Bên cạnh đó, để giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn Tòa án phải ADPL với quy phạm pháp luật quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau từ luật tố tụng đến luật n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
NGUYỄN XUÂN TÙNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NUÔI CON
CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Định hướng ứng dụng
HÀ NỘI-2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
NGUYỄN XUÂN TÙNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NUÔI CON
CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN XUÂN TÙNG
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, đối tượng, giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu; 4
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài; 4
6 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT VIỆC NUÔI CON CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 6
1.1 Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn ……… …6
1.1.1.Khái niệm ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn 6
1.1.2 Khái niệm áp dụng pháp luật 10
1.1.3 Khái niệm áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn 12
1.1.4 Đặc điểm áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn 15
1.2 Phương thức áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn 20
1.2.1 Giải quyết việc trực tiếp nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn 21
1.2.2 Giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT VIỆC NUÔI CON CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 32
2.1 Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn 32
2.1.1 Thuận lợi khi áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn 32
Trang 5vợ chồng khi ly hôn 37
2.1.3 Kết quả đạt được khi tiến hành áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn 41
2.2 Một số vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn 42
2.2.1 Vướng mắc, bất cập trong vấn đề giao con chung cho vợ chồng 42
2.2.2 Vướng mắc, bất cập trong vấn đề cấp dưỡng nuôi con 46
2.3 Một số nguyền nhân 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 54
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT VIỆC NUÔI CON CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN HIỆN NAY 55
3.1 Yêu cầu nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn 55
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn 59
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 59
3.2.2 Nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của gia đình, xã hội đối với sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 68
KẾT LUẬN……… ………… 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong thời kỳ đổi mới, những biến đổi về kinh tế, văn hóa đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt của xã hội khiến cho cuộc sống gấp gáp, xô bồ chạy theo công việc điều đó ảnh hưởng đến đời sống, quan hệ hôn nhân vợ chồng trong gia đình Kể đến những ảnh hưởng tác động đến cuộc sống HN&GĐ như: sự không quan tâm lẫn nhau giữa các thành viên gia đình, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn, ngoại tình, tình trạng bạo lực gia đình tăng cao Điều này dẫn đến số lượng vụ việc ly hôn ngày càng gia tăng một cách chóng mặt, cuộc sống gia đình tan vỡ kéo theo đó là mối quan
hệ giữa các thành viên trong gia đình sau khi ly hôn thay đổi, đây là một vấn
đề nan giải khó giải quyết Đặc biệt là quan hệ giữa cha, mẹ với con chung cũng như vấn đề đảm bảo cuộc sống, sự phát triển tự nhiên, tốt nhất cho con chung của vợ chồng khi ly hôn
Để giải quyết vấn đề trên, Tòa án phải ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn, nhưng trong thực tế giải quyết cũng vướng phải không ít những khó khăn, vướng mắc bất cập Một phần bởi đặc thù quan hệ pháp luật gắn liền với đối tượng con chung là trẻ chưa thành niên, con chung phải sống phụ thuộc vào cha, mẹ; tâm sinh lý chưa phát triển toàn diện cũng như sống phụ thuộc vẫn phải chịu giám hộ của cha mẹ Bên cạnh
đó, để giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn Tòa án phải ADPL với quy phạm pháp luật quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau từ luật tố tụng đến luật nội dung điều chỉnh quan hệ pháp luật HN&GĐ như: Bộ Luật Tố tụng dân sự, Bộ Luật Dân sự, Luật HN&GĐ năm 2014, Luật Trẻ em năm 2016, Thông tư liên tịch số 01/2016/ TTLT TANDTC–VKSNDTC-BTP ngày 06/01 /2016, … giải quyết quan hệ pháp luật giữa cha,
mẹ, con cũng như quan hệ pháp luật khác trong cùng một vụ việc ly hôn
Do vậy, để nhằm nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về vấn đề lý
Trang 8luận của ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn cũng như thực tiễn áp dụng, xét xử trên thực tế của một số Tòa án và các vụ việc trên thực tế, qua đó thấy được những vướng mắc hạn chế còn tồn tại của vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn, cũng như phương hướng
hoàn thiện; tác giả lựa chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn.” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật
học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian gần đây vấn đề ADPL giải quyết hậu quả pháp lý của ly hôn cũng như sâu hơn là vấn đề ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của
vợ chồng khi ly hôn đã được một số công trình nghiên cứu, đề tài, bài viết của nhiều tác giả đề cập, phân tích đến một số khía cạnh của vấn đề như:
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và
con sau khi ly hôn; Luận văn thạc sĩ luật học, tác giả: Nguyễn Thị An; Hà
Nội; năm 2016
- Pháp luật Việt Nam với việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ,
chồng và các con khi ly hôn; Luận văn thạc sĩ luật học, tác giả: Lê Thị Loan;
Hà Nội, năm 2015
- Vướng mắc về việc giải quyết quan hệ nuôi con chung trong vụ án ly
hôn; Hoàng Thị Việt Anh; Tạp chí Tòa án nhân dân – Số 18/2016
- Vướng mắc về giải quyết quan hệ nuôi con chung trong vụ án ly hôn;
Nguyễn Thị Hương; Tạp chí Tòa án nhân dân; Số 3/2016
- Giải quyết quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly
hôn như thế nào cho đúng?; Nguyễn Chế Linh; Tạp chí Luật sư Việt Nam Số
1-2/2018,
- Một số vấn đề về thời điểm bắt đầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn, Lê
Thanh Lâm, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 10/2016
Trang 9- Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn còn nhiều bất
cập ; Trần Thế Hệ ; Tạp chí Luật sư Việt Nam; Số 5/2015
Qua nghiên cứ những công trình nêu trên, các tác giả chỉ đề cập mặt này hay mặt khác của việc ADPL giải quyết hậu quả pháp lý của ly hôn mà chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống đầy đủ việc ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
3 Mục đích, đối tượng, giới hạn phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật để ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn; cũng như thực tiễn ADPL trong xét xử các vụ việc trên thực tế và những quy định chưa phù hợp của pháp luật có liên quan; từ đó đưa ra những giải pháp và hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức một cách toàn diện khi nghiên cứu cũng như ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
Đối tượng nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn phải thực hiện nghiên cứu đối tượng , giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Trình bày một cách tổng quan về vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam
- Phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
- Tìm hiểu thực tiễn ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn Phân tích một số bản án, vụ việc điển hình trên thực tế về ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn Để thấy được một cách cụ thể, chính xác các vướng mắc và hạn chế của quy định pháp luật về vấn đề này
Trang 10- Luận giải những giải pháp, kiến nghị và hường hoàn thiện các quy định của pháp luật trong vấn đề ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
