Tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản tiền, vật, giấy tờ có giá, quyền tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng, tách biệt với khối tài sản chung của vợ chồng, được xá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
ĐOÀN THỊ LƯƠNG
CÁC TRƯỜNG HỢP THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN VỢ CHỒNG
THỰC TIỄN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
ĐOÀN THỊ LƯƠNG
CÁC TRƯỜNG HỢP THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN VỢ CHỒNG
THỰC TIỄN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hỗ trợ và giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Phương Lan Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn đảm bản độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 4VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỎA THUẬN TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TẠI VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG 5
1.1 Khái niệm tài sản của vợ chồng 5
1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng 5
1.1.2 Khái niệm tài sản riêng của vợ, chồng 6
1.2 Khái niệm và nguyên tắc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại văn phòng công chứng 7
1.2.1 Khái niệm thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại Văn phòng công chứng 7
1.2.2 Nguyên tắc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại Văn phòng công chứng 9
1.3 Bản chất pháp lý và đặc điểm của việc thỏa thuận tài sản vợ chồng tại Văn phòng công chứng 13
1.4 Ý nghĩa của thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại văn phòng công chứng 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2 CÁC TRƯỜNG HỢP THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TẠI VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 25
2.1 Thỏa thuận về chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng 25
2.2 Thỏa thuận về tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân 29
2.3 Thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 33
Trang 62.4 Thỏa thuận về chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân 38
2.5 Thỏa thuận chia tài sản chung khi ly hôn tại văn phòng công chứng 40
2.6 Nhập tài sản riêng vào tài sản chung 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 46
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TẠI VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 47
3.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại Văn phòng công chứng 47
3.2 Một số vướng mắc từ thực tiễn việc thực hiện công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại Văn phòng công chứng 52
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công chứng các văn bản thỏa thuận về tài sản của vợ chồng 61
3.3.1 Về hoàn thiện pháp luật 61
3.3.2 Kiến nghị về tổ chức thực hiện công chứng các văn bản thỏa thuận về tài sản của vợ chồng 64
3.3.3 Các biện pháp nhằm nâng cao trình độ, năng lực hiểu biết cho người dân trong việc thực hiện các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69
KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong gia đình truyền thống, do chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng trọng nam khinh nữ từ đạo Nho, nên vai trò, vị trí của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội nói chung, trong gia đình nói riêng luôn bị coi thường, quan hệ giữa vợ chồng thể hiện sự bất bình đẳng Người phụ nữ trong xã hội đó luôn phải sống gò mình theo nguyên tắc tam tòng: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Người vợ không có quyền quyết định những việc lớn trong gia đình, phải tuân theo những quyết định của chồng, phục tùng chồng
Sự bất bình đẳng còn được thể hiện trong quan niệm hết sức lạc hậu, cổ hủ của xã hội cũ - “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng” Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, mối quan hệ giữa vợ và chồng đã thay đổi theo hướng ngày càng tiến bộ Chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã được quy định rõ ràng trong Luật HN&GĐ Vợ và chồng đều là chủ thể của gia đình, cùng quản lý và chi tiêu tài chính, cùng có trách nhiệm chăm sóc và nuôi dậy con cái Như một sự tất yếu, sau khi kết hôn vợ chồng sống chung và thực hiện quan hệ tài sản nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình Pháp luật tạo điều kiện cho phép vợ chồng tự do thỏa thuận định đoạt tài sản của mình nhưng vẫn phải đảm bảo các nghĩa vụ về tài sản
mà vợ chồng phải gánh chịu với người thứ ba và các thành viên trong gia đình Nghiêm cấm vợ chồng xác lập các giao dịch liên quan tới tài sản nhằm mục đích không lành mạnh, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người có liên quan, gây ảnh hưởng không tốt tới quyền lợi chính đáng của cha, mẹ, con, của các thành viên khác trong gia đình
Việc pháp luật cho phép vợ chồng được thỏa thuận về tài sản của mình dựa trên các quy định của pháp luật là một điều rất cần thiết và có ý nghĩa rất
Trang 82 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tính đến thời điểm hiện tại đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề thỏa thuận tài sản của vợ chồng tại VPCC Có thể kể tới những công trình sau:
Lại Thị Hồng (2012), Những khía cạnh pháp lý của việc công chứng các thỏa thuận tài sản của vợ chồng, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Đề tài này tác giả đã phân tích một số vấn đề lý luận về công chứng các thỏa thuận tài sản của vợ chồng, những yêu cầu đối với văn bản công chứng, ý nghĩa pháp lý của việc công chứng này, phân tích các trường hợp thỏa thuận về tài sản giữa vợ chồng trong thực tiễn, nêu lên những vướng mắc, bất cập và hướng giải quyết trong thực tiễn công chứng các thỏa thuận
Trang 93
trạng thực hiện việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản vợ, chồng trong thực tiễn hoạt động công chứng
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận những trường hợp cơ bản của việc thỏa thuận tài sản của
vợ chồng tại VPCC Tìm hiểu phân tích thực tiễn việc vận dụng pháp luật để công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại VPCC Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện, áp dụng pháp luật để giải quyết tốt các trường hợp thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại VPCC
Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, luận văn giải quyết các nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về các trường hợp thỏa thuận về tài sản của vợ chồng
- Tìm hiểu, đi sâu nghiên cứu việc vận dụng các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các trường hợp thỏa thuận tài sản giữa vợ chồng qua thực tiễn tại VPCC
- Đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định của pháp luật trong thực tiễn công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về các trường hợp thỏa thuận về tài sản của
vợ chồng và thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc công chứng các thỏa thuận tài sản của vợ chồng
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các trường hợp thỏa thuận tài sản của
vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 Về mặt thực tiễn,
Trang 104
nghiên cứu những trường hợp cụ thể và điển hình đối những thỏa thuận về tài sản của vợ chồng được thực hiện tại VPCC từ khi Luât HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử… nhằm làm rõ các vấn đề trong luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đây là một đề tài có tính chuyên sâu đồng thời có tính thực tiễn sâu sắc
Đề tài chú trọng nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của các trường hợp thỏa thuận về tài sản của vợ chồng Qua đó phát hiện những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật cũng như những khiếm khuyết, sai sót trong quá trình áp dụng pháp luật theo quy định của Luật HN & GĐ năm
