Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ giúp Tòa án đảm bảo cho việc xét xử được chính xác, khách quan, đúng pháp luật mà còn bảo vệ quyền, lợi ích hợp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ TUYẾT TRINH
CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo tại Đại học Luật Hà Nội, những người đã nhiệt tình giảng dạy, giúp tôi có những kiến thức quý báu và bổ ích về chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Luật
Hà Nội, Khoa Đào tạo Sau Đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành chương trình học và đề tài nghiên cứu
Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Văn Trung – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành Luận văn này
Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn tới TAND thành phố Thái Bình, TAND tỉnh Thái Bình đã cung cấp cho tôi những số liệu, bản án liên quan tới
đề tài Luận văn, các cán bộ thư viện đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành Luận văn này và tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè, những người đã động viên, giúp
đỡ tôi trong quá trình làm Luận văn
Mặc dù tôi đã cố gắng để thực hiện đề tài Luận văn một cách hoàn thiện nhất, song do chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học cũng như còn nhiều hạn chế về kiến thức nên không thể tránh được những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của quý thầy, cô để Luận văn hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 09/2018
Tác giả
Trang 6MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Chương 1: KHÁI NIỆM VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm
1.2 Các quy định của pháp luật hiện hành về chuẩn bị xét xử
1.2.2 Những công việc tiến hành trong thời gian chuẩn bị xét xử
Trang 7KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……… 41
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN……… 43
2.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại TAND thành phố Thái Bình……… 43
2.1.1 Thực tiễn việc áp dụng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự……… 47
2.1.2 Những công việc tiến hành trong thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm tại TAND thành phố Thái Bình.……… 48
2.2 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại……… 61
2.3 Kiến nghị hoàn thiện ……… 66
2.3.1 Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự……… 66
2.3.2 Về thực hiện pháp luật……… 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……… 76
KẾT LUẬN……… 78
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo
vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Cùng với các quyền con
người, quyền công dân khác, quyền dân sự được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện là một chế định có ý nghĩa rất quan trọng Để bảo vệ cho các quyền dân sự, Nhà nước quy định bằng nhiều cách thức khác nhau Nhưng đặc biệt hơn, Nhà nước còn giao việc bảo vệ quyền dân sự cho Tòa án
Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tòa án cũng là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự chủ yếu trong tố tụng dân sự Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“ Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”
Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, quyền xét xử Tòa án bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, tổ chức thông qua các hoạt động
tố tụng dân sự của mình Theo sự phát triển của xã hội, pháp luật ngày càng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện để nâng cao việc thực hiện các hoạt động tố tụng của Tòa án Bên cạnh đó, vẫn có nhiều quy định còn hạn chế, vướng mắc khi thực hiện trong thực tế, dẫn đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự chưa thật sự được đảm bảo, trong đó có quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ giúp Tòa án đảm bảo cho việc xét xử được chính xác, khách quan, đúng pháp luật mà còn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, bởi vậy việc nghiên cứu quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực hiện pháp luật trên thực tiễn là hết sức cần thiết Dù
Trang 9nghiên cứu dưới góc độ nào thì chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu cả trong việc điều chỉnh pháp luật và áp dụng pháp luật Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, tác giả
chọn đề tài luận văn thạc sỹ là: “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Do tính cấp thiết của đề tài cả về khoa học và thực tiễn nên chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự cũng đã được thể hiện ở một số công trình nghiên cứu như sau:
-“Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, Nguyễn Triều Dương, Tạp chí
Luật học, năm 2005;
- “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự”, Bùi Thị Thu Hiền, Luận
văn Thạc sỹ Luật học, năm 2014;
- “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự”, Nông Thị Biển, Luận
văn Thạc sỹ Luật học, năm 2017;
- “Quy định về hòa giải vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 và những nội dung cần làm rõ”, Bùi Thị Huyền, Tạp chí Luật
học, 2015;
- “Bàn về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải vụ án dân sự”, Đặng Thị Thanh Hoa, Tạp chí Tòa án nhân
dân, 2017;…
Ngoài ra còn rất nhiều ấn phẩm sách, tạp chí, báo cáo đề cập tới vấn đề trên Các công trình nghiên cứu đó đã góp phần cung cấp những kiến thức pháp lí, thông tin về thực tiễn liên quan đến chuẩn bị xét xử sơ thẩm, mang cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về một giai đoạn trong
tố tụng dân sự tại Tòa án, chỉ ra những ưu điểm của quy định pháp luật ở từng thời kỳ, bên cạnh đó còn nêu những điểm cần làm rõ khi quy định pháp luật hiện tại chưa đáp ứng được thực tế Theo sự phát triển của xã hội, quy định của pháp luật ngày càng được bổ sung hoàn thiện, chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là
Trang 10cần thiết và đúng đắn Ở luận văn này, ngoài việc nêu các quy định của pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, tác giả còn nêu thực tiễn việc thực hiện các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình nên có nhiều điểm mà các luận văn về đề tài này phân tích theo hướng nghiên cứu chưa đề cập đến
3 Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu
Mục đích mà luận văn này hướng tới chính là việc làm rõ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự, đồng thời nêu một số vấn đề trong thực tiễn liên quan đến chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình và kiến nghị hoàn thiện quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong luật tố tụng dân sự Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu được xác định là các quan điểm khoa học pháp lí về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, các quy định pháp luật
về chuẩn bị xét xử sơ thẩm của Việt Nam và một số quốc gia khác, các thông tin, tư liệu thực tế và một số bản án của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình liên quan đến vấn đề này, cụ thể:
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về chuẩn bị xét xử sơ thẩm bao gồm: Định nghĩa, đặc điểm, ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự;