Giới hạn, phạm vi nghiên cứu:
Luận văn chỉ nghiên cứu vấn đề ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở Việt Nam; không nghiên cứu vấn đề này khi có yếu tố nước ngoài
4 Phương pháp nghiên cứu;
Nhằm phân tích và đánh giá khách quan về ADPL giải quyết vấn đê nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn cũng như phát hiện những vướng mắc, hạn chế trong các quy định và trong thực tiễn xét xử các vụ việc thực tế; luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; đồng thời sử dụng và kết hợp một cách hợp
lý các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải, suy luận logic, so sánh… nhằm phát triển, chứng minh các quan điểm nêu ra trong luận văn Bên cạnh đó, tác giả sử dụng một số nội dung vụ việc thực tế, số liệu thống kê của các ngành liên quan trên thực tế nhằm minh họa cho những nhận định, đánh giá của luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài;
Nội dung của luận văn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học có tính hệ thống những vấn
đề liên quan đến ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn Với những điểm mới so với các công trình nghiên cứu khoa học trước đây như sau:
- Phân tích một cách hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành về ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn, từ đó phân tích nội dung, ý nghĩa của các quy định pháp luật hiện hành
Trang 11- Chỉ ra nhưng hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành về ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn mà chưa được đề cập đến một cách cụ thể và chi tiết trong các công nghiên cứu khoa học trước đây
- Minh chứng bằng một số vụ việc trên thực tiễn liên quan đến ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn để luận giải về những
ưu điểm, hạn chế, vướng mắc, bất cập của quy định pháp luật hiện hành Trên
cơ sở đó chỉ ra nguyên nhân và đề xuất hướng hoàn thiện các quy định này
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luân văn gồm 03 chương
Chương 1: Khái lược áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn hiện nay
Trang 12CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT VIỆC NUÔI CON
CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 1.1 Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
1.1.1 Khái niệm ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn
Khái niệm ly hôn
Đời sống hôn nhân không hạnh phúc, nguyên nhân mang đến hậu quả tất
yếu là sự ly hôn của hai vợ chồng, từ điển tiếng việt có định nghĩa “Ly hôn là
vùng miền như: Li dị, rẫy nhau, bỏ vợ, để vợ Khi nhắc đến những từ ngữ này mọi người đều có thể hiểu là sự biểu đạt về việc vợ chồng không còn chung sống với nhau và đời sống hôn nhân, gia đình chấm dứt Bên cạnh ý nghĩa chấm dứt một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, khái niệm ly hôn trên mang lại cách hiểu về sự tự do chấm dứt hôn nhân của vợ, chồng hơn là việc ly hôn được công nhận của nhà nước, pháp luật cho phép vợ chồng được chấm dứt hôn nhân
Khái niệm về ly hôn trong từ điển Tiếng việt mới diễn đạt được nội dung bên ngoài, hình thức của ly hôn mà chưa trình bày được những nôi dung, bản chất quan hệ pháp lý mà ly hôn mang đến cho vợ, chồng Theo quy định của
Luật HN&GĐ năm 2014, thuật ngữ ly hôn được định nghĩa như sau: “Ly hôn
là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.” 2
Theo Từ điển luật học của Viện nghiên cứu khoa học
pháp lý- Bộ Tư pháp định nghĩa “Ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả
Trang 13hai vợ chồng”3 Những khái niệm trên mang đậm tính chất quy định của pháp luật về ly hôn với nội dung diễn đạt được: hậu quả pháp lý, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền công nhận ly hôn, người có quyền yêu cầu ly hôn…
Mặc dù ly hôn là quyền nhân thân của cả hai bên vợ chồng được pháp luật bảo hộ nhưng Nhà nước phải kiểm soát việc ly hôn trong khuôn khổ của pháp
luật C Mác đã viết:“Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn nhân
này đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối Đương nhiên, không phải là sự tùy tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện của những
cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết; bởi vì, như mọi người đã biết, việc xác nhận sự kiện chết tùy thuộc vào thực chất của vấn đề, chứ không phải vào nguyện vọng của
Thật vậy, ly hôn là hiện tượng sẽ xuất hiện một cách khách quan khi cuộc hôn nhân của hai vợ chồng “đã chết”, ly hôn sẽ chỉ là một dấu chấm hết, là sự công nhận cho một mối quan hệ hôn nhân đã không còn tồn tại trên thực tế Nhưng hệ lụy của nó không hề nhỏ, cho nên vấn đề ly hôn của vợ, chồng phải được đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước và pháp luât nhằm hạn chế các bên lạm dụng quyền tự do ly hôn gây ra hiện tượng ly hôn tràn lan, ảnh hưởng đến sự ổn định của mối quan hệ trong gia đình và xã hội
Có thể hiểu ly hôn không chỉ là việc chấm dứt hôn nhân từ mong muốn của vợ chồng một cách thuần túy mà nó còn cần có sự công nhận của Tòa án bằng một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật Sự công nhận ly hôn của Tòa án chính là thể hiện kiểm soát Nhà nước đối với ly hôn Điều này thể hiện ở chỗ Tòa án nhân danh Nhà nước kiểm soát việc ly hôn thông qua tiếp nhận giải quyết yêu cầu xin ly hôn của các đương sự Trong khi giải quyết
Trang 14yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét trên thực tế về quan hệ của vợ chồng trong đời sống chung Nếu có căn cứ xét thấy cuộc sống chung của vợ chồng trầm trọng , mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn Đây cũng chính là lý do khiến cho việc xin ly hôn của các bên đương sự cần phải có sự công nhận của Tòa án Từ những phân tích nêu
trên có thể định nghĩa khái niệm chung nhất về ly hôn như sau: “Ly hôn là sự
kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật theo bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”
Hậu quả pháp lý của ly hôn
Về mặt lý luận, hậu quả pháp lý của ly hôn là kết quả dẫn đến từ một hành
vi, sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật Việc chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng là sự kiện pháp lý sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định đối với mối quan hệ HN&GĐ giữa vợ, chồng và con cái Do đó, ly hôn tất yếu sẽ kéo theo hậu quả pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt những quan hệ HN&GĐ, cụ thể :
- Quan hệ nhân thân của vợ chồng chấm dứt, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bao gồm các quyền và nghĩa vụ như: Nghĩa vụ chung sống, nghĩa vụ yêu thương và chung thủy, nghĩa vụ chăm sóc và giúp
đỡ nhau,…Nhưng một khi hai vợ chồng ly hôn các quyền và nghĩa vụ trên sẽ không phải ràng buộc thực hiện nữa
- Quan hệ tài sản của vợ chồng, khi ly hôn chế độ tài sản chung của vợ chồng được chấm dứt và tài sản chung được chia cho mỗi bên vợ chồng sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi người
- Nghĩa vụ và quyền của cha, mẹ và con, vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn được đặt ra về việc ai có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, vấn đề thăm nom, giáo dục con chung chưa thành niên, bên cạnh đó là
sự đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung của hai vợ chồng
Trang 15- Nghĩa vụ cấp dưỡng khi ly hôn, việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi
ly hôn được đặt ra nếu một bên vợ hoặc chồng túng thiếu, yêu cầu cấp dưỡng
và có lý do chính đáng
Khi quyết định, bản án của Tòa án giải quyết ly hôn có hiệu lực thì quan
hệ nhân thân giữa vợ và chồng chấm dứt (chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật) Điều này có nghĩa rằng người vợ, người chồng khi đã ly hôn có quyền tự do kết hôn với người khác với tư cách là một người đang trong tình trạng độc thân, vì vậy kể cả khi vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ
vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn lại vì pháp luật đã công nhận sự chấm dứt quan hệ hôn nhân trước đây giữa hai người Những quyền và nghĩa vụ về nhân thân của hai vợ chồng trong giai đoạn hôn nhân được chấm dứt như: nghĩa vụ chung thủy giữa hai vợ chồng, nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, giúp
đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình… Nhưng những quyền về nhân thân khác của vợ chồng với tư cách là cá nhân vẫn không thay đổi như: Họ tên, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo,… quyền nhân thân này sẽ do các bên tự quyết định
Khi ly hôn, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng được chấm dứt họ không còn ràng buộc trong mối quan hệ tình cảm vợ chồng với nhau nữa Tuy nhiên quyết định, bản án công nhận ly hôn của Tòa án đối với vợ chồng một mặt nào đó không làm chấm dứt hẳn sự liên hệ, ràng buộc giữa hai người từng là
vợ chồng cũ của nhau Bởi vì việc ly hôn chỉ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân
vợ, chồng chứ không làm chấm dứt quan hệ cha, mẹ, con giữa vợ chồng và con chung đồng nghĩa với việc hai bên đều phải thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con chung của mình Bên cạnh đó trong một số trường hợp họ vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng với nhau khi một bên trong tình trạng túng quẫn và quyền lưu cư cũng được Luật HN&GĐ năm 2014 đặt ra trong trường hợp một bên
vợ chồng khi ly hôn có khó khăn về chỗ ở theo đó: “Nhà ở thuộc sở hữu
riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở
Trang 16hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm
Từ những phân tích trên có thể khái niệm: “Hậu quả pháp lý của ly hôn là
kết quả của việc giải quyết ly hôn, ghi nhận trong phán quyết của Tòa án khi xét xử vụ việc ly hôn của vợ chồng Bao gồm: chấm dứt quan hệ vợ chồng; phân chia tài sản của vợ chồng; giao quyền trực tiếp nuôi con và quyết định mức cấp dưỡng nuôi con; cấp dưỡng giữa vợ chồng khi có yêu cầu”
1.1.2 Khái niệm áp dụng pháp luật
Thực hiện pháp luật là quá trình các chủ thể pháp luật khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, bằng ý chí của mình thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với quy tắc xử sự chung mà pháp luật quy định ADPL là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật bao gồm: Tuân thủ pháp luật, Thi hành pháp luật, Sử dụng pháp luật, Áp dụng pháp luật ADPL là hoạt động mang tính chất cá biệt hóa các quy phạm pháp luật giải quyết quan hệ pháp luật cụ thể trong đời sống xã hội
Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật trên, thì ADPL là hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, bởi chủ thể thực hiện ADPL là chủ thể mang quyền lực nhà nước Đối với ba hình thức còn lại là tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật thì mọi chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đều có thể thực hiện thì ADPL là hình thức thực hiện pháp luật luôn có sự tham gia của chủ thể đại diện cho quyền lực Nhà nước Đây là một hình thức thực hiện pháp luật quan trọng đưa pháp luật vào đời sống, bằng cách giải quyết quan
hệ pháp luật trong đời sống một cách triệt để áp đặt chế tài theo quy định của pháp luật Hoạt động ADPL được chủ thể mang quyền lực Nhà nước thực hiện thể hiện rõ trong đời sống xã hội như: để ADPL hành chính giải quyết xử
5 Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2014
Trang 17phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thì nhà nước đã trao quyền cho Cảnh sát giao thông và Cảnh sát giao thông đường bộ căn cứ vào quy định của pháp luật hành chính để đưa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (văn bản ADPL hành chính) buộc người vi phạm phải chịu một chế tài cho hành vi vi phạm của mình
Hoạt động ADPL sẽ cá biệt hóa các biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc các chế tài pháp luật; làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể Bên cạnh đó cũng thực hiện việc giải quyết tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật; kiểm tra, giám sát, hoặc xác nhận thực trạng của một quan hệ pháp luật Trong thực tế, nếu chỉ thông qua các hình thức thực hiện pháp luật khác ngoài ADPL thì pháp luật sẽ không được thực hiện một cách triệt để vì các chủ thể
sẽ vì lợi ích riêng không tự giác thực hiện bời các hình thức đó được thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác của các chủ thể trong quan hệ pháp luật Trái lại hình thức áp dụng pháp luật các chủ thể thực hiện phải chịu sự bắt buộc thực hiện trong phạm vi quyền hạn của mình được Nhà nước giao phó
ADPL sẽ được tiến hành bao gồm các giai đoạn chung nhất mà mỗi chủ thể ADPL phải thực hiện trong từng hoạt động ADPL như:
- Phân tích sự thật khách quan của nôi dung quan hệ được ADPL Chủ thể ADPL làm rõ quan hệ pháp luật làm tiền đề để giải quyết quan hệ pháp luật
- Lựa chọn quy phạm pháp luật điều chỉnh để ADPL giải quyết quan hệ thực tế cần giải quyết Tùy từng quan hệ pháp luật cần giải quyết mà chủ thể ADPL phải lựa chọn được quy phạm để áp dụn điều trỉnh quan hệ pháp luật
đó
- Ra quyết định ADPL giải quyết quan hệ pháp luật cần được xử lý Đây
là hoạt động then chốt cá biệt hóa quy phạm pháp luật để đưa ra được cách xử
sự cho chủ thể bị ADPL Trong một số trường hợp đăc biệt khi ADPL giải
Trang 18quyết quan hệ pháp luật dân sự, lao động quyết định ADPL còn giải quyết các mâu thuẫn, là phương án hòa giải dung hòa lợi ích của các bên chủ thể bị ADPL
Từ các phân tích trên có thể thấy được: “Áp dụng pháp luật là một hình
thức thực hiện pháp luật mang tính quyền lực nhà nước, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc Nhà nước tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định pháp luật hoặc đưa ra những quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hay chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể”
1.1.3 Khái niệm áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
Vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn là một trong những vấn
đề đặt ra cần giải quyết trong xét xử vụ việc HN&GĐ tại TAND (sau đây gọi
là Tòa án) Sau khi tiếp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn, yêu cầu khác liên quan đến việc xin ly hôn cũng như yêu cầu giải quyết vấn đề con chung, vấn
đề tài sản…Tòa án cần phải thực hiện việc ADPL giải quyết các vấn đề trên
Đây là nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án được quy định trong pháp luật về thực hiện quyền tư pháp
Trong tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử Hiến pháp năm 1946, mặc
dù không quy định rõ ràng Tòa án là cơ quan xét xử nhưng trên tình thần chung thì quy định Tòa án là cơ quan xét xử Hiến pháp năm 1959, 1980,1992
và gần đây nhất là hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ về chức năng xét xử của Tòa án trong bộ máy Nhà nước hiện nay, Hiến pháp năm 2013 quy định:
“Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định về chức năng xét xử của Tòa án
6
Khoản 1, Điều 102, Hiến pháp năm 2013
Trang 19như sau: “Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét
xử các vụ án Hình sự, Dân sự, Hôn nhân gia đình, Kinh doanh thương mại, Lao động, Hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật.” 7
Có thể thấy Tòa án là chủ thế có thẩm quyền ADPL trong giải quyết vụ việc HN&GĐ của vợ chồng nói chung và yêu cầu về nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn nói riêng Nhưng trong quá trình ADPL trong giải quyết vấn
đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn chủ thể ADPL là Tòa án không thể tự mình thực hiện mà trao nhiệm vụ ADPL cho người tiến hành hoạt động TTDS là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký (Người tiến hành tố tụng) thực hiện các hoạt động ADPL nói trên Cách nói Tòa án hay Người tiến hành tố tụng là chủ thể ADPL trong giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn đều có cách tiếp cận vấn đề riêng một bên là căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn một bên là căn cứ vào hành vi thực hiện cụ thể hoạt động ADPL Nhưng việc tiếp cận Tòa án là chủ thể ADPL trong giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn vấn mang ý nghĩa bao quát hơn bởi Người tiến hành tố tụng nằm trong hệ thống Tòa án thực hiện hoạt động ADPL theo nhiệm vụ quyền hạn, của cơ quan tư pháp là Tòa án
Áp dụng pháp luật trong giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn là trường hợp riêng trong ADPL Trong hoạt động này chủ thể ADPL là Tòa án vận dụng quy phạm pháp luật nội dung: Dân sự, HN&GĐ,
…điều chỉnh quan hệ nuôi con chung của vợ chồng để đưa ra được cách xử sự hơp pháp cho chủ thể bị ADPL Hoạt động ADPL này mang tính chất cá biệt hóa quy phạm pháp luật để giải quyết vấn đề trong quan hệ trực tiếp nuôi con chung và quan hệ cấp dương nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn Bên cạnh đó hoạt động ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi
7
Khoản 2, Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
Trang 20ly hôn thực hiện bởi Tòa án cũng phải tuân thủ các bước tiến hành theo quy định của pháp luật TTDS
Vấn đề nuôi con chung của vợ chồng là quyền cũng như nghĩa vụ của mỗi bên vợ hoặc chồng đối với con chung Đây là vấn đề phát sinh dựa trên quan
hệ cha mẹ con giưa vợ chồng với con chung của mình Sau khi ly hôn quyền nghĩa vụ giữa cha, mẹ, con vẫn còn tồn tại không ảnh hưởng bởi việc chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng Khi các bên mong muốn mình là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung mà không thỏa thuận được với nhau tòa án phải thực hiện việc “phân xử” giao con chung cho một bên cha, mẹ trực tiếp nuôi dưỡng Bên cạnh đó chi phí sinh hoạt nuôi dưỡng con chung trong thời
kỳ hôn nhân đã từng được cả hai bên vợ chồng gánh vác, san sẻ nay con chung được một bên trực tiếp nuôi dưỡng thì vấn đề cấp dưỡng được đặt ra cho bên không trực tiếp nuôi dưỡng con chung Khi không đạt đươc sự thỏa thuận các vấn đề về nuôi con chung, việc ấn định hoặc thay đổi mức,hình thưc cấp dưỡng nuôi con chung của vợ chồng được đặt ra cho Tòa án giải quyết đồng thời khi giao con chung cho một bên nuôi dưỡng
Chủ thể bị ADPL trong giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn là đương sự có liên quan trong vụ việc HN&GĐ bao gồm cha, mẹ, con chung và người có liên quan về vấn đề trực tiếp nuôi con chung và vấn đề
cấp dưỡng nuôi con của vợ chồng khi ly hôn Trong đó đối tượng con chung
là trọng tâm trong quan hệ nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn, đây là con chung không thể và chưa thể độc lập còn phải phụ thuộc vào sự nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục của cha, mẹ không tự mình lao động, tạo thu nhập nuôi sống bản thân, bao gồm:
- Con chưa thành niên,
- Con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
Trang 21Người chưa thành niên có thể hiểu là người chưa đủ 18 tuổi Con chưa thành niên của vợ chồng, đây là đối tượng đương nhiên vẫn phải sống phụ thuộc vào cha mẹ chưa thể sống hoàn toàn độc lập, tách rời Bởi vì con chưa thành niên vẫn còn trong độ tuổi phát triển chưa hoàn thiện về thể chất lẫn tinh thần chưa đủ khả năng độc lập phát triển kể cả khi có thu nhập từ việc tự lao động hoặc có thu nhập từ tài sản riêng của mình Con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế khả năng nhận thức cũng là đối tượng con chung phải sống phụ thuộc người khác không có khả năng tự nuôi sống cũng như thực hiện bình thường các hoạt động sinh hoạt hàng ngày
Từ những phân tích nêu trên có thể nhận thấy: “ADPL giải quyết vấn đề
nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn là hoạt động thực hiện pháp luật do Tòa án tiến hành theo quy định của pháp luật để xác định giải quyết các vấn
đề liên quan đến việc trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn.”
1.1.4 Đặc điểm áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của
vợ chồng khi ly hôn
Áp dung pháp luật trong giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn là hình thức riêng của áp dụng pháp luật nó cũng mang những tính chất của áp dụng pháp luật như: hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, tuân thủ theo hình thức thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định, mang tính chất cá biệt cụ thể với những quan hệ xã hội nhất định, là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo Tuy vậy hoạt động ADPL trong giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn mang những đặc thù, nguyên tắc riêng của quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình điều chỉnh bởi pháp luật HN&GĐ, pháp luật Dân sự và TTDS Việc APPL trong giải quyết vấn đề con chung của vợ chồng có những đặc điểm đặc trưng như sau:
Thứ nhất, hoạt động ADPL trong giải quyết việc nuôi con chung của vợ
chồng khi ly hôn là hoạt động được tiến hành mang tính chất quyền lực nhà
Trang 22nước Hoạt động ADPL trong giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn do chủ thể có thẩm quyền tiến hành trong phạm vi quyền hạn được Nhà nước trao cho thông qua quy định của pháp luật Theo đó chủ thế tiến hành hoạt động ADPL có quyền, nhiệm vụ thực hiện, tiến hành những hoạt động ADPL theo quy định của pháp luật Trong quá trình ADPL trong giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn mọi tình tiết, nội dung vụ việc đều phải được chủ thể ADPL xem xét khách quan và dựa trên cơ sở yêu cầu của quy định pháp luật để đưa ra quyết định ADPL cụ thể
Tính quyền lực nhà nước trọng hoạt động ADPL trong giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn còn thể hiện ở việc hoạt động ADPL được chủ thể ADPL tiến hành mang tính bắt buộc đối với đương sự Không như ADPL trong lĩnh vực hình sự, xử phạt hành chính các hoạt động ADPL được tiến hành mang tính bắt buộc, cưỡng chế cao Hoạt động ADPL trong giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn của Tòa án mang tính chất bắt buộc đối với đương sự khi mà các bên đương sự muốn bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình VD: Tòa án thực hiện hoạt động xác minh tình tiết vụ việc yêu cầu các bên cung cấp chứng cứ tài liệu để bảo vệ yêu cầu của mình các bên đương sự phải cung cấp chứng cứ, lời khai Nhưng khi họ
từ chối cung cấp chứng cứ , tài liệu thì Tòa án sẽ căn cứ vào chứng cứ , tài liệu mà bên còn lại cung cấp đề xác minh nội dung khách quan của vụ việc Hoạt động ADPL được tiến hành theo ý chí của chủ thể tiến hành ADPL hay yêu cầu, ý chí chủ thể bị ADPL thì các quyết định ADPL như quyết định, bản án đều được chủ thể tiến hành ADPL ban hành Một khi các quyết định này có hiệu lực thì các chủ thể có liên quan đều phải bắt buộc thực hiện, các quyết định ADPL trong trường hợp cần thiết sẽ được Nhà nước cưỡng chế thực hiện bởi cơ quan Thi hành án dân sự
Thứ hai, ADPL khi giải quyết vấn đề con chung của vợ chồng khi ly hôn
được tiến hành theo một thủ tục, trình tự chặt chẽ do pháp luật TTDS quy
Trang 23định Về hoạt động ADPL giải quyết vấn đề con chung của vợ chồng khi ly hôn có trình tự, thủ tục khi tiến hành được quy định chi tiết bởi pháp luật TTDS Các hoạt động ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn có thể hiểu chính là hoạt động tố tung để giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án Tòa án sẽ phải thực hiện đúng
và đầy đủ các hành vi tố tụng từ các giai đoạn xét xử: tiếp nhận thụ lý đơn khởi kiện, chuẩn bị xét xử, xét xử Nếu không thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi tố tụng có thể coi đó là việc vi phạm thủ tục tố tụng khiến ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ việc Hậu quả của việc vi phạm trình tự, thủ tục ADPL sẽ là căn cứ để tiến hành giải quyết lại vụ việc
Thứ ba, ADPL khi giải quyết vấn đề con chung của vợ chồng khi ly hôn
