1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảm bảo quyền trẻ em trong thực tiễn xác lập quan hệ giữa cha mẹ và con dựa trên sự kiện nuôi con nuôi ở việt nam

95 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 6,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu, phạm vi nghiên cứu đề tài 3.1 Mục tiêu nghiên cứu Luận văn của tác giả hướng tới mục tiêu sau: + Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em trong việc xác lập qu

Trang 1

NGUYỄN THỊ VIỆT TRINH

ĐẢM BẢO QUYỀN TRẺ EM TRONG THỰC TIỄN XÁC LẬP QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ CON DỰA TRÊN

SỰ KIỆN NUÔI CON NUÔI Ở VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Việt Trinh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn thạc sĩ, tôi

đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều cá nhân

và tập thể

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Bùi Thị Mừng đã tận

tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt thời gian nghiên cứu luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô trong Khoa đào tạo Sau đại học đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Mặc dù đã rất cố gắng hoàn thiện luận văn bằng nhiệt huyết và năng lực của mình, tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo và thông cảm của các Thầy cô

Tôi xin trân trọng cám ơn!

Hà Nội, tháng 12 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Việt Trinh

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

Hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế

Nghị định số 19/2011/NĐ-CP : Nghị định 19/2011/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 21

tháng 03 năm 2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục tiêu, phạm vi nghiên cứu đề tài 4

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận văn 5

6 Kết cấu luận văn 5

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN TRẺ EM TRONG VIỆC XÁC LẬP QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ CON DỰA TRÊN SỰ KIỆN NUÔI CON NUÔI 6

1.1 Một số khái niệm 6

1.1.1 Khái niệm trẻ em 6

1.1.2 Khái niệm quyền trẻ em 11

1.1.3 Khái niệm đảm bảo quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi 15

1.2 Cơ sở của việc ghi nhận đảm bảo quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi 16

1.2.1 Cơ sở lý luận 16

1.2.2 Cơ sở thực tiễn 20

Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN TRẺ EM TRONG VIỆC XÁC LẬP QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ CON DỰA TRÊN SỰ KIỆN NUÔI CON NUÔI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 24

2.1 Thực tiễn đảm bảo quyền được sống trong môi trường gia đình của trẻ em 24

2.1.1 Nguyên tắc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi 24

2.1.2 Điều kiện xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi 33

2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi 41

2.1.4 Chấm dứt việc nuôi con nuôi 43

Trang 6

2.2 Thực tiễn đảm bảo quyền được tham gia của trẻ em 44

2.2.1 Trẻ em được hỏi ý kiến khi xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi 45

2.2.2 Trẻ em có quyền bày tỏ nguyện vọng đối với việc giải quyết lựa chọn người trực tiếp nuôi con trong trường hợp cha mẹ nuôi ly hôn 47

2.3 Thực tiễn áp dụng việc xử lý vi phạm quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi 49

2.3.1 Thực tiễn xử lý vi phạm về điều kiện nuôi con nuôi 49

2.3.2 Thực tiễn xử lý vi phạm các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi đối với con nuôi 51

Chương 3: BẤT CẬP, HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẢM BẢO QUYỀN TRẺ EM TRONG VIỆC XÁC LẬP QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ CON DỰA TRÊN SỰ KIỆN NUÔI CON NUÔI 56

3.1 Nhận xét chung về thực tiễn đảm bảo quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ và con dựa trên sự kiện nuôi con nuôi 56

3.1.1 Những thành tựu đạt được 56

3.1.2 Những hạn chế, bất cập 63

3.2 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập 68

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của việc đảm bảo quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi 70

3.3.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 70

3.3.2 Kiến nghị thực hiện pháp luật 72

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trẻ em là đối tượng nhạy cảm, dễ bị tổn thương, là một chủ thể đặc biệt trong xã hội cần có sự quan tâm đúng mực, bảo vệ quyền trẻ em là đích đến hướng tới của pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng Gia đình là nơi hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em, tuy nhiên không phải trẻ em nào cũng may mắn được sống với gia đình của mình và được phát triển một cách toàn diện

Nuôi con nuôi là một chế định pháp lý nhằm tạo dựng cho những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tìm được một mái ấm gia đình, đồng thời thiết lập mối quan hệ cha, mẹ, con lâu dài giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi Có thể nói, chế định nuôi con nuôi thể hiện tính nhân đạo sâu sắc,

là một biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ em, giúp trẻ được sống trong mái ấm gia đình, được quan tâm, nuôi dưỡng và chăm sóc đầy đủ, đồng thời bảo vệ trẻ em khỏi sự lạm dụng, đối xử tồi tệ trong và sau khi được nhận nuôi

Với ý nghĩa đó, nuôi con nuôi thực sự trở thành mối quan tâm đặc biệt của cộng đồng quốc tế Pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của mỗi quốc gia đều hướng tới mục đích duy nhất là nhằm bảo vệ các quyền được sống trong môi trường gia đình của trẻ em Do đó, nghiên cứu nội dung cũng như thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, các Hiệp định hợp tác nuôi con nuôi mà Việt Nam đã tham gia, ký kết nhằm mục đích rút ra những bài học kinh nghiệm, để hoàn thiện hành lang pháp lý trong việc đảm bảo quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ và con dựa trên sự kiện nuôi con nuôi

Ở Việt Nam, Bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi đã được ghi nhận cụ thể trong pháp luật Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng và giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ này đã bộc lộ những điểm còn hạn chế, vướng mắc, chưa thật sự đảm bảo được quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

Trang 8

Từ yêu cầu khách quan về lý luận cũng như thực tiễn, học viên đã lựa chọn

đề tài: “Đảm bảo quyền trẻ em trong thực tiễn xác lập quan hệ giữa cha mẹ và

con dựa trên sự kiện nuôi con nuôi ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi là vấn đề đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở các góc độ và khía cạnh khác nhau Trên phương diện khoa học pháp lý, từ khi Luật Nuôi con nuôi được ban hành, có một số công trình nghiên cứu có đề cập đến khía cạnh này, cụ thể là:

- Đề tài “Bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con có yếu tố nước ngoài

ở Việt Nam hiện nay” (2010), Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Hồng Trinh Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh quan

hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, nghiên cứu về bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi quốc tế

- Đề tài “Bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam” (2011), Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Hải Luận văn nghiên cứu về quyền trẻ em trong hệ thống pháp luật thế giới và pháp luật Việt Nam, phân tích pháp luật nuôi con nuôi từ góc độ quyền trẻ em, từ đó đưa ra một

số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật nuôi con nuôi

- Đề tài “Hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (2013), Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Hiến Luận văn phân tích về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam và Luật Nuôi con nuôi, qua đó nêu ra những điểm còn bất cập

- Đề tài: “Điều kiện nuôi con nuôi – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (2014), Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thúy Hằng Luận văn phân tích

về điều kiện nuôi con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi và một vài nét về thực tiễn thực hiện các điều kiện nuôi con nuôi

- Đề tài: “Quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi theo pháp luật Việt Nam” (2014), Luận văn Thạc sĩ Luật học của Kiều Thị Huyền Trang tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn phân tích hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi thông qua quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, qua đó chỉ ra những hạn chế và biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện của các quy định của pháp luật nuôi con nuôi

Trang 9

- Số chuyên đề “Pháp luật về nuôi con nuôi” của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật – Bộ tư pháp tháng 7 năm 2018, đưa ra những nội dung đánh giá tình hình thực hiện pháp luật nuôi con nuôi, đặc biệt là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong những năm qua tại một số địa phương và đưa ra một số giải pháp giải quyết vướng mắc

- Bài viết “Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế - so sánh với pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi” của tác giả Nguyễn Hồng Bắc đăng trên Tạp chí Luật học (Số 4/2011) Bài viết phân tích những quy định của Công ước Lahay trên tương quan so sánh với pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi, từ đó tìm ra điểm tương đồng và sự khác biệt của pháp luật Việt Nam so với Công ước

- Bài viết “Về việc nuôi con nuôi giữa bố dượng hoặc mẹ kế và con riêng của

vợ hoặc chồng theo Luật nuôi con nuôi” của tác giả Nguyễn Thị Lan đăng trên Tạp chí Luật học (Số 8/2011) Bài viết đưa ra những điều kiện cũng như ngoại lệ khi bố dượng hoặc mẹ kế và con riêng của vợ hoặc chồng xác lập quan hệ nuôi con nuôi, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong quy định này

Từ đó đưa ra một số định hướng hoàn thiện quy định của Luật nuôi con nuôi

- Bài viết “Vấn đề vi phạm quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi” của tác giả Nguyễn Phương Lan đăng trên Tạp chí Luật học (Số 1/2012) Bài viết đưa ra nhận định về quyền trẻ em, vi phạm quyền trẻ em và một số dạng hành vi

vi phạm quyền của trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi, đồng thời phân tích một

số biện pháp xử lí

- Bài viết “Hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo Luật nuôi con nuôi” của tác giả Nguyễn Phương Lan đăng trên Tạp chí Luật học (Số 5/2012) Bài viết khái quát pháp luật điều chỉnh hệ quả pháp lý việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, trọng tâm là Luật nuôi con nuôi, từ đó đưa ra một số nhận xét và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

- Bài viết “Những bất cập về điều kiện nuôi con nuôi trong Luật Nuôi con nuôi năm 2010” của tác giả Nguyễn Phương Lan đăng tải tại Tạp chí Nhà nước

và Pháp luật - Viện Nhà nước và Pháp luật (Số 8/2017) Bài viết đã phân tích những điểm bất cập và hướng hoàn thiện các quy định về điều kiện nuôi con

Trang 10

nuôi trong Luật Nuôi con nuôi năm 2010 nhằm đảm bảo hiệu quả của việc nuôi con nuôi

Tuy nhiên, các công trình trên chủ yếu nghiên cứu bảo đảm quyền của trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi dưới góc độ phân tích chế định pháp lý chứ không