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về chuẩn
bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với các quy định pháp luật theo các thời kỳ và với các quy định về chuẩn
bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của một số nước trên thế giới, qua đó thấy được điểm tiến bộ, hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành;
- Thực tiễn thực hiện quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, qua đó rút ra được những ưu điểm, hạn chế của pháp luật khi ứng dụng vào thực tiễn;
- Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng dân
sự về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Trang 11Trong phạm vi luận văn này, đề tài được nghiên cứu dưới góc độ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các văn bản pháp luật có liên quan và việc thực hiện các quy định này tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu đề tài bao gồm: Phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử, phân tích, chứng minh, kết hợp với phương pháp so sánh, tổng hợp, liệt kê,
- Phương pháp phân tích: Xem xét chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự qua từng vấn đề, khía cạnh nhỏ để hiểu được bản chất của các quy định;
- Phương pháp lịch sử: Qua quy định pháp luật về chuẩn bị xét xử
sơ thẩm vụ án dân sự qua từng giai đoạn để thấy được sự kế thừa và phát triển của pháp luật;
- Phương pháp so sánh: Qua việc so sánh quy định pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự giữa Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới, giữa quy định pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự hiện hành và quy định của các thời kỳ trước để thấy được những điểm cần học tập, phát triển hoặc cần sửa đổi bổ sung cho phù hợp
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả rất mong muốn luận văn sẽ trở thành một trong những tài liệu cung cấp cho người đọc những thông tin về các vấn đề pháp lí và thực tiễn áp dụng quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự; qua đó người đọc sẽ có một cái nhìn tổng quát về một giai đoạn của tố tụng dân sự, hiểu rõ hơn về trình tự thủ tục tố tụng tại Tòa án và nắm bắt được những ưu điểm, hạn chế của quy định pháp luật
về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 Bên cạnh đó, qua thực tiễn việc thực hiện các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình chúng ta sẽ rút ra được những kinh nghiệm trong việc áp dụng các quy
Trang 12định pháp luật vào thực tế, qua đó có phương hướng điều chỉnh, bổ sung quy định pháp luật để đảm bảo được tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm 02 chương:
Chương 1: Khái niệm về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và các quy định của pháp luật hiện hành
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình và một số kiến nghị hoàn thiện
Trang 13Chương 1 KHÁI NIỆM VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Chuẩn bị xét xử là một giai đoạn trong sơ thẩm vụ án dân sự Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) không đưa ra một khái niệm cụ thể về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (CBXXSTVADS)
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “chuẩn bị” là: “Tạo ra cho có sẵn
Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng định nghĩa: “Xét xử là hoạt
động do Tòa án tiến hành theo pháp luật tố tụng, trong đó Tòa án sau khi nghiên cứu một cách khách quan toàn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ
án, tiến hành giải quyết và xử lý vụ án bằng việc ra bản án và các quyết
Từ điển luật học định nghĩa: “Xét xử sơ thẩm là một từ hán việt, có
vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền”, mà ta sẽ xác định là “đưa
Trang 14vụ án ra xét xử tại cấp sơ thẩm”, tức là đưa vụ án ra xét xử tại cấp xét xử thứ nhất
Từ điển luật học, Bộ Tư Pháp – Viện Khoa học Pháp lý khái quát:
Vụ án: Một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa
ra tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết Vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tư pháp hoặc trọng tài Theo luật tổ chức tòa án nhân dân, tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại, hành chính và giải quyết những việc khác theo
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, thì “chuẩn bị xét xử sơ
thẩm” là “Hoạt động do Tòa án tiến hành sau khi thụ lý vụ án dân sự để
Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa: “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
dân sự là những hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành từ khi thụ lý vụ án đến khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc xét xử tại cấp xét xử thứ nhất của Tòa án”
Điều 102 Hiến pháp năm 2013, Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) năm 2014, Điều 1 BLTTDS năm 2015 quy định: Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự bao gồm các tranh chấp về dân
sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động Điều 26, 28,
30, 32 BLTTDS năm 2015 đã liệt kê các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
CBXXST nói chung và CBXXSTVADS nói riêng thường được
nghiên cứu dưới 2 góc độ: thứ nhất, là một giai đoạn của tố tụng dân sự
Trang 15bao gồm tất cả các hoạt động từ sau khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử (như phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, lập hồ sơ, thụ lý vụ án, hòa giải, ban hành các quyết định công nhận thỏa thuận, tạm đình chỉ, đình chỉ
giải quyết hay quyết định đưa vụ án ra xét xử) và thứ hai, là các hoạt
động chuẩn bị cho xét xử sơ thẩm, theo đó những người tiến hành tố tụng
và tham gia tố tụng tiến hành các hoạt động cụ thể để chuẩn bị cho việc xét xử sơ thẩm Ở Việt Nam, CBXXSTVADS thường chỉ được nghiên cứu dưới góc độ thứ hai do ảnh hưởng nhiều của luật thực định Ở luận văn này, tác giả nghiên cứu CBXXSTVADS dưới góc độ là các hoạt động chuẩn bị cho xét xử sơ thẩm, cụ thể là những hoạt động tố tụng sau: phân công Thẩm phán; thông báo về việc thụ lý vụ án; lập hồ sơ vụ án; nghiên cứu hồ sơ vụ án; phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; ban hành các quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử
sơ thẩm
1.1.2 Đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
- Thứ nhất, chuẩn bị xét xử vụ án dân sự được bắt đầu từ sau khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi Thẩm phán ban hành Quyết định đưa vụ
án ra xét xử
Tác giả Bùi Thị Huyền đã viết: “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân
Khi thụ lý vụ án, Tòa án đã xác định trách nhiệm của mình trong việc giải quyết vụ án dân sự Khi vào sổ thụ lý, Tòa án phải thực hiện các hoạt động tố tụng để CBXXSTVADS Thời điểm thụ lý vụ án cũng là thời điểm pháp lý để tính thời hạn việc CBXXST của Tòa án Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà Thẩm phán giải quyết vụ án chưa ban hành được các quyết định theo quy định của pháp luật, thì vụ án này sẽ được tính là quá
6
Nguyễn Công Bình chủ nhiệm đề tài (2002), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện một số