2014 Trên cơ sở đó luận văn đề xuất một số ý kiến để giải quyết những vướng mắc, bất cập trên và hoàn thiện pháp luật về các trường hợp thỏa thuận
về tài sản của vợ chồng để có thể tiết kiệm được thời gian, công sức, chi phí
và đảm bảo được quyền, lợi ích chính đáng của các bên liên quan
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về thỏa thuận tài sản của vợ chồng tại văn phòng công chứng
Chương 2 Các trường hợp thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại văn phòng công chứng theo quy định của pháp luật hiện hành
Chương 3 Thực tiễn thực hiện các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại văn phòng công chứng và kiến nghị hoàn thiện
Trang 115
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỎA THUẬN TÀI SẢN
CỦA VỢ CHỒNG TẠI VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG
1.1 Khái niệm tài sản của vợ chồng
1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Xuất phát từ tính chất của quan hệ hôn nhân là cùng chung ý chí, cùng chung công sức trong việc tạo nên khối tài sản nhằm xây dựng và bảo đảm cho gia đình thực hiện tốt chức năng xã hội của nó như phát triển kinh tế, tạo điều kiện tốt cho nuôi dạy con Vì vậy, pháp luật quy định tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng căn cứ vào nguồn gốc, thời điểm phát sinh Tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải do công sức của cả hai vợ chồng trực tiếp tạo ra, có thể chỉ do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân Tài sản chung của vợ chồng là một khối tài sản thuộc sở hữu chung của
vợ chồng, là hình thức sở hữu chung đặc biệt Dù do pháp luật quy định hay
do vợ chồng thỏa thuận, tài sản chung của vợ chồng luôn là một khối tài sản
do cả hai vợ chồng cùng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt nhằm đáp ứng những nhu cầu chung của đời sống gia đình Cũng như các tài sản khác, tài sản chung của vợ chồng có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá, các quyền tài sản theo quy định chung của BLDS Sự tồn tại của tài sản chung vợ chồng phụ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân Như vậy, có thể đưa ra khái niệm tài sản
chung của vợ chồng như sau: “Tài sản chung của vợ chồng là vật, tiền, giấy
tờ có giá và quyền tài sản hiện có hoặc hình thành trong tương lai thuộc sở hữu chung của vợ chồng, do vợ chồng cùng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt được vợ chồng thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định”
Chủ thể của tài sản chung của vợ chồng là những người đã xác lập quan
hệ hôn nhân được Nhà nước thừa nhận có quyền và nghĩa vụ pháp lý của vợ
Trang 12Đối với tài sản chung của vợ chồng thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với khối tài sản chung thể hiện trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận Trong trường hợp vợ, chồng
ủy quyền cho nhau thì người được ủy quyền có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung trong phạm vi được ủy quyền
1.1.2 Khái niệm tài sản riêng của vợ, chồng
Trong đời sống hôn nhân, bên cạnh tài sản chung, vợ, chồng với tư cách
là cá nhân có quyền sở hữu đối với tài sản riêng của mình, trên cơ sở quyền sở hữu của công dân được Hiến pháp quy định và bảo vệ
Tài sản riêng của vợ chồng có thể được hình thành trên cơ sở thỏa thuận của vợ chồng trong chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng được xác lập trước khi kết hôn hoặc do pháp luật quy định, nếu vợ chồng không xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận
Tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản (tiền, vật, giấy tờ có giá, quyền tài sản) thuộc quyền sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng, tách biệt với khối tài sản chung của vợ chồng, được xác lập theo quy định của pháp luật hoặc
do thỏa thuận của vợ chồng trong chế độ tài sản theo thỏa thuận
Trang 137
Việc một bên vợ hoặc chồng có tài sản riêng và có nhu cầu xác lập quyền
sở hữu riêng đối với khối tài sản này là một thực tế trong xã hội, đã được ghi nhận từ Luật HN&GĐ Việt Nam từ năm 1986 và tiếp tục kế thừa trong Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014 Việc quy định về tài sản riêng của vợ chồng là vô cùng tiến bộ và cần thiết trong xu thế phát triển hiện nay Bởi lẽ, song song với sự phát triển của nền kinh tế thì khối lượng tài sản trong xã hội cũng tăng lên thúc đẩy hình thành ý thức về việc xác lập khối tài sản riêng để phục vụ nhu cầu cá nhân, phù hợp với quyền sở hữu riêng của công dân và không làm ảnh hưởng đến tài sản chung của vợ chồng Điều này hoàn toàn phù hợp với tâm lý của con người trong việc mong muốn sở hữu khối tài sản độc lập và chủ động trong quá trình sử dụng tài sản
Bên cạnh đó, trước khi kết hôn có thể mỗi bên vợ, chồng đã tự tạo lập được một khối tài sản nhất định do chính công sức lao động của mình Về bản chất, khối tài sản này là thuộc sở hữu riêng của một bên vợ, chồng
Ngoài ra, bên cạnh mối quan hệ giữa vợ và chồng, các thành viên trong gia đình còn rất nhiều mối quan hệ với các thành viên khác trong xã hội Trong quá trình giao lưu, ngoài nhu cầu về tình cảm, mỗi cá nhân có thể có rất nhiều các nhu cầu chính đáng liên quan tới tài sản như: thực hiện các nghĩa
vụ riêng, làm từ thiện, tặng quà lưu niệm, cấp dưỡng cho con riêng… Trong các trường hợp này, nếu áp dụng chế độ tài sản chung thì sẽ làm cản trở nhiều nhu cầu chính đáng của cá nhân, cản trở quyền sở hữu tài sản riêng của cá nhân và có thể dẫn đến hạn chế sự phát triển của xã hội
1.2 Khái niệm và nguyên tắc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại văn phòng công chứng
1.2.1 Khái niệm thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại Văn phòng công chứng
Tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng (nếu có), vì vậy, đối tượng tài sản được vợ chồng thỏa thuận có thể là tài sản chung hoặc
Trang 148
tài sản riêng Dù là tài sản riêng hay tài sản chung, vợ chồng đều có thể thỏa thuận về việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó theo phương thức phù hợp với quy định của pháp luật
Việc thỏa thuận là sự thể hiện ý chí của các bên trên cơ sở tự nguyện để cùng nhau bàn bạc và đi đến kết luận cuối cùng về một vấn đề nào đó Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình
Vì vậy, việc thỏa thuận về tài sản bao gồm cả việc thỏa thuận về quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản, tuy nhiên việc thỏa thuận này phải tuân theo các điều kiện và phương thức phù hợp với quy định của pháp luật
- Tài sản của vợ chồng (tài sản chung, tài sản riêng) thuộc quyền sở hữu của vợ chồng, nên vợ chồng có quyền thỏa thuận để sử dụng, định đoạt theo ý chí của mình, phục vụ cho nhu cầu gia đình, nhu cầu cá nhân, phù hợp với quy định của pháp luật Để duy trì cuộc sống hàng ngày, vợ chồng cần phải
có tài sản để phục vụ các nhu cầu thiết yếu: ăn ở, đi lại, học hành, chăm sóc sức khỏe… Khi đó, vợ chồng sẽ cùng bàn bạc và thống nhất với nhau cách thức quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản để đưa ra cách thức giải quyết sao cho hợp lý để đáp ứng cho những nhu cầu đó
- Trong đời sống hôn nhân, vợ chồng tham gia vào rất nhiều các mối quan hệ khác nhau liên quan tới tài sản Vợ chồng cùng nhau bàn bạc, thống nhất để đưa ra cách thức sử dụng tài sản sao cho hợp lý, mang lại những giá trị cao nhất Vợ, chồng có thể thỏa thuận với nhau về cách thức chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, tài sản riêng trong đời sống hôn nhân theo các điều kiện và phương thức mà pháp luật quy định Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại VPCC với sự công chứng của CCV theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định là một cách thức thực hiện quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: Thỏa thuận về tài sản
của vợ chồng tại VPCC là sự bàn bạc, thống nhất ý chí của vợ chồng trên cơ
