Đặc biệt, trong số các công trình nghiên cứu được tập hợp trong quyển sách này, bài viết của tác giả Thomas Cottier Trường Đại học Luật Bern - Bern University Law School với nhan đề “Tec
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN QUỲNH ANH
PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN QUỐC TẾ
VỀ PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ CAO
- KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Quỳnh Anh
Trang 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
APEC : Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(tiếng Anh: Asia-Pacific Economic Cooperation)
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(tiếng Anh: Association of South East Asian Nations)
Aseanapol : Tổ chức Cảnh sát các nước Đông Nam Á
(tiếng Anh: ASEAN National Police)
DoS : Tấn công từ chối dịch vụ
(viết tắt của Denial of Service)
DDoS : Tấn công từ chối dịch vụ phân tán
(viết tắt của Distributed Denial of Service)
EU : Liên minh châu Âu
(tiếng Anh: European Union)
Europol : Cục Cảnh sát châu Âu
(tiếng Anh: European Union Agency for Law Enforcement Cooperation)
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Các phương pháp nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
6 Bố cục của Luận văn 6
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỘI PHẠM SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 7
1.1 Khái niệm tội phạm sử dụng công nghệ cao 7
1.1.1 Định nghĩa tội phạm sử dụng công nghệ cao 7
1.1.2 Đặc điểm của tội phạm sử dụng công nghệ cao 13
1.1.3 Phân loại tội phạm sử dụng công nghệ cao 15
1.2 Thực tiễn tội phạm sử dụng công nghệ cao hiện nay 18
1.2.1 Thực tiễn trên thế giới 18
1.2.2 Thực tiễn tại Việt Nam 20
1.3 Hợp tác quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao 24
1.3.1 Sự cần thiết của hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao 24
1.3.2 Các hình thức hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
Trang 5Chương 2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 32
2.1 Pháp luật quốc tế 32
2.1.1 Điều ước quốc tế chuyên biệt về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao 32 2.1.2 Một số điều ước quốc tế có liên quan đến phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao 37
2.2 Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về phòng chống tội
phạm sử dụng công nghệ cao 43
2.2.1 Pháp luật Liên bang Nga về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao 43 2.2.2 Pháp luật Trung Quốc về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao 45 2.2.3 Pháp luật Singapore về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 53 Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TẠI VIỆT NAM 54
3.1 Thách thức đến từ tội phạm sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam
54 3.2 Thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực pháp luật và thực thi pháp luật phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao 56
3.2.1 Trong lĩnh vực pháp luật 56 3.2.2 Trong lĩnh vực thực thi pháp luật 61
3.3 Hạn chế của Việt Nam trong lĩnh vực pháp luật và thực thi pháp luật phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao 64
3.3.1 Trong lĩnh vực pháp luật 64 3.3.2 Trong lĩnh vực thực thi pháp luật 66
Trang 63.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao tại Việt Nam 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 73 KẾT LUẬN 74
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thời đại số hóa, internet trở thành một phần không thể thiếu của đời sống con người trong xã hội hiện đại Cách mạng công nghiệp 4.0 được coi
là cuộc cách mạng chưa từng có trong lịch sử nhân loại, là sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học, tạo nên một môi trường mà máy tính, tự động hóa và con người nói chung sẽ cùng nhau làm việc theo một cách hoàn toàn khác biệt, tạo ra những khả năng hoàn toàn mới và có tác động sâu sắc đối với các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới Internet - hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy cập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau - có thể được coi là là một “huyết mạch” quan trọng không thể thiếu của cuộc cách mạng công nghiệp này
Internet đã trở thành phương tiện giúp việc truyền đạt, trao đổi thông tin, hợp tác, giao lưu giữa mọi cá nhân, tổ chức và quốc gia trên khắp thế giới diễn
ra nhanh chóng và cực kỳ tiện ích với tốc độ tính bằng giây Trong lĩnh vực kinh doanh, cơ hội liên kết và hợp tác làm ăn trên mạng internet rất lớn, mở rộng mạng lưới khách hàng và các đối tác tiềm năng ra phạm vi quốc tế Internet cũng đóng vai trò lớn trong việc hỗ trợ học tập tốt hơn Nhờ Internet, mọi người
có thể học tập thông qua hình thức học trực tuyến hay tìm kiếm các tài liệu từ trên mạng Đồng thời, đây cũng là một phương tiện giải trí hữu ích của con người, đặc biệt là trong cuộc sống xã hội hiện nay Với sự tiện lợi và hữu ích này, gần như không có quốc gia nào trên thế giới không đón nhận internet Tuy nhiên, đây cũng chính là con dao hai lưỡi Môi trường internet tiềm
ẩn rất nhiều rủi ro Sự phổ biến rộng rãi của internet đã bị nhiều cá nhân, tổ chức lợi dụng để thực hiện hành vi xấu nhằm trục lợi Các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao ngày càng gia tăng với tốc độ “phi mã” Song, do tính chất đặc biệt của loại tội phạm này, với đặc trưng là hoạt động trong môi trường khó kiểm soát, hệ thống pháp lý về tội phạm sử dụng công nghệ cao vẫn chưa được
Trang 82
quy định đầy đủ và chặt chẽ Xuất phát từ đặc điểm của internet có phạm vi rộng khắp trên thế giới nên một quốc gia cũng không thể đơn phương ngăn chặn các tội phạm này, đòi hỏi phải có một khung pháp lý rộng hơn, mang tính toàn cầu, để không bỏ lọt tội phạm Bên cạnh đó, thực trạng tội phạm sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam diễn biến phức tạp, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi trong khi trình độ công nghệ thông tin của các lực lượng chức năng chưa thực sự phát triển, các quy định pháp luật chưa đủ bám sát thực tế Đặc biệt là những năm gần đây tội phạm sử dụng công nghệ cao ngày càng gia tăng, đòi hỏi cần phải được nghiên cứu chuyên sâu Với sự phát triển của tội phạm sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam và những hệ lụy do loại tội phạm này gây ra
về kinh tế, chính trị, xã hội, việc nghiên cứu rất quan trọng, vừa mang tính cảnh báo về loại hình tội phạm này đối với các cơ quan chức năng, vừa để hoàn thiện các quy định pháp luật
Hiện nay, tội phạm sử dụng công nghệ cao vẫn là một vấn đề khá mới với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng với nhiều khía cạnh chưa được nghiên cứu đầy đủ, đánh giá kỹ lưỡng Với tính chất ngày càng phức tạp, lĩnh vực này đòi hỏi cần phải được quan tâm đúng mức Yêu cầu tìm hiểu và làm rõ pháp luật và thực tiễn quốc tế về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đang trở nên cấp thiết Đồng thời cần rút ra bài học kinh nghiệm, lấy đó làm căn cứ
để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực này của Việt Nam
Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Pháp luật và thực tiễn quốc tế về phòng chống tội
phạm công nghệ cao - Kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho
Luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Sự đa dạng, tốc độ và sức mạnh của những đổi mới công nghệ nổi lên trong thế kỷ 21 đã và đang trở nên ngoạn mục Mặc dù có tiềm năng tạo ra sự chuyển đổi tích cực và giúp giải quyết những thách thức lớn về xã hội, những công nghệ này cũng đi kèm với những lo ngại về các rủi ro và tác động bất ổn của chúng Vì lý do đó, có thể nói sự phát triển công nghệ này đã thúc đẩy sự
Trang 93
gia tăng của các công trình nghiên cứu về pháp luật và công nghệ, đòi hỏi quan tâm đến việc nghiên cứu đầy đủ các khía cạnh pháp lý, xã hội và đạo đức của
sự đổi mới công nghệ
Trong số các công trình nghiên cứu đã công bố của các tác giả ngoài nước
liên quan đến đề tài này, có thể kể đến tác phẩm “The Oxford Handbook of Law,
Regulation and Technology” của các tác giả Roger Brownsword, Eloise
Scotford và Karen Yeung Cuốn sách được xuất bản vào tháng 7 năm 2017
“The Oxford Handbook of Law, Regulation and Technology” cung cấp một cái
nhìn tổng quan về sự giao thoa giữa công nghệ mới và các quy định pháp luật cần thiết, tập hợp các tài liệu về pháp luật và công nghệ, rút ra cái nhìn toàn diện từ các nghiên cứu về các quy định này, đồng thời hỗ trợ phát triển các nhận thức thực tế và lý thuyết phổ biến trong các lĩnh vực công nghệ khác nhau Được cấu trúc trong năm phần, cuốn sách tập hợp các công trình nghiên cứu hiện có liên quan đến pháp luật và công nghệ cũng như cách quản lý, quy định; nghiên cứu những thách thức đối với pháp luật trong việc ứng phó các tội phạm công nghệ mới, tìm hiểu các quy tắc và quy định pháp lý đã được định hình, trải qua sự thách thức do sự phát triển công nghệ như thế nào; khám phá sự tương tác đa dạng giữa pháp luật, công cuộc quản lý và các công nghệ mới trên một loạt các lĩnh vực xã hội quan trọng Đặc biệt, trong số các công trình nghiên cứu được tập hợp trong quyển sách này, bài viết của tác giả Thomas Cottier (Trường Đại học Luật Bern - Bern University Law School) với nhan đề