đi sâu vào đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đảm bảo quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

Vì vậy, tác giả công trình này sẽ tiếp cận và nghiên cứu chuyên sâu về bảo

vệ quyền trẻ em trong thực tiễn xác lập quan hệ cha, mẹ nuôi và con nuôi – nội dung mà các công trình trên chưa đề cập một cách toàn diện

3 Mục tiêu, phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn của tác giả hướng tới mục tiêu sau:

+ Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi;

+ Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam từ góc độ bảo vệ quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi

và con nuôi;

+ Nhận diện những bất cập, hạn chế từ thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ và con dựa trên sự kiện nuôi con nuôi;

+ Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền trẻ

em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về nuôi con nuôi

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực tiễn bảo đảm quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi tại Việt Nam kể từ khi Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực pháp luật

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận là Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của của Đảng về quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em; chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo vệ quyền trẻ em

Trang 11

Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp…để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn có một số điểm mới như sau:

- Nghiên cứu, các quy định của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi từ góc

độ bảo vệ quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi;

- Đánh giá được những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế về đảm bảo quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi;

- Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả bảo vệ tốt nhất quyền của trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi

6 Kết cấu luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba phần chính như sau:

Chương 1: Khái quát chung về đảm bảo quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ và con dựa trên sự kiện nuôi con nuôi

Chương 2: Pháp luật Việt Nam về đảm bảo quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ và con dựa trên sự kiện nuôi con nuôi và thực tiễn áp dụng Chương 3: Bất cập, hạn chế và giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ và con dựa trên sự kiện nuôi con nuôi

Trang 12

và các địa phương xem là chính sách ưu tiên hàng đầu vì mục tiêu phát triển ổn định và lâu dài của Đất nước

Gia đình luôn giữ vai trò hàng đầu, là yếu tố quyết định đối với việc chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em Trẻ em là thành phần quan trọng cấu thành gia đình Quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng chính là những mối quan hệ

cơ bản tạo nên gia đình Cha mẹ và các thành viên trong gia đình là những người gần gũi, mật thiết, thường xuyên ở bên cạnh trẻ em, việc chăm sóc con trẻ không chỉ là trách nhiệm mà còn là “bản năng” Tuy nhiên, không phải mọi trẻ em đều may mắn được sống và phát triển trong môi trường gia đình Vì vậy, được nhận làm con nuôi là cách tốt nhất để trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ bị bỏ rơi có

cơ hội được sống trong môi trường gia đình Với ý nghĩa đó, nuôi con nuôi là một chế định pháp lý quan trọng trong Luật Hôn nhân và gia đình, góp phần bảo đảm tốt các quyền trẻ em, đảm bảo để trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt

Từ lâu, trẻ em đã được coi là một trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhất và được Nhà nước, cộng đồng quan tâm và bảo vệ Tùy vào góc độ tiếp cận của từng khoa học cụ thể, khái niệm trẻ em được hiểu ở nhiều cách khác nhau Triết học xem trẻ em là một “khâu” tất yếu trong mối quan hệ biện chứng với tiến trình phát triển của xã hội Con người sáng tạo ra lịch sử và trẻ em là con

Trang 13

đẻ của thời đại, của xã hội Sự phát triển của xã hội, tương lai của một quốc gia, dân tộc tùy thuộc vào việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em

Tiếp cận dưới góc độ sinh học, trẻ em là con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh ra và tuổi dậy thì1 Trẻ em là người phát triển chưa đầy đủ về thể chất, trí tuệ và nhân cách… Đây là đối tượng chưa thể tự lập trong cuộc sống, cũng như chưa có khả năng đánh giá hành vi và tự định hướng phát triển, chưa có khả năng tự bảo vệ mình trước những tác động tiêu cực từ môi trường cũng như hành

vi xâm hại bên ngoài

Dưới góc độ tâm lý học, trẻ em là khái niệm được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý, nhân cách của con người Sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ em giai đoạn từ lúc lọt lòng đến tuổi dậy thì là một trong những nội dung quan trọng trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học Trẻ em dưới góc độ tâm lý học được xác định căn cứ vào độ tuổi và tâm lý theo từng giai đoạn phát triển Căn cứ vào sự thay đổi cơ bản trong điều kiện sống và những thay đổi trong cấu trúc tâm lý của trẻ và sự trưởng thành cơ thể của trẻ em, các nhà tâm lý

đã chia lứa tuổi trẻ em thành các giai đoạn khác nhau, ứng với sự phát triển và tiếp thu nhận thức khác nhau: trẻ sơ sinh, tuổi nhà trẻ, tuổi mẫu giáo, tuổi nhi đồng, tuổi thiếu niên, tuổi đầu thành niên2 Theo các nhà tâm lý học, giai đoạn kết thúc của trẻ em là tuổi 18, bởi lẽ, ở độ tuổi này, trẻ đã có sự phát triển đầy đủ

về thể chất, trí tuệ, tâm hồn và đã làm chủ được ý chí, đưa ra được những ý kiến

và hành vi xử sự phù hợp

Xã hội học xác định trẻ em là một bộ phận của cơ cấu xã hội3 Dựa vào tiêu chí đặc điểm nhân khẩu, kết cấu xã hội được chia thành nam và nữ, người già và người trẻ, người lớn và trẻ em, trình độ dân trí cao hay thấp Theo tiêu chí này, kết cấu xã hội được phân chia dựa vào giới tính, trình độ văn hóa, mức độ đóng góp cho xã hội

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm trẻ em thường được tiếp cận theo độ tuổi Trên cơ sở đó, pháp luật xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi của các chủ thể trong quan hệ pháp luật

1 Xem Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ngày 6/7/2018

2 Nguyễn Ánh Tuyết (2014), “Các quy luật phát triển tâm lý trẻ”, Tâm lý học trẻ em, tr 9-11

3

Trang 14

Theo quy định tại Điều 1 của Công ước quốc tế về quyền trẻ em thì: “Trẻ em

là những người dưới 18 tuổi trừ khi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn”

Như vậy, trừ khi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn, những người dưới 18 tuổi đều là đối tượng được bảo vệ bởi Công ước quốc tế về quyền trẻ em và những văn kiện bổ trợ và giải thích của Công ước

Bên cạnh thuật ngữ “trẻ em” (child/ children) thì Công ước quốc tế về quyền trẻ em còn sử dụng nhiều thuật ngữ để chỉ những đối tượng được bảo vệ như:

“người chưa thành niên” (juvenile), “thiếu niên” (adolescence), “người trẻ tuổi” (youth) Các thuật ngữ này tuy khác nhau nhưng đều thể hiện mục tiêu chung của Công ước là để bảo vệ những người dưới 18 tuổi hay những người chưa đạt đến tuổi trưởng thành

Trên thực tế, khi xây dựng khái niệm trẻ em, mỗi một quốc gia đều xác định

độ tuổi của trẻ em để phân biệt với người trưởng thành Ở đa số các quốc gia trên thế giới, mốc dưới 18 tuổi thường được sử dụng để xác định lứa tuổi trẻ em Tuy nhiên một số quốc gia quy định khác về độ tuổi của trẻ em, dựa trên sự phát triển

về thể chất, tâm sinh lý của trẻ em và điều kiện thực tế ở quốc gia đó

Việc xác định rõ thời điểm bắt đầu và kết thúc giai đoạn “trẻ em” của một người rất quan trọng bởi nó quyết định quyền và nghĩa vụ của người đó khi tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể Công ước về quyền trẻ em nhấn mạnh:

“Trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt, kể cả bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”4 Như vậy, luật quốc tế quy định thời điểm bắt đầu giai đoạn “trẻ em” được tính từ khi còn là bào thai

Dưới góc độ luật học, các quốc gia xác định trẻ em thường căn cứ vào độ tuổi bởi đây là một trong các yếu tố góp phần đánh giá từng giai đoạn phát triển thể chất, nhận thức và tâm sinh lý của con người Tuy nhiên ở từng quốc gia lại

có sự khác nhau về khái niệm trẻ em Theo pháp luật tại một số quốc gia Bắc Âu

4 Xem Lời nói đầu Công ước La Hay năm 1993 về Bảo vệ trẻ em và Hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế

Trang 15

như Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan…quy định trẻ em là người dưới 20 tuổi5 Ở Liên Bang Nga, người dưới 18 tuổi là vị thành niên, bao gồm trẻ em6

Pháp luật Việt Nam không đưa ra một định nghĩa “chung” về sự điều chỉnh pháp luật về tuổi của trẻ em Trong mỗi lĩnh vực cụ thể, vấn đề này lại được xem xét phù hợp với tính chất của từng quan hệ mà “trẻ em” cần được bảo vệ Tuy nhiên, văn bản pháp lý chuyên biệt có định nghĩa rõ về trẻ em Theo đó, độ tuổi được xem là căn cứ xác định một người là trẻ em

Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 14/11/1979 đã định nghĩa trẻ em “bao gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi”7 Tiếp đó, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm

1991 và 2004 định nghĩa trẻ em “là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”8 Mốc thời gian kết thúc giai đoạn trẻ em đã thay đổi từ 15 tuổi thành 16 tuổi Như vậy, trẻ em theo hai văn bản pháp luật này phải là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi

Theo quy định tại Điều 1, Luật trẻ em năm 2016 thì “trẻ em là người dưới 16 tuổi” Đây là một điểm mới của Luật trẻ em 2016 so với Luật bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em năm 2004 Luật trẻ em năm 2016 đã sửa đổi, không giới hạn trẻ em là công dân Việt Nam mà còn bao gồm cả trẻ em là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam Điều này đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với Công ước về quyền trẻ em, các Điều ước quốc tế và quy định về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013

Mặc dù độ tuổi được coi là trẻ em ở mỗi quốc gia đưa ra là khác nhau nhưng nhìn chung, trẻ em đều có đặc điểm sau:

