1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát trong kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự

101 212 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”; Nghị quyết số

Trang 2

ĐỖ THU THẢO

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM VÀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

(Định hướng ứng dụng) Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số : 8380104

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN TUÂN

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đỗ Thu Thảo

Trang 4

hướng dẫn, giảng dạy của Quý thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan cùng với sự đóng góp của bạn bè, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc sỹ Luật học Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

Quý thầy cô Trường Đại học Luật Hà Nội, các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Cảm ơn Khoa Sau đại học, Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện quản lý đào tạo, cung cấp thông tin cần thiết về quy chế đào tạo cũng như chương trình đào tạo một cách kịp thời, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này đúng tiến độ

Cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Tuân đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn./

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 5

BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra

ĐTV : Điều tra viên KSV : Kiểm sát viên KTV : Kiểm tra viên KTVA : Khởi tố vụ án VKS : Viện kiểm sát VKSND : Viện kiểm sát nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

Bảng 2 1 Số tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố VKS kiểm sát việc giải quyết 53 Bảng 2 2 Số lần VKS tiến hành trực tiếp kiểm sát tại CQĐT, Cơ quan đƣợc giao tiến hành một số hoạt động điều tra và số kiến nghị tổng hợp VKS ban hành 54 Bảng 2 3 Số liệu VKS hủy quyết định KTVA, quyết định không KTVA của CQĐT, cơ quan đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra 56 Bảng 2 4 Số vụ án và số bị can do cơ quan điều tra và viện kiểm sát đình chỉ

59

Bảng 3 1 Hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giá kết quả công tác nghiệp vụ trong ngành Kiểm sát nhân dân 65

Trang 7

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM VÀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 7 1.1 Khái quát về việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự 7 1.2 Khái niệm, đặc điểm kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án 16 1.3 Quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc giải quyết nguồn tin

về tội phạm và khởi tố vụ án 26 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30 CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG THỰC HÀNH KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM VÀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT 31 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của quy định về kiểm sát giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự 31 2.2 Quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án 35 2.3 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc kiểm sát giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự 52 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62 CHƯƠNG 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM VÀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT 63 3.1 Yêu cầu đối với hoạt động kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm

và khởi tố vụ án hình sự của viện kiểm sát 63 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát 66 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77 KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, Viện kiểm sát đã đóng góp tích cực vào công cuộc đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày

02/01/2002 của Bộ chính trị đã đặt ra yêu cầu: Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt

chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng làm nhiệm vụ 1

Trong tố tụng hình sự, giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án có ý nghĩa rất quan trọng đối với toàn bộ quá trình giải quyết vụ án Việc giải quyết nguồn tin về tội phạm nhiệm vụ xác định có sự việc xảy ra hay không, nếu xảy ra thì có hay không dấu hiệu của tội phạm để khởi tố hoặc không khởi tố vụ án Còn việc khởi tố vụ án mở ra giai đoạn điều tra vụ án nhằm xử lý kịp thời nghiêm minh các hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội, góp phần bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân được pháp luật bảo hộ Khi đã khởi tố vụ án, cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được tiến hành các biện pháp điều tra, kể cả các biện pháp cưỡng chế

tố tụng để nhanh chóng phát hiện tội phạm và người phạm tội Vì vậy, nếu các hoạt động tố tụng không thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định ở giai đoạn này, rất có thể tội phạm sẽ bị bỏ lọt hoặc lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm, làm oan sai người vô tội Vì vậy, hoạt động kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án của Viện kiểm sát là hết sức quan trọng để đảm bảo cho mọi nguồn tin về tội phạm được tiếp nhận đều được xử lý kịp thời, đúng pháp luật, việc khởi tố vụ án có căn cứ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ

1

Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, về một số

nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội

Trang 9

tục theo quy định của pháp luật Làm tốt khâu công tác nghiệp vụ này có ý nghĩa quyết định, then chốt đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm đạt hiệu quả cao Trong những năm vừa qua, trên cơ sở quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của VKSND, công tác này của Viện kiểm sát đã đạt được những kết quả nhất định

Ngày 01/01/2017, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bắt đầu có hiệu lực thi hành Đây là một bộ luật có nhiều điểm mới trong việc quy định Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi

tố vụ án Với những quy định cụ thể, rõ ràng hơn về vấn đề này, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được coi là một công cụ pháp lý hữu hiệu để VKS thực hiện nhiệm vụ của mình Tuy nhiên, thực tế đã chỉ ra, việc thực hiện nhiệm vụ này của VKS vẫn còn một số tồn tại, hạn chế

Thực hiện chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về

“Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” thì việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA

để làm sáng tỏ về mặt khoa học, đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định vào thực tiễn có ý nghĩa quan trọng

Với những lý do trên, tác giả luận văn xin được chọn đề tài: “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi

tố vụ án hình sự” để nghiên cứu và triển khai luận văn này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài;

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự dưới các góc độ khác nhau Có thể

Trang 10

đơn cử một số công trình tiêu biểu như: Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:

Nguyễn Khắc Quang (2014), Vai trò của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án

hình sự, Luận văn thạc sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Đặng Văn Thực

(2014), “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình

sự”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội; Bế Thị Thảo (2018), “Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang”, Luận

văn Thạc sĩ Hà Nội; Nguyễn Việt Hà (2017), "Kiểm sát việc giải quyết tin báo tố

giác về tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên c sở thực tiễn địa bàn tỉnh h Thọ ", Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội,

Hà Nội

Một số bài nghiên cứu gần đây trên tạp chí như:

Bùi Mạnh Cường 2017 , Những vấn đề cơ bản về thực hành quyền công tố,

kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố,Tạp chí

kiểm sát số 19 ; Nguyễn Tiến Long 2017 , Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu

quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi

tố,Tạp chí kiểm sát số 19 ; Lương Thị Thúy Dung (2017), Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Tạp chí kiểm sát số 19 , Mai Văn Dũng

(2017), Kết quả và kinh nghiệm trong công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin

báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình

Dương,Tạp chí kiểm sát số 19); Nguyễn Đình Đức 2017 , Kinh nghiệm trong kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tốcủa cơ quan Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng,Tạp chí kiểm sát số 19 ; Nguyễn Thị Thu Quỳ

(2017), Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả việc tiếp nhận tố

giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Tạp chí kiểm sát số 19

Như vậy, việc nghiên cứu về công tác kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án không phải mới Các công trình trên đây đã tập trung

Trang 11

nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói chung, nhưng chủ yếu là về vấn đề “Vai trò của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự”, hoặc “Hoạt động kiểm sát tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố” chứ chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu vấn đề Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong kiểm sát việc khởi tố vụ án dưới góc độ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015 mới có hiệu lực để tìm ra những điểm còn vướng mắc trong hệ thống các quy định mới của Bộ luật này, qua đó đưa ra được những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành ở giai đoạn này

Mặc dù vậy, các công trình khoa học, các bài viết trên đây là những tài liệu tham khảo rất có giá trị để nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn

3 Mục đ ch và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án Qua đó, tìm ra được nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế và đưa ra được giải pháp nâng cao chất lượng của công tác thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra và tập trung vào những vấn đề sau:

- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án;

- Đánh giá thực trạng thực hiện nhiệm vụ này của Viện kiểm sát;

- Chỉ ra được những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó;