Trang 159
sở tự nguyện về việc thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng nhằm những mục đích nhất định và được
sự chứng nhận của CCV phù hợp với quy định của pháp luật
1.2.2 Nguyên tắc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại Văn phòng công chứng
Quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận, định đoạt tài sản là một quyền rất
quan trọng của công dân Tiếp tục kế thừa và phát triển những quy định của
các bản Hiến pháp trước đây về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 2013 đã tiếp tục ghi nhận và bảo vệ một cách tốt nhất các quyền cơ bản của công dân Nó thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân, trong đó có các quyền về kinh tế Quyền này không chỉ được ghi nhận trong một đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý tối cao của Nhà nước Việt Nam là Hiến pháp mà nó còn được ghi nhận trong các luật cơ
bản khác của Nhà nước như: BLDS, Luật HN&GĐ…
Tuy nhiên, quyền tự thỏa thuận, định đoạt của công dân không phải là một quyền tuyệt đối Sự thỏa thuận, định đoạt của công dân chỉ hợp pháp khi
nó không xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, của cá nhân, tổ chức khác, không nhằm trốn tránh các nghĩa vụ Việc thỏa thuận không thể diễn ra một cách tùy tiện mà nó phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Có thể hiểu
khái quát: “Nguyên tắc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng là những quy
phạm pháp luật xác định cách xử sự chung nhất, chi phối đến các thỏa thuận
về tài sản của vợ chồng, nhằm đảm bảo việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng phù hợp với các nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng mà pháp luật quy định”
Những nguyên tắc mà pháp luật đưa ra chỉ là những nguyên tắc chung nhất, hướng những thỏa thuận của vợ chồng vừa diễn ra thuận lợi để giải
Trang 1610
quyết các nhu cầu về tài sản nhanh chóng mà vẫn phù hợp với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Cả vợ chồng và CCV đều phải nắm rõ các quy định này để việc công chứng văn bản thỏa thuận về tài sản của vợ chồng hợp pháp
Việc pháp luật quy định những nguyên tắc đối với sự thỏa thuận về tài sản của vợ chồng là một điều rất cần thiết Bởi lẽ, tài sản của vợ chồng liên quan trực tiếp tới cuộc sống của các thành viên Khi kinh tế gia đình vững mạnh thì sẽ tạo điều kiện để các thành viên trong gia đình phát triển, khi sự thỏa thuận gây nên những ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế gia đình chính là sự kìm hãm sự phát triển của các thành viên Ngoài ra, tài sản của vợ chồng không chỉ liên quan trực tiếp tới cuộc sống của các thành viên trong gia đình
đó mà còn liên quan tới quyền lợi của người thứ ba Vì vậy, các nguyên tắc sẽ ràng buộc sự thỏa thuận về tài sản của vợ chồng để bảo vệ những quyền, lợi ích chính đáng của các bên, tránh trường hợp sự thỏa thuận diễn ra một cách tùy tiện, nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ gây nên những thiệt hại cho người thứ ba
Từ lý luận và thực tiễn có thể đưa ra những nguyên tắc cơ bản sau chi phối đến các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng:
- Các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng phải trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa vợ và chồng
Sự ra đời của Luật HN&GĐ năm 2014 thay thế Luật HN&GĐ năm 2000
là một sự thay đổi tiến bộ phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước, phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 - một đạo luật gốc, là cơ sở, nền tảng cho việc điều chỉnh các Luật chuyên ngành Việc pháp luật ghi nhận nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc thỏa thuận về tài sản là điều rất cần thiết, đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống kinh tế, xã hội, phù hợp với ý chí, nguyện vọng
Trang 1711
của người dân trong một xã hội mới, của một nhà nước mà quyền và lợi ích của người dân được đặt lên trên, phù hợp với tiến trình của một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân
Nếu như trong xã hội trước đây, người chồng chủ yếu quyết định tất cả các vấn đề liên quan tới tài sản của gia đình thì ngày nay, vợ chồng đều có quyền như nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của vợ chồng Mọi sự thỏa thuận về tài sản của vợ chồng đều phải dựa trên sự bàn bạc, cùng nhau trao đổi và thống nhất ý kiến trước khi đưa ra quyết định Xuất phát từ mong muốn sử dụng tài sản của vợ chồng tham gia vào các mối quan
hệ kinh tế một cách hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của gia đình, vợ chồng đều có quyền như nhau trong việc sử dụng tài sản để tham gia vào các mối quan hệ đó Đối với tài sản chung của vợ chồng, trước khi đưa ra các quyết định cần phải có sự thống nhất ý chí giữa vợ và chồng, không bên nào được áp đặt ý chí của mình để bên kia phải miễn cưỡng đồng ý Đối với tài sản riêng của vợ chồng thì ai là chủ sở hữu thì người đó sẽ toàn quyền định đoạt nó Người đó có thể quyết định nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng hay vẫn giữ là tài sản riêng của mình đều được pháp luật tôn trọng và bảo vệ
- Thỏa thuận về tài sản không bị cưỡng ép, lừa dối
Trong gia đình, tình cảm, sự yêu thương gắn bó giữa vợ chồng là một điều rất quan trọng, tuy nhiên để có thể hướng tới một hôn nhân ổn định, lâu dài, bền vững thì một vấn đề cũng cần phải quan tấm đến đó chính là đời sống vật chất, tiền bạc, tài sản của vợ chồng Việc pháp luật quy định nguyên tắc không bị cưỡng ép, lừa dối trong việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng sẽ làm hạn chế trường hợp một bên vợ hoặc chồng phải thực hiện các giao dịch liên quan tới tài sản trái ý muốn của họ, gây ảnh hưởng tới quyền và lợi ích chính đáng của người đó
Trang 18ra quyết định được cẩn thận và chín chắn hơn, tránh trường hợp sử dụng tài sản gây ảnh hưởng tiêu cực tới cuộc sống gia đình, xâm phạm đến lợi ích của người khác
- Thỏa thuận về tài sản giữa vợ và chồng không trái pháp luật và đạo đức
xã hội, không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với người khác Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng là một giao dịch dân sự nên nó cũng phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của một giao dịch dân sự Vợ chồng có thể định đoạt tài sản theo cách thức do mình đưa ra nhưng phải dựa trên những quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, không được trốn tránh bất kỳ nghĩa
vụ tài sản nào với người khác Khi vợ chồng thỏa thuận về tài sản của mình
mà ảnh hưởng tới quyền, lợi ích chính đáng cho các thành viên trong gia đình
và của người khác thì vợ chồng phải có trách nhiệm bồi thường Đây là một nguyên tắc quan trọng nhằm hạn chế tối đa trường hợp vợ chồng thỏa thuận tài sản với mục đích thiếu lành mạnh, gây nên những ảnh hưởng tiêu cực cho người khác
Trang 19cả hai bên, có như thế mới tránh những tranh chấp, những vi phạm khi một bên hoặc cả hai bên không thực hiện hay đạt được mục đích mà mình đã đề ra khi tham gia giao dịch
Khi vợ chồng có sự thỏa thuận về tài sản, CCV là người chứng nhận sự thỏa thuận của các bên khi nó đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về nội dung và hình thức của văn bản công chứng mà pháp luật quy định Việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại VPCC có một số đặc điểm sau:
- Vợ, chồng có quyền như nhau trong việc tự nguyện yêu cầu công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng
Thỏa thuận tài sản của vợ chồng là một loại giao dịch dân sự Giao dịch muốn thành công thì hiển nhiên nó phải đáp ứng các điều kiện mà pháp luật quy định Chủ thể phải thực hiện giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện là một trong các yếu tố không thể thiếu để một giao dịch không bị coi là vô hiệu Đây là một biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích liên quan của những chủ thể có vai trò trong giao dịch dân sự Chưa cần xem xét đến nội dung của giao dịch