- Chưa phát triển toàn diện về thể chất, tâm sinh lý và trí tuệ

- Là đối tượng dễ bị tổn thương

- Cần có sự nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, bảo vệ của gia đình, nhà trường, xã hội

5 Hoàng Thị Thùy Dung (2014), Các quyền cơ bản của trẻ em theo pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận văn

Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 5

6 Xem Khoản 1, Điều 21 Bộ Luật Dân sự Liên Bang Nga

7 Xem Điều 1 Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979

8 Xem Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 và Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo

Trang 16

Sự phát triển của trẻ em diễn ra đầy biến động và cực kỳ nhanh chóng, đó là một quá trình liên tục ngay từ khi mới sinh ra, cùng với sự phát triển tâm sinh lý

Ở độ tuổi dưới 16, trẻ em chưa có hoặc chưa nhận thức một cách đầy đủ về mọi việc, thể chất cũng chưa phát triển toàn diện Sự non nớt của trẻ về cả thể chất và trí tuệ là lý do mà Nhà nước, gia đình và các cơ quan khác có mối liên hệ gắn bó với trẻ em cần thực hiện vai trò đảm bảo cho trẻ điều kiện tốt nhất để trẻ được chăm sóc, giáo dục, trở thành công dân tốt và có ích cho xã hội, xứng đáng là những chủ nhân tương lai của Đất nước

Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm về trẻ em như sau: “Trẻ

em là một thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ những người dưới 16 tuổi, đó là đối tượng còn non nớt về thể chất và trí tuệ Vì vậy, cần phải có sự bảo vệ đặc biệt bởi gia đình, Nhà nước và xã hội”

Dưới góc độ pháp lý, cùng với khái niệm “trẻ em” còn có khái niệm “người chưa thành niên” Đây là hai khái niệm có nội hàm khác nhau nhưng dễ gây nhẫm lẫn Cần phân biệt rõ hai khái niệm này Trong các lĩnh vực như Luật dân

sự, Luật hình sự, Luật lao động, thuật ngữ “người chưa thành niên” được sử dụng rất rộng rãi Pháp luật dân sự đã phân biệt người trưởng thành và chưa trưởng thành qua định nghĩa về vị thành niên hay người chưa thành niên tại những văn bản pháp lý mang tính chất nền móng của hệ thống pháp luật, cụ thể: Điều 7 Sắc lệnh số 97-SL của Chủ tịch nước ngày 22/5/1950 quy định: “người vị thành niên là con trai hay con gái chưa đủ 18 tuổi” Cốt lõi của quy định này tiếp tục được duy trì trong các văn bản pháp luật dân sự được ban hành sau đó Các

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, 2005 và 2015 đều quy định người thành niên

là người từ đủ mười tám tuổi trở lên, cụ thể: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên

là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”9 Với quy định này, có thể hiểu rằng, người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa trưởng thành, tức cũng có nghĩa là người chưa đủ 18 tuổi vẫn còn là trẻ em

Bộ Luật Lao động năm 2012 (BLLĐ 2012) quy định về người lao động “là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao

Trang 17

động”10 Mặt khác, Điều 161 BLLĐ 2012 quy định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” Kết hợp quy định tại Điều này với quy định tại Điều 6 trên, ta thấy độ tuổi của người lao động chưa thành niên là từ đủ

15 tuổi cho tới dưới 18 tuổi Từ đó, có thể hiểu người lao động chưa thành niên

là một nhóm lao động đặc thù, trong đó có thể là trẻ em,ở độ tuổi từ đủ 15 tuổi cho đến dưới 18 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động Pháp luật hình sự Việt Nam đề cập tuổi chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) của trẻ em không nằm ngoài phạm vi tuổi chịu TNHS quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 (BLHS 2015): “1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm 2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa

đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng” Như vậy khái niệm người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam chỉ bao gồm những người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi Người chưa thành niên ở đây, bao gồm trẻ em là người chưa phát triển một cách đầy đủ về tâm, sinh lý, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn nhiều hạn chế; dễ bị kích động, dụ dỗ, lôi kéo vào việc thực hiện tội phạm, nhưng cũng dễ uốn nắn, cải tạo, trở thành người có ích cho xã hội Như vậy, pháp luật hình sự đã căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý để quy định ở độ tuổi nào thì trẻ em phải chịu trách nhiệm hình sự Giới hạn tối thiểu về

độ tuổi chịu TNHS của trẻ em là một điều cần thiết trong một phần công lý của

sự trừng phạt Quy định về các biện pháp chịu TNHS đối với trẻ em phải hướng tới mục đích giáo dục là chủ yếu và trong một chừng mực nhất định

Như vậy, trong từng lĩnh vực mà trẻ em tham gia, Nhà nước ta đã đề ra những quy định cụ thể gắn với độ tuổi của trẻ căn cứ vào khả năng nhận thức, khả năng lao động của trẻ ở độ tuổi đó và vào mục đích luôn đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em

1.1.2 Khái niệm quyền trẻ em

Trong khoa học pháp lý, “quyền” là một khái niệm dùng để chỉ những điều pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó,

cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn

10

Trang 18

chế11 Việc công nhận quyền của một chủ thể đồng nghĩa với trách nhiệm của những chủ thể khác trong việc hành động để thực hiện quyền của chủ thể đó Quyền trẻ em là một bộ phận hợp thành và không thể tách rời của quyền con người, do đó việc nghiên cứu quyền của trẻ em phải trên cơ sở quyền con người Quyền con người theo nghĩa chung là “những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội…; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người”12 Từ đó ta có thể rút ra kết luận: Quyền con người là những quyền tự nhiên, tồn tại một cách khách quan, hình thành ngay từ khi con người sinh ra Khi nhà nước ra đời thì những quyền này được nhà nước công nhận và đảm bảo thực hiện Quyền con người là các quyền của tất cả cá nhân, cho dù họ có quyền công dân của một nước cụ thể nào hay không

Quyền trẻ em là một khái niệm được hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) với việc thành lập các tổ chức cứu trợ trẻ em ở Anh và Thụy Điển năm 1919

Trước đây, những nhà làm luật thường quan niệm trẻ em là đối tượng còn non nớt về thể chất, trí tuệ, do đó trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc một cách đặc biệt, nhằm tránh xa mọi sự xâm hại từ bên ngoài Cách tiếp cận này vô tình khiến cho trẻ em trở thành đối tượng bị phụ thuộc, chịu sự chi phối, bao bọc từ người lớn mà không xuất phát từ góc độ quyền của trẻ em

Hiện nay, cách tiếp cận quyền trẻ em đã tiến bộ và tích cực hơn Theo đó, trẻ

em được nhìn nhận là một chủ thể trong các quan hệ xã hội, được xã hội công nhận, do đó trẻ em cũng có đầy đủ các quyền cơ bản của con người, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc đã khẳng định “Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền Mọi con người đều được tạo hoá ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu”13

Theo nghĩa hẹp, quyền trẻ em là quyền con người gắn với đối tượng chủ thể

là trẻ em, chủ thể này được xác định bằng độ tuổi Quyền trẻ em được hiểu là

11 Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa & Nxb Tư pháp,

Hà Nội, tr 648

12 Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Thanh Tùng (đồng chủ biên, 2011), Giáo trình Lý luận và Pháp

luật về Quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 37

13 Xem Điều 1 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc

Trang 19

những gì trẻ em cần có để được sống và phát triển một cách toàn diện, lành mạnh, cho dù đối tượng trẻ em đó có quyền công dân của quốc gia nào hay không Những quyền này được Nhà nước thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật Trẻ em không chỉ là người tiếp nhận thụ động sự yêu thương của người lớn, mà còn là người có vai trò chủ động tham gia tích cực vào quá trình phát triển

Theo nghĩa rộng, quyền trẻ em được hiểu là tất cả các quyền lợi được hưởng của cá nhân trẻ em, những quyền này có từ khi trẻ được sinh ra, tồn tại khách quan và được Nhà nước công nhận, ghi nhận thành các quyền và nghĩa vụ cơ bản của trẻ em, được đảm bảo thực hiện bằng pháp luật Nội dung quyền trẻ em phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, phong tục tập quán, tư tưởng đạo đức của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử Hiện nay, quyền trẻ em ngày càng được mở rộng và phát triển, trẻ

em từ đối tượng được hưởng quyền thành chủ thể quyền Mọi trẻ em sinh ra và lớn lên đều có các quyền như nhau và được đảm bảo thực hiện các quyền đó như nhau

Quyền của trẻ em đã dần được pháp luật quốc tế ghi nhận, cụ thể, ngày 20/11/1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước về quyền trẻ

em với 54 điều khoản, ghi nhận các quyền cơ bản của trẻ em gồm các nhóm quyền: quyền sống còn, quyền bảo vệ, quyền phát triển, quyền tham gia Công ước này đã thể hiện sự tôn trọng và quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với trẻ

em, quy định những điều kiện cần thiết để trẻ em được phát triển trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương Ngày 30/9/1990, Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể và toàn diện nhằm bảo vệ

và chăm sóc trẻ em cùng một bản kế hoạch hành động chi tiết trên từng mặt cơ bản, điều này góp phần thể hiện sự quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế với các quyền lợi cơ bản của trẻ em

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được coi là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Cả bộ Hình thư thời Lý và Bộ luật Hồng Đức thời Hậu Lê đều có những quy định cụ thể về vấn đề này Kế thừa truyền thống này, ngay khi giành được được độc lập, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được Đảng, Nhà nước Việt Nam đặt lên hàng đầu Có thể nói, Việt Nam là quốc gia