Trang 12

- Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động này

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung, những quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án; thực trạng áp dụng trong thực tiễn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và pháp luật có liên quan về việc thực hiện chức năng kiểm sát của VKS đối với hoạt động tuân theo pháp luật trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án, tập trung nghiên cứu về công tác kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm tức là sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm cho đến khi ra quyết định giải quyết nguồn tin về tội phạm và việc khởi tố vụ án Bên cạnh đó là nghiên cứu thực tiễn công tác kiểm sát hoạt động này của Viện kiểm sát các cấp từ năm 2013 đến hết 06 tháng đầu năm

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, hệ thống, thống kê Luận văn cũng khai thác thông tin tư liệu của các công trình nghiên cứu đã công bố để chứng minh cho các luận điểm trong luận văn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 13

Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần làm phong phú thêm một số vấn

đề lý luận và thực tiễn liên quan chức năng kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án Làm rõ được những hạn chế tồn tại khi thực hiện các nhiệm

vụ, quyền hạn kiểm sát để từ đó có những đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trong thực tiễn

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, cho sinh viên các cơ sở đào tạo pháp luật liên quan đến vấn đề này

7 Bố cục của luận văn

Với mục đích nghiên cứu như trên, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về kiểm sát giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự

Chương 2 Quy định của pháp luật và thực trạng thực hành việc kiểm sát giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát

Chương 3 Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM VÀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.1 Khái quát về việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự

Khoa học tư pháp hình sự Việt Nam phân định các giai đoạn tố tụng hình sự, bao gồm các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự việc phân chia các giai đoạn nhằm xác định nhiệm vụ tố tụng của từng giai đoạn và quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng Các giai đoạn tố tụng của

vụ án hình sự kể từ khi ắt đầu đến khi kết thúc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, giai đoạn tố tụng trước làm cơ sở cho giai đoạn tố tụng sau, giai đoạn tố tụng sau kiểm nghiệm lại kết quả đạt được của giai đoạn tố tụng trước, hợp thành tổng thể quá trình tố tụng thống nhất và có quan hệ khăng khít với nhau.2 KTVA là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự trong đó các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật TTHS quy định kiểm tra thông tin, tài liệu thu được, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không KTVA.3 Việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và việc KTVA hình sự đều là các hoạt động tố tụng trong giai đoạn KTVA Đây là giai đoạn xác định có hay không có tội phạm xảy ra và quyết định việc có mở ra giai đoạn điều tra vụ án hay không

1.1.1 Giải quyết nguồn tin về tội phạm

Giải quyết nguồn tin về tội phạm là nhiệm vụ hết sức quan trọng Có giải quyết nguồn tin về tội phạm, thì mới xác định được có tội phạm hay không có tội phạm xảy ra, để quyết định khởi tố hay quyết định không KTVA hình sự4 Để hiểu

2

Nguyễn Đình Đức (2017), “Kinh nghiệm trong kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo

tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng”, Tạp chí kiểm

Bùi Mạnh Cường (2017), “Những vấn đề cơ bản về thực hành quyền công tố, kiểm sát

việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”, Tạp chí kiểm sát, (19),

tr.4-10

Trang 15

về việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, trước hết cần làm rõ thế nào là “Nguồn tin

là các căn cứ để KTVA hình sự quy định pháp luật hình sự

Trong BLTTHS năm 2015, một thuật ngữ mới, lần đầu tiên được đưa vào sử dụng đó là “Nguồn tin về tội phạm” Theo điểm d khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm

2015: “Nguồn tin về tội phạm gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

của c quan, t chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự th và thông tin về tội phạm do c quan c th m quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện”

Như vậy, BLTTHS năm 2015 quy định nguồn tin về tội phạm gồm 5 loại nguồn sau:

- Tố giác về tội phạm;

- Tin báo về tội phạm;

- Kiến nghị khởi tố;

- Lời khai của người phạm tội tự thú;

- Thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện

Điều đó có nghĩa là việc giải quyết nguồn tin về tội phạm bao gồm: Giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; giải quyết lời khai của người phạm tội tự thú; giải quyết thông tin về tội phạm di cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện (trong đó chủ yếu là CQĐT) Giai đoạn này bắt đầu bằng quyết định phân công cấp phó, phân công ĐTV, Cán bộ điều tra giải quyết nguồn tin về tội phạm hoặc việc bắt, tạm giữ, tiến hành một số hoạt động điều tra trước khi khởi tố (trong

Trang 16

trường hợp hành vi phạm tội đã rõ không ra quyết định phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm) kết thúc giai đoạn này bằng quyết định khởi tố hoặc không KTVA5

Trong năm loại nguồn tin về tội phạm thì tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là ba nguồn tin phức tạp, gây khó khăn trong việc giải quyết hơn hai nguồn tin còn lại

Việc giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng giống như hoạt động điều tra, bởi

nó đều hướng đến việc xác minh làm rõ các sự thật khách quan có ý nghĩa đối với việc ra quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng Tuy nhiên, hoạt động điều tra được tiến hành sau khi có quyết định KTVA, nó có mục địch làm rõ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các tình tiết khác liên quan đến việc giải quyết vụ án Còn hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm thì chỉ có nhiệm vụ xác định sự việc có dấu hiệu tội phạm hay không Nó được tiến hành trước khi có vụ án Việc giải quyết nguồn tin về tội phạm vô cùng quan trọng, bởi ngay trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, kiểm sát việc giải quyết đã phải có những đánh giá sơ bộ về sự việc không phạm tội hoặc phạm tội, hành vi phạm tội là tội phạm gì và đặc biệt quan trọng khi kết quả của quá trình này là việc quyết định có mở ra giai đoạn tố tụng tiếp sau hay không

Việc giải quyết nguồn tin về tội phạm phải do cơ quan có thẩm quyền thực hiện Chỉ những cơ quan được Nhà nước giao quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm mới được tiến hành giải quyết đối với loại nguồn tin về tội phạm đó

Theo quy định pháp luật tố tụng hình sự, các cơ quan sau có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm gồm:

- CQĐT, gồm: CQĐT của Công an nhân dân, CQĐT trong Quân đội nhân dân, CQĐT của VKS tối cao Đây là các cơ quan điều tra chính quy, chuyên nghiệp,

5

Nguyễn Văn Lợi & Nguyễn Ngọc Phòng, Một số nội dung cần lưu ý khi thực hành quyền

công tố trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, Tạp chí kiểm sát, (06), 2018, tr

16

Trang 17

vì việc việc kiểm tra, xác minh giải quyết nguồn tin về tội phạm phần lớn được giao cho CQĐT

- Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm:

+ Các cơ quan của Bộ đội biên phòng được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra gồm có Cục trinh sát biên phòng; Cục phòng, chống ma túy và tội phạm; Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm; Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng cấp tỉnh; Ban chỉ huy Biên phòng Cửa khẩu cảng; Đồn biên phòng

+ Các cơ quan của Hải quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra gồm có Cục Điều tra chống buôn lậu; Cục Kiểm tra sau thông quan; Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chi cục Hải quan cửa khẩu

+ Các cơ quan của Kiểm lâm được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra gồm có Cục Kiểm lâm; Chi cục Kiểm lâm vùng; Chi cục Kiểm lâm cấp tỉnh; Hạt Kiểm lâm

+ Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra gồm có Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển; Bộ Tư lệnh vùng Cảnh sát biển; Cục Nghiệp vụ và pháp luật; Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm

ma túy; Hải đoàn; Hải đội; Đội nghiệp vụ

+ Các cơ quan của Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm có Cục Kiểm ngư, Chi cục Kiểm ngư vùng

+ Các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra gồm có Cục Quản lý xuất nhập cảnh; các cục nghiệp vụ an ninh ở

Bộ Công an; Phòng Quản lý xuất nhập cảnh; các phòng nghiệp vụ an ninh thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Công an cấp tỉnh) và Đội An ninh ở Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Công an cấp huyện); Cục Cảnh sát giao thông; Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường; Cục Cảnh sát phòng, chống tội

Trang 18

phạm sử dụng công nghệ cao; Phòng Cảnh sát giao thông; Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường; Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao; Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Trại giam

+ Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra gồm có Trại giam, đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương.6

- Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình

sự thì tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và Điều tra theo quy định của pháp luật

- VKS giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường

hợp phát hiện CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS đã

yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục Vi phạm pháp luật nghiêm

trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi tiến hành kiểm tra, xác minh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do BLTTHS năm 2015 quy định và

đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của nguồn tin về tội phạm Dấu hiệu

bỏ lọt tội phạm trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi tiến hành kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ KTVA hình sự nhưng không

6

Theo Điều 9 Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015

Trang 19

ra quyết định KTVA hình sự hoặc ra quyết định không KTVA hình sự hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.7

Ngoài ra BLTTHS năm 2015 còn bổ sung thêm một số chủ thể có thẩm quyền trong việc xác minh sơ bộ đối với tố giác, tin báo về tội phạm sau khi tiếp nhận Cụ thể, Công an phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho CQĐT có thẩm quyền Sau khi tiếp nhận, Công an xã

có trách nhiệm lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra, xác minh giải quyết theo quy định

Mục đích của việc giải quyết nguồn tin về tội phạm là để làm rõ tính xác thực của nội dung nguồn tin về tội phạm tiếp nhận được, sự việc được đề cập trong nội

dung nguồn tin đó có dấu hiệu tội phạm hay không Cơ quan có thẩm quyền giải

quyết nguồn tin về tội phạm phải sử dụng mọi biện pháp luật định tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh nhằm nhanh chóng xác định các dấu hiệu của tội phạm Hoạt động kiểm tra, xác minh thông tin về tội phạm được tiến hành bằng nhiều biện pháp khác nhau trong một khoảng thời gian theo luật định, tùy thuộc vào tính chất đơn giản, hay phức tạp của vụ án để xác định dấu hiệu tội phạm một cách nhanh chóng và chính xác Dấu hiệu tội phạm chính là căn cứ cần và đủ được pháp luật quy định để cơ quan có thẩm quyền có thể dựa vào đó để ra quyết định KTVA hình sự.8 Việc giải quyết nguồn tin về tội phạm có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi chỉ có thông qua những hoạt động kiểm tra, xác minh các nguồn tin về tội phạm mới có điều kiện làm rõ sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm không Hơn nữa, việc giải quyết nguồn tin về tội phạm phải được tiến hành khách quan, toàn diện,

7

Điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch số BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, VKSND tối cao hướng dẫn thi hành quy định của BLTTHS

01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-8

Nguyễn Khắc Quang (2014), Vai trò của VKS trong KTVA hình sự, Luận văn thạc sĩ, Đại

học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.11,12

Trang 20

nhanh chóng, kịp thời nếu không nguy cơ không phát hiện ra dấu hiệu của tội phạm rất cao, dẫn đến việc ra quyết định không KTVA, bỏ lọt tội phạm hoặc dẫn đến việc khởi tố không có căn cứ, làm hạn chế quyền con người trái pháp luật, làm oan người

vô tội

Từ những phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa:

Giải quyết nguồn tin về tội phạm là việc c quan c th m quyền tiến hành kiểm tra, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để ra một trong các quyết định theo quy định của pháp luật: quyết định KTVA hình sự; quyết định không KTVA hình sự; quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của BLTTHS nhằm xác định sự việc trong nguồn tin c dấu hiệu tội phạm không

1.1.2 Việc khởi tố vụ án

KTVA hình sự là quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm duy trì trật tự và công lý, không phụ thuộc vào ý muốn cá nhân và không ai

có thể can thiệp Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích, “KTVA hình sự là hoạt

động của CQĐT, kiểm sát hoặc xét xử, ra quyết định KTVA khi xác định c dấu hiệu tội phạm và đ là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng hình sự”9

Theo sách Thuật ngữ pháp lý dùng trong hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân,

“KTVA hình sự là hoạt động tố tụng hình sự do c quan c th m quyền tiến hành sau khi đã xác minh một sự việc xảy ra c dấu hiệu tội phạm KTVA hình sự là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng hình sự” 10 Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt

Nam của Trường Đại Học Luật Hà Nội thì đưa ra khái niệm “KTVA hình sự là giai

đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đ c quan c th m quyền xác định c hay không dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không KTVA 11

Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển

Bách khoa Việt Nam, tập 2, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr 167

11

Trường Đại học Luật Hà Nội (2009),Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư

pháp, Hà Nội, tr.31

Trang 21

Như vậy, trong giai đoạn KTVA, nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền đó là xác minh và đánh giá có sự việc phạm tội xảy ra hay không, nếu có thì sẽ ra quyết định KTVA Việc KTVA là hoạt động pháp lý đánh dấu sự kết thúc giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm và mở ra giai đoạn tố tụng điều tra vụ án hình sự

Quyết định khởi tố vụ án hình sự có vị trí đặc biệt, được coi như “bản lề” của

2 giai đoạn tố tụng khác nhau vì nó đóng lại giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và mở ra quá trình điều tra.12

KTVA và khởi tố bị can có điểm giống nhau đều là quyết định bắt đầu điều tra công khai theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự, nhưng khác nhau về thời điểm, yêu cầu và căn cứ khởi tố Quyết định KTVA không yêu cầu xác định ngay người phạm tội là ai, pháp nhân nào, hành vi thực hiện tội phạm diễn ra như thế nào? Còn quyết định khởi tố bị can phải xác định chính xác một người hoặc pháp nhân cụ thể

đã thực hiện hành vi phạm tội.13

Về chủ thể có thẩm quyền KTVA, pháp luật trao quyền KTVA hình sự cho

ba nhóm chủ thể đó là là: CQĐT và Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; VKS; Hội đồng xét xử (Theo Điều 153 BLTTHS 2015)

Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm KTVA, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội Không được KTVA ngoài những căn cứ và trình tự,

thủ tục do BLTTHS quy định (Theo Điều 18 BLTTHS 2015)

Như vậy, để ra quyết định KTVA hình sự phải xác định:

13

Lưu Thanh Hùng (2018), “Bàn về căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí dân chủ pháp luật, tại địa chỉ:

http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=228 ngày truy cập 01/6/2018

Trang 22

Nếu chỉ dựa vào những nguồn thông tin chưa có sự kiểm tra, xác minh để xác định có dấu hiệu tội phạm hay không mà ra quyết định KTVA thì việc khởi tố trong trường hợp này là không có căn cứ pháp luật14 Chính vì vậy, việc KTVA phải dựa trên kết quả của việc giải quyết nguồn tin về tội phạm