“Technology and the Law of International Trade Regulation” (tạm dịch: “Công
nghệ và Pháp luật về các quy định trong thương mại quốc tế”) là công trình liên quan trực tiếp đến đề tài pháp luật quốc tế về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Bài viết phân tích phạm vi của các quy định pháp luật hiện nay
và dự đoán hướng phát triển của cách tiếp cận các quy định về công nghệ thông tin trong tương lai
Tại Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu về đề tài tội phạm
sử dụng công nghệ cao Cụ thể có các bài viết “Đặc điểm và các dạng hành vi
Trang 104
cơ bản của tội phạm tin học” của tác giả Nguyễn Mạnh Toàn đăng trên Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật số 3/2002, “Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh với
tội phạm sử dụng công nghệ cao trong bối cảnh toàn cầu hóa” của tác giả Hồ
Thế Hòe đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 6/2012 hay “Một số trao
đổi về tội phạm sử dụng công nghệ cao theo quy định của pháp luật Việt Nam”
của tác giả Hoàng Việt Quỳnh được đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục Cảnh sát nhân dân số 79 (tháng 8/2016) Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 16/2015
có bài viết “Tính chất của tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao tại Việt
Nam, thủ đoạn phạm tội và dự báo” - tác giả Cao Anh Đức và số 2 + 3/2016 có
bài “Những vướng mắc trong đấu tranh, xử lý vi phạm pháp luật về tội phạm
công nghệ cao” - tác giả Trần Đoàn Hạnh Cùng với đó còn có bài viết “Bảo đảm an ninh kinh tế trước các loại tội phạm công nghệ cao - kinh nghiệm và một vài kiến nghị” của Nguyễn Như Niên trên Tạp chí Kiểm sát số 7/2015 và
bài “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về chứng cứ điện tử trong phòng, chống tội phạm
công nghệ cao” của Đào Anh Tới trên Tạp chí Kiểm sát số Xuân 1/2014 Mỗi
bài viết tiếp cận những khía cạnh riêng liên quan đến loại hình tội phạm này Tuy nhiên, mới chỉ có rất ít công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước tiếp cận vấn đề pháp luật và thực tiễn quốc tế phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao
Trên thế giới đã có các công trình nghiên cứu khoa học xoay quanh vấn
đề pháp luật và thực tiễn phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, còn ở Việt Nam, các nghiên cứu mới chỉ mang tính gợi mở Tiếp cận từ một góc độ khác, Luận văn sẽ tìm hiểu pháp luật quốc tế, từ đó đề xuất xây dựng khung pháp lý chung mang tính toàn cầu, đồng thời kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cho Việt Nam
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao
Trang 115
Trên cơ sở nội dung nghiên cứu đó, Luận văn hướng đến mục tiêu nâng cao nhận thức về mối nguy hại của loại tội phạm này, từ đó chỉ ra sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, khẩn trương xây dựng và hoàn thiện khung pháp
lý chung mang tầm quốc tế và đề xuất giải pháp từ góc độ nghiên cứu để phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao
Do dung lượng giới hạn nên khuôn khổ pháp lý được nghiên cứu chủ yếu
là trong các văn bản pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và chú trọng hơn với pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Phạm vi nghiên cứu của Luận văn còn bao gồm cả thực trạng thực thi pháp luật về lĩnh vực này
4 Các phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, Luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học là duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của triết học Marx-Lenin
Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận văn chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học pháp lý Các phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu được dùng trong bài là phương pháp phân tích, tổng hợp,
so sánh, diễn dịch, quy nạp, … Cụ thể hơn, Luận văn phân tích các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, nghiên cứu và đánh giá thực trạng pháp luật, so sánh và tổng hợp nhằm rút ra kinh nghiệm Ngoài ra, Luận văn còn thu thập thông tin, tài liệu, số liệu từ nhiều nguồn khác nhau
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn tập hợp các quy định của pháp luật quốc tế, đồng thời hệ thống hóa các quy định pháp luật của Việt Nam liên quan đến lĩnh vực phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, trên cơ sở đó có thể đối chiếu, so sánh để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt, tìm ra những điểm Việt Nam có thể
kế thừa và cần tham khảo, học hỏi kinh nghiệm
Việc nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao và chỉ ra yêu cầu cấp thiết đòi hỏi một khuôn khổ pháp lý thống nhất cũng đóng vai trò thúc đẩy mỗi người cần phải nhận định
Trang 126
đúng mức sự nguy hiểm của tội phạm sử dụng công nghệ cao Những vấn đề nghiên cứu thuộc phạm vi của Luận văn sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ
sở dữ liệu tham khảo nhằm xây dựng khung pháp luật về phòng chống tội phạm
sử dụng công nghệ cao trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, đồng thời nâng cao nhận thức và mức độ cảnh giác của mọi người đối với loại tội phạm này
Bên cạnh đó, việc hoàn thiện và bổ sung hệ thống quy phạm pháp luật về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao còn hướng đến tạo ra một môi trường công nghệ thông tin lành mạnh để người dùng có thể tự do tận hưởng
sự nhanh gọn, tiện lợi mà internet mang lại, đảm bảo môi trường mạng an toàn cho việc phát triển kinh tế, chính trị và xã hội trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu gồm ba chương,
cụ thể:
Chương 1: Tổng quan về tội phạm sử dụng công nghệ cao và hợp tác quốc
tế đấu tranh phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao;
Chương 2: Pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao;
Chương 3: Thực trạng pháp luật về phòng chống tội phạm sử dụng công
nghệ cao tại Việt Nam
Trang 137
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỘI PHẠM SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO
VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG
TỘI PHẠM SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO
Dù mới chỉ hình thành và phát triển vài chục năm trở lại đây, song nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hoá đã phải phụ thuộc vào các công nghệ mới của cuộc cách mạng công nghệ thông tin hiện nay Cũng như bất kỳ một thành tựu khoa học nào của nhân loại, khi mà các thành tựu càng được ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội thì càng dễ bị lợi dụng hoặc trở thành mục tiêu của giới tội phạm Các thành tựu do công nghệ thông tin đem lại cũng không nằm ngoài quy luật này Đây hiện được xem là một trong những mối quan ngại của
cả cộng đồng thế giới và là một thách thức mới đối với các nhà làm luật cũng như các cơ quan thực thi pháp luật trong việc định ra những quy định phù hợp
để có thể phòng ngừa và trấn áp một cách có hiệu quả loại tội phạm sử dụng công nghệ cao này
1.1 Khái niệm tội phạm sử dụng công nghệ cao
1.1.1 Định nghĩa tội phạm sử dụng công nghệ cao
Trong thế giới ảo mà công nghệ thông tin đã tạo nên cho con người, một khái niệm mới về loại tội phạm đã được hình thành, đó là tội phạm sử dụng công nghệ cao Tội phạm sử dụng công nghệ cao còn được biết đến với các tên khác nhau như: tội phạm công nghệ cao, tội phạm về công nghệ thông tin, tội phạm mạng, tội phạm tin học hay tội phạm liên quan đến máy tính Xét về khái niệm “tội phạm sử dụng công nghệ cao”, hiện nay luật pháp của nhiều nước trên thế giới như Australia, Mỹ, Anh đã có định nghĩa liên quan đến tội phạm này như: tội phạm công nghệ cao (high-tech crime); tội phạm máy tính (computer crime): tội phạm liên quan đến máy tính (computer-related crime); tội phạm mạng (cybercrime)… Ví dụ trong luật Hình sự năm 1995 của
Trang 148
Australia và phần 10.7 của luật Thịnh vượng chung (Commonwealth legislation
- Part 10.7: Computer Offences), tội phạm công nghệ cao (high-tech crime)
được định nghĩa “là sự xâm nhập máy tính một cách trái phép; sự sửa đổi trái
phép dữ liệu bao gồm việc phá hủy dữ liệu; tấn công từ chối dịch vụ (DoS); tấn công từ chối dịch vụ phân tán (DDoS) có sử dụng botnets; 1 tạo ra và phân phối phần mềm độc hại” Theo Từ điển luật học Black’s Law, tội phạm máy tính
(computer crime) được định nghĩa là “tội phạm đòi hỏi về kiến thức công nghệ
máy tính chẳng hạn như phá hoại hoặc ăn cắp dữ liệu máy tính hay sử dụng máy tính để thực hiện một số tội phạm khác.”