Trang 20

chú trọng đến bảo vệ quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc (vào ngày 20/02/1990) Từ đó đến nay, Việt Nam đã từng bước nội luật hóa nội dung của Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia, thông qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Hơn nữa, Nhà nước còn xây dựng và tổ chức thực hiện các Chương trình Hành động Quốc gia vì trẻ em trong mỗi giai đoạn 10 năm (hiện đang thực hiện Chương trình Hành động Quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2011- 2020) Các quyền trẻ em tại Việt Nam được ghi nhận khá đầy đủ, toàn diện, bao gồm các nhóm quyền như: quyền có quốc tịch, quyền được khai sinh, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền sống chung với gia đình gốc, quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự, quyền được chăm sóc, quyền được vui chơi giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch, quyền được tham gia hoạt động xã hội, phát triển năng khiếu… Mỗi nhóm quyền được cụ thể hóa tại nhiều chế định riêng nhằm đảm bảo quyền của trẻ

So sánh giữa cách hiểu về quyền trẻ em ở Việt Nam so với quốc tế, có thể thấy rằng, các quyền trẻ em tại Việt Nam là tương đối phù hợp và hài hòa với quyền trẻ em được quy định tại các Công ước quốc tế Đánh giá vấn đề này, Tổ chức UNICEF14 tại Việt Nam nhận định: “Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong việc tạo khuôn khổ pháp lý thực hiện các quyền trẻ em, luật pháp và chính sách liên quan của Việt Nam ngày càng tương thích với các chuẩn mực quốc tế…”15 Trẻ em được hưởng mọi quyền và mọi tự do đã được nêu trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về quyền con người mà không bị bất cứ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc mối tương quan khác

Như vậy, quyền trẻ em là khái niệm dùng để chỉ các quyền con người của trẻ

em, bao gồm các nhóm quyền như: quyền được sống, quyền được phát triển, quyền được tham gia và quyền được bảo vệ

14 Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc

15 Hồng Vân (2017), “Tiếp tục các nỗ lực đảm bảo quyền trẻ em ở Việt Nam”, Báo Điện tử của Đài Tiếng nói Việt Nam, ngày truy cập: 03/8/2018

Trang 21

1.1.3 Khái niệm đảm bảo quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha

mẹ nuôi và con nuôi

Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi16

Trước hết, dưới góc độ xã hội, con nuôi là con đẻ của người khác nhưng được một hoặc hai người là vợ chồng nhận làm con, coi như con đẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu, lợi ích nhất định của các bên

Dưới góc độ pháp lý, con nuôi là người có đủ các điều kiện pháp luật quy định, được một hoặc hai người là vợ chồng nhận làm con, thông qua trình tự thủ tục luật định, hai bên không có quan hệ huyết thống

Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng Nuôi con nuôi là vấn đề nhân đạo, thể hiện tình yêu thương, tinh thần trách nhiệm cao cả và mối quan hệ tương thân, tương ái, giúp đỡ trẻ em không nơi nương tựa có một mái

ấm gia đình, được chăm sóc và phát triển trong những điều kiện tốt nhất

Quyền trẻ em đã được thừa nhận và quy định trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Tuy nhiên, việc thực hiện quyền trẻ em chủ yếu phụ thuộc vào nhận thức và hành động của người khác nên việc bảo vệ quyền trẻ em là cần thiết Bảo vệ quyền trẻ em là các biện pháp nhằm đảm bảo quyền trẻ em được thực hiện một cách đầy đủ Do đặc điểm về sự phát triển chưa đầy đủ về tâm sinh lý của đối tượng đặc biệt này nên việc bảo vệ quyền trẻ em chính là việc bảo vệ các quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng phát triển của trẻ em từ thời điểm sinh ra đến khi có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người trưởng thành

Theo Đại Từ điển tiếng việt, “bảo đảm” hay “đảm bảo” được hiểu là cam đoan chịu trách nhiệm về việc gì đó17

Hiểu theo nghĩa rộng, đảm bảo quyền trẻ em là việc mọi người trong xã hội cam đoan chịu trách nhiệm thực hiện bảo vệ sự an toàn và chăm sóc trẻ em, bằng những hành động giúp đỡ trẻ khi một đứa trẻ có nguy cơ bị tổn hại hoặc đang bị tổn hại và loại trừ những yếu tố trong môi trường chăm sóc có thể gây tổn hại cho trẻ

16 Xem Khoản 1, Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

17

Trang 22

Hiểu theo nghĩa hẹp, đảm bảo quyền trẻ em đề cập đến những dịch vụ được cung cấp bởi các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và các tổ chức phi Chính phủ Những dịch vụ này hướng tới việc giúp đỡ cho các gia đình và cộng đồng thực hiện bảo vệ quyền trẻ em, hỗ trợ môi trường chăm sóc trẻ trong việc đáp ứng nhu cầu của trẻ, đồng thời trực tiếp can thiệp khi trẻ bị tổn hại hoặc có nguy

cơ bị tổn hại

Liên minh các tổ chức cứu trợ trẻ em định nghĩa “bảo vệ quyền trẻ em” là xây dựng hệ thống và cơ chế hoạt động hiệu quả để phòng ngừa, can thiệp và giải quyết tình trạng xâm hại, xao nhãng, bóc lột và bạo lực đối với trẻ em18 Như vậy, có thể hiểu đảm bảo quyền trẻ em là hệ thống các biện pháp, cách thức được pháp luật quy định nhằm cam đoan có hiệu quả trong việc phòng ngừa, can thiệp, giải quyết tình trạng trẻ em bị bỏ rơi, xâm hại, bóc lột, nhằm bảo

vệ trẻ em và đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của trẻ trên thực tế

Từ những phân tích trên ta có thể đưa ra định nghĩa: “Đảm bảo quyền trẻ em

trong quan hệ nuôi con nuôi là hệ thống các biện pháp, cách thức được pháp luật quy định nhằm bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em được nhận làm con nuôi, cụ thể là quyền được sống trong môi trường gia đình, quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ thông qua các quy định về việc xác lập, thực hiện, chấm dứt việc nuôi con nuôi”

1.2 Cơ sở của việc ghi nhận đảm bảo quyền trẻ em trong việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

1.2.1 Cơ sở lý luận

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một truyền thống quý báu của dân tộc ta Truyền thống ấy đã được hun đúc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền trẻ em Sinh thời, Người quan niệm: “Trẻ em như búp trên cành” Vì thế, trẻ em luôn là đối tượng phải được nâng niu, chăm sóc và dạy dỗ, chỉ bảo một cách ân cần Từ đó, bảo vệ trẻ em trở thành một nội dung quan trọng và chủ đạo được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Theo đó, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được coi là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ trung ương đến địa phương, là một vấn đề ưu tiên trong mọi chính sách và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đất nước

18 Nguyễn Thị Hải (2011), Bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam, Luận

văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 10

Trang 23

Các quyền của trẻ em được ghi nhận cụ thể trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Chủ trương của Đảng về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung cũng như về quyền trẻ em nói riêng là một trong những ưu tiên trọng yếu của chiến lược phát triển con người xuyên suốt mọi thời

kỳ lịch sử và cách mạng Việt Nam Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng Đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với việc khẳng định con người là trung tâm của sự phát triển và chăm lo đến quyền

và lợi ích chính đáng của tất cả mọi người, là mục tiêu của phát triển Đại hội XI của Đảng (năm 2011) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã tái khẳng định những giá trị nền tảng này và phát triển, bổ sung những nội dung mới trong mục tiêu “về phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện chính sách xã hội”, đó là: con người là trung tâm của chiến lược phát triển; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, Đất nước và quyền làm chủ của nhân dân; thực hiện chính sách xã hội đúng đắn, công bằng, bảo đảm bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, khuyết tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi; thực hiện bình đẳng giới, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em

Nhằm bảo đảm cho trẻ em – thế hệ trẻ của Việt Nam phát triển toàn diện, giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa của thế giới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đất nước, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 55-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng ở cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Những quan điểm được thể hiện trong các văn kiện của Đảng là cơ sở quan trọng để hình thành các chính sách và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cũng như các cấp chính quyền trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch hành động vì trẻ em, tôn trọng, bảo đảm và thực thi các quyền trẻ em

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta khẳng định: “Bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em, tạo môi trường để trẻ em được phát triển toàn diện

về thể chất và trí tuệ Chú trọng bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc

Trang 24

biệt, trẻ em gia đình nghèo, trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn; ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em Nhân rộng các mô hình làm tốt việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em dựa vào cộng đồng… Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe cho nhân dân” Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định chăm lo đời sống các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, trong đó có trẻ em, góp phần ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Tư tưởng nhân văn, phát triển đối với trẻ em nói chung và quyền trẻ em nói riêng đã được cương lĩnh hóa trong chương trình Việt Minh và sau Cách mạng tháng Tám thành công đã được thể chế hóa trong đạo luật cơ bản đầu tiên là Hiến pháp năm 1946 Từ đó, bảo vệ quyền trẻ em trở thành một nguyên tắc hiến định thể hiện nhất quán trong Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt là trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 Điều 36 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận:

“Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em” Thực hiện sự bảo hộ hôn nhân - gia đình cũng chính là thực hiện sự bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật về hôn nhân - gia đình Theo đó, cha mẹ phải có trách nhiệm nuôi dạy, giáo dục con; Nhà nước

và xã hội phải ưu tiên quan tâm bảo đảm quyền lợi người mẹ và trẻ em Hiến pháp năm 2013 là đạo luật cơ bản của Việt Nam khẳng định việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà nước và xã hội Đồng thời cũng là cơ sở đảm bảo cho quyền của trẻ em trên tất cả các lĩnh vực và đối với tất cả các đối tượng

Điều 37 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và

xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”

Như vậy, ngoài sự ghi nhận về bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ hôn nhân - gia đình, Hiến pháp năm 2013 còn xác lập cơ chế bảo hộ và bảo đảm hầu hết các quan hệ xã hội là các quyền của trẻ em phải được toàn thể xã hội chăm lo, bảo vệ; được sống trong môi trường phù hợp để phát triển, được học tập, rèn luyện Việc sử dụng thuật ngữ “nghiêm cấm” chính là một hình thức quy phạm mệnh