là hoạt động điều chỉnh mang tính cá biệt, cụ thể đối với quan hệ cha, mẹ, con; đòi hỏi tính sáng tạo của chủ thể áp dụng pháp luật Mục đích đặt ra của hoạt động ADPL khi giải quyết vấn đề con chung của vợ chồng khi ly hôn là
cá biệt hóa các quy phạm pháp luật giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trong vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn Các quy tắc xử sự chung quy định tại quy phạm pháp luật thông qua hoạt động ADPL sẽ được chủ thể ADPL cá biệt hóa thành sự xử sự cho các chủ thế tham gia quan hệ pháp luật trong trường hợp cụ thể Trong thực tế vấn đề con chung của vợ chồng khi ly hôn vô cùng phức tạp và đa dạng đòi hỏi chủ thể ADPL là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải nghiên cứu kỹ càng vụ việc, làm sáng tỏ sự thật khách quan từ đó lựa chọn quy phạm áp dụng linh hoạt, sáng tạo quy định pháp luật
ra quyết định ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung vợ chồng khi ly hôn
Thứ tư, chủ thể ADPL khi giải quyết vấn đề con chung của vợ chồng khi
ly hôn giải quyết các tranh chấp về vấn đề trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con trong phạm vi yêu cầu của đương sự và đề cao sự tự thỏa thuận của các bên đương sự Thể hiện nguyên tắc của pháp luật TTDS thì hoạt động ADPL khi giải quyết vấn đề con chung của vợ chồng khi ly hôn Tòa án
Trang 24chỉ giải quyết tranh chấp trong phạm vi yêu cầu của đương sự Điều này có thể hiểu rằng các bên yêu cầu.giải quyết tranh chấp về vấn đề nào thì Tòa án giải quyết tranh chấp về vấn đề đó Những vấn đề đương sự không yêu cầu giải quyết thì Tòa án không thực hiện hoạt động ADPL để giải quyết các vấn
đề đó chỉ trừ khi vấn đề này phải được giải quyết triệt để thì mới có thể giải quyết vấn đề đương sự yêu cầu giải quyết
Hoạt động ADPL khi giải quyết vấn đề con chung của vợ chồng khi ly hôn đề cao tính tự thỏa thuận của các bên trong quan hệ pháp luật dân sự Thực hiện triệt để nguyên tắc trên khi tiến hành hoạt động ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn Tòa án phải xem xét trước tiên sự tự nguyện giải quyết các vấn đề liên quan đến nuôi con chung của vợ chồng về: trực tiếp nuôi con chung; mức cấp dưỡng, hình thức cấp dưỡng nuôi con chung…Những thỏa thuận này không trái pháp luật, đạo đức xã hội
sẽ được Tòa án công nhận, trong trường hợp này Tòa án sẽ mang tính chất là người công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đương sự Một khi các bên không có sự thỏa thuận được với nhau cách giải quyết về vấn đề nuôi con chung của vợ chồng thì Tòa án sẽ thực hiện ADPL giải quyết vấn đề trên
Thứ năm, việc ADPL khi giải quyết vấn đề con chung của vợ chồng khi
ly hôn dựa trên nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ chưa thành niên, phụ nữ Nguyên tắc của pháp luật HN&GĐ là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ vị thành niên, phụ nữ được ghi nhận trong Luật HN&GĐ năm 2014
“Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em,…thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức
cần được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp dễ bị xâm hại Khi thực hiện hoạt động ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng Tòa án phải áp dụng nguyên tắc trên khi giải quyết vấn đề nuôi con chung cụ thể:
8
Khoản 4, Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014
Trang 25- Khi con chưa đủ 36 tháng tuổi ưu tiên giao con cho người mẹ trực tiếp
nuôi dưỡng “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ
trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích
con từ đủ 7 tuổi “Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn
cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải
đảm bảo sự phát triển cho trẻ cũng như sự chăm sóc của người mẹ đối với trẻ
thì “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai,
- Bảo vệ con chưa thành niên pháp luật HN&GĐ có quy định về “Hạn
xúi giục, ép buộc phải làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội; đảm bảo sự trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; đảm bảo trẻ vị thành
niên khỏi môi trường sống đồi trụy… từ cha, mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ
- Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản
để tự nuôi mình Ví dụ: “Khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất
của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc vợ
9 Khoản 2, Điều 81 Luận HN&GĐ năm 2014
10 Khoản 2, Điều 81 Luận HN&GĐ năm 2014
11 Điều 51, Luật HN&GĐ năm 2014
12
Khoản 1, Điều 85, Luật H N&GĐ năm 2014
Trang 26nếu người vợ hoặc chồng có yêu cầu.” 13
1.2 Phương thức áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
Ban đầu đề có căn cứ Tòa án ADPL giải quyết việc nuôi con chung của
vợ chồng khi ly hôn cần phải có yêu cầu của đương sự giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn Yêu cầu này là yêu cầu Tòa án công nhận
sự tự nguyện thỏa thuận của đương sự về vần đề nuôi con chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp quyền và nghĩa vụ trong vấn đề nuôi con chung của vợ chồng Việc tiếp nhận yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng là bước đầu trong ADPL giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng Đây là hoạt động làm rõ những quan hệ pháp luật mà Tòa án tiếp nhận để ADPL giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
Về yêu cầu giải quyết vụ việc HN&GĐ của đương sự có thể gồm: Yều cầu xin ly hôn, yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung,… Khi yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung nói riêng và yêu cầu yêu cầu giải quyết vụ việc HN&GĐ tại Tòa án các chứng cứ, tài liệu đương sự có nghĩa vụ cung cấp về cơ bản gồm: Giấy đăng ký kết hôn, Bản sao giấy khai sinh của các con, Các giấy tờ có ý nghĩa chứng minh về sở hữu tài sản, nhà đất; Các giấy tờ chứng minh về công, nợ; Các giấy tờ, chứng cứ khác liên quan đến nội dung vụ việc
Khi tiếp nhận yêu cầu của đương sự Tòa án xác định thẩm quyền giải quyết theo loại việc ( Điều 27, 28 BLTTDS năm 2015), thẩm quyền theo lãnh thổ, cấp Tòa án hoặc theo sự lựa chọn của các đương sự (Điều 35, 37,39,40 BLTTDS năm 2015), để xác định thẩm quyền giải quyết; giải thích,thông báo cho đương sự biết Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc Phần lớn các yêu cầu trực tiếp nuôi con của đương sự trong các vụ án việc HN&GĐ do TAND cấp huyện tiếp nhận giải quyết, trừ các vụ việc có yếu tố nước ngoài thì được
13 Khoản 6 Điều 7 Thông tư Liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016
Trang 27TAND cấp tỉnh tiếp nhận giải quyết Yêu cầu trực tiếp nuôi con thường đi kèm với yêu cầu xin ly hôn của đương sự Sau khi tiếp nhận yêu cầu của các bên Tòa án sẽ tiến hành các hoạt động tố tụng như: để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn: Việc trực tiếp nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
1.2.1 Giải quyết việc trực tiếp nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
Sau khi tiếp nhận thụ lý yêu cầu giải quyết về việc trực tiếp nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án sẽ thực hiện việc xác minh thu thập chứng cứ để làm rõ nội dụng vụ việc, giải quyết yêu cầu này của đương sự
“Trong vụ án hôn nhân và gia đình có liên quan đến con chưa thành niên mà đương sự thuận tình ly hôn và thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ
án thì Tòa án có phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan
Bên cạnh đó Tòa cũng vẫn sẽ xem xét sự thỏa thuận của
các bên đương sự có phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức
xã hội và đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của các bên đương sự hay không Các hoạt động tố tụng xác định điều kiện của việc trực tiếp nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn bao gồm:
Xác định con chung trong giải quyết việc trực tiếp nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