Đây là những khái niệm mới không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều nước trên thế giới Mặc dù có sự khác biệt trong việc sử dụng thuật ngữ, điển hình như: tội phạm công nghệ cao, tội phạm ảo, tội phạm công nghệ thông tin, tội phạm mạng, tội phạm tin học, tội phạm liên quan đến máy tính, … song các thuật ngữ này có điểm chung là đều liên quan tới công nghệ thông tin, liên quan đến máy tính Do đó, trong phạm vi Luận văn, tác giả lựa chọn sử dụng thuật ngữ “tội phạm sử dụng công nghệ cao” để chỉ loại tội phạm này
Trước hết, xét về bản chất, tội phạm sử dụng công nghệ cao cũng có đầy
đủ các tính chất, đặc điểm như mọi tội phạm truyền thống khác Điều này đồng nghĩa với việc tội phạm sử dụng công nghệ cao cũng được coi là những hành
vi nguy hiểm cho xã hội, bao gồm bốn cấu thành cơ bản của một tội phạm là mặt khách quan, mặt chủ quan, khách thể và chủ thể của tội phạm Điểm khác biệt giữa tội phạm sử dụng công nghệ cao với tội phạm khác là công nghệ thông tin, máy tính và mạng máy tính có vai trò, mức độ nhất định trong việc thực hiện, che giấu và gây ra những hậu quả tác hại đối với xã hội của hành vi phạm tội.2 Nhìn một cách tổng thể, đối với loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, có thể thấy công nghệ thông tin, máy tính và mạng máy tính đóng vai trò quan
1 Botnet là các mạng máy tính được tạo lập từ các máy tính mà tin tặc có thể điều khiển từ xa Các máy tính trong mạng botnet là máy đã bị nhiễm malware (phần mềm độc hại) và bị tin tặc điều khiển Một mạng botnet có thể có tới hàng trăm ngàn, thậm chí là hàng triệu máy tính
2 Nguyễn Mạnh Toàn (2002), “Đặc điểm và các dạng hành vi cơ bản của tội phạm tin học”, Nhà nước
và Pháp luật, (3), tr 29-33
Trang 15là khách thể của tội phạm còn được thể hiện trong việc tội phạm cố tình phá hoại hay ăn cắp chúng nhằm xoá bỏ hoặc lấy cắp các thông tin mà nó chứa đựng
Dưới góc độ là công cụ phạm tội, máy tính và mạng internet ngày càng được nhiều loại tội phạm khác nhau sử dụng vì những khả năng ưu việt nó đem lại Việc sử dụng máy tính và các thiết bị liên quan làm công cụ phạm tội cũng được chia ra làm hai loại: loại thứ nhất sử dụng máy tính như là công cụ để thực hiện các tội phạm truyền thống như tội đánh bạc, tội lừa đảo; loại thứ hai sử dụng máy tính, các phần mềm máy tính và các bí mật được lưu giữ trong máy tính như “miếng mồi” để dụ những người cả tin
Mặc dù có thể tạm chia vai trò của công nghệ thông tin và máy tính đối với từng quá trình diễn biến của tội phạm như trên, nhưng trên thực tiễn việc nhận thức về vấn đề này rất khác nhau ở từng quốc gia, từng khu vực và phụ thuộc vào trình độ phát triển khoa học công nghệ của mỗi quốc gia, khu vực
đó Tuỳ thuộc vào nhận thức, khái niệm về tội phạm sử dụng công nghệ cao có thể rất rộng nhưng cũng có thể rất hẹp
Tiếp cận trên phạm vi rộng, thì việc xác định thế nào là tội phạm sử dụng công nghệ cao cần dựa trên vai trò của máy tính trong tội phạm Theo quan điểm này thì tội phạm sử dụng công nghệ cao bao gồm những tội phạm có sự liên can, dính líu của máy tính tới tội phạm với ba vai trò: (i) Máy tính là mục đích của tội phạm; (ii) Máy tính là công cụ phạm tội; (iii) Máy tính là vật trung gian để cất giấu, lưu trữ những thứ đã chiếm đoạt được Theo quan điểm này thì rất nhiều các loại tội phạm truyền thống cũng đều bị coi là tội phạm sử dụng
Trang 1610
công nghệ cao, đặc biệt là những tội sử dụng máy tính, mạng máy tính làm công
cụ, phương tiện phạm tội, ví dụ như tội đánh bạc trên mạng, tội cung cấp các dịch vụ mại dâm trực tuyến, tội truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ trên mạng…3
Một trong những định nghĩa rộng nhất về tội phạm sử dụng công nghệ cao thể
hiện quan điểm theo nghĩa rộng này được Bộ Tư pháp Mỹ đưa ra như sau: “Tội
phạm tin học là bất cứ các hành vi vi phạm pháp luật hình sự nào có liên quan đến việc sử dụng các hiểu biết về công nghệ máy tính trong việc phạm tội, điều tra hoặc xét xử”.4 Theo định nghĩa này thì bất cứ tội phạm nào cũng có thể được xếp vào loại tội phạm sử dụng công nghệ cao vì chỉ cần trong quá trình điều tra các điều tra viên sử dụng máy tính để tìm kiếm thông tin cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của định nghĩa
Quan điểm hiểu tội phạm sử dụng công nghệ cao theo phạm vi rộng cũng vấp phải một vấn đề khó khăn là cụ thể hoá các hành vi phạm tội cụ thể, từ đó xác định tội danh cụ thể cho các hành vi này Đây là công việc không dễ dàng
vì khi định tội danh, xét về bản chất nhiều tội danh lại trùng với các tội danh truyền thống như tội lừa đảo, đánh bạc…, điểm khác biệt ở đây chỉ là việc sử dụng công cụ là mạng máy tính
Tiếp cận trên phạm vi hẹp, có nhà nghiên cứu cho rằng tội phạm sử dụng công nghệ cao chỉ là tội phạm được thực hiện và gây hậu quả trên môi trường thế giới ảo do thành tựu của khoa học công nghệ tin học đem lại và nó hoàn toàn khác với các loại tội phạm truyền thống trước kia Trên thế giới hiện nay
đã xuất hiện thêm nhiều hành vi được coi là tội phạm sử dụng công nghệ cao khác hiểu theo phạm vi hẹp này như: tội vào cửa bằng mật khẩu ăn cắp; tội sao chụp bất hợp pháp các chương trình phần mềm; tội đe doạ tấn công hệ thống máy tính… Phương pháp tiếp cận theo phạm vi hẹp này tuy có ưu điểm là định
rõ được tội danh cần xử lý nhưng lại có nhược điểm là rất dễ bỏ sót tội phạm, nhất là trong bối cảnh công nghệ thông tin đang phát triển như hiện nay Một
3 Nguyễn Mạnh Toàn (2002), “Đặc điểm và các dạng hành vi cơ bản của tội phạm tin học”, Nhà nước
và Pháp luật, (3), tr 29-33
4 Mohamed Chawki (2005), A Critical Look at the Regulation of Cybercrime, Đại học Lyon III, Pháp,
tr 7
Trang 1711
ví dụ điển hình trên thế giới hiện nay đang tranh cãi là về hành vi trộm cắp, lừa đảo các tài sản mà người chơi có được khi chơi trò chơi trực tuyến Nếu nhìn dưới góc độ thế nào là tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành, thì các
“tài sản ảo” này hoàn toàn không giá trị, vì nó thực chất không phải là tài sản
mà chỉ là những thứ được tạo ra trong thế giới ảo do một phần mềm máy tính (những người xây dựng trò chơi trực tuyến) nghĩ ra Tuy nhiên, nếu xét dưới góc độ các tài sản này là do người chơi đã bỏ nhiều công sức để tạo lập được, cùng với tính chất có thể “chiếm hữu, sử dụng và định đoạt” (thực chất chiếm hữu, sử dụng và định đoạt ở đây cũng chỉ là tương đối) và đặc biệt là những tài sản này có thể quy đổi sang giá trị thực (có thể bán cho những người chơi khác) thì chúng lại thực sự cần được coi là một tài sản thực và cần được pháp luật bảo
vệ trước các hành vi như lừa đảo, trộm cắp như đối với các tài sản hữu hình khác
Mặt khác, nếu chỉ coi tội phạm sử dụng công nghệ cao giới hạn trong phạm vi thế giới ảo, môi trường điện tử do công nghệ thông tin đem lại thì đối với những tội phạm truyền thống sử dụng thành tựu công nghệ thông tin đem lại để thực hiện hành vi phạm tội, việc truy tìm dấu vết, chính sách ngăn ngừa, đấu tranh đối với hành vi này sẽ không có gì khác so với các phương pháp xử
lý truyền thống, trong khi về bản chất thì các hành vi phạm tội này khác hẳn, chẳng hạn như kẻ phạm tội tống tiền trên mạng trong và sau khi thực hiện hoàn toàn có thể xoá sạch toàn bộ dấu vết tội phạm bằng kỹ thuật công nghệ tin học, gây không ít khó khăn cho hoạt động thu thập dấu vết nếu các phương pháp thu thập, bảo quản chứng cứ không thay đổi phù hợp.5
Chính vì mỗi một quan điểm lại có những khiếm khuyết nhất định, nên hiện nay trên thế giới vẫn chưa có được một khái niệm hoàn chỉnh về tội phạm
sử dụng công nghệ cao được các quốc gia thống nhất sử dụng Tại cuộc họp lần thứ 10 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về ngăn chặn và xử lý tội phạm được
tổ chức tại thành phố Viên (Áo) từ ngày 10 đến ngày 17 tháng 10 năm 2000,
5 Nguyễn Mạnh Toàn (2002), “Đặc điểm và các dạng hành vi cơ bản của tội phạm tin học”, Nhà nước
và Pháp luật, (3), tr 29-33
Trang 1812
một cuộc hội thảo đã được tổ chức để bàn về vấn đề tội phạm sử dụng công nghệ cao Tổng hợp các định nghĩa về tội phạm sử dụng công nghệ cao có thể được tiếp cận dưới hai góc độ:
Thứ nhất, tội phạm sử dụng công nghệ cao theo nghĩa hẹp: được định
nghĩa là các hành vi phạm tội sử dụng máy tính và mạng máy tính với mục đích xâm phạm đến an toàn của hệ thống máy tính và quy trình lưu trữ dữ liệu của
hệ thống đó Loại tội phạm theo định nghĩa này có thể được hiểu là loại tội phạm mới, có quan hệ trực tiếp đến máy tính, mạng máy tính, làm ảnh hưởng
và gây thiệt hại cho người sử dụng
Thứ hai, tội phạm sử dụng công nghệ cao được hiểu theo nghĩa rộng: được
định nghĩa là các hành vi phạm tội sử dụng máy tính hoặc các phương pháp khác có liên quan đến máy tính, mạng máy tính, bao gồm các loại tội phạm như chiếm giữ bất hợp pháp và đe doạ hoặc làm sai lệch thông tin bằng phương pháp sử dụng mạng máy tính Loại tội phạm theo định nghĩa này là rất rộng, bao gồm nhiều loại hành vi của tội phạm truyền thống được thực hiện với sự trợ giúp của công cụ máy tính mà phổ biến hiện nay là các hành vi lừa đảo, trốn lậu cước viễn thông, mạo danh…
Định nghĩa tội phạm sử dụng công nghệ cao theo nghĩa rộng tuy chưa phải
là một định nghĩa hoàn chỉnh nhưng có ý nghĩa quan trọng khi lần đầu tiên xác định được thế nào là tội phạm sử dụng công nghệ cao, đã được các nước trên thế giới thảo luận và đi tới nhất trí Định nghĩa này đã được đa số các quốc gia
sử dụng và đưa vào hệ thống pháp luật Luận văn sẽ tiếp cận các vấn đề thuộc
phạm vi nghiên cứu dưới góc độ định nghĩa này, theo đó, tội phạm sử dụng
công nghệ cao là những tội phạm liên quan đến máy tính và các mạng thông tin, bao gồm cả các tội phạm mới hình thành trong môi trường của công nghệ thông tin và cả những tội phạm truyền thống nhưng được thực hiện với sự giúp
đỡ của các công nghệ thông tin mới
Trang 1913
1.1.2 Đặc điểm của tội phạm sử dụng công nghệ cao
Thứ nhất, tội phạm sử dụng công nghệ cao xâm phạm trật tự an toàn thông
tin, gây tổn hại cho lợi ích của quốc gia, quyền và các lợi ích hợp pháp của các
tổ chức cá nhân Cần nhận thức rằng, khách thể của các tội phạm sử dụng công nghệ cao là trật tự an toàn thông tin, trong đó, trật tự an toàn thông tin được hiểu là những quy tắc xử sự (pháp lý, đạo đức hoặc quy tắc chuyên môn…) được Nhà nước và xã hội xác lập nhằm đảm bảo an toàn thông tin được lưu trữ,
xử lý trong các hệ thống máy tính, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các
cá nhân, tổ chức trong việc khai thác, sử dụng các thông tin đó Theo Quyết định số 201/QĐ-BTC ngày 12 tháng 02 năm 2018 của Bộ Tài chính quy định
về việc đảm bảo an toàn thông tin trên môi trường máy tính và mạng máy tính,
“an toàn thông tin mạng” được hiểu là sự bảo vệ thông tin số và hệ thống thông
tin khỏi bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin Như vậy, trật tự an toàn thông tin bao gồm các quy tắc đảm bảo an toàn thông tin và những quy tắc liên quan đến trật tự pháp luật trong khai thác, sử dụng thông tin Một tội phạm sử dụng công nghệ cao cụ thể có thể tác động đến một hoặc cả hai khía cạnh của trật tự an toàn thông tin
Trong những hành vi phạm tội sử dụng công nghệ cao có những hành vi thuần tuý xâm phạm an toàn thông tin Những hành vi đó tác động trực tiếp đến
ba thuộc tính của an toàn thông tin là:
(i) Tính bảo mật (Confidentiality): là khả năng đảm bảo cho thông tin trong hệ thống máy tính không bị tiếp cận, bị xem và tiết lộ bởi những người không có những quyền đó;
(ii) Tính toàn vẹn (Integrity): là khả năng đảm bảo thông tin trên hệ thống máy tính không bị thay đổi hay xoá bỏ bởi những người không có những quyền đó;
Trang 2014
(iii) Tính khả dụng (Availability): là khả năng đảm bảo cho thông tin trên
hệ thống máy tính luôn sẵn sàng để được khai thác, sử dụng bởi những người
có quyền khai thác, sử dụng hợp pháp
Các hành vi truy cập trái phép, cản trở truyền tải dữ liệu, can thiệp vào dữ liệu của mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị số là những hành vi thuần tuý xâm phạm an toàn thông tin vì chúng tác động trực tiếp vào tính bảo mật, tính toàn vẹn và tính khả dụng của mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị
số
Thứ hai, tội phạm sử dụng công nghệ cao phải là những hành vi được xác
định là tội phạm theo quy định của pháp luật Ở Việt Nam, một hành vi chỉ được coi là tội phạm khi hành vi đó được quy định trong Bộ luật Hình sự Vì vậy, khi xem xét một hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn thông tin, gây tổn hại cho xã hội có phải là tội phạm sử dụng công nghệ cao phải xem hành vi đó
có được quy định trong Bộ luật Hình sự hay không
Thứ ba, tội phạm sử dụng công nghệ cao được thực hiện bằng việc sử dụng
tri thức, kỹ năng, công cụ, phương tiện công nghệ thông tin ở trình độ cao Nghiên cứu cách xác định của Công ước Budapest năm 2001 về Tội phạm mạng của Hội đồng châu Âu cho thấy các hành vi sau đây được chấp nhận phổ biến
là tội phạm sử dụng công nghệ cao như: truy cập bất hợp pháp; cản trở bất hợp pháp việc truyền tải dữ liệu máy tính; can thiệp trái phép vào dữ liệu; can thiệp trái phép vào hệ thống; sử dụng trái phép thiết bị; giả mạo liên quan đến máy tính; gian lận liên quan đến máy tính; vi phạm liên quan đến hình ảnh trẻ em khiêu dâm; vi phạm quyền tác giả và quyền liên quan qua hệ thống máy tính Ngoài những hành vi trên, pháp luật một số nước còn quy định thêm một số hành vi khác là tội phạm sử dụng công nghệ cao Chẳng hạn, tại Chương 33A Mục 7 Luật Hình sự bang Texas của Mỹ quy định về tội phạm viễn thông (Telecommunications crimes) có quy định các hành vi như: Điều 33A.04: Trộm cắp dịch vụ viễn thông (Sec.33A.04 Theft of telecommunications service), Điều 33A.05: Công bố thiết bị truy cập viễn thông (Sec.33A.05 Publication of
Trang 2115
telecommunications access device)… Tuy nhiên, để được coi là tội phạm sử dụng công nghệ cao, những hành vi đó phải có sự liên quan như một hệ quả trực tiếp, một sự “kéo dài” của những hành vi truy cập, cản trở bất hợp pháp, can thiệp trái phép vào dữ liệu và mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị số Ngoài ra, do hoạt động trong môi trường mạng internet là thế giới ảo, không có biên giới, nên tội phạm sử dụng công nghệ cao cũng có tính phi biên giới và tính chất xuyên quốc gia Cùng với đó, tính “ẩn danh” cũng là một đặc điểm của loại tội phạm này
Thứ tư, về chủ thể, tội phạm sử dụng công nghệ cao có thể được thực hiện
bởi bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của luật Hình
sự Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất của hành vi phạm tội, chủ thể trực tiếp thực hiện tội phạm sử dụng công nghệ cao phải là những người có tri thức và
kỹ năng cần thiết để trực tiếp khai thác, sử dụng thiết bị, công cụ, phương tiện công nghệ hoặc trực tiếp phát triển, ứng dụng công nghệ
Thứ năm, tội phạm sử dụng công nghệ cao được thực hiện bởi lỗi cố ý
Khi thực hiện tội phạm sử dụng công nghệ cao, người phạm tội phải ý thức rõ hành vi của mình là trái quy định pháp luật, có thể gây hậu quả xấu cho các tổ chức, cá nhân có liên quan nhưng vẫn thực hiện, mong muốn hoặc để mặc cho những hậu quả xấu xảy ra Động cơ, mục đích phạm tội sử dụng công nghệ cao không phải là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm Tuy nhiên, trong thực
tế, tội phạm sử dụng công nghệ cao có thể được thực hiện do vụ lợi hoặc vì lợi ích trong cạnh tranh hay giải quyết mâu thuẫn, trả thù cá nhân… hoặc cũng có thể là sự tò mò, thử nghiệm, muốn chứng tỏ khả năng của bản thân
1.1.3 Phân loại tội phạm sử dụng công nghệ cao
Tội phạm sử dụng công nghệ cao được phân loại dựa vào nhiều tiêu chí, phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu khác nhau Cách phân loại phổ biến trên thế giới là phân loại tội phạm sử dụng công nghệ cao theo cách thức, mục tiêu
thực hiện tội phạm Chẳng hạn như trong bài viết: “Computers and Internet:
From a Criminological View” (tạm dịch: “Máy tính và Internet: Dưới góc nhìn
Trang 2216
tội phạm học”), nhóm tác giả Masoud Nosrati, Mehdi Hariri, Alireza Shakarbeygi đã phân loại tội phạm này thành hai nhóm Nhóm thứ nhất: Tội phạm có mục tiêu chính là mạng máy tính và thiết bị bao gồm: virus máy tính;
tấn công từ chối dịch vụ; mã độc (“Crimes that primarily target computer