Dấu hiệu tội phạm được chứng cứ chứng minh hay nói ngược lại có chứng

cứ xác định dấu hiệu tội phạm, về bản chất được hiểu giống nhau Trong căn cứ khởi tố, đối tượng chứng minh của nó chính là dấu hiệu tội phạm vì nếu không có đối tượng chứng minh thì sẽ không có chứng cứ; ngược lại nói đến dấu hiệu tội phạm cũng không thể không đề cập đến chứng cứ xác định nó, vì dấu hiệu tội phạm không tự bộc lộ mà phải được xác định bằng chứng cứ Khi giải thích về căn cứ khởi tố nếu tách dấu hiệu tội phạm ra khỏi mối quan hệ với chứng cứ xác định nó sẽ siêu hình, phiến diện.15

Để có căn cứ khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh thu thập chứng cứ, đánh giá sơ bộ để xác định có hay không có một tội phạm tương ứng với một tội danh đã được quy định trong BLTTHS xảy ra trên thực

tế Khi ra quyết định KTVA hình sự thì không bắt buộc phải chứng minh đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm Thông thường, chỉ cần làm rõ khách thể trực tiếp của tội phạm, các dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan và chủ quan của tội phạm.16

Để xác định căn cứ KTVA được chính xác, khách quan, cơ quan có thẩm quyền khởi tố cần thận trọng cân nhắc, đối chiếu các dấu hiệu của tội phạm với các quy định của Bộ luật Hình sự để xác định chính xác tội danh, hành vi phạm tội cần khởi tố để ra quyết định KTVA hình sự Việc khởi tố phải đảm bảo có căn cứ theo luật định, các quyết định khởi tố phải gửi đến VKS để kiểm sát việc khởi tố Ngoài

ra, việc xác định căn cứ KTVA phải dựa trên các nguồn tin về tội phạm được quy

14

Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb

Công an nhân dân, Hà Nội, tr.248

15

Lưu Thanh Hùng (2018), “Bàn về căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí dân chủ pháp luật, tại địa chỉ: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=228 ngày truy cập 01/6/2018

16

Lưu Thanh Hùng (2018), “Bàn về căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí dân chủ pháp luật, tại địa chỉ: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=228 ngày truy cập 01/6/2018

Trang 23

định trong BLTTHS, cụ thể đó là: tố giác của cá nhân; tin báo của cơ quan, tổ chức,

cá nhân; tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; người phạm tội tự thú.17

Việc KTVA có ý nghĩa pháp lý vô cùng quan trọng bởi nó quyết định có tiến hành điều tra vụ việc nữa hay không Không thể ra Quyết định khởi tố bị can hay áp dụng các biện pháp ngăn chặn (ngoại trừ tạm giữ) khi chưa có quyết định KTVA

Nó cũng thể hiện kết quả của quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm Nếu sau khi KTVA, vụ án bị đình chỉ do không có sự việc phạm tội thì cũng có nghĩa là quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm trước đó đã sai lầm nghiêm trọng Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền luôn rất thận trọng trong việc quyết định KTVA

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Việc KTVA hình sự là hoạt động của c

quan tiến hành tố tụng c th m quyền qua quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm ra quyết định xác định c sự việc phạm tội để tiến hành điều tra vụ án theo quy định pháp luật

1.2 Khái niệm, đặc điểm kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm

và khởi tố vụ án

"Kiểm sát" theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt: "Là kiểm tra việc chấp hành pháp luật của nhà nước" Theo đó, nội dung của khái niệm "kiểm sát" là hoạt động kiểm tra với đối tượng kiểm tra là việc chấp hành pháp luật.18

Kiểm sát hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm và việc KTVA là một trong những quyền năng thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp mà Hiến pháp

và các văn bản pháp luật khác của Nhà nước trao cho VKS Cùng với chức năng thực hành quyền công tố đây là chức năng đặc thù của VKS, tạo ra cơ sở pháp lý

17

Lưu Thanh Hùng (2018), “Bàn về căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí dân chủ pháp luật, tại địa chỉ: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=228 ngày truy cập 01/6/2018

18

Nguyễn Việt Hà (2017), "Kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về tội phạm trong pháp

luật tố tụng hình sự Việt Nam trên c sở thực tiễn địa bàn tỉnh h Thọ ", Luận văn thạc

sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, HàNội, tr 23

Trang 24

vững chắc để VKS thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình, bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.19

Kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và kiểm sát việc KTVA hình

sự mang những đặc điểm sau:

Thứ nhất, về chủ thể tiến hành kiểm sát

VKS là chủ thể duy nhất được Pháp luật thực định trao cho chức năng thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và kiểm sát việc KTVA hình sự nói riêng Tham gia vào “kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” nói chung, hay kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong việc kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và kiểm sát việc KTVA hình sự nói riêng không chỉ có VKS mà còn có các chủ thể khác như người tham gia tố tụng, các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cá nhân công dân và toàn thể xã hội nói chung Tuy nhiên, quyền "kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước" của CQĐT trong hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA của các chủ thể khác xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp

và pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước và quyền công dân: Điều 28 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013: "Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội…”20 Điều 13 Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự quy định:

“Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận giám sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra…”21 Tuy nhiên đối với các chủ thể này việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng không phải là chức năng hoạt động giống như VKS mà nó chỉ là quyền, nghĩa vụ phái sinh từ những chức năng, hoạt động khác hay các quyền, các hoạt động mang tính tự nguyện Mặc dù, các hoạt động của các chủ thể này như theo dõi, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng báo cáo tình hình hoạt

Trang 25

động, yêu cầu trả lời lý do ra các quyết định, yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi phạm… cũng ảnh hưởng đến việc “phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật” và “loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân” trong Tố tụng hình

sự22 Tuy nhiên, không thể coi đây là hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật

mà chỉ là các hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật Sự khác nhau cơ bản giữa hoạt động kiểm sát của VKS và hoạt động giám sát của các chủ thể khác chính là hình thức thực hiện mà cụ thể là phương thức và các quyền năng mà pháp luật TTHS cho phép khi thực hiện.23 Các quyền và nghĩa vụ của VKS đặt trong mối quan hệ tổng thể tạo ra một phương thức kiểm sát đặc trưng, cho phép phân biệt dễ dàng hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS với hoạt động giám sát của cơ quan dân cử hay cá nhân tổ chức nào Phương thức này sẽ được nói trong đặc điểm tiếp theo của hoạt động này

Thứ hai, về hình thức kiểm sát Hình thức kiểm sát được thể hiện ở hai nội

dung là phương thức và nhóm quyền năng

- Kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và kiểm sát việc KTVA là hoạt động kiểm tra, giám sát liên tục, cụ thể, trực tiếp các hoạt động của CQĐT thực hiện trong suốt quá trình giải quyết tố nguồn tin tội phạm và việc KTVA theo quy định của pháp luật.24 Tính liên tục thể hiện ở chỗ: trong toàn bộ quá trình, VKS có quyền và nghĩa vụ kiểm sát tại tất cả các hoạt động Tính cụ thể của phương thức kiểm sát chính là việc VKS có quyền kiểm tra, giám sát một cách chi tiết, tỉ mỉ các hoạt động cụ thể: khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, lấy lời khai, hỏi cung bị can, thực nghiệm điều tra, đối chất VKS kiểm sát một cách trực tiếp đối