chế định cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà
Nội, tr.109
Trang 16hạn, Thẩm phán sẽ phải chịu trách nhiệm giải trình lý do quá hạn Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án sẽ ban hành Thông báo thụ lý vụ án gửi cho các đương sự trong vụ án Khi các đương
sự trong vụ án được thông báo về việc thụ lý vụ án thì quyền, nghĩa vụ của họ trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng phát sinh Bên cạnh đó, sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán sẽ tiến hành một loạt các hoạt động tố tụng như: lập hồ sơ vụ án, triệu tập đương sự, thu thập, xác minh chứng
cứ, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải,… Khi xác định hồ sơ vụ án đã đầy đủ thì Thẩm phán sẽ ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, đây là căn cứ chấm dứt hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm
- Thứ hai, CBXXSTVADS là điều kiện cần để đưa vụ án ra xét xử
CBXXSTVADS là những hoạt động tố tụng được thực hiện để đưa
vụ án ra xét xử, bởi vậy Thẩm phán phải thực hiện những hoạt động cần thiết cho việc giải quyết vụ án như: lập và nghiên cứu hồ sơ, thu thập, xác minh chứng cứ, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải,…để đảm bảo khi xét xử, Hội đồng xét xử cấp
sơ thẩm sẽ phán quyết công bằng, chính xác, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự
- Thứ ba, CBXXSTVADS có mối liên hệ chặt chẽ với các giai đoạn
tố tụng khác
Sơ thẩm là cấp xét xử đầu tiên của Tòa án CBXXSTVADS là việc tiến hành các công việc cần thiết nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc xét xử của Tòa án tại cấp sơ thẩm Như vậy, việc CBXXST có ảnh hưởng rất lớn đến việc xét xử sơ thẩm và các cấp xét xử sau này CBXXST có tốt thì việc xem xét, đánh giá các tài liệu chứng cứ trong hồ
sơ vụ án của Hội đồng xét xử sẽ chính xác, đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Hơn thế nữa, khi bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng phải căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được cấp sơ thẩm thu thập để đánh giá kháng
Trang 17cáo, kháng nghị Đối với thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, các hoạt động CBXXST cũng có mối liên hệ chặt chẽ để xem xét đánh giá căn cứ của việc khiếu nại, kháng nghị giám đốc thẩm
- Thứ tư, hòa giải là hoạt động tố tụng bắt buộc trong giai đoạn CBXXSTVADS
Hòa giải là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự Trong CBXXSTVADS, Tòa án phải tiến hành hòa giải, trừ những vụ án không tiến hành hòa giải được và những vụ án không được hòa giải Quá trình giải quyết vụ án dân sự, quyền tự thỏa thuận của đương sự được đề cao nhưng riêng trong CBXXSTVADS thì Tòa án phải tiến hành hòa giải, đối với những hoạt động khác thì hòa giải không phải là hoạt động tố tụng bắt buộc phải tiến hành Việc hòa giải trong CBXXST có ý nghĩa rất quan trọng, giúp rút ngắn quá trình tố tụng, giảm thiểu chi phí tố tụng Khi hòa giải, Tòa án sẽ đóng vai trò là người hướng dẫn, phân tích pháp luật, giúp các đương sự tìm được tiếng nói chung trong việc giải quyết tranh chấp
Hòa giải trong CBXXSTVADS cũng là hoạt động tố tụng để phân biệt với giai đoạn phúc thẩm, bởi hiện nay pháp luật chưa có quy định cụ thể đối với việc hòa giải trong giai đoạn phúc thẩm Khi CBXXSTVADS nếu các đương sự hòa giải được thì Tòa án sẽ ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, còn trong giai đoạn phúc thẩm, Tòa
án sẽ chỉ ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong bản án mà không
ban hành Quyết định trên
1.1.3 Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
- Thứ nhất, CBXXSTVADS đảm bảo tối đa cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
Bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được ghi nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự (Điều 9 BLTTDS năm 2015) Bên cạnh việc pháp luật quy định đương sự có quyền tự mình hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích
Trang 18hợp pháp của mình, pháp luật còn quy định trách nhiệm của Tòa án trong việc tạo điều kiện, hỗ trợ, bảo đảm cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
Đối với nhiều quốc gia trên thế giới như Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Vương quốc Anh,… thì pháp luật quy định việc thu thập chứng cứ trong quá trình chuẩn bị xét xử do đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ (Luật sư) thực hiện Bởi trình độ dân trí của người dân, điều kiện kinh tế của quốc gia cao nên việc chủ động thu thập chứng cứ được giao cho đương sự Ở nước ta, trình độ dân trí còn chưa cao, pháp luật còn chưa được phổ biến rộng rãi, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa; một bộ phận lớn người dân không đủ điều kiện kinh tế để mời người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính vì thế pháp luật Việt Nam đã đặt ra trách nhiệm của Tòa án phải tiến hành những hoạt động tố tụng đã được quy định cụ thể trong BLTTDS để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đương sự, một trong số đó là hoạt động CBXXSTVADS
- Thứ hai, CBXXSTVADS tạo điều kiện cho các bên đương sự cung
cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ
và hợp pháp
Điều 93 BLTTDS năm 2015 quy định: Chứng cứ trong vụ việc dân
sự là những gì có thật được đương sự giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp Chứng cứ giúp cho Tòa án làm rõ được những tình tiết trong vụ án, đồng thời thông qua việc cung cấp chứng cứ, các bên đương sự chứng minh được yêu cầu của mình là có căn cứ Trong CBXXSTVADS, các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ cho Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
- Thứ ba, CBXXSTVADS giúp Tòa án tiến hành các công việc cần
thiết để đảm bảo cho hoạt động xét xử được chính xác, khách quan, đúng pháp luật
Trang 19Trong CBXXSTVADS, Tòa án phải tiến hành một loạt các hoạt động tố tụng để chuẩn bị cho việc xét xử Việc chuẩn bị càng được thực hiện kỹ càng thì kết quả thu được sẽ càng cao Các hoạt động tố tụng trong CBXXST: lập hồ sơ vụ án, thu thập tài liệu, chứng cứ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải… được thực hiện tốt, thì việc xét xử sơ thẩm sẽ công bằng, chính xác, đạt hiệu quả cao, giảm thiểu tối đa tình trạng kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại giám đốc thẩm, tái thẩm dẫn đến hệ quả phải sửa án, hủy án
Các hoạt động tố tụng trong CBXXSTVADS có ý nghĩa rất quan trọng, tuy không đưa ra phán quyết nhưng nó là tiền đề, cơ sở pháp lý đảm bảo cho việc xét xử của Tòa án được toàn diện, đúng pháp luật
1.2 Các quy định của pháp luật hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.2.1 Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Khi bàn về CBXXSTVADS thì điều đầu tiên chúng ta cần nhắc tới
đó là thời hạn CBXXSTVADS Theo Giáo sư Nguyễn Huy Đẩu trong
Luật Dân sự tố tụng Việt Nam:
Thời gian được ấn định dài hay ngắn là tùy ở bản chất, tính cách hệ trọng của mỗi việc: Luật không muốn đương sự quyết định hấp tấp, hoặc phải chờ đợi quá lâu; Tòa cũng không thể phán quyết ngay mà không suy xét kỹ lưỡng hoặc lưu giữ hồ