networks or devices include: Computer viruses; Denial-of-service attacks; Malware”) Nhóm thứ hai: Tội phạm sử dụng mạng máy tính hoặc thiết bị để
làm gia tăng hiệu quả phạm tội bao gồm: đe dọa quấy rối trên mạng; lừa đảo trộm cắp thông tin nhân thân; chiến tranh thông tin; gửi thông điệp lừa đảo
(“Crimes that use computer networks or devices to advance other ends include:
Cyberstalking; Fraud and identity theft; Information warfare; Phishing scams”) Tại Việt Nam, trong thực tiễn nghiên cứu và trong công tác đấu tranh
với tội phạm sử dụng công nghệ cao cũng thường chọn cách phân loại theo cách thức, mục tiêu thực hiện tội phạm Cụ thể, Hướng dẫn 16/HD-BCA-C41 ngày 31/12/2013 của Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số quy định trong các Thông tư 18, 19, 20, 21, 22 ngày 01/04/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân có hướng dẫn việc phân chia các nhóm đối tượng phạm tội có sử dụng công nghệ cao thành hai hệ là: Hệ xâm phạm hoạt động của mạng máy tính, viễn thông và Hệ lợi dụng mạng máy tính, viễn thông để hoạt động bất hợp pháp
Theo cách thức phân loại như trên, tội phạm sử dụng công nghệ cao gồm các loại: (i) Tội phạm sử dụng máy tính, thiết bị số, mạng máy tính, mạng viễn thông gây tổn hại tính bảo mật, tính toàn vẹn và tính khả dụng của hệ thống máy tính; và (ii) Tội phạm sử dụng máy tính, thiết bị số, mạng máy tính, mạng viễn thông làm công cụ, phương tiện phạm tội
Theo Bộ luật Hình sự Việt Nam số 100/2015/QH13, tội phạm sử dụng máy tính, thiết bị số, mạng máy tính, mạng viễn thông gây tổn hại tính bảo mật, tính toàn vẹn và tính khả dụng của hệ thống máy tính là nhóm tội phạm sử dụng công nghệ cao thuần tuý xâm phạm trật tự an toàn thông tin Các tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc loại này bao gồm: Tội sản xuất, mua bán, trao đổi
Trang 2317
hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật (Điều 285), Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 286), Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 287), Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác (Điều 289)
Tội phạm sử dụng máy tính, thiết bị số, mạng máy tính, mạng viễn thông làm công cụ, phương tiện phạm tội gồm các tội phạm truyền thống nhưng được thực hiện với thủ đoạn mới, tức sử dụng công nghệ thông tin để thực hiện tội phạm Tội phạm này được phân loại thành các loại cụ thể sau:
Thứ nhất, tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện
điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 Bộ luật Hình sự Việt Nam số 100/2015/QH13), như: sử dụng thông tin tài khoản, thẻ ngân hàng của
cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hoá, dịch vụ; lừa đảo trong thương mại điện
tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng; truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại các tổ chức tín dụng, thực hiện chiếm đoạt tài sản; lừa đảo bằng các dịch vụ viễn thông qua lnternet (VoIP); gửi các tin nhắn lừa đảo…
Thứ hai, tội phạm sử dụng công nghệ cao vi phạm về nội dung là những
hành vi liên quan đến việc đưa, cung cấp trái pháp luật các thông tin, dịch vụ trên các mạng thông tin, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức
và cá nhân Nghiên cứu các tài liệu của một số quốc gia về phân loại tội phạm
sử dụng công nghệ cao như Công ước Budapest về Tội phạm mạng (2001) của Hội đồng châu Âu cho thấy một số hành vi thường được coi là tội phạm sử dụng công nghệ cao vi phạm về nội dung đó là lạm dụng tình dục trên mạng (Cyber Sexual Abuse); xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác hoặc uy tín của các tổ chức trên mạng (Cyber Defamation); đe doạ, quấy rối trên mạng (Cyberstalking); truyền bá các nội dung kỳ thị chủng tộc, phỉ báng tôn giáo, đồi
Trang 2418
truỵ, bạo lực, cổ suý, lôi kéo thực hiện các hành vi phạm tội và vi phạm pháp luật; sử dụng trái phép thông tin riêng qua mạng Các tội phạm sử dụng công nghệ cao về nội dung nêu trên hiện chưa được quy định thành những tội danh độc lập trong Bộ luật Hình sự Việt Nam
1.2 Thực tiễn tội phạm sử dụng công nghệ cao hiện nay
1.2.1 Thực tiễn trên thế giới
Trong những năm qua, việc sử dụng mạng Internet và các hệ thống máy tính kết nối ngày càng lớn đã dẫn đến sự gia tăng mạnh về số lượng các cuộc tấn công trên không gian mạng Ngày nay, hầu hết các cuộc xung đột chính trị, kinh tế, quân sự đều có sự tham gia của yếu tố công nghệ cao Trong khi tội phạm sử dụng công nghệ cao ở châu Âu và Mỹ phần lớn nhằm vào việc kêu gọi quyền lợi hoặc vì mục đích chính trị, thì việc tấn công mạng diễn ra ở châu
Á thường vì những nguồn lợi bất chính, gây nhiều tổn hại về mặt kinh tế Theo báo cáo của Tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế (Interpol), tội phạm
sử dụng công nghệ cao đang trở thành mối nguy hại lớn trên thế giới với thiệt hại mỗi năm khoảng 400 tỷ USD, cao hơn số tiền mà tội phạm buôn bán ma túy thu được và cứ 14 giây lại xảy ra một vụ phạm tội sử dụng công nghệ cao Theo một báo cáo của bộ phận bảo mật McAfee thuộc Tập đoàn công nghệ Intel, thiệt hại hàng năm do giới tội phạm sử dụng công nghệ cao gây ra cho toàn thế giới ở mức khiêm tốn nhất cũng lên tới 375 tỷ USD, trong khi mức tối
đa sẽ rơi vào khoảng 575 tỷ USD Báo cáo là kết quả tổng hợp dữ liệu của 51 quốc gia trải rộng khắp nơi có tổng thu nhập quốc dân khoảng 80% của toàn thế giới.6 Một báo cáo đưa ra vào năm 2014 ước tính tội phạm sử dụng công nghệ cao gây thiệt hại cho nền kinh tế toàn cầu khoảng 445 tỷ USD Đầu năm
2016, một nghiên cứu khác của trung tâm Juniper Research ước tính thiệt hại
do loại tội phạm này gây ra có thể lên tới 2.100 tỷ USD vào năm 2019 Con số này còn được dự đoán sẽ đạt 6 nghìn tỷ USD vào năm 2021 theo nghiên cứu
6 Số liệu lấy từ bài viết: Uyên San (2017), “Tội phạm công nghệ cao: Sẽ có “công cụ” xử lý hiệu quả”,
http://baophapluat.vn/hi-tech/toi-pham-cong-nghe-cao-se-co-cong-cu-xu-ly-hieu-qua-366862.html, ngày 19/11/2017 Truy cập lần cuối ngày 25/07/2018
Trang 2519
mới nhất của Cybersecurity Ventures - dữ liệu đã được chứng thực bởi các hãng truyền thông lớn, các nhà cung cấp công nghệ hàng đầu, các hiệp hội an ninh thông tin, trường đại học có chuyên ngành đào tạo về an ninh mạng, các chuyên gia trong ngành và các nhà phân tích công nghệ thông tin.7 Như vậy, lợi nhuận thu được từ hoạt động bất hợp pháp này còn khủng khiếp hơn nhiều so với tội phạm buôn lậu, ma túy Lợi dụng sự phát triển rộng rãi của Internet, xu hướng hành vi phạm tội sử dụng công nghệ cao không có biên giới giữa các quốc gia ngày càng gia tăng, để lại hậu quả lớn và rất khó truy tìm dấu vết Bất cứ nơi nào có mạng Internet đều có thể là mục tiêu tấn công, xâm hại của tội phạm sử dụng công nghệ cao Với sự trợ giúp của Internet, hành vi tội phạm sử dụng công nghệ cao lan tỏa nhanh và rộng khắp toàn cầu, đối tượng phạm tội ở một nơi nhưng có thể gây án ở nhiều nơi khác nên số lượng người bị hại và thiệt hại
về vật chất là rất lớn
Tội phạm sử dụng công nghệ cao không còn đơn thuần chỉ nhắm vào những mục tiêu tài chính mà đã được xếp vào nhóm những nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đến an ninh của các quốc gia, ngang hàng với tấn công khủng bố,
vũ khí hóa học, thảm họa hạt nhân Trang web của CIA (Central Intelligence Agency - Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ) đã có lần bị thay cụm từ “Central Intelligence Agency” thành “Central Stupidity Agency” (Cục ngu xuẩn trung ương) và bị cài thêm một số điểm nối tham khảo đến các trang web khiêu dâm, bởi lỗi từ phần mềm thiết kế trang web của CIA Trên thế giới đã diễn ra nhiều hoạt động phát tán thông tin, kêu gọi khủng bố, tấn công mạng để khủng bố gây ảnh hưởng chính trị, ngoại giao, tâm lý và tổn thất cho xã hội, cộng đồng Điển hình như các tin tặc đã sử dụng mã độc Stuxnet tấn công các hệ thống điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu (SCADA), gây đình trệ hoạt động, phá hủy hàng nghìn máy làm giàu uranium của nhà máy điện hạt nhân Busher của Iran Vụ việc được đánh giá làm chậm chương trình hạt nhân của Iran khoảng
7 Số liệu lấy từ bài viết: Cybersecurity Ventures (2016), “Cybercrime Damages $6 Trillion By 2021”,