22

Dương Tiến Mạnh (2015), “Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm trong luật

tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội,

HàNội, tr 19-20

23

Nguyễn Việt Hà (2017), "Kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về tội phạm trong pháp

luật tố tụng hình sự Việt Nam trên c sở thực tiễn địa bàn tỉnh h Thọ ", Luận văn thạc

sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, HàNội, tr 23

24

Bế Thị Thảo (2018), Luận văn Thạc sĩ “Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin

báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang”, Hà Nội, tr.10-15

Trang 26

với các hoạt động tố tụng thể hiện ở việc có mặt, theo sát, đôn đốc kịp thời khi các

cơ quan có thẩm quyền thực hiện các hoạt động Tính trực tiếp, cụ thể, liên tục của phương thức kiểm sát không có nghĩa là VKS phải có mặt, theo dõi mọi hoạt động, mọi lúc, mọi nơi Tùy vào điều kiện thực tế về nhân sự, số lượng vụ án, tính chất từng loại vụ án và quy định của pháp luật tố tụng hình sự mà VKS sẽ quyết định khi nào phải kiểm sát trực tiếp diễn biến của một hoạt động và khi nào chỉ cần kiểm sát thông qua kết quả của hoạt động tố tụng.25

- Chức năng kiểm sát của VKS trong kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA là việc VKS sử dụng các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền kiểm sát do pháp luật tố tụng hình sự quy định Quyền năng pháp lý mà VKS được sử dụng trong quá trình kiểm sát được thể hiện thông qua các quyền của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, KSV Có thể được phân loại thành những nhóm sau:

+ Nhóm các quyền nhằm phát hiện vi phạm pháp luật đó là quyền kiểm tra, giám sát thường xuyên trong quá trình giải quyết, yêu cầu cung cấp tài liệu liên quan;

+ Nhóm các quyền nhằm khắc phục, xử lý vi phạm như: Quyền yêu cầu khắc phục vi phạm, quyền yêu cầu xử lý nghiêm người vi phạm, quyền kiến nghị nhằm khắc phục vi phạm

Thứ ba, đối tượng và phạm vi kiểm sát

Để xác định đối tượng, phạm vi kiểm sát, cần trả lời hai câu hỏi: Thứ nhất, trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA, VKKS kiểm sát ai, cái gì? Thứ hai, hệ thống pháp luật được sử dụng trong quá trình giải quyết nguồn tin

về tội phạm và KTVA là toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung hay chỉ một lĩnh vực pháp luật cụ thể nào đó?

Trang 27

Như đã trình bày tại mục 1.1, chủ thể tiến hành giải quyết nguồn tin về tội phạm là CQĐT, Cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS Tuy nhiên, VKS không thể tự đi kiểm sát hoạt động giải quyết của mình, có chăng chỉ là hoạt động tự kiểm tra, thanh tra trong nội bộ Vì vậy, chủ thể bị kiểm sát ở đây chỉ có thể

là CQĐT, Cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra Các cơ quan này cũng là cơ quan có thẩm quyền KTVA và là đối tượng bị kiểm sát trong việc KTVA Tương ứng với hệ thống các cơ quan trên là hoạt động của người tiến hành tố tụng là thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT, điều tra viên Hội đồng xét xử có quyền KTVA nhưng không phải là đối tượng bị kiểm sát trong kiểm sát việc KTVA Việc này được thể hiện tại Điều 161 BLTTHS năm 2015 Bởi vì, trong trường hợp nếu thấy Quyết định KTVA của Hội đồng xét xử không có căn cứ thì VKS thực hành quyền công tố là kháng nghị lên Tòa án trên một cấp.26 Tóm lại, chủ thể bị kiểm sát trong hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA là CQĐT, Cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra

Hệ thống pháp luật được sử dụng ở đây trước hết là pháp luật TTHS, quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức cá nhân khác có liên quan đến việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA Do vậy, kiểm sát việc giải quyết nguồn tin

về tội phạm và KTVA chính là kiểm sát việc các chủ thể có tuân thủ các quy định của pháp luật về thời hạn, trình tự, thủ tục cũng như cách xử sự luật định trong quan

hệ phát sinh giữa các bên trong quá trình giải quyết hay không

Như vậy, đối tượng của công tác kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA chính là tính hợp pháp của hành vi, quyết định của CQĐT, Cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra

Hoạt động kiểm sát bắt đầu kể từ sau khi CQĐT, Cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận nguồn tin về tội phạm Kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự và gửi quyết định này sang VKS

26

Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội

Trang 28

Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, BLTTHS, Luật tổ chức VKS nhân dân năm 2014 và từ những phân tích trên có thể đi đến khái niệm như sau:

“Kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm là nhiệm vụ và quyền hạn của VKS, c nội dung là kiểm tra, giám sát các hoạt động tuân theo pháp luật của

C quan điều tra và c quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình tiến hành hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm nhằm đảm bảo cho việc mọi nguồn tin về tội phạm đều phải được kiểm tra, xác minh, xử lý kịp thời; không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; việc giải quyết nguồn tin về tội phạm phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, kịp thời, đ ng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong công tác này phải được phát hiện, khắc phục và xử lý nghiêm minh.”

“Kiểm sát việc KTVA hình sự là một nh m quyền năng pháp lý của VKS, c nội dung là kiểm tra, giám sát các hoạt động tuân theo pháp luật đối với việc KTVA hình sự của C quan điều tra và c quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm đảm bảo mọi tội phạm được phát hiện đều phải được khởi tố, việc KTVA c căn cứ và đ ng pháp luật.”

Kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và kiểm sát việc KTVA có quan hệ vô cùng khăng khít, không thể tách rời Để kiểm sát việc KTVA hình sự, VKS phải dựa trên quá trình kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm Đó là hai hoạt động tiếp nối liên tục, xuyên suốt trong giai đoạn KTVA

Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA VKS có hai chức năng là thực hành quyền

công tố và hoạt động tư pháp Đây là hai chức năng độc lập, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Pháp luật có sự phân định giữa chức năng kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và kiểm sát việc KTVA hình sự với chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn này Để phân biệt hai chức năng này, trước hết cần hiểu: thực hành quyền công tố là hoạt động của VKS trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay

từ khi giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy

Trang 29

tố, xét xử vụ án hình sự,27 là chức năng Hiến định của VKS Thực hành quyền công

tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong việc KTVA hình sự là hoạt động thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong việc tiến hành xử lý và giải quyết đối với những nguồn tin về hành vi có dấu hiệu của tội phạm và đối với việc

ra các quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, KTVA, không KTVA của cơ quan có thẩm quyền Các hoạt động thực hành quyền công tố trong hoạt động này như: Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ; phê chuẩn, không phê chuẩn các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của pháp luật; Khi cần thiết, đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm thực hiện; Quyết định gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định KTVA hình sự; Yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra KTVA hình sự.; Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong các trường hợp do pháp luật quy định; Hủy bỏ quyết định tạm giữ, quyết định KTVA hình sự, quyết định không KTVA hình sự, quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.28

Hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nói chung và trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, KTVA nói riêng của VKS tuy được pháp luật hiện hành quy định tách bạch nhưng chúng luôn luôn được tiến hành đồng thời, có mối quan hệ mật thiết với nhau Thông qua việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, VKS mới có thể thực hành quyền công tố một cách chính xác Với việc thực hiện công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ làm tiền đề cho hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện một cách chính xác, nếu có sai sót, vi phạm trong việc thực hiện kiểm sát các hoạt

