ở Đức, Pháp và Anh

Làn sóng sáp nhập doanh nghiệp thứ hai xuất hiện từ năm 1916 cho tới cuộc Đại suy thoái năm 1929 Sự phát triển của nó được hậu thuẫn bởi sự hợp tác giữa các công ty Đây là một phần trong nỗ lực kinh tế giai đoạn Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất Khi đó, chính phủ các nước không thực thi luật chống độc quyền Trên thực tế, họ còn khuyến khích các công ty bắt tay hợp tác với nhau Trên 2/3 trong tổng số các giao dịch của làn sóng thứ hai là sáp nhập ngang; còn lại đa phần là sáp nhập dọc Có rất ít các cuộc sáp nhập kết hợp Nếu có thể miêu tả làn sóng thứ nhất là “sáp nhập cho chế độ độc quyền” thì có thể gọi làn sóng thứ hai là “sáp nhập cho chế độ độc quyền nhóm” Nhiều cuộc sáp nhập như thế đã tạo ra những nền kinh tế lớn với quy mô rộng, giúp các công ty trở nên vững mạnh hơn về mặt kinh tế

Làn sóng sáp nhập doanh nghiệp thứ ba xảy ra từ năm 1965 tới 1969 Làn sóng này được gọi là “làn sóng sáp nhập kết hợp”, bởi có tới 80% trong tổng số các giao dịch được thực hiện trong thập niên 1965 – 1975 là sáp nhập kết hợp Một lý do cho các cuộc sáp nhập kết hợp như vậy là những quy định chống độc quyền được phát triển hơn trên toàn thế giới sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, từ đó buộc những công ty muốn phát triển theo con đường sáp nhập phải tìm cách bắt tay với các công ty không hoạt động trên cùng một lĩnh vực với mình Dấu hiệu kết thúc của làn sóng này là sự suy giảm mạnh về giá cổ phiếu của các công ty sáp nhập kết hợp năm 1968

Làn sóng sáp nhập doanh nghiệp thứ tư bắt đầu vào năm 1981 khi thị trường chứng khoán được khôi phục từ sự suy thoái kinh tế trước đó Sự bắt đầu của làn sóng sáp nhập này diễn ra cùng thời điểm với sự thay đổi trong chính sách chống độc quyền, sự bãi bỏ quy định về độc quyền trong dịch vụ tài chính, sự thiết lập những công cụ tài chính và thị trường mới (thị trường trái phiếu), cũng như sự phát triển công nghệ trong ngành công nghiệp điện

tử Đặc điểm của sự kiểm soát liên kết cho thị trường vào thời điểm này được thể hiện bởi một số lượng lớn các giao dịch mang tính chất loại trừ, sự sáp

Trang 14

nhập giữa các đối thủ cạnh tranh và những giao dịch cá nhân Cũng như những làn sóng sáp nhập trước đó, làn sóng thứ tư này một lần nữa lại bị suy yếu dần sau sự tụt dốc của thị trường chứng khoán vào năm 1987

Làn sóng sáp nhập doanh nghiệp thứ năm (giai đoạn 1994 – 2000) là sự kết hợp của các ngành công nghiệp và toàn cầu hóa Điểm nổi bật đầu tiên của làn sóng này đó là sự lan truyền của nó và sự xuất hiện một số lượng lớn các giao dịch mua bán sáp nhập có yếu tố nước ngoài Giai đoạn này kết thúc với đợt suy giảm giá cổ phiếu trên toàn thế giới khởi đầu từ năm 1999/2000

Làn sóng sáp nhập doanh nghiệp thứ sáu bắt đầu năm 2003, chưa đầy

ba năm sau khi làn sóng thứ năm kết thúc Có thể nói, các làn sóng sáp nhập doanh nghiệp xảy ra thường xuyên hơn, và khoảng thời gian tĩnh giữa từng làn sóng bị thu hẹp lại Làn sóng thứ sáu này có quy mô toàn cầu Giai đoạn này, các công ty tập trung vào sự phù hợp nhiều hơn là về mặt chiến lược của

Qua đây có thể nhận thấy rằng, các giao dịch M&A ngày càng đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh Kể từ khi các vụ đầu tư vốn cổ phần cá nhân

ở nhiều hình thức khác nhau phát triển, đến lúc các công ty có quy mô lớn, thậm chí trung bình, gia tăng sử dụng các vụ mua lại như một công cụ tăng trưởng, thì các giao dịch M&A đã trở thành một chuẩn mực, một thành phần phổ biến trong đời sống kinh doanh Nó tạo động lực tăng trưởng cho những công ty lớn nhỏ khác nhau

1.1.1.2 Sự ra đời và phát triển của hoạt động mua bán doanh nghiệp

tại Việt Nam

Mặc dù hoạt động M&A diễn ra từ khá lâu trên thế giới nhưng tại Việt Nam nó được xuất hiện đầu tiên sau khủng hoảng tài chính Châu Á: “Ngân hàng TMCP Phương Nam” sáp nhập với “Ngân hàng TMCP nông thôn Đồng Tháp” năm 1997 Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, số vụ M&A tăng khá đều với tỷ lệ tăng trưởng dao động từ 0,8%-1,2%/năm từ năm 1998-2007

Từ chỗ có chưa đến 50 vụ năm 1998, đến năm 2007 đã tăng lên gần 300 vụ

2 Scott Moeller & Chris Brady (2009), M&A – mua lại và sáp nhập thông minh – kim chỉ nam trên trận đồ sáp nhập và mua lại, Nxb Tri Thức, Thaihabooks, Hà Nội

Trang 15

Năm 2006, 2007 là hai năm M&A có tốc độ tăng trưởng cao nhất do ngày 7/11/2006 Việt Nam gia nhập WTO Số liệu cho thấy thị trường M&A ở Việt Nam đã hút mạnh nhà đầu tư nước ngoài so với trước thời điểm Việt Nam trở thành thành viên WTO

Hình 1: Tổng giá trị giao dịch M&A (US$mn) và số lượng giao dịch

từ 2003 đến nửa đầu năm 2017 (nguồn: Stoxplus)

Trong làn sóng sáp nhập doanh nghiệp thứ nhất (giai đoạn 2008 – 2012) với sự tăng trưởng 5 lần (từ mốc 1 tỷ USD đến 5 tỷ USD), Việt Nam đã được chứng kiến một làn sóng mua bán và sáp nhập doanh nghiệp của hàng loạt thương vụ mang tính hệ thống và chủ động của Tập đoàn Masan, Công ty

CP Kinh Đô, Tập đoàn Vingroup, Tập đoàn Viettel…

Năm 2013, hoạt động M&A có xu hướng giảm nhẹ, với tổng giá trị ước tính đạt 3,5 tỷ USD Tuy nhiên, đây cũng là năm xuất hiện nhiều thương vụ

ấn tượng Hàng loạt thương vụ “khủng” như: KKR rót 200 triệu USD cho Masan Consumer; Masan Consumer mua 65,5% cổ phần Nước khoáng Vĩnh Hảo; SCG của Thái Lan bỏ ra 4.900 tỷ đồng mua 85% cổ phần của Prime Group; Warburg Pincus rót 200 triệu USD vào Vincom Retail; HDBank nhận sáp nhập Daiabank và mua lại Công ty TNHH một thành viên tài chính Việt- Societe (SGVF); PVFC hợp nhất với Western Bank thành PVComBank; MBS hợp nhất với VITS; Viettel mua 70% cổ phần Xi măng Cẩm Phả của Vinaconex

Trang 16

Bước sang giai đoạn 2014-2018, giai đoạn mà các chuyên gia đánh giá

là thời điểm của “làn sóng M&A thứ hai” hứa hẹn sự bùng nổ của các thương

vụ M&A tại Việt Nam Theo đánh giá của các chuyên gia, trong những năm tiếp theo, thị trường M&A vẫn sẽ tiếp tục sôi động Các thương vụ M&A thời gian tới sẽ tập trung vào các ngành như tài chính ngân hàng, bất động sản, y

tế, công nghiệp với sự quan tâm đặc biệt của các nhà đầu tư nước ngoài

1.1.2 Khái niệm mua bán doanh nghiệp

Thuật ngữ Mergers and Acquisitions (M&A) – sáp nhập và mua lại ngày càng trở nên thông dụng và được sử dụng rộng rãi trên trường quốc tế Các nhà kinh tế và luật học xem xét M&A dưới hai góc độ chủ yếu: góc độ kinh tế như là một vấn đề của quản trị chiến lược công ty, tài chính doanh nghiệp và góc độ pháp lý như là đối tượng của khung pháp lý để thực hiện giao dịch M&A