Trước tiên để giải quyết việc trực tiếp nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn Tòa án phải xác định con chung của vợ chồng Căn cứ vào quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014) xác định về con chung
như sau:
- Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời
kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng
14
Mục 24,Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC của TAND Tối Cao ngày 07/4/2017
Trang 28- Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân
- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng
Căn cứ xác định con chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật mang tính suy đoán pháp lý theo đó chỉ cần con được thành thai, sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng hoặc được cha, mẹ thừa nhận sẽ được xác định là con chung của vợ chồng Do vậy để xác định con chung Tòa án sẽ căn
cứ vào giấy khai sinh của con và giấy đăng ký kết hôn và sự xác nhận con chung của hai vợ chồng Nhưng trong trường hợp người cha không chấp nhận con của vợ mình thành thai, sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng
là con đẻ của mình, Tòa án sẽ phải yêu cầu đương sự chứng minh quan hệ huyết thống cha con giữa đương sự và con của vợ theo quy định của pháp
luật: “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ
Nếu không chứng minh được yêu cầu của
mình đương sự vẫn sẽ đương nhiên có quan hệ cha con với con của người vợ Con chung của vợ chồng nếu trưởng thành có thể sống độc lập không phụ thuộc vào vợ chồng thì sẽ không phải là đối tượng con chung trong giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng Do đó đối tượng con chung trong giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn là con chung vẫn phụ thuộc vào cha mẹ cần có sự nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục bao gồm: con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không
có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Đây là con chung vẫn phải sống phụ thuộc vào cha mẹ Tòa án phải xác định được đối tượng này khi giải quyết việc trực tiếp nuôi con Để xác định được đối tượng này Tòa án phải thực hiện xác định vấn đề độ tuổi, con chung có mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động hay không:
15 Khoản 2 Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014
Trang 29- Xác định con chung thành niên hay chưa thành niên căn cứ vào Giấy khai sinh và thời điểm thụ lý giải quyết vụ việc Trong một số trường hợp Tòa
án có thể xác minh độ tuổi của con chung căn cứ vào giấy tờ nhân thân, chứng minh thư, giấy khai sinh, thông tin do cơ quan quản lý hộ tich cung cấp
- Xác định con chung của vợ chồng mất năng lực hành vi dân sự có mất năng lực hành vi dân sự hay không Dựa trên bản án quyết định của Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”16
Các bên đương sự cung cấp Tòa án giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng bản án, quyết định tuyên bố con chung bị mất năng lực hành vi dân sự để Tòa
án xác định con chung bị mất năng lực hành vi dân sự Hoặc các bên yêu cầu Tòa án tuyên bố con chung mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần (Tòa án sẽ tiến hành theo thủ tục của pháp luật tuyên bố con chung mất năng lực hành vi dân sự)
- Xác định con chung không có khả năng lao động, trường hợp này con chung có thể vì lý do sức khỏe, bệnh tật, tai nạn…vẫn có đủ năng lực hành vi dân sự nhưng không đủ khả năng về mặt thể chất để thực hiện việc lao động
tự nuôi sống bản thân
Xác định độ tuổi, ý chí nguyện vọng của con chung của vợ chồng
Tòa án phải xem xét độ tuổi, ý chí nguyện vọng của con chung để xác định được những điều kiện tốt nhất cho trẻ khi giao con chung cho vợ chồng trực tiếp nuôi dưỡng khi ly hôn:
- Khi con chung từ dưới 36 tháng tuổi thì Tòa án phải giao con cho
người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng “trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện
16
Khoản 1, Điều 22 BLDS năm 2015
Trang 30để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có
- Khi con từ đủ 36 tháng tuổi đến dưới 07 tuổi thì Tòa án căn cứ vào khả năng đáp ứng tốt nhất cho sự phát triển của trẻ của cha, mẹ để giao con chung cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng
- Khi con từ đủ 07 tuổi trở lên thì Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con và khả năng đáp ứng tốt nhất cho sự phát triển của trẻ của cha, mẹ để giao
con chung cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng “Quyết định giao con cho
một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ
Để xác định ý chí nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi Tòa án phải lấy lời khai của con chung ghi vào bản tự khai được thực hiện như sau: “Đối với vụ
án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên, trường hợp cần thiết có thể mời đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em chứng kiến, tham gia ý kiến Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên và các thủ tục tố tụng khác đối với người chưa thành niên phải bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người chưa thành niên, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, giữ bí mật cá nhân của người chưa thành niên”19
Xác định điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung của vợ chồng
Trong thời kỳ hôn nhân cả hai vợ chồng phải thực hiện việc giáo dục,
nuôi dưỡng con cái của mình nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái: “Thương
yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật, được học tập và giáo dục; được phát triển lành
17 Khoản 1, Điều 81 Luận HN&GĐ năm 2014
18 Khoản 2, Điều 81 Luận HN&GĐ năm 2014
19
Đoạn 2, Khoản 3, Điều 208 BLTTDS 2015
Trang 31mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức” 20
Đây là nghĩa vụ phải thực hiện với
con chung của mình kể cả khi hai vợ chồng ly hôn và đặc biệt quan trọng đối với người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vì vậy để xác định những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức cũng như những điều kiện được học tập và giáo dục của con chung; Tòa án phải xác định những điều kiện, khả năng đáp ứng đối với việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của cha và mẹ để chọn ra người đáp ứng kiện phù hợp, tốt nhất cho trẻ như sau:
- Xác định điều kiện tài chính, thu nhập, tài sản của hai bên vợ chồng, có đáp ứng nhu cầu cơ bản cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung hay không Để thực hiện được việc này, Tòa án phải yêu cầu các bên đương
sự cung cấp chứng cứ chứng minh thu nhập, điều kiện tài chính của mình Trong trường hợp nhất định, Tòa án thực hiện việc tự xác minh thu nhập yêu cầu đơn vị, cơ quan mà bên vợ chồng công tác, lao động cung cấp chứng cứ
- Xác định điều kiện sinh sống, công việc của hai bên vợ,chồng có phù hợp, thuận lợi, không làm xáo trộn cho việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển của con chung hay không Để thực hiện được Tòa án phải dựa trên khai nhận của các bên cũng như xác minh từ các bên đương sự khác, cơ quan, tổ chức như: cha mẹ của vợ chồng, con chung đã thành niên, chính quyền địa phương nơi đương sự sinh sống…
- Xác định về các bên cha, mẹ có các hành vi thuộc các hành vi quy đinh tại Khoản 1 Điều 85 Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
bao gồm các hành vi, “án tích” về: (i)Bị kết án về một trong các tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; (ii)Phá tán tài sản của con; (iii) Có lối sống đồi trụy; (iiii) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội Xác định
20 Khoản 1, Điều 70, Luật HN&GĐ năm 2014
Trang 32được việc cha hoặc mẹ có các hành vi nêu trên đồng nghĩa với việc họ không đáp ứng được các điều kiện để thực hiện việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn Để Tòa án phải xác minh từ nơi làm việc cơ quan công tác của đương sự, chính quyền địa phương (UBND, công an, cơ quan bảo vệ trẻ em