27

Nguyễn Như Hùng (2018), Thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố, kiểm sát điều

tra vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, Tạp chí kiểm sát, (05), tr.16-22

28

Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội

Trang 30

động tư pháp trong giai đoạn điều tra sẽ kéo theo sự vi phạm pháp luật của hoạt động thực hành quyền công tố Các hoạt động thực hành quyền công tố thể hiện kết quả của quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật Chẳng hạn: qua việc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, khi phát hiện thấy quyết định của các cơ quan này không có căn cứ và trái pháp luật, VKS hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định KTVA hình sự, quyết định không KTVA hình sự không có căn cứ và trái pháp luật

VKS giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA hình sự của VKS mang ý

nghĩa quan trọng, cụ thể:

Thứ nhất, đảm bảo pháp chế XHCN bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con

người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của t chức, cá nhân VKS là một cơ quan thuộc hệ thống tổ

chức bộ máy Nhà nước của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam với chức năng Hiến định, đó là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Hiếp pháp đã trao

cho VKS một nhiệm vụ hết sức quan trọng đó là bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con

người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN,bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của t chức, cá nhân, g p phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.29

(tại khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013)

Khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức VKS nhân dân năm 2014 quy định: “VKS nhân dân là

c quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong đó có công tác

kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA là hoạt động của VKS để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp Công tác kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA là một trong những hoạt động quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngành kiểm sát Thông qua việc thực hiện tốt công tác này, VKS mới

29

Quốc hội (2013), Hiến pháp, Hà Nội

Trang 31

có cơ sở để đảm bảo các hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm và việc KTVA của Cơ quan có thẩm quyền đúng pháp luật tuân thủ đúng pháp luật

Giải quyết nguồn tin về tội phạm là một vấn đề khá nhạy cảm trên thực tế, bởi

nó trực tiếp liên quan đến quyền lợi của cá nhân, tổ chức và an ninh chính trị, trật tự

xã hội Nếu việc giải quyết nguồn tin về tội phạm không chính xác sẽ dẫn đến việc xâm phạm lợi ích của cá nhân, tổ chức, Nhà nước, gây bức xúc trong nhân dân, dẫn đến tình trạng khiếu nại, tố cáo triền miên Việc một hành vi phạm tội không bị khởi

tố sẽ gây ra tình trạng coi thường pháp luật, từ đó, tội phạm sẽ xảy ra nhiều hơn, gây mất trật tự trị an, bất ổn cho xã hội, ảnh hưởng đến quyền lợi của cá nhân, tổ chức bị tội phạm xâm hại

Thứ hai, tạo c sở vững chắc, bảo đảm cho các hoạt động tố tụng điều tra,

truy tố, xét xử, thi hành án đ ng người, đ ng tội, đ ng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội

Việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA là hoạt động hết sức quan trọng Nó quyết định có mở ra cả một quá trình tố tụng sau đó hay không Nếu một

sự việc không có dấu hiệu tội phạm bị khởi tố thì sẽ làm mất thời gian, chi phí điều tra và cả một quá trình tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đều vô nghĩa, nghiêm trọng hơn là sai lầm gây ra oan, sai Vì vậy, nhiệm vụ kiểm sát giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA luôn được chú trọng và được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của VKS VKS kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA nhằm đảm bảo cho việc KTVA có căn cứ, khách quan, triệt để; mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ phương hướng xây dựng các cơ quan bảo

vệ pháp luật là nòng cốt, phát huy sức mạnh của toàn xã hội trong việc phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm.30 Nếu hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm

và KTVA do CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều

30

Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2015 của Bộ

Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm

2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội

Trang 32

tra thực hiện mà không có sự kiểm tra, giám sát của VKS thì sẽ dẫn đến việc pháp luật, quyền con người, quyền công dân, chế độ XHCN, lợi ích của Nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân không được bảo vệ một cách chặt chẽ, pháp luật khó được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Bên cạnh đó, BLTTHS quy định một số biện pháp tố tụng được thực hiện trước khi KTVA như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi Các hoạt động đó phải có sự kiểm sát của VKS để bảo đảm tính có căn cứ, đúng pháp luật và để làm cơ sở cho việc có hay không việc ra quyết định KTVA và tiến hành một số biện pháp tố tụng của CQĐT nên phạm vi kiểm sát còn bao gồm cả ở giai đoạn trước khi có quyết định KTVA31 Vì vậy, pháp luật đã giao cho VKS kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA Pháp luật trao cho cơ quan VKS những nhiệm vụ, quyền hạn

cụ thể để thực hiện chức năng này Cùng với đó, pháp luật cũng quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát khi thực hiện không đúng, không đầy đủ chức năng được giao VKS thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn để thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo việc khởi tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Nếu xảy ra sai sót, vi phạm thì phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật.32

Tóm lại, việc kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA có ý nghĩa vô cùng quan trọng Hoạt động này mang nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, góp phần giữ vững an ninh chính trị, an toàn xã hội

31

Lê Hữu Thể (2008), Thực hành quyển công t và kiếm sát các hoạt động tư pháp trong

giai đoạn điểu tra, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 21

32

Đặng Văn Thực (2014), Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn KTVA

hình sự, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 14

Trang 33

1.3 Quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra, cơ quan đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc giải quyết nguồn tin

về tội phạm và khởi tố vụ án

Quan hệ giữa CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và VKS là mối quan hệ quan trọng trong tố tụng hình sự, là biểu hiện của nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước Mối quan hệ này được hình thành ngay từ khi có nguồn tin về tội phạm, nếu được vận hành tốt, nhịp nhành, hiệu quả sẽ góp phần bảo đảm việc phát hiện tội phạm, điều tra, xử lý các vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm, tiết kiệm thời gian và chi phí vật chất trong hoạt động tố tụng hình sự.33 Trong giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và VKS tuy có chức năng, nhiệm

vụ khác nhau nhưng có mối quan hệ tố tụng chặt chẽ Thực hiện quan điểm, chủ trương cải cách tư pháp của Đảng về “tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”34, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự thể hiện quan hệ giữa CQĐT và VKS không ngừng được hoàn thiện, đặc biệt là BLTTHS năm 2015

đã có nhiều quy định mới nhằm đổi mới mối quan hệ tố tụng giữa CQĐT và VKS theo hướng thiết thực, hiệu quả, tăng cường quan hệ phối hợp nhưng phân công chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, rành mạch và có sự kiểm tra, chế ước nhau trong việc thực hiện quyền lực nhà nước

Nghiên cứu các quy định của BLTTHS năm 2015 cho thấy, quan hệ tố tụng giữa CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và VKS được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc và nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, CQĐT, c quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và VKS cùng phối hợp chặt chẽ để làm rõ dấu hiệu tội phạm và KTVA đ ng pháp luật