Theo định nghĩa của David L.Scott trong cuốn Wall Street Words: An

A to Z Guidge to Investment Terms for Today’s Investor (Từ phố Wall: Hướng dẫn từ A đến Z về các điều khoản đầu tư cho các nhà đầu tư hiện nay) thì sáp nhập là sự kết hợp của hai hay nhiều công ty; theo đó, tài sản và trách nhiệm pháp lý của công ty bán sẽ được chuyển sang bên công ty mua Mua lại

là quá trình mua lại tài sản như máy móc, một bộ phận hay thậm chí là toàn

nhiều công ty, mà qua đó, tài sản và nghĩa vụ của công ty bán được chuyển giao sang công ty mua Mặc dù có sự thay đổi về cấu trúc tổ chức nhưng công

ty mua vẫn giữ được bản sắc ban đầu sau cuộc sáp nhập Mua lại là việc mua lại một tài sản, ví dụ như một nhà máy, một chi nhánh hoặc thậm chí cả một công ty nhằm mở rộng thị trường và đa dạng hóa sản phẩm

Theo thuật ngữ tài chính Investopedia, sáp nhập xảy ra khi hai công ty (thường là các công ty có cùng quy mô) đồng ý tiến tới thành lập một công ty mới mà không duy trì sở hữu và hoạt động của các công ty thành phần Chứng khoán của các công ty thành phần sẽ bị xóa bỏ và công ty mới sẽ phát

3 Dịch theo Andrew J.Sherman and Milledge A.Hart (2006), Mergers & Acquisitions From A to Z, Amacom,

USA, tr.11

Trang 17

hành chứng khoán thay thế Mua lại hay thâu tóm là hoạt động thông qua đó các công ty tìm kiếm lợi nhuận kinh tế nhờ quy mô, hiệu quả và khả năng chiếm lĩnh thị trường Khác với sáp nhập, các công ty thâu tóm sẽ mua công

ty mục tiêu, không có sự thay đổi về chứng khoán hoặc sự hợp nhất thành

Quy định số 139/2004 ngày 20/01/2004 về sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu đã định nghĩa sáp nhập như sau: (i) Sự sáp nhập giữa hai pháp nhân độc lập hoặc hai bộ phận của hai pháp nhân; hoặc (ii) Thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc mua lại chứng khoán hoặc tài sản của một công ty khác; hoặc (iii) tạo ra một liên doanh mới

Trong quản trị công ty có hai điểm mấu chốt là quyền sở hữu và người quản lý thì quyền sở hữu vẫn mang ý nghĩa quan trọng hơn cả Mặc dù xu hướng quản trị hiện đại tách biệt quyền sở hữu và quyền quản lý, nhưng bản chất thì quyền sở hữu có ý nghĩa quyết định trong việc lựa chọn người quản

lý, đồng thời quyết định chiến lược phát triển, phương án phân chia lợi nhuận

và xử lý tài sản của công ty Các khái niệm M&A, sáp nhập, hợp nhất hay mua bán, thâu tóm đều xoay quanh mối tương quan này

Mặc dù việc sáp nhập và mua lại thường có ý nghĩa tương tự nhau và được sử dụng đồng nghĩa, tuy nhiên vẫn có một chút sự khác biệt

Khi một công ty tiếp quản một công ty khác tự thiết lập rõ ràng là chủ

sở hữu mới thì việc giao dịch mua được gọi là mua lại Từ quan điểm pháp lý, công ty mục tiêu chấm dứt sự tồn tại Trong trường hợp này, khi một công ty mua phần lớn cổ phần của công ty mục tiêu thì các công ty không hợp nhất

Mua lại hay thâu tóm là khái niệm được sử dụng để chỉ một doanh nghiệp tìm cách nắm giữ quyền kiểm soát đối với một doanh nghiệp khác thông qua thâu tóm toàn bộ hoặc một tỷ lệ số lượng cổ phần hoặc tài sản của

4 Phạm Mạnh Dũng (2009), Tổng quan về hoạt động M&A tại Việt Nam và một số quan điểm trong quản lý nhà nước về M&A, Hội thảo M&A Việt Nam 2008: Cơ hội và kinh nghiệm, Hà Nội

Trang 18

doanh nghiệp mục tiêu đủ để có thể khống chế toàn bộ các quyết định của

Mua lại cũng là hoạt động xảy ra khi một doanh nghiệp mua lại một phần, toàn bộ cổ phần hay toàn bộ tài sản của một doanh nghiệp khác, coi đó như một chi nhánh của mình Doanh nghiệp đi mua lại và doanh nghiệp mục tiêu vẫn có thể tồn tại độc lập về mặt pháp lý Thương hiệu của doanh nghiệp

bị mua lại có thể được giữ nguyên hay bị thay đổi tùy theo quyết định của doanh nghiệp tiến hành mua lại Mục tiêu của doanh nghiệp đi mua lại doanh nghiệp khác là nhằm đạt được lợi thế quy mô, tăng hiệu quả hoạt động sản

Theo nghĩa thuần túy, việc sáp nhập sẽ diễn ra khi hai công ty cùng quy

mô, đồng thuận hợp nhất lại thành một công ty mới thay vì hoạt động và sở hữu riêng lẻ Loại hình này được gọi là “sáp nhập ngang bằng” Tuy nhiên, trên thực tế, hình thức này thường ít diễn ra vì trong đa số các trường hợp, các bên sáp nhập thường định giá tài sản của mình quá cao, dẫn đến bế tắc khi đưa ra tỷ lệ chuyển đổi cổ phiếu để hợp nhất Thông thường, một công ty mua một công ty khác và trong thỏa thuận đàm phán sẽ cho phép công ty bị mua tuyên bố với bên ngoài rằng, hoạt động này là “sáp nhập ngang bằng” cho dù

về bản chất là hoạt động mua lại

Trên thế giới, các vụ sáp nhập, mua lại doanh nghiệp có thể được phân thành ba loại: sáp nhập theo chiều ngang, sáp nhập theo chiều dọc và sáp nhập kết hợp

Sáp nhập theo chiều ngang: diễn ra giữa hai công ty cạnh tranh trực tiếp

và chia sẻ cùng dòng sản phầm và thị trường Thông thường, động lực chính đằng sau các cuộc sáp nhập kiểu này là nhằm tiết kiệm chi phí, bởi vì có thể

sẽ có một vài sự chồng chéo trong hoạt động, dẫn đến tình trạng dư thừa không cần thiết giữa hai công ty

Trang 19

Sáp nhập theo chiều dọc: diễn ra giữa các công ty tham gia vào các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và tiếp cận thị trường, nhằm giảm chi phí giao dịch và các chi phí khác thông qua việc quốc tế hóa các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và phân phối;

Sáp nhập kết hợp: Diễn ra khi hai công ty không có cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng muốn đa dạng hóa hoạt động kinh doanh đa ngành nghề và giảm

cơ bản rủi ro để khai thác các hình thức kinh tế khác nhau trong các lĩnh vực tài chính, tài nguyên…

Về mặt bản chất khái niệm và hệ quả pháp lý, sáp nhập, hợp nhất hay mua lại và thâu tóm là khác biệt Tuy nhiên, nếu xét về tác động thực tế đối với quản trị công ty thì ranh giới phân biệt giữa chúng nhiều khi lại mong manh

Hiện nay, ở Việt Nam chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra giải thích

từ ngữ cụ thể về hoạt động M&A và đang được hiểu một cách chung chung

Theo quy định tại Điều 17, Luật Cạnh tranh (2004) các thuật ngữ “sáp nhập”, “hợp nhất”, “mua lại doanh nghiệp” được định nghĩa như sau:

“Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập”

“Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp

bị hợp nhất.”

“Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại.”

Khái niệm “đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề

của doanh nghiệp bị mua lại” được giải thích ở Điều 34, Nghị định số

116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của

Trang 20

Luật Canh tranh như sau: “Kiểm soát hoặc chi phối toàn bộ hoặc một ngành

nghề của doanh nghiệp khác quy định tại khoản 3 Điều 17 của Luật Cạnh tranh là trường hợp một doanh nghiệp (sau đây gọi là doanh nghiệp kiểm soát) giành được quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp khác (sau đây gọi là doanh nghiệp bị kiểm soát) đủ chiếm được trên 50% quyền bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc ở mức mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ để doanh nghiệp kiểm soát chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp bị kiểm soát nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

bị kiểm soát.”