sơ mãi mới xét xử Hai thái độ cực đoan của cả đương nhân lẫn Thẩm phán đều có phương hại đến sự điều hành công lý
và truy tầm sự thật Như vậy, mỗi thời hạn thủ tục có lý do
Đây là một quan điểm quan trọng trong việc xây dựng các quy định
về thời hạn tố tụng sau này Khoảng thời gian này phải được quy định phù hợp để đảm bảo Tòa án tiến hành thực hiện các hoạt động tố tụng và những công việc cần thiết khác để làm sáng tỏ các vấn đề trong vụ án, và
7
Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật Dân sự Tố tụng Việt Nam, Nxb Khai Trí, Sài Gòn, tr.448
Trang 20cũng đủ thời gian cho các đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình Nếu thời hạn này được quy định quá dài hoặc quá ngắn, nó sẽ dẫn đến những hệ lụy: ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án, không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
Thời hạn CBXXSTVADS được tính từ ngày Tòa án vào sổ thụ lý đến ngày Tòa án ban hành một trong 04 quyết định: Quyết định công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự, Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hoặc Quyết định đưa
vụ án ra xét xử Việc quy định thời hạn là nhằm mục đích đặt ra trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng đối với việc giải quyết vụ án, trách nhiệm cho các đương sự thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ của mình
Tùy theo tính chất của từng loại vụ án mà pháp luật quy định thời hạn chuẩn bị xét xử của từng loại vụ án là khác nhau Khoản 1 Điều 203 BLTTDS năm 2015 quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử như sau:
Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:
a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này
Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết
Trang 21định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật
Về thời hạn giải quyết vụ án, theo quy định tại Điều 203 BLTTDS năm 2015, thời gian giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với các vụ án tranh chấp về dân sự hôn nhân
và gia đình quy định tại Điều 26, 28 của BLTTDS là 4 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án và đối với các vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại và lao động quy định tại Điều 30 và 32 BLTTDS năm 2015 thì thời hạn CBXXSTVADS là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án Việc BLTTDS năm
2015 quy định thời hạn chuẩn bị xét xử khác nhau đối với từng loại vụ án
là sự kế thừa và phát triển của các quy định pháp luật đã được Nhà nước
ta ban hành quy định về thời hạn giải quyết các vụ án dân sự, lao động và kinh tế tại Điều 47 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm
1989, Điều 36 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm
1996, Điều 34 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Điều 179 BLTTDS năm 2004 do yêu cầu cấp thiết cần giải quyết nhanh chóng các loại tranh chấp trên
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể ra Quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 2 tháng đối với vụ án dân sự, hôn nhân gia đình và không quá 1 tháng đối với vụ án kinh doanh, thương mại và lao động Về căn cứ gia hạn, BLTTDS quy định 3 căn cứ gia hạn thời hạn chuẩn bị xét
xử bao gồm:
“Những vụ án có tính chất phức tạp”: điểm a khoản 3 Điều 14 Nghị
quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai
“thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS quy
định:
Trang 22Những vụ án có tính chất phức tạp là những vụ án có nhiều đương sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹ thuật phức tạp; những vụ án mà đương sự
là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh
sự, ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài,…
“Trở ngại khách quan”: điểm b khoản 3 Điều 14 Nghị quyết
05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND
Tối cao quy định “Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh
khách quan tác động như: thiên tai, địch họa, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu,… làm cho Toà án không thể giải quyết được vụ án trong thời hạn quy định”
“Sự kiện bất khả kháng” đây là một điểm mới trong việc pháp luật
quy định việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử Theo khoản 1 Điều 156
BLDS năm 2015 (thay thế khoản 1 Điều 161 BLDS năm 2005), “Sự kiện
bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép” Đây là những sự kiện xảy ra ngoài
ý chí của các chủ thể, các chủ thể không thể lường trước được, hoặc biết trước nhưng không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép để khắc phục sự kiện đó
Khoản 1 Điều 203 BLTTDS năm 2015 đã kế thừa cơ bản các quy định của Điều 179 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) về thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng có bổ sung thêm quy định về việc tính lại
thời hạn chuẩn bị xét xử, theo đó: “Trường hợp có quyết định tạm đình
Trang 23chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật”
Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có Quyết định đưa vụ án ra xét
xử, Tòa án phải mở phiên tòa, trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng
Việc quy định thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các vụ án kinh doanh thương mại, lao động là ngắn Thực tế cho thấy, việc quy định thời hạn đối với các vụ án kinh doanh thương mại, lao động là 02 tháng là không đáng kể
Bên cạnh đó, thực tiễn cho thấy việc quy định thời hạn như trên rất bất cập đối với việc giải quyết các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài, vì vậy BLTTDS năm 2015 đã bổ sung quy định về thời hạn giải quyết đối với các vụ án này trong Phần thứ tám của Bộ luật: Thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Theo đó, đối với những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài thì phiên họp hòa giải phải được mở sớm nhất là 06 tháng và chậm nhất là 08 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ
án Ngày mở lại phiên họp hòa giải (nếu có) được ấn định cách ngày mở phiên họp hòa giải chậm nhất là 01 tháng; phiên tòa phải được mở sớm nhất là 09 tháng và chậm nhất là 12 tháng, nếu hoãn thì thời hạn là 01 tháng kể từ ngày ban hành thông báo thụ lý
Điều 476 cũng quy định Toà án phải gửi thông báo thụ lý vụ án, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (sau đây gọi chung là phiên họp hòa giải), mở lại phiên họp hòa giải, mở phiên tòa và mở lại phiên tòa trong văn bản thông báo thụ lý vụ án cho đương sự ở nước ngoài Khi đương sự ở nước ngoài không hợp tác, Tòa sẽ ấn định thời gian mở phiên họp hòa giải và phiên tòa theo quy định này và tiến hành ủy thác tư pháp Quy định này đã phần nào khắc phục được nhược điểm về thời hạn đối với việc giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài bởi việc ủy thác tư pháp
Trang 24thường tốn kém thời gian và chi phí, nhiều trường hợp việc ủy thác tư pháp kéo dài tới vài năm bởi thủ tục ủy thác tư pháp đối với các Tòa án còn gặp nhiều khó khăn do việc thực hiện ủy thác tư pháp là khác nhau đối với các quốc gia, chưa có hướng dẫn cụ thể các kênh thực hiện ủy thác đối với một số quốc gia,…