có vi phạm pháp luật hay vi phạm đạo đức xã hội hay không, chỉ cần vi phạm yếu tố tự nguyện thì giao dịch đó đã bị coi là vô hiệu
Trang 2014
Đối với việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng cũng vậy, cả vợ và chồng đều phải có sự tự nguyện, không bị ép buộc hay bị chi phối bởi một tác nhân nào khác Khi vợ chồng đã có sự thỏa thuận và thống nhất thì cả vợ và chồng đều có quyền như nhau trong việc yêu cầu CCV chứng nhận sự thỏa thuận của vợ chồng Chỉ cần một phía vợ hoặc chồng còn đắn đo hay nói cách khác chưa thực sự tự nguyện thì CCV sẽ chưa thể công chứng thỏa thuận này Hay nói cách khác, chỉ khi cả hai vợ chồng cùng tự nguyện thể hiện ý chí thỏa thuận về tài sản thì mới có thể giải quyết tại VPCC
Sự tự nguyện ở đây không chỉ thể hiện rằng vợ, chồng cùng hướng đến một mục đích chung khi thực hiện các giao dịch về tài sản vợ chồng mà còn thể hiện ở việc vợ chồng hiểu rõ được những hậu quả của các quyết định mà mình đã đưa ra Trong quá trình lao động, vợ chồng tham gia vào rất nhiều các mối quan hệ khác nhau và cần dùng tài sản để tham gia vào các mối quan
hệ đó Vợ chồng cùng nhau bàn bạc, thống nhất việc định đoạt, sử dụng tài sản của mình sao cho phù hợp với nguyện vọng của vợ chồng, mang lại những lợi ích thiết thực cho gia đình Khi vợ chồng đã cùng nhau bàn bạc thống nhất để đưa ra quyết định cách thức định đoạt tài sản và được công chứng tại VPCC thì nó sẽ phát sinh những quyền và nghĩa vụ cũng như việc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng Vợ chồng phải hiểu rõ được những hậu quả đó để có cách sử dụng tài sản một cách hợp lý
Sự tự nguyện khi thực hiện các giao dịch về tài sản của vợ chồng nó cũng gắn liền với quyền bình đẳng của vợ chồng về tài sản Quyền bình đẳng giữa vợ, chồng là một trong những quyền quan trọng và cơ bản của quan hệ
vợ - chồng theo sự điều chỉnh của pháp luật Quyền bình đẳng giữa vợ, chồng
là cơ sở pháp lý và nền tảng vững chắc, bảo đảm cho việc xây dựng một gia đình ấm no, hòa thuận và hạnh phúc Quy định quyền bình đẳng giữa vợ, chồng nhằm khẳng định và bảo vệ địa vị pháp lý của người phụ nữ trong quan
Trang 2115
hệ gia đình, khẳng định tính ưu việt của pháp luật xã hội chủ nghĩa Sự bình đẳng thể hiện ở chỗ vợ chồng cùng nhau bàn bạc và thống nhất cách thức quản lý, định đoạt tài sản của vợ chồng, không bên nào có quyền áp đặt ý chí của mình
- Sự thỏa thuận về tài sản của vợ chồng dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của vợ, chồng
Trong gia đình, vợ và chồng đều có quyền nắm giữ, quản lý tài sản thuộc
sở hữu chung, đều có quyền như nhau trong việc khai thác công dụng, hưởng lợi ích từ tài sản chung cũng như định đoạt số phận của tài sản đó Vợ, chồng phải có sự bàn bạc, thỏa thuận sử dụng tài sản chung nhằm đảm bảo đời sống chung gia đình, sao cho việc sử dụng, định đoạt tài sản chung đem lại lợi ích nhiều nhất cho cuộc sống chung vợ chồng, đảm bảo nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục các con, cũng như quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình Đối với những tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ chồng thì vợ, chồng có quyền nhập vào khối tài sản chung hoặc cũng có thể tự mình quản lý và định đoạt tài sản đó Về nguyên tắc, một bên vợ, chồng có tài sản riêng thì có quyền sử hữu độc lập và toàn quyền trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia Việc pháp luật ghi nhận
và bảo hộ tư cách chủ sở hữu độc lập của một bên vợ, chồng đối với tài sản riêng của họ là phù hợp với tinh thần của Hiến pháp cũng như thực tế cuộc sống hiện nay Quy định này thể hiện tính mềm dẻo của pháp luật để vợ chồng tự thỏa thuận và quyết định về tài sản của mình, không ai được ép buộc bên vợ, chồng có tài sản riêng phải nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng Đây là một quy định vừa hướng tới bảo hộ quyền sở hữu của cá nhân, thừa nhận lợi ích cá nhân của vợ, chồng vừa tạo điều kiện để vợ chồng thỏa thuận với nhau về việc tự nguyện nhập tài sản riêng vào tài sản chung, đồng thời cũng thể hiện sự bình đẳng của vợ chồng đối với quyền sở hữu tài sản riêng
Trang 2216
- Sự thoả thuận về tài sản của vợ chồng không được trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, hoặc nhằm mục đích trốn tránh các nghĩa vụ về tài sản đối với người khác
Do tính chất cộng đồng trong quan hệ hôn nhân nên tài sản chung được
sử dụng để đáp ứng những nhu cầu chung của gia đình, để thực hiện các nghĩa
vụ chung của vợ chồng Đối với tài sản riêng của vợ, chồng, về nguyên tắc vợ chồng có quyền định đoạt đối với tài sản riêng, vợ chồng có quyền nhập hay không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng đối với tài sản nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng có thể sử dụng tài sản một cách có hiệu quả nhất mang lại những giá trị vật chất cho gia đình và xã hội Tuy nhiên, với tính chất là một giao dịch dân sự, việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng cũng phải đáp ứng điều kiện về mục đích của giao dịch Sự thỏa thuận này phải dựa trên các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Mọi sự thỏa thuận đều phải tuân thủ những điều kiện mà pháp luật đưa ra, không gây ảnh hưởng tiêu cực tới quyền lợi của bất kỳ các nhân, tổ chức nào Quy định này chính là sự ràng buộc đối với thỏa thuận của vợ chồng, hạn chế sự lạm dụng quyền được thỏa thuận của mình mà gây ảnh hưởng tới cá nhân, tổ chức khác Đồng thời, bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của bên mà vợ, chồng đang có nghĩa vụ phải thực hiện, không để
vợ chồng lợi dụng quyền thỏa thuận nhằm chuyển tài sản cho bên không có nghĩa vụ nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ với người đó
- Đối với những tài sản mà pháp luật quy định những giao dịch liên quan
đến tài sản đó phải tuân theo những hình thức nhất định thì sự thỏa thuận tài sản của vợ chồng liên quan những tài sản đó cũng phải tuân theo những hình thức đó
Tuỳ theo tính chất của đối tượng giao dịch và nhu cầu quản lý của nhà nước mà pháp luật có những yêu cầu khác nhau về hình thức của giao dịch
Trang 2317
Đối với các giao dịch đáp ứng cho nhu cầu vật chất và tinh thần hàng ngày của cuộc sống vợ chồng và thông thường giá trị tài sản không lớn thì chỉ cần vợ chồng thể hiện bằng lời nói, có sự tự nguyện, thống nhất ý chí của vợ chồng là giao dịch đó có hiệu lực Song có những loại giao dịch pháp luật bắt buộc hai bên phải thể hiện bằng văn bản và còn có trường hợp phải có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền thì buộc vợ chồng phải tuân thủ
LCC không có quy định riêng đối với việc công chứng thỏa thuận về tài sản của vợ chồng Vì vậy, việc công chứng thỏa thuận về tài sản của vợ chồng được thực hiện theo quy định chung về công chứng hợp đồng, giao dịch theo quy định của LCC và quy định của pháp luật có liên quan đến tài sản của vợ chồng
Về mặt hình thức, thỏa thuận về tài sản của vợ chồng phải được thể hiện bằng văn bản, đây là hình thức bắt buộc để CCV xem xét và công chứng thỏa thuận về tài sản của vợ chồng
Cho đến thời điểm hiện tại, văn bản là hình thức thông dụng nhất chứa đựng nội dung thỏa thuận của các bên có liên quan Văn bản là bằng chứng rõ ràng thể hiện ý chí của các bên liên quan đến thỏa thuận về tài sản Căn cứ văn bản thỏa thuận của các bên, CCV xem xét nội dung thỏa thuận, hồ sơ yêu cầu công chứng và đối chiếu với các quy định của pháp luật để từ đó quyết định công chứng hoặc từ chối công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng
- Giá trị pháp lý của văn bản thỏa thuận về tài sản của vợ chồng được lập tại VPCC