https://cybersecurityventures.com/hackerpocalypse-cybercrime-report-2016/, tháng 8/2016 Truy cập lần cuối
ngày 25/07/2018
Trang 2620
3 - 5 năm Nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các nước phát triển trong nhóm G7, G8, G20, đã phải hứng chịu những tổn thất hết sức nặng nề trước sự tấn công của tội phạm sử dụng công nghệ cao vào hệ thống thông tin quốc phòng, tình báo, năng lượng Ngày 20/07/2018, đại diện Bộ Y tế Singapore (MOH) và
Bộ Thông tin Truyền thông (MCI) cho biết hệ thống dữ liệu của SingHealth, tổ chức bảo hiểm y tế lớn nhất quốc gia này, đã bị tin tặc tấn công Tin tặc đã đánh cắp dữ liệu cá nhân của hơn 1,5 triệu bệnh nhân và thông tin đơn thuốc của 160.000 người, trong đó có cả Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long Theo thông báo của Bộ trưởng Y tế Singapore Gan Kim Yong và Bộ trưởng Thông tin Truyền thông S Iswaran, đây là vụ tấn công mạng đánh cắp thông tin cá nhân nghiêm trọng nhất ở Singapore từ trước đến nay Từ thực trạng trên, có thể thấy được vấn đề không chỉ là về lĩnh vực kinh tế mà còn là về chính trị Tội phạm
sử dụng công nghệ cao đã và đang thể hiện mức độ nguy hiểm, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi mà biên giới quốc gia về mặt thực địa đã phần nào bị giảm đi ý nghĩa do sự phát triển của khoa học công nghệ
1.2.2 Thực tiễn tại Việt Nam
Theo thông tin từ hãng bảo mật Kaspersky, Việt Nam đứng thứ 6 trong Top 10 quốc gia, vùng lãnh thổ là đích ngắm của các cuộc tấn công từ chối dịch
vụ phân tán (DDoS), chỉ sau Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Nga và Hong Kong Việt Nam cũng nằm trong Top 10 quốc gia bị kiểm soát bởi mạng máy tính ma Botnet, xếp ở vị trí thứ ba với số lượng máy tính bị kiểm soát nằm trong mạng máy tính ma Botnet là 574.547 máy.8
Theo số liệu đã được Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam (VNISA) công
bố, Chỉ số An toàn thông tin Việt Nam qua 4 năm từ 2013 đến 2016 đã có xu hướng tăng trưởng bền vững dù mức tăng chưa nhiều, từ mức 37,3% trong năm 2013; lên 39% vào năm 2014; đạt 47,4% vào năm 2015 và lần đầu tiên vượt
8 Vân Anh (2017), “Hơn 6 năm, trên 1.000 website cơ quan nhà nước của Việt Nam bị hacker tấn công”,
tan-cong-155491.ict, ngày 28/06/2017 Truy cập lần cuối ngày 25/07/2018
Trang 27Trong thời gian qua, nhiều trang báo điện tử tại nước ta, trong đó có bốn trang báo lớn là Dân trí, Vietnamnet, Vnexpress, Tuổi trẻ, bị tấn công từ chối dịch vụ nhiều lần trong một thời gian dài với những thời điểm lên đến hơn 300 nghìn máy trạm tấn công, làm tê liệt hệ thống mạng của các trang báo này khiến việc truy cập gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của các doanh nghiệp Theo thống kê, tổng số đầu mối vụ việc về tội phạm sử dụng công nghệ cao có liên quan đến người nước ngoài gây ra tại Việt Nam có xu hướng tăng đều qua các năm Cùng với đó, số đối tượng là người nước ngoài
bị khởi tố về các tội danh liên quan đến lĩnh vực công nghệ cao năm sau cao hơn năm trước Năm 2016 được ghi nhận là năm đặc biệt nóng về tội phạm sử dụng công nghệ cao trên mạng Internet khi các tin tặc tấn công vào hệ thống của Vietnam Airlines và Tổng công ty Cảng hàng không (tấn công có chủ đích)
và tấn công vào các hệ thống ngân hàng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản Sự cố đặc biệt nghiêm trọng là vụ tấn công mạng vào ngày 29/07/2016, chèn thông
9 Vân Anh (2017), “Hơn 6 năm, trên 1.000 website cơ quan nhà nước của Việt Nam bị hacker tấn công”,
tan-cong-155491.ict, ngày 28/06/2017 Truy cập lần cuối ngày 25/07/2018
http://ictnews.vn/cntt/bao-mat/hon-6-nam-tren-1-000-website-co-quan-nha-nuoc-cua-viet-nam-bi-hacker-10 Vân Anh (2017), “VNISA: Nguy cơ mất an toàn thông tin mạng của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt
Nam rất cao”,
http://ictnews.vn/cntt/bao-mat/vnisa-nguy-co-mat-an-toan-thong-tin-mang-cua-doanh-nghiep-vua-va-nho-viet-nam-rat-cao-161802.ict, ngày 01/12/2017 Truy cập lần cuối ngày 25/07/2018
Trang 2822
tin kích động xuyên tạc về Biển Đông trên các website của Vietnam Airlines
và hệ thống màn hình hiển thị, làm ảnh hưởng tới hơn 100 chuyến bay và 20.000 hành khách
Ảnh hưởng của tấn công mạng không chỉ gây thiệt hại đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp mà còn có thể ảnh hưởng tới kinh tế, chính trị, quốc phòng,
an ninh và lợi ích của từng người dân Một số nguy cơ lớn do tội phạm sử dụng công nghệ cao gây ra có thể kể đến như bị mất kiểm soát hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng - an ninh; bị chiếm đoạt tài liệu, bí mật nhà nước; tê liệt hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước; bị phá hủy hệ thống thông tin cơ
sở dữ liệu quốc gia về quản lý cư dân, xuất nhập cảnh, … ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều lĩnh vực quan trọng như kinh tế, quốc phòng, giao thông, y tế, … Chỉ
từ đầu năm 2016 đến hết sáu tháng đầu năm 2017, cơ quan chức năng của Bộ Công an phát hiện và xử lý hơn 100 vụ lộ, lọt bí mật nhà nước trên không gian mạng Theo thống kê của Bộ Công an, trong vòng gần 7 năm, từ năm 2010 đến
2017, có 18.052 trang mạng tên miền “.vn” bị tin tặc tấn công, chỉnh sửa, chèn thêm nội dung (chiếm 3,72% tổng số website tên miền “.vn” của cả nước) Trong đó, có 1.083 trang mạng tên miền “.gov.vn” của các cơ quan nhà nước, chiếm 44,04% số website tên miền “.gov.vn” của cả nước.11 Cục An toàn thông tin cho biết, trong 170 website đặt tại Việt Nam bị tấn công mạng trong dịp Tết Nguyên đán 2018, có 55 website có tên miền “.vn” và 10 website của các cơ quan, tổ chức nhà nước (“.gov.vn”), 98 website có tên miền “.com” bị tấn công Cục An toàn thông tin nhận định, hình thức tấn công vào các website này chủ yếu là thay đổi giao diện, tấn công chèn mã độc hại vào mã nguồn website Theo Cục An ninh mạng (Bộ Công an), trong 6 tháng đầu năm nay đã phát hiện 2.769 trang/cổng thông tin điện tử tên miền quốc gia, trong đó có 35 trang/cổng thông tin điện tử thuộc quản lý của các cơ quan Đảng, Nhà nước bị tấn công, thay đổi giao diện, chiếm quyền điều khiển, chỉnh sửa nội dung Từ đầu năm
11 Số liệu thống kê được PGS.TS Nguyễn Văn Thành, Thứ trưởng Bộ Công an chia sẻ trong tham luận
“Áp dụng quản lý xã hội thông minh đảm bảo mục tiêu an ninh, an sinh, an toàn trong ứng dụng điện toán đám
mây trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” trình bày tại hội thảo Điện toán Đám mây Việt Nam
- Vietnam Cloud Computing 2017 được tổ chức tại Hà Nội
Trang 2923
đến nay, Cục An ninh mạng cũng ghi nhận một số vụ việc điển hình như: ngày 22/01/2018, hệ thống giao dịch tại Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh bị tấn công, không thực hiện khớp lệnh trong đợt giao dịch định kỳ xác định giá đóng cửa; ngày 28/01/2018, hệ thống check-in của hãng hàng không Vietjet Air bị tấn công khiến nhiều chuyến bay phải tạm hoãn.12 Đặc biệt, vụ án đánh bạc nghìn tỷ liên quan đến nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an) Phan Văn Vĩnh và cựu cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Nguyễn Thanh Hóa được đánh giá là
có tính chất đặc biệt nghiêm trọng và lớn nhất từ trước đến nay Đây là vụ án
có tổ chức, liên kết chặt chẽ, nhiều đối tượng tham gia, thủ đoạn rất tinh vi, sử dụng công nghệ cao để thực hiện tội phạm Đáng chú ý, trong vụ án này còn có
sự tiếp tay của một số cán bộ Nhà nước, tạo điều kiện cho đối tượng thực hiện hành vi phạm tội Cơ quan điều tra khởi tố, bắt tạm giam ông Nguyễn Thanh Hóa về tội tổ chức đánh bạc và ông Phan Văn Vĩnh về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ Sau nhiều tháng điều tra, ngày 18/07/2018, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Phú Thọ đã hoàn thành bản kết luận điều tra vụ án đánh bạc nghìn tỷ qua mạng xã hội xảy ra tại tỉnh Phú Thọ và một số tỉnh thành khác và đến nay đã khởi tố 105 bị can với 7 tội danh:
tổ chức đánh bạc, đánh bạc, mua bán trái phép hóa đơn, rửa tiền, đưa hối lộ, sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.13
12 Số liệu lấy từ bài viết: BBT (2018), “Luật An ninh mạng, sự cần thiết không thể bàn cãi”,