Đối chiếu với BLTTDS của Liên bang Nga, ta có thể thấy được điểm tương đồng trong việc quy định thời hạn xét xử giữa BLTTDS Việt Nam và BLTTDS của Liên bang Nga Điều 154 BLTTDS năm 2003 của Liên bang Nga quy định:
1 Vụ án dân sự được Tòa án xét xử trong thời hạn 2 tháng kể
từ ngày nhận đơn kiện Nếu vụ án do Thẩm phán hòa giải giải quyết thì được xét xử trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận đơn khởi kiện
2 Vụ án yêu cầu khôi phục việc làm, đòi tiền cấp dưỡng được xét xử trong thời hạn 1 tháng
3 Luật liên bang quy định thời hạn xét xử có thể ngắn hơn đối với 1 số loại vụ án dân sự
Thời hạn giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm được quy định tại BLTTDS Trung Quốc như sau: nếu vụ án giải quyết theo trình tự thông thường thì thời hạn là 6 tháng kể từ ngày thụ lý, nếu cần gia hạn thì Chánh án Tòa án
Khác với quy định tại BLTTDS của Việt Nam, BLTTDS của Cộng hòa Pháp và Nhật Bản lại không quy định thời hạn giải quyết vụ án mà quy định từng thời hạn là do Thẩm phán ấn định Điều 3 BLTTDS Pháp
quy định: “Thẩm phán phải bảo đảm cho quá trình tiến hành tố tụng được
tiến hành theo đúng thủ tục quy định Thẩm phán có quyền ấn định thời
8
Ngô Cường (2010), Việc áp dụng các quy định của BLTTDS trong việc giải quyết các vụ án về
kinh doanh, thương mại (Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung), Hội thảo đánh giá việc áp dụng các quy
định của BLTTDS sau 5 năm triển khai thực hiện, tập trung vào lĩnh vực giải quyết tranh chấp thương mại (Dự án giải quyết tranh chấp thương mại, TANDTC-DANIDA/BSPS4), Hà Nội, tr.5
Trang 25hạn và quyết định những biện pháp cần thiết” 9 Việc quy định Thẩm phán
có quyền ấn định thời hạn tạo điều kiện cho Tòa án chủ động trong việc thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ, cấp, tống đạt văn bản cho các đương sự,… tạo sự linh hoạt, mềm dẻo trong việc giải quyết các tranh chấp dân
sự Đây là một quy định tiến bộ, hiện đại mà pháp luật nước ta nên xem xét áp dụng
Khoản 2 Điều 203 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung và cụ thể hóa các nhiệm vụ, quyền hạn mà Thẩm phán phải thực hiện trong giai đoạn chuẩn
d) Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;
đ) Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này;
e) Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
g) Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này
1.2.2 Những công việc tiến hành trong thời gian chuẩn bị xét xử
sơ thẩm
1.2.2.1 Phân công Thẩm phán
Việc đầu tiên sau khi thụ lý vụ án đó là Tòa án tiến hành phân công
một Thẩm phán giải quyết vụ án dân sự: “Trong thời hạn 03 ngày làm
9
Nhà pháp luật Việt – Pháp (1998), Bộ luật Tố tụng Dân sự của nước Cộng hòa Pháp, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, tr.7
Trang 26việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án” (khoản 2 Điều 197 BLTTDS năm 2015)
Việc phân công Thẩm phán phải đảm bảo nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên (khoản 1 Điều 197 BLTTDS năm 2015) Thực tế tại nhiều Tòa
án nói chung cũng như tại TAND thành phố Thái Bình nói riêng đang áp dụng việc phân công Thẩm phán theo nguyên tắc “xoay vòng” để đảm bảo các vụ án tranh chấp dân sự được phân cho các Thẩm phán đồng đều cả về
số lượng và tính chất vụ việc
Khoản 1 Điều 172 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
quy định “Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án,
Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án” Tuy
nhiên, Điều 174 Bộ luật này quy định về việc thông báo thụ lý như sau:
“Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án” Như vậy, sau khi thụ lý vụ án mà
Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán muộn thì sẽ dẫn đến việc Tòa án
vi phạm quy định về thời hạn thông báo thụ lý vụ án BLTTDS năm 2015
đã sửa đổi, bổ sung theo hướng khi nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án sẽ phân công Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện, nếu đơn khởi kiện đủ điều kiện để thụ lý thì Thẩm phán này có trách nhiệm ban hành Thông báo thụ lý, sau đó Chánh án sẽ phân công Thẩm phán giải quyết vụ
án Quy định này đã khắc phục được hạn chế của quy định tại Điều 172 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) để đảm bảo việc thực hiện thông báo thụ lý vụ án đúng thời hạn
1.2.2.2 Thông báo về việc thụ lý vụ án
Bước tiếp theo của việc CBXXSTVADS đó là Thẩm phán ban hành Thông báo thụ lý vụ án Khác với quy định tại Điều 174 BLTTDS năm
2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) không quy định rõ người có thẩm
quyền ban hành Thông báo thụ lý vụ án, chỉ quy định “Trong thời hạn ba
Trang 27ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án
đã thụ lý vụ án” Khắc phục hạn chế trên và để đảm bảo việc thực hiện
một cách thống nhất, Điều 196 BLTTDS năm 2015 đã quy định rõ trách nhiệm thông báo cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án là của Thẩm phán Đối với
vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án
Nội dung của Thông báo thụ lý phải đảm bảo đầy đủ các nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 196 BLTTDS năm 2015 và theo biểu mẫu
số 30 ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự Việc thông báo thụ lý vụ án sẽ giúp cho các đương sự biết về việc Tòa án đang thụ lý giải quyết tranh chấp giữa các bên, một mặt Tòa án cũng ấn định thời hạn về việc bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có) và các tài liệu, chứng cứ chứng minh
1.2.2.3 Lập hồ sơ vụ án
Lập hồ sơ vụ án có ý nghĩa rất quan trọng trong việc CBXXSTVADS Bởi chỉ khi hồ sơ vụ án được lập một cách đầy đủ, khoa học, logic thì việc giải quyết vụ án mới chính xác
BLTTDS năm 2015 quy định về việc lập hồ sơ vụ án tại Điều 204 như sau:
“1 Hồ sơ vụ án dân sự bao gồm đơn và toàn bộ tài liệu, chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát
Trang 28về việc giải quyết vụ án dân sự […]” Theo quy định tại khoản 2 Điều 204
BLTTDS năm 2015, tài liệu trong hồ sơ vụ án phải được sắp xếp theo trình tự thời gian, tài liệu nào có trước thì để ở dưới, tài liệu nào có sau được để ở trên Quy định này nhằm đảm bảo hồ sơ được sắp xếp một cách khoa học theo trình tự thời gian, cũng có nghĩa là khi nghiên cứu, hồ sơ sẽ thể hiện được diễn biến tố tụng của vụ án
Theo quy định tại Điều 198 BLTTDS năm 2015, khi lập hồ sơ vụ
án, Thẩm phán có quyền, nghĩa vụ thực hiện các hoạt động sau:
* Yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho vụ án
Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về việc yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ có khá nhiều điểm tương đồng với pháp luật tố tụng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Trong đó, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Nếu đương sự không tự chủ động thu thập được chứng cứ và có đơn yêu cầu, hoặc tại những trường hợp khác do pháp luật quy định, thì Tòa án sẽ tiến hành hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ
Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ của đương sự được thực hiện ngay