Trang 25

lệnh mang tính bắt buộc, tạo ra khả năng pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và loại trừ ngay mọi biểu hiện không phù hợp hoặc trái với nó, được

dự kiến với ít nhất là 06 trường hợp, tình huống rất cụ thể: “xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột” Điều này chính là sự bảo hộ và bảo đảm pháp lý tối cao cho hệ thống bảo vệ quyền trẻ em trong mọi quan hệ pháp luật, đồng thời cũng tạo cơ sở thiết lập các chế định về quyền trẻ em trong các hoạt động tố tụng

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, pháp luật Việt Nam đã thể chế hóa quyền trẻ em trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, tạo thành một

hệ thống pháp luật và chính sách đồng bộ, thống nhất về quyền trẻ và bảo vệ quyền trẻ em phù hợp với thông lệ quốc tế Hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em đã thể hiện rõ sự nội luật hóa các Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết Đồng thời đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để ghi nhận việc đảm bảo quyền trẻ em trong mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi:

Luật trẻ em năm 2016 đề cập đầy đủ đến quyền của trẻ em trong đó gồm bốn quyền được quy định trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam tham gia, gồm: quyền sống, quyền phát triển, quyền được bảo vệ và quyền tham gia

Bộ luật dân sự năm 2015 đã có những quy định liên quan đến việc tôn trọng

và bảo vệ quyền con người như: quyền được khai sinh (Điều 30); quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều 33); quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 34)… Cụ thể, theo Điều 33 Bộ luật dân sự 2015: Trẻ em có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe Quy định này đặt quyền sống của trẻ em lên trước tiên bởi lẽ hàng năm có rất nhiều trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi không nơi nương tựa, rất khó có thể được sống một cách bình thường Do đó, đây chính là cơ sở lý luận để bảo đảm một trong các quyền của trẻ em là được sống trong môi trường gia đình

Với ý nghĩa đó, trẻ em bị mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi là nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt là một trong những đối tượng cần phải được bảo vệ bằng những biện

Trang 26

pháp đặc biệt Nuôi con nuôi chính là giải pháp quan trọng nhất để đảm bảo một cách tốt nhất quyền được sống trong môi trường gia đình của trẻ em

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Theo thống kê, ở Việt Nam, tính đến cuối tháng 12/2017, cả nước có hơn 1,4 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt19, đây là những trẻ em chưa được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt đúng với những quyền trẻ được hưởng Tình trạng trẻ em

bị mất nguồn nuôi dưỡng, trẻ em trở thành mồ côi hoặc bị bỏ rơi tiếp tục gia tăng

và thiếu khả năng tiếp cận với một hệ thống phúc lợi xã hội có tính phòng ngừa hiệu quả Thực tiễn này xuất phát từ những nhiều nguyên nhân, có thể kể đến một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, nguyên nhân về chiến tranh:

Việt Nam là nước phải gánh chịu hậu quả từ hai cuộc chiến tranh: chống Pháp và chống Mỹ Sau hơn 40 năm, hậu quả đó là những thương tật, bệnh tật, nhiều đứa trẻ mất cha, mất mẹ trở thành mồ côi, không có người thân chăm sóc, phải lao động sớm, lang thang kiếm sống Hàng vạn tấn bom đạn chưa nổ từ những cuộc chiến đang nằm rải rác trên một số đồng ruộng, cánh rừng, sông ngòi, ao hồ và các khu dân cư trên Đất nước ta là nguyên nhân dẫn đến hàng nghìn trẻ em bị thương tật vĩnh viễn Hậu quả của chất độc màu da cam do chiến tranh để lại còn kéo dài cho nhiều thế hệ và để lại gánh nặng cho xã hội mà đối tượng gánh chịu trực tiếp chính là trẻ em - nạn nhân của chiến tranh, chúng bị bỏ rơi, mồ côi cha mẹ hay hứng chịu thương tật nặng nề, không được đảm bảo quyền được sống trong môi trường gia đình như những trẻ em bình thường khác Thứ hai, nguyên nhân từ điều kiện tự nhiên:

Việt Nam là Đất nước ở khu vực Đông Nam Á, giáp biển đông, có điều kiện

tự nhiên khắc nghiệt, thiên tai, bão lũ xảy ra thường xuyên, gây thiệt hại lớn về

cả người và tài sản Chính điều đó dẫn đến cảnh đói nghèo, dịch bệnh, người chết, tàn tật, mất tích , trong số đó có không nhỏ trẻ em rơi vào hoàn cảnh bị

mồ côi, tàn tật, mắc bệnh, thiếu ăn, phải đi lang thang tự mình kiếm sống, không được gia đình chăm sóc nuôi dưỡng và phát triển toàn diện Thêm vào đó, địa hình của Việt Nam có tính chất phức tạp, chia cắt các vùng, hạ tầng cơ sở cơ bản

19 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2018), “Cục Trẻ em tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2017

và phương hướng nhiệm vụ năm 2018”, Cổng Thông tin điện tử Bộ LĐ-TBXH, ngày truy cập 10/8/2018

Trang 27

như y tế, giáo dục, nước sạch đây là những nguyên nhân chung dẫn đến tình trạng khó khăn của người dân và trẻ em, cha mẹ không có đủ điều kiện vật chất

để chăm lo cuộc sống cho con Trẻ em ở nông thôn, miền núi vẫn đang chịu nhiều thiệt thòi, những quyền cơ bản của trẻ em cũng chưa được đảm bảo và trẻ rơi vào tình trạng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Thứ ba, nguyên nhân từ nền kinh tế:

Việt Nam đang trên đà hội nhập hóa, phát triển kinh tế thị trường, một hệ quả tất yếu là dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo và phân hóa xã hội Lối sống thực dụng làm một số giá trị đạo đức bị ảnh hưởng tiêu cực, đơn cử như việc cha mẹ

ly hôn, ly thân, bỏ rơi con cái…Trong đó, phần lớn lý do bỏ rơi trẻ em là do cha

mẹ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không đủ điều kiện chăm lo cho con Sự chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng dẫn đến gia tăng trẻ em lang thang kiếm sống, lao động trẻ em và trẻ em bị xâm hại tình dục Thứ tư, nguyên nhân khác: Trên thực tế xảy ra rất nhiều vụ tai nạn lao động, tai nạn giao thông, đuối nước mà nguyên nhân có thể do máy móc, thiết bị hoặc điều kiện về đường sá, sông hồ Những vụ tai nạn này cũng có thể cướp đi môi trường gia đình bình thường của trẻ em, khiến trẻ không được sống chung với tình yêu thương của cha mẹ, trở thành người mồ côi…

Trong hoàn cảnh nước ta còn phải gánh chịu nhiều hậu quả của chiến tranh, ảnh hưởng của thiên tai, nền kinh tế, nhiều trẻ em phải chịu di chứng chiến tranh,

mồ côi, khuyết tật, không có nơi nương tựa cần được chăm sóc, nuôi dưỡng trong gia đình thì việc nuôi con nuôi là biện pháp chăm sóc hiệu quả nhất, đảm bảo tốt nhất lợi ích của trẻ em

Ngoài những nguyên nhân khách quan kể trên, tình trạng trẻ bị bỏ rơi, trẻ mồ côi ở Việt Nam còn xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan như:

+ Sự kỳ thị từ quan điểm bất bình đẳng giới trong các gia đình cũng được coi

là những nguyên nhân khiến cho những người làm cha mẹ từ bỏ nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng con cái Nhiều gia đình có tư tưởng chọn giới tính của con, khi

họ sinh ra đứa bé với giới tính không như mong muốn, họ sẵn sàng cho con hoặc

bỏ rơi con, việc làm này thể hiện sự vô trách nhiệm đối với việc bảo đảm những quyền lợi của đứa trẻ khi chúng được sinh ra

Trang 28

+ Sự thiếu hiểu biết, nhận thức hạn chế, thiếu trách nhiệm trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng Hiện nay, đời sống mở khiến cho không ít một bộ phận giới trẻ

có lối sống buông thả, nhiều cặp đôi do thiếu hiểu biết các biện pháp phòng tránh thai trong khi quan hệ đã dẫn tới hệ lụy mang thai ngoài ý muốn Những đứa trẻ

vô tội được sinh ra nhưng bị bỏ rơi, không được sống trong môi trường gia đình

Do đó, chính lối sống buông thả là nguyên nhân gây ra việc số lượng trẻ em bị

bỏ rơi ngày càng gia tăng trong những năm gần đây, kéo theo hệ quả là quyền của những trẻ em này không được đảm bảo

+ Nhận thức về tầm quan trọng của việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em, tránh để trẻ em rơi vào tình trạng hoàn cảnh đặc biệt của gia đình và xã hội còn nhiều hạn chế, chưa thấy được trách nhiệm tổ chức thực hiện và nguy hại đối với xã hội, đặc biệt là mối quan hệ gắn liền với vấn đề trẻ em có hoàn cảnh khó khăn với phát triển nguồn nhân lực cao trong tương lai

+ Sự thiếu hụt về đầu tư của Nhà nước vào một số vùng, địa phương, sự thiếu quan tâm của các cấp, chính quyền, sự thiếu trách nhiệm của một số bậc cha mẹ trong việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em, sự nhạy cảm của trẻ em với môi trường sống cũng là những nguyên nhân làm cho tình trạng trẻ bị bỏ rơi, không được sống trong môi trường gia đình ngày càng tăng