xã phường thị trấn nơi các bên đương sự sinh sống), cũng như người có liên quan như người thân thích sống cùng
Ban hành quyết định ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của
vợ chồng đối với vấn đề giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng
Sau khi đã xác định đầy đủ và chính xác điều kiện nuôi con chung của các bên, Tòa án sẽ đưa ra quyết định, bản án giao con chung vợ chông cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng Mang tính chất là phán quyết của Tòa án ấn định hoặc công nhận việc giao con chung của vợ chồng cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng bản án, quyết định có hiệu lực đảm bảo cho các bên thực hiện tốt nhất việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đối với con chung khi ly hôn Theo đó việc Tòa án ADPL đưa ra được bản án, quyết định, phải thỏa mãn những điều kiện theo quy định của pháp luật và ý chí, nguyện vọng của các bên đương sự
Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự (sau đây gọi là: quyết định công nhận thuận tình ly hôn)
Đây là quyết định thể hiện việc Tòa án công nhận việc vợ chồng tự nguyện với nhau về người trực tiếp nuôi con chung Trong quá trình giải
quyết vụ án “Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn
như vậy quyết định công nhận thuận tình ly hôn không chỉ công
nhận sự thỏa thuận giải quyết vấn đề trực tiếp nuôi con chung mà còn là sự thỏa thận tất cả các vấn đề được yêu cầu giải quyết của vụ án việc Trong đó các vấn đề đương sự thỏa thuận về việc giải quyết toàn bộ vụ án bao gồm :
21
Khoản 2, Điều 212, BLTTDS năm 2015
Trang 33- Quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng : hai bên đều xác nhận không còn tình cảm chung; không thể khắc phục đoàn tụ; cả hai cùng thuận tình tự nguyện ly hôn
- Vấn đề con chung hai bên không yêu cầu giải quyết hoặc tự thỏa thuận giải quyết với nhau về các vấn đề nuôi con chung: người trực tiếp nuôi con chung, mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng nuôi con
- Vấn đề về tài sản và công nợ chung, hai bên không yêu cầu giải quyết hoặc tự thỏa thuận giải quyết về các vấn đề liên quan đến tài sản chung, các
khoản công nợ chung
Bản án giao con chung của vợ chồng cho các bên trực tiếp nuôi dưỡng
Sau khi đã xác minh được nội dung của vụ việc, Tòa án lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng giải quyết tranh chấp của các bên đương sự Bản án
là quyết định ADPL được Tòa án ban hành đề giải quyết tranh chấp về nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn Nội dung bản án quy định về vấn đề chính bao gồm: giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng; quy định về quyền nghĩa vụ của bên không trực tiếp nuôi dưỡng, bên trực tiếp nuôi dưỡng
Các quyết định ADPL khác giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn khác được ban hành trong quá trình Tòa án giải quyết về vấn giao con chung cho một bên nuôi dưỡng có thể có gồm: Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi có căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi có căn cứ quy định tại Khoản 1, 2 Điều 217 BLTTDS năm 2015 Quyết định đưa vụ án ra xét xử khi các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết một phần hoặc toàn bộ vụ án Các quyết định ADPL trên được Tòa án ban hành dựa trên sự việc phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc cũng như mong muốn nguyện vọng của các bên đương sự giải quyết tranh chấp Các quyết định này cũng có thể bị Viện kiểm sảt kháng nghị, bị các bên đương sự kháng cáo khi không đồng ý với Tòa án về việc đưa ra các quyêt định trên
Trang 341.2.2 Giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
Cấp dưỡng nuôi con là việc bên không trực tiếp nuôi con thực hiện việc đóng góp cho bên trực tiếp nuôi con một khoản vật chất thường quy đổi thành tiền để đáp ứng nhu cầu học tập, sinh hoạt… của con chung, cũng là việc thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với con chung Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ
đối với con: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con
đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con
Đây là nghĩa vụ chung của cả cha, mẹ là người trực tiếp nuôi con hay không trực tiếp nuôi con Nhưng khi con chung không còn sống chung với cả hai vợ chồng thì bên vợ hoặc chồng với vai trò là người không được trực tiếp nuôi con, phải gửi tiền cấp dưỡng
cho con cho bên vợ, chông trực tiếp nuôi con
Cũng như việc yêu cầu nuôi con chung của vợ chồng khi cả hai bên vợ chồng thỏa thuận được với nhau về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung khi ly
hôn:“Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp
dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người
thì Tòa án sẽ chấp nhận và ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn trong bản án, quyết định Nếu các bên thống nhất được với nhau về các vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng Tòa án sẽ công nhận thỏa thuận của các bên về cấp dưỡng nuôi con chung
Tòa án chỉ giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn khi các bên không tự thỏa thuận được và yêu cầu Tòa án giải quyết vấn
Trang 35đề về cấp dưỡng nuôi con: mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng Khi giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con đương sự trực tiếp nuôi con có thể yêu cầu luôn mức cấp dưỡng, hình thức cấp dưỡng Tòa án xác định phương thức cấp
dưỡng theo“định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một
lần” 24
,theo khả năng cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con và yêu
cầu của người trực tiếp nuôi dưỡng Do vậy để thực hiện việc ấn định hình thức cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con chung đối với bên không trực tiếp nuôi con thì Tóa án phải thực hiện việc sau:
Xác định điều kiện, thu nhập của bên không trực tiếp nuôi con
Việc thực hiện xác định điều kiện, thu nhập của bên vợ chồng không trực tiếp nuôi con khi các bên không thống nhất được về việc cấp dưỡng Trong quá trình giải quyết vụ việc bên trực tiếp nuôi con có thể yêu cầu mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con, nếu không chấp nhận yêu cầu
đó thì bên cha mẹ không trực tiếp nuôi con sẽ phải đưa ra được căn cứ chứng minh mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng đó không phù hợp với điều kiện cũng như thu nhập của mình
Ví dụ: Bản án số: 01/2018/HNGĐ-ST ngày 05/02/2018 Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình , Lạng Sơn Giải quyết ly hôn, giữa chị Hà Thị T, sinh năm
1993 và anh Phùng Văn T, sinh năm 1993 Hai bên nhất trí về việc anh Phùng Văn T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phùng Ngọc H; sinh ngày 08/5/2012, Anh Phùng Văn T yêu cầu nếu chị Hà Thị T thực hiện ngay việc cấp dưỡng nuôi con chung thực hiện ngay một lần, hai lần hoặc ba lần với tổng số tiền trên 140.000.000 đồng (tương ứng mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 01/3/2018 đến khi con chung đủ 18 tuổi); thì anh cũng đồng ý ly hôn
Nhận định của Tòa án qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cùng tài liệu chứng cứ được công khai tại phiên tòa thấy: Xét thấy, cháu
24 Điều 117, Luật HN&GĐ năm 2014
Trang 36Phùng Ngọc H từ năm 2014 đến nay vẫn đang sinh sống cùng với anh Phùng Văn T Bản thân chị Hà Thị T không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản, đang sinh sống cùng gia đình bên ngoại Bản thân anh Phùng Văn T là người có sức khỏe, có thu nhập từ việc làm thuê hàng tháng (cửu vạn, bốc vác hàng hóa ở Cửa khẩu M, huyện L, tỉnh Lạng Sơn) mỗi tháng được khoảng 5.000.000 đồng Nên việc anh Phùng Văn T yêu cầu chị
Hà Thị T thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con một lần, hai lần hoặc ba lần với tổng số tiền trên 140.000.000 đồng là không phù hợp, vượt quá khả năng kinh