từ khi nộp đơn khởi kiện (đối với người khởi kiện), hoặc khi bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì họ phải cung cấp cho Tòa án những căn cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu xét thấy các tài liệu chứng cứ của đương sự giao nộp chưa đầy đủ, Thẩm phán yêu cầu đương
sự tiếp tục giao nộp bổ sung chứng cứ và quy định thời hạn cho phép đương sự thực hiện nghĩa vụ của mình để đảm bảo đương sự không cố tình trốn tránh, kéo dài thời gian giải quyết vụ án
BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) không quy định giới hạn thời điểm đương sự có quyền giao nộp tài liệu, chứng cứ, theo đó đương sự có thể giao nộp tài liệu, chứng cứ ở bất kỳ thời điểm nào của quá trình tố tụng (Điều 184) Vì thế, nhiều đương sự có tâm lý muốn các
Trang 29đương sự đang có tranh chấp với mình “không kịp trở tay”, lựa chọn thời
điểm cung cấp chứng cứ gây bất ngờ cho đối phương (ví dụ như tại phiên tòa sơ thẩm), dẫn đến thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài, tốn kém chi phí tố tụng, không đảm bảo cho các đương sự có điều kiện tranh tụng tốt nhất tại phiên tòa Để khắc phục hạn chế trên, BLTTDS năm 2015 đã quy
định tại khoản 4 Điều 96 như sau: “Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ
do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm […]” Việc
quy định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ như trên có sự tương đồng
với nhiều quốc gia trên Thế giới, ví dụ như tại BLTTDS Pháp, “Thẩm
thời hạn và, nếu cần, thì ấn định cả thể thức trao đổi giấy tờ, tài liệu
(Điều 134) Quy định tại Điều 96 BLTTDS năm 2015 của Việt Nam buộc các đương sự ý thức được trách nhiệm của mình trong việc cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, tránh những hậu quả không đáng có như thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài, bản án sơ thẩm bị hủy do đương sự cung cấp chứng cứ mới,…
Khoản 4 này cũng quy định thêm về trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương
sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó
Đối với các vụ án dân sự, đương sự có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Bởi vậy, đương sự có nghĩa
vụ phải giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ; những tài liệu, chứng
cứ nào đương sự không thể tự mình thu thập và có đơn yêu cầu, hoặc tại những trường hợp khác do pháp luật quy định, thì Tòa án sẽ tiến hành hỗ
10
Nhà pháp luật Việt – Pháp (1998), Bộ luật Tố tụng Dân sự của nước Cộng hòa Pháp, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, tr.7
11
Nhà pháp luật Việt – Pháp (1998), Bộ luật Tố tụng Dân sự của nước Cộng hòa Pháp, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, tr.38.
Trang 30trợ đương sự thu thập chứng cứ Quy định này gắn trách nhiệm cho đương
sự, giảm áp lực cho Tòa án, cũng nhằm mục đích tránh việc Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ có lợi cho một bên Theo tác giả Bùi Thị Huyền,
“Mức độ hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động chứng minh của các đương
sự phụ thuộc rất nhiều vào trình độ hiểu biết pháp luật của đương sự, mức độ tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cơ chế tố tụng và các điều kiện kinh tế xã hội khác” 12
Như
vậy, Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự được bảo vệ tối đa, giúp đương sự tránh được những bất lợi khi họ không thể cung cấp được chứng
cứ, vì thế ta không thể hiểu Tòa án phải thực hiện thay đương sự nghĩa vụ của họ Đối với trường hợp Tòa án yêu cầu cung cấp chứng cứ nhưng đương sự không thể giao nộp được do có lý do chính đáng, Tòa án sẽ chấp nhận việc giao nộp tài liệu chứng cứ khi đương sự xuất trình được lý do của việc chậm giao nộp, quy định này hoàn toàn phù hợp với thực tế và đảm bảo quyền lợi cho các bên
* Xác minh, thu thập chứng cứ
Chứng cứ là những gì có thật được đương sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân giao nộp, xuất trình cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do luật quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án để xác định yêu cầu
của đương sự là có căn cứ và hợp pháp Việc giao nộp chứng cứ là nghĩa
vụ của đương sự, tuy nhiên trong các nguồn chứng cứ thì có những tài liệu không do đương sự nắm giữ mà do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác lưu giữ, quản lý mà đương sự khó có thể thu thập được Khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015 đã quy định các biện pháp thu thập chứng cứ mà Tòa
án được phép thực hiện So với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), BLTTDS năm 2015 ngoài việc sửa đổi các biện pháp thu thập chứng cứ mà còn bổ sung thêm 02 biện pháp thu thập chứng cứ mới là
12
http://kiemsat.vn/thoi-han-giao-nop-chung-cu-cua-duong-su-46751.html
Trang 31“Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú”, ngoài
ra, Điều 97 còn dự liệu việc Tòa án có thể có biện pháp thu thập chứng cứ
khác ngoài các biện pháp đã được liệt kê bằng quy định tại điểm i: “Các
biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này” Quy định này nhằm đáp
ứng yêu cầu thực tiễn cần thiết phải bổ sung thêm các biện pháp thu thập
chứng cứ
1.2.2.4 Nghiên cứu hồ sơ vụ án
Trước khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán phải tiến hành việc phân tích các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án một cách kỹ lưỡng và toàn diện Do mỗi vụ án có tính chất đặc thù riêng biệt nên BLTTDS năm 2015 không có quy định cụ thể về quy trình này Trong quá trình nghiên cứu hồ
sơ vụ án, Thẩm phán sẽ đánh giá từng chứng cứ, xem xét tính hợp pháp của chứng cứ đối với các yêu cầu của đương sự, từ đó có cơ sở để giải quyết vụ án Đối với việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán cần tập trung vào các vấn đề sau:
- Xác định quan hệ pháp luật
Việc xác định quan hệ pháp luật chính xác có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết vụ án Chỉ khi xác định quan hệ pháp luật đúng, Thẩm phán mới xác định các quy định pháp luật nội dung cần áp dụng cũng như trình tự, thủ tục tố tụng khi giải quyết tranh chấp này, từ đó có thể tiến hành các hoạt động tố tụng phù hợp: yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập, yêu cầu phản tố; thu thập, xác minh, đánh giá chứng cứ chính xác,…
- Xác định tư cách của những người tham gia tố tụng
Trước tiên, trên cơ sở đơn khởi kiện, Tòa án sẽ xác định tư cách của những người tham gia tố tụng Trong quá trình giải quyết vụ án, xuất phát
từ yêu cầu của đương sự hoặc kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án, Thẩm phán sẽ xác định thêm những người tham gia tố tụng (nếu
có căn cứ) Việc xác định đúng tư cách của đương sự có vai trò rất quan trọng trong quá trình tố tụng, bởi nếu xác định sai hoặc thiếu người tham
Trang 32gia tố tụng thì có thể dẫn đến hậu quả: xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, giải quyết không chính xác, dẫn đến việc hủy, sửa
án do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
- Nghiên cứu, đánh giá tài liệu, chứng cứ