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp (2014), không có thuật ngữ mua

lại doanh nghiệp mà chỉ có thuật ngữ “hợp nhất” và “sáp nhập”

Điều 194, Luật Doanh nghiệp (2014) quy định: “Hai hoặc một số công

ty (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty

bị hợp nhất”

Điều 195, Luật Doanh nghiệp (2014) quy định: “Một hoặc một số công

ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”

Do chưa có một định nghĩa đầy đủ về mua bán doanh nghiệp trong các ngành luật cụ thể, các giao dịch mua bán có thể được cấu trúc dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm việc: phát hành cổ phiếu mới; ưu tiên bán cổ phiếu phát hành mới cho các cổ đông chiến lược với mức giá ưu đãi; tăng vốn điều lệ; ký kết các thỏa thuận hợp tác chiến lược; trở thành hệ thống đại lý phân phối hay bao tiêu sản phẩm, dịch vụ Về bản chất, mua bán doanh nghiệp là việc giành lấy quyền kiểm soát việc quản lý nội bộ trong công ty mục tiêu thông qua nhiều biện pháp khác nhau

Trang 21

Từ những quan điểm khác nhau như trên, có thể định nghĩa hoạt động

mua bán doanh nghiệp một cách khái quát như sau: Mua bán doanh nghiệp là

việc doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp mục tiêu hoặc mua lại tỉ lệ cổ phần, phần vốn góp của thành viên, cổ đông doanh nghiệp mục tiêu nhằm chuyển quyền sở toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp mục tiêu sang doanh nghiệp mua lại

1.1.3 Đặc trưng của việc mua bán doanh nghiệp

Qua phân tích về khái niệm hoạt động mua bán doanh nghiệp, có thể đưa ra một số đặc trưng của việc mua bán doanh nghiệp như sau:

Thứ nhất, đối tượng của giao dịch mua bán doanh nghiệp là doanh

nghiệp – một loại hàng hóa “đặc biệt”

Bản chất pháp lý của việc mua bán doanh nghiệp là quan hệ mua bán tài sản theo quy định của pháp luật dân sự Theo đó, bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán Trong hoạt động mua bán doanh nghiệp, thì đối tượng chuyển giao quyền sở hữu không phải là tài sản đơn thuần mà là một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp cho bên mua Doanh nghiệp là một thực thể pháp lý vô hình, có tư cách pháp nhân độc lập

và được pháp luật thừa nhận Hình thức thanh toán có thể là tiền mặt, chứng khoán của công ty mua hoặc hoặc những tài sản khác có giá trị đối với công

ty bán

Thứ hai, sự thay đổi về khả năng kiểm soát, chi phối hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp mục tiêu thông qua việc mua tài sản hoặc cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp đó

Khác với nhiều quan hệ đầu tư, mua bán doanh nghiệp là việc chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển quyền sở hữu thông qua việc mua tài sản hoặc cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp mục tiêu Theo đó, bên bán sẽ chấm dứt hoặc thu hẹp hoạt động kinh doanh (tùy thuộc đối tượng chuyển nhượng

là một phần hay toàn bộ doanh nghiệp) còn bên mua tiếp nhận doanh nghiệp hoặc phần doanh nghiệp đã mua để tiếp tục khai thác các giá trị của nó vào mục đích kinh doanh

Trang 22

Thứ ba, mua bán doanh nghiệp được thực hiện thông qua hợp đồng

mua bán doanh nghiệp, hợp đồng mua bán tài sản hoặc hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp của thành viên công ty (gọi chung là hợp đồng mua bán doanh nghiệp)

Thứ tư, mua bán doanh nghiệp phải thông qua sự thừa nhận, cho phép,

kiểm soát của cơ quan nhà nước theo thủ tục pháp lý nhất định Đây là điều dễ hiểu bởi doanh nghiệp là một thực thể được pháp luật thừa nhận, nên khi có bất kỳ sự thay đổi nào đều phải báo cáo và thực hiện đúng thủ tục với cơ quan quản lý

Trình tự, thủ tục mua bán doanh nghiệp là một trong những nội dung quan trọng của điều kiện khung pháp lý về mua bán doanh nghiệp Khi thực hiện mua bán doanh nghiệp, các bên trong quan hệ mua bán doanh nghiệp phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định Trong một số trường hợp, việc này phải được sự cho phép, thừa nhận, kiểm soát của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền Khi thực hiện việc mua bán doanh nghiệp, các bên phải tiến hành những thủ tục theo quy định của pháp luật cạnh tranh về hành vi tập trung kinh tế; về đăng ký kinh doanh; thay đổi quyền sở hữu tài sản và các thay đổi khác Trên cơ sở thực hiện các yêu cầu về trình tự, thủ tục, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ cho phép, thừa nhận hay kiểm soát các thương vụ mua bán doanh nghiệp theo quy định của pháp luật

1.1.4 Ý nghĩa của hoạt động mua bán doanh nghiệp

Dưới sức ép cạnh tranh của môi trường kinh doanh toàn cầu hiện nay,

để phát triển tồn tại thì một trong những cách tốt nhất là tiến hành M&A Hoạt động này được các nhà quản trị doanh nghiệp lưu tâm bởi nó có những ý nghĩa, lợi ích nhất định đối với các doanh nghiệp

Thứ nhất, sự hợp tác có lợi cho đôi bên M&A giữa các doanh nghiệp

là sự lựa chọn tất yếu để cả bên mua và bên bán tồn tại và phát triển, nhất là trong thời điểm khủng hoảng Theo các chuyên gia tài chính, mục tiêu và bản chất của M&A là “một cộng một bằng ba” Điều đó có nghĩa là giá trị đơn nhất của một công ty mới sáp nhập sẽ lớn hơn giá trị của từng công ty riêng lẻ

Trang 23

cộng lại Có thể thấy, sau khi sáp nhập bộ máy quản lý sẽ tinh gọn, giảm chi phí và tăng vị thế trên thương trường Nhất là trong lĩnh vực ngân hàng, nhiều thương vụ sáp nhập, giá cổ phiếu và uy tín của cả hai bên đều tăng lên một cách rõ rệt Không những thế, trong nhiều trường hợp, quy mô về vốn và năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng mạnh lên Về năng lực cạnh tranh, sau khi sáp nhập cả bên bán và bên mua cũng cao hơn, thị phần lớn hơn

và vận hành có hiệu quả hơn (như trường hợp giữa Kinh Đô và Nutifood)

Thứ hai, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ Các công ty cũng tiến hành

mua lại các công ty khác có các sản phẩm, dịch vụ bổ sung nhằm mục đích đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ của mình Bằng cách tăng thêm các lựa chọn đối với hàng hoá và dịch vụ mà công ty cung cấp cho các khách hàng tiêu dùng hiện tại, các nhà quản trị có thể tạo ra nhiều doanh thu hơn cho công

M&A để đa dạng hóa và phát triển thương hiệu Sau khi trải qua nhiều năm thực hiện M&A, hiện nay Uniliver sở hữu rất nhiều thương hiệu nổi tiếng trong một số lĩnh vực như Flora, Doriana, Rama, Amora, Knorr, Lipton và Slim Fast (thực phẩm và đồ uống); Axe, Dove, Lifebuoy, Lux, Pond’s, Rexona, Close-up, Sunsilk và Vaseline (sản phẩm vệ sinh và chăm sóc cơ thể); Comfort, Omo, Radiant, Sunlight, Surf (quần áo và đồ vật dụng)…

Thứ ba, mở rộng thị trường Đây là một yếu tố quan trọng khi muốn

mở rộng địa bàn kinh doanh hoặc mở rộng mạng lưới phân phối Thay vì việc gây dựng doanh nghiệp từ đầu với chi phí thành lập, chi phí cơ hội cao do mất thời gian xây dựng hệ thống, triển khai mạng lưới phân phối, có thể thực hiện chiến lược mua lại một doanh nghiệp với hệ thống, con người sẵn có để đạt được mục tiêu

Thương vụ M&A được coi là lớn nhất trên thị trường chứng khoán năm

2017 là Tập đoàn Thaibev (đơn vị sở hữu Công ty TNHH Vietnam Beverage)

đã mua thành công 53,59% cổ phần của Tổng công ty cổ phần bia, rượu, nước giải khát Sài Gòn (SAB, Sabeco) Sabeco là doanh nghiệp sản xuất bia lâu đời