tế của chị Hà Thị T nên Tòa án không chấp nhận
Tòa án quyết định về phương thức thực hiện cấp dưỡng cháu Phùng Ngọc
H như sau: Giao con chung là cháu Phùng Ngọc H; sinh ngày 08 tháng 5 năm
2012 cho anh Phùng Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi Chị Hà Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Phùng Ngọc H mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng) Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 01 tháng 03 năm 2018 cho đến khi cháu Phùng Ngọc H đủ 18 tuổi
Như ví dụ nêu trên có thể thấy Tòa án căn cứ vào trình bày, lời khai, chứng cứ của bên không trực tiếp nuôi con cung cấp (như bảng lương, hợp đồng lao động,…) để xác minh về điều kiện kinh tế, mức thu nhập Sau đó Tòa án sẽ căn cứ vào điều kiện, chi phí sinh hoạt, nghĩa vụ tài chính khác của
người có nghĩa vụ cấp dưỡng, để xác định“khả năng thực tế”của người không
trực tiếp nuôi con Bởi thu nhập của người cấp dưỡng không chỉ dùng vào việc cấp dưỡng nuôi con mà còn phải dùng vào việc trang trải chi phí sinh hoạt của chính bản thân người cấp dưỡng, và thực hiện nghĩa vụ khác tài chính khác Từ đó Tòa án quyết định mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng phù hợp và không cao hơn mức thu nhập, khă năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng cấp dưỡng
Xác định nhu cầu, chi phí sinh hoạt đối với con chung
Trang 37Thông thường việc xác định nhu cầu, chi phí sinh hoạt đối với con chung của vợ chồng do các bên cha, mẹ đưa ra, trong một số trường hợp do bên đang trực tiếp nuôi dưỡng đưa ra trước Tòa Đây là những phí tổn sinh hoạt hằng ngày ăn học, phí sinh hoạt đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chung theo
đó “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học
tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể
Tòa án sẽ xác minh khoản chi đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của con chung mà bên đang trực tiếp khai nhận căn cứ vào mức chi phí sinh hoạt bình quân tại địa phương, xác minh từ chi phí học tập trên thực tế (mức đóng góp học phí, học thêm…trong quá trình học tập của con) tại cơ sở con chung theo học
Sau khi đã xác minh được nội dung vụ việc tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con, Tòa án cũng ra các quyết định áp dụng giải quyết vụ việc tương tự như quá trình giải quyết việc giao con chung cho một bên nuôi dưỡng Nội dung bản án, quyết định công nhận thỏa thuận của các bên đương sự giải quyết vấn đề: mức cấp dưỡng nuôi con là bao nhiêu, phương thức cấp dưỡng nuôi con như thế nào, việc cấp dưỡng chậm sẽ chịu lãi chậm thi hành án ra sao
25 Khoản 20, Điều 3, Luật HN&GĐ năm 2014
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT VIỆC NUÔI CON
CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 2.1 Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng pháp luật giải quyết việc nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
2.1.1 Thuận lợi khi áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn
Khi giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án đã
có những thuận lợi vì đã có một khung pháp lý để áp dụng giải quyết Bên cạnh đó về cơ cấu tổ chức của TAND cũng được thay đổi cũng như nâng cao
sự chuyên trách để đáp ứng yêu cầu về giải quyết vấn đề nuôi con chung của
vợ chồng khi ly hôn Cụ thể khi ADPL giải quyết vấn đề nuôi con chung của
vợ chồng khi ly hôn đã có những thuận lợi sau:
Thứ nhất, Luật HNGĐ có những sửa đổi, bổ sung quy định về vấn đề ly
hôn và quan hệ cha, mẹ con khi ly hôn tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án áp dụng pháp luật giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn cũng như tạo điều kiện cho các bên đương sự bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình
Về vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn Luật hôn nhân gia định năm 2014 có những thay đổi sau phù hợp với sự phát triển nhận thức của trẻ về mối quan hệ gia đình và xác định cụ thể độ tuổi trường hợp nào khi giao trẻ cho người mẹ nuôi dưỡng:(i) Quy định độ tuổi của con phải lấy ý kiến, nguyện vọng khi tòa án giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng giảm “từ đủ 9 tuổi” xuống còn “từ đủ 7 tuổi” đây là độ tuổi thích hợp mà trẻ hình thành nhận thức và đã tham gia vào mối quan hệ gia đình, xã hội (ii) Quy định “Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác” được sửa thành “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều
Trang 39kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ
có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”
Về vấn đề thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung khi vợ chồng ly hôn
Luật HN&GĐ năm 2014 đã công nhận việc thăm nom con chung của vợ chồng khi ly hôn là quyền cũng như là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở” Khoản 3 Điều 82 Luật HN&GĐ năm 2014 và có những quy định ghi nhận quyền thăm non con chung của người không trực tiếp nuôi con Bên cạnh đó việc thăm nom con chung là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con nên “Cha, mẹ trực tiếp nuôi con
có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ thăm nom; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình” (Khoản 1 Điều 83, Điều 82 Luật
HN&GĐ năm 2014)
Về vấn đề xác định cha, mẹ con Theo đó, luật HN&GĐ năm 2014 bổ
sung trên cơ sở Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về xác định con chung của vợ chồng: “Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân” Điều này được bổ sung là sự luật hóa quy định trong Nghị định số 70/2001 quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 về xác định con
chung của vợ chồng:“Con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người
chồng chết hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án xử cho vợ chồng ly
Việc luật hóa quy định trên về xác định cha, mẹ con tạo điều kiện thống nhất quy định pháp luật và thuân lợi cho việc xác định cha, mẹ, con cho chủ thể
ADPL và các bên đương sự
26 Khoản 2, Điều 21, Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001
Trang 40Thứ hai, pháp luật tố tụng tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án giải quyết vấn đề nuôi con chung Về quy định phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung 4 điều luật mới quy định về thông báo, thành phần, trình tự và biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Theo đó phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được tiến hành cùng với phiên hòa giải giữa các đương sự Theo đó, qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành và trên cơ sở đó Tòa án ra quyết định công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự.“Quy định này có ưu điểm là tránh việc lặp lại
nội dung của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và phiên hòa giải, tránh cho việc các đương sự phải đến Tòa án nhiều lần,
Hòa giải trong giải
quyết vụ việc HN&GĐ, đặc biệt là trong giải quyết các vụ việc nuôi con chung của vợ chồng không chỉ có vai trò nâng cao tỷ lệ đoan tụ của vợ chồng tại Tòa án, mà còn giúp các bên đưa ra được thỏa thuận giải quyết tranh chấp
về nuôi con, rút ngắn thời gian giải quyết các tranh chấp, tiết kiệm thời gian,
chi phí tố tụng cho đương sự và Nhà nước.“Hòa giải thành góp phần hàn gắn
mối quan hệ xã hội, ngăn ngừa các tranh chấp trong tương lai giữa các đương sự, nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, giữ gìn ổn định trật tự xã hội, tạo sự đồng thuận và xây dựng khối đại đoàn kết trong nhân dân Ngoài
ra, khi hòa giải không thành thì kết quả của phiên hòa giải còn là căn cứ để Thẩm phán giải quyết vụ án chính xác hơn khi đã xác định được rõ những nội
27 Thời hạn giao nộp chứng cứ của đương sự và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ theo quy định của BLTTDS năm 2015 của Ts Bùi Thị Huyền–Trường Đại học Luật Hà Nội TCKS số 10/2016