Điều 108 BLTTDS năm 2015 quy định về việc đánh giá chứng cứ, theo đó việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác; Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp, tính liên quan, giá trị chứng minh của từng chứng cứ Đây là hoạt động quan trọng, kết quả của hoạt động này phụ thuộc vào trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của người Thẩm phán Do nhận thức của mỗi chủ thể là khác nhau, nên thực tế có rất nhiều các vụ án bị xét xử lại nhiều lần do việc đánh giá chứng cứ của mỗi Thẩm phán là khác nhau Chính vì thế, Thẩm phán cần có sự đánh giá khách quan, đối chiếu đối với từng chứng cứ do các bên xuất trình cũng như các tài liệu do Tòa án thu thập, từ đó khẳng định được tính hợp pháp của chứng cứ chứng minh cho các yêu cầu của đương sự
1.2.2.5 Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm một thủ tục mới song hành cùng thủ tục hòa giải, đó là phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ Việc quy định phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vừa đảm bảo thực hiện một trong những yêu cầu quan trọng của nguyên tắc “tranh tụng” là mọi tài liệu, chứng cứ phải được công khai và bảo đảm nguyên tắc “Hòa giải trong tố tụng dân sự” Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ nhằm đảm bảo cho các đương sự được tiếp cận với các tài liệu, chứng
cứ có trong hồ sơ vụ án, từ đó các đương sự xác định được những tài liệu, chứng cứ cần bổ sung để bảo vệ cho yêu cầu khởi kiện (đối với nguyên đơn), yêu cầu phản tố (đối với bị đơn) hoặc yêu cầu độc lập (đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) của mình; yêu cầu Tòa án xác
Trang 33minh thu thập chứng cứ; đề nghị Tòa án triệu tập thêm người tham gia tố tụng,… Như vậy, các đương sự sẽ có sự chủ động trong việc tranh tụng tại phiên tòa
BLTTDS năm 2015 đã bổ sung 04 điều luật: Điều 208, 209, 210,
211 quy định về “Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” Các quy định trên có nhiều điểm tương đồng với quy định về phiên tòa sơ bộ tại BLTTDS Liên bang Nga (Điều 152) và tại buổi nghe lời trình bày của các Luật sư và xem xét các bản kết luận, tài liệu mà luật sư các bên trao đổi cho nhau (Điều 760) BLTTDS của nước Cộng hòa Pháp Theo quy định của BLTTDS Việt Nam năm 2015, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được tiến hành cùng với phiên hòa giải nhằm tiết kiệm chi phí tố tụng cho cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Đây cũng là điểm khác biệt của pháp luật tố tụng Việt Nam so với nhiều quốc gia trên Thế giới, ví dụ tại Cộng hòa Pháp thì việc xem xét chứng cứ và hòa giải sẽ được tổ chức tại hai buổi làm việc khác nhau
- Ý nghĩa của việc hòa giải
Hòa giải trong tố tụng dân sự vẫn được giữ nguyên như BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và được quy định tại Điều 10
BLTTDS năm 2015: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo
điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này” Theo đó, Giáo trình
luật Tố tụng dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội đã khái quát: “Hòa giải
vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các
Việc hòa giải
có ý nghĩa hết sức quan trọng, trong hòa giải, quyền tự định đoạt của đương sự được đề cao, rút ngắn quá trình tố tụng, giảm thiểu chi phí tố
13Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình luật Tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, tr.261
Trang 34tụng, đồng thời còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc trong việc chấm dứt triệt
để tranh chấp, giữ gìn tình cảm giữa con người – con người
- Phạm vi hòa giải vụ án dân sự
Khoản 1 Điều 205 BLTTDS năm 2015 quy định “Trong thời hạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự
thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được
hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và
Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút
gọn” Giống như BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011),
BLTTDS năm 2015 không liệt kê những vụ việc phải tiến hành hòa giải
mà quy định giới hạn hòa giải theo phương pháp loại trừ Theo đó, Tòa án
phải tiến hành hòa giải tất cả các vụ án, trừ những vụ án không được hòa
giải hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 206 và
Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hoặc vụ án được giải
quyết theo thủ tục rút gọn
Những vụ án dân sự không được hòa giải
Điều 206 quy định về các trường hợp không được hòa giải bao gồm:
“1 Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của
Nhà nước
2 Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của
luật hoặc trái đạo đức xã hội”
Tài sản của Nhà nước là tài sản thuộc sở hữu chung, mọi hành vi
gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước đều trái pháp luật và phải bồi
thường Pháp luật quy định đối với yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại
đến tài sản của Nhà nước thì không được hòa giải, nhằm phòng ngừa
trường hợp các cá nhân đang quản lý tài sản của Nhà nước lợi dụng việc
hòa giải với bên gây thiệt hại để thỏa thuận, thương lượng gây thiệt hại,
tổn thất tài sản của Nhà nước
Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái
đạo đức xã hội: Đây chính là các giao dịch dân sự vô hiệu nên Tòa án sẽ
Trang 35giải quyết theo hướng tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu Giao dịch dân sự vô hiệu thì về mặt pháp lý quyền và nghĩa vụ của các bên không được Nhà nước thừa nhận
và bảo vệ nên Tòa án không được hòa giải
Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được
Điều 207 quy định về các trường hợp không tiến hành hòa giải được bao gồm:
1 Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt
2 Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng
3 Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự
4 Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải Đây là những trường hợp Tòa án phải tiến hành hòa giải nhưng do những trở ngại khách quan nên không thể tiến hành hòa giải được
So với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), BLTTDS
2015 bổ sung thêm trường hợp: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì
vụ án không tiến hành hòa giải được Việc bổ sung này là thiết thực, bởi
họ là người có quyền hoặc nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến vụ án nên họ
có quyền được tham gia hoạt động tố tụng liên quan đến bản thân
Bên cạnh đó, BLTTDS năm 2015 còn bổ sung thêm “một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải” là trường hợp không hòa giải được Đây là trường hợp khi một trong các đương sự xác định việc hòa giải không cần thiết, tranh chấp giữa các bên quá gay gắt, không thể tiến đến một thỏa thuận chung Như vậy quy định này sẽ giúp Tòa án tiết kiệm được thời gian giải quyết vụ án Trước đây, theo quy định của BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), khi đương sự không muốn tham gia hòa giải thì Tòa án vẫn phải triệu tập đương sự đến lần thứ hai, nếu họ
Trang 36vắng mặt thì mới được đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, dẫn đến thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài Vì vậy, khi các đương sự xác định việc hòa giải không cần thiết, thì việc bổ sung trường hợp không hòa giải được này là hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tế