https://conganquangbinh.gov.vn/luat-an-ninh-mang-su-can-thiet-khong-the-ban-cai/, ngày 05/07/2018 Truy
Trang 30ảo với đặc tính là không biên giới và vô hình, luôn làm phát sinh nhiều vấn đề,
đó là những tác động của công nghệ đến kinh tế, đạo đức và xã hội, là các cơ hội mới cho hành vi lừa đảo hoặc các tội phạm khác.15 Hiện nay, vẫn còn thiếu khuôn khổ pháp luật để tạo nên quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể tham gia sử dụng công nghệ này.16
Tội phạm sử dụng công nghệ cao có đặc điểm không biên giới, trong khi
về nguyên tắc giới hạn quyền tài phán chỉ trong lãnh thổ quốc gia Xuất phát từ tính phi biên giới và tính chất xuyên quốc gia của loại hình tội phạm sử dụng công nghệ cao, sẽ không thể triệt tiêu hay phòng chống một cách hiệu quả loại tội phạm này được nếu không có hợp tác quốc tế Cùng với đó, tính “ẩn danh”
và phương thức hoạt động “phi truyền thống” làm cho tội phạm sử dụng công nghệ cao khó bị phát hiện, càng kích thích đối tượng phạm tội bởi có niềm tin mình không thể hoặc rất khó bị bắt Ulrich Sieber, Giám đốc Viện nghiên cứu luật tội phạm quốc tế và nước ngoài Max Planck tại Freiburg (Đức), nhận định
14 Số lượng người sử dụng Internet từ năm 2000 đến 2018 tăng 1.052%, theo số liệu từ thống kê Internet
World Stats (Miniwatts Marketing Group, 2017) đăng trên website: https://www.internetworldstats.com/stats htm (truy cập lần cuối ngày 25/07/2018)
15 Sharon Curry (2000), “An Inside Look at E-Commerce Fraud - Prevention and
Solutions”, https://www.scambusters.org/ecommercefraud.pdf, năm 2000 Truy cập lần cuối ngày 25/07/2018
16 Hanoi Law University (2014), Textbook International Trade and Business Law, People’s Public
Security Publishing House, Hà Nội, tr 980-981
Trang 31Cùng với đó, hệ lụy do tội phạm sử dụng công nghệ cao gây ra là cực kỳ lớn, không chỉ gây thiệt hại cho một quốc gia mà thậm chí còn tác động đến rất nhiều quốc gia Thực trạng đáng báo động và những tác động tiêu cực của tội phạm sử dụng công nghệ cao đang nhấn mạnh sự cần thiết phải điều chỉnh của pháp luật quốc tế và hợp tác quốc tế đối với phòng chống tội phạm này Không gian ảo không chỉ mang đến các loại tội phạm mới nhắm vào tính bảo mật, tính toàn vẹn và tính khả dụng của dữ liệu mà còn làm trầm trọng thêm tình hình tội phạm xuyên quốc gia truyền thống, chẳng hạn như buôn bán người, buôn bán
ma túy và vi phạm bản quyền Việc điều tra tội phạm trên mạng không thể tiến hành mà không có quyền truy cập nhanh thông tin cần thiết Tội phạm sử dụng công nghệ cao thường bắt đầu các cuộc tấn công thông qua các máy chủ đặt tại các nước thứ ba, tận dụng sự không đồng đều của pháp luật về không gian mạng của các quốc gia Cho đến nay, mới có rất ít quốc gia quy định về tội phạm sử dụng công nghệ cao trong pháp luật hình sự Bên cạnh đó, theo pháp luật nhiều nước, những kẻ đánh cắp mật mã máy tính rất khó bị truy tố trong trường hợp
họ chưa phạm tội nghiêm trọng Trong hầu hết bộ máy cơ quan cảnh sát, kiểm sát, tòa án các nước, chưa có các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán về loại tội phạm này Vì vậy, các tội phạm sử dụng công nghệ cao càng có điều kiện hình thành và phát triển
Trang 32có sự hợp tác quốc tế Vì vậy, việc ký kết điều ước quốc tế mang tính toàn cầu liên quan đến lĩnh vực phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao là hoàn toàn bình thường, thậm chí còn rất cần thiết Mặc dù vậy, tính đến nay, điều ước quốc tế như vậy là không có Do đó, để tạo ra khung pháp lý hiệu quả phòng chống loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, các quốc gia cần khẩn trương ký kết điều ước quốc tế toàn cầu về lĩnh vực này
Nhận thức rõ được sự cần thiết của hợp tác quốc tế về vấn đề này, năm
2015, trong khuôn khổ Đại hội đồng Liên minh Nghị viện Thế giới lần thứ 132 (IPU-132) tổ chức tại Hà Nội, Đoàn đại biểu Việt Nam đã khuyến nghị để đối phó có hiệu quả với chiến tranh mạng, Liên minh Nghị viện Thế giới cần ra Tuyên bố chung kêu gọi các quốc gia cam kết không tấn công lẫn nhau trên không gian mạng dưới bất kỳ hình thức nào Đoàn cũng khuyến nghị Tổ chức Liên hợp quốc khẩn trương xây dựng Công ước quốc tế về bảo đảm an ninh, an toàn không gian mạng, kêu gọi các quốc gia thành viên cần tăng cường hợp tác, trao đổi, đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ kỹ thuật - công nghệ, chia sẻ thông tin
về an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao; phối hợp thành lập nhóm chuyên gia ứng cứu an ninh mạng khi có sự cố xảy ra Cùng với đó, Đoàn đã đưa ra ý kiến tăng cường xây dựng năng lực an ninh thông tin thông qua các hoạt động như xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm quy định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi tham gia vào các hoạt động trên mạng
Trang 3327
1.3.2 Các hình thức hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao
Từ phương diện hiệu lực theo lãnh thổ thì các hành vi tố tụng hình sự của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể được thực hiện trong phạm vi giới hạn lãnh thổ của quốc gia Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, hoạt động xét
xử các vụ việc hình sự chỉ có thể được tiến hành bình thường và đạt được kết quả nếu có sự thực hiện các hành vi tố tụng hình sự trên lãnh thổ của nước khác Điều này đồng nghĩa với việc phải giải quyết vụ việc hình sự với sự trợ giúp của nước ngoài trong quá trình thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết Song, nguyên tắc chủ quyền quốc gia đã loại bỏ việc thực hiện các hành vi tố tụng của cơ quan nhà nước (trong đó có cơ quan tư pháp) một quốc gia trên lãnh thổ của quốc gia khác Vì vậy, việc phòng chống tội phạm hình sự quốc tế nói chung và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao nói riêng gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi phải có tương trợ tư pháp về hình sự Sự điều chỉnh của luật quốc tế đối với hợp tác tương trợ pháp lý về hình sự thường tập trung vào một
Các nội dung tương trợ tư pháp về hình sự này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, vì trong bối cảnh tội
18 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật quốc tế, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà
Nội, tr 344
Trang 34sự hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với cá nhân đó Theo nguyên tắc chung đã được luật quốc tế công nhận, dẫn độ tội phạm là quyền của quốc gia chứ không phải là nghĩa vụ pháp lý quốc tế của quốc gia Nói cách khác, dẫn độ tội phạm thuộc thẩm quyền riêng biệt của quốc gia được yêu cầu dẫn độ - nơi tội phạm đang có mặt Dựa trên cơ sở quyền tối cao đối với lãnh thổ, quốc gia có toàn quyền quyết định tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân đang ở trên lãnh thổ nước mình phù hợp với luật quốc gia Nghĩa vụ dẫn độ tội phạm chỉ phát sinh trong trường hợp có điều ước quốc tế tương ứng ghi nhận các điều kiện cụ thể cho phép dẫn độ Chính vì vậy, các quốc gia đã ký kết các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến dẫn độ tội phạm trong quan hệ quốc tế Các điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia được coi là cơ sở pháp lý của dẫn độ tội phạm.19 Trường hợp chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì hoạt động tương trợ tư pháp có thể được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại.20 Nội dung của nguyên tắc này ghi nhận quốc gia được yêu cầu dẫn độ chỉ thực hiện dẫn độ theo yêu cầu nếu nhận được bảo đảm từ phía quốc gia yêu cầu dẫn độ rằng trong trường hợp tương tự, quốc gia này chắc chắn sẽ thực hiện dẫn độ tội phạm cho quốc gia đối tác hữu quan
Trang 3529
Một hình thức khác của hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao là chuyển giao người đang thi hành án phạt tù về tội phạm này Chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù là việc một quốc gia thực hiện chuyển giao người nước ngoài phạm tội đã bị toà án của quốc gia đó kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật về nước mà người bị kết án là công dân hoặc một nước khác đồng ý tiếp nhận để tiếp tục thi hành bản án trên cơ sở sự đồng
ý tự nguyện của người bị kết án hoặc đại diện hợp pháp của họ Hình thức này tạo điều kiện cho người đang chấp hành hình phạt tù có cơ hội được chấp hành hình phạt tại chính đất nước mà mình mang quốc tịch hay tại chính quê hương của mình, hỗ trợ điều kiện cải tạo tốt nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái hòa nhập cộng đồng thành công, giảm thiểu nguy cơ tái phạm, trở thành người
đó bao gồm cả những tội phạm được thực hiện bằng cách sử dụng công nghệ cao như tội phạm tham nhũng sử dụng công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia
sử dụng công nghệ cao, …
Trang 3630
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật nói chung và công nghệ thông tin nói riêng đã có những thành tựu to lớn, mang lại nhiều tiện ích, ứng dụng trong nhiều lĩnh vực đời sống của con người Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, thực
tế cũng tồn tại mặt trái và thách thức trong việc bảo vệ an ninh quốc gia và an ninh kinh tế của các cơ quan chức năng Đó là việc một số đối tượng lợi dụng kiến thức về công nghệ cao, đã sử dụng các thiết bị công nghệ, thiết bị số, mạng Internet để thực hiện hành vi phạm tội, hành vi chiếm đoạt tài sản Không gian mạng, không gian công nghệ toàn cầu đã cho phép tội phạm có thể thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (tài khoản) của các ngân hàng, tổ chức tín dụng và
cá nhân từ nước ngoài, kể cả từ châu Mỹ, châu Âu hoặc ngược lại
Xã hội càng phát triển, sự tham gia của máy tính và công nghệ cao vào đời sống xã hội ngày càng sâu sắc, toàn diện Bí mật quốc gia được lưu trữ trong các đĩa máy tính, các hoạt động giao thông được điều khiển bằng máy tính, hồ sơ về tội phạm được lưu trữ trên máy tính, … Cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, tội phạm liên quan đến máy tính và công nghệ cao đã và đang trở thành hiểm họa mới trong mọi lĩnh vực, từ kinh tế đến cả chính trị và
an ninh quốc phòng
Hiện nay, mới chỉ có những điều ước quốc tế toàn cầu về hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự quốc tế Mặc dù nhiều tội phạm trong số đó cũng được thực hiện bằng cách sử dụng công nghệ cao và đều thuộc phạm vi điều chỉnh của điều ước quốc tế về phòng chống tội phạm hình sự quốc tế, song do đặc thù phức tạp của tội phạm sử dụng công nghệ cao, cần có riêng điều ước quốc tế chuyên biệt về phòng chống loại tội phạm này Việc thiếu khuôn khổ pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trong phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã tạo điều kiện cho loại tội phạm này ngày càng phát triển trên thế giới và trở thành hiểm họa khôn lường Trước tình hình đáng báo động hiện nay, cần gấp rút xây dựng hành lang pháp lý với các điều ước
Trang 3731
quốc tế, đặc biệt là điều ước quốc tế toàn cầu về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Sự hợp tác quốc tế là không thể thiếu khi chống lại loại tội phạm với đặc thù riêng này
Trang 3832
Chương 2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA
VỀ PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO
Hiện nay, các quy định về công nghệ thông tin chủ yếu mới chỉ được quy định trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia Thực tế chưa có điều ước quốc
tế đa phương toàn cầu nào về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao mà mới chỉ có những điều ước quốc tế có liên quan Trong rất nhiều lĩnh vực hợp tác quốc tế đã có sự hiện diện của các văn bản pháp luật quốc tế, ở tầm khu vực cũng như toàn cầu, ví dụ như hợp tác quốc tế về vấn đề môi trường, vấn đề biển, …, nhưng riêng trong lĩnh vực này thì các văn bản pháp luật quốc tế dù
là song phương hay đa phương vẫn còn rất hạn chế Trước yêu cầu về việc xây dựng một điều ước quốc tế toàn cầu chuyên biệt về phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, cần nhanh chóng tìm hiểu và nghiên cứu các quy định pháp luật quốc tế cũng như pháp luật các quốc gia trên thế giới để có được một tiếng nói chung trong vấn đề tìm kiếm khuôn khổ pháp lý quốc tế mang tính toàn cầu nhằm phòng chống loại tội phạm này
mà để mở cho bất kỳ quốc gia nào cũng có thể tham gia
Trang 3933
2.1.1.1 Giới thiệu về Công ước Budapest
Công ước của Hội đồng châu Âu về tội phạm sử dụng công nghệ cao, còn được gọi là Công ước Budapest về tội phạm sử dụng công nghệ cao hoặc Công ước Budapest, là thỏa thuận quốc tế đầu tiên hướng đến mục tiêu làm giảm các tội phạm có liên quan đến máy tính bằng cách hài hòa hóa pháp luật các quốc gia, hoàn thiện các kỹ thuật điều tra và tăng cường hợp tác quốc tế Hội đồng châu Âu đã đối phó với vấn đề này dưới góc độ luật hình sự từ giữa những năm
1980 trở đi Tuy nhiên, phải đến năm 2001, vấn đề mới trở nên đủ quan trọng
để đòi hỏi có một điều ước quốc tế ràng buộc
Công ước Budapest được soạn thảo bởi Hội đồng châu Âu ở Strasbourg, Pháp với sự tham gia tích cực của quan sát viên Canada, Nhật Bản, Philippines, Nam Phi và Mỹ Năm 2001, Hội đồng châu Âu đã thống nhất ban hành Công ước về Tội phạm sử dụng công nghệ cao, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm
2004 Đây là điều ước quốc tế đầu tiên về tội phạm sử dụng công nghệ cao, đề cập sâu hơn các vấn đề của tội phạm sử dụng công nghệ cao như các vấn đề vi phạm bản quyền, gian lận liên quan đến máy tính, tội phạm liên quan tới trẻ em trên mạng Tính đến tháng 7 năm 2018, đã có 60 quốc gia phê chuẩn Công ước này và 4 quốc gia đã ký nhưng chưa phê chuẩn.21
Ủy ban Công ước về tội phạm sử dụng công nghệ cao (Cybercrime Convention Committee - T-CY) hiện có tới 71 quốc gia, cùng với 10 tổ chức quốc tế (bao gồm: Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc
tế (Interpol), Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), Tổ chức các Quốc gia châu
Mỹ (OAS), Cơ quan phòng chống Ma tuý và Tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC), Liên minh châu Phi (AUC), Cơ quan An ninh Thông tin và Mạng châu Âu (ENISA), cục Cảnh sát châu Âu (Europol), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE)) tham gia
21 Số liệu theo thống kê Chart of signatures and ratifications of Treaty 185 (Council of Europe, 2018) đăng trên website: https://www.coe.int/en/web/conventions/full-list/-/conventions/treaty/185/signatures (truy
cập lần cuối ngày 25/07/2018)
Trang 4034
với tư cách thành viên hoặc quan sát viên của Ủy ban.22 Ủy ban này có nhiệm
vụ đánh giá và theo dõi việc thực thi Công ước của các Bên
Công ước của Hội đồng châu Âu về tội phạm sử dụng công nghệ cao là công cụ mang tính ràng buộc pháp lý trên phạm vi toàn cầu duy nhất hiện nay
về tội phạm tiến hành qua Internet và các mạng máy tính khác và đang để ngỏ cho tất cả các nước gia nhập Công ước giống như một hướng dẫn cho bất kỳ quốc gia nào đang soạn thảo luật quốc gia phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, đồng thời như một khuôn khổ cho hợp tác quốc tế giữa các quốc gia thành viên của hiệp định này
2.1.1.2 Nội dung Công ước Budapest
Công ước Budapest là điều ước quốc tế đầu tiên về tội phạm thông qua Internet và các mạng máy tính khác, đặc biệt là vấn đề vi phạm bản quyền, gian lận liên quan đến máy tính, nội dung khiêu dâm trẻ em, tội thù hận (hate crime)
và vi phạm an ninh mạng Công ước nhấn mạnh việc bảo vệ quyền con người
và tự do trong không gian mạng, theo Công ước châu Âu về Nhân quyền Mục tiêu chính của Công ước được đặt ra trong Lời nói đầu, là theo đuổi một chính sách hình sự chung nhằm bảo vệ xã hội, phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, đặc biệt là bằng cách áp dụng quy định pháp luật thích hợp và thúc đẩy hợp tác quốc tế Công ước bao gồm 4 chương với 48 điều, trong đó Chương
I là “Việc sử dụng từ ngữ”, Chương II là “Các biện pháp cần phải thực hiện ở
cấp quốc gia”, Chương III là “Hợp tác quốc tế” và Chương IV là “Các quy định cuối cùng”
Công ước hướng đến các mục đích cơ bản sau:
(i) Hài hòa hóa pháp luật hình sự và các quy định có liên quan của các quốc gia trong lĩnh vực tội phạm sử dụng công nghệ cao;
22 Số liệu theo thống kê Parties/Observers to the Budapest Convention and Observer Organisations to
the T-CY (Council of Europe, 2018) đăng trên website: observers (truy cập lần cuối ngày 25/07/2018)