34

Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội

Trang 34

Phối hợp là một trong các hình thức và nguyên tắc hoạt động không thể thiếu giữa các cơ quan nhà nước VKS có quan hệ phối hợp với cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA, vì hai cơ quan có chung mục đích là phát hiện, khởi tố, điều tra và xử lý tội phạm một cách nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả và đúng pháp luật Quan hệ phối hợp của hai cơ quan trong hoạt động này cũng nhằm mục đích chung là phòng ngừa tội phạm.35 Tuy nhiên, mỗi cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, nên sự phối hợp giữa CQĐT, cơ quan được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và VKS không phải là hợp lực để cùng giải quyết nguồn tin về tội phạm mà nó biểu hiện bằng sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ Trong giai đoạn này, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và VKS đều được giao những nhiệm vụ, quyền hạn rất cụ thể, trong đó các quyết định tố tụng và hoạt động điều tra chủ yếu do CQĐT tiến hành nhưng phải phối hợp với VKS để VKS thực hiện kiểm sát, bảo đảm hoạt động điều tra tuân thủ đúng quy định của pháp luật Ví dụ: Theo quy định tại của BLTTHS năm 2015, khi tiến hành các hoạt động hỏi cung, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra, CQĐT phải báo cho VKS cùng cấp biết và cử kiểm sát viên tham gia các hoạt động điều tra trên; CQĐT cũng phải thông báo, cung cấp cho VKS các tài liệu, chứng cứ thu thập được, các vấn đề phức tạp để phối hợp giải quyết; CQĐT có trách nhiệm lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm nhưng phải phối hợp chặt chẽ với VKS, vì hồ sơ này là căn cứ pháp lý quan trọng

để VKS tiến hành kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA.Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA, VKS cũng phải có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với CQĐT; đối với các hoạt động bắt buộc phải có sự tham gia của VKS, khi nhận được thông báo của CQĐT, VKS phải kịp thời cử KSV

có mặt để kiểm sát hoạt động này; thông báo kịp thời ban hành các quyết định, yêu

35

Nguyễn Quang Huy (2017), “Hoạt động phòng ngừa tội phạm của lực lượng Công an

nhân dân và quan hệ phối hợp với VKS nhân dân trong phòng ngừa tội phạm”, Tạp chí

kiểm sát, (06), tr.10-13

Trang 35

cầu bảo đảm cho hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm được tiến hành một cách khẩn trương, đầy đủ, chính xác

Trong công tác phối hợp, VKS cũng phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của BLTTHS để phối hợp CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một

số hoạt động điều tra, không vì thực hiện việc kiểm sát mà cản trở quá trình kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm

Thứ hai, mối quan hệ giữa VKS và CQĐT, c quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là mối quan hệ “chế ước”, kiểm soát

Thực chất hoạt động kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA của VKS là việc kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động này CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm đảm bảo hoạt động này được thực hiện theo đúng quy định pháp luật Nghiên cứu các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho thấy, các quyền năng này của Viện kiểm sát được biểu hiện các hình thức chủ yếu như sau:

- VKS thực hiện quyền giám sát hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm một cách trực tiếp, như việc kiểm sát các hoạt động: Khám nghiệm hiện trường, Khám nghiệm tử thi, Hỏi cung bị can… hoặc giám sát gián tiếp thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, tài liệu phản ánh hoạt động điều tra Quyền giám sát của VKS trong kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA được thể hiện rõ nhất trong việc kiểm sát các quyền năng và hành vi tố tụng của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành, yêu cầu các cơ quan này thực hiện một số hành vi pháp lý, nếu phát hiện vi phạm có thể kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm Qua thực hiện quyền giám sát, Viện kiểm sát mới có cơ sở để xác định được hoạt động điều tra được thực hiện đúng hay sai, có khách quan, đầy đủ không

- VKS thực hiện quyền yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thông qua hoạt động giám sát mà phát hiện thấy việc điều tra chưa đầy đủ, chính xác hoặc có vi phạm pháp luật Ví dụ: Khi phát hiện việc xác minh tin báo về tội phạm không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì VKS yêu cầu CQĐT phải tiến hành giải quyết tin báo và thông báo kết quả cho VKS; cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật

Trang 36

trong việc điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi điều tra viên, cán bộ điều tra, xử lý nghiêm minh người vi phạm… CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, có trách nhiệm phải thực hiện các yêu cầu của VKS

Nếu VKS thực hiện sự chế ước không đúng hoặc chỉ có chế ước mà không có phối hợp, sẽ dẫn đến hiện tượng tả khuynh “quyền anh, quyền tôi”, làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động chung của hai cơ quan Trên thực tế, một số KSV chỉ tìm những thiếu sót, sai phạm của ĐTV, CQĐT để báo cáo thành tích hoặc cho rằng đó là nhiệm vụ chính, mà không nhận thức được rằng KSV không thể đứng ngoài nhiệm vụ của ĐTV mà phải cùng ĐTV tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để tìm kiếm chứng cứ chứng minh và làm rõ sự thật của vụ án nhằm xử lý theo quy định của pháp luật Do vậy, việc sử dụng đúng đắn, linh hoạt hai yếu tố phối hợp và chế ước giữa CQĐT và VKS trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự sẽ góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, đồng bộ trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm Đây là đặc điểm ưu việt của hệ thống pháp luật và hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam, cần được kế thừa, phát huy trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay. 36

Tóm lại, mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong tố tụng hình sự là: Sự phối hợp và chế ước của VKS với CQĐT cùng cấp và cơ quan khác được giao nhiệm vụ điều tra trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA nhằm đảm bảo hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Trang 37

http://csnd.vn/Home/Nghien-cuu-Trao-doi/778/Hoan-thien-quy-dinh-ve-moi-quan-he-KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Giải quyết nguồn tin về tội phạm và việc KTVA hình sự là những hoạt động hết sức quan trọng Thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA sẽ tạo cơ sở vững chắc, bảo đảm cho các hoạt động tố tụng điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm, tránh làm oan người vô tội và đảm bảo quyền công dân, quyền con người, lợi ích của Nhà nước, cá nhân, tổ chức và pháp chế XHCN Chính vì những ý nghĩa quan trọng của công tác này, pháp luật đã giao cho VKS là cơ quan duy nhất có quyền kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA

Kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA là hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật do cơ quan duy nhất thực hiện, đó là VKS qua hình phương thức kiểm tra, giám sát liên tục - cụ thể - trực tiếp, có đối tượng là tính hợp pháp của hành vi, quyết định của của CQĐT, Cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra trong giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA

Trong quá trình kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA, VKS không chỉ có quan hệ chế ước, kiểm soát mà còn phải giữ quan hệ phối hợp với CQĐT, Cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm đảm bảo mục đích chung là việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA phải được tiến hành đầy

đủ, kịp thời, có căn cứ và đúng pháp luật

Nội dung phân tích cơ sở lý luận và quy định của pháp luật trong chương 1

sẽ là điều kiện để phân tích các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm và KTVA, đánh giá thực trạng và luận giải, đề xuất quan điểm, giải pháp về đảm bảo chất lượng, hiệu quả công tác này ở các chương tiếp theo

Trang 38

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG THỰC HÀNH KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM VÀ

KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của quy định về kiểm sát giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự

2.1.1 Giai đoạn trước năm 1988

Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời Khi xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm lập ra các cơ quan chuyên trách như cơ quan Công tố và Tòa án có nhiệm vụ trấn áp bọn phản cách mạng, trừng trị và phòng ngừa các tội phạm hình sự nhằm mục tiêu là bảo vệ chế độ Nhà nước của nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Đến năm 1958 thực hiện Nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 29/4/1958, thực hiện việc cải cách tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước nên Quốc hội