7 Phạm Trí Hùng và Đặng Thế Đức (2011), M&A sáp nhập và mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam, Nxb Lao

động – xã hội, Megabooks – Tp.Hồ Chí Minh, tr.42

Trang 24

với hơn 140 năm kinh nghiệm, sở hữu những thương hiệu bia nổi tiếng như bia Sài Gòn và bia 333 Ngoài ra, Sabeco chiếm thị phần lớn nhất trong thị trường bia ở Việt Nam và là một trong những công ty bia hàng đầu ở ASEAN ThaiBev cũng đánh giá Việt Nam là thị trường tiềm năng cho ngành bia, lớn thứ ba ở Châu Á, chỉ xếp sau Trung Quốc và Nhật Bản Vì thế, vụ thâu tóm này sẽ giúp đa dạng hóa thị trường về mặt địa lý, giúp hãng mở rộng khu vực và có được mạng lưới phân phối lớn ở Việt Nam

Ngoài ra, hoạt động M&A giúp doanh nghiệp tiếp cận và có một đội ngũ nhân công tri thức cùng với những bản quyền, sáng chế của các doanh nghiệp khác Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ, luôn tìm cách theo đuổi M&A như một phương tiện để chiếm lĩnh được nguồn tài

Đối với nền kinh tế - xã hội, hoạt động mua bán doanh nghiệp sẽ thanh lọc những doanh nghiệp yếu, tạo nên những doanh nghiệp mới có tiềm lực mạnh hơn, hoạt động hiệu quả hơn, và làm lành mạnh hóa nền kinh tế Thêm vào đó, sự phát triển của hoạt động mua bán doanh nghiệp tạo kênh huy động vốn đầu tư từ nước ngoài, tạo khả năng phát triển kinh tế của đất nước Cũng xuất phát từ mục đích gia tăng giá trị và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp mà hiện nay, nhiều công ty không gặp phải khó khăn nhưng cũng tham gia vào thị trường mua bán doanh nghiệp để tìm kiếm thêm đối tác, tạo thêm sức mạnh cho mình trong thị trường đầy cạnh tranh hiện nay

1.2 Khái quát về hợp đồng mua bán doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm hợp đồng mua bán doanh nghiệp

Sau khi có kết quả thẩm định và xác định giá trị giao dịch, quá trình đàm phán sẽ dẫn đến một kết quả phản ánh tập trung nội dung của giao dịch M&A, đó chính là hợp đồng M&A được giao kết giữa các bên Giao kết hợp đồng là công đoạn cuối cùng của việc thỏa thuận giao dịch M&A Đó là khi các bên đã hiểu rõ về nhau cũng như hiểu rõ về mục đích và yêu cầu của mỗi

8 Đinh Thị Thanh Vân (2010), “Một số vấn đề về hoạt động M&A ngân hàng ở Việt Nam”,

http://www.vjol.info/index.php/NH/article/viewFile/14448/12975 , 07/2010

Trang 25

bên, hiểu rõ các lợi ích và rủi ro khi thực hiện M&A Hợp đồng M&A là sự thể hiện và ghi nhận những cam kết của các bên đối với giao dịch Nó không chỉ liên quan đến khía cạnh pháp lý mà là sự phối hợp một cách hài hòa các yếu tố có liên quan đến giao dịch khác như tài chính, kinh doanh, lao động…

Quan niệm về mua bán doanh nghiệp ở các nước có thể khác nhau, vì vậy, hợp đồng mua bán doanh nghiệp có thể tồn tại dưới những tên gọi khác nhau, như: hợp đồng mua bán tài sản; hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp; hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân; hợp đồng mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước… Tùy thuộc vào trường phái common law coi trọng án lệ hơn luật thành văn hay dòng họ civil law coi trọng lý luận pháp luật hơn thực tiễn mà pháp luật về hợp đồng điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp ở các mức độ khác nhau Mặt khác, trình độ phát triển kinh tế -

xã hội và kiến thức kinh tế, pháp luật ở mỗi quốc gia có sự khác nhau Điều

đó tác động đến thái độ của Nhà nước đối với việc có cần phải ban hành pháp luật riêng quy định về hợp đồng mua bán doanh nghiệp hay chỉ cần thiết kế những quy định chung về hợp đồng

Cộng hòa Liên bang Nga định nghĩa về hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại Điều 559, khoản 1, mục 8, chương 30, phần 2, Bộ luật Dân sự Liên bang Nga (phần 2 có hiệu lực từ ngày 26/1/1996 số 14-LBN sửa đổi, bổ sung

từ ngày 23/5/2018 và có hiệu lực từ ngày 3/6/2018; từ đây gọi chung là Bộ luật Dân sự Liên bang Nga): Hợp đồng mua bán doanh nghiệp là hợp đồng

mà bên bán cam kết chuyển quyền sở hữu của công ty cho bên mua như một

tổ hợp tài sản doanh nghiệp (Điều 132 Bộ luật này quy định) trừ các quyền và nghĩa vụ mà bên bán không có quyền chuyển giao cho người khác Điều 132, Khoản 2 khẳng định rằng doanh nghiệp như một tổ hợp tài sản bao gồm tất cả các loại tài sản dành cho hoạt động của mình, bao gồm đất đai, nhà cửa, thiết

bị, hàng tồn kho, nguyên liệu, sản phẩm, quyền sử dụng, công nợ, cũng như quyền xác định, quyền cá thể hóa doanh nghiệp, sản phẩm, các công trình và dịch vụ khác của doanh nghiệp, trừ khi có quy định khác của pháp luật hoặc hợp đồng

Trang 26

Ở Đức, không có luật về/liên quan cụ thể đến việc mua bán doanh nghiệp Do đó, các quy định pháp luật chung về/liên quan đến vấn đề này được áp dụng bởi Bộ luật Dân sự của CHLB Đức (BGB), Bộ luật Thương mại của CHLB Đức (HGB)… Chương III của BGB quy định về hợp đồng nhưng cũng không đưa ra khái niệm hợp đồng Do đó, khái niệm hợp đồng phải dựa

vào quy định của Điều 241, BGB về khái niệm nghĩa vụ, “trên cơ sở nghĩa

vụ, người có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện một hành vi nhất định Thực hiện hành vi có thể bao gồm cả việc không thực hiện hành vi”

Như vậy, người Đức không quan tâm đến khái niệm mà chú trọng tới ý nghĩa pháp lí của hành vi do người có năng lực kí kết hợp đồng thực hiện Hợp đồng

là giao dịch pháp lí hình thành từ sự thoả thuận giữa ít nhất hai bên, trong đó

Ở Hoa Kỳ cũng không có quy định cụ thể khái niệm hợp đồng mua bán doanh nghiệp, do đó, có thể tham khảo quy định tại khoản 12 điều 1–201

UCC về hợp đồng như sau: “Hợp đồng là tổng hợp nghĩa vụ pháp lí phát sinh

từ thỏa thuận của các bên theo quy định của luật này và những quy định khác

có liên quan”

Hiện nay, pháp luật của Việt Nam không có định nghĩa về hợp đồng mua bán doanh nghiệp Tuy nhiên, theo khái niệm hợp đồng được định nghĩa

tại Điều 385, Bộ luật Dân sự (2015) thì “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các

bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Như vậy, pháp luật của các nước định nghĩa về hợp đồng đều có những điểm chung như sau:

1) Có sự thỏa thuận giữa các bên tham gia, hay nói cách khác yếu tố thống nhất ý chí của các bên

2) Sự thoả thuận (hoặc cam kết) của các bên làm phát sinh sự ràng buộc pháp lí

Như vậy, có thể hiểu rằng: Hợp đồng mua bán doanh nghiệp là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên bán có nghĩa vụ chuyển giao toàn bộ hoặc

9 Nguồn: http://www.rechtswoerterbuch.de/recht/v/ vertrag/

Trang 27

một phần doanh nghiệp của mình cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận doanh nghiệp và tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đó theo quy định pháp luật cũng như theo thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng, đồng thời trả tiền cho bên bán lại doanh nghiệp

1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán doanh nghiệp

Hợp đồng mua bán doanh nghiệp là một loại hợp đồng, bởi vậy nó mang đầy đủ đặc trưng pháp lý của hợp đồng dân sự Bên cạnh những đặc điểm chung của một hợp đồng dân sự, hợp đồng mua bán doanh nghiệp có những đặc điểm riêng giúp nhận dạng với những loại hợp đồng khác

Thứ nhất, mục đích của việc mua lại doanh nghiệp là nhằm tiến hành

các hoạt động kinh doanh với tư cách của doanh nghiệp mua lại hay có thể hiểu bản chất của hợp đồng mua bán doanh nghiệp là chuyển quyền sở hữu doanh nghiệp từ tổ chức, cá nhân này sang tổ chức, cá nhân khác Bên mua lại doanh nghiệp không chỉ sở hữu đơn thuần tài sản hay cổ phiếu của doanh nghiệp bên bán mà được sở hữu toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đó, bao gồm quyền sở hữu các tài sản hữu hình và vô hình của doanh nghiệp bán, đồng thời sở hữu cả tư cách chủ thể kinh doanh Sau khi mua lại doanh nghiệp, bên mua kế thừa các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bán như việc giải quyết các vấn đề liên quan nhân sự, tài chính…

Thứ hai, giá trị của hợp đồng chính là giá trị của một doanh nghiệp

Giá trị đó bao gồm các tài sản hữu hình, những giá trị tài sản vô hình, lợi thế kinh doanh, mạng lưới phân phối, khách hàng, quyền được kinh doanh trong một số ngành nghề nhất định Như vậy, so với các hợp đồng mua bán tài sản doanh nghiệp hoặc hợp đồng mua cổ phần thì việc xác định giá trị doanh nghiệp trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp tương đối phức tạp hơn, vì phải dựa vào nhiều yếu tố để xác định giá trị Trong khi việc xác định giá trị ở các hợp đồng mua bán tài sản hoặc hợp đồng mua cổ phần thì chủ yếu dựa vào những giá trị tài sản hữu hình của doanh nghiệp

Thứ ba, chủ thể của hợp đồng mua bán doanh nghiệp gồm bên bán và

bên mua doanh nghiệp đều là các tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các

Trang 28

trường hợp bị Nhà nước cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp theo quy định pháp luật Trong đó, bên bán là chủ sở hữu doanh nghiệp còn bên mua có thể

là tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu mua doanh nghiệp

Thứ tư, về hình thức của hợp đồng mua bán doanh nghiệp Hiện nay,

không có bất kỳ văn bản pháp luật nào ở Việt Nam quy định hình thức của hợp đồng mua bán doanh nghiệp Tuy nhiên, dựa trên tính chất phức tạp của quan hệ này, có thể thấy rằng hình thức của hợp đồng mua bán doanh nghiệp phải được lập dưới hình thức văn bản để ghi nhận nội dung thỏa thuận, làm cơ

sở thực hiện hợp đồng Không giống như mua bán hàng hóa, tài sản thông thường, mua bán doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc chuyển tiền và giao hàng hóa, mà hai bên còn còn phải giải quyết hàng loạt vấn đề hậu mua bán doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp là một thực thể pháp lý sống có những đặc điểm khác nhau, do đó mỗi giao dịch mua bán doanh nghiệp lại phải giải quyết nhiều vấn đề hậu mua bán rất khác nhau Việc xác lập hợp đồng bằng văn bản là cơ sở pháp lý rõ ràng để các bên thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với nhau và là căn cứ pháp lý quan trọng để cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán doanh nghiệp

1.2.3 Nội dung của hợp đồng mua bán doanh nghiệp

Hợp đồng là sự tự do ý chí của các bên Hợp đồng mua bán doanh nghiệp chính là cơ sở để phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán và cũng là cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể phát sinh trong quá trình các bên thực hiện hợp đồng Về nguyên tắc, pháp luật không ràng buộc hay hạn chế thỏa thuận của các bên, nhưng thỏa thuận không được trái với quy định pháp luật và cũng phải phù hợp với các văn bản luật chuyên ngành, điều lệ doanh nghiệp và mục tiêu mà bên bán, bên mua cùng hướng tới trong thương vụ mua bán doanh nghiệp

Để đạt mục đích đáp ứng nhu cầu của mỗi bên khi giao kết hợp đồng, các bên phải xác định những gì cần thoả thuận, qua đó thể hiện được quyền và nghĩa vụ của các bên Mỗi doanh nghiệp là một thực thể kinh doanh với đầy

đủ các nhân tố riêng, như: chế độ quản trị, nguồn nhân lực, tài chính, văn hóa

Trang 29

doanh nghiệp… Mỗi thương vụ mua bán doanh nghiệp cũng có những nét khác biệt về yêu cầu, lợi ích, mục đích nên không có mẫu hợp đồng chung cho tất cả các giao dịch M&A Hợp đồng phải được xây dựng riêng cho từng trường hợp cụ thể Hợp đồng cần quy định đầy đủ các điều khoản cơ bản liên quan đến giao dịch M&A, đưa ra các yêu cầu, lợi ích, sự ràng buộc riêng biệt của doanh nghiệp và thậm chí quy định cả các vấn đề sau giao dịch như đội ngũ nhân sự mới, hệ thống thông tin, tài chính…

Để giảm thiểu khả năng xảy ra tranh chấp, hợp đồng mua bán doanh nghiệp nên được xây dựng như hồ sơ toàn diện về toàn bộ thỏa thuận giữa các bên về mọi khía cạnh của giao dịch

Căn cứ vào nội dung điều khoản của hợp đồng mua bán doanh nghiệp,

có thể chia thành các nhóm điều khoản chính sau: nhóm điều khoản tuyên bố, bảo đảm; nhóm điều khoản bảo đảm bồi thường; nhóm điều khoản quy định quyền và nghĩa vụ của các bên; nhóm điều khoản thi hành

Nhóm điều khoản tuyên bố, bảo đảm: Các tuyên bố và bảo đảm có

chức năng cơ bản là phân bổ rủi ro giữa các bên, buộc bên bán có trách nhiệm pháp lý với các khoản nợ trước khi hoàn tất hợp đồng mua bán doanh nghiệp

và buộc bên mua có trách nhiệm pháp lý với những khoản nợ phát sinh sau khi hoàn tất Việc chia sẻ nghĩa vụ không chỉ phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên trong hợp đồng mà còn phụ thuộc vào loại hình mua bán doanh nghiệp theo quy định của pháp luật

Tất cả các thỏa thuận M&A tiêu chuẩn đều thiết kế một phần quy định các tuyên bố và đảm bảo của các bên khi tham gia giao dịch Theo đó, một bên sẽ tuyên bố và bảo đảm với bên kia rằng, bên đó: (i) Được thành lập hợp

lệ và đang tiến hành hoạt động kinh doanh hợp pháp theo quy định pháp luật (ii) Có đủ quyền hạn và thẩm quyền để ký kết và thực hiện các hợp đồng và thỏa thuận liên quan đến giao dịch; (iii) Việc ký kết và thực hiện giao dịch không vi phạm điều lệ và các quy định khác của bên đó và bên đó đã nhận được sự cho phép, chấp thuận cần thiết (trong nội bộ bên đó hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) để ký kết và thực hiện giao dịch; (iv) Tài sản (cổ

Trang 30

phần, phần vốn góp, bất động sản, máy móc thiết bị) không đang bị cầm cố, thế chấp hoặc đang được sử dụng làm biện pháp bảo đảm cho bất cứ nghĩa vụ nào của bên đó hoặc bên thứ ba; (v) Bên bán sẽ không ký kết bất cứ thỏa thuận, hợp đồng nào liên quan đến việc bán, chuyển nhượng tài sản hoặc cung cấp dịch vụ có giá trị nhất định được các bên thỏa thuận hoặc ký kết các hợp đồng tín dụng, vay mượn mà không thông báo (hoặc không được sự chấp thuận) của bên mua; (vi) Bên bán sẽ vẫn tiến hành (hoặc không thay đổi) bản chất hoạt động kinh doanh mà mình đang thực hiện kể từ ngày ký kết các thỏa thuận liên quan đến giao dịch; (vii) Bên bán sẽ duy trì sổ sách kế toán theo đúng chuẩn mực cho phép và bảo đảm rằng bên mua có thể dễ dàng xem xét các sổ sách này khi có yêu cầu hợp lý; và (viii) Các tuyên bố và bảo đảm khác

về quyền sở hữu trí tuệ, về duy trì tài khoản ngân hàng và duy trì các hợp đồng đã ký hoặc đang thực hiện, duy trì và hoàn tất việc đăng ký tài sản (đối với những tài sản pháp luật đòi hỏi phải đăng ký), duy trì các hợp đồng bảo hiểm, giải quyết xong toàn bộ các vấn đề lao động…