Các nguyên nhân trên là lý do làm cho tình trạng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi ngày càng gia tăng tại Việt Nam Mặc dù Nhà nước

ta đã xây dựng nhiều hình thức chăm sóc thay thế như: mái ấm tình thương, làng trẻ em SOS, trung tâm bảo trợ xã hội… nhưng số lượng trẻ em không được chăm sóc trên thực tế vẫn lớn và có xu hướng tăng Hơn nữa, trẻ em khi được nuôi dưỡng trong môi trường thay thế trên thì vẫn không thể phát triển toàn diện khi sống trong môi trường gia đình Do đó, trường hợp trẻ em tạm thời hoặc vĩnh viễn bị tước mất môi trường gia đình thì biện pháp cho trẻ làm con nuôi được xem là tối ưu và hiệu quả nhất trong việc đảm bảo cho trẻ được hưởng tối đa các quyền của mình

Với ý nghĩa đó, trẻ em bị mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi là nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt là một trong những đối tượng cần phải được bảo vệ bằng những biện pháp đặc biệt Nuôi con nuôi chính là giải pháp quan trọng nhất để đảm bảo một cách tốt nhất các quyền của trẻ

Trang 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong xã hội, trẻ em là đối tượng còn non nớt về thể chất và trí tuệ, được xem là một trong những đối tượng yếu thế nhất, chưa thể tự lập trong cuộc sống cũng như tự định hướng phát triển, chưa có khả năng tự bảo vệ mình trước những tác động tiêu cực từ môi trường Hơn nữa, trẻ em là tương lai của Đất nước, bảo vệ trẻ em là bảo vệ những chủ nhân tương lai của quốc gia, là động lực phát triển bền vững, ổn định và thịnh vượng của xã hội Một trong những quyền cơ bản và quan trọng nhất của trẻ em, được pháp luật ghi nhận, bảo vệ là quyền được sống trong môi trường gia đình Tuy nhiên, không phải tất cả trẻ em sinh ra đều có điều kiện được sống trong gia đình cùng với bố mẹ Một trong những biện pháp để “bù đắp”, tạo môi trường gia đình thay thế cho những trẻ em thiệt thòi đó là nhận nuôi con nuôi Đây được coi là biện pháp đảm bảo lợi ích tốt nhất của trẻ em Đảm bảo quyền trẻ em là trách nhiệm của gia đình, của Nhà nước và toàn xã xã hội Vì vậy, việc đảm bảo quyền trẻ em thông qua việc xác lập quan hệ cha mẹ và con dựa trên sự kiện nuôi con nuôi là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

Trang 30

Chương 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN TRẺ EM TRONG VIỆC XÁC LẬP QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ CON DỰA TRÊN SỰ

KIỆN NUÔI CON NUÔI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 Thực tiễn đảm bảo quyền được sống trong môi trường gia đình của trẻ em

Đảm bảo quyền của trẻ em thông qua việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con dựa trên sự kiện nuôi con nuôi, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và bảo đảm cho trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa quyền được sống trong môi trường gia đình Với ý nghĩa đó, pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi đã cụ thể hóa bằng việc xây dựng những nguyên tắc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, điều kiện của các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi cũng như các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi, con nuôi đồng thời, bảo đảm để các quy định này được thực hiện trên thực tế

2.1.1 Nguyên tắc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

Nguyên tắc nuôi con nuôi là kim chỉ nam chi phối đến toàn bộ quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi: từ lúc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, quá trình thực hiện việc nuôi con nuôi và chấm dứt việc nuôi con nuôi Qua đó, các quyền được sống trong môi trường gia đình của trẻ em được bảo vệ một cách toàn diện và hiệu quả Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định cụ thể các nguyên tắc này, vì thế các chủ thể có thẩm quyền phải tôn trọng thực hiện trong suốt quá trình giải quyết việc xác lập mối quan hệ cha, mẹ, con dựa trên sự kiện nuôi con nuôi

2.1.1.1 Nguyên tắc thứ nhất: Tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc khi giải quyết việc nuôi con nuôi

Tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc khi giải quyết việc nuôi con nuôi là nguyên tắc quan trọng hàng đầu khi giải quyết việc nuôi con nuôi Gia đình gốc là gia đình của những người có quan hệ huyết thống20, là nơi trẻ em được sinh ra và lớn lên, gần gũi, gắn bó nhất với trẻ Nói cách khác, gia đình gốc là môi trường tự nhiên, môi trường xã hội đầu tiên của đứa trẻ, đây được coi là môi trường lý tưởng nhất cho sự phát triển của trẻ em

20 Khoản 8, Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Trang 31

Do còn non nớt về thể chất và trí tuệ nên trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt trong không khí yêu thương, hạnh phúc và cảm thông của những thành viên trong gia đình Quy định tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc được pháp luật quốc tế thừa nhận từ rất lâu Công ước La Hay đã chỉ rõ nhiệm vụ của những quốc gia thành viên: “mỗi nước cần phải ưu tiên tiến hành các biện pháp thích hợp để trẻ em có thể được chăm sóc trong gia đình gốc của mình”21 Có thể thấy nguyên tắc này được thể hiện nhất quán trong

hệ thống pháp luật quốc tế cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi Trẻ em trước tiên phải được sống trong môi trường gia đình ruột thịt, được cha mẹ đẻ chăm sóc, nuôi dưỡng Pháp luật Việt Nam đặt lợi ích của trẻ em lên hàng đầu, đưa ra những quy định nhằm tạo điều kiện để trẻ tiếp tục được sống trong gia đình gốc

Việc đảm bảo cho trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc sẽ hạn chế tối đa những thay đổi bất lợi cũng như những khó khăn mà có thể trẻ sẽ gặp phải khi không được cha mẹ đẻ yêu thương, trực tiếp nuôi dưỡng Hơn nữa, việc đảm bảo quyền này còn cho thấy xã hội luôn muốn hướng tới mục đích gắn kết những mối liên hệ huyết thống, duy trì sợi dây tình cảm ruột thịt với gia đình, khi đó trẻ em sẽ không thấy cô đơn, lạc lõng trong môi trường sống hoàn toàn mới, từ đó trẻ em có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển toàn diện về nhân cách, trí tuệ và thể chất Đồng thời cũng góp phần tạo cơ sở để cơ quan thẩm quyền có căn cứ giải quyết việc nuôi con nuôi một cách chính xác

Chỉ khi những người trong gia đình huyết thống của trẻ không thể hoặc không nhận nuôi trẻ thì lúc đó trẻ em mới được xem xét để làm con nuôi ngoài gia đình ruột thịt Nguyên tắc này được quán triệt để đảm bảo rằng việc xác lập quan hệ cha, mẹ nuôi và con nuôi luôn đảm bảo quyền được sống trong môi trường gia đình gốc của trẻ

Để triển khai thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền được sống trong môi trường gia đình gốc của trẻ em trên thực tế, Luật Nuôi con nuôi đã quy định về thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế khi trẻ em rơi vào trường hợp này Theo

đó, pháp luật nuôi con nuôi Việt Nam đưa ra thứ tự ưu tiên để trẻ ít phải thay đổi

21 Xem Lời nói đầu Công ước La Hay năm 1993 về Bảo vệ trẻ em và Hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi

Trang 32

môi trường sống nhất Cụ thể, theo Khoản 1, Điều 5 Luật Nuôi con nuôi năm

2010, thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế cho trẻ được thực hiện như sau:

- Cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;

- Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước;

- Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;

- Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;

- Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài

Trường hợp có nhiều người cùng hàng ưu tiên xin nhận một người làm con nuôi thì xem xét, giải quyết cho người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi tốt nhất

Như vậy, những người gần gũi nhất như cô, cậu, dì, chú, bác ruột được ưu

tiên hàng đầu Đây được xem là những người có mối liên hệ huyết thống với trẻ

em, xếp sau cha mẹ đẻ, vì thế, phải ưu tiên cho họ quyền được nhận nuôi trẻ Đó cũng là tiêu chí để bảo đảm quyền được sống trong môi trường gia đình gốc

Có những trường hợp giữa trẻ và người nhận nuôi có mối liên hệ huyết thống nhưng việc xác lập quan hệ cha, mẹ nuôi và con nuôi giữa họ lại không được ghi nhận Chẳng hạn như việc nhận nuôi con nuôi làm đảo lộn trật tự, thứ bậc trong quan hệ gia đình, ví dụ như ông bà nhận cháu làm con nuôi hay anh, chị nhận em làm con nuôi

Tóm lại: Có thể nói đây là nguyên tắc cơ bản, có tính chất nền tảng, chi phối đến các nguyên tắc khác trong việc giải quyết nuôi con nuôi Thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ giúp ta lựa chọn cho trẻ môi trường gia đình tốt nhất thông qua việc xác lập quan hệ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi

2.1.1.2 Nguyên tắc thứ hai: Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Nguyên tắc này thể hiện xuyên suốt của pháp luật nuôi con nuôi Việt Nam là phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ, ở đây là người được nhận làm con nuôi và người nhận nuôi Trong quan hệ nuôi con nuôi, quyền và lợi ích của trẻ em luôn là mục đích được ưu tiên hàng đầu, tuy

Trang 33

nhiên, một mối quan hệ chỉ có thể phát triển lâu bền và tốt đẹp khi các bên chủ thể được đảm bảo quyền và lợi ích trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện Việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi không thể xuất phát từ sự tác động, dụ dỗ hay ép buộc của bất kỳ bên nào, bất cứ lợi ích vật chất nào mà phải dựa trên sự

tự nguyện của tất cả các chủ thể Có thể hiểu một cách đơn giản, “tự nguyện” ở đây là sự chấp nhận vô điều kiện, xuất phát từ ý chí của chính bản thân của các bên chủ thể, việc cho nhận con nuôi không gắn liền với bất cứ mục đích vụ lợi nào