- Nguyên tắc tiến hành hòa giải
Khoản 2 Điều 205 BLTTDS năm 2015 quy định:
Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây: a) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình;
b) Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Hòa giải phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc,
áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải Như vậy, khi các đương
sự đã tự nguyện thỏa thuận tức là các đương sự tự lựa chọn quyết định giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng hòa giải và thương lượng, thỏa thuận với nhau về các vấn đề của vụ án Quy định này phù hợp với
nguyên tắc cơ bản của BLTTDS năm 2015 quy định tại Điều 5 về “Quyền
quyết định và tự định đoạt của đương sự”
- Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
Trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải ban hành Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tống đạt cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự để họ được biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp
- Thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
Trang 37Khoản 1 Điều 209 BLTTDS năm 2015 quy định thành phần phiên họp hòa giải bao gồm: Thẩm phán chủ trì phiên họp; Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp; Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự; Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có
ý kiến bằng văn bản; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự (nếu có); Người phiên dịch (nếu có) So với quy định tại Điều 184 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) thì thành phần tham gia phiên họp hoà giải đã được bổ sung thêm thành phần tham gia đối với vụ
án lao động và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, trong
đó đáng chú ý là việc bổ sung người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Đây là sự sửa đổi, bổ sung hợp lý nhằm đảm bảo tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong việc thực hiện phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải
Khoản 3 Điều 209 BLTTDS năm 2015 quy định như sau: Trong vụ
án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp đó và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi cho những đương sự tham gia phiên họp, tránh lãng phí thời gian, chi phí tố tụng Trường hợp các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự
- Trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
Trang 38Trước phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ, phiên hòa giải, Thẩm phán phải kiểm tra những người được triệu tập
có mặt, vắng mặt tại phiên họp, phiên hòa giải, phổ biến quyền, nghĩa vụ của các bên đương sự
Trước tiên, Thẩm phán sẽ tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trước khi tiến hành phiên hòa giải Tại phiên họp này, Thẩm phán sẽ công bố các tài liệu, chứng cứ các bên đã giao nộp và do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án Sau đó, theo quy định tại Điều 210 BLTTDS năm 2015, Thẩm phán hỏi các đương sự về những vấn đề sau đây:
+ Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết;
+ Tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác;
+ Bổ sung tài liệu, chứng cứ; Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; Yêu cầu Tòa án án triệu tập đương sự khác, người làm chứng
và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa;
+ Những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết
Sau khi các đương sự trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu cầu của đương sự: chấp nhận hay không chấp nhận việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản
tố, yêu cầu độc lập; nhận tài liệu, chứng cứ đương sự nộp bổ sung; giải quyết việc yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu cầu đương sự nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án; yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng,…
Tiếp theo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán tiếp tục phiên hòa giải Theo Điều 210 BLTTDS năm 2015, Thẩm phán phải tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ sau đó mới được tiến hành hòa giải
Trang 39BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) chỉ quy định chung là các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự trình bày ý kiến của mình về những nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn
đề cần hòa giải Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định rõ từng đối tượng đương sự, cụ thể:
Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện; những căn cứ để bảo
vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);
Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo
vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có);
Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có) phát biểu ý kiến Nếu các đương sự thống nhất được hết với nhau về việc giải quyết
vụ án, thì sau 07 ngày kể từ ngày lập Biên bản hòa giải thành mà không
có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán sẽ ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
BLTTDS năm 2015 đã quy định đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp cho các đương sự khác các tài liệu, chứng cứ họ đã giao nộp tại Tòa
án Tại phiên họp, Thẩm phán phải kiểm tra đương sự đã thực hiện nghĩa
vụ đó chưa (quy định tại khoản 5 Điều 96 BLTTDS năm 2015) Quy định này đảm bảo cho quyền được tiếp cận tài liệu, chứng cứ của các bên đương sự, mặt khác đề cao vai trò của đương sự trong hoạt động tố tụng
Theo quy định tại Điều 176, Điều 177 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi,
bổ sung năm 2011) thì bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, người có
Trang 40quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực, Điều 200 và Điều 201 đã sửa đổi, bổ sung quy định trên, theo đó đương sự có quyền đưa ra yêu cầu độc lập hoặc yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và hòa giải, với mục đích hạn chế việc đương sự lợi dụng quyền của mình
để kéo dài việc giải quyết vụ án
1.2.2.6 Các Quyết định ban hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
sơ thẩm vụ án dân sự
Khoản 3 Điều 203 BLTTDS năm 2015 quy định:
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tuỳ từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:
a) Công nhận sự thoả thuận của các đương sự;
b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án;
c) Đình chỉ giải quyết vụ án;
d) Đưa vụ án ra xét xử
* Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự
Việc đương sự thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện được ghi nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Khi giải quyết vụ án dân sự, Thẩm phán luôn hướng tới việc hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, có như vậy tranh chấp giữa các bên mới được giải quyết một cách triệt để
Điều 212 BLTTDS năm 2015 quy định: Nếu các đương sự thống nhất được hết với nhau về việc giải quyết vụ án, thì sau 07 ngày kể từ ngày lập Biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán sẽ ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Việc ban hành