đã quyết định thành lập cơ quan Viện công tố trung ương và hệ thống viện công tố độc lập với hệ thống Toà án thống và trực thuộc Hội đồng Chính phủ Đến ngày 01/07/1959, Nghị định số: 256 – TTg quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố trong đó có quy định: “Nhiệm vụ của Viện công tố là điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của CQĐT ”37 Như vậy, ngoài nhiệm vụ truy tố theo luật hình sự những kẻ phạm pháp, Viện công tố còn có nhiệm vụ trong việc giám sát chấp hành pháp luật trong điều tra vụ án hình sự Từ giai đoạn này trở đi, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc giải quyết nguồn tin và KTVA hình sự của Viện công tố bắt đầu được hình thành

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức VKSND năm 1960 để cụ thể hóa chức năng của VKS trong đó có chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự Với việc ban hành Luật tổ chức VKSND năm

1960 đã đánh dấu sự hình thành hệ thống cơ quan VKS từ trung ương đến địa phương, đồng thời khẳng định chức năng hiến định là kiểm sát việc tuân theo pháp

37

Công báo nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1959

Trang 39

luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 1960 quy định: “VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và của CQĐT khác nhằm:

a) Không để một hành vi phạm tội và người phạm tội nào tránh khỏi việc xử

lý của pháp luật;

b) Không để một công dân nào bị bắt giam, bị đưa ra xét xử hoặc bị hạn chế

về các quyền dân chủ một cách trái pháp luật”

Cũng trong thời gian này VKSNDTC và Bộ Công an đã ban hành nhiều thông tư liên bộ quy định trách nhiệm của hai ngành trong công tác phối hợp phòng chống và đấu tranh tội phạm Đến năm 1980, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp năm 1980 trong đó quy định chức năng của VKS như sau: VKSND tối cao nước Cộng hoà XHCN Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các VKSND địa phương, các VKS quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình (Điều 138) Trên cơ sở đó Luật tổ chức VKSND năm 1981 đã quy định cụ thể chức năng kiểm sát khởi tố tại Chương II Tuy nhiên, trong giai đoạn này chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về trình tự thủ tục hoạt động điều tra, cũng như hoạt động kiểm sát KTVA hình sự, từ đó dẫn đến việc gặp nhiều khó khăn trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm

2.1.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến nay

Ngày 28/6/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII đã thông qua BLTTHS đầu tiên của nước ta đánh dấu một bước phát triển lớn trong hoạt động lập pháp của Quốc hội BLTTHS đã quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục khởi tố - điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, bên cạnh đó có quy định về hoạt động của VKS trong giai đoạn khởi tố với mục đích là nhằm xử lý

Trang 40

công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan

người vô tội Điều 23 BLTTHS này quy định: “VKS c nhiệm vụ kiểm sát việc tuân

theo pháp luật tố tụng hình sự, thực hiện quyền công tố bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong các giai đoạn của tố tụng hình

sự, VKS c trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc t chức nào” Với quy định đó

VKS thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với toàn bộ hoạt động tố tụng của CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Như vậy, từ giai đoạn này trở

đi, hoạt động của VKS trong KTVA hình sự được thực hiện theo quy định của một văn bản quy phạm pháp luật và trong suốt thời gian hơn 15 năm thực hiện BLTTHS, chức năng của VKS trong KTVA hình sự đã góp phần quan trọng trong công cuộc phòng chống, đấu tranh các loại tội phạm, đảm bảo việc ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội, đồng thời tăng cường pháp chế XHCN

Năm 2001, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa X đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (sau đây được gọi là Hiến pháp năm 1992 sửa đổi), lần sửa đổi này

đã điều chỉnh chức năng của VKS với quy định: “VKSND thực hành quyền công tố

và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”

(Điều 137) Như vậy, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã quy định rõ kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng chính của VKS, điều đó thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và trong KTVA hình sự nói riêng là chức năng quan trọng và chỉ giao cho cơ quan VKS thực hiện Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức VKSND năm 2002 được ban hành và tại các Điều 12, 14

chương II quy định: “VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo

pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các CQĐT và các c quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra”

Năm 2003, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI đã tiến hành thảo luận và thông qua BLTTHS năm 2003 thể hiện những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự,

trong đó tại Điều 2 Chương II - Những nguyên tắc cơ bản có quy định: “VKS kiểm sát

Ngày đăng: 02/08/2019, 19:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Quốc hội (2015), Luật t chức C quan điều tra hình sự năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật t chức C quan điều tra hình sự năm 2015
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
9. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2008), háp lệnh Công an xã năm 2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: háp lệnh Công an xã năm 2008
Tác giả: Ủy ban thường vụ Quốc hội
Năm: 2008
10. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2015), Luật t chức C quan điều tra hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật t chức C quan điều tra hình sự
Tác giả: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Năm: 2015
11. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2014 , Quyết định số 422/QĐ-VKSTC ngày 17/10/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc ban hành Quy chế kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2014
12. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2018), Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố ban hành kèm theo Quyết định số 169 ngày 02/5/2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố ban hành kèm theo Quyết định số 169 ngày 02/5/2018
Tác giả: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2018
13. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tối cao (2018), Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử ban hành kèm theo Quyết định số 03 ngày 29/12/2017Tài liệu khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử ban hành kèm theo Quyết định số 03 ngày 29/12/2017
Tác giả: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tối cao
Năm: 2018
14. Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên) (2016), Những nội dung mới trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung mới trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2016
15. Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương (2005), Đề án Chiến lược cải cách tư pháp giai đoạn từ năm 2006 đến 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Chiến lược cải cách tư pháp giai đoạn từ năm 2006 đến 2020
Tác giả: Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương
Năm: 2005
16. Bùi Mạnh Cường (2017), “Những vấn đề cơ bản về thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”, Tạp chí kiểm sát, (19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Bùi Mạnh Cường
Năm: 2017
18. Nguyễn Đình Đức (2017), “Kinh nghiệm trong kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng”, Tạp chí kiểm sát, (19), tr.30-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm trong kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Đình Đức
Năm: 2017
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2015 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2015 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
22. Lưu Thanh Hùng (2018), “Bàn về căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí dân chủ pháp luật, tại địa chỉ: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=228 ngày truy cập 01/6/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Lưu Thanh Hùng
Năm: 2018
23. Nguyễn Như Hùng (2018), Thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố, kiểm sát điều tra vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, Tạp chí kiểm sát, (05) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Như Hùng
Năm: 2018
24. Nguyễn Quang Huy (2017), “Hoạt động phòng ngừa tội phạm của lực lượng Công an nhân dân và quan hệ phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm”, Tạp chí kiểm sát, (06) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động phòng ngừa tội phạm của lực lượng Công an nhân dân và quan hệ phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Quang Huy
Năm: 2017
25. Nguyễn Việt Hà (2017), "Kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên c sở thực tiễn địa bàn tỉnh h Thọ ", Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên c sở thực tiễn địa bàn tỉnh h Thọ
Tác giả: Nguyễn Việt Hà
Năm: 2017
26. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 2, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam
Tác giả: Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2002
27. Nguyễn Văn Lợi & Nguyễn Ngọc Phòng (2018), Một số nội dung cần lưu ý khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, Tạp chí kiểm sát, (06) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Văn Lợi & Nguyễn Ngọc Phòng
Năm: 2018
28. Võ Khánh Vinh (2003), "Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN", Nhà nước và pháp luật, (8), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w