Nếu một trong hai bên bị ép buộc thì ý nghĩa nhân đạo của việc nuôi con nuôi là không đạt được, tính nhân văn bị mất đi và lợi ích đứa trẻ bị xâm phạm Tóm lại, sự tự nguyện là yếu tố quyết định việc xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi được tốt đẹp và bền vững hay không Nếu một đứa trẻ được nhận làm con nuôi mà người nhận con nuôi bị ép buộc thì chắc chắn môi trường mà đứa trẻ sống trong thời gian sau khi được nhận nuôi sẽ không phải là một “gia đình” đúng nghĩa, kéo theo việc trẻ em sẽ không được đảm bảo các quyền khác của mình Chỉ cần thiếu đi sự tự nguyện của một trong ba chủ thể (người nhận con nuôi, người cho con nuôi và người được nhận làm con nuôi – trẻ em), việc nuôi con nuôi rất dễ biến tướng thành “vỏ bọc” cho những hành vi phi pháp khác như bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục, trục lợi bất chính, buôn bán trẻ em… Triển khai thực hiện nguyên tắc này, Nhà nước ta đã xây dựng những công tác xã hội liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi: như tuyên truyền, phổ biến pháp luật nuôi con nuôi và về ý nghĩa nhân đạo của việc nuôi con nuôi, … Tuy nhiên, thực tế áp dụng, sự thiếu tự nguyện vẫn xảy ra, nhiều nhất ở những người mẹ đơn thân, có con ngoài giá thú, họ cho con làm con nuôi trong tình cảnh khó khăn về kinh tế hoặc do áp lực của dư luận, tai tiếng từ phía gia đình, xã hội Đánh giá chung, các công tác xã hội liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi và đặc biệt là vấn đề tư vấn tâm lý trước khi cho con nuôi đã được triển khai thực hiện một cách khá nghiêm túc tuy nhiên về phạm vi thì hoạt động này chưa được thực hiện trên diện rộng, do đó việc xảy ra tình trạng ép phải tự nguyện, phải cho con nuôi vẫn còn xảy ra trên thực tế

Trang 34

Để đảm bảo về bình đẳng giới, Luật Nuôi con nuôi đã quy định “không phân biệt nam – nữ”22 trong việc cho nhận con nuôi Trên thực tế việc này được tổ chức thực hiện trên cả hai mặt: việc nhận nuôi trẻ em không xuất phát từ tư tưởng trọng nam khinh nữ hoặc lựa chọn giới tính của trẻ em; mặt khác, việc cho trẻ em làm con nuôi cũng không nhằm mục đích để sinh con trai, nối dõi tông đường

Kể từ khi thực hiện Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đến nay, một trong những hiện tượng phát sinh tại một số địa phương mà nhiều cơ quan, ban ngành đã phản ánh đó là việc nhiều gia đình cho con làm con nuôi của thương binh, người

có công với cách mạng để hưởng quyền lợi, chế độ, chính sách của Nhà nước như: để được cộng điểm thi vào các trường đại học, hưởng chế độ ưu đãi về bảo hiểm xã hội… Đáng chú ý là trong những trường hợp này, đa số quan hệ nuôi con nuôi không được thiết lập trên thực tế mà chỉ tồn tại trên hồ sơ pháp lý Các bên chủ thể trong quan hệ đã lợi dụng chính sách của Nhà nước để trục lợi mà không nhằm vào quyền lợi của trẻ em để xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi Do đó, pháp luật nuôi con nuôi đã ghi nhận những việc làm đó thuộc những hành vi bị cấm (Điều 13 Luật Nuôi con nuôi năm 2010) Khi vi phạm những hành vi này, quan hệ nuôi con nuôi sẽ chấm dứt và giữa hai bên không còn tồn tại quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con

Thực tế cũng có trường hợp, việc nhận nuôi con nuôi không phù hợp với đạo đức xã hội như trường hợp ông bà nhận cháu làm con nuôi khi cha mẹ đẻ của cháu mất; hoặc anh, chị nhận em làm con nuôi khi cha mẹ không còn Điều này

đã làm đảo lộn ngôi thứ, thứ bậc trong các quan hệ gia đình (ông bà trở thành

“bố mẹ”, cháu lại trở thành “con”; hoặc anh, chị lại trở thành “cha, mẹ” của đứa trẻ Đó là điều trái pháp luật, trái đạo lý - ảnh hưởng đến cả quan hệ thừa kế, quan hệ nội tộc, họ hàng), điều này là không được chấp nhận Bởi lẽ, trường hợp cha mẹ bị chết, thì ông, bà, anh, chị có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cháu/em,

đó là trách nhiệm nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, không cần phải xác lập quan hệ nuôi con nuôi thì mới ràng buộc được trách nhiệm của các bên Pháp luật đã ghi nhận hành vi lợi dụng này thuộc một hành vi bị cấm Có thể nói,

22 Xem Khoản 2, Điều 4 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Trang 35

những hành vi bị cấm được ghi nhận trong Điều 13 Luật Nuôi con nuôi đã tạo ra

cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi tương tự xảy ra trong thực tiễn

2.1.1.3 Nguyên tắc thứ ba: Chỉ cho trẻ em làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước

Nhà nước Việt Nam vẫn luôn ưu tiên việc trẻ em được nhận nuôi ở trong nước hơn là làm “con nuôi ở nước ngoài”23 Lý do là xuất phát từ lợi ích tốt nhất của trẻ em Môi trường gốc của trẻ em không chỉ là môi trường huyết thống mà còn có thể được hiểu ở một góc độ rộng hơn là môi trường quốc gia gốc, quan điểm của cộng đồng quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng là đảm bảo cho trẻ

em được sống ở quốc gia gốc trước tiên, điều này góp phần đảm bảo sự an toàn cho trẻ cùng với sự phát triển hài hòa về xã hội và văn hóa

Ở môi trường quốc gia gốc, trẻ em đã quen với điều kiện môi trường sống, khí hậu, ngôn ngữ, phong tục tập quán… và chắc chắn khi thay đổi sang môi trường mới, một quốc gia khác thì trẻ em sẽ gặp những khó khăn nhất định và phải mất thời gian để thích nghi Quy định này của Luật Nuôi con nuôi phù hợp với sự phát triển tâm lý của trẻ cũng như mục đích của việc nuôi con nuôi và tương thích với quy định tại Khoản 2 Điều 21 Công ước quyền trẻ em; Hơn nữa còn góp phần giảm tình trạng dựa dẫm quá mức vào sự hỗ trợ nhân đạo đối với trẻ em; tình trạng hướng ngoại, chỉ muốn cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài

mà không coi trọng việc cho nhận con nuôi trong nước hay việc cơ sở nuôi dưỡng môi giới cho việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài vì tư lợi…, đồng thời thể hiện tinh thần nhân văn xuyên suốt các quy định về nuôi con nuôi trong các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam

Việc ghi nhận nguyên tắc này đã cho thấy sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ quyền được sống của trẻ Bởi trẻ em cũng giống như mọi người, đương nhiên được hưởng quyền được sống chung với cha mẹ đẻ, được cha mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ Việc tìm cho trẻ em một gia đình ở nước ngoài là giải pháp tối ưu nhất đối với trẻ khi trẻ không thể có được gia đình trong nước nhận nuôi, môi trường gia đình sẽ giúp trẻ được chăm sóc sức khỏe, thể hiện, phát huy năng lực của bản thân…

23

Trang 36

Đảm bảo cho nguyên tắc này được thực thi, pháp luật nuôi con nuôi Việt Nam đã triển khai rất cụ thể thông qua quy trình việc giải quyết làm con nuôi, theo đó quy định cho trẻ em được làm con nuôi trong nước trước tiên Trước khi Luật Nuôi con nuôi được ban hành, việc giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài không phải qua bất cứ thủ tục nào để tìm gia đình thay thế trong nước, mà trẻ em có thể được giải quyết ngay cho làm con nuôi ở nước ngoài nếu đủ điều kiện24 Từ khi Luật Nuôi con nuôi năm 2010 có hiệu lực pháp luật, việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài phải tuân thủ chặt quy trình giới thiệu trẻ làm con nuôi Theo đó, người nước ngoài trong trường hợp không được phép nhận nuôi đích danh thì gửi Hồ sơ nhận con nuôi đến Cục Con nuôi quốc tế Bộ Tư pháp thông qua con đường ngoại giao hoặc cơ quan con nuôi nước ngoài tại Việt Nam Trên cơ sở đó, Hồ sơ của người nhận nuôi sẽ được chuyển về Sở Tư pháp Sở Tư pháp nhận Hồ sơ này thì tiến hành phối hợp với các Cơ sở bảo trợ xã hội để giới thiệu trẻ làm con nuôi Đây là cách thức để Việt Nam thực hiện tốt nhất nguyên tắc chỉ cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài khi không tìm được gia đình thay thế ở trong nước

Đối với việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, thủ tục giới thiệu trẻ em cho gia đình cha mẹ nuôi là việc ghép những nhu cầu của trẻ em với những tiêu chuẩn của cha mẹ và gia đình nhận con nuôi, đây là điều cần thiết để bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em và cần được các nhà chuyên môn thực hiện một cách chuyên nghiệp và cẩn trọng, cha mẹ nuôi người nước ngoài không được tự mình lựa chọn hoặc thông qua danh sách ảnh để chọn con nuôi

Trên thực tế, Việt Nam đã có nhiều trại trẻ mồ côi, Cơ sở trợ giúp xã hội, mái ấm tình thương, bảo đảm việc chăm sóc thay thế cho trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi Tính đến tháng 9/2017, trong 30 năm qua, làng trẻ em SOS Việt Nam đã và đang nuôi dưỡng 5.800 trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi và có hoàn cảnh khó khăn25 Mạng lưới các Cơ sở trợ giúp xã hội đã được quy hoạch trên phạm vi toàn quốc

24 Nguyễn Phương Lan (chủ nhiệm, 2017), Luật Nuôi con nuôi – Thực tiễn thi hành và giải pháp hoàn thiện,

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.29-30

25 Anh Đức (2017), “Làng trẻ em SOS Việt Nam kêu gọi cộng đồng hướng về những đứa trẻ thiếu may mắn”, Báo tin tức – Thông tấn xã Việt Nam, ngày truy cập: 10/8/2018

