Hy vọng rằng, luận văn này sẽ giúp người đọc có thêm hiểu biết nhất định đối với các quy định về bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha, mẹ ly hôn cũng như một số vấn đề th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN NINH CHI
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON CHƯA THÀNH NIÊN SAU KHI LY HÔN – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Ninh Chi
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo, PGS.TS Hà Thị Mai Hiên đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình xây dựng luận văn này Đồng thời, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo Khoa Pháp luật dân sự; các thầy cô giáo Khoa Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Luật Hà Nội đã hết lòng truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện để tôi được học tập, nghiên cứu trong hai năm học vừa qua
Bên cạnh đó, tôi cũng gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp tại cơ quan, gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thời gian, có động lực để hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, xin kính chúc cô giáo, PGS.TS Hà Thị Mai Hiên cùng các thầy, cô giáo luôn mạnh khỏe và tiếp tục gặt hái được nhiều thành công trong
sự nghiệp giảng dạy, nghiên cứu Đồng kính chúc các đồng nghiệp và bạn bè đạt được những điều tốt đẹp trong công việc và cuộc sống
Mặc dù đã cố gắng hết sức, tuy nhiên bởi vốn hiểu biết còn hạn hẹp nên luận văn này không tránh khỏi nhiều thiếu sót Kính mong các thầy, cô và toàn thể bạn đọc đóng góp, cho ý kiến để luận văn được hoàn thiện hơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Ninh Chi
Trang 4Nghị định số
67/2015/NĐ-CP
: Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……….……… 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON CHƯA THÀNH NIÊN SAU KHI CHA MẸ LY HÔN……… 7 1.1 Khái niệm, ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên khi ly hôn……… 7
1.1.1 Khái niệm ly hôn và hậu quả pháp lý, xã hội của việc ly hôn đối với con chưa thành niên……… 7 1.1.2 Khái niệm bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha
mẹ ly hôn……… …… ……… 12 1.1.3 Ý nghĩa của quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn……… … 13
1.2 Nội dung của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn theo pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam……….16
1.2.1 Nguyên tắc giao con chưa thành niên cho bên nào nuôi dưỡng, giáo dục vì quyền lợi mọi mặt của con………16
1.2.1.1 Trường hợp cha mẹ có sự thỏa thuận……….… 18 1.2.1.2 Trường hợp cha mẹ không có sự thỏa thuận………19 1.2.1.3 Việc xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên… 20
1.2.2 Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên sau khi ly hôn 21
1.2.2.1 Nghĩa vụ và quyền của người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con……….…… 21
Trang 61.2.2.2 Nghĩa vụ và quyền của người không trực tiếp nuôi dưỡng,
giáo dục con………27
1.2.3 Quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con……… ………40
1.2.3.1 Điều kiện để Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con……… ………… 40
1.2.3.2 Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ sau khi thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con……….……42
1.2.4 Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên…… 43
Tiểu kết Chương 1……….….………46
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON CHƯA THÀNH NIÊN SAU KHI CHA MẸ LY HÔN ………47
2.1 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn trong hoạt động xét xử……… 47
2.2 Một số khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành án về cấp dưỡng nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn……… 57
2.3 Một số tồn tại, bất cập trong việc thi hành án giao con cho người nào trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục……… 59
2.4 Một số giải pháp tăng cường bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn……….………… 63
2.4.1 Giải pháp về hoàn thiện pháp luật……….63
2.4.2 Giải pháp về tổ chức thực hiện pháp luật……… 65
Tiểu kết Chương 2……… 68
KẾT LUẬN……….……… 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ly hôn – một vấn đề không mới nhưng đang xảy ra ngày càng phổ biến
và có dấu hiệu tăng lên đáng kể qua từng năm, là một biện pháp mà nhiều đôi
vợ chồng lựa chọn như là lối thoát cho cuộc sống bế tắc, giải thoát cho bản thân Tuy nhiên, họ lại không hoàn toàn ý thức hết được hậu quả pháp lý, xã hội mà ly hôn đem lại cho những đứa con của mình Ly hôn trở thành nỗi mất mát, thiếu hụt trong tâm hồn trẻ và nếu trẻ không được bù đắp tình cảm, được bảo vệ thì trước hết, nhân cách chúng sẽ phát triển lệch lạc, khuyết thiếu, sau
đó sẽ là tuổi thơ bị đánh mất và dễ sa ngã, vi phạm pháp luật
Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, luôn cần được quan tâm, chăm sóc từ gia đình và xã hội Trên thế giới, nhiều văn bản đã ghi nhận quyền của trẻ em, chẳng hạn: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, Công ước quốc
tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và nhất là Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam
là nước đã phê chuẩn vào năm 1990 Trong nước, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mà đứng đầu là Hiến pháp qua các thời kỳ cùng Luật Hôn nhân và gia đình ra đời, đều đưa vào những quy định thể hiện chính sách và ưu tiên của nhà nước ta đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và bảo đảm quyền lợi cho con chưa thành niên là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật Bên cạnh đó, Luật Trẻ em năm 2016 cũng là đạo luật quan trọng, có liên quan mật thiết với Luật HN&GĐ trong quy định cụ thể các quyền cơ bản của trẻ em và trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội, cũng như các cơ quan, tổ chức hữu quan Điều đó đã thể hiện sự quan tâm nhất định của nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền trẻ em, xác định rõ trách nhiệm của cha,
mẹ, gia đình và xã hội trong việc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ Tuy nhiên trên thực tế, việc áp dụng pháp luật còn gặp phải những khó khăn, vướng mắc
Trang 8Nhiều bậc cha, mẹ coi việc chăm sóc, nuôi dưỡng con là quy luật tự nhiên mà chưa hề ý thức được tính pháp lý của hành vi đó, dẫn tới quyền trẻ em nói chung và quyền lợi của con chưa thành niên nói riêng chưa được bảo đảm tốt nhất và bị coi nhẹ Pháp luật tuy đã có những chế tài nhưng chưa đầy đủ hoặc chưa phù hợp với thực tế, còn nhiều vướng mắc, bất cập và thiếu những cơ chế cần thiết để thực hiện Vậy nguyên nhân do đâu, thực tế tại Tòa án, Cơ quan thi hành án đã áp dụng các quy định của pháp luật như thế nào, những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập, vướng mắc phát sinh ra sao?
Được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và nhất là người giảng viên
hướng dẫn của mình, tôi quyết định chọn đề tài: “Bảo vệ quyền lợi của con
chưa thành niên sau khi ly hôn – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” để
làm luận văn tốt nghiệp của mình Hy vọng rằng, luận văn này sẽ giúp người đọc có thêm hiểu biết nhất định đối với các quy định về bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha, mẹ ly hôn cũng như một số vấn đề thực tiễn
đã và đang nảy sinh, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này, cũng như bổ sung cho pháp luật về HNGĐ cũng như pháp luật dân sự nói chung
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong nghiên cứu luật học nói chung và Luật HN&GĐ của Việt Nam nói riêng, vấn đề bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn cần được nghiên cứu như một cơ sở pháp lý quan trọng tạo khung cho việc ban hành các quy phạm để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em nói chung
Đối với các quy định của pháp luật, bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn được pháp luật HN&GĐ đề cập tại Luật HN&GĐ năm 2014, Luật Trẻ em năm 2016 và một số văn bản hướng dẫn
Đối với nhóm giáo trình, sách tham khảo, bình luận chuyên sâu có thể
kể đến bao gồm: Nguyễn Ngọc Điện (2002), Bình luận khoa học Luật Hôn
Trang 9nhân và Gia đình Việt Nam, Nhà xuất bản (Nxb.) Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường (2002), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội; Tưởng Duy Lượng (2001), Bình luận một số án Dân sự và Hôn nhân
và gia đình, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Đinh Mai Phương (2004), Bình luận khoa học Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội; Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình (2013), Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội; … Các tài liệu này mới chỉ đề cập một lượng kiến thức cơ bản, phổ thông hoặc trích đăng phụ lục, chỉ dẫn hoặc phân tích một số quy định trong các văn bản liên quan đến vấn đề HN&GĐ
Đối với nhóm luận văn, luận án, đề tài khoa học có thể liệt kê gồm: Bùi
Thị Mừng (2004), Về việc xem xét nguyện vọng của con khi giải quyết vấn đề giao con cho ai nuôi trong các vụ án ly hôn, Tạp chí Luật học; Đỗ Thị Thu Hương (2011), Vấn đề hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Phạm Thị Ngân (2012), Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con khi cha mẹ ly hôn, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Thị Liên (2012), Bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ
ly hôn – Thực tiễn xét xử tại các Tòa án thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế, Luận
văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Lê Thu Trang
(2012), Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và các con khi vợ chồng ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Lê Thị Loan (2015), Pháp luật Việt Nam với việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và các con khi ly hôn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Thị Thúy An (2017), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau khi ly hôn, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Trang 10Trường Đại học Luật Hà Nội;… Các đề án, đề tài, luận văn này chỉ đề cập đến một lượng kiến thức khái quát về vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha
mẹ ly hôn, chưa có sự tách biệt, rạch ròi với đối tượng là trẻ chưa thành niên
Có thể thấy, công trình nghiên cứu chuyên biệt về vấn đề bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn chưa nhiều, chưa đầy đủ Giáo trình, luận văn, các công trình nghiên cứu khoa học khác tuy có đề cập tới nhưng chưa phân tích tỷ mỷ, chi tiết vấn đề này Một số tạp chí, báo đài có đưa tin, phóng sự nhưng không cụ thể, chỉ đưa ra các thông tin vụ việc mà chưa đi sâu nghiên cứu, phân tích gốc rễ các quy định của pháp luật, chưa đề xuất biện pháp giải quyết có hiệu quả hoặc chưa khả thi trong tình hình hiện nay Nhìn chung, các công trình, đề tài nghiên cứu về vấn đề này có nhưng chưa thực sự nổi bật, đề cập chưa toàn diện và chưa giải quyết triệt để được các nội dung phát sinh; chưa có công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ, chuyên sâu về bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha
mẹ ly hôn
3 Phương pháp nghiên cứu được áp dụng
Để thực hiện luận văn này, tác giả đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin về pháp luật, về quan điểm điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ
Luận văn còn được thực hiện bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp để nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn Các phương pháp
so sánh, thống kê, khảo sát, điều tra để đối chiếu, đánh giá, tìm ra điểm mới,
sự thay đổi trong các quy định của các pháp luật; thu thập thông tin qua các nguồn tài liệu thực tiễn để minh chứng cho các vấn đề lý luận Ngoài ra, một
số phương pháp khác được tác giả sử dụng để làm sáng tỏ, phong phú các vấn
đề cần nghiên cứu
Trang 114 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên sau khi cha, mẹ ly hôn, tập trung vào Luật HN&GĐ Việt Nam năm
2014 và thực tiễn áp dụng các quy định trong hoạt động xét xử, thi hành án
* Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên sau khi cha, mẹ ly hôn ở nước ta;
- Tập trung chủ yếu vào các quy định hiện hành của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 về vấn đề bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên sau khi cha, mẹ ly hôn và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan;
- Nghiên cứu về thực tiễn áp dụng các quy định về bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên sau khi cha, mẹ ly hôn tại Tòa án, Cơ quan thi hành án
5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ các quy định của pháp luật và việc
áp dụng pháp luật trên thực tế, từ đó làm cơ sở đưa ra các giải pháp, kiến nghị giúp bảo đảm tối đa quyền lợi cho trẻ chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn
- Tìm hiểu một cách có hệ thống, khoa học những quy định của pháp luật, tập trung vào Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 về quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn
- Thực tiễn áp dụng pháp luật và những vướng mắc, bất cập, tồn tại nảy sinh khi áp dụng pháp luật
- Từ những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật đã tìm hiểu, tác giả đề xuất một số giải pháp về tổ chức và
Trang 12thực hiện pháp luật để tăng cường bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn này bao gồm các nội dung chính:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn;
Chương 2: Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp tăng cường bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON CHƯA THÀNH NIÊN SAU KHI
CHA MẸ LY HÔN 1.1 Khái niệm, ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn
1.1.1 Khái niệm ly hôn và hậu quả pháp lý, xã hội của việc ly hôn đối với con chưa thành niên
* Khái niệm ly hôn và hậu quả pháp lý của việc ly hôn
Ly hôn là một vấn đề xã hội mang ý nghĩa tiêu cực nhiều hơn là tích cực do những hệ quả mà nó mang lại Từ khi pháp luật ra đời thì những quy định về vấn đề ly hôn cũng theo đó mà xuất hiện, bởi quan hệ hôn nhân gia đình là một trong những quan hệ chủ đạo trong xã hội và việc ly hôn dễ xảy ra khi quan hệ hôn nhân tan vỡ Tuy vậy, trải qua mỗi hình thái kinh tế xã hội theo các thời kỳ thì quan điểm của nhà làm luật và quy định của pháp luật lại không giống nhau Theo đó, khi các hình thái kinh tế xã hội phát triển thì vấn
đề ly hôn ngày càng được nhìn nhận một cách tiến bộ hơn
Trong thời kỳ chế độ phong kiến mà đặc trưng là tư tưởng trọng nam khinh nữ, đề cao sự gia trưởng của người đàn ông, chế độ đa thê cùng những căn cứ bất bình đẳng về ly hôn thì hôn nhân không xuất phát từ tình yêu, nền tảng gia đình không được xây dựng trên cùng nguyện vọng, lý tưởng kéo theo việc ly hôn chỉ được xem như thứ công cụ để bảo vệ hệ tư tưởng của chế độ phong kiến cũng như lợi ích của giai cấp thống trị: cho phép người chồng tự cho mình quyền bỏ vợ với nhiều lý do Trong khi đó, người vợ không được quyền bỏ chồng mặc dù cuộc hôn nhân đó là sự đau khổ, dày vò cả về thể xác lẫn tinh thần
Trang 14Sang tới xã hội tư sản, khi xã hội đã có bước tiến dài trong lịch sử, việc
tự do yêu đương, chế độ hôn nhân một vợ một chồng và tự do ly hôn… đã được quy định Dù vậy, về bản chất, những quy định trên vẫn không thoát khỏi hệ tư tưởng của giai cấp tư sản, dù rất tiến bộ nhưng khó thực hiện trên
thực tế, chỉ mang tính hình thức Lê-nin đã chỉ rõ: “Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, quyền ly hôn cũng như tất cả mọi quyền dân chủ khác, không loại trừ một quyền nào đều không thể thực hiện một cách dễ dàng được, nó lệ thuộc vào nhiều điều kiện, bị giới hạn, bị thu hẹp và có tính chất hình thức 1” Có
thể thấy rõ biểu hiện đó qua quy định về căn cứ ly hôn: Việc ly hôn thường căn cứ vào lỗi của một bên đương sự; lỗi là yếu tố quyết định một cuộc hôn nhân có thể tồn tại được hay không cũng như ai là người có quyền xin ly hôn
Do đó, chỉ cần một bên có lỗi thì cuộc hôn nhân đó có căn cứ chấm dứt bất kể cuộc sống của gia đình và tình trạng cuộc hôn nhân trong một thời gian dài diễn ra như thế nào Như vậy, ly hôn đã không phản ánh được đúng như bản chất của nó
Đến giai đoạn xã hội chủ nghĩa, các quy định về ly hôn cơ bản đã phản ánh đúng bản chất của vấn đề khi pháp luật là ý chí số đông trong xã hội Nếu coi hôn nhân là kết quả của tình yêu và sự đồng thuận của hai bên nam nữ thì
ly hôn là sự giải thoát cho họ khi nhận thấy quyết định đó là sai lầm Bởi, bản
chất của ly hôn “chỉ là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn nhân này chỉ là một cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả dối 2” và
“Tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm tan rã những mối liên hệ gia đình
mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh 3”
Matxcơva, 1981, T.30, tr.166.
Trang 15Theo quy định tại Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ thì: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” Khi nhận thấy quan hệ vợ chồng luôn căng thẳng, nặng nề và cuộc hôn
nhân của mình là sai lầm thì vợ hoặc chồng cũng có thể đứng ra yêu cầu Tòa
án chấm dứt quan hệ đó và Tòa án là người khách quan bên ngoài xem xét, nhìn nhận và đánh giá toàn diện vấn đề để từ đó đưa ra quyết định cuối cùng Đảm bảo quyền tự do ly hôn cũng là một nội dung quan trọng của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được ghi nhận tại Điều 36 Hiến pháp năm 2013
và được cụ thể hóa tại Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014 Tuy nhiên, tự do ly hôn không phải là tự do tùy tiện không theo quy tắc nào mà phải dựa trên
những căn cứ luật định - khi “hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”
(Khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014), bên cạnh đó, ly hôn chỉ có giá trị pháp lý khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Ở thời kỳ này, căn cứ ly hôn cơ bản đã được đánh giá một cách tổng quát, xem xét đến bản chất của nguyên nhân ly hôn, đó là khi mọi cố gắng để duy trì đời sống chung đã trở thành vô ích, quan hệ hôn nhân thực sự rạn nứt, tan vỡ đến không thể hàn gắn, tình trạng gia đình luôn căng thẳng, không tìm được tiếng nói chung Điều đó thể hiện bản chất khác với việc chỉ căn cứ ly hôn dựa trên yếu tố lỗi của xã hội tư sản trước đó hoàn toàn dựa trên những hiện tượng mà không xem xét bản chất của vấn đề
Như vậy, trải qua mỗi thời kỳ chế độ xã hội khác nhau, khái niệm ly hôn lại được hiểu và định nghĩa theo những quan điểm khác nhau So với chế
độ phong kiến và tư sản nhìn nhận ly hôn theo góc độ tiêu cực: do lỗi của một bên gây ra thì tới chế độ xã hội chủ nghĩa, nó được nhìn nhận dưới một khía cạnh tích cực hơn, bình đẳng hơn – là lối thoát, giải pháp cho một cuộc sống
bế tắc Mặt khác, căn cứ để ly hôn và vai trò của cơ quan xét xử ở các thời kỳ
Trang 16cũng rất khác nhau Trong xã hội phong kiến và tư bản, cơ quan xét xử không quan tâm, cân nhắc nhiều đến cuộc sống và tình cảm của vợ chồng đã thực sự chấm dứt hay chưa mà chỉ xem xét yếu tố lỗi mà các bên đưa ra có hợp lý hay không, dẫn tới việc xét xử thụ động Còn tới chế độ xã hội chủ nghĩa, Tòa án
là cơ quan nhìn nhận vấn đề một cách khách quan để quyết định có hay không việc ly hôn của vợ, chồng, đó đã phải là giải pháp cuối cùng cho cuộc hôn nhân bế tắc với nhiều mâu thuẫn hay chưa
Tóm lại, ly hôn là sự kiện pháp lý do quyết định của Tòa án căn cứ theo các quy định của pháp luật về HN&GĐ, sau khi đã tiến hành các thủ tục tố tụng dân sự, được thể hiện bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trước pháp luật
* Hậu quả xã hội của việc ly hôn đối với con chưa thành niên
Khi quan hệ hôn nhân thực sự tan vỡ, không còn sự cố gắng để duy trì đời sống chung hoặc mọi sự cố gắng đều vô ích, tình trạng gia đình ngày càng trầm trọng thì ly hôn là một trong những hệ quả tất yếu Ly hôn là quyết định của các cặp vợ chồng nhằm cấu trúc lại cuộc sống của mình Tuy nhiên, ảnh hưởng của nó với xã hội rất nặng nề Nhiều nước, tỷ lệ ly hôn của các cặp vợ chồng tăng lên đáng lo ngại, tạo ra những hệ lụy nặng nề cho sự phát triển và môi trường xã hội Nhiều nhà khoa học đã đưa ra những lời cảnh báo nhằm hạn chế tình trạng ly hôn hiện nay
Theo thống kê của Liên hợp quốc, trên thế giới trong năm 2016, 10 nước có tỷ lệ ly hôn cao nhất là: Bỉ (71%), Bồ Đào Nha (68%), Hung-ga-ry (67%), Cộng hòa Séc (66%), Tây Ban Nha (61%), Lúc-xem-bua (60%), Ét-x-tô-ni-a (58%), Cu-ba (56%), Pháp (55%), Mỹ (53%) Một số nước ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, tỷ lệ ly hôn có xu hướng tăng Tình trạng ly hôn ở khu vực thành thị thường cao hơn ở nông thôn
Trang 17Hệ quả về mặt xã hội của các cuộc ly hôn rất nặng nề Trước tiên, nó ảnh hưởng tới tâm lý với người ly hôn Đối với đa số các trường hợp, thất vọng về cuộc sống hôn nhân, giảm sút lòng tin vào con người Từ đó kéo theo những tác động không tốt đến sinh lý do thay đổi thói quen sinh hoạt Tác động đó ảnh hưởng không tốt đến sức lao động của con người Bố mẹ ly hôn
có tác động rất lớn đến tâm lý, thể chất của con cái, nhất là các trường hợp ly hôn khi con còn nhỏ hoặc ở lứa tuổi đang phát triển Nó làm thay đổi xu hướng phát triển của đứa trẻ, dẫn tới những hệ lụy lâu dài về sau Ly hôn gây nên những rạn nứt trong các mối quan hệ, dẫn đến những diễn biến tâm lý cực đoan trong xã hội của người ly hôn Trên bình diện đạo đức xã hội, ly hôn phát triển mạnh mẽ sẽ trở thành trào lưu; khiến cho con người dễ dàng chấp nhận lối sống hời hợt, thiếu trách nhiệm với hôn nhân, tính bền vững của gia đình không cao và kết cấu xã hội lỏng lẻo
Nguyên nhân của tình trạng ly hôn nhiều ở các nước nêu trên được đánh giá khá toàn diện Trước tiên xuất phát từ quan niệm xã hội về hôn nhân, đơn giản là mối quan hệ cộng sinh đơn thuần, sẵn sàng tan vỡ khi có nhân tố không thỏa mãn hoặc tồn tại không trọn vẹn Đối với một số quốc gia, còn xuất phát từ chính sách kinh tế, xã hội như giảm thuế thu nhập ở mức cao cho người đã kết hôn (một số nước châu Âu), nhà nước đảm bảo chi phí cưới và hưởng tuần trăng mật cho các cặp đôi kết hôn (Cu-ba), tình hình kinh tế khó khăn, thủ tục ly hôn dễ dàng (chỉ cần một người chứng minh cuộc hôn nhân không phù hợp)…Nhưng phổ biến nhất, việc ly hôn xuất phát từ chỗ hai bên không chấp nhận những khác biệt của nhau, không sẵn sàng chia sẻ khó khăn cùng nhau và đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của người bạn đời
Thực tế cho thấy, ly hôn ở gia đình trẻ xảy ra phổ biến hơn và có xu hướng ngày càng tăng Xã hội càng phát triển hiện đại thì các cặp vợ chồng trẻ càng bỏ nhau dễ dàng bởi tư duy của họ cởi mở, phóng khoáng, độc lập về
Trang 18kinh tế, cái tôi bản thân quá cao dẫn tới khi cuộc sống phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân có dấu hiệu rạn nứt, không hạnh phúc thì họ sẵn sàng ly hôn Có thể thấy, giới trẻ ngày nay đang thiếu sự chuẩn bị cho cuộc sống chung, nhiều đôi yêu cuồng, cưới vội rồi sau đó nhanh chóng chia tay vì thiếu kỹ năng làm vợ làm chồng, làm mẹ làm cha; không được học tập, rèn luyện kỹ năng ứng phó, giải quyết các vấn đề phức tạp, mâu thuẫn phát sinh trong đời sống gia đình, đặc biệt là thiếu sự hy sinh cần thiết dành cho nhau dẫn tới khi có chuyện, hôn nhân thường dễ đứt dãy Để có một gia đình hạnh phúc, bền vững chưa bao giờ là điều dễ dàng, bởi không có cuộc hôn nhân nào mà không có sóng gió
và không phải hễ cứ xảy ra mâu thuẫn là đôi bên lại đòi ly hôn Do vậy, cần rất nhiều sự cố gắng, hy sinh, chia sẻ của cả hai bên để cùng vượt qua Họ đâu biết hết được rằng, mỗi khi một gia đình tan vỡ, xã hội và người thân sẽ thêm gánh nặng, trong đó hệ lụy buồn nhất vẫn là những đứa trẻ thiếu đi sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giáo dục đầy đủ của cả cha và mẹ Thực tế đã cho thấy, không ít trẻ học hành sa sút, nhân cách lệch lạc, thậm chí là phạm pháp ngay ở tuổi vị thành niên khi cha mẹ bỏ nhau
1.1.2 Khái niệm bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn
Trước hết, để nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên,
cần tìm hiểu rõ một số khái niệm Về từ “bảo vệ”, đó là động từ, có nghĩa là
hành động, hoạt động giữ gìn cho khỏi hư hỏng, chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ cho được nguyên vẹn; giữ gìn an toàn cho một cơ quan, tổ chức, tập thể hoặc một nhân vật, một cá nhân nhất định, bênh vực bằng lý lẽ
xác đáng Còn đối với khái niệm “con chưa thành niên”, theo Khoản 1 Điều
21 Bộ luật dân sự năm 2015 thì người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi Vì vậy, con chưa thành niên trong phạm vi luận văn này, cũng chính
là người chưa thành niên theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, tức là
Trang 19trẻ chưa đủ mười tám tuổi – người chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần của con người, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như những người đã thành niên Mặt khác, theo Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em, được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 20/11/1989
có quy định: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em là người dưới mười tám tuổi; trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” Có thể thấy, quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện
hành hoàn toàn phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em, qua đó pháp luật nước ta đã phần nào bảo đảm quyền và nghĩa vụ của trẻ em cơ bản thống nhất với quốc tế
Có thể nói, bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên sau khi ly hôn là
tổng thể các biện pháp, cách thức, thông qua các quy định của pháp luật do các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện, để đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của con không bị xâm phạm hoặc chịu tác động, ảnh hưởng xấu từ việc ly hôn của cha mẹ, đồng thời áp dụng các chế tài xử lý đúng, kịp thời, nghiêm khắc những hành vi vi phạm làm tổn hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của con sau khi cha mẹ ly hôn Ở phạm vi rộng hơn, bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên là việc đảm bảo quyền lợi cho trẻ thông qua khuyến khích, áp dụng các biện pháp nhằm tạo điều kiện tốt nhất để trẻ được phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần; phòng ngừa và kịp thời phát hiện, ngăn chặn, chống lại hoặc khắc phục hậu quả những hành vi làm ảnh hưởng đến trẻ, nhất là trong bối cảnh cha mẹ trẻ ly hôn
1.1.3 Ý nghĩa của quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn
Trước hết, đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc nâng cao tinh
thần trách nhiệm đối với con cái của cha, mẹ
Trang 20Cha, mẹ sinh con, cũng là người chịu trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục con đến khi trưởng thành, đủ khả năng tự lập, nuôi sống bản thân Bất kể cha,
mẹ có sống cùng nhau hay không, có cuộc sống thiếu thốn hay đầy đủ cũng không thể chối bỏ trách nhiệm với con cái Có đôi khi, cùng chăm sóc, nuôi dạy con là niềm vui của bậc làm cha mẹ, con cái là động lực để phấn đấu, để
cố gắng xây đắp gia đình thêm đủ đầy, êm ấm nhưng khi ly hôn được cho là giải pháp cuối cùng, tranh chấp, mâu thuẫn diễn ra thường xuyên thì công việc chung đó, vô tình cũng trở thành một lý do để các bên chỉ trích, trách móc nhau Vì vậy, luật đã quy định việc nuôi con không chỉ là quyền mà còn
là nghĩa vụ của cha, mẹ Nghĩa vụ này vừa là nhằm bảo vệ quyền lợi cho trẻ, vừa là để nâng cao ý thức trách nhiệm của cha, mẹ, nhất là sau khi đã ly hôn,
là căn cứ để có chế tài phù hợp áp dụng nếu cha, mẹ không thực hiện nghĩa vụ của mình
Thứ hai, đây là sự cụ thể hóa nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của trẻ em
trong trường hợp đặc biệt
Trong giai đoạn hiện nay, bảo vệ trẻ em luôn là vấn đề được xã hội quan tâm, tạo điều kiện Đảng, nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách và cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật, ví dụ như trước đây
là Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và hiện tại là Luật trẻ
em năm 2016, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2017 Trong đó, luật thể hiện, ghi nhận rõ nhiều quyền lợi của trẻ như quyền sống, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu, quyền vui chơi giải trí, quyền về tài sản và một
số quyền đặc thù khác nữa Đối với trường hợp con chưa thành niên có cha,
mẹ ly hôn, trẻ còn phải chịu nhiều thiệt thòi và mất mát hơn nhiều so với những đứa trẻ được sống trong một gia đình đầy đủ, trọn vẹn cả cha lẫn mẹ
Vì lẽ đó, Luật HN&GĐ quy định việc bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành
Trang 21niên sau khi ly hôn chính là sự cụ thể hóa nguyên tắc bảo vệ trẻ em trong trường hợp đặc biệt, có cha, mẹ ly hôn
Thứ ba, đây là sự thể hiện tính chất công bằng, dân chủ, nhân đạo của
pháp luật xã hội chủ nghĩa
Pháp luật xã hội chủ nghĩa, về cơ bản, có sự tiến bộ, vượt hơn hẳn so với các chế độ trước đó khi quy định căn cứ ly hôn phải được Tòa án xem xét, nhìn nhận một cách khách quan nhất Quy định này đã giảm thiểu được số trường hợp gia đình tan vỡ khi mâu thuẫn, xung đột giữa các bên còn có thể cứu vãn được Điều đó sẽ khiến số vụ việc ly hôn giảm đi, số trẻ chưa thành niên phải sống xa bố hoặc mẹ cũng theo đó mà bớt đi Mặt khác, khi cố gắng duy trì, cứu vãn một cuộc hôn nhân bế tắc sẽ chỉ làm tình hình cuộc sống thêm căng thẳng, trầm trọng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến con trẻ thì ly hôn cũng là biện pháp phù hợp để cuộc sống của trẻ được tốt đẹp hơn Việc quy định giao con cho người nào nuôi hoàn toàn là vì lợi ích của trẻ đã thể hiện rõ, cho dù trong hoàn cảnh nào thì quyền lợi của con chưa thành niên luôn được đặt lên hàng đầu Điều này đã thể hiện được bản chất nhân đạo của pháp luật
xã hội chủ nghĩa so với các chế độ trước đó
Thứ tư, đây là sự tiếp nối truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc
Bất kể trải qua thời kỳ dựng nước hay giữ nước của dân tộc hay cho đến thời điểm hiện tại, tình cảm gia đình luôn mang ý nghĩa rất thiêng liêng trong tâm thức người Việt Cho dù xã hội phát triển, thay đổi từng ngày thì truyền thống, đạo lý giữa cha, mẹ và con cái ấy vẫn luôn được giữ gìn, tiếp nối Khi mà sự quan tâm đến trẻ em ngày càng được chú trọng thì việc ghi nhận trong luật nguyên tắc cũng như cụ thể hóa các quy định về nghĩa vụ nuôi con của cha mẹ được coi như là biểu hiện cho sự tiếp nối truyền thống, đạo đức dân tộc
Trang 221.2 Nội dung của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của con chƣa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn theo pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam
1.2.1 Nguyên tắc giao con chưa thành niên cho bên nào nuôi dưỡng, giáo dục vì quyền lợi mọi mặt của con
Trong một vụ án ly hôn, ngoài vấn đề tài sản thì việc giao con cho ai nuôi là một nội dung quan trọng mà Tòa án phải quyết định Bởi, người bị tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi sau khi cha, mẹ ly hôn vẫn là những đứa con, nhất là khi trẻ đang ở lứa tuổi chưa thành niên, cần sự chăm sóc của cả cha và
mẹ để đạt được sự phát triển toàn diện nhất Trên thực tế, không ít các bậc cha, mẹ khi đưa nhau ra Tòa, ngoài chia tài sản, chia các khoản nợ hoặc nghĩa
vụ, họ còn xác định cả vấn đề “chia con” Đây là khái niệm được khá nhiều người sử dụng, theo ý hiểu của bản thân họ, mà không phải bản chất của vấn
đề Sau khi ly hôn là cha, mẹ sẽ không chung sống cùng nhau nữa nên trẻ, theo lẽ đương nhiên sẽ theo cha hoặc mẹ đến một nơi ở mới, hoặc vẫn ở nhà
cũ nhưng thiếu vắng đi người còn lại Từ đây, không phải cả cha và mẹ đều hàng ngày được tiếp xúc với trẻ, chăm sóc, giáo dục, chơi đùa ,…cùng trẻ mà thay vào đó, chỉ có một bên được trực tiếp đảm nhận nghĩa vụ đó Ở một góc
độ khác, nhìn nhận về mặt pháp luật, trẻ không phải là tài sản, đồ vật để được xem xét, tính toán là chia cho ai, hoặc giao hết các con cho một bên trực tiếp nuôi, bên còn lại chỉ có nghĩa vụ cấp dưỡng Tóm lại, khái niệm “chia con” thường được sử dụng ở trên vừa không phù hợp với quy định của pháp luật, vừa không đúng với thực tế về mặt xã hội, thể hiện sự thiếu trách nhiệm, hời hợt của nhiều bậc cha, mẹ trong việc nuôi dạy con cái mình, làm sai lệch bản chất của việc giao con cho một bên trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
Về nguyên tắc, việc ai là người nuôi con sau khi ly hôn có thể được các bên đương sự (vợ, chồng) tự thỏa thuận với nhau và được Tòa án ghi nhận trong bản án Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi
Trang 23dưỡng, giáo dục con khi chưa thành niên (dưới 18 tuổi) hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng (mức cấp dưỡng tùy theo điều kiện kinh tế hoặc theo thỏa thuận) để người kia chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành Nếu hai bên không thể tự thỏa thuận được với nhau, Tòa án sẽ xem xét, giao quyền nuôi con cho một bên vợ hoặc chồng Cụ thể hóa nguyên tắc nêu trên, tại Khoản 2
Điều 81 Luật HN&GĐ quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con” Quy định này nhằm bảo đảm tốt nhất
quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, các Tòa án vận dụng những quy định này không giống nhau Ở một số Tòa án, việc quyết định giao con cho ai nuôi không cần phải hỏi ý kiến của người con, nhưng có Tòa án lại cho rằng cần phải lấy ý kiến của con cả khi cha mẹ thoả thuận được việc giao con cho ai nuôi Thực tiễn cho thấy, việc xem xét ý kiến, nguyện vọng của con và coi đó là một trong những cơ sở để Tòa án quyết định việc giao con cho ai nuôi là cần thiết, xét dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn Bởi vì, khi cha mẹ ly hôn, con cái mất đi một điểm tựa quan trọng nhất, đó chính là mái ấm gia đình Việc hỏi ý kiến để các em nói lên tâm
tư, nguyện vọng của mình là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với tinh thần của Điều 12 Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là quốc
gia thành viên Theo đó: “Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em
có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về tất cả mọi vấn đề có tác động đến trẻ em, những quan điểm của các em được coi trọng một cách thích ứng với tuổi và độ
Trang 24trưởng thành của các em” Khi quyết định người trực tiếp nuôi con, Tòa án sẽ
xem xét các điều kiện về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như tình cảm, đạo đức, phương pháp nuôi dạy con cái…của cha và mẹ Ý kiến của con tuy không có ý nghĩa quyết định cuối cùng nhưng cũng là một trong những cơ sở cần thiết để Tòa án xem xét, lựa chọn người nuôi con, bảo đảm cho trẻ sự phát triển tốt nhất Xây dựng mỗi gia đình bình đẳng, hạnh phúc là mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta, cũng là ước mong của tất cả mọi người Tuy nhiên,
có những cuộc hôn nhân, vì nhiều lý do không thể tiếp tục tồn tại thì cần phải
có một hướng đi phù hợp, trong đó có việc giải quyết bằng cách thức ly hôn
Và trong một vụ án ly hôn, việc hỏi ý kiến của con là cần thiết, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người con
1.2.1.1 Trường hợp cha mẹ có sự thỏa thuận
Tôn trọng sự thỏa thuận của các bên là một trong những nguyên tắc cơ bản trong pháp luật dân sự Quan hệ hôn nhân và gia đình cũng là một loại quan hệ dân sự, do đó, cho phép và thừa nhận quyền thỏa thuận của các bên Khi đi đến quyết định ly hôn nghĩa là cha mẹ đã có sự cân nhắc, xem xét nhiều lần sao cho con cái mình bớt thiệt thòi nhất, được sống thoải mái nhất
Về cơ bản, trường hợp cha mẹ thuận tình ly hôn thì đều đã tự thỏa thuận được với nhau về tài sản và con chung Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp, cha,
mẹ thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con nhưng về tài sản, về các khoản
nợ, tài sản phát sinh khác lại không thỏa thuận được thì Tòa án vẫn phải tôn trọng, ghi nhận sự thỏa thuận về con chung đó Đồng thời, thực tiễn cũng cho thấy, không phải mọi sự thỏa thuận đều là hợp lý và vì quyền lợi cho con: có trường hợp người có đủ khả năng lại trốn tránh trách nhiệm nuôi con trong khi người không đủ điều kiện về vật chất, tinh thần lại nhận nuôi con; có trường hợp vì tự ái cá nhân hoặc có hiềm khích với bên kia mà cha, mẹ thỏa thuận mức cấp dưỡng nuôi con không phù hợp, không đảm bảo để trẻ được
Trang 25nuôi nấng, phát triển đầy đủ hoặc không yêu cầu cấp dưỡng,…Về mặt lý thuyết, các bên tự thỏa thuận và Tòa án là nơi công nhận sự thỏa thuận đó nhưng trên thực tế, thỏa thuận lại không đảm bảo được hiệu quả mà đáng lẽ ra
nó mang lại khi pháp luật dân sự thừa nhận và đặt lên hàng đầu Chỉ bởi vì những vấn đề riêng tư của cha, mẹ mà quyền lợi chính đáng của trẻ bị ảnh hưởng thì đây cũng là vấn đề mà Tòa án nên cân nhắc việc can thiệp vào thỏa thuận của cha, mẹ
1.2.1.2 Trường hợp cha mẹ không có sự thỏa thuận
Khi ly hôn, hầu hết các bậc làm cha, làm mẹ đều thương và có mong muốn là người trực tiếp nuôi con để bù đắp cho đứa trẻ cả về vật chất lẫn tinh thần, thể hiện trách nhiệm của bản thân Tuy nhiên theo quy định, con chỉ có thể sống cùng một người, dẫn tới việc cha, mẹ không có sự thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con và Tòa án sẽ là cơ quan đưa ra quết định cuối cùng, sau khi đã xem xét, cân nhắc mọi mặt để đảm bảo cuộc sống cho trẻ Khi yêu cầu Tòa giải quyết, mỗi bên đều cố gắng đưa ra lý lẽ để thuyết phục Tòa án rằng bản thân là người có đủ có điều kiện, hoặc điều kiện tốt hơn so với bên còn lại để giành quyền nuôi con Vì lẽ đó, Tòa án cần căn cứ vào nhiều yếu tố như điều kiện về kinh tế, thời gian, môi trường sống cũng như đạo đức, lối sống của các bên để xem xét giao con cho ai nuôi dưỡng Người trực tiếp nuôi con có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đứa trẻ nên việc xem xét của Tòa cần được tiến hành cẩn thận, chính xác Trước hết, về mặt tinh thần, người trực tiếp nuôi con chính là tấm gương để trẻ học tập Nếu người đó có lối sống không tốt, đạo đức không trong sáng, không quan tâm đến cuộc sống
và nhu cầu hằng ngày của con thì dù điều kiện kinh tế có tốt đến thế nào đi chăng nữa thì nhân cách của trẻ cũng phát triển lệch lạc Khi đưa ra quyết định, Tòa nên xem xét ai là người thường xuyên ở cạnh chăm sóc và đồng
Trang 26hành cùng con, trò chuyện, chơi đùa, thân thiết, gắn bó với con hơn để tạo điều kiện thoải mái nhất cho trẻ
Song song với đó, khả năng kinh tế của người được giao trực tiếp nuôi con cũng là vấn đề cần lưu tâm, vì đó là người có trách nhiệm đảm bảo mọi mặt cuộc sống cho con Họ nuôi con hoàn toàn theo khả năng của mình, nguồn thu nhập chủ yếu, ổn định mà họ có được để nuôi con Đây là vấn đề cần được cân nhắc tìm hiểu mọi vấn đề trước khi giao trẻ cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục để đảm bảo cho trẻ có được cuộc sống tốt nhất trong khả năng
Ngoài ra, môi trường sống mới sau khi ly hôn cũng là vấn đề phải tính đến bởi nó là yếu tố tác động trực tiếp đến sự hình thành nhân cách cũng như tính cách của trẻ Sau khi ly hôn, các bên đều có quyền xây dựng cuộc sống mới của riêng mình, và cha dượng – mẹ kế - con riêng – con chung luôn là vấn đề hết sức nhạy cảm Sống ở môi trường đó càng làm trẻ bị áp lực, mặc cảm với những người xung quanh, với thầy cô, bạn bè đồng trang lứa Tóm lại, khi giải quyết, Tòa cần tìm hiểu kỹ về cả lối sống của cha, mẹ trước khi ly hôn, thu nhập thực tế của họ, bạn bè thân thích của họ,…để quyết định người trực tiếp nuôi con sao cho trẻ có được cuộc sống bình thường và ổn định nhất
1.2.1.3 Việc xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên
So với Luật HN&GĐ năm 2000, độ tuổi đủ để trẻ được xem xét nguyện vọng đã giảm đi 02 tuổi theo Luật HN&GĐ năm 2014 Việc sửa đổi độ tuổi này là phù hợp bởi thực tế, trẻ càng ngày càng hiểu chuyện, cũng như có chủ kiến của mình, cũng đủ tầm nhận thức để quyết định được mình nên sống với
ai Như đã phân tích ở trên, việc kịp thời thay đổi quy định về độ tuổi để trẻ được nói lên nguyện vọng muốn sống cùng ai là phù hợp, thể hiện sự tôn trọng ý kiến của trẻ cũng như đánh giá được suy nghĩ, quan điểm của trẻ và
Trang 27phù hợp với một số nước trên thế giới và trong khu vực, với các Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà nước ta là thành viên
1.2.2 Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên sau khi ly hôn
Cuộc sống chung của vợ chồng sẽ chấm dứt sau khi ly hôn, mối quan
hệ ràng buộc về pháp lý và tình cảm hai bên cũng mất đi Tuy vậy, nghĩa vụ
và quyền của cha, mẹ đối với con cái là không thay đổi, chỉ có sự khác biệt đôi chút trong thực hiện các quyền và nghĩa vụ ấy so với trước đó Cả cha và
mẹ đều có nghĩa vụ và quyền nuôi dưỡng con, nhưng sau khi ly hôn, con chỉ được sống với cha hoặc mẹ nên người còn lại không trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con có một số quyền và nghĩa vụ đặc thù Nhà làm luật khi đưa vào các quy định trong luật đã cố gắng bù đắp phần nào cho những đứa trẻ phải chịu thiệt thòi về vật chất lẫn tinh thần khi phải chứng kiến cha, mẹ ly hôn; là
cơ sở pháp lý cần thiết để quyền lợi của con chưa thành niên được bảo vệ
1.2.2.1 Nghĩa vụ và quyền của người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con
Vì sống cùng con sau khi ly hôn nên người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con không bị hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con Đây là người thường xuyên, liên tục được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với đứa con; hơn nữa, lại là người được xác định có thể nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ tốt hơn so với người kia Họ có toàn quyền trong việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, quyền đại diện cho con, quản lý tài sản riêng của con cũng như có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra trong một số trường hợp nhất định
- Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con:
Trẻ em luôn cần được nuôi dưỡng, chăm sóc để phát triển đầy đủ về thể chất, điều này không chỉ được Hiến pháp mà tại các văn bản quy phạm pháp luật trong nước cũng như những điều ước, công ước quốc tế ghi nhận và quy
Trang 28định cụ thể Điều 15, 16 Luật Trẻ em có quy định: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức” Khoản 1 Điều 71 Luật HN&GĐ có quy định: “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” Sau khi vợ chồng ly hôn, hai bên không
thể cùng nhau thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng con mà giao lại cho người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ thực hiện Người không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con lúc này chỉ có thể thực hiện quyền thăm nom và cấp dưỡng nuôi con Do đó, mặc dù không còn chung sống cùng nhau nhưng nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục con vẫn được đặt ra cho cả hai bên, tuy nhiên, người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con vẫn có ưu thế hơn khi mà tự mình chăm lo cho cuộc sống hàng ngày của con
- Nghĩa vụ và quyền giáo dục con:
Bên cạnh việc cần được nuôi dưỡng về thể chất, trẻ cũng cần được chăm sóc, giáo dục về tinh thần Điều 72 Luật HN&GĐ đã quy định:
“1 Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập
Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con
2 Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con
3 Cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được.”
Điều này là phù hợp với Khoản 1 Điều 16 Luật Trẻ em: “Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất
Trang 29tiềm năng của bản thân” và Khoản 2 Điều 99 Luật Trẻ em: “Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập, hoàn thành chương trình giáo dục phổ cập theo quy định của pháp luật; tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn” Hơn thế
nữa, giáo dục trẻ em không chỉ là nghĩa vụ của cha, mẹ mà còn là sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội Tuy nhiên khi cha, mẹ ly hôn, có nhiều những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến việc học hành của trẻ Đầu tiên,
đó là sự xáo trộn, thay đổi tâm lý, tính cách và tinh thần học tập nơi trẻ Chúng có thể rơi vào trạng thái mặc cảm, xấu hổ với bạn bè nên sẽ trốn học, không muốn đến lớp Hoặc khi cha, mẹ ly hôn, trẻ có thể sẽ theo một trong hai bên đến sống ở một ngôi nhà mới, thay đổi trường lớp, xa những người bạn cũ, sự thay đổi này cũng gây tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập của trẻ Tổn thương khi cha, mẹ chia tay và môi trường mới lạ lẫm dễ khiến trẻ tự thu mình lại, khó hòa nhập, mặc cảm, không còn dành nhiều tâm trí cho việc học tập, giao tiếp cùng bạn bè, thầy cô Có thể nói, người trực tiếp nuôi con là người chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý, giáo dục trẻ, uốn nắn và rèn luyện nhân cách cho trẻ; đồng thời, khi giao con cho người nào trực tiếp nuôi thì cần cân nhắc, xem xét tới khả năng đáp ứng các yêu cầu được học tập, giáo dục một cách toàn diện, đầy đủ cho trẻ
- Quyền đại diện cho con:
Điều 73 Luật HN&GĐ quy định:
“1 Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật
2 Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực
Trang 30hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
3 Đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì phải có
sự thỏa thuận của cha mẹ
4 Cha, mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của con được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này
và theo quy định của Bộ luật dân sự”
Đại diện là việc một người nhân danh người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện Theo quy định của pháp luật dân sự thì cha, mẹ là người đại diện đương nhiên cho con chưa thành niên Khi cha, mẹ ly hôn thì người trực tiếp được giao nuôi con cũng đồng thời là đại diện cho con theo pháp luật Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì cha, mẹ sẽ bị hạn chế quyền này, chẳng hạn như quy định tại Điều 85 Luật HN&GĐ Trường hợp khác, khi cha, mẹ mất hoặc bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự thì vấn đề đại diện cho con trước pháp luật cũng không được đặt ra Khi đó, người không trực tiếp nuôi con lúc trước sẽ trở thành người trực tiếp nuôi con, đồng thời là đại diện cho con trước pháp luật Nếu người đó không
có điều kiện chăm sóc, giáo dục con thì người đại diện cho con sẽ là người giám hộ theo quy định của pháp luật dân sự Đồng thời, nếu xảy ra trường hợp này trên thực tế thì họ hàng, người thân sống chung trong gia đình đứa trẻ sẽ
là người đại diện theo pháp luật của trẻ do họ hàng ngày vẫn luôn tiếp xúc, chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra trong những trường hợp pháp luật quy định:
Trang 31Về nguyên tắc, cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Điều 586 Bộ luật dân sự năm 2015:
+ Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha,
mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó
để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật dân sự Cụ thể, nếu trẻ gây thiệt hại trong thời gian quản lý của trường học, bệnh viện thì các tổ chức này phải liên đới cùng cha, mẹ để bồi thường thiệt hại Trường hợp các tổ chức này chứng minh rằng không có lỗi trong việc đó thì cha, mẹ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
+ Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại
thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình
+ Người chưa thành niên gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người
giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường
Sau khi ly hôn, mặc dù cha, mẹ không cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con nhưng nghĩa vụ và trách nhiệm cũng như quyền đối với con vẫn không thay đổi Do đó, nếu con gây ra thiệt hại thì cha, mẹ đều có trách nhiệm phải bồi thường theo quy định; nếu đó là thiệt hại không đáng kể thì người trực tiếp nuôi con có thể tự thực hiện việc bồi thường mà không cần tới sự trợ giúp của người kia Mặt khác, người trực tiếp nuôi con thông thường cũng sẽ là người đại diện của con nên khi có thiệt hại xảy ra, người đó có trách nhiệm
Trang 32đứng ra giải quyết Tuy nhiên, nếu thiệt hại do trẻ gây ra lớn hơn hoặc quá lớn
so với khả năng của người trực tiếp nuôi con thì các bên đều phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại thay vì đùn đẩy rằng mình không trực tiếp nuôi con, không quản lý con nên không phải lỗi của mình hoặc thoái thác không bồi thường để trốn tránh nghĩa vụ này
- Quyền quản lý tài sản riêng của con:
Vấn đề này đã được luật hóa tại các Điều 75, 76, 77 của Luật HN&GĐ Khối tài sản riêng của con là nhằm phục vụ, trang trải cho cuộc sống hiện tại
và tương lai của trẻ, nên người trực tiếp nuôi con thường sẽ đồng thời quản lý
cả tài sản của con Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý Còn đối với tài sản riêng của con dưới 15 tuổi
do cha mẹ quản lý Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên, trừ trường hợp cha mẹ và con có
thỏa thuận khác Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường
hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con
đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự
Đối với vấn đề tự định đoạt tài sản, trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký
Trang 33quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ
So với Luật HN&GĐ năm 2000 thì quy định xem xét nguyện vọng của trẻ khi độ tuổi từ đủ 09 tuổi trở lên vẫn được giữ nguyên tại Luật HN&GĐ năm 2014 Việc quy định rút ngắn độ tuổi từ 09 xuống còn 07 đối với cân nhắc nguyện vọng của con muốn ở với ai sau khi cha, mẹ ly hôn và việc giữ nguyên độ tuổi xem xét nguyện vọng định đoạt tài sản này liệu có mâu thuẫn hay không? Quy định này, theo quan điểm của tác giả là phù hợp vì lợi ích của trẻ, bởi ở lứa tuổi đó, trẻ chưa thực sự suy nghĩ chín chắn hoặc đủ kinh nghiệm sống để đưa ra những quyết định quan trọng mà cần sự định hướng, chỉ dẫn của những người từng trải và thấu hiểu - cha, mẹ của chúng
1.2.2.2 Nghĩa vụ và quyền của người không trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con
Bất kể là trước hay sau khi ly hôn, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của cha, mẹ với con cái là không hề thay đổi Tuy nhiên, sau khi ly hôn, con không sống cùng cả bố và mẹ, chỉ một trong hai bên là người trực tiếp nuôi dạy trẻ, người còn lại phải chấp nhận sống xa con Mặc dù vậy, pháp luật vẫn cho phép họ có những quyền và nghĩa vụ phù hợp để thực hiện trách nhiệm của mình và cũng để đảm bảo quyền lợi cho đứa trẻ
- Quyền thăm nom, chăm sóc con:
Khoản 3 Điều 82 Luật HN&GĐ quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”
Trang 34Thăm nom con là quyền cơ bản của người không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con Đối với một đứa trẻ, việc phải sống xa cha hoặc mẹ đều là thiệt thòi rất lớn Dù trẻ muốn hay không thì sau khi ly hôn, chỉ được sống cùng một người Đang trong độ tuổi vị thành niên, trẻ cần sự dạy dỗ, dìu dắt của cha lẫn sự chăm sóc, ân cần dỗ dành của mẹ, bất kể thiếu mẹ hay cha thì về mặt tinh thần của trẻ đều có sự thiếu hụt, phát triển lệch lạc, dễ khiến trẻ thiếu
tự tin, trầm cảm và khó hòa nhập Do đó, pháp luật đã quy định quyền thăm nom như một phương thức bù đắp cho trẻ đối với những khuyết thiếu, trống trải đó Khi thăm nom con, cha, mẹ có thể bớt đi những áy náy, hối hận đối với trẻ, xoa dịu những mặc cảm, suy nghĩ của trẻ về sự tan vỡ, cuộc ly hôn của cha, mẹ mình Quy định này đã tạo điều kiện cho con được hưởng tình yêu thương của cả cha và mẹ, đồng thời, tạo cơ hội cho trẻ thường xuyên gặp
gỡ, tiếp xúc với người không trực tiếp sống cùng mình Còn đối với người không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con thì quyền thăm nom làm vơi đi phần nào nỗi nhớ con, nỗi buồn và day dứt vì cảnh chia lìa làm con thiếu thốn tình cảm gia đình; giúp họ nắm được tình hình cuộc sống của trẻ, việc học hành của trẻ, tâm sự và chia sẻ với trẻ và đôi khi là giải quyết những khúc mắc, những vấn đề mà trẻ gặp phải trong cuộc sống mà người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ không làm được
Quyền thăm nom con chỉ được tôn trọng và duy trì xuất phát từ lợi ích của con, cũng là quyền nhân thân của người không trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được cản trở họ và dù là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con hay những người họ hàng, người thân, người có liên quan khác cũng đều phải tôn trọng quyền này Mặt khác, nếu quyền này bị người không trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con lợi dụng cản trở, gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì pháp luật sẽ hạn chế quyền này của họ Trong nhiều trường hợp, người không trực tiếp nuôi con
Trang 35lợi dụng quyền thăm nom để phá hoại, gây ảnh hưởng xấu đến người trực tiếp nuôi con, mặc dù không ảnh hưởng nhiều đến việc chăm sóc, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con nhưng điều đó cũng thể hiện, họ không phải là người cha, người mẹ tốt Việc làm của họ dễ khiến trẻ bị tiêm nhiễm những suy nghĩ lệch lạc, không phù hợp, gây cản trở cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi con Vì vậy, trong trường hợp này, pháp luật hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con để đảm bảo cuộc sống ổn định cho trẻ là điều cần thiết
- Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:
Trách nhiệm của cha, mẹ khi sinh ra đứa con là phải nuôi dưỡng trẻ, bất
kể hai bên có còn là vợ chồng hay đã chấm dứt quan hệ hôn nhân Sau khi ly hôn, cha, mẹ không sống cùng nhau hay sống cùng con dưới một mái nhà, đồng nghĩa với việc không cùng chăm sóc, dạy dỗ đứa trẻ, trao lại trách nhiệm trực tiếp nuôi con cho một người Việc nuôi con một mình không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhất là với những người mới ly hôn, do đó, sẽ gặp nhiều khó khăn, đôi khi trở thành gánh nặng cho người trực tiếp nuôi con Nếu nói thăm nom con là để bù đắp sự thiếu thốn tình cảm cho trẻ về mặt tinh thần thì việc cấp dưỡng nuôi con là sự đóng góp để đảm bảo nhu cầu tối thiểu
về mặt vật chất cho trẻ Khoản 2 Điều 82 Luật HN&GĐ đã quy định rõ: “Cha,
mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” Điều đó cho
thấy, cấp dưỡng là một nghĩa vụ mà luật quy định cho người không trực tiếp nuôi con Sau khi ly hôn, quan hệ pháp lý giữa cha, mẹ và con không thay đổi, người không trực tiếp nuôi con phải thực hiện trách nhiệm của mình dù muốn hay không Trường hợp thực hiện nghĩa vụ về tình cảm, pháp luật không thể dùng các biện pháp cưỡng chế để buộc một người thi hành được thì ngược lại, vẫn có thể có những quy định buộc họ thực hiện nghĩa vụ về vật chất Trên thực tế, con người muốn tồn tại được trước hết cần có vật chất để
Trang 36đảm bảo cuộc sống của mình, nên dù có áp dụng các biện pháp cưỡng chế hay không thì mục đích của việc cấp dưỡng, đảm bảo quyền lợi cho trẻ chưa thành niên, vẫn đạt được
Cấp dưỡng nuôi con khi cha, mẹ ly hôn có thể hiểu là việc người không trực tiếp nuôi con đóng góp tiền hoặc tài sản để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên Sau khi ly hôn, một người sẽ phải chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc con và chắc chắn, việc nuôi dưỡng con sẽ gặp những khó khăn, xáo trộn nhất định Vì lẽ đó, đóng góp vật chất để nuôi con
là điều cần thiết, không chỉ để đảm bảo duy trì cuộc sống ổn định cho con mà còn thể hiện phần nào tinh thần trách nhiệm của cha, mẹ Đây vừa là nghĩa vụ, vừa là quyền lợi của người không trực tiếp nuôi con Người trực tiếp nuôi con
có thể hết tình cảm với người kia, có thể oán trách, căm ghét người kia, tự ái,
sỹ diện cá nhân nhưng không thể lấy đó là cớ để con cái phải thiếu thốn, chịu thiệt thòi Hoặc như người không trực tiếp nuôi con viện cớ hoàn cảnh khó khăn hay cho rằng người kia đủ hoặc thừa khả năng nuôi con, từ đó mà thoái thác, không thực hiện việc cấp dưỡng thì việc làm này, vừa trái với quy định của pháp luật, vừa không phù hợp với truyền thống đạo lý của dân tộc chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Á Đông như nước ta
Dù đây là nghĩa vụ, tuy nhiên không phải lúc nào người không trực tiếp nuôi con cũng phải thực hiện nghĩa vụ này
Trường hợp thứ nhất, đó là người trực tiếp nuôi con có khả năng tự đảm bảo cuộc sống ổn định, chăm lo được cho các quyền lợi về vật chất cho con
và tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng Bởi suy cho cùng, nghĩa vụ cấp dưỡng là để đảm bảo đời sống vật chất cho con, nhưng đối với trường hợp này, điều đó là không thực sự cần thiết Đồng thời, cả cha và mẹ đều tự nguyện đồng ý, thỏa thuận rằng có hay không cấp dưỡng vẫn sẽ đảm bảo cuộc sống cho trẻ, không ảnh hưởng gì tới cuộc sống của hai bên cũng như của con
Trang 37cái Vì lẽ đó, không nhất thiết phải đặt ra việc buộc người không trực tiếp nuôi con phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
Trường hợp thứ hai, đó là việc người không trực tiếp nuôi con không có khả năng cấp dưỡng Pháp luật cho phép người có nghĩa vụ cấp dưỡng không phải thực hiện nghĩa vụ bởi điều này nằm ngoài ý muốn chủ quan của các bên Dù hiểu rõ trách nhiệm và trong thâm tâm họ rất muốn được cấp dưỡng cho con nhưng để hiện thực hóa được suy nghĩ đó là điều khó khăn, như chính cuộc sống hiện tại của họ vậy Khi người không trực tiếp nuôi con đưa ra lý
do này, Tòa án chắc chắn sẽ xem xét cụ thể, kỹ càng để quyền lợi của con không bị mất đi nếu trên thực tế, người có nghĩa vụ cấp dưỡng vẫn có khả năng thực hiện việc này Pháp luật không quy định thế nào là không có khả năng thực tế để cấp dưỡng nuôi con nhưng lại có quy định về người có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Người không có khả năng cấp dưỡng nuôi con là người mà toàn bộ thu nhập, tài sản của họ sau khi trừ đi các chi phí cần thiết cho cuộc sống của họ thì không còn gì, nên không thể thực hiện trách nhiệm của mình với con cái Đồng thời, quan hệ cấp dưỡng là quan
hệ nhân thân gắn liền với tài sản, không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác được (Khoản 1 Điều 107 Luật HN&GĐ) Vì vậy, khi không có khả năng thì người có nghĩa vụ cấp dưỡng khó mà thực hiện được trách nhiệm này, nếu buộc họ thực hiện thì khó khả thi, điều luật cũng chỉ mang tính hình thức Tuy nhiên, điều này chỉ được xem xét khi người có nghĩa vụ đang gặp khó khăn, việc không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng không phải là vĩnh viễn Khi có điều kiện trở lại, họ phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, thậm chí là đóng góp khoản nghĩa vụ
mà trước đó họ chưa thực hiện được để cấp dưỡng đầy đủ cho con
Một vấn đề khác cần quan tâm của nghĩa vụ cấp dưỡng là mức cấp dưỡng cho con Mức cấp dưỡng ngoài việc thể hiện khả năng của người có
Trang 38nghĩa vụ cấp dưỡng, nhu cầu thiết yếu của con mà còn là tinh thần trách nhiệm, sự quan tâm, bù đắp cho con của cha, mẹ khi không được trực tiếp nuôi dưỡng chúng Điều 116 Luật HN&GĐ quy định:
“1 Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết
2 Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”
Có thể thấy, mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng (cha hoặc mẹ) và người trực tiếp nuôi con thỏa thuận Trường hợp hai bên không thỏa thuận được với nhau thì yêu cầu Tòa giải quyết Bản chất của pháp luật dân sự
là tôn trọng sự thỏa thuận của các đương sự, tuy nhiên, pháp luật cũng cần có quy định hướng dẫn, định hướng về mức cấp dưỡng tối thiểu để việc thỏa thuận mức cấp dưỡng của họ được phù hợp Từ đó, các bên đưa ra quyết định
cụ thể mức tiền để nuôi con, đảm bảo cho nhu cầu thiết yếu của trẻ, tránh việc quyền lợi của trẻ bị thiệt thòi Cha mẹ sinh con thì đương nhiên phải có nghĩa
vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con, người nào không trực tiếp nuôi con thì việc phải đóng góp một khoản tiền hoặc vật chất khác để nuôi con là điều tất yếu
Dù ít dù nhiều, ít nhất khoản đóng góp này cũng phải đủ để duy trì cho trẻ được như cuộc sống trước đó Vì vậy, việc cha, mẹ tự thỏa thuận với nhau mức cấp dưỡng là phù hợp bởi chỉ có bản thân họ mới biết rõ con mình cần
gì, cần bao nhiêu và khả năng kinh tế, khả năng đáp ứng của mình được đến đâu Nghĩa vụ cấp dưỡng không đơn thuần chỉ là nghĩa vụ, mà nó còn là quyền của cha, mẹ để thể hiện tình cảm, trách nhiệm của mình cũng như mong muốn bù đắp cho con Chỉ khi cha, mẹ quá nhiều bất đồng không thể tự
Trang 39thỏa thuận được thì Tòa án sẽ là nơi giải quyết, đưa ra quyết định sau cùng
Có trường hợp, người không trực tiếp nuôi con yêu cầu Tòa giải quyết khi mức cấp dưỡng mà người trực tiếp nuôi con đưa ra quá cao hoặc người trực tiếp nuôi con yêu cầu Tòa giải quyết khi cho rằng mức cấp dưỡng mà người không trực tiếp nuôi con đưa ra quá thấp, không phù hợp với khả năng thực tế của các bên cũng như nhu cầu cần thiết để đảm bảo cho con một cuộc sống bình thường, ổn định Do đó, khi quyết định mức cấp dưỡng, Tòa án cần căn
cứ vào các điều kiện:
Một là, phải căn cứ thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ
cấp dưỡng Thu nhập của người có nghĩa vụ cấp dưỡng là thu nhập thực tế của người đó, bao gồm tiền lương và các thu nhập khác kể cả khoản thu nhập
từ việc được thừa kế, tặng cho,…Bên cạnh đó, phải xem xét khả năng thực tế của người đó, gồm tài sản hiện có, các khoản nợ chưa trả, các khoản đang cho vay, đầu tư….Trong trường hợp thu nhập của người không trực tiếp nuôi con bấp bênh, không ổn định thì mức thu nhập của họ được xác định là thu nhập bình quân hàng tháng của người đó Căn cứ trên khả năng thực tế của người
có nghĩa vụ cấp dưỡng, Tòa án mới đưa ra mức cấp dưỡng phù hợp, cấp dưỡng đúng mức quy định và đảm bảo cho việc cấp dưỡng được khả thi, đạt hiệu quả Việc xem xét điều kiện này vừa để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho con khi người có nghĩa vụ cấp dưỡng có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình nhưng lại viện lý do để đưa ra mức cấp dưỡng nhỏ hơn mức đảm bảo cuộc sống bình thường của con; đồng thời vừa bảo vệ người không trực tiếp nuôi con và tính khả thi của việc cấp dưỡng khi người còn lại yêu cầu mức cấp dưỡng không phù hợp với nhu cầu của trẻ hoặc khả năng thực tế của người không trực tiếp nuôi con
Hai là, phải căn cứ vào nhu cầu thiết yếu của con- người được cấp
dưỡng, là những nhu cầu không thể thiếu, cần thiết để bảo đảm cho con có
Trang 40một cuộc sống bình thường Pháp luật không thể đưa ra một mức cấp dưỡng chung cho mọi đứa trẻ có cha mẹ ly hôn mà phải dựa trên nhiều yếu tố để tính toán, đưa ra quy định tổng quát, tùy hoàn cảnh của trẻ để đưa ra mức hợp lý Chi phí cho trẻ khỏe mạnh sẽ ít tốn kém hơn chi phí cho trẻ bị bệnh, thường xuyên đau ốm; chi phí cho trẻ sống ở thành phố bao giờ cũng lớn hơn trẻ ở nông thôn, những vùng sâu xa Tiền cấp dưỡng là rất quan trọng trong các khoản chi phí học tập, sinh hoạt của con, xác định mức cấp dưỡng phù hợp, trước hết là giúp cuộc sống của con ổn định không bị xáo trộn, thay đổi nhiều sau khi cha, mẹ ly hôn và về lâu dài, quyền lợi của con sẽ được đảm bảo, tối thiểu là ở mức trung bình Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào việc cha, mẹ tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con cũng được nhìn nhận theo đúng bản chất của nó, đặc biệt là ở vùng nông thôn, nơi có trình độ dân trí thấp Việc cấp dưỡng sẽ bị hiểu sai bản chất, khi mà người không trực tiếp nuôi con cho rằng không phải đóng góp chi phí cần thiết để nuôi con, mà hàng tháng họ chu cấp cho con một chút tiền để ăn thêm hoặc phụ giúp người kia trong nuôi con mà thôi
Có thể thấy, cần phải căn cứ đồng thời cả nhu cầu thiết yếu của con và điều kiện về thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng để làm căn cứ xác định mức cấp dưỡng cho phù hợp để vừa đảm bảo được quyền lợi của trẻ, vừa khả thi, hiệu quả trong việc cấp dưỡng trên thực tế
Nghĩa vụ cấp dưỡng bắt đầu khi cha, mẹ ly hôn và thực hiện cả quá trình cho đến khi con thành niên, đủ 18 tuổi, đôi khi có trường hợp là khi mà con đã đủ 18 tuổi, nhưng tiếp tục đi học (đại học, cao đẳng) hoặc con bị mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự thì cha, mẹ vẫn phải cấp dưỡng Trong quá trình đó, nhu cầu của con cũng như thu nhập, khả năng của người có nghĩa vụ cấp dưỡng chắc chắn sẽ có sự thay đổi Mức cấp dưỡng lại được xác định tại thời điểm cha, mẹ ly hôn khi có bản án, quyết định của Tòa án Do đó, việc