Văn bản công chứng không chỉ ghi nhận ý chí của vợ chồng trong việc thỏa thuận về tài sản mà còn là phương tiện xác nhận ý chí của vợ chồng Để đảm bảo quyền lợi của vợ chồng cũng như hạn chế các tranh chấp sau này có thể phát sinh, văn bản công chứng có từ hai trang trở lên thì từng trang phải được đánh số thứ tự, vợ, chồng phải ký vào từng trang của văn bản công
Trang 2418
chứng Trên cơ sở văn bản thỏa thuận về tài sản của vợ chồng và đã có chữ ký xác nhận của các bên, CCV chứng nhận thỏa thuận về tài sản của vợ chồng + Văn bản công chứng thỏa thuận về tài sản của vợ chồng có giá trị chứng cứ
Văn bản công chứng có sự chứng kiến, xác nhận của CCV, được thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật, được lưu giữ tại cơ quan công chứng trong thời hạn ít nhất hai mươi năm Đây sẽ là căn cứ pháp lý để vợ, chồng, người thứ ba có hành động tôn trọng các giao dịch do vợ chồng thiết lập, hạn chế những tranh chấp, xung đột về quyền và lợi ích có thể xảy ra liên quan đến việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của vợ chồng Vì vậy, công chứng thỏa thuận về tài sản của vợ chồng có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng, giữa vợ chồng và người thứ ba có quyền lợi liên quan đến tài sản của vợ chồng trong hiện tại và
cả tương lai
+ Văn bản công chứng trong một số trường hợp là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền thực hiện các thủ tục đăng ký quyền sử dụng, sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật
Để quản lý các giao dịch đối với một số tài sản đặc biệt, pháp luật quy định việc xác lập các giao dịch với các loại tài sản này phải được công chứng như các giao dịch liên quan đến QSDĐ, nhà ở, ô tô, xe gắn máy…
Đối với các trường hợp hợp đồng, giao dịch phải công chứng theo quy định của pháp luật thì văn bản công chứng là điều kiện để cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng ký chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản của vợ chồng Trong nhiều trường hợp, văn bản công chứng thỏa thuận về tài sản của
vợ chồng là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền thực hiện các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật
Trang 25+ Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, văn bản công chứng là căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp
Trong thời kỳ hôn nhân, ngoài tài sản chung, vợ, chồng còn có quyền sở hữu đối với tài sản riêng Tuy nhiên, khi cuộc sống còn hạnh phúc, các tài sản riêng của vợ chồng có thể được dùng chung để đáp ứng các nhu cầu của gia đình Qua nhiều năm chung sống, các tài sản chung, tài sản riêng trở nên khó phân định, vì vậy, khi có tranh chấp, việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ
sở hữu trở nên khó khăn Vì vậy, việc công chứng văn bản thỏa thuận về tài sản giúp cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp được dễ dàng hơn Ngoài ra, khi vợ chồng cùng tham gia vào các mối quan hệ tài sản với người khác thì văn bản công chứng là cơ sở pháp lý quan trọng giúp cơ quan có thẩm quyền giải quyết một cách thuận lợi những tranh chấp giữa vợ chồng với người khác nếu có Bởi lẽ, văn bản công chứng được sự chứng nhận của CCV có
sự thể hiện một cách rõ ràng về ý chí của vợ chồng, về cách thỏa thuận đối với tài sản, từ đó giúp cơ quan có thẩm quyền có thể giải quyết những tranh chấp được dễ dàng hơn
1.4 Ý nghĩa của thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại văn phòng công chứng
Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng được lập bằng văn bản, có lời chứng của CCV, có ý nghĩa thiết thực và là cơ sở pháp lý quan trọng trong các giao dịch liên quan đến những tài sản đã được vợ chồng thỏa thuận trong quan hệ
Trang 2620
tài sản giữa vợ chồng với nhau cũng như giữa vợ chồng với người khác Điều
đó được thể hiện qua các khía cạnh sau:
- Đảm bảo giải quyết kịp thời các nhu cầu về họat động sản xuất kinh doanh, thực hiện các nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng, đáp ứng nhu cầu chính đáng của vợ chồng
Việc công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng được hình thành
từ yêu cầu của thực tiễn Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế - xã hội ngày càng phát triển đa dạng, vợ chồng ngày càng tham gia nhiều hơn vào các quan
hệ xã hội khác nhau Đặc biệt, hiện nay khi mà nhu cầu đầu tư kinh doanh riêng của vợ chồng là khá phổ biến, các nghĩa vụ dân sự riêng cũng tăng lên nhanh chóng cùng với sự phát triển đa dạng của các giao lưu dân sự mà vợ chồng tham gia thì việc pháp luật cho phép vợ chồng được thỏa thuận về tài sản càng trở nên có ý nghĩa hơn Thực tế, hiện nay nhiều cặp vợ chồng đi làm
ăn xa, thậm chí đi xuất khẩu lao động sang nước ngoài, vì vậy, họ không có điều kiện cùng quản lý, sử dụng tài sản chung Trong khi đó, để có tài sản phục vụ nhu cầu sinh hoạt của gia đình hoặc có vốn đầu tư kinh doanh người chồng, người vợ ở nhà có thể thực hiện các giao dịch liên quan tới tài sản chung như chuyển nhượng, thế chấp QSDĐ… Về nguyên tắc, những giao dịch liên quan đến đất đai, nhà ở đòi hỏi phải có chữ ký của hai vợ chồng, khi một bên vắng mặt thì sẽ không thể giao dịch được Điều này đã làm hạn chế tính chủ động của vợ chồng trong việc sử dụng, định đoạt tài sản và nhiều cơ hội đầu tư kinh doanh đi qua Vì vậy, việc pháp luật cho phép vợ chồng được thỏa thuận về tài sản đã giúp giải quyết được nhu cầu về vốn trong làm ăn kinh doanh
Có thể nói, để giải quyết nhanh chóng nhu cầu về vốn trong hoạt động kinh doanh của vợ chồng thì việc pháp luật cho phép các bên tự thỏa thuận về tài sản của mình dựa trên các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội là điều
Trang 2721
rất quan trọng Đối với những tài sản mà vợ chồng dùng vào việc kinh doanh thường là những tài sản có giá trị lớn, liên quan trực tiếp tới cuộc sống của gia đình Và thông thường, pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó và các giao dịch liên quan tới tài sản này có thể phải công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật Việc CCV chứng nhận sự thỏa thuận về tài sản của vợ chồng đã giúp cho vợ chồng có thể nhanh chóng giải quyết các nhu cầu về tài sản Từ đó, giúp vợ chồng có thể chớp lấy các cơ hội trong làm ăn kinh doanh, đồng thời củng cố lòng tin của các đối tác trong hoat động kinh doanh bởi có cơ sở kinh tế - pháp lý chắc chắn
- Tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của vợ chồng
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn đời sống hiện nay, sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội, cũng như sự cần thiết trong việc tương thích với pháp luật trong nước và thế giới, Luật HN&GĐ năm 2014 đã thừa nhận sự thỏa thuận về tài sản của vợ chồng Việc pháp luật cho phép vợ chồng được tự
do thỏa thuận về tài sản là hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp năm 2013, BLDS, đề cao và nhấn mạnh hơn nữa sự tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng về tài sản của mình
Vợ chồng là chủ sở hữu của tài sản thì đương nhiên vợ chồng có toàn quyền định đoạt nó dựa trên các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Vợ chồng có thể sử dụng tài sản vào nhiều mục đích khác nhau, tham gia vào các mối quan hệ kinh tế khác nhau Pháp luật không ràng buộc vợ chồng phải sử dụng vào những mục đích gì mà để vợ chồng tự do thỏa thuận với nhau, miễn sao không trái những điều mà pháp luật cấm và không trái đạo đức xã hội Khi vợ chồng cần đến tài sản thì vợ chồng có thể tự mình thỏa thuận về cách thức sử dụng nó, ví dụ: chia tài sản chung, nhập tài sản riêng vào tài sản chung hay có thể là thỏa thuận về tài sản riêng…
- Giảm thiểu các mâu thuẫn có thể phát sinh giữa vợ và chồng
Trang 2822
Việc pháp luật tôn trọng và tạo điều kiện để vợ chồng có thể thỏa thuận
về tài sản chung là một giải pháp để hạn chế những mâu thuẫn giữa vợ và chồng trong quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản Vợ, chồng là hai cá thể độc lập, không phải bao giờ cũng có thể nhất trí về cách quản lý tài sản của nhau, bằng lòng về cách định đoạt tài sản của nhau và như thế thì chắc chắn có những mâu thuẫn phát sinh, gây bất lợi cho kinh tế gia đình Ngoài ra đó còn
là một giải pháp cho các cặp vợ chồng có mâu thuẫn về tình cảm nhưng lại không dám ra tòa ly hôn do sợ điều tiếng của dư luận, sợ mất hòa khí gia đình,
sợ con cái lo buồn, hàng xóm chê cười Quy định này tạo điều kiện cho họ được có tài sản riêng để sống độc lập, tránh đối mặt với các mâu thuẫn Nhờ
đó, con người có thể độc lập hơn về tài chính để tồn tại trong xã hội hiện đại Không chỉ vậy, sau khi kết hôn tài sản riêng của vợ, chồng có thể được đem vào sử dụng chung để phục vụ nhu cầu cho cả gia đình Ví dụ: QSDĐ là tài sản riêng của một bên vợ, chồng nhưng cả hai vợ chồng đã cùng nhau xây dựng nhà cửa trên thửa đất đó Việc pháp luật cho phép vợ chồng được tự thỏa thuận về tài sản này tạo điều kiện cho các bên yên tâm rằng công sức của mình được ghi nhận một cách rõ ràng, tạo hòa khí vui vẻ cho gia đình
Trong đời sống hôn nhân, vợ chồng tham gia vào các mối quan hệ xã hội khác nhau và có thể phát sinh những nghĩa vụ riêng mà mỗi bên vợ hoặc chồng phải thực hiện Việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại VPCC giúp cho vợ chồng có thể thỏa thuận cách thức tốt nhất để thực hiện các nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi bên mà không làm ảnh hưởng tới lợi ích chung của gia đình, do đó giảm thiểu những mâu thuẫn phát sinh giữa vợ và chồng Bởi
lẽ, khi vợ chồng cùng nhau bàn bạc giúp vợ chồng có thể đưa ra những hướng
xử lý phù hợp, được sự đồng thuận của cả vợ và chồng sẽ làm cho việc thực hiện nghĩa vụ được thuận lợi hơn khi phải dùng tới tài sản chung của vợ chồng để giải quyết các nghĩa vụ đó
Trang 2923
- Đảm bảo quyền, lợi ích của người thứ ba có liên quan về tài sản với vợ chồng
Hiện nay, nhu cầu dùng tài sản để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của
vợ, chồng ngày một tăng lên Có những tài sản việc chia theo pháp luật rất phức tạp và tuân theo quy trình tố tụng tại Tòa án Chính vì vậy, pháp luật tạo điều kiện cho vợ chồng được thỏa thuận tài sản của mình đã giải quyết một cách nhanh chóng, hiệu quả các nhu cầu của vợ chồng Trong trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ tài sản với người thứ ba thì việc thỏa thuận này sẽ giúp vợ chồng có thể giải quyết nhanh chóng, thực hiện nghĩa vụ với người thứ ba
- Giảm áp lực công việc cho Tòa án
Thông thường, trong đời sống hôn nhân ít khi đặt ra vấn đề xác định tài sản chung hay riêng nhưng khi vợ, chồng có nhu cầu phân định tài sản thì việc pháp luật cho phép vợ chồng được tự thỏa thuận với nhau về tài sản có ý nghĩa rất lớn Khi sự phân định về tài sản mà các bên không tự thỏa thuận được với nhau hay nói cách khác là có tranh chấp, mâu thuẫn thì buộc phải cần đến sự can thiệp của Tòa án và phải tuân theo một quy trình tố tụng chung, nó làm mất thời gian, công sức và tiền bạc của đương sự Tuy nhiên, khi vợ chồng tự thỏa thuận được với nhau thì pháp luật sẽ tôn trọng và ghi nhận sự thỏa thuận đó Điều này, giúp hệ thống Tòa án giảm được áp lực công việc liên quan tới những tranh chấp về tài sản của vợ chồng trong khi khối lượng công việc rất lớn
Trang 3024
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong xã hội hiện đại, người phụ nữ ngày càng khẳng định được vai trò,
vị trí của mình trong việc phát triển kinh tế, góp phần làm giàu cho gia đình
và xã hội Pháp luật về HN&GĐ đã ghi nhận và tạo điều kiện để vợ chồng có thể sử dụng tài sản một cách linh hoạt, hiệu quả trong việc tham gia vào các mối quan hệ thông qua việc cho phép vợ chồng được thỏa thuận về tài sản của mình Và khi văn bản thỏa thuận về tài sản của vợ chồng được công chứng đã giải quyết một cách nhanh chóng nhu cầu về tài sản của vợ chồng, mặt khác giảm thiểu những tranh chấp phát sinh về tài sản giữa vợ và chồng Chương 1
đã phân tích khái niệm về tài sản của vợ chồng, những đặc điểm của việc thỏa thuận tài sản của vợ chồng tại VPCC, từ đó thấy được sự cần thiết và ý nghĩa của việc công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chông trong giai đoạn hiện nay
Trang 3125
CHƯƠNG 2 CÁC TRƯỜNG HỢP THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN CỦA
VỢ CHỒNG TẠI VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
Có thể nói, trong những năm qua, các quy định của pháp luật liên quan tới vấn đề tài sản của vợ chồng ngày càng được hoàn thiện nhằm đáp ứng các nhu cầu thực tiễn cuộc sống đang đặt ra Vợ, chồng ngày càng tham gia rộng rãi vào các mối quan hệ kinh tế cho nên nhu cầu về tài sản là điều không thể thiếu Trên sở đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho vợ chồng được sử dụng tài sản một cách linh hoạt, có hiệu quả nhằm mục đích xây dựng kinh tế gia đình vững mạnh, mang lại những lợi ích thiết thực cho xã hội, pháp luật cho phép
vợ chồng có quyền thỏa thuận về tài sản Để ghi nhận sự thỏa thuận về tài sản một cách cụ thể, rõ ràng, nhiều cặp vợ chồng đã đề nghị CCV công chứng các văn bản thỏa thuận về tài sản của mình Trong chương 2 sẽ phân tích các trường hợp thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại VPCC theo quy định của pháp luật hiện hành, bao gồm các trường hợp sau:
- Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng
- Thỏa thuận về tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
- Thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
- Thỏa thuận về chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân
- Thỏa thuận chia tài sản chung khi ly hôn tại Văn phòng công chứng
- Thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung
2.1 Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng
Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 đã bổ sung nhiều quy định mới về chế độ tài sản của vợ chồng Xuất phát từ quan hệ tài sản của
Trang 3226
vợ chồng còn nhiều quy định chưa phù hợp với thực tế, Luật HN&GĐ năm
2014 đã chú trọng thay đổi những quy định này Những sự điều chỉnh dựa trên nền tảng của luật cũ, kế thừa những thành tựu đã đạt được, đồng thời bổ sung thêm những quy định mới để đáp ứng những yêu cầu mà thực tiễn xã hội đang đặt ra
Sự thay đổi rõ nhất đó là Luật đã quy định chế độ tài sản của vợ chồng gồm: chế độ tài sản theo luật định và chế độ tài sản theo thỏa thuận Vợ chồng
có quyền xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận trước khi kết hôn, nhưng chỉ
có hiệu lực khi hai bên kết hôn Chế độ tài sản theo luật định chỉ được áp dụng khi vợ chồng không thỏa thuận xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận Luật dành hẳn một phần quy định những nguyên tắc chung trong việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng Những nguyên tắc chung về chế độ tài sản của
vợ chồng được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được quy định tại các điều
47, 48, 49, 50 và 59 của HN&GĐ 2014 Đây có thể xem là quy định hoàn toàn mới so với luật cũ
Nội dung của chế độ tài sản theo thỏa thuận được quy định định tại Điều
48 Luật HN&GĐ năm 2014 và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 15 Nghị định 126/2014/NĐ-CP Theo đó, trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của
vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản
theo một trong các nội dung sau đây:
- Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;
- Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản
do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;
Trang 3327
- Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng
có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;
- Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng
Việc pháp luật cho phép vợ chồng được thỏa thuận chế độ tài sản có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn Bởi lẽ, việc vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận sẽ giúp vợ chồng phân định được các loại tài sản, xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tài sản của vợ chồng, tạo điều kiện để vợ, chồng có những cách xử sự theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội Việc phân định rạch ròi tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng giúp cho các giao dịch dân sự bằng tài sản của mỗi người được bảo đảm thực hiện, mỗi người có thể tự chịu trách nhiệm bằng chính tài sản đó Nếu vợ chồng cùng ủng hộ việc lập thỏa thuận
về chế độ tài sản, coi đây là cách thức hiện đại và tiến bộ để tránh những mâu thuẫn về tài sản trong hôn nhân, thì quan hệ giữa vợ và chồng không những không bị thỏa thuận này làm cho xấu đi mà còn được củng cố vững chắc hơn Tuy nhiên, có thể thấy rằng, đa phần các cặp vợ chồng chưa thấy được ý nghĩa thực sự của việc lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng Tại VPCC nơi học viên đang làm việc chưa có một trường hợp nào đến công chứng văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng Điều này có thể xuất phát từ một thực tế, vấn đề về tài sản, tiền nong là khá nhạy cảm trong mối quan hệ vợ chồng Nhiều cặp vợ chồng lại thấy ngại và có xu hướng né tránh nhắc tới trong các cuộc nói chuyện trước khi tiến tới hôn nhân Đa số họ
đều chỉ ù ờ hoặc tự mình kiểm soát mà không có sự bàn luận của cả hai bên
Với quan niệm truyền thống từ ngàn xưa ở nước ta, hôn nhân là sự gắn kết tuyệt đối cả về tình cảm lẫn tài sản do vậy trước khi kết hôn nếu bên nào nhắc đến chuyện thỏa thuận về tài sản đồng nghĩa với việc bị xem là vật chất,
Trang 3428
là vụ lợi Hầu hết mọi người đều có cùng suy nghĩ nếu vợ, chồng (sắp cưới)
mà có ý phân định rạch ròi tài sản chung, riêng là không thực sự hết lòng, không muốn chung sống lâu dài với nhau Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay cùng với sự phát triển kinh tế của xã hội và hội nhập quốc tế, nhất là các thông lệ liên quan đến pháp luật thì các quan hệ HN&GĐ ở nước ta cũng đã
có những thay đổi đáng kể Thực tế cho thấy quan niệm về hôn nhân truyền thống còn tồn tại nhiều bất cập Do vậy, việc quy định chế định tài sản theo thỏa thuận, cho phép vợ chồng thỏa thuận tài sản trước khi kết hôn nhằm để tránh những rắc rối, tranh chấp về sau cũng là một yêu cầu rất thực tế Bởi vì, khi đã hình thành một gia đình thì quan hệ tài sản giữa vợ và chồng xuất hiện cùng với quan hệ hôn nhân Vì thế, trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực và chế độ tài sản
vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn
Hiện nay, qua tìm hiểu từ thực tiễn hành nghề, các CCV đang gặp một số trường hợp khó khăn, lúng túng trong cách giải quyết đó là chứng nhận yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận chế độ tài sản vợ chồng có yếu tố nước ngoài (vợ hoặc chồng là người nước ngoài) trong đó có thỏa thuận về tài sản trước khi kết hôn (bao gồm cả động sản và bất động sản) ở nước ngoài Câu hỏi đặt ra ở đây là CCV có được chứng nhận thỏa thuận về tài sản vợ chồng trước khi kết hôn liên quan đến bất động sản, động sản ở nước ngoài hay không? Vấn đề áp dụng luật như thế nào? Đây cũng là một trong những vướng mắc trên thực tế cần được hướng dẫn trong thời gian tới LCC hiện nay chưa có quy định cụ thể về trường hợp này mà chỉ dừng lại ở quy định đối với bất động sản trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Theo quan điểm cá nhân học viên, những tài sản mà có yếu tố nước ngoài CCV rất khó có thể tìm hiểu rõ nét về nó hay nói cách khác, để có thể có những thông tin chính xác liên quan
Trang 3529
tới tài sản đó không hề dễ dàng Mặt khác, bên cạnh áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết rất có thể còn liên quan tới cả pháp luật của nơi có tài sản Nếu CCV từ chối yêu cầu công chứng văn này thì có thể gây ảnh hưởng tới quyền, lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài Vì vậy, trong trường hợp này, để tránh những tranh chấp và rủi ro do thiếu thông tin, CCV sẽ phải tìm hiểu kỹ càng pháp luật của quốc gia nơi có tài sản để việc công chứng yêu cầu thỏa thuận về tài sản vợ chồng trước khi kết hôn liên quan đến bất động sản, động sản ở nước ngoài được hợp pháp LCC nên quy định thời hạn giải quyết yêu cầu công chứng trong trường hợp này theo hướng tăng thêm khoảng thời gian để CCV nghiên cứu, tìm hiểu nội dung yêu cầu
Khi công chứng các văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, CCV cần chú ý đến các điều kiện có hiệu lực của văn bản thỏa thuận
về chế độ tài sản theo thỏa thuận Nếu thỏa thuận về chế độ tài sản theo thỏa thuận vi phạm các quy định tại Điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014 thì thỏa thuận đó có thể sẽ bị tuyên vô hiệu Tại khoản 8 - Điều 29 - BLTTDS năm
2015 cũng quy định về điều này Văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản theo thỏa thuận bị Tòa án tuyên vô hiệu sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, lợi ích của hai bên nam, nữ đồng thời giảm sút uy tín của CCV và ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của VPCC
2.2 Thỏa thuận về tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm các vấn đề về tài sản của vợ chồng, trong đó xác định tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng của vợ, của chồng Vợ chồng
có thể hoàn toàn tự do thỏa thuận về tài sản của mình, kể cả việc thỏa thuận tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng, đưa ra các căn cứ làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản phù hợp với điều
Trang 3630
kiện và nguyện vọng của vợ, chồng nhưng không trái pháp luật, đảm bảo đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình và không ảnh hưởng tới quyền, lợi ích
của người khác Ví dụ dưới đây là một minh họa cụ thể:
Ngày 18/12/2017, VPCC Hòa Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang nhận được yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận về tài sản của ông Nguyễn Văn Định và vợ là bà Hoàng Thị Hương Văn bản này được công chứng ngày
18/12/2017, số công chứng: 1970/2017, quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD
Trong thời kỳ hôn nhân họ đã cùng nhau tạo lập được tài sản là QSDĐ Giấy chứng nhận QSDĐ ghi tên bà Hoàng Thị Hương, nguồn gốc QSDĐ là nhận chuyển nhượng Ông Nguyễn Văn Định và bà Hoàng Thị Hương đến VPCC yêu cầu CCV công chứng văn bản thỏa thuận tài sản này là tài sản riêng của bà Hoàng Thị Hương Việc chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, cho thuê, ủy quyền hay thực hiện các giao dịch hợp pháp khác liên quan tới quyền sử dụng thửa đất nêu trên do bà Hương toàn quyền quyết định, ông Nguyễn Văn Định không có bất kỳ quyền lợi và nghĩa vụ gì đối với thửa đất này
Trong trường hợp này, vợ chồng bà Hoàng Thị Hương đều tự nguyện thống nhất, thỏa thuận với nhau về việc tài sản này là tài sản riêng của bà Hoàng Thị Hương, việc thỏa thuận như vậy không làm ảnh hưởng tới lợi ích của gia đình và người thứ ba thì thỏa thuận này là hợp pháp Dựa theo quy định tại Điều 35 Luật HN&GĐ năm 2014 và Điều 41 LCC năm 2014, CCV sẽ chứng nhận sự thỏa thuận của họ Khi văn bản này được công chứng thì khi bà Hoàng Thị Hương thực hiện các giao dịch liên quan tới QSDĐ này sẽ không liên quan gì tới ông Nguyễn Văn Định
So với trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, việc vợ chồng tự thỏa thuận với nhau đây là tài sản riêng của một bên vợ, hoặc chồng nó chứa nhiều điểm tương đồng Bởi lẽ, cùng xuất phát từ nguồn gốc tài sản là của chung
vợ và chồng, đều được vợ chồng thừa nhận là tài sản chung Tuy nhiên, điểm khác
Trang 3731
biệt rõ ràng mà ta nhận thấy giữa hai trường hợp này là cách thức thỏa thuận Trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì cả người vợ và người chồng đều có quyền lợi, mỗi bên sẽ được hưởng một phần theo tỷ lệ mà hai bên tự đưa ra và còn kéo theo những hậu quả pháp lý được quy định tại Điều 40 Luật HN&GĐ năm 2014 Còn đối với trường hợp thỏa thuận tài sản riêng thì quyền lợi
sẽ thuộc về một bên, tài sản được thỏa thuận trở thành tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên, mà không kéo theo hệ quả pháp lý nào CCV xác định mục đích của việc thỏa thuận tài sản riêng sẽ phải thận trọng hơn bởi việc thỏa thuận rất dễ nảy sinh trường hợp lách luật để thực hiện các mục đích khác nhau Ví dụ: người chồng đang có nghĩa vụ về tài sản nhưng lại thỏa thuận tài sản là của riêng của người vợ, sau đó người vợ sẽ định đoạt tài sản theo cách của riêng mình dễ gây ảnh hưởng tới bên thứ ba
Đây là một trường hợp diễn ra rất phổ biến tại VPCC Pháp luật tôn trọng
sự thỏa thuận của các bên, miễn là không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội Mục đích của việc lập thỏa thuận này có thể là: vợ chồng luôn muốn tách bạch một cách rõ ràng, cụ thể tất cả những tài sản của vợ chồng bởi họ tham gia vào rất nhiều các quan hệ kinh tế Khi có sự thỏa thuận rõ ràng như vậy sẽ giúp họ thuận lợi hơn trong việc sử dụng tài sản vào làm ăn kinh doanh Đảm bảo tính độc lập tương đối của vợ, chồng trong việc quản lý tài sản, tạo cơ hội để vợ, chồng tham gia một cách chủ động vào các quan hệ
xã hội cũng như vào các giao dịch dân sự, thương mại vì lợi ích của gia đình cũng như lợi ích của cá nhân, phát triển kinh tế gia đình, xây dựng gia đình bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc Điều này đã và đang tạo môi trường hết sức thuận lợi để vợ, chồng có thể phát huy hết khả năng làm giàu cho chính mình, cho gia đình và xã hội Khi vợ, chồng tham gia vào các giao dịch dân sự, kinh
tế cũng đồng thời làm phát sinh nhiều vấn đề đòi hỏi pháp luật giải quyết, đặc biệt là về chủ thể tham gia giao dịch, quyền cũng như nghĩa vụ tài sản của vợ
Trang 3832
chồng trong các giao dịch đó Ngoài ra, đối tác trong các giao dịch này cũng rất quan tâm tới việc tài sản đưa vào giao dịch là tài sản chung của vợ chồng hay là tài sản riêng của một bên, mục đích xác lập giao dịch, quyền nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản đó như thế nào…để qua đó có thể xác định được mức độ đảm bảo thực hiện giao dịch Chính vì vậy, việc vợ chồng thỏa thuận với nhau về tài sản riêng đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi để vợ, chồng chủ động tham gia vào các quan hệ kinh tế, xã hội, đồng thời đảm bảo độ tin cậy của đối tác kinh doanh
Tuy nhiên trên thực tế, việc cho phép vợ chồng thỏa thuận như vậy cũng tiềm ẩn những rủi ro:
- Các bên lợi dụng việc pháp luật cho phép vợ chồng được thỏa thuận về tài sản nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài sản với người thứ ba mà CCV rất khó có thể biết được mục đích này Bởi lẽ, khi họ đến VPCC yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận về tài sản riêng của họ thì họ đã có sự bàn bạc, thống nhất rất kỹ từ trước Về mặt chủ thể, về mặt nội dung yêu cầu công chứng phù hợp với quy định của pháp luật thì CCV không thể từ chối yêu cầu của họ
Khi vợ chồng đã thỏa thuận về tài sản riêng thì mặc nhiên tài sản đó sẽ chịu sự định đoạt của vợ hoặc chồng Nếu tài sản này được đưa vào làm ăn kinh doanh không may bị thua lỗ, trong khi nó là nguồn sống chủ yếu của gia đình thì việc xử lý tài sản để thanh toán các nghĩa vụ với người thứ ba rất có thể sẽ làm ảnh hưởng tới cuộc sống của các thành viên khác trong gia đình Trên thực tế cũng có những trường hợp vợ, chồng thỏa thuận tài sản riêng chỉ nhằm mục đích một bên vợ hoặc chồng quản lý, sử dụng tài sản được dễ dàng hơn khi một bên đi làm ăn xa, đi xuất khẩu lao động sang nước ngoài mà chỉ vì lòng tin tuyệt đối đối với vợ hoặc chồng nên họ mới thỏa thuận như vậy Tuy nhiên, khi một bên vợ hoặc chồng đi làm ăn xa hoặc đi xuất khẩu lao
Trang 3933
động sang nước ngoài… thì vợ hoặc chồng ở nhà đã bán (chuyển nhượng) một phần hoặc toàn bộ tài sản đó Nguyên nhân của việc này có thể là làm ăn thua lỗ, tham gia vào các tệ nạn xã hội hoặc cũng có thể sử dụng vào mục đích tiêu cực khác Đến khi một bên vợ, chồng phát hiện ra thì tài sản đã không còn
Có thể thấy, việc pháp luật cho phép vợ chồng được thỏa thuận tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân cũng như con dao hai lưỡi Một mặt nó tạo điều kiện cho vợ, chồng được sử dụng tài sản vào làm ăn được thuận lợi, nhưng một mặt cũng dễ dàng khiến cho tài sản này bị sử dụng một cách không hiệu quả, gây ảnh hưởng tới lợi ích của các thành viên khác trong gia đình và còn
có thể ảnh hưởng tới cả người thứ ba
2.3 Thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Ở Việt Nam, qua mỗi giai đoạn phát triển, chế độ tài sản của vợ chồng đều thể hiện những nét đặc thù riêng Trên cơ sở nền kinh tế thị trường, sự phát triển của xã hội và gia đình, Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định về chế
độ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm chế độ tài sản chung và chế độ tài sản riêng Như một tất yếu của cuộc sống chung, sau khi kết hôn đòi hỏi vợ chồng phải đồng lòng, chung ý chí để vun đắp hạnh phúc gia đình
Do đó, tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng đều cần được khai thác nhằm đảm bảo cho sự phát triển và tồn tại của gia đình Trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường, đẩy mạnh quan hệ giao thương với các nước trong khu vực và trên thế giới đã làm phát sinh nhiều nghĩa vụ về tài sản mà vợ chồng phải gánh vác Theo đó, nhu cầu tài sản riêng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ riêng là rất cần thiết Điều này, đã làm nảy sinh việc chia tài sản chung của vợ chồng để giải quyết các nhu cầu đặt ra Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể hiểu là việc vợ chồng thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc
Trang 4034
sở hữu chung của vợ chồng cho mỗi bên vợ, chồng dựa trên các căn cứ luật định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng và người thứ ba có liên quan mà không làm chấm dứt mối quan hệ giữa vợ và chồng trước pháp luật
Vụ việc sau là một minh chứng: Ngày 26/07/2018, VPCC Hòa Tiến nhận được yêu cầu công chứng văn bản chia tài sản chung của ông Nguyễn Văn
Thủy và vợ là bà Nguyễn Thị Mai Vợ chồng ông Thủy có tài sản chung là
QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: Thôn Khả Lý Thượng, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; diện tích: 151,7 m2, tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà cấp 4, loại 4 (độc lập, không có công trình phụ, 1 tầng mái ngói dạng đơn giản), diện tích khoảng 35 m2, xây dựng năm 2016, chủ sử dụng chưa có nhu cầu đăng ký tài sản gắn liền với đất Văn bản này được công chứng ngày 26/07/2018, số công chứng: 1581, quyển số: 04 TP/CC-SCC/HĐGD
Bằng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung, ông Thủy và bà Mai cùng
thỏa thuận và thống nhất phân chia QSDĐ nêu trên như sau: Ông Nguyễn
Văn Thủy được hưởng QSDĐ có diện tích là: 80 m2
; bà Nguyễn Thị Mai được hưởng QSDĐ có diện tích là: 71,7 m2
và toàn bộ tài sản gắn liền với đất
tại thửa đất nêu trên
Khoản 1 - Điều 38 - Luật HN&GĐ năm 2014 quy định trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung Pháp luật hiện hành không có quy định nào giới hạn việc thỏa thuận về
tỷ lệ chia tài sản chung của vợ chồng mà chỉ nêu ra các nguyên tắc buộc vợ chồng phải dựa trên các nguyên tắc đó để vận dụng, miễn là không vi phạm pháp luật và không trái đạo đức xã hội Pháp luật về công chứng chỉ quy định một cách chung nhất về việc công chứng các giao dịch, cũng không có bất kỳ quy định nào ràng buộc tỷ lệ chia tài sản chung của vợ chồng Vì vậy, có thể