Trang 37

với hơn 418 cơ sở26 Có thể nói mạng lưới này chưa thực sự phủ khắp đến từng địa phương nhưng đã cho thấy nỗ lực của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ quyền trẻ em Tuy nhiên, việc chăm sóc thay thế trên chỉ là giải pháp tình thế, tạm thời còn cách tốt nhất vẫn là đảm bảo để trẻ được sống trong môi trường gia đình Vì thế, các địa chỉ trên cũng là nơi để chúng ta tìm nguồn giới thiệu cho trẻ làm con nuôi Thực tế, cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho trẻ làm con nuôi trong nước trước tiên, khi trẻ không có người trong nước nhận làm con nuôi thì mới có thể thực hiện thủ tục giới thiệu trẻ cho người nước ngoài nhận nuôi Quy định này được đảm bảo chặt chẽ thông qua các quy trình giải quyết việc cho, nhận con nuôi, đặc biệt là trường hợp người nước ngoài không thuộc trường hợp nhận nuôi đích danh

Việc tìm gia đình thay thế trong nước được thực hiện ở 3 cấp (xã, tỉnh, trung ương) trong thời hạn 150 ngày (đối với trẻ em bị bỏ rơi, kể cả thời gian tìm thân nhân cho trẻ theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch) hoặc 180 ngày (đối với trường hợp trẻ em mồ côi hoặc trẻ em có cha mẹ đẻ nhưng cha mẹ đẻ không

có điều kiện nuôi dưỡng) Nếu hết thời hạn này mà không có người trong nước nhận làm con nuôi, thì trẻ em mới được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài

Theo Điều 5 Luật Nuôi con nuôi năm 2010, thứ tự lựa chọn cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài thường trú ở nước ngoài là biện pháp cuối cùng, khi các lựa chọn trên không thực hiện được Với đối tượng không phải họ hàng ruột thịt, pháp luật đặt ra thứ tự ưu tiên căn cứ vào yếu tố lãnh thổ và yếu tố quốc tịch Thứ nhất, công dân trong nước, ở môi trường trong nước, trẻ vẫn được sống gần gũi trong cùng một nền văn hóa của nước gốc Cha mẹ nuôi cùng quốc tịch

sẽ dễ dàng cho sự hòa nhập của trẻ Thứ hai, công dân nước ngoài thường trú tại Việt Nam: Việc tiếp tục được sinh sống tại quốc gia gốc là cách thức mà pháp luật Việt Nam đặt ra để hướng trẻ em được hưởng quyền và lợi ích phù hợp hơn Trên lãnh thổ Việt Nam, trẻ sẽ được bảo vệ toàn diện theo pháp luật Việt Nam trong trường hợp bị xâm hại Thứ ba, là công dân Việt Nam định cư ở nước

26 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2018), “Hội thảo chia sẻ báo cáo kết quả nghiên cứu về sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên”, Cổng Thông tin điện tử Bộ LĐ-TBXH, ngày truy cập: 10/8/2018

Trang 38

ngoài sẽ được ưu tiên hơn người nước ngoài thường trú ở nước ngoài do công dân Việt Nam dễ đồng cảm với trẻ hơn bởi có nguồn gốc văn hóa gần gũi và dễ thích nghi hơn

Công tác giải quyết việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi đã đem lại những kết quả tích cực, giúp nhiều trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình, đảm bảo trẻ em phát triển toàn diện về cả thể chất lẫn tinh thần Đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam thường trú ở trong nước làm con nuôi chủ yếu là những người đi lao động, học tập sau

đó ở lại định cư tại các nước như Séc, Hungari, Úc… Đối tượng trẻ em được nhận làm con nuôi chủ yếu là trẻ em thuộc diện có quan hệ họ hàng, đang ở độ tuổi đi học

Việc quy định ưu tiên nuôi con nuôi trong nước của Luật Nuôi con nuôi sẽ tạo cơ sở pháp lý nhằm thực hiện tốt quy trình giải quyết nuôi con nuôi trong nước, đảm bảo quyền trẻ em được sống trong môi trường gốc, gần gũi với đặc điểm và nhu cầu của trẻ Mặc dù cũng có quan điểm cho rằng nuôi con nuôi nước ngoài sẽ tạo cho con nuôi một cuộc sống vật chất đầy đủ hơn.Tuy nhiên, xét về sự hòa nhập về xã hội, ngôn ngữ, văn hóa thì tại quốc gia gốc, trẻ em sẽ tiếp nhận dễ dàng hơn Chỉ khi thực hiện tất cả các biện pháp mà không thể tìm được gia đình thay thế trong nước cho trẻ trong thời hạn luật định (Khoản 2 Điều

15 Luật Nuôi con nuôi năm 2010) thì trẻ mới được giới thiệu làm con nuôi ở nước ngoài

Nguyên tắc trên còn được cụ thể hóa tại Điều 36 của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 Theo quy định này, trước và trong quá trình giới thiệu làm con nuôi ở nước ngoài, người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì vẫn được xem xét và giải quyết Cụ thể, trước khi Sở Tư pháp xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài, nếu có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì người đó liên

hệ với Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi trẻ em thường trú để xem xét, giải quyết; nếu việc nhận con nuôi đã hoàn thành thì UBND cấp xã báo cáo Sở Tư pháp để chấm dứt việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài Đây là biện pháp tích cực nhằm đảm bảo tối đa quyền của trẻ em được nuôi dưỡng trong mái

Trang 39

ấm gia đình tốt nhất ngay trên lãnh thổ Việt Nam và việc giải quyết cho trẻ làm con nuôi ở nước ngoài chỉ là biện pháp, lựa chọn cuối cùng

Khi tiến hành giải quyết cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài, việc xem xét, xác minh điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi được tiến hành một cách chặt chẽ, cẩn trọng Bên cạnh đó, Luật nuôi con nuôi còn quy định nghĩa vụ thông báo của người nuôi về tình trạng sức khỏe, thể chất, tinh thần, sự hòa nhập của con nuôi sáu tháng một lần trong thời hạn 03 năm Điều này cho thấy sự

“giám sát” rất chặt chẽ khi cho trẻ làm con nuôi để đảm bảo cho trẻ em được sống trong môi trường gia đình đúng nghĩa để phát triển toàn diện

Theo thống kê của Cục Con nuôi, trong giai đoạn 2011 - 2017, toàn quốc đã giải quyết 21.233 trường hợp trẻ em được cho làm con nuôi, trong đó có 18.372 trường hợp con nuôi trong nước, (chiếm tỷ lệ lớn, đạt 86,5%) và 2.861 trường hợp con nuôi nước ngoài (đạt 13,5%)27 Từ những con số trên ta có thể thấy việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi về cơ bản đáp ứng lợi ích và nhu cầu của trẻ

em, tỷ lệ giải quyết việc nhận con nuôi trong nước chiếm phần lớn, gấp hơn 6 lần

so với tỷ lệ việc nhận con nuôi nước ngoài Điều đó khẳng định Nhà nước ta vẫn

ưu tiên cho trẻ em được sống trong môi trường gia đình trong nước, chỉ khi không có gia đình trong nước thì mới xem xét cho trẻ làm con nuôi nước ngoài Như vậy, các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi có mối liên hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau, tạo thành cơ chế giải quyết việc nuôi con nuôi một cách thống nhất trong toàn bộ quá trình từ lúc xác lập quan hệ nuôi con nuôi đến khi chấm dứt Đảm bảo những nguyên tắc này luôn được triển khai một cách nhất quán và đúng đắn trên thực tế, trẻ em có quyền được sống và được đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất để tồn tại và phát triển thể chất trong môi trường gia đình, cụ thể là nơi ở, thức ăn, quyền được khai sinh sau khi ra đời… Điều này cũng chứng minh nhà nước, xã hội luôn quan tâm đến việc bảo vệ quyền của những đối tượng yếu thế, còn non nớt về mọi mặt

2.1.2 Điều kiện xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

Quán triệt tinh thần của việc đảm bảo quyền được sống trong môi trường gia đình của trẻ em, pháp luật Việt Nam cũng đã quy định cụ thể qua điều kiện nuôi con nuôi, nhằm đảm bảo việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi phù

27 Nguyễn Thị Hảo (2018), “Đánh giá tình hình thực hiện Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật

Trang 40

hợp với mục đích, ý nghĩa xã hội của việc nuôi con nuôi Chỉ khi các bên chủ thể đáp ứng được những điều kiện nhất định thì trẻ em mới có thể sống trong môi trường gia đình đúng nghĩa và phát triển một cách toàn diện cụ thể như sau:

2.1.2.1 Điều kiện đối với người nhận nuôi

Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định điều kiện của người nhận con nuôi

cụ thể tại Điều 14:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

- Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

- Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

- Có tư cách đạo đức tốt

Ngoài ra, người nhận nuôi con nuôi còn là những chủ thể không thuộc các trường hợp không được nhận nuôi con nuôi được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 14 Luật nuôi con nuôi:

- Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

- Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

- Đang chấp hành hình phạt tù;

- Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em

Người nhận nuôi con nuôi là chủ thể quan trọng trong quan hệ nuôi con nuôi

Để đảm bảo quyền của trẻ em, cơ quan chức năng tiến hành sàng lọc kỹ càng đối với những người nhận con nuôi, từ đó thiết lập môi trường gia đình an toàn, lành mạnh, đảm bảo trẻ được phát triển tốt nhất về thể chất, tâm lý, tinh thần cũng như nhân cách Người nhận nuôi con nuôi có thể là một cặp vợ chồng được pháp luật ghi nhận (hai người khác giới tính và có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam), cũng có thể là người độc thân, có đầy đủ bốn điều kiện trên Trường hợp một người đang có vợ hoặc chồng muốn xin nhận nuôi con nuôi thì bắt buộc phải có sự đồng thuận của

Ngày đăng: 02/08/2019, 19:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm