1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại tại việt nam

89 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đổi mới tổ chức, cơ chế và phương thức bảo hộ đối với những tài sản vô hình của doanh nghiệp như tên thương mại, nhãn hiệu… cần được giải quyết trên cơ sở phân tích một cách khách q

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

ĐỖ VIỆT HÀ

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI

TÊN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 8380103

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Lê Hồng

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

ĐỖ VIỆT HÀ

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI

TÊN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 8380103

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Lê Hồng

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

ĐỖ VIỆT HÀ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Luật Hà Nội, bằng sự biết ơn và kính trọng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, các phòng, khoa thuộc Trường và các Giáo sư, P Giáo sư, Tiến sĩ đã nhiệt tình hướng dẫn, giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện đề tài nghiên cứu khoa học này

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới T.S Trần Lê Hồng người thầy

đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè cùng đồng nghiệp đã tạo điều kiện sát, nghiên cứu để hoàn thành đề tài này

Tuy nhiên điều kiện về năng lực bản thân còn hạn chế, chuyên đề nghiên cứu khoa học chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp để bài nghiên cứu của

em được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

: :

Bộ luật Dân sự

Bộ luật Hình sự

Bộ luật Tố tụng dân sự

Cổ phần Doanh nghiệp Trách nhiệm hữu hạn

Sở hữu trí tuệ

Sở hữu công nghiệp Tên thương mại Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU……… …… 1

PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ TÊN THƯƠNG MẠI 9

1.1 Khái niệm tên thương mại 9

1.1.1 Khái niệm tên thương mại trên thế giới 9

1.1.2 Khái niệm tên thương mại của doanh nghiệp theo quy định Việt Nam 10 1.1.3 Đặc điểm của tên thương mại 13

1.1.4 Phân biệt tên thương mại và tên doanh nghiệp 14

1.2 Khái quát về bảo hộ tên thương mại 16

1.2.1 Điều kiện về bảo hộ tên thương 16

1.2.2 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 19

1.3 Sự phát triển của pháp luật Việt Nam về bảo hộ tên thương mại 21

1.4 Vai trò của tên thương mại 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI TÊN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 28

2.1 Thực trạng pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 28

2.1.1 Phát sinh quyền đối với tên thương mại 28

2.1.1.1 Chủ thể sở hữu tên thương mại 28

2.1.1.2 Điều kiện phát sinh quyền đối với tên thương mại 29

2.1.2 Sử dụng tên thương mại 32

2.1.2.1 Quyền sử dụng tên thương mại: 33

2.1.2.2 Quyền định đoạt tên thương mại : 34

2.1.3 Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp với tên thương mại 35

2.1.3.1 Xác định hành vi xâm phạm quyền đối với tên thương mại 35

2.1.3.3 Biện pháp bảo vệ quyền đối với tên thương mại 38

Trang 7

2.2.1 Thực tiễn phát sinh quyền sở hữu công nghiệp với tên thương mại của doanh

nghiệp 46

2.2.2 Thực tiễn bảo vệ quyền quyền sở hữu công nghiệp của doanh nghiệp đối với tên thương mại 50

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI TÊN THƯƠNG MẠI 58

3.1 Bối cảnh hoạt động thương mại hiện đại và phương hướng phát triển bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 58

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 60

3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật 60

3.2.2.1 Hoàn thiện luật pháp luật về xác lập tên thương mại 60

3.2.2.2 Hoàn thiện về các quy định bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 61

3.2.2 Hoàn thiện về cơ cấu tổ chức tòa án 64

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với với tên thương mại 65

3.3.1 Đối với doanh nghiệp 65

3.3.2 Đối với cơ quan nhà nước 66

KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Trong suốt thập kỷ qua, Việt Nam đã có rất nhiều thay đổi quan trọng trong lĩnh vực bảo hộ, thực thi quyền SHTT Đây là kết quả của quá trình cải cách liên tục nhằm đảm bảo hệ thống pháp luật về bảo hộ, thực thi quyền SHTT của Việt Nam tuân thủ các cam kết quốc tế với mục tiêu hội nhập Việc bổ sung các quy định của pháp luật về SHTT và tăng cường hệ thống thực thi quyền tương ứng là điều kiện

để Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Trên thực tế, các chế định không thích hợp trước đây của Việt Nam về bảo hộ quyền SHTT là một trong những rào cản lớn nhất của Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO và hiện tại vẫn là đối tượng chịu nhiều sức ép từ phía các tổ chức quốc

tế, theo đó yêu cầu phía Việt Nam phải hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hệ thống bảo hộ và thực thi quyền SHTT của mình Việt Nam đã đưa ra một khung pháp lý đầy đủ về bảo hộ quyền SHTT phù hợp với các quy định của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (TRIPs)

Mặt khác Việt Nam cũng thừa nhận vai trò quan trọng của việc bảo hộ quyền SHTT trong việc phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại, khuyến khích hoạt động sáng tạo và phát minh phục vụ phát triển kinh tế Việc Việt Nam tích cực tham gia các diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực trong đó bảo hộ quyền SHTT là một phần quan trọng trong các cam kết thành viên cũng là một nhân tố thúc đẩy Việt Nam phải hoàn thiện hệ thống về bảo hộ và thực thi quyền SHTT

Tên thương mại đã được nhắc đến, được quy định trong các văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005; Luật Doanh nghiệp năm 2005 và 2014, Luật Thương mại năm 1997 và 2005; Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành Theo đó, hệ thống pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, đáp ứng chuẩn mực quốc tế như: Các cam kết tham gia Tổ chức thương 2 mại thế giới (WTO); Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Việt Nam, các điều ước quốc tế đang có hiệu lực tại Việt Nam Các thành tựu đạt được là đáng trân

Trang 9

trọng, nó là kết quả của hoạt động lập pháp, thực thi pháp luật và chính sách hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước

Tuy nhiên, xét về tính hiệu quả, hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam đang đứng trước những thách thức và đòi hỏi lớn, cần được tiếp tục hoàn thiện Việc đổi mới tổ chức, cơ chế và phương thức bảo hộ đối với những tài sản vô hình của doanh nghiệp như tên thương mại, nhãn hiệu… cần được giải quyết trên cơ sở phân tích một cách khách quan thực trạng pháp luật hiện có, đánh giá các ưu điểm, nhược điểm và chỉ ra những nguyên nhân tồn tại cần khắc phục, đồng thời kết hợp với học tập kinh nghiệm quốc tế để từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao và hoàn thiện pháp luật về tên thương mại nói riêng và hệ thống pháp luật liên quan nói chung

Chính vì những lý do trên, học viên đã lựa chọn vấn đề “Bảo hộ quyền sở hữu

công nghiệp đối với tên thương mại tại Việt Nam” làm đề tài luận văn Đề tài tập

trung nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận đặt ra và phân tích quy định pháp luật Việt Nam về tên thương mại của doanh nghiệp Trong đó phân tích pháp luật về tên thương mại, thực trạng thực hiện pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp

1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

1.2.1 Đánh giá, nhận xét chung về những vấn đề luận văn kế thừa

Nhìn chung, các nghiên cứu về tên thương mại của doanh nghiệp được thực hiện trên các khía cạnh sau:

(i) Đã có khá nhiều những nghiên cứu pháp luật về tên thương mại và điều kiện bảo hộ tên thương mại Ở đây, các vấn đề như: điều kiện bảo hộ, cơ chế bảo vệ đối với tên thương mại của doanh nghiệp được lý giải sâu sắc

(ii) Nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính sách bảo hộ và pháp luật bảo hộ đối với tên thương mại của doanh nghiệp, các nghiên cứu này đã đề cập ở mức độ khác nhau về mối quan hệ giữa tên doanh nghiệp và tên thương mại, các nhóm nghiên cứu, các tác giả nêu trên đã chỉ ra mối quan hệ giữa tên doanh nghiệp, tên thương

Trang 10

mại và sự cần thiết phải bảo hộ đối với tên thương mại của doanh nghiệp; đã đề cập đến vấn đề phân biệt tên thương mại và nhãn hiệu, những trường hợp nhãn hiệu và tên thương mại trùng nhau thì pháp luật sẽ bảo hộ như thế nào: “tên thương mại là tên gọi còn tên nhãn hiệu là dấu hiệu” Theo một cách suy nghĩ khác thì tên thương mại thường được tiếp nhận là thành phần tên riêng của công ty như ghi trong Giấy đăng ký kinh doanh còn nhãn hiệu là tên một sản phẩm hay dịch vụ nào đó do doanh nghiệp đưa ra thị trường, đó là sự khác biệt

Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì tên thương mại và nhãn hiệu có thể là một Vậy thì lúc này, tên thương mại có còn được hiểu là thành phần tên riêng của doanh nghiệp như trong Giấy đăng ký kinh doanh không? Điều này chưa được làm

rõ trong các văn bản hướng dẫn thi hành và đây sẽ là một trong những nguyên nhân làm cho tranh chấp xẩy ra nhiều trong tương lai vì từ lâu tình trạng doanh nghiệp trùng tên đã là vấn đề hóc búa cho các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tư pháp,

và cho cả các doanh nghiệp bị trùng tên Nguyên nhân của việc trùng tên doanh nghiệp đáng tiếc lại có từ quy định của pháp luật doanh nghiệp Các công trình nghiên cứu đã phản ánh các quy định của pháp luật hiện nay đang còn có những bất cập cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp

(iii) Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo

hộ tên thương mại của doanh nghiệp Nghiên cứu thực trạng pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp là nghiên cứu tổng quan những quy định của pháp luật dân sự, pháp luật thương mại, pháp luật doanh nghiệp, pháp luật sở hữu trí tuệ

để làm rõ giá trị đích thực của tên thương mại, đồng thời đánh giá thực tiễn vận hành của các quy định đó trong thực tế

(iv) Nghiên cứu các biện pháp bảo vệ và chế tài xử lý đối với hành vi xâm phạm tên thương mại của doanh nghiệp: bảo vệ tên thương mại của doanh nghiệp không chỉ bảo đảm quyền tài sản của các chủ thể quyền SHTT mà còn là động lực cho sự phát triển không ngừng các sáng tạo trong thương mại, là yếu tốcó ý nghĩa quan trọng đối với sức mạnh của mỗi quốc gia Quy định của pháp luật về bảo vệ tên thương mại là không cho phép các chủ thể sử dụng tên thương mại mà người

Trang 11

khác đã sử dụng nếu hoạt động kinh doanh của chủ thể này là cùng lĩnh vực và cùng khu vực với hoạt động kinh doanh của chủ thể mang tên thương mại đó Để được bảo vệ, tên thương mại của doanh nghiệp phải được chủ thể xác lập quyền sở hữu hợp pháp thông qua quá trình sử dụng Thực tiễn xử lý các hành vi xâm phạm tên thương mại của doanh nghiệp trong thời gian qua chủ yếu dừng lại ở xử phạt vi phạm hành chính và tranh chấp dân sự Để có thể bảo đảm quyền lợi của các chủ thể thì rất cần một bộ phận chuyên trách về SHTT ở tòa án để giải quyết các tranh chấp liên quan đến SHTT nói chung và tên thương mại của doanh nghiệp nói riêng (v) Nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp Tình hình nghiên cứu và đề xuất về giải pháp hoàn thiện pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay chưa được nghiên cứu nhiều, và các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc nên lên sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tên thương mại Hiện nay, mặc dù hệ thống pháp luật về SHTT Việt Nam đã có nhiều tiến bộ, khá hoàn chỉnh và khá phù hợp với các tiêu chuẩn của các điều ước quốc tế liên quan đến SHTT mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, tạo hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động sở hữu trí tuệ, song vẫn cần thiết phải tiếp tục được hoàn thiện cả về nội dung và hình thức để bảo đảm hơn nữa tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công bằng khả thi, đầy đủ và hiệu quả của hệ thống pháp luật SHTT Việt Nam, phù hợp hơn với thực tiễn ở Việt Nam cũng như với tiêu chuẩn quốc tế

Kết quả của các công trình nghiên cứu đã khái quát cho tác giả luận văn một cách khá đầy đủ về thực trạng pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật về tên thương mại, từ đó giúp tác giả có cơ sở để mở rộng nghiên cứu và hoàn thiện hơn nữa một số vấn đề như sau:

1.2.2 Những vấn đề luận văn tiếp tục triển khai nghiên cứu

Nghiên cứu về tên thương mại, tên doanh nghiệp: Luận văn đi sâu nghiên cứu

về các vấn đề liên quan đến tên thương mại, tên doanh nghiệp mà hiện nay đang còn nhiều vướng mắc từ đó đưa ra khái niệm về tên thương mại của doanh nghiệp

Trang 12

- Nghiên cứu về pháp luật, thực trạng thực hiện pháp luật: Luận văn tiếp tục nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật, thực trạng thực hiện pháp luật về bảo hộ tên thương mại của doanh nghiệp, từ đó đưa ra khái niệm và đặc điểm pháp luật về tên thương mại và chỉ ra những thành tựu và hạn chế cần của pháp luật khắc phục

- Đề xuất kiến nghị, giải pháp liên quan đến pháp luật về tên thương mại của doanh nghiêp phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo lợi ích của các chủ thể

1.3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu, nhiệm

vụ nghiên cứu

1.3.1 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở tìm hiểu vấn đề lý luận về tên thương mại, bảo hộ tên thương mại; đánh giá thực trạng về bảo hộ tên thương mại ở Việt Nam hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc bảo hộ tên thương mại hiện nay ở Việt Nam Để thực hiện mục đích trên, trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ luật học, tác giả tập trung vào những nhiệm vụ sau:

Phân tích cơ sở lý luận về bảo hộ tên thương mại

Phân tích, đánh giá thực trạng bảo hộ tên thương mại hiện nay ở Việt Nam

Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo hộ tên thương mại ở Việt Nam

1.3.2 Đối tượng nghiên cứu

Tập trung chủ yếu những vẫn đề lý luận, thực trạng và thực tiễn liên quan đến bảo hộ tên thương mại, các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ cũng như các công ước, hiệp ước quy định về vấn đề bảo hộ tên thương mại Thực tiễn thực hiện quyền bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại, từ đó đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện Nhìn tổng thể các khái niệm, quy định của pháp luật đến đi sâu phân tích thực trạng, tình hình để đưa ra các giải pháp hoàn thiện

Trang 13

1.3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Tên thương mại được nghiên cứu trong luận văn là vấn đề thuộc phạm trù của sở hữu trí tuệ đã được công ước quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam quy định Vì vậy, luận văn nghiên các quy định của điều ước quốc tế cũng như của pháp luật về bảo hộ tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam

1.3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, đề làm rõ cơ sở lý luận pháp luật về TTM của doanh nghiệp, luận văn cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về TTM của doanh nghiệm nhằm làm rõ sự phát triển có kế thừa của khoa học pháp lý

- Phân biệt TTM với tên doanh nghiệp, từ đó thấy được sự khác biệt của TTM và tầm quan trọng của TTM

- Nghiên cứu nội dung pháp luật về TTM của doanh nghiệp, các điều kiện xác lập, bảo hộ tên thương mại

Thứ hai, để đánh giá đúng thực trạng pháp luật về TTM mại ở Việt nam hiện này và thực tiễn áp dụng, cần tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật thông qua phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về TTM

- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật thông qua các phân tích thực tiễn xác lập, bảo vệ, thực thi quyền SHTT đối với TTM

Thứ ba, từ thực trạng thực luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về TTM, luận văn đưa ra các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về TTM tại Việt Nam

1.4 Các phương pháp nghiên cứu;

Vận dụng phương pháp luận khoa học duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê nin, quan

Trang 14

điểm tư tưởng Hồ Chí Minh để làm rõ những vẫn đề đã được giải quyết, những bất cập tồn tại và đưa ra giải pháp hoàn thiện

Vận dụng các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, về nhiệm vụ phát triển đất nước qua từng giai đoạn phát triển các Nghị quyết, báo cáo chính trị,…

Phương pháp nghiên cứu trong quá trình nghiên cứu cụ thể như sau:

- Phương pháp nghiên cứu pháp lý truyền thống: phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong chương I , chương II và chương III

- Phương pháp so sánh: phương pháp này sẽ được sử dụng trong chương I, chương II và chương III khi so sánh quy định về tên thương mại theo pháp luật Việt Nam và các ĐƯQT và giữa các chuyên ngành luật khác nhau

- Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích: được sử dụng trong chương III

để thu thập, tổng hợp số liệu và phân tích các số liệu

- Phương pháp đánh giá, quy nạp: được sử dụng ở chương II và chương III để đánh giá những tác động của các quy định pháp luật Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp lịch sử cụ thể để tập hợp thống kê những quy định nghiên cứu trước đó để làm rõ

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài;

1.5.1 Ý nghĩa khoa học

Góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ tên thương mại thông qua việc đánh giá những bất cập, hạn chế được rút từ thực tiễn phân tích, đánh giá hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành, thực trạng hoạt động bảo

hộ tên thương mại Từ đó đề ra những giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan

1.5.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Sau khi hoàn thành, luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các cơ quan, cấp, ngành trong việc nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ tên thương mại và đánh giá chính xác được thực trạng, khó khăn, bất cập trong việc bảo hộ tên thương mại trong các văn bản pháp luật

Trang 15

hiện hành Luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, sinh viên quan tâm đến vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo bộ tên thương mại nói riêng Luận văn sẽ góp phần đánh giá thực trạng bảo hộ tên thương mại của các doanh nghiệp ở Việt Nam, từ đó chứng minh được tầm quan trọng của công tác bảo hộ tên thương mại trong tiến trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, để các doanh nghiệp nhận thức được Đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn chỉnh cơ chế thực thi công tác bảo hộ tên thương mại, giải quyết tranh chấp và xử lý các hành vi vi phạm về tên thương mại, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, giúp các doanh nghiệp hoạt động chân chính bảo vệ được quyền lợi của mình

1.6 Bố cục

Luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hộ tên thương mại

Chương 2: Thực trạng bảo hộ tên thương mại tại Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường bảo hộ tên thương mại

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ TÊN THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm tên thương mại

1.1.1 Khái niệm tên thương mại trên thế giới

TTM đã được đề cập đến như một đối tượng sở hữu trí tuệ trong Điều 2 của

Công ước thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO ký ngày 14/7/1967: “Sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền liên quan đến các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; các cuộc biểu diễn của nghị sĩ biểu diễn, các bản ghi âm và các chương trình phát sóng; các sáng chế trong tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người; các khám phá khoa học; các kiểu dáng công nghiệp; các nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ và các tên thương mại ; bảo hộ chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh…”

Ngày nay, việc phân định này cũng rõ ràng hơn khi TTM được sắp xếp nằm trong các đối tượng của quyền SHCN, một trong những nhánh quyền sở hữu trí tuệ, song song với quyền tác giả và quyền liên quan

Mặc dù việc bảo hộ TTM được chú trọng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới bởi ý nghĩa của TTM là không thể phủ nhận, tuy nhiên khác với nhãn hiệu, TTM chưa có được một khái niệm pháp lý chung trong bất kỳ điều ước quốc tế đa phương nào

Văn bản pháp lý đa phương duy nhất đề cập đến việc bảo hộ TTM là Công

ước Paris, tuy nhiên ngoài quy định tại Điều 8: “Tên thương mại được bảo hộ ở tất

cả các nước thành viên của Liên minh mà không bị bắt buộc phải nộp đơn hoặc đăng ký, bất kể tên thương mại đó có hay không là một phần của nhãn hiệu hàng hoá”

Luật đăng ký tên thương mại năm 2011 của Canada định nghĩa “Tên thương mại là tên được sử dụng liên quan đến một hoặc nhiều hoạt động thương mại” [1]

Định nghĩa này của pháp luật Úc chỉ tập trung vào mối liên hệ giữa tên thương mại

và hoạt động thương mại Luật Nhãn hiệu hàng hóa Hoa Kỳ quy định “Thuật ngữ

Trang 17

"tên thương mại" là bất kỳ tên nào được sử dụng bởi một chủ thể nhằm xác định doanh nghiệp hoặc nghề nghiệp của họ” [2]

Pháp luật của Philippines: “Tên thương mại là tên để xác định hoặc phân biệt một doanh nghiệp” [3] Theo quy định này, TTM là tên của doanh nghiệp được sử

dụng nhằm xác định và phân biệt doanh nghiệp mang TTM đó với các doanh nghiệp khác Việc không quy định về khu vực bảo hộ cho phép xác định khả năng phân biệt TTM của doanh nghiệp trong phạm vi quốc gia không giới hạn khu vực địa lý, ngành nghề

Quy định này mặc dù cũng mang tính khái quát cao nhưng đã có đề cập đến chủ thể sử dụng và mục đích của tên thương mại Có thể nhân thấy, pháp luật nhiều nước trên thế giới đều đưa ra các khái niệm khá chung để đề cập phần nào đến bản chất của tên thương mại

Khái niệm TTM theo quy định của các quốc gia trên thế giới và theo các điều ước quốc tế cơ bản có nội dung bao gồm:

-TTM là một tên gọi của doanh nghiệp, việc xác định thế nào là doanh nghiệp còn tùy thuộc pháp luật từng quốc gia

- TTM được doanh nghiệp sử dụng trong các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời Trong đó, hoạt động của doanh nghiệp đa dạng, phụ thuộc vào pháp luật về hoạt động của doanh nghiệp do pháp luật quốc gia quy định

- TTM có tác dụng xác định một chủ thể kinh doanh và phân biệt chủ thể kinh doanh mang TTM đó với chủ thể kinh doanh khác trong một phạm vi hoạt động nhất định Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp để phát huy chức năng phân biệt của TTM rộng hay hẹp phụ thuộc hoàn toàn vào pháp luật của từng quốc gia, ở phạm vi rộng có thể là trên toàn quốc, hẹp hơn có thể giới hạn trong phạm vi lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh….)

1.1.2 Khái niệm tên thương mại của doanh nghiệp theo quy định Việt Nam

Khái niệm TTM theo quy định của pháp luật Việt Nam được quy định tại

khoản 21 Điều 4 Luật SHTT 2005 khá chi tiết: “Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh

Trang 18

mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh

Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng.”

TTM được sử dụng vào mục đích kinh doanh để xưng danh thể hiện trên giấy

tờ giao dịch, biển hiệu, hàng hóa sản phẩm, bao bì hàng hóa và quảng cáo Hay có thể nói TTM là một tên gọi của doanh nghiệp

Luật SHTT cũng đồng thời quy định các trường hợp không được bảo hộ với

danh nghĩa tên thương mại tại Điều 77 “Tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,

tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc chủ thể khác không liên quan đến hoạt động kinh doanh thì không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại” Đây là các chủ thể

không đảm bảo được yếu tố “có hoạt động kinh doanh” - là hoạt động kinh tế, khi việc tổ chức thực hiện hoạt động kinh tế đó nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận

Theo khoản 2 Điều 130 Luật SHTT “Chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1 Điều này là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá” Như vậy, tên

thương mại cũng là một loại chỉ dẫn thương mại được quy định bởi Luật SHTT bởi mục đích của tên thương mại nhằm phân biệt các chủ thể kinh doanh, hưỡng dẫn khách hàng và các chủ thể liên quan khác trong việc xác nhận hàng hóa và nguồn gốc, xuất xứ của loại hàng hóa đó Tên thương mại cũng mang đầy đủ những đặc điểm của chỉ dẫn thương mại bao gồm: (i) là một loại dấu hiệu thể hiện dưới dạng chữ, hình, hoặc hình thức khác, (ii) được sử dụng bởi các chủ thể kinh doanh là cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức đối với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh đó, (iii) nhằm đưa ra thông tin hướng dẫn về loại hàng hóa, dịch vụ mà chủ thể kinh doanh sản xuất/phân phối

Theo khái niệm về tên thương mại theo Điều 4 Luật SHTT còn nhắc đến khái

niệm “khu vực kinh doanh”, được định nghĩa tại khoản 21 Điều 4 Luật SHTT “Khu

Trang 19

vực kinh doanh là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng” Có thể thấy, khu vực kinh doanh theo quy định này được xác

định trên căn cứ địa lý, xác định là nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng hoặc có danh tiếng hay có thể hiểu là nơi chủ thể kinh doanh có sự hiện diện thương mại Định nghĩa trên có ưu điểm là nêu bật được bản chất của TTM, đó chính là tên gọi

để phân biệt các chủ thể kinh doanh khác nhau trong cùng lĩnh vực kinh doanh, khu vực kinh doanh đồng thời bao quát được cả điều kiện bảo hộ của TTM Khu vực kinh doanh, địa bàn kinh doanh, được hiểu là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh

có bạn hàng, khách hàng hoặc danh tiếng

Tuy nhiên, phạm vi của khu vực kinh doanh được đánh giá dựa trên tiêu chí

“có bạn hàng hoặc có danh tiếng” mang tính mơ hồ Nếu xác định phạm vi bảo hộ tên thương mại là khu vực chủ thể kinh doanh sở hữu tên thương mại có bạn hàng hoặc có danh tiếng thì phạm vi rất rộng, nhiều doanh nghiệp có chi nhánh khắp các tỉnh, thành phố, thậm chí có thể hiện diện thương mại tại những quốc gia khác nhất

là trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế những năm gần đây, nên nếu doanh nghiệp muốn mở rộng phạm vi kinh doanh thì tên thương mại dễ trùng với thành phần tên riêng của các doanh nghiệp tại khu vực khác Nếu có tranh chấp xảy

ra, việc xác định phạm vi bảo hộ sẽ rất khó khăn nếu không có hướng dẫn cụ thể cho vấn đề này Vậy nên quan điểm của tác giả là không cần xác định “khu vực kinh doanh” của tên thương mại mà nên mặc nhiên thừa nhận trên phạm vi của nước Quy định này cũng đồng thời phù hợp với Luật doanh nghiệp khi quy định

về tên doanh nghiệp được bảo hộ trên phạm vi cả nước

Ngoài ra Luật SHTT mới chỉ đưa ra khái niệm về “khu vực kinh doanh” chứ chưa có định nghĩa về “lĩnh vực kinh doanh” Theo các quan điểm kinh tế, lĩnh vực kinh doanh là nhóm các ngành nghề kinh doanh có cùng đặc điểm, tính chất, hoặc đối tượng khách hàng Phân biệt lĩnh vực với các yếu tố phân biệt chủ yếu như: Phân biệt về hàng hóa, dịch vụ, hoạt động, đối tượng khách hàng Thông qua những yếu tố này, để cá thể hoá chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác

Trang 20

So với quy định của các nước về tên thương mại thì pháp luật của Mỹ, Canada, Nhật Bản, Singapore,… đều không giới hạn phạm vi của tên thương mại trên phạm vi địa lý Quan điểm này phù hợp hơn so với pháp luật Việt Nam về xác định phạm vi đối với tên thương mại bởi TTM nhằm mục đích phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác Các tác giả nghiên cứu gần đây của tên thương mại tại Việt Nam cũng có quan điểm tương đồng khi không cho rằng việc xác định “khu vực kinh doanh” là điều kiện cần thiếu để xác định tên thương mại Nghiên cứu gần đây đưa ra khái niệm tên thương mại là thành phần tên riêng của tên doanh nghiệp được sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh để nhận biết và phân biệt chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp này với chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh [4]

Tóm lại, tác giả thấy rằng Tên thương mại là là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh để nhận biết và phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực

1.1.3 Đặc điểm của tên thương mại

Thứ nhất, tên thương mại là một loại tên gọi của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp có thể có nhiều loại tên gọi: tên doanh nghiệp theo đăng ký tại giấy đăng ký kinh doanh, tên tiếng việt, tên nước ngoài Khi thành lập một doanh nghiệp, người thành lập phải đặt tên và sử dụng tên đó để đăng ký với cơ quan quản

lý Nhà nước (Sở kế hoạch đầu tư, cơ quan thuế) để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp sẽ dùng tên thương mại để giao dịch nhằm phân biệt doanh nghiệp của mình với doanh nghiệp khác Chính vì vậy, tên thương mại thường là tên doanh nghiệp Tên thương mại là yếu tố hình thức nhưng là dấu hiệu đầu tiên xác định tư cách chủ thể của doanh nghiệp trên thương trường Tên thương mại của doanh nghiệp là thành phần tên riêng của tên doanh nghiệp được sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, có chức năng phân biệt các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh Tên thương mại được sử dụng cho tất

cả hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh, được pháp luật bảo hộ đến khi nào doanh nghiệp còn duy trì hoạt động kinh doanh

Trang 21

Thứ hai, Tên thương mại là một loại tài sản của doanh nghiệp

Tên thương mại là tên gọi của cá nhân, tổ chức dùng trong hoạt động kinh doanh Tên thương mại là đối tượng bảo hộ của Luật SHTT tức là TTM là một loại tài sản vô hình của doanh nghiệp, không thể được xác định bằng các đặc điểm vật chất của chính nó nhưng lại có giá trị lớn vì có khả năng sinh ra lợi nhuận trong tương lai Giá trị của tên thương mại phụ thuộc vào chiến lược của công ty: Ví dụ: Một doanh nghiệp nắm giữ cho mình một tên thương mại nổi tiếng, nhưng lại không có chiến lược, kế hoạch phù hợp để ngày càng nâng cao giá trị của tên thương mại đó thì giá trị tên thương mại ngày càng giảm, song song với điều đó, tức

là doanh thu của công ty ngày một giảm đi

Thứ ba, mục đích để phân biệt các chủ thể kinh doanh

Mục địch nhằm phân biệt chủ thể mang TTM đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng một lĩnh vực và khu vực kinh doanh Trong đó, lĩnh vực kinh doanh được hiểu là toàn thể nội dung ngành, nghề kinh doanh mà một doanh nghiệp tiến hành đầu tư, hoạt động theo quy định của pháp luật và thường được thể hiện trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, đăng ký mã số thuế, điều lệ công ty đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền hoặc các giấy tờ có giá trị pháp lý khác

Thứ tư, tên thương mại của doanh nghiệp không bị hạn chế về thời gian

Điều đó có nghĩa là sau khi doanh nghiệp sử dụng tên thương mại để xưng danh trong hoạt động thì doanh nghiệp có thể sử dụng nó mà không bị bất cứ hạn chế nào về mặt thời gian chừng nào doanh nghiệp còn tồn tại và đang sử dụng thì các chủ thể khác không được xâm phạm Điều này thể hiện sự khác biệt cơ bản với các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp khác như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, những đối tượng này đều có quy định về thời hạn bảo hộ cụ thể và trách nhiệm của chủ sở hữu phải nộp phí để duy trì văn bằng bảo hộ khi nộp đơn yêu cầu bảo hộ, nếu không sẽ bị mất quyền mặc dù đang còn thời gian bảo hộ

1.1.4 Phân biệt tên thương mại và tên doanh nghiệp

1.1.3.1 Giống nhau

Trang 22

Tên doanh nghiệp là tên gọi của doanh nghiệp được ghi trong giấy phép kinh doanh và được gắn tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp Tên doanh nghiệp nhằm mục đích xưng danh của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh Ví dụ: Công ty TNHH Nhật Linh, Công ty cổ phần nhựa Bình Minh, Công ty cổ phần FPT…

Tên thương mại và tên doanh nghiệp dễ gây nhầm lẫn, bởi đây đều là tên gọi của doanh nghiệp, nhằm mục đích xác nhận, phân biệt chủ thể kinh doanh trong hoạt động kinh doanh của chủ thể đó Thông thường, tên thương mại là tên doanh nghiệp

Tên thương mại là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số, phát âm được, bao gồm hai thành phần là thành phần mô tả và thành phần phân biệt Bắt buộc phải

có thành phần phân biệt, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng (Khoản 1 Điều 78 Luật SHTT) Tên thương mại sẽ được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt với tổ chức, cá nhân khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Với quy định này, tên thương mại có nhiều nét tương đồng với tên doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp cũng yêu cầu tên doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành tố là loại hình doanh nghiệp và tên riêng, cũng như không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký Đồng thời, Luật Doanh nghiệp và Luật Sở hữu trí tuệ đều không cho phép dùng tên của cơ quan nhà nước,

tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc chủ thể khác để làm tên doanh nghiệp hay tên thương mại

1.1.3.2 Khác nhau

Dù có nhiều điểm tương đồng trong cách đặt tên, nhưng được bảo vệ theo hai góc độ khác nhau: tên doanh nghiệp được Luật Doanh nghiệp bảo vệ như một thành phần cấu thành tư cách pháp lý của doanh nghiệp, còn tên thương mại được Luật Sở hữu trí tuệ bảo hộ với tư cách là đối tượng sở hữu trí tuệ

Tên thương mại, khác với tên doanh nghiệp, không chỉ là tên gọi của tổ chức

mà có thể đó là tên gọi của cá nhân Theo đúng tên gọi “tên doanh nghiệp” – là tên

Trang 23

của doanh nghiệp được ghi trong giấy đăng ký kinh doanh, tức là tên gọi của pháp nhân Tên thương mại được sử dụng rộng hơn cho cả tổ chức và cá nhân trong hoạt động kinh doanh Tên thương mại không nhất thiết phải được ghi vào giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp như tên doanh nghiệp, mà nó chỉ cần có khả năng phân biệt được với các chủ thể kinh doanh khác khi thực hiện hoạt động kinh doanh của mình

Về mặt số lượng, vì tên doanh nghiệp được ghi nhận trong GPKD nên mỗi doanh nghiệp chỉ có một tên doanh nghiệp Theo quy định của Luật SHTT không cấm chủ thể kinh doanh cùng lúc sử dụng từ hai tên thương mại trở lên Theo hướng

đó, doanh nghiệp có quyền sử dụng hơn một tên thương mại, miễn là doanh nghiệp chứng minh việc sử dụng hợp pháp tên thương mại của mình theo đúng Luật Sở hữu trí tuệ

Ngoài ra, một vấn đề chưa được đề cập chính xác trong các văn bản đó là: tên thương mại có phải là tên doanh nghiệp không? Hiện chưa có một văn bản nào xác nhận hai vấn đề này Tên doanh nghiệp và tên thương mại, dù có nhiều điểm tương đồng trong cách đặt tên, nhưng được bảo vệ theo hai góc độ khác nhau: tên doanh nghiệp được Luật Doanh nghiệp bảo vệ như một thành phần cấu thành tư cách pháp

lý của doanh nghiệp, còn tên thương mại được Luật Sở hữu trí tuệ bảo hộ với tư cách là đối tượng sở hữu trí tuệ

Thêm vào đó, cơ sở xác lập quyền đối với tên doanh nghiệp và tên thương mại

là khác nhau: quyền đối với tên doanh nghiệp phát sinh khi doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong khi quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp, mà không cần đăng ký với cơ quan nào Phạm vi của tên thương mại có thể rộng hơn tên doanh nghiệp

1.2 Khái quát về bảo hộ tên thương mại

1.2.1 Điều kiện về bảo hộ tên thương

Tên gọi của các chủ thể kinh doanh chỉ được coi là TTM và các chủ thể này được hưởng các quyền chủ thể đối với TTM của mình khi đáp ứng được các yêu cầu và điều kiện bảo hộ cụ thể

Trang 24

Căn cứ theo quy định tại Điều 76, 77, 78 của Luật SHTT, TTM muốn được bảo hộ phải đáp ứng các điều kiện như sau:

Một là, TTM phải có tính phân biệt, vì không phải bất kỳ TTM nào cũng được

pháp luật bảo hộ, để được bảo hộ theo pháp luật sở hữu trí tuệ, nhìn chung, TTM phải có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh sử hữu tên đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh

Sự phân biệt này cần thiết được đặt ra trong cùng một lĩnh vực và khu vực kinh doanh với các yếu tố phân biệt chủ yếu như: Phân biệt về hàng hóa, dịch vụ, hoạt động, cơ sở kinh doanh, thông qua những yếu tố này, để cá thể hoá chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác Điều này cũng có thể được hiểu là nếu TTM của hai chủ thể kinh doanh trùng nhau hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn nhưng hai chủ thể kinh doanh trong hai lĩnh vực khác nhau, thuộc hai lãnh thổ khác nhau, thì vẫn được chấp nhận bảo hộ Để được bảo hộ TTM thì lĩnh vực và khu vực kinh doanh là hai điều kiện song song đi đôi với nhau, nếu thiếu một trong hai yếu

tố đó sẽ không được bảo hộ

Hai là, điều kiện bảo hộ của TTM cũng đơn giản hơn so với nhãn hiệu (theo

quy định của pháp luật, một nhãn hiệu muốn được bảo hộ còn phải đáp ứng cả điều kiện: Phải không trùng và không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với các hàng hoá, dịch vụ không trùng và tương tự nếu các nhãn hiệu đó được công nhận là nổi tiếng hay được thừa nhận rộng rãi, được nhiều người biết đến)

Dấu hiệu phân biệt được thể hiện cụ thể như sau:

(i) Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi: Nếu TTM chỉ có phần mô tả thì không được bảo hộ, bởi lẽ phần mô tả không có khả năng tạo nên tính phân biệt cho TTM (hai doanh nghiệp có TTM khác nhau có thể

có phần mô tả giống nhau), vì vậy, TTM bắt buộc phải chứa thành phần tên riêng để tạo ra sự phân biệt giữa các chủ thể kinh doanh

(ii)TTM không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với TTM mà người khác đã sử dụng từ trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh

Trang 25

(iii)Tên trùng là trường hợp tên của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký được viết

và đọc bằng tiếng Việt hoàn toàn giống với tên của doanh nghiệp đã đăng ký

Ba là, không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của

người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày TTM đó được sử dụng TTM và nhãn hiệu đều có chức năng chỉ dẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ đó của chủ thể sản xuất kinh doanh, đều đưa ra một kết quả chung rằng

ai là người chịu trách nhiệm về những hàng hóa, dịch vụ đó, Do đó, nếu nhãn hiệu

đã thuộc quyền sử hữu của người khác, đã được xác lập trước thời điểm TTM được bắt đầu thì đương nhiên chủ thể kinh doanh sẽ không được sử dụng TTM đó nữa

Bốn là, quyền sở hữu công nghiệp đối với TTM theo quy định của pháp luật

Việt Nam được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp TTM đó mà không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục đăng ký nào Việc đăng ký tên chủ thể kinh doanh phải được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp về trình tự, thủ tục và của các chủ thể kinh doanh khác chỉ có ý nghĩa ghi nhận ý định sử dụng tên gọi của chủ thể đó mà không có ý nghĩa xác lập quyền TTM là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh Vì vậy, TTM chỉ có ý nghĩa khi tổ chức cá nhân sử dụng TTM đó thành lập và hoạt động theo đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên, việc

có được giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ là điều kiện cần để cho rằng quyền SHCN đối với TTM đã được xác lập Tên doanh nghiệp chỉ được bảo hộ khi đáp ứng được điều kiện đủ là TTM được sử dụng thông qua các hoạt động kinh doanh Chủ sở hữu quyền đối với TTM là tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động đăng ký kinh doanh dưới TTM đó Trường hợp trong cùng một lĩnh vực kinh doanh

và trên cùng một địa bàn kinh doanh có nhiều người cùng sử dụng một TTM thì quyền đối với TTM thuộc về người sử dụng đầu tiên

Về mặt nguyên tắc, quyền đối với TTM mang tính không hạn chế về mặt thời gian Điều đó có nghĩa là, sau khi đã xác lập quyền đối với TTM, chủ thể kinh doanh có thể sử dụng nó mà không bị bất kỳ một hạn chế nào về mặt thời gian khi

mà chủ thể kinh doanh còn tồn tại và TTM còn thể hiện đúng hình thái tổ chức của chủ thể đó Trường hợp địa vị pháp lý của chủ thể kinh doanh thay đổi do quá trình

Trang 26

hoạt động như chia, tách, hợp nhất, sáp nhập thì những thay đổi đó cần được đưa vào TTM để đảm bảo tính hiệu lực liên tục của TTM Quyền đối với TTM sẽ chấm dứt khi chủ thể kinh doanh chấm dứt sự tồn tại

Bên cạnh việc đưa ra những điều kiện bảo hộ TTM, pháp luật còn quy định những tên gọi không được bảo hộ dưới danh nghĩa là TTM, bao gồm: (i)Tên gọi của các cơ quan hành chính, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc các chủ thể không liên quan tới hoạt động kinh doanh Vì bản chất của TTM là tên gọi của tổ chức, cá nhân chỉ dùng trong hoạt động kinh doanh, còn tên gọi của các tổ chức, cá nhân khác không có chức năng hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật cũng như không liên quan đến các hoạt động kinh doanh thì sẽ không được coi là TTM (ii) Tên gọi nhằm mục đích thực hiện chức năng của TTM nhưng không có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh của các cơ sở kinh doanh trong cùng một lĩnh vực (iii) TTM gây nhầm lẫn với TTM của người khác đã được sử dụng từ trước trên cùng một địa bàn và trong cùng một lĩnh vực kinh doanh, gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đã được bảo hộ từ trước khi bắt đầu sử dụng TTM đó Địa bàn kinh doanh được hiểu là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng

Từ phân tích ở trên cho thấy, TTM được bảo hộ trên cơ sở sử dụng trong hoạt động kinh doanh Do đó, về mặt nguyên tắc, trong trường hợp hai doanh nghiệp trùng tên, thì doanh nghiệp nào sử dụng tên đó trước sẽ được công nhận là chủ sở hữu hợp pháp của TTM đó

1.2.2 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại

Bản chất quyền đối với TTM là khả năng bảo đảm cho chủ thể tham gia vào các giao dịch dưới TTM của mình Trên cơ sở đó một đặc trưng quan trọng của chế

độ pháp lý đối với TTM là quyền đối với tên thương mại mang tính chất đặc quyền Chủ thể có độc quyền khai thác TTM của mình với điều kiện việc khai thác đó phải phù hợp với quy định của pháp luật

Trang 27

Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với TTM bao gồm tổng hợp các quyền của chủ sở hữu TTM được pháp luật ghi nhận và bảo hộ Pháp luật thừa nhận quyền đối với TTM là quyền tài sản thuộc sở hữu của chủ sở hữu TTM

TTM là đối tượng sở hữu công nghiệp được xác lập tự động dựa trên thực tế khai thác và sử dụng Chủ sở hữu TTM là những chủ thể (cá nhân, tổ chức) đang thực tế sử dụng, khai thác TTM đó và nếu có tranh chấp xảy ra thì họ phải chứng minh được quyền hợp pháp của mình trước các đối thủ cạnh tranh Ngoài ra, chủ sở hữu TTM còn là người được chuyển giao quyền sở hữu thông qua hợp đồng chuyển nhượng tên thương mại hoặc thông qua nhận di sản thừa kế Theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu tên thương mại có các quyền cơ bản như:

Quyền sử dụng TTM: Sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp vào khai thác để thu được các lợi ích từ chúng mang lại có thể được xem như một trong những quyền năng quan trọng nhất của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp Trên thực tế có rất nhiều cách thức khai thác khác nhau, nhưng đối với TTM thì đó là dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo

Quyền định đoạt: Thực tế có nhiều cách thức để chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt của mình đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp Thứ nhất, chủ sở hữu công nghiệp có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu của mình cho người khác Quyền chuyển nhượng cho người khác toàn bộ quyền đối với đối tượng sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức ký kết hợp đồng bằng văn bản (gọi

là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp) phù hợp với quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự, kinh tế Tuy nhiên, việc chuyển giao TTM có điểm đặc biệt là chủ sở hữu TTM có quyền chuyển giao tên thương mại theo hợp đồng hoặc theo thừa kế cho người khác với điều kiện việc chuyển giao phải được tiến hành cùng với toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh với tên thương mại đó Thứ hai, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có quyền từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với các đối tượng đó Thứ ba, để thực hiện quyền định đoạt của

Trang 28

mình, chủ sở hữu TTM có quyền để lại thừa kế cho những người khác (theo di chúc hoặc theo pháp luật) sau khi chết Thừa kế trong trường hợp này gắn với chuyển giao toàn bộ cơ sở kinh doanh kèm theo tên thương mại

Bên cạnh những quyền tài sản nói trên, thì chủ sở hữu tên thương mại có quyền sử dụng các biện pháp bảo vệ khi tên thương mại của mình bị xâm phạm, ví

dụ như: Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người thực hiện hành vi xâm phạm quyền của mình phải chấm dứt hành vi đó và bồi thường thiệt hại.1.3 Sự

phát triển của pháp luật Việt Nam về bảo hộ tên thương mại

1.3 Sự phát triển của pháp luật Việt Nam về bảo hộ tên thương mại

Trong nền kinh tế thị trường với đặc tính cơ bản là cạnh tranh như hiện nay, thì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm đến việc tạo ra công cụ pháp

lý cho việc giải quyết những vấn đề liên quan đến TTM, bởi lẽ, sự phát triển ổn định của các doanh nghiệp là tiền đề cho một nền kinh tế lớn mạnh Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng phát triển pháp lý đối với TTM Sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về TTM có thể chia ra làm 3 giai đoạn là: Giai đoạn trước năm 2000; Giai đoạn từ năm 2000 – 2005; Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

* Giai đoạn trước năm 2000

Cho đến trước khi Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 thì vấn đề bảo hộ TTM được đề cập trong một số văn bản pháp luật như: BLDS được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 và có hiệu lực từ ngày 1/7/1996 đã công nhận và bảo hộ quyền tự do sáng tạo của cá nhân và quyền SHCN Tuy nhiên ở giai đoạn này, pháp luật chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về TTM Theo đó, TTM chỉ được bảo hộ gián tiếp thông qua những quy định về quản lý TTM, tên gọi của pháp nhân, nội dung đăng ký kinh doanh của thương nhân…

Bên cạnh đó, khi tập hợp tất cả các quy định về TTM tại các văn bản pháp luật nêu trên cũng chưa đề cập một cách đầy đủ, toàn diện việc bảo hộ TTM Cụ thể: Không có quy định về nguyên tắc xác lập quyền đối với TTM (TTM chưa đăng ký hoàn toàn chưa được bảo hộ); không có quy định về nội dung quyền đối với TTM; phạm vi bảo hộ TTM còn rất hạn hẹp, chưa đảm bảo việc ngăn cấm sử

Trang 29

dụng bất kỳ chỉ dẫn thương mại nào xung đột với TTM, kể cả việc sử dụng TTM không đăng ký, nhãn hiệu hàng hoá không đăng ký (mới chỉ bảo đảm được các TTM đăng ký sau không bị trùng với các TTM đăng ký trước và nhãn hiệu hàng hoá đăng ký bảo hộ không được nhầm lẫn với TTM đang được bảo hộ)

* Giai đoạn từ năm 2000 đến 2005

Để khắc phục tình trạng kém hiệu quả của việc bảo hộ TTM đã nêu trên và nhất là đáp ứng nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật về bảo

hộ sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới Ngày 3/10/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/2000/NĐ-CP về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, TTM và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới SHCN Có thể nói, đây là văn bản pháp luật đầu tiên

đề cập một cách khá đầy đủ việc bảo hộ TTM Cụ thể, Nghị định này quy định về điều kiện bảo hộ TTM, chủ sở hữu TTM, nội dung quyền SHCN đối với TTM, thời hạn bảo hộ, hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM, quyền yêu cầu xử lý việc xâm phạm, trình tự và thủ tục xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM

So với giai đoạn trước năm 2000 thì sự ra đời của Nghị định số

54/2000/NĐ-CP là cơ sở pháp lý cho việc bảo hộ TTM với tư cách là đối tượng của SHCN Tuy nhiên, những quy định của pháp luật về TTM trong giai đoạn này vẫn còn chung chung, chưa cụ thể và toàn diện, ví dụ như: Nghị định này vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa cụ thể về TTM, không có quy định về nguyên tắc xác lập quyền đối với TTM, quy định về việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM không rõ ràng, cụ thể

* Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

Có thể nói, đây là giai đoạn đánh dấu bước phát triển của pháp luật Việt Nam

về sở hữu trí tuệ nói chung và về lĩnh vực SHCN nói riêng, với sự ra đời của Luật

Sở hữu trí tuệ năm 2005 và các văn bản pháp luật khác như: Luật Doanh nghiệp năm 2005, BLDS năm 2005, Nghị định số 88/2006/NĐ-CP (về đăng ký kinh doanh), Nghị định số 43/2010/NĐ-CP (về đăng ký doanh nghiệp), Nghị định

Trang 30

78/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định 43/2010/NĐ-CP Những văn bản pháp luật trên

ra đời đã tạo ra cơ sở pháp lý cho việc bảo hộ TTM ở Việt Nam Tại các văn bản này, vấn đề bảo hộ TTM được đề cập một cách tương đối đầy đủ và chi tiết với tư cách là đối tượng của quyền SHCN

Luật SHTT 2005 được Quốc hội thông qua năm 2005 và được sửa đổi bổ sung năm 2009 ra đời trong bối cảnh Việt Nam đang trong giai đoạn đàm phán gia nhập

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Do đó, Luật đã được xây dựng với mục tiêu đảm bảo sự tương thích giữa các quy định về SHTT của Việt Nam với các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và dự định trở thành thành viên vào lúc đó (như Hiệp định TRIPS) Về cơ bản, Luật SHTT 2005 đã tập hợp, kế thừa, bổ sung, hệ thống hóa và nâng cao tính pháp lý của những quy định về SHTT trong nước trước đây và sử dụng một cách có chọn lọc các quy định về SHTT của các nước trên thế giới nhằm tạo ra một hệ thống pháp Luật SHTT 2005 thống nhất, đầy đủ, hiệu quả

và đủ mạnh ở Việt Nam, đáp ứng những yêu cầu của Hiệp định TRIPS và phù hợp với thông lệ quốc tế Luật SHTT 2005 ra đời còn đồng thời khắc phục những thiếu sót và giảm tối đa những mâu thuẫn, chồng chéo của các quy định về SHTT trong các văn bản pháp luật khác nhau trước đây giúp việc thực hiện các quy định của Luật SHTT 2005 thuận lợi hơn

Những quy định có liên quan trong các văn bản pháp luật nói trên cho thấy, việc bảo hộ TTM của Việt Nam được tiến hành tương đối phù hợp với thông lệ của nhiều nước trong lĩnh vực này Theo đó, TTM ở Việt Nam được hình thành theo nguyên tắc “tự do lựa chọn” Các cá nhân, tổ chức hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn chỉ dẫn thương mại là TTM mà dưới nó họ sẽ tiến hành hoạt động kinh doanh của mình Quyền SHCN đối với TTM tự động được xác lập khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật mà không cần phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Điều đó có nghĩa là, quyền đối với TTM xuất hiện từ sự kiện sử dụng TTM, không phụ thuộc TTM đó có được đăng ký hay không TTM tại Việt Nam được bảo hộ theo nguyên tắc “sự thật” TTM phải thể hiện đúng loại hình tổ chức kinh doanh, phạm vi trách nhiệm pháp lý của các chủ thể sử dụng TTM đó Pháp

Trang 31

luật thừa nhận quyền đối với TTM là quyền tài sản thuộc sở hữu của chủ nhân TTM

đó Những văn bản pháp luật này quy định cụ thể về các quyền của chủ sở hữu TTM, các hành vi vi phạm, các phương thức và biện pháp bảo vệ quyền SHCN đối với TTM

Về vấn đề xử lý xâm phạm, không phải bất kỳ hành vi nào xâm phạm chỉ dẫn thương mại đều bị coi là cạnh tranh không lành mạnh Chỉ bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh khi bên cạnh thoả mãn các yếu tố về chủ thể, hành vi đó phải vì mục đích cạnh tranh, xâm phạm đến đối thủ cạnh tranh cụ thể và trong cùng một thị trường hàng hoá, dịch vụ hay thị trường liên quan Như vậy, sẽ có những hành vi về mặt khách quan là xâm phạm chỉ dẫn thương mại, nhưng không xuất phát từ chủ thể cạnh tranh, không vì mục đích cạnh tranh, không nhằm và xâm phạm đến đối thủ cạnh tranh thì không bị coi là hành vi cạnh tranh và trong trường hợp này hành vi đó sẽ bị xử lý cả về mặt nội dung lẫn hình thức theo pháp luật về sở hữu trí tuệ

1.4 Vai trò của tên thương mại

TTM là tên gọi của doanh nghiệp, tổ chức để dùng trong kinh doanh nhằm phân biệt với doanh nghiệp, tổ chức khác trong cùng ngành nghề và khu vực kinh doanh Ngày nay, TTM là tài sản vô hình đặc biệt và quan trọng trong tổng tài sản của DN, hình thành phần lớn từ giá trị kinh tế TTM mang lại Xét dưới khía cạnh thương mại, TTM là biểu trưng uy tín của doanh nghiệp, khẳng định vị trí của doanh nghiệp, nhằm phân biết nó với các doanh nghiệp khác Trong hoạt động thương mại, thương nhân thông qua TTM để tiếp cận thị trường và giao dịch thương

mại TTM mang đến 04 ý nghĩa cho doanh nghiệp như sau:

Thứ nhất: Duy trì hoặc tạo thêm thị phần trên thị trường

Sự nổi tiếng tạo ra sự bền vững về thị thế và phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường, tạo ra sự linh hoạt chủ động của chủ sở hữu trong kinh doanh Bảo hộ TTM tạo nên một công cụ hữu hiệu cho các doanh nghiệp quảng bá

và lưu thông hàng hoá một cách có hiệu quả trên thị trường cũng như bảo vệ và phát

Trang 32

triển thị phần của mình, bảo đảm một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm thúc

đẩy sự phát triển nền kinh tế

Với TTM nổi tiếng, doanh nghiệp sẽ có cơ hội dẫn đầu trong các lĩnh vực mà mình tham gia đồng thời tạo sức hút lớn với người tiêu dùng Ngoài ra TTM có uy tín còn tạo nên vị thế bền vững và mở rộng phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp Khi một TTM đã được khách hàng chấp nhập, nó sẽ mang lại khả năng tiếp cận thị trường dễ dàng và sâu rộng hơn ngay cả khi đó là một chủng loại hàng hóa mới TTM nổi tiếng được sử dụng để đưa một sản phẩm mới vào thị trường đã được thiết lập sẽ dễ dàng chiếm được một phần thị trường lớn hơn các sản phẩm khác đang tham gia bởi chính TTM nổi tiếng tạo ra sự thu hút mạnh mẽ đối với người tiêu dùng Đưa sản phẩm mới vào thị trường là một công việc rất tốn kém, vì cần có sự

nỗ lực đáng để người tiêu dùng nhận biết sản phẩm trong số sản phẩm cạnh tranh khác trên thị trường Hiện nay các doanh nghiệp đều có sự cạnh tranh thương hiệu với các đối thủ cùng bán một loại sản phẩm dịch vụ Với sự lựa chọn đa dạng như vậy, người tiêu dùng có thể do dự khi thử sản phẩm mới Do đó, chỉ có các TTM đã tạo sự chấp nhận vượt trội từ phía người tiêu dùng mới gây được sự chú ý

Việc bảo hộ TTM đầy đủ và có hiệu quả là cơ sở để chúng ta tham gia vào các sân chơi lớn, các thị trường song phương, khu vực và toàn cầu, thu hút đầu tư và công nghệ nước ngoài, từ đó tạo ra những bước khởi sắc mới cho nền kinh tế Bảo

hộ SHCN nói chung và bảo hộ TTM nói riêng đã trở thành một cam kết quan trọng

mà Việt Nam phải thực hiện trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ hai: Mang lại giá trị kinh tế

Hàng hóa mang TTM nổi tiếng có thể bán giá cao hơn so với các hàng hóa tương tự nhưng mang TTM xa lạ Ngoài ra một TTM mạnh sẽ giúp bán được nhiều hàng hơn (nhờ tác dụng tuyên truyền và phổ biến kinh nghiệm của chính những người tiêu dùng) Những giá trị kinh tế bao gồm: (i) Tăng doanh số bán hàng; (ii)Tăng lợi nhuận và tăng thu nhập cho doanh nghiệp; (iii) Tăng sản lượng và doanh số hàng hóa; (iv) Tăng giá trị sản phẩm do người tiêu dùng phải trả tiền mua

Trang 33

uy tín của sản phẩm; (v) Nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm tăng, điều này dẫn tới

tăng trưởng cho kinh tế nói chung

Thứ ba: Tạo uy tín đối với đối tác

TTM nổi tiếng sẽ mang đến dấu ấn tốt đối với các bạn hàng, để rồi khi nói đến sản phẩm của mình, người ta sẽ biết ngay đến những lợi ích của sản phẩm dựa trên

uy tín của doanh nghiệp sở hữu sản phẩm đó TTM nổi tiếng không chỉ tạo ra những lợi thế nhất định cho doanh nghiệp trong quá trình bán hàng và cung cấp dịch vụ,

mà còn tạo điều kiện và như là một sự đảm bảo thu hút đầu tư và gia tăng các quan

hệ bán hàng Khi đã mang TTM nổi tiếng, các nhà đầu tư sẽ không còn e ngại khi đầu tư vào doanh nghiệp Điều này sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp trong kinh doanh, góp phần giảm giá thành sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và doanh nghiệp

Thứ tư: Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chất lượng

Chức năng kinh tế của TTM là chúng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chất lượng sản phẩm sao cho hàm ý tích cực của TTM sẽ được khẳng định bằng kinh nghiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ Những TTM đã trở nên phổ biến thường là những chỉ dẫn tốt về chất lượng của sản phẩm hoặc dụng mà chúng liên quan tới Điều này khuyến khích nhiều công ty đang sử dụng TTM của một một cách có kết quả tiếp tục chế tạo những sản phẩm hoặc cung cấp những dịch

vụ có thể thoả mãn khách hàng của họ, trên cơ sở triển vọng kinh doanh lâu dài Như vậy, TTM khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chất lượng, duy trì và cải tiến sản phẩm, những việc làm có lợi cho toàn xã hội

Với việc cung cấp một hình thức phân biệt dễ nhận biết, TTM làm phát sinh trách nhiệm đối với sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp Một người tiêu dùng mua một sản phẩm bởi “lời hứa hẹn ngầm” một chất lượng nhất định, nhưng nếu chất lượng đó không được tôn trọng và sản phẩm gây thất vọng thì người tiêu dùng sẽ không còn đủ tin tưởng và hào hứng để mua sản phẩm đó lần nữa Bảo hộ TTM có

ưu điểm kinh tế quan trọng đối với thị trường, bởi nó khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chất lượng của những sản phẩm quảng cáo Doanh nghiệp tiến hành đầu

Trang 34

tư vào chất lượng vì họ biết sức mạnh của việc dùng TTM Doanh nghiệp phải nhận thức được rằng sự ưa chuộng sản phẩm về lâu dài, dựa trên cơ sở những trải nghiệm

hài lòng lặp đi lặp lại đối với sản phẩm/dịch vụ mà TTM gắn liền với nó cung cấp

Thứ tư: Vai trò của TTM đối với người tiêu dùng

Người tiêu dùng luôn phải đối mặt với vấn đề lựa chọn những sản phẩm giống nhau được cung cấp ra thị trường nhưng lại không có đủ thông tin về đặc tính và chất lượng của sản phẩm TTM xác nguồn gốc của sản phẩm hoặc nhà sản xuất, giúp khách hàng xác định nhà sản xuất hoặc nhà phân phối cụ thể phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm được giao dịch trên thị trường Chức năng cung cấp thông tin của TTM đối với người tiêu dùng có thể truyền đạt những thông tin về sản phẩm

là một cách để thu hẹp phạm vi lựa chọn và để có quyết định mua hàng đúng đắn Khi tiêu dùng một sản phẩm, nhờ những kinh nghiệm trong quá trình sử dụng kết hợp với các chiến lược quảng cáo của sản phẩm đó qua nhiều năm, khách hàng biết đến và duy trì sử dụng TTM TTM trở thành công cụ nhanh chóng và là cách đơn giản hóa quyết định mua sản phẩm của khách hàng Điều này cho phép khách hàng giảm bớt chi phí thời gian và công sức tìm kiếm sản phẩm Đây chính là điều quan

trọng nhất mà một TTM và doanh nghiệp gắn với

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

ĐỐI VỚI TÊN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

2.1 Thực trạng pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại

2.1.1 Phát sinh quyền đối với tên thương mại

2.1.1.1 Chủ thể sở hữu tên thương mại

Quyền SHCN là một loại quan hệ dân sự Bởi vậy, chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự cũng có thể trở thành chủ thể quyền SHCN Tuy nhiên, do đối tượng quyền SHCN là tài sản vô hình mà giá trị của nó chỉ xác định một cách tương đối thông qua việc áp dụng nó trong các lĩnh vực kinh tế xã hội với hiệu quả mà nó mang lại, nên chủ thể quyền SHCN mang tính đặc thù riêng

Chủ thể của pháp luật về tên thương mại gồm

- Chủ sở hữu tên thương mại là những cá nhân, tổ chức đang thực tế sử dụng, khai thác tên thương mại đó và nếu có tranh chấp xảy ra họ phải chứng minh được quyền hợp pháp của mình trước các đối thủ cạnh tranh

- Người được chuyển giao quyền sở hữu thông qua hợp đồng chuyển nhượng tên thương mại hoặc thông qua nhận di sản thừa kế (Thừa kế trong trường hợp này gắn với chuyển giao toàn bộ cơ sở kinh doanh kèm theo tên thương mại theo khoản

2 Điều 139 Luật SHTT)

Việc pháp luật quy định cụ thể chủ thể quyền sở hữu TTM sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định ai là chủ sở hữu của một TTM cụ thể trong tranh chấp hoặc xem xét giá trị pháp lý của các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng, quyền sở hữu đối với TTM Ví dụ: một cá nhân không có đăng ký kinh doanh, không hoạt động thương mại một cách độc lập và thường xuyên thì không thể yêu cầu tòa án xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của mình với một TTM và cũng không thể là một bên ký hợp đồng thuê, cho thuê, chuyển nhượng TTM được

Bên cạnh đó, theo khoản 6 Điều 4 Luật SHTT “Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ” Chủ sở hữu tên thương mại là tổ chức, cá nhân, hộ gia

Trang 36

đình sử dụng hợp pháp tên thương mại đó trong hoạt động kinh doanh của mình TTM là tên gọi nhằm phân biệt các chủ thể kinh doanh Quy định này đang mâu thuẫn với chủ thể thực tế được quyền sở hữu TTM khi mà hộ gia đình là một chủ thể được quyền sở hữu TTM nhưng lại không phải là chủ thể được chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ Quy định này vô hình chung đã chặn quyền chuyển nhượng TTM kèm với cơ sở kinh doanh theo quyền tự do kinh doanh của các bên

2.1.1.2 Điều kiện phát sinh quyền đối với tên thương mại

Điều 8 Công ước Paris quy định TTM phải được bảo hộ ở tất cả các nước mà không ràng buộc bởi nghĩa vụ nộp đơn hoặc đăng ký Tuy nhiên điều khoản đó thường được hiểu như là sự cho phép các nước thành viên của Công ước đòi hỏi việc đăng ký TTM quốc gia hoặc và TTM nước ngoài vì những mục đích khác chứ không phải mục đích bảo hộ pháp lý Cho nên có nhiều nước thành lập hệ thống đăng ký TTM, mặc dù hệ thống đó rất khác nhau về phạm vi lãnh thổ (địa phương/quốc gia) và về các hậu quả pháp lý của việc đăng ký

Hiện nay trên thế giới đang tồn tại ba nguyên tắc xác lập quyền sở hữu TTM là:

về mặt pháp lý Tuy nhiên, việc có được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không phải là cơ sở pháp lý để cho rằng quyền SHCN đối với tên thương mại đã

được xác lập Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định “Việc đăng

ký tên gọi của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong thủ tục kinh doanh không được coi

là sử dụng tên gọi đó mà chỉ là một điều kiện để việc sử dụng tên gọi đó được coi là

Trang 37

hợp pháp” Cần phân biệt việc đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp và đăng

ký kinh doanh là khác nhau Việc đăng ký kinh doanh là thủ tục bắt buộc đối với mọi chủ thể có nhu cầu kinh doanh Tên doanh nghiệp và TTM là hai đối tượng được điều chỉnh bởi hai ngành luật khác nhau, tuy nhiên trong từng trường hợp là tên gọi của doanh nghiệp nhằm mục đích xưng danh hoặc phân biệt các chủ thể kinh doanh thì tên doanh nghiệp và TTM đều được thể hiện dưới hình thức giống nhau vì vậy hai hai đối tượng này thường bị nhầm lẫn, kể cả trong cơ chế xác lập Việc thành lập một doanh nghiệp không phải là “sử dụng” một TTM mà đây là một thủ tục hành chính ghi nhận sự tham gia của một chủ thể trong hoạt động thương mại và đảm bảo sự quản lý của Nhà nước

Theo điểm b, Khoản 1, Điều 6 Luật SHTT “Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó” Vậy

hiểu như thế nào là sử dụng hợp pháp tên thương mại? Khoản 6 Điều 124 Luật

SHTT quy định “ Sử dụng tên thương mại là việc thực hiện hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo” Luật

SHTT về giải thích “sử dụng” theo phương pháp liệt kê, trong đó có hai điều kiện: Thứ nhất, sử dụng tên thương mại nhằm mục đích thương mại Đây là điều kiện cần đối với việc sử dụng TTM bởi TTM là tên gọi của chủ thể kinh doanh, và phải được sử dụng trong chính hoạt động kinh doanh của chủ thể đó để thực hiện chức năng phân biệt các chủ thể kinh doanh trong cùng khu vực và lĩnh vực kinh doanh của TTM

Thứ hai, sử dụng TTM nhằm mục đích xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo Đây là điều kiện đủ đối để TTM được coi là được sử dụng trên thực tế Với bản chất là một loại tên gọi của chủ thể kinh doanh, TTM trước hết phải thực hiện mục đích xưng danh trong các hoạt động kinh doanh Hành vi sử dụng TTM thông qua các hoạt động

Trang 38

được liệt kê ở trên nhằm truyền đạt được TTM, bảo đảm tính phân biệt của tên thương mại trên thị trường với khách hàng, đối tác và các đối thủ cạnh tranh

Việc liệt kê các hành vi sử dụng TTM nhằm xác định chính xác hành vi nào được xác định là hành vi sử dụng Tuy nhiên việc giải thích khái niệm theo cách liệt

kê đã đóng khung cho việc xác định thế nào là sử dụng TTM khi chỉ giới hạn hành

vi sử dụng trong một số hoạt động thương mại nhất định Theo cách giải thích trên, khi chủ thể kinh doanh tiến hành một trong các hành vi: xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo thì được coi là sử dụng TTM

Việc sử dụng hợp pháp tên thương mại là mọi hành vi sử dụng TTM mặc dù

đã đủ điều kiện theo khái niệm “sử dụng” ở trên nhưng không được xâm phạm các quyền SHCN của chủ sở hữu TTM khác theo quy định của Luật SHTT hoặc là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của Luật cạnh tranh 2004 bao gồm:

- Sử dụng trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại ( Khoản 2 Điều 129 Luật SHTT)

- Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương

tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng (Điểm d, Khoản 1 Điều 130 Luật SHTT về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và Điều 140 Luật cạnh tranh 2004 về chỉ dẫn gây nhầm lẫn)

Cần lưu ý, việc đăng ký tên gọi của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong thủ tục kinh doanh cũng được coi là một điều kiện để việc sử dụng TTM đó là hợp pháp

Trang 39

(Khoản 2 Điều 16 Nghị định 103/2006/NĐ-CP) Với các quy định trên, thời điểm TTM được bảo hộ là thời điểm được chủ thể mang TTM đó sử dụng hợp pháp Vì vậy, để được pháp luật bảo hộ, bên cạnh các điều kiện được quy định tại Điều 76 và Điều 78 Luật SHTT 2005, TTM trước hết phải là tên của cơ sở kinh doanh, có nghĩa là cơ sở kinh doanh đó phải được hình thành và được đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật

2.1.2 Sử dụng tên thương mại

Bản chất quyền đối với TTM là khả năng bảo đảm cho chủ thể tham gia vào các giao dịch dưới TTM của mình Trên cơ sở đó một đặc trưng quan trọng của chế

độ pháp lý đối với TTM là quyền đối với TTM mang tính chất độc quyền Chủ thể

có độc quyền khai thác TTM của mình với điều kiện việc khai thác đó phải phù hợp với quy định của pháp luật Sử dụng TTM là việc thực hiện hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách dùng TTM để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện TTM trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo

Việc xác định chủ sở hữu đối tượng SHCN có thể dựa trên các đặc điểm về trình tự xác lập quyền đối với các đối tượng cụ thể Quyền SHCN đối với TTM được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp TTM đó Đây là cơ chế xác lập tự động dựa trên cơ sở thực tế khai thác và sử dụng TTM Vì vậy, chủ sở hữu TTM là tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp TTM đó trong quá trình kinh doanh (Khoản 2 Điều

121 Luật SHTT) TTM được bảo hộ theo cơ chế tự động nên trong trường hợp có tranh chấp xảy ra thì các tổ chức, cá nhân đó phải chứng minh được quyền hợp pháp của mình trước các đối thủ cạnh tranh Theo Khoản 1 Điều 15 Nghị định 103/2006/NĐ-CP thì chủ thể quyền SHCN còn là các tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền SHCN Như vậy trong trường hợp TTM được chuyển giao quyền SHCN theo các quy định của pháp luật thì tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao

đó cũng sẽ là chủ sở hữu TTM

Chủ sở hữu TTM có những quyền tài sản đối với TTM được quy định tại Khoản 1 Điều 123 Luật SHTT 2005 bao gồm: Quyền sử dụng, cho phép người khác

Trang 40

sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp ; Ngăn cấm người khác sử dụng; Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp

2.1.2.1 Quyền sử dụng tên thương mại:

Bản chất quyền đối với TTM là khả năng bảo đảm cho chủ thể tham gia vào các giao dịch dưới TTM của mình Trên cơ sở đó, một đặc trưng pháp lý quan trọng của TTM là quyền đối với TTM mang tính chất đặc quyền Chủ sở hữu có độc quyền khai thác TTM của mình với điều kiện khai thác đó phải phù hợp với quy định của pháp luật Nói cách khác, không một ai ngoài chủ thể có thể thực hiện những hành vi được coi là độc quyền đối với TTM Chế độ pháp lý này của TTM có những nét tương đồng với một số đối tượng quyền SHCN khác như sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa,… tuy nhiên quyền SHCN đối với tên thương mại có những hạn chế nhất định về mặt đối tượng và không gian, bởi TTM được bảo hộ trong phạm vi khu vực và lĩnh vực kinh doanh của chủ sở hữu

Theo Khoản 6 Điều 124 Luật SHTT 2005 thì “Sử dụng tên thương mại là việc thực hiện hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách dùng tên thương mại để xung danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các giấy

tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hóa, bao bì hàng hóa và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo”

Luật SHTT không định nghĩa về cụm từ “mục đích thương mại” trong việc sử dụng TTM, tuy nhiên, từ các văn bản pháp luật về kinh doanh, thương mại, có thể hiểu “mục đích thương mại” là những giá trị, lợi ích vật chất mà cá nhân, tổ chức sở hữu TTM dự kiến sẽ đạt được thông qua hành vi sử dụng TTM trong hoạt động kinh doanh, thương mại của chính tổ chức, cá nhân đó Theo đó, việc xác định mục đích của việc sử dụng một cái tên trong hoạt động của các chủ thể có ý nghĩa quan trọng bởi hành vi sử dụng tên trùng hoặc tương tự với TTM của người khác nhưng không nhằm mục đích thương mại không thể coi là hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM

Quyền sử dụng TTM là sự thể hiện qua việc xưng danh, chủ sở hữu có quyền

sử dụng TTM là một tên nhất định và xác định của cá nhân, tổ chức trong hoạt động

Ngày đăng: 02/08/2019, 19:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w