Nhóm điều khoản về bảo đảm bồi thường trong hợp đồng mua bán

doanh nghiệp là để tránh những rủi ro tài chính trong giao dịch M&A Nó định rõ các quyền của bên mua và bên bán Theo đó, nếu một bên vi phạm các tuyên bố, cam kết, thoả thuận hạn chế và những ràng buộc khác được ghi trong hợp đồng, bên kia sẽ nhận được bồi thường Các bên có thể đưa ra một

số hạn chế về mức tối thiểu và tối đa của các khoản bồi thường

Nhóm điều khoản quy định quyền và nghĩa vụ của các bên: ngoài

những ràng buộc pháp lý giữa các bên đối với nhau được quy định trong pháp luật dân sự và pháp luật thương mại nói chung, các bên mua bán doanh nghiệp còn có những ràng buộc khác thể hiện bản chất pháp lý của mua bán doanh nghiệp Mua bán doanh nghiệp trước hết mang bản chất pháp lý của quan hệ mua bán - đó là quan hệ chuyển quyền sở hữu có thu tiền Tuy nhiên,

ở đây đối tượng mua bán không phải là tài sản đơn thuần mà là doanh nghiệp Khi mua bán doanh nghiệp, bên mua và bên bán không chỉ thoả thuận việc mua bán tài sản hữu hình của doanh nghiệp, như: dây chuyền sản xuất, thiết bị

kỹ thuật, phương tiện vận chuyển, mà còn thoả thuận cả việc mua bán, chuyển

Trang 31

nhượng các giá trị tiềm năng của doanh nghiệp, như: tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, đội ngũ công nhân lành nghề, hệ thống quản lý nghiệp vụ, hệ thống khách hàng, đại lý phân phối Chính vì vậy, việc mua bán doanh nghiệp không chỉ dẫn đến chuyển giao tài sản hữu hình mà còn dẫn đến chuyển giao quyền và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp với người thứ ba, bao gồm cả quyền và nghĩa vụ đối với chủ nợ; về quyền và nghĩa vụ đối với người lao động, chuyển giao quyền tiếp tục khai thác các giá trị tài sản của doanh nghiệp đã bán Bên cạnh đó, các bên cũng có thể thỏa thuận những điều khoản không gây hạn chế cạnh tranh cho bên mua doanh nghiệp; ngay cả thời điểm chuyển quyền sở hữu doanh nghiệp và rủi ro cũng có điểm khác biệt so với quan hệ mua bán hàng hóa thông thường khác

Nhóm điều khoản thi hành thường là mục cuối cùng trong hợp đồng

M&A, có thể bao gồm những điều khoản mẫu Nhóm này bao gồm các điều khoản về luật có thể áp dụng, về việc ai sẽ là người trả các chi phí pháp lý cho hợp đồng mua bán, các tuyên bố trong hợp đồng được sử dụng khi nào, khi nào chúng sẽ có hiệu lực, khả năng chấm dứt của hợp đồng và hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng

Dù nội dung của mỗi hợp đồng mua bán doanh nghiệp khác nhau trong từng thương vụ cụ thể, nhưng hợp đồng mua bán doanh nghiệp cũng phải đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Hợp đồng gồm những nội dung cấu thành cơ bản sau:

1) Chủ thể tham gia hợp đồng mua bán doanh nghiệp

2) Đối tượng của hợp đồng mua bán doanh nghiệp

3) Hình thức của hợp đồng mua bán doanh nghiệp

4) Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên khi tham gia hợp đồng mua bán doanh nghiệp

5) Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán doanh nghiệp và các trường hợp hợp đồng mua bán doanh nghiệp vô hiệu

6) Trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng mua bán doanh nghiệp

Trang 32

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng để xác lập một quan hệ hợp đồng mua bán doanh nghiệp cần phải xem xét rất nhiều yếu tố Bởi lẽ, giao dịch này không giống như các quan hệ của hợp đồng mua bán tài sản thông thường khác mà nó liên quan đến một thực thể kinh doanh và việc chuyển quyền sở hữu từ một thực thể kinh doanh này sang thực thể kinh doanh khác Khi hợp đồng phát sinh hiệu lực và được thực hiện sẽ kéo theo rất nhiều vấn

đề pháp lý liên quan cần phải giải quyết, bao gồm các vấn đề về: thuế, nghĩa

vụ thanh toán các khoản nợ, nghĩa vụ pháp lý đối với bên thứ ba, các vấn đề

về nhân sự… Chính vì vậy, việc xây dựng hồ sơ toàn diện về toàn bộ thỏa thuận giữa các bên về mọi khía cạnh của giao dịch là đặc biệt quan trọng nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra tranh chấp Điều này sẽ đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia, giúp bên bán và bên mua lại doanh nghiệp xây dựng được một hợp đồng mua bán doanh nghiệp chặt chẽ, phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành

1.2.4 Phân loại hợp đồng mua bán doanh nghiệp

Có nhiều tiêu chí để phân loại hợp đồng mua bán doanh nghiệp

Căn cứ vào các hình thức pháp lý của doanh nghiệp mục tiêu mà hợp đồng mua bán doanh nghiệp được chia ra thành:

(iii) Hợp đồng mua bán các doanh nghiệp thông thường

Việc phân loại này nhằm mục đích xác định được nhanh chóng các văn bản pháp luật điều chỉnh nội dung đối với từng hợp đồng trong từng trường hợp

Dựa vào hình thức mua bán doanh nghiệp, thì hợp đồng mua bán doanh nghiệp được chia thành:

Trang 33

Với hợp đồng mua bán toàn bộ doanh nghiệp thì quyền sở hữu được chuyển giao hoàn toàn từ doanh nghiệp mục tiêu sang doanh nghiệp mua Đối với hợp đồng mua bán một bộ phận doanh nghiệp thì việc chuyển giao quyền

sở hữu chỉ được thể hiện đối với một ngành, một nghề, một bộ phận của doanh nghiệp

1.3 Pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán doanh nghiệp

Trong bất kỳ mối quan hệ hợp đồng nào, việc xác định xem các quy định pháp luật nào điều chỉnh giao dịch đó là hết sức cần thiết, đặc biệt đối với một quan hệ hợp đồng phức tạp như hợp đồng mua bán doanh nghiệp Pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán doanh nghiệp có vai trò định hướng cho các doanh nghiệp hướng đến việc xây dựng một hợp đồng chặt chẽ

và bảo đảm đầy đủ hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia trong quan hệ hợp đồng Một hợp đồng không tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật

về hợp đồng thì việc thực hiện hợp đồng sẽ gặp nhiều trở ngại và đôi khi dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng

Vai trò của pháp luật đối với hợp đồng nói chung và các quy định của pháp luật liên quan đến hợp đồng mua bán doanh nghiệp nói riêng đều chủ yếu quy định các điều kiện mà các bên cần đáp ứng cũng như những thủ tục cần thiết khi tham gia vào quan hệ hợp đồng Điều này nhằm đảm bảo rằng: sau khi ký kết, hợp đồng mua bán doanh nghiệp có đầy đủ hiệu lực thi hành,

có đầy đủ cơ sở pháp lý để các bên thực hiện theo các nội dung đã cam kết, tránh sự bội tín, tránh những tranh chấp và xung đột có thể xảy ra

Với đặc trưng của hợp đồng mua bán doanh nghiệp là một hợp đồng phức hợp, sau khi giao kết và có hiệu lực, hợp đồng mua bán doanh nghiệp sẽ phát sinh hàng loạt các vấn đề, như: tài chính, thương hiệu, giải quyết các vấn

đề liên quan đến lao động, xử lý các khoản nợ thuế, khoản nợ với các bên thứ ba… Do đó, việc xác định pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán doanh nghiệp sẽ giúp các bên ngay tại thời điểm ký kết, thỏa thuận hợp đồng

có thể thống nhất phương án xử lý cho toàn bộ các vấn đề phát sinh trước, trong và sau khi ký hợp đồng

Trang 34

Hệ thống pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở mỗi quốc gia thuộc các dòng pháp luật khác nhau sẽ khác nhau Nhìn chung, các vấn đề cơ bản nhất của hợp đồng mua bán doanh nghiệp đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Với những vấn đề liên quan đến đăng ký doanh nghiệp, chuyển đổi địa vị pháp lý của chủ doanh nghiệp, quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp…thì chịu sự điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp Với những vấn đề riêng trong hợp đồng (lao động, tài chính, chuyển giao đất đai, tài sản trí tuệ, tài sản có đăng ký quyền sở hữu…) thì chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành (pháp luật lao động, pháp luật đất đai, pháp luật tài chính…)

1.3.1 Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về hợp đồng mua

bán doanh nghiệp

1.3.1.1 Pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức

Hiện nay, hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại CHLB Đức được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật về hoạt động M&A và pháp luật liên quan đến lĩnh vực hợp đồng quan trọng như:

- Bộ luật dân sự Đức (BGB) là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhất, là nguồn luật cơ bản điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh Các quy phạm pháp luật về hợp đồng tập trung tại Quyển I - Phần chung và Quyển II - Luật nghĩa vụ của BLDS Đức

- Bộ luật Thương mại Đức ban hành năm 1987, sửa đổi năm 1998

- Luật Công ty hợp danh ban hành 1994, sửa đổi 1998

- Luật Công ty cổ phần (1965)

- Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn (1892), sửa đổi năm 1980

- Luật Chống hạn chế cạnh tranh (1992), sửa đổi năm 2005

Cộng hòa Liên bang Đức là quốc gia thành viên của Liên minh Châu

Âu nên phải đảm bảo việc tuân theo các quy định của Liên minh Châu Âu

Trang 35

1.3.1.2 Pháp luật của Cộng hòa Liên bang Nga

Cộng hòa Liên bang Nga quy định khá chi tiết về hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại Phần 2, Chương 30, Mục 8, Bộ luật Dân sự Liên bang Nga

Ngoài ra, các văn bản quy định về các hoạt động mua bán doanh nghiệp

có thể kể đến như:

- Bộ luật Dân sự Liên bang Nga (phần I – 1994; phần II – 1996; phần III – 2001; phần IV – 2006)

- Luật Công ty Cổ phần (1995)

- Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn (1998)

- Luật Thị trường Chứng khoán (1996)

- Luật Cạnh tranh (2006)

- Luật Đầu tư nước ngoài (1999)

1.3.1.3 Pháp luật của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

Ở Hoa Kỳ không có quy định về hợp đồng mua bán doanh nghiệp áp dụng chung cho tất cả các bang Quy định về hoạt động mua bán doanh nghiệp được điều chỉnh bởi chế độ quy định kép (bao gồm các luật liên bang

và luật tiểu bang) Có thể kể đến một số đạo luật chung của Liên bang như:

- Bộ luật Thương mại Thống nhất chung Hoa Kỳ (1949)

- Luật Chứng khoán liên bang (1933)

- Luật Giao dịch chứng khoán (1934)

- Bộ luật Dân sự (2015) quy định về ký kết hợp đồng nói chung;

Trang 36

- Luật Doanh nghiệp (2014) quy định khái niệm, thủ tục tiến hành, các trường hợp phải báo cáo tới cơ quan cạnh tranh, hồ sơ, trình tự đăng ký khi sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp; cách thức quản trị doanh nghiệp, thủ tục đăng ký thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp;

- Luật Đầu tư (2014) quy định về hình thức, điều kiện và thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế;

- Luật Cạnh tranh (2004) quy định khái niệm sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp và quy định kiểm soát hoạt động mua bán doanh nghiệp nói chung khi các doanh nghiệp hình thành sau khi mua bán có tỷ lệ thị phần đạt tới “ngưỡng” theo quy định của Luật Cạnh tranh Luật Cạnh tranh điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp ở khía cạnh kiểm soát hành vi có thể dẫn đến thủ tiêu cạnh tranh

- Luật Chứng khoán (2006) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (2010) điều chỉnh việc mua bán doanh nghiệp thông qua hoạt động mua bán cổ phiếu ra công chúng

Ngoài các văn bản luật, Việt Nam có nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành luật; nhưng việc áp dụng quy định của pháp luật trên thực tế còn khó khăn do sự trùng lặp, chồng chéo của pháp luật và sự thiếu vắng nguyên tắc áp dụng pháp luật thống nhất Bên cạnh đó, pháp luật của Việt Nam hiện hành cũng không có quy định cụ thể về vấn đề liên quan đến hoạt động M&A

và các vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam, như: chủ thể được quyền tham gia hoạt động M&A, thủ tục thực hiện, phương thức thực hiện M&A Điều này đã gây nhiều khó khăn cho các chủ thể cũng như cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiện thương vụ M&A

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam là một chế định pháp luật được cấu thành bởi nhiều quy phạm pháp luật nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau trong các lĩnh vực dân sự, thương mại, cạnh tranh, lao động… Việc nghiên cứu pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp có thể được thực hiện theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau

Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở một số quốc gia điển hình trên thế giới và Việt Nam theo một số nội dung cơ bản sau: quy định về chủ thể của hợp đồng mua bán doanh nghiệp; hình thức của hợp đồng mua bán doanh nghiệp; nội dung của hợp đồng mua bán doanh nghiệp; quy định pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp vô hiệu; trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mua bán doanh nghiệp; giải quyết tranh chấp khi thực hiện hợp đồng mua bán doanh nghiệp

2.1 Các quy định về chủ thể của hợp đồng mua bán doanh nghiệp

Chủ thể mua bán doanh nghiệp gồm bên bán doanh nghiệp và bên mua doanh nghiệp Quy định pháp luật về chủ thể mua bán doanh nghiệp là cơ sở pháp lý giúp các bên có nhu cầu mua doanh nghiệp xem xét họ có được quyền mua doanh nghiệp không, để hạn chế việc đầu tư không khả thi Mặt khác, việc quy định về chủ thể mua bán doanh nghiệp chính là một trong những căn

cứ để xem xét điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

2.1.1 Các quy định về Bên bán doanh nghiệp

Bên bán doanh nghiệp trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp đó hay chính là bản thân doanh nghiệp mục tiêu? Bởi lẽ doanh nghiệp là đối tượng của quan hệ mua bán doanh nghiệp nên doanh nghiệp không thể tự bán mình được Vì vậy, nó không thể là chủ thể của hợp đồng mua bán doanh nghiệp Theo lý thuyết chung về quyền của chủ sở hữu tài sản đối với tài sản thì có thể rút ra kết luận là chủ sở hữu doanh nghiệp sẽ

là chủ thể có quyền bán doanh nghiệp Tùy từng loại doanh nghiệp mà chủ sở

Trang 38

hữu có thể là một cá nhân, một pháp nhân hoặc nhiều cá nhân, tổ chức có tư cách pháp nhân Về tư cách chủ thể, bên bán phải thỏa mãn các điều kiện luật định, đó là phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Ngoài ra, bên bán phải thỏa mãn các điều kiện về thành lập và quản lý doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp thuộc sở hữu một chủ thì chính chủ sở hữu đó có quyền quyết định bán doanh nghiệp Ví dụ Nhà nước có quyền bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; chủ sở hữu công ty tránh nhiệm hữu hạn một thành viên (là một tổ chức hoặc một cá nhân) có quyền quyết định bán công

ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân có quyền quyết định bán doanh nghiệp tư nhân

Riêng đối với các doanh nghiệp nhà nước, do đặc thù chủ sở hữu là Nhà nước (một chủ thể đặc biệt) nên việc xác định cơ quan, tổ chức nào đại diện cho bên bán doanh nghiệp Nhà nước phải được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật

Luật của Liên bang Nga về Tư nhân hóa tài sản nhà nước quy định về chủ thể hợp đồng mua bán doanh nghiệp nhà nước tại Điều 10 và Điều 11 như sau: bên bán đại diện cho Nhà nước là Chính phủ, cơ quan Liên bang về quản

lý tài sản quốc gia, các cơ quan liên bang hành pháp khác và cơ quan tự quản địa phương

Điều 187, Luật Doanh nghiệp (2014) quy định, quyền bán doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp tư nhân Nghị định số 128/2014/NĐ-CP quy định chung người bán doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp là cơ quan, tổ chức đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp mà không quy định cụ thể là cơ quan,

tổ chức nào Như vậy, chủ sở hữu của bất kỳ một doanh nghiệp nào đều có quyền bán doanh nghiệp của mình theo quy định của Luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp luật khác

Đối với doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhiều chủ, như: công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh, thẩm quyền quyết định bán doanh nghiệp thuộc về các thành viên, cổ đông công ty (gọi chung là các chủ sở hữu công ty) Chủ sở hữu công ty bán công

Trang 39

ty qua hình thức chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp Riêng đối với loại hình công ty hợp danh và công ty cổ phần, do tính chất đặc biệt liên quan đến

cơ cấu thành viên, nên cần xác định chủ thể nào có quyền quyết định bán

Công ty hợp danh theo quy định pháp luật của Việt Nam có thành viên hợp danh và có thể có thành viên góp vốn; trong đó, thành viên hợp danh có quyền tham gia họp, thảo luận và biểu quyết các vấn đề của công ty Thành viên góp vốn không được tham gia quản lý công ty, không được tiến hành công việc kinh doanh nhân danh công ty Vì vậy, các cá nhân, tổ chức có dự định mua lại một phần công ty hợp danh thì phải mua lại phần vốn góp của thành viên hợp danh để trở thành thành viên hợp danh mới và lúc đó mới có quyền quản lý công ty hợp danh

Hoạt động mua bán công ty cổ phần có thể được thực hiện thông qua hình thức chuyển nhượng toàn bộ tài sản của công ty, mua bán toàn bộ hoặc một phần cổ phần của công ty để nắm quyền quản lý, chi phối công ty cổ phần đó Theo đó, trong trường hợp mua bán tài sản của công ty thì việc quyết định bán công ty phụ thuộc vào quyết định hợp lệ của chủ sở hữu công ty, chính là các cổ đông của công ty Trong trường hợp mua bán công ty thông qua chuyển nhượng cổ phần, chủ thể tham gia hoạt động mua bán công ty cổ phần với tư cách là bên bán được xác định là các cổ đông của công ty, những người là chủ sở hữu hợp pháp của những cổ phần đó Cần lưu ý rằng cổ đông

ưu đãi hoàn lại và cổ đông ưu đãi cổ tức không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát

Cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi biểu quyết mới được tham dự Đại hội đồng cổ đông để biểu quyết thông qua những vấn đề quan trọng của công ty, nhưng cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng

cổ phần cho người khác Cổ đông ưu đãi hoàn lại và cổ đông ưu đãi cổ tức có quyền chuyển nhượng cổ phần thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác Tuy nhiên, với tính chất của cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi cổ tức thì bên nhận chuyển nhượng cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại không thể tham gia bộ máy quản trị và kiểm soát được hoạt động kinh doanh của công ty Vì vậy, bên nhận chuyển nhượng cổ phần của cổ đông phổ thông

Trang 40

đến một tỷ lệ chi phối đủ để kiểm soát được công ty được coi là mua lại một phần công ty cổ phần

2.2.2 Các quy định về Bên mua doanh nghiệp

Bên mua doanh nghiệp có thể là tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua doanh nghiệp và đáp ứng các điều kiện về tư cách chủ thể mua doanh nghiệp

Thứ nhất, đối với trường hợp mua doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

Pháp luật một số nước có thể quy định một số điều kiện về chủ thể mua doanh nghiệp, ví dụ pháp luật của Cộng hòa Liên bang Nga quy định bên mua doanh nghiệp nhà nước có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, trừ trường hợp doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan nhà nước, các pháp nhân mà trong đó có số vốn điều lệ của nhà nước vượt quá 25% (Điều 9, khoản 1, Luật Tư nhân hóa tài sản Nhà nước)

Ở Việt Nam cũng có quy định tương tự về chủ thể có quyền mua doanh nghiệp 100% vốn nhà nước tại Điều 4, Nghị định số 128/2014 NĐ-CP, bao gồm:

“1 Đối tượng có quyền mua doanh nghiệp, bao gồm:

a) Tập thể người lao động trong doanh nghiệp;

b) Cá nhân người lao động trong doanh nghiệp;

c) Các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trừ tổ chức tài chính thực hiện tư vấn định giá, đấu giá bán doanh nghiệp và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu;

d) Công dân Việt Nam có đủ năng lực hành vi dân sự, trừ những người không được thành lập và quản lý doanh nghiệp quy định tại các Điểm b, c, d,

đ, e, g Khoản 2 và Điểm b Khoản 4 Điều 13 Luật Doanh nghiệp, thành viên Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, các cá nhân thuộc tổ chức tài chính thực hiện tư vấn định giá, đấu giá bán doanh nghiệp;

đ) Tổ chức kinh tế tài chính được thành lập theo pháp luật nước ngoài hoạt động kinh doanh tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam, cá nhân nước ngoài,

Ngày đăng: 02/08/2019, 20:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Lan Anh (2010), Pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ và những điểm khác biệt cơ bản so với pháp luật Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 12/2010, tr.11 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Luật học
Tác giả: Vũ Thị Lan Anh
Năm: 2010
2. Trần Quỳnh Anh (2012), Khái quát pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức về hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 9/2012, tr.61 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Luật học
Tác giả: Trần Quỳnh Anh
Năm: 2012
3. Mai Vân Anh (2009), Sự điều chỉnh pháp luật về thị trường mua bán, sáp nhập doanh nghiệp: kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự điều chỉnh pháp luật về thị trường mua bán, sáp nhập doanh nghiệp: kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam
Tác giả: Mai Vân Anh
Năm: 2009
4. Trần Thị Bảo Ánh (2014), Pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Bảo Ánh
Năm: 2014
5. Trần Thị Bảo Ánh (2011), Bất cập của pháp luật hiện hành về mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số 6/2011, tr.3 - 8, 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Luật học
Tác giả: Trần Thị Bảo Ánh
Năm: 2011
6. Trần Thị Bảo Ánh (2013), Quan hệ mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam – Nhận diện dưới góc độ pháp lí, Tạp chí Luật học, số 1/2013, tr.3 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Luật học
Tác giả: Trần Thị Bảo Ánh
Năm: 2013
7. Trần Thị Bảo Ánh (2008), Thực trạng pháp luật Việt Nam về mua bán doanh nghiệp, Tạp chí Luật học, số 5/2008, tr.3 - 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Luật học
Tác giả: Trần Thị Bảo Ánh
Năm: 2008
8. Vũ Phương Đông (2010), Về phương thức mua bán công ti qua việc mua bán phần vốn góp chi phối của công ti, Tạp chí Luật học, số 9/2010, tr.38 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Luật học
Tác giả: Vũ Phương Đông
Năm: 2010
9. Nguyễn Hương Giang (2015), Pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp – Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp – Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Hương Giang
Năm: 2015
10. Phạm Trí Hùng và Đặng Thế Đức (2011), M&A sáp nhập và mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam, Nxb Lao động – Xã hội, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: M&A sáp nhập và mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trí Hùng và Đặng Thế Đức
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2011
11. Bùi Nguyên Khánh (2011), Tổng quan về pháp luật dân sự của Cộng hòa Liên bang Đức, Tạp chí Luật học, số 9/2011, tr.59 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Luật học
Tác giả: Bùi Nguyên Khánh
Năm: 2011
12. Bùi Thanh Lam (2008), Điều kiện xây dựng, phát triển thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 4/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Luật học
Tác giả: Bùi Thanh Lam
Năm: 2008
13. Nguyễn Hòa Nhân (2009), M&A ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp cơ bản, Tạp chí Khoa học và Công Nghệ, số 5 (34)/2009, tr.145 - 151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Công Nghệ
Tác giả: Nguyễn Hòa Nhân
Năm: 2009
14. Nguyễn Thị Hoàng Oanh (2009), Hợp đồng mua bán doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật –Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng mua bán doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Oanh
Năm: 2009
15. Nguyễn Thị Hồng Phúc (2015), Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Phúc
Năm: 2015
16. Scott Moeller & Chris Brady (2006), M&A mua lại và sáp nhập thông minh, Thái Hà Books, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M&A mua lại và sáp nhập thông minh
Tác giả: Scott Moeller & Chris Brady
Năm: 2006
17. Michael E.S.Frankel (2009), M&A mua lại và sáp nhập căn bản, Thái Hà Books, NXB Tri Thức, Hà Nội.Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: M&A mua lại và sáp nhập căn bản
Tác giả: Michael E.S.Frankel
Nhà XB: NXB Tri Thức
Năm: 2009
18. Kenneth A.Adams (2013), A manual of style for contract drafting, American Bar Asociation, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: A manual of style for contract drafting
Tác giả: Kenneth A.Adams
Năm: 2013
19. John C.Coates IV (2015), M&A Contracts: Purposes, Types, Regulation, and Patterns of Practice, Harvard Law School, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: M&A Contracts: Purposes, Types, Regulation, and Patterns of Practice
Tác giả: John C.Coates IV
Năm: 2015
20. Donald DePamphilis (2011), Merger and Acquisition Basics – All you need to know, Elsevier, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Merger and Acquisition Basics – All you need to know
Tác giả: Donald DePamphilis
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm