1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ, tài liệu của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự việt nam

110 117 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 5,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể, luận văn giải thích các khái niệm liên quan đến nguyên tắc; chỉ ra ý nghĩa của nguyên tắc đối với hoạt động tố tụng dân sự nói riêng và thực hiện pháp luật nói chung; cơ sở hình

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THÙY LINH

ĐỀ TÀI

NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP CHỨNG CỨ, TÀI LIỆU CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG TỐ TỤNG

DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Định hướng Nghiên cứu

Hà Nội – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THÙY LINH

ĐỀ TÀI

NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP CHỨNG CỨ, TÀI LIỆU CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG TỐ TỤNG

DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Định hướng Nghiên cứu

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số : 8380103

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN ANH TUẤN

Hà Nội – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và chân thực của luận văn này

TÁC GIẢ CỦA LUẬN VĂN

Nguyễn Thùy Linh

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 7

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP CHỨNG CỨ CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THẨM QUYỀN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 7

1.1 Khái niệm, ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự 7

1.1.1 Khái niệm nguyên tắc trách nhiệm của trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 7

1.1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 10

1.2 Cơ sở của nguyên tắc 12

1.2.1 Cơ sở lí luận 13

1.2.2 Cơ sở pháp lý 16

1.2.3 Cơ sở thực tiễn 20

1.3 Điều chỉnh pháp luật về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 21

1.3.1 Chủ thể thực hiện nguyên tắc 22

1.3.2 Phạm vi thực hiện nguyên tắc 23

1.3.3 Trình tự, thủ tục thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 25

1.3.4 Trách nhiệm khi không thực hiện nguyên tắc hoặc thực hiện không đầy đủ nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ, tài liệu 25

1.4 Mối quan hệ của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền với nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự 26

1.5 Lược sử quy định của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 28

Trang 6

1.5.1 Pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam 28

1.5.2 Pháp luật tố tụng dân sự thời kì Pháp thuộc đến trước 1990 30

1.5.3 Pháp luật tố tụng dân sự từ 1990 đến nay 32

CHƯƠNG 2 38

NỘI DUNG NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP CHỨNG CỨ CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THẨM QUYỀN TRONG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 38

2.1 Quy định về chủ thể có trách nhiệm cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc Tòa án, VKS 38

2.2 Quy định về trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc cung cấp đầy đủ chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc Tòa án, VKS 40

2.2.1 Xác định loại tài liệu, chứng cứ mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có trách nhiệm cung cấp trong các vụ việc dân sự 41

2.2.2 Xác định phạm vi trách nhiệm cung cấp chứng cứ, tài liệu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 47

2.3 Quy định về trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc cung cấp đúng thời hạn chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc Tòa án, VKS… 51

2.4 Quy định về trình tự, thủ tục thực hiện trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 57

2.5 Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong trường hợp không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ hoặc cung cấp chứng cứ không đúng thời hạn theo yêu cầu của đương sự hoặc Tòa án, VKS 59

CHƯƠNG 3 65

THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP CHỨNG CỨ CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THẨM QUYỀN VÀ KIẾN NGHỊ 65

3.1 Thực tiễn thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 65

Trang 7

3.2 Kiến nghị về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 78

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 78 3.2.2 Kiến nghị thực hiện pháp luật về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cơ quan, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền 84

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Xã hội là một hệ thống các quan hệ đa dạng và phức tạp Thông qua các quan hệ

xã hội, các chủ thể đạt được mục đích của mình bằng việc thực hiện hoặc không thực hiện một hành động nào đó Tương tác trong quan hệ xã hội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người Dần dần, khi có sự xuất hiện của Nhà nước và pháp luật thì các quan hệ xã hội được điều chỉnh để nhằm duy trì một trật tự ổn định chung, đảm bảo lợi ích chung Khi đã được nâng lên thành quan hệ pháp luật, các quan hệ xã hội sẽ được bảo đảm thực thi theo một trình tự, thủ tục nhất định Khi tham gia vào các quan hệ này, các chủ thể phải thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ do luật định Khi quyền, lợi ích hợp pháp của một chủ thể bị xâm phạm do hành vi vi phạm của một chủ thể khác thì sẽ được pháp luật bảo vệ thông qua cơ chế tố tụng

Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đóng vai trò là một luật hình thức, cung cấp cho các chủ thể một loại công cụ mạnh nhất để có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp bị xâm phạm Một cơ chế tố tụng hiệu quả đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tất cả các thời kì, với các kiểu nhà nước, tạo niềm tin cho các chủ thể vào nhà nước và pháp luật, thúc đẩy các chủ thể tham gia tích cực vào các quan hệ dân sự, thương mại trên thị trường, góp phần phát triển xã hội Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, nhu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật, không chỉ pháp luật nội dung mà cả pháp luật tố tụng, xuất hiện tất yếu để thu hút không chỉ các thành phần kinh tế trong nước mà còn cả các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào phát triển kinh tế

Trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh trước hết thuộc về người đưa ra yêu cầu giải quyết tại Tòa án Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, không phải lúc nào người đưa ra yêu cầu cũng có trong tay đầy đủ các chứng cứ cần thiết để chứng minh Vì vậy, để hỗ trợ cho đương sự trong quá trình chứng minh, pháp luật tố tụng dân sự tạo ra một công cụ đó là cho phép đương sự hoặc cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu các chủ thể đang nắm giữ chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự cung cấp chứng

Trang 9

cứ, tài liệu đó Đồng thời, pháp luật cũng yêu cầu các chủ thể phải cung cấp tài liệu, chứng cứ do mình nắm giữ để giải quyết vụ việc dân sự Đây chính là nội dung của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được quy định lần đầu tiên tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS năm 2004), được sửa đổi tại Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và tiếp tục được kế thừa tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2015) Việc tiếp tục duy trì quy định về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giúp cho đương sự có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình, đồng thời góp phần giúp cho Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự một cách đúng đắn, chính xác và nhanh chóng Tuy nhiên, từ BLTTDS năm

2004, sau đó là BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 đến nay, quy định về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hầu như không có gì thay đổi Các vướng mắc cả về pháp lý lẫn thực tiễn vẫn xuất hiện làm giảm hiệu quả của nguyên tắc Việc nghiên cứu về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức là rất cần thiết

Chính vì vậy, học viên lựa chọn đề tài “Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng

cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự Việt Nam” cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về chứng cứ trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, do chứng cứ là nội dung quan trọng trong pháp luật tố tụng dân sự cả Việt Nam cũng như trên thế giới Đề cập đến trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, có thể kể đến Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012 : “ Một số vấn đề lí luận về chứng minh trong tố tụng dân sự” Ngoài ra, các công trình khác cũ hơn như Công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước của Toà án nhân dân tối cao năm 1996 nghiên cứu về “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự”; Công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của trường Đại học Luật

Trang 10

Hà Nội 2001 nghiên cứu về “Cơ sở khoa học của việc hoàn thiện một số chế định

cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” tập trung nghiên cứu chung về chứng cứ và chứng minh nói chung

Ở cấp nghiên cứu cá nhân, các đề tài Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ liên quan đến hoạt động thu thập chứng cứ, chứng minh khá phổ biển Một số đề tài gần đây

có thể kế tới như : Lụân văn “ Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Văn Thành năm 2013, Luận văn “ Hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong tố tụng dân sự” của tác giả Đặng Minh Chiến năm

2016, Luận văn “ Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Hương năm 2013 Tuy nhiên, các Luận văn chỉ tập trung vào hoạt động thu thập chứng cứ, trong đó, đề cập một phần đến trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Năm 2014, tác giả Ngũ Thị Như Hoa có công trình nghiên cứu khái quát đầu tiên về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Trong luận văn, tác giả đi sâu phân tích các cơ sở lý luận và quy định của BLTTDS năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Tuy nhiên, hiện nay, sau sự

ra đời của BLTTDS năm 2015 thì chưa có môt công trình nghiên cứu nào tương tự

Trang 11

b Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu trên, Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề cụ thể như sau:

bảo đảm thực hiện nguyên tắc, mối quan hệ của nguyên tắc với nguyên tắc chứng

cứ, chứng minh trong tố tụng dân sự Đây là những cơ sở lý luận cơ bản khi nghiên cứu về một nguyên tắc của pháp luật tố tụng dân sự

nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự Nghiên cứu lược sử để thấy sự thay đổi và phát triển của nguyên tắc qua các thời kì khác nhau, cũng như chỉ ra sự cần thiết phải quy định nguyên tắc

nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự Để làm rõ hơn các quy định hiện hành của pháp luật tố tụng dân sự, Luận văn mở rộng nghiên cứu các quy định khác có liên quan của pháp luật nội dung Tuy nhiên, trong khuôn khổ Luận văn, học viên chỉ nghiên cứu một số ngành luật có quy định về quản lý, lưu giữ, khai thác, sử dụng các thông tin, tài liệu, chứng

cứ của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều chỉnh một số quan hệ xã hội mang tính chất phổ biến, thường gặp trong thực tiễn tố tụng tại Tòa án

chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tại Tòa án cũng như VKS nhân dân trong những năm gần đây và chỉ ra các vướng mắc cả về pháp lý và thực thi, đề xuất giải pháp khắc phục

4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là hệ thống lý luận pháp lý, các quy định của pháp luật hiện hành về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ, tài liệu của

cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng như thực tiễn thực hiện nguyên tắc

b Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 12

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn cần hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Thứ nhất, làm rõ được hệ thống lý luận liên quan đến nguyên tắc cung cấp chứng

cứ, tài liệu của cá nhân, cơ quan, tổ chức, giải thích được vì sao cần có nguyên tắc trong tố tụng dân sự Việt Nam

Thứ hai, phân tích, đánh giá, so sánh các quy định về nguyên tắc cung cấp chứng

cứ, tài liệu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định trong BLTTDS năm 2015 với BLTTDS năm 2004 và BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011

Thứ ba, nêu và phân tích thực tiễn thực hiện nguyên tắc cung cấp chứng cứ, tài liệu của cá nhân, cơ quan, tổ chức, từ đó xây dựng đề xuất, kiến nghị hoàn thiện luật

và nâng cao hiệu quả thực hiện trong thực tiễn

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên quan điểm, quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tôn trọng sự thật khách quan của đối tượng, xem xét vấn đề một cách toàn diện Đồng thời, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành để nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề dưới góc độ pháp luật như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về mặt lý luận, luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề cơ bản của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Cụ thể, luận văn giải thích các khái niệm liên quan đến nguyên tắc; chỉ ra ý nghĩa của nguyên tắc đối với hoạt động tố tụng dân sự nói riêng và thực hiện pháp luật nói chung; cơ sở hình thành nguyên tắc; phân tích các yếu tố cần có để bảo đảm thực hiện nguyên tắc; chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức và nguyên tắc chứng cứ, chứng minh Luận văn cũng cung cấp một cái nhìn xuyên suốt về nguyên tắc từ những văn bản pháp luật tố tụng đầu tiên đến hiện nay Qua đó, luận văn khẳng định sự cần thiết phải quy định nguyên tắc cũng như các yếu tố cần chú ý khi quy định nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Trang 13

Về thực tiễn, Luận văn phân tích được quy định hiện hành của BLTTDS năm

2015 về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền trên các khía cạnh chủ thể có quyền yêu cầu; chủ thể thực hiện yêu cầu cung cấp chứng cứ; phạm vi, mức độ cung cấp chứng cứ; trình tự, thủ tục cung cấp chứng cứ; trách nhiệm trong trường hợp vi phạm nguyên tắc Luận văn còn đưa

ra các số liệu, các ví dụ thực tiễn về thực hiện nguyên tắc, các khó khăn, vướng mắc làm giảm hiệu quả thực hiện nguyên tắc và đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự

Chương 2: Nội dung nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hiện hành

Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP CHỨNG CỨ CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THẨM

QUYỀN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1 Khái niệm, ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của

cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự

1.1.1 Khái niệm nguyên tắc trách nhiệm của trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Luật tố tụng dân sự được coi là luật hình thức, quy định trình tự, thủ tục để giải quyết một vụ việc dân sự Mục đích của luật tố tụng dân sự là đảm bảo đưa các quan hệ pháp luật nội dung (quan hệ pháp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động) bị hành vi vi phạm làm tổn hại trở về trạng thái cân bằng ban đầu đã được pháp luật nội dung quy định và bảo đảm thực hiện Chính vì vậy, pháp luật tố tụng dân sự có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống pháp luật Là một ngành luật nói riêng, một phần của hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật tố tụng dân sự cũng có các nguyên tắc cơ bản có tính định hướng trong việc xây dựng các quy định cụ thể của ngành luật này

Theo nghĩa chung, nguyên tắc được hiểu là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải

phép tắc, chuẩn mực, điều lệ căn bản phải tôn trọng trong lời nói hoặc xử sự, là cách

nguyên tắc, có hai từ ngữ thường được dùng để diễn tả, đó là “rule” và “principle” Tuy nhiên, từ “principle” thường được dùng trong các văn bản pháp lý để nói về nguyên tắc của các ngành luật nhiều hơn, do tính phổ quát của từ

Việc xác định và triệt để thực hiện các nguyên tắc đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng dân sự Tố tụng dân sự là một dạng của hoạt động thực tiễn, nhằm

1 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.694

truy cập 01/11/2017

Trang 15

bảo vệ các quyền và lợi ích dân sự hợp pháp của chủ thể, do vậy cần phải có các nguyên tắc nhất định để điều chỉnh hoạt động này

Nguyên tắc của luật tố tụng dân sự Việt Nam là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự và được ghi

dân sự được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay được quy định tại các điều, từ Điều 3 đến Điều 24 BLTTDS năm 2015 Nội dung các nguyên tắc này thể hiện năm vấn đề cơ bản của tố tụng dân sự như tính tuân thủ pháp luật của hoạt động tố tụng dân sự; nguyên tắc tổ chức và hoạt động xét xử các

vụ việc dân sự của Tòa án; bảo đảm quyền tham gia tố tụng của các đương sự; trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng dân sự đối với việc giải quyết vụ việc dân sự; vai trò, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức khác đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án

Nằm trong nhóm nguyên tắc thể hiện vai trò, trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của

cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hiện nay được quy định tại Điều 7 BLTTDS năm 2015

phần việc mà mình phải gánh nhận, và phải chịu luôn kết quả xấu tốt của việc đó Trong đời sống xã hội, ở những lĩnh vực khác nhau, thuật ngữ “trách nhiệm” được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau

Trong lĩnh vực hoạt động xã hội, chỉnh trị, đạo đức, thuật ngữ “trách nhiệm” được hiểu theo khía cạnh tích cực – đó là bổn phận hoặc thái độ tích cực đối với bổn phận đó Nếu “thiếu trách nhiệm” thì sẽ bị cộng đồng xã hội đánh giá xấu và lên án – đó là cách hiểu theo nghĩa tiêu cực Các nghĩa này của từ “trách nhiệm” thường được dùng trong các quan hệ gia đình, bạn bè, quan hệ với tập thể, nhân dân, tổ quốc nói chung hoặc với toàn nhân loại

3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.32

Trang 16

Trong khoa học pháp lý, “trách nhiệm” được dùng với cả hai khía cạnh tích cực

và tiêu cực Ở góc độ tính cực, “khái niệm” trách nhiệm có nghĩa là chức trách, công việc được giao, nó bao hàm cả quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định Ở khía cạnh tiêu cực, khái niệm “trách nhiệm” được hiểu là hậu quả bất lợi mà cá nhân hoặc tố chức phải gánh chịu khi không thực hiện hay thực hiện không đúng

“trách nhiệm” trong nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được hiểu ở góc độ tích cực, bởi nguyên tắc, như đã phân tích ở trên, là những tư tưởng mang tính chỉ đạo, đường lối Trách nhiệm trong nguyên tắc không thể hiểu ở khía cạnh nhỏ, chỉ đơn thuần là trách nhiệm pháp lý,

mà bao hàm cả quyền và nghĩa vụ trong việc cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, chứng cứ đóng vai trò vô cùng quan trọng Khi một tranh chấp xảy ra, các bên tranh chấp đều có quyền đưa ra các bằng chứng, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu và lập luận của mình Chứng cứ là cái có thật, theo một trình tự do luật định được Tòa án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ

về mặt ngữ nghĩa thông thường, cung cấp chứng cứ được hiểu là đem những cái có thật ra để Tòa án dùng làm căn cứ giải quyết vụ việc dân sự

Tuy nhiên, không phải mọi tình tiết, thông tin đều có thể trở thành chứng cứ Trong tranh chấp, các bên đều có xu hướng đưa ra các thông tin, dữ liệu có lợi cho mình, chứng minh yêu cầu của mình là đúng Tòa án chỉ sử dụng các thông tin, tình tiết đáp ứng các điều kiện luật định để được coi là chứng cứ khi giải quyết vụ việc dân sự Thông thường, các bên trong tranh chấp sẽ là những chủ thể chủ yếu đưa ra các vật chứng, phương tiện chứa đựng chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình Nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, điều này hiện nay cũng được coi là một nguyên tắc của BLTTDS năm 2015 Nhưng trong thực tế, vì nhiều lí do khách quan,

Nội, Hà Nội, tr.323

Trang 17

chứng cứ có thể không do các bên tranh chấp nắm giữ, quản lý Lúc này, để thực hiện được nghĩa vụ chứng minh của mình và để phục vụ cho hoạt động giải quyết

vụ việc dân sự, các bên tranh chấp hoặc cơ quan có thẩm quyền là Tòa án, VKS yêu cầu các cá nhân, cơ quan, tổ chứ có thẩm quyền cung cấp chứng cứ

Khi có yêu cầu từ đương sự, Tòa án,VKS, cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đang nắm giữ chứng cứ có trách nhiệm đưa ra chứng cứ Điều này có nghĩa đây vừa là quyền vừa là trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức Cá nhân, cơ quan, tổ chức phải cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ, tài liệu cho Tòa án theo đúng thời hạn Việc cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng ( Tòa án, VKS) phải được thực hiện kịp thời, đầy đủ chứng cứ, tài liệu trong thời hạn

do các chủ thể này ấn định nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tố tụng Pháp luật cũng cần phải đặt ra chế tài đối với trường hợp

cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, nắm giữ chứng cứ, tài liệu không thực hiện hoặc thực hiện không tốt nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tài liệu theo yêu cầu của đương sự, Tòa án, VKS để bảo đảm thực hiện trách nhiệm của các chủ thể này Tùy theo chủ thể vi phạm hoặc mức độ vi phạm mà hành vi vi phạm có thể bị xử lý theo chế tài kỷ luật, hành chính hoặc hình sự

Như vậy, có thể rút ra kết luận, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của

cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, xác định trách nhiệm phối hợp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đang lưu giữ, quản lý chứng cứ, tài liệu trong việc cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc dân sự khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án hoặc VKS, đồng thời xác định trách nhiệm pháp lý của các chủ thể này trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, kịp thời trách nhiệm của mình 8

1.1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

tố tụng dân sự, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.7

Trang 18

Ghi nhận trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trở thành một nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng trong tố tụng dân sự Nguyên tắc này đóng vai trò tạo tiền đề cũng như cơ sở pháp lý cho nhiều quyền khác trong

tố tụng dân sự Cụ thể, nguyên tắc thể hiện ý nghĩa đặc biệt quan trọng hỗ trợ quá trình giải quyết vụ việc dân sự của đương sự và cơ quan tiến hành tố tụng là Tòa án, VKS

Đối với đương sự, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tạo cơ sở để đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 6 BLTTDS năm 2015 Xác định rõ nghĩa vụ chứng minh trong một vụ việc dân sự cho thấy sự thay đổi quan điểm của các nhà lập pháp

là một nguyên tắc phổ biến trong pháp luật tố tụng quốc tế Đây cũng là lí do tại sao trong vụ án hình sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bởi các cơ quan tiến hành tố tụng khởi động quá trình điều tra, truy tố một chủ thể

và yêu cầu Tòa án xác định hành vi vi phạm của chủ thể đó Tương tự như vậy, trong vụ việc dân sự, để chứng minh cho yêu cầu của mình là có cơ sở và hợp pháp, đương sự có nghĩa vụ chứng minh Để chứng minh được, đương sự buộc phải cung cấp chứng cứ liên quan Tuy nhiên, không phải lúc nào mọi chứng cứ, tài liệu cũng

do đương sự nắm giữ, quản lý Khi chứng cứ do các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác quản lý thì đương sự cần một công cụ pháp lý để có thể yêu cầu sự hợp tác từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức này Trong trường hợp đó, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là công cụ phát huy hiệu quả tốt nhất và được ghi nhận trong luật, nâng cao mức độ bắt buộc phải thực hiện Khác với hoạt động thu thập chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự, có thể sử dụng quyền lực Nhà nước trong các trường hợp bắt buộc cưỡng chế, các đương sự gần như không có công cụ hỗ trợ nào để yêu cầu các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giao chứng cứ nếu không có quy định của pháp luật về trách nhiệm này

9 Bruce L Hay & Kathryn E Spier (1997), Burdens of Proof in Civil Litigation: An Economic Perspective,

The Journal of Legal Studies, p.415

Trang 19

Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, Tòa án, VKS thì nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tạo tiền đề thực hiện quyền thu thập chứng cứ của Tòa án, VKS nói chung và người tiến hành tố tụng trực tiếp tham gia giải quyết vụ việc dân sự nói riêng như Thẩm phán, Thẩm tra viên, Kiểm sát viên Pháp luật tố tụng dân sự xác định, Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập Đồng thời, pháp luật cho phép Tòa án chủ động thu thập chứng cứ trong một số trường hợp luật định VKS thu thập tài liệu, chứng cứ để thực hiện thẩm quyền kiểm sát tố tụng, thể hiện quan điểm khi tham gia phiên tòa, phiên họp sơ thẩm, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Để thực hiện được quyền này, các

cá nhân, cơ quan tiến hành tố tụng cũng cần một cơ sở pháp lý để yêu cầu cá nhân,

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đang quản lý chứng cứ, tài liệu cung cấp Việc thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu giúp Tòa án, VKS nhanh chóng tìm thấy các tình tiết cần thiết để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Hơn nữa, nguyên tắc cũng yêu cầu phải cung cấp kịp thời, trong thời hạn nhất định, điều này giúp đảm bảo hiệu quả cao nhất của hoạt động thu thập chứng cứ

Ngoài ý nghĩa dễ dàng thấy được đối với các chủ thể liên quan trực tiếp, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền còn thúc đẩy sự tham gia chủ động, tích cực của tất cả các chủ thể trong xã hội vào hoạt động giải quyết vụ việc dân sự Sự phối hợp giữa công dân, tổ chức, các cơ quan hành chính với cơ quan tư pháp là một trong những điều kiện để giúp hoạt động thu thập chứng cứ của cơ quan tư pháp đạt hiệu quả tốt hơn Đồng thời, thực hiện trách nhiệm cung cấp chứng cứ cũng là cách thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân được quy định trong Hiến pháp 2013

1.2 Cơ sở của nguyên tắc

Với những ý nghĩa đối với đương sự cũng như cá nhân, cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt để hỗ trợ cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự diễn ra được nhanh chóng, chính xác, có thể quy định trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thành một nguyên tắc của luật tố tụng dân sự là rất cần

Trang 20

thiết Việc xây dựng nguyên tắc được thực hiện dựa trên những cơ sở lý luận, pháp

Chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm các hoạt động nối tiếp nhau, do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện Các hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm: cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ Mỗi hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự do một chủ thể thực hiện, với một mục đích cụ thể nhưng tất cả đều hướng đến mục đích cuối cùng là tái hiện lại sự thật khách quan của vụ

Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng nhằm phục vụ cho hoạt động cung cấp chứng cứ Hoạt động cung cấp chứng cứ là hoạt động của các chủ thể trong việc giao cho Tòa án các chứng cứ Hoạt động cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự do đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện Đồng thời, các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác đang lưu giữ, quản lý chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự cũng có trách nhiệm giao nộp cho cơ quan tố tụng khi được yêu cầu Việc giao nộp chứng cứ có thể thực hiện trong bất kì thời

10 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Một số vấn đề lí luận về chứng minh trong tố tụng dân sự, Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội, tr.15

Trang 21

điểm nào của quá trình tố tụng dân sự Tuy nhiên việc giao nộp diễn ra càng sớm thì

cơ quan tố tụng càng có điều kiện thuận lợi để kiểm tra, đánh giá chứng cứ

Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được dựa trên lý luận về mối quan hệ giữa cá nhân và Nhà nước

Xét về nguồn gốc và bản chất của Nhà nước, Nhà nước được hình thành từ xã hội

có giai cấp, cho nên nó vừa mang tính chất giai cấp vừa mang tính xã hội sâu sắc Tính chất xã hội của Nhà nước thể hiện rõ trong mối quan hệ lệ thuộc vào nhau, tác động qua lại lẫn nhau giữa Nhà nước và xã hội Nhà nước tồn tại và phát triển trong lòng xã hội, chịu sự chi phối của xã hội; ngược lại, xã hội cũng chịu tác động và sự ảnh hưởng trực tiếp từ Nhà nước với tư cách là tổ chức quyền lực điều hành xã hội,, quản lí xã hội bằng pháp luật Xã hội là một cộng đồng những cá nhân, do vậy, thực chất của quan hệ giữa Nhà nước với xã hội là quan hệ giữa tổ chức quyền lực chính

Quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân được thể hiện qua sự tác động của Nhà nước tới cá nhân và sự tác động ngược lại của cá nhân với Nhà nước Trong đó, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng trên cơ sở sự tác động của cá nhân tới Nhà nước trong lí luận về quan hệ giữa cá nhân và Nhà nước Sự tác động tích cực của cá nhân tới Nhà nước diễn ra khi chính sách, pháp luật của Nhà nước phản ánh được ý chí, lợi ích, nguyện vọng của tất cả các cá nhân hoặc chí ít là đa số các cá nhân trong xã hội Trong trường hợp này, cá nhân luôn luôn ủng hộ, giúp đỡ Nhà nước trong việc thực thi quyền lực Nhà nước một cách chủ động, tự giác và sáng tạo dưới nhiều hình thức khác nhau

Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chính là một công cụ của pháp luật tố tụng dân sự để tất cả các cá nhân, đặc biệt là các cá nhân độc lập hoặc thuộc các cơ quan, tổ chức đang nắm giữ, quản

lý các chứng cứ có liên quan đến quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, thể hiện vai trò tích cực, chủ động trong quan hệ với Nhà nước, chủ động thực hiện việc đưa

11 Trường Đại học Luật Hà Nôi (2016), Giáo trình lí luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân,

Hà Nội, tr.192

Trang 22

ra các chứng cứ mà mình đang quản lý, nắm giữ cho đương sự, hoặc cơ quan tiến hành tố tụng để vụ việc dân sự được giải quyết nhanh chóng, đúng đắn, góp phần bảo vệ trật tự và lợi ích chung của xã hội

Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được dựa trên lý luận về mối quan hệ, sự phân công, phối hợp giữa các

cơ quan trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Việt Nam

Nguyên tắc quyền lực Nhà nước thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của

bộ máy Nhà nước Việt Nam hiện nay Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước phải vừa đảm bảo sự thống nhất của quyền lực Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả bộ máy, vừa phải bảo đảm

sự độc lập, chuyên môn hóa trong hoạt động của mỗi cơ quan nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của từng cơ quan cũng như của cả bộ máy Nhà nước, đồng thời phải đảm bảo có sự kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan Nhà nước nhằm ngăn chặn tình trạng lộng quyền, lạm quyền, chuyên quyền, độc đoán trong quá trình thực hiện

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án là cơ quan có vai trò chủ đạo quan trọng nhất Các cơ quan thực hiện các quyền hành pháp, lập pháp theo dõi, giám sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án khi thực hiện tố tụng dân sự Đồng thời, nếu có yêu cầu từ phía Tòa án, các cơ quan trong hệ thống bộ máy Nhà nước cũng cần có sự phối hợp tích cực Hoạt động giải quyết vụ việc dân sự là hoạt động chuyên môn hóa của Tòa án, nhưng để nâng cao hiệu quả và giúp quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan khác cần có sự phối hợp với Tòa án

Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng để tăng cường sự phối hợp của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước với Tòa án trong hoạt động thu thập chứng cứ Hoạt động thu thập

nhân dân, Hà Nội, tr.114

Trang 23

chứng cứ càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự bấy nhiêu

1.2.2 Cơ sở pháp lý

Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng về hoàn thiện pháp luật và cải cách tư pháp

Pháp lệnh giải quyết vụ án dân sự 1989 hoàn toàn không có quy định nào về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền mà chỉ quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự Tòa án, VKS có thể thu thập thêm chứng cứ khi cần thiết Pháp lệnh đã bộc lộ rõ rệt thiếu sót khi thực hiện trên thực tế Nghị quyết 08/2002/ NQ – TW về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” cho rằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp chưa hoàn thiện, chưa đồng bộ và còn nhiều sơ hở Để khắc phục tình trạng thiếu sót này, Nghị quyết 08/2002 đã đưa ra nhiệm vụ khẩn trương ban hành BLTTDS, thay thế Pháp lệnh

1989 làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp trong giải quyết vụ việc dân sự Thực hiện Nghị quyết 08/2002 năm 2004, BLTTDS được ban hành, trong đó, lần đầu tiên, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được quy định

Tiếp theo, Nghị quyết 49 – NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 có đưa ra một số nhiệm vụ cải cách tư pháp

liên quan đến pháp luật tố tụng dân sự : “ Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự

Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía Nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo về quyền

và lợi ích hợp pháp của mình” Năm 2014, Kết luận số 92 – KL/TW của Bộ Chính

trị đã khẳng định Nghị quyết số 49 – NQ/ TW của Bộ Chính trị khóa IX về Cải cách

tư pháp đến năm 2020 về cơ bản là đúng đắn, và khẳng định tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp dựa trên một số điều chỉnh về quan điểm và nhiệm

vụ cải cách tư pháp Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự ra đời của BLTTDS năm 2015

Trang 24

BLTTDS năm 2015 kế thừa và thúc đẩy sự phát triển của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân

sự bằng những quy định chặt chẽ hơn so với BLTTDS năm 2004 Đây là một trong những sửa đổi được thực hiện nhằm đáp ứng đúng yêu cầu của công tác cải cách tư pháp đã được nêu trong Kết luận số 92 và được khẳng định lại trong Chương trình trọng tâm công tác cải cách tư pháp nhiệm kỳ 2016 – 2021 về hoàn hiện chính sách

tố tụng tư pháp

Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng trên cơ sở các quy định Hiến pháp về quyền và nghĩa vụ của công dân

Điều 15 Hiến pháp 2013 nêu rõ : “…3 Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa

vụ đối với Nhà nước và xã hội 4 Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” Như vậy, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ

quan, tổ chức có thẩm quyền chính là sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về quyền và nghĩa vụ công dân

Trong xã hội, quyền và lợi ích của mỗi cá nhân công dân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Bất kì hành động nào xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật Khi một hành vi xâm phạm được giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự tại Tòa án, chứng cứ, tài liệu cần được giao nộp cho cơ quan tiến hành tố tụng để nhanh chóng xác định sự thật vụ án Cung cấp chứng cứ lúc này vừa là quyền vừa là nghĩa vụ không chỉ của các bên trực tiếp tranh chấp, mà còn là quyền và nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức đang trực tiếp nắm giữ, quản lý chứng cứ Cung cấp chứng cứ là một trong các cách thực hiện nghĩa vụ của công dân với Nhà nước trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự nói riêng và hoạt động tư pháp nói chung Hơn nữa, cung cấp chứng cứ cũng là cách thức các công dân thể hiện sự tôn trọng và góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân khác trong xã hội; đồng thời cũng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình khi công dân trở thành đương sự của một vụ việc dân sự cụ thể

Trang 25

Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng trên cơ sở quy định về nguyên tắc chứng cứ chứng minh trong tố tụng dân sự

Nguyên tắc chứng cứ chứng minh là một trong những nguyên tắc đặc trưng cơ bản nhất của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam nói riêng và pháp luật tố tụng thế giới nói chung Các học thuyết về nghĩa vụ chứng minh (the burden of proof) không ngừng phát triển theo chiều dài lịch sử khoa học pháp lý Dần dần, nghĩa vụ chứng minh trở thành một thuật ngữ quen thuộc không chỉ trong lĩnh vực pháp luật mà còn trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Pháp luật tố tụng Việt Nam, bao gồm

cả tố tụng hình sự và tố tụng dân sự, cũng ghi nhận các nguyên tắc liên quan đến chứng minh từ rất sớm

Nghĩa vụ chứng minh, hiểu một cách đơn giản là, bên nào đưa ra yêu cầu hoặc tuyên bố thì có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu hoặc tuyên

bố của mình Nội dung này được ghi nhận trong Điều 6 BLTTDS năm 2015 về cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự; được cụ thể hóa tại Điều 91

về nghĩa vụ chứng minh Theo đó, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ

và hợp pháp

Xác định chứng minh vừa là quyền vừa là nghĩa vụ đóng vai trò quan trọng trong

tố tụng dân sự, bởi khác với tố tụng hình sự, giải quyết quan hệ nội dung của pháp luật hình sự giữa cá nhân và Nhà nước, tố tụng dân sự giải quyết quan hệ nội dung pháp luật dân sự giữa các chủ thể với nhau Chính vì vậy, khi giải quyết vụ việc dân

sự, các chủ thể phải đóng vai trò chính, thể hiện sự chủ động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình Trên cơ sở nguyên tắc, một loạt các quy định khác được ra đời để đảm bảo đương sự có đầy đủ công cụ thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được quy định trên cơ sở này Tuy nhiên, mối quan hệ giữa hai nguyên tắc này sẽ được phân kĩ hơn trong tiểu mục 1.4

Trang 26

Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng trên cơ sở quy định về quyền tiếp cận công lý của công dân

Quyền tiếp cận công lý không phải là một khái niệm mới, tuy nhiên vẫn còn gây nhiều tranh cãi Tại Việt Nam, cũng không nhiều các nghiên cứu lý luận lẫn thực tiễn liên quan đến tiếp cận công lý Nhiều ý kiến cho rằng, trong mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền, quyền tiếp cận công lý là hiển nhiên, được mở rộng và áp dụng trong tất cả các hoạt động của đời sống xã hội Tại Hội thảo Khoa học về

“Công lý và quyền tiếp cận công lý: những vấn đề lý luận và thực tiễn” tổ chức tại

Hà Nội ngày 18 tháng 04 năm 2018, các chuyên gia đã bàn luận đến những khái niệm cơ bản nhất của quyền tiếp cận công lý cũng như cách thể hiện trong pháp luật

Vấn đề bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân trong bối cảnh hiện nay gắn liền và thể hiện rõ ràng nhất thông qua hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp, yêu cầu tại Tòa án Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp 2013 ghi nhận rõ ràng rằng Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Tòa án là một trong những phương thức quan trọng nhất để người dân tiếp cận với công lý có sự hỗ trợ của một cơ quan Nhà nước đặc biệt Và để xác định được sự thật đúng sai, đảm bảo công lý đến được với công dân, chứng cứ là công cụ để Tòa án đánh giá Dựa trên yêu cầu của công dân, kết hợp với các chứng cứ được giao nộp, Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật nội dung có liên quan, giải quyết vụ việc Chứng cứ được cung cấp càng chính xác thì khả năng tiếp cận được với công lý của công dân tại Tòa án càng cao Chính vì vậy, trong trường hợp chứng cứ liên quan đến vụ việc đang do cá nhân , cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nắm giữ quản lý thì các cá nhân,

cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm cung cấp cho Tòa án để Tòa án tiến hành thu

13 PV(2018), “Hội thảo Công lý và quyền tiếp cận công lý: những vấn đề lý luận và thực tiễn” tại địa chỉ:

tien-179870 truy cập ngày 04/05/2018

Trang 27

http://thanhtravietnam.vn/xa-hoi/hoi-thao-cong-ly-va-quyen-tiep-can-cong-ly-nhung-van-de-ly-luan-thuc-thập và đánh giá Đây là điều kiện để bảo đảm quyền tiếp cận công lý nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội

cứ có thể không do các chủ thể nắm giữ Điển hình có thể kể tới các tranh chấp về đất đai, lao động, sở hữu trí tuệ Với các tranh chấp này, có thể các chứng cứ cần thiết do các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước đang trực tiếp quản lý vì chức năng hoạt động của cơ quan mình Khi đó, các đương sự trong vụ việc dân sự cần một công cụ pháp lý đủ mạnh để có thể thu thập được chứng cứ cần cho việc giải quyết vụ án Tương tự, Tòa án hoặc VKS cũng cần phải thu thập chứng cứ trong trường hợp do luật quy định Vì vậy, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của

cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được thiết lập đáp ứng một đòi hỏi thiết yếu của quá trình giải quyết vụ việc dân sự trong thực tiễn

Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cần tiếp tục được duy trì và củng cố nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác và nhanh chóng

Như đã đề cập, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan,

tổ chức có thẩm quyền được ghi nhận lần đầu tiên trong BLTTDS năm 2004, sau lần sửa đổi năm 2011, quy định vẫn được giữ nguyên

Sau 10 năm thực hiện BLTTDS năm 2004, trong báo cáo tổng kết thi hành được gửi kèm với Dự thảo BLTTDS năm 2015 trong hồ sơ dự án luật, TANDTC đã kết

Trang 28

luận, quá trình thực thi quy định về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ

Theo quy định tại Điều 94 của BLTTDS năm 2004, thì “Cá nhân, cơ quan, tổ

chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật” Đồng thời, theo quy định của Điều 389 BLTTDS năm 2004,

thì “Cá nhân, cơ quan, tổ chức không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung

cấp chứng cứ mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang quản lý, lưu giữ thì có thể bị Tòa án quyết định phạt cảnh cáo, phạt tiền hoặc cưỡng chế thi hành”, “Cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó thì tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật” Tuy

nhiên, quy định này còn mang tính chất chung chung, không phù hợp thực tiễn nên không khả thi Mặt khác, thực tiễn cho thấy, việc các đương sự tự mình đi thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn, do không nhận được sự hợp tác của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ chứng cứ Nhiều trường hợp các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ chứng cứ không thực hiện đúng thời hạn yêu cầu cung cấp hoặc không cung cấp chứng cứ khi nhận được yêu cầu của Tòa án, VKS nên làm ảnh hưởng tới thời hạn và chất lượng giải quyết vụ án nhưng pháp luật hiện hành còn thiếu các quy định và chế tài cụ thể để xử lý vi phạm và bảo đảm thực hiện những quy định nêu trên

Như vậy, việc duy trì nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là không thể không thực hiện Đồng thời, BLTTDS năm 2015 cũng đứng trước yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung các quy định khác liên quan đến chứng cứ, chứng minh để đảm bảo thực hiện nguyên tắc, đưa nguyên tắc

đi vào thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự và phát huy tối đa ý nghĩa của nguyên tắc

1.3 Điều chỉnh pháp luật về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của

cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

14 Tòa án nhân dân tối cao (2015), Báo cáo tổng kết thi hành Bộ luật tố tụng dân sự 2004, Hà Nội, tr.11

Trang 29

Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được quy định trong BLTTDS ở chương đầu tiên về những nguyên tắc

cơ bản, và phải được cụ thể hóa trong các quy định ở các chương sau Một số vấn

đề mà pháp luật tố tụng dân sự phải quy định để đảm bảo thực hiện được nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, bao gồm:

1.3.1 Chủ thể thực hiện nguyên tắc

Xác định rõ chủ thể phải thực hiện nguyên tắc và quy định trong luật sẽ tạo ra căn cứ pháp lý vững chắc để các bên như đương sự, Tòa án, VKS gửi yêu cầu cung cấp chứng cứ Đồng thời, xác định rõ chủ thể của nguyên tắc cũng giúp xác định được trách nhiệm của chủ thể trong trường hợp chủ thể không cung cấp chứng cứ

Pháp luật tố tụng dân sự, với vai trò là luật hình thức, không thể và cũng không cần xác định cụ thể cá nhân, cơ quan, tổ chức nào phải cung cấp những chứng cứ gì, nhưng phải quy định nguyên tắc xác định các chủ thể có trách nhiệm cung cấp chứng cứ và dẫn chiếu đến luật nội dung

Theo quan điểm của học viên, có 2 điều kiện tiên quyết để xác định chủ thể phải thực hiện trách nhiệm cung cấp chứng cứ, bất kể là cá nhân, cơ quan hay tổ chức:

- Có yêu cầu cung cấp chứng cứ:

Khác với trách nhiệm cung cấp chứng cứ trong quan hệ pháp luật hình sự - đòi hỏi tính tự giác cao của chủ thể nắm giữ chứng cứ, chứng cứ trong quan hệ pháp luật dân sự đa dạng và khó xác định mức độ quan trọng hoặc liên quan đến vụ việc dân sự hơn Bản thân chủ thể đang quản lý, nắm giữ chứng cứ không thể tự mình xác định được các thông tin, dữ liệu mình đang quản lý, nắm giữ có được coi là

Trang 30

chứng cứ của vụ việc dân sự không Hơn nữa, nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương

sự là nguyên tắc luật định, các cá nhân, cơ quan, tổ chức cho dù đang quản lý, nắm giữ chứng cứ cũng không có nghĩa vụ phải chủ động chuyển giao toàn bộ các tài liệu, thông tin cho đương sự hoặc cơ quan tố tụng Chỉ có yêu cầu từ đương sự hoặc các cơ quan tố tụng mới tạo ra căn cứ để cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng

cứ

- Có cơ sở cho thấy cá nhân, cơ quan, tổ chức đang nắm giữ, quản lý chứng

cứ:

Yêu cầu cung cấp chứng cứ của đương sự hoặc cơ quan tố tụng phải là yêu cầu

có căn cứ Căn cứ đó có thể dựa trên các quy định của pháp luật hoặc thực tiễn nắm giữ, quản lý chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức Chỉ khi có căn cứ thì mới có

cơ sở để yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện trách nhiệm cung cấp chứng

cứ và có cơ sở để áp dụng chế tài nếu không thực hiện trách nhiệm này

1.3.2 Phạm vi thực hiện nguyên tắc

Xác định phạm vi thực hiện nguyên tắc để làm rõ: với yêu cầu của nguyên tắc thì đối tượng phải thực hiện những gì, thực hiện đến đâu Pháp luật tố tụng dân sự cần cân nhắc xây dựng các quy định về phạm vi thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức như sau:

- Phạm vi tài liệu, chứng cứ cung cấp: phạm vi tài liệu, chứng cứ cung cấp sẽ

được căn cứ trên yêu cầu cung cấp của đương sự hoặc cơ quan tiến hành tố tụng Pháp luật không cần quy định cụ thể về hình thức hoặc nội dung của chứng cứ vì đã

có quy định xác định thế nào là chứng cứ, nhưng cần một quy định chung để bản thân đương sự hoặc cơ quan tố tụng có cơ sở yêu cầu Việc xác định tài liệu, thông tin cung cấp có thể căn cứ trên quy định của pháp luật nội dung có liên quan, kết hợp với quy định về quyền tiếp cận thông tin và pháp luật về bí mật Nhà nước

- Mức độ cung cấp: Do mục đích của nguyên tắc là để hỗ trợ đương sự thực

hiện nghĩa vụ chứng minh và giúp cơ quan tố tụng giải quyết đúng đắn vụ việc dân

sự, nên khi có yêu cầu, cá nhân, cơ quan, tổ chức cần thực hiện trách nhiệm cung cấp chứng cứ của mình một cách đầy đủ, kịp thời và có tinh thần hợp tác

Trang 31

Pháp luật tố tụng dân sự cần có các tiêu chí để xác định sự đầy đủ và kịp thời của của hoạt động cung cấp chứng cứ từ cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo hướng phải cung cấp toàn bộ chứng cứ, tài liệu mà đương sự, cơ quan tố tụng yêu cầu nếu chứng cứ, tài liệu này do cá nhân, cơ quan, tổ chức đang nắm giữ Kịp thời

là sự đảm bảo về mặt thời gian tố tụng hay thời gian trong yêu cầu của đương sự hoặc cơ quan tố tụng Sự hợp tác thể hiện ở kết quả cung cấp chứng cứ, trong trường hợp không thể cung cấp chứng cứ thì cần nhanh chóng có thông báo bằng văn bản và nêu rõ lí do không thể cung cấp, đồng thời đề xuất các phương án thay thế nếu có thể

- Các trường hợp loại trừ của trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền:

Quy định các trường hợp loại trừ giúp việc thực hiện nguyên tắc trở nên linh hoạt hơn nhưng vẫn đảm bảo được tính chất định hướng của nguyên tắc Đối với nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, các trường hợp loại trừ có thể được nghiên cứu để quy định bao gồm:

+ Sự kiện bất khả kháng ảnh hưởng đến sự tồn tại của chứng cứ:

Pháp luật tố tụng dân sự có thể dẫn chiếu đến pháp luật dân sự khái niệm về sự kiện bất khả kháng để đảm bảo tính thống nhất, nhưng cần quy định hệ quả pháp lý trong trường hợp do sự kiện bất khả năng mà chứng cứ do cá nhân, cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền không còn tồn tại hoặc còn tồn tại nhưng không nguyên vẹn Đồng thời, quy định rõ, cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải chứng minh được

do sự kiện bất khả kháng ảnh hưởng đến sự tồn tại của chứng cứ Do tính chất quan trọng của chứng cứ, nên chỉ khi rơi vào trường hợp bất khả kháng khiến chứng cứ không còn hoặc còn nhưng không nguyên vẹn thì mới loại bỏ trách nhiệm bất lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

+ Sự kiện bất khả kháng ảnh hưởng đến khả năng cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền:

Tương tự như trên, pháp luật tố tụng dân sự cũng quy định rõ hệ quả pháp lý trong trường hợp do sự kiện bất khả kháng mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm

Trang 32

quyền chậm trễ hoặc chưa thể cung cấp chứng cứ, tài liệu thuộc thẩm quyền nắm giữ, quản lý của mình theo yêu cầu của đương sự hoặc cơ quan tố tụng

Quy định về các trường hợp loại trừ cũng giúp nâng cao ý thức, tinh thần tham gia vào quá trình giải quyết vụ án dân sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức, tránh tình trạng thoái thác hoặc không cung cấp mà không có lí do chính đáng

1.3.3 Trình tự, thủ tục thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Trình tự, thủ tục thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ cá nhân,

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cần được quy định cụ thể, bắt đầu từ thời điểm có đơn yêu cầu cung cấp chứng cứ của đương sự hoặc của cơ quan tiến hành tố tụng Trong đó, để đảm bảo đúng tính chất đầy đủ, kịp thời khi thực hiện trách nhiệm cung cấp chứng cứ, pháp luật cần xác định một thời hạn tố tụng cụ thể tính từ ngày

cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhận được đơn yêu cầu cung cấp chứng

cứ Quy định về thời hạn tố tụng là một trong những quy định quan trọng nhất khi thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền Thời hạn cung cấp phải phù hợp với quy định về thời hạn giao nộp chứng cứ của đương sự và thời hạn tố tụng nói chung

Bên cạnh quy định về thời hạn, pháp luật tố tụng dân sự cũng cần thống nhất các nội dung cần có trong đơn yêu cầu thực hiện trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và nội dung của văn bản trả lời trong trường hợp không thể thực hiện trách nhiệm này Chính văn bản này cũng sẽ là một nguồn căn cứ cho đương sự chứng minh lí do không thu thập được chứng cứ khi tham gia quá trình giải quyết vụ việc dân sự Vì vậy, pháp luật cần quy định những nội dung cần có trong văn bản để đảm bảo tính thống nhất và chính xác của văn bản

1.3.4 Trách nhiệm khi không thực hiện nguyên tắc hoặc thực hiện không đầy

đủ nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ, tài liệu

Do có tính chất bắt buộc thi hành nên nếu có yêu cầu cung cấp chứng cứ từ đương sự hoặc cơ quan tiến hành tố tụng mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm thì được xác định

là hành vi vi phạm pháp luật tố tụng dân sự

Trang 33

Đối với các hành vi vi phạm pháp luật thì luôn làm phát sinh hậu quả bất lợi cho chủ thể Tùy vào mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm mà sẽ bị áp dụng các loại trách nhiệm khác nhau Như vậy, pháp luật tố tụng dân sự cần quy định trách nhiệm

mà các chủ thể phải gánh chịu trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nguyên tắc mà không có lí do chính đáng hoặc không chứng minh được mình rơi vào trường hợp ngoại lệ để được miễn trừ trách nhiệm Các trách nhiệm được xác định dựa vào mức độ vi phạm và hậu quả hành vi

1.4 Mối quan hệ của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá

nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền với nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự là một trong những nguyên tắc đặc trưng nhất của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh hiện nay được quy định tại Điều 6 BLTTDS năm

2015, và được cụ thể hóa tại Điều 70 về Quyền, nghĩa vụ của đương sự và Điều 91

về Nghĩa vụ chứng minh Với quan điểm lập pháp hiện nay, tức là sau khi có BLTTDS năm 2015 thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự Đương sự có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ một số trường hợp đặc biệt

Nguyên tắc chứng cứ và chứng minh xác định: nghĩa vụ cung cấp tài liệu chứng

cứ, chứng minh của đương sự và những người tham gia tố tụng, trong khi đó, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định trách nhiệm của những chủ thể đang trực tiếp quản lý, nắm giữ chứng cứ nhưng không phải đương sự hoặc những người tham gia tố tụng Hai nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết với nhau

Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh là một trong các cơ sở để xây dựng nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

Vấn đề này đã được đề cập trong phần 1.2 về cơ sở của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Nguyên tắc cung

Trang 34

cấp chứng cứ và chứng minh xác định đương sự có quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ, cung cấp, giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên đưa ra yêu cầu là một nguyên tắc chung được áp dụng tại nhiều hệ thống pháp luật khác nhau Bản thân các đương sự là chủ thể trực tiếp trong các quan hệ pháp luật nội dung khi chưa có tranh chấp, nên khi xảy ra tranh chấp, đương sự cũng là những người biết

rõ nhất lợi ích nào của mình bị vi phạm và cần những chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu của mình

Căn cứ trên ý nghĩa đó, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân,

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng Để đảm bảo hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự, Tòa án có hiệu quả, cần một nguyên tắc được áp dụng với những chủ thể đang thực sự quản lý, nắm giữ tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc dân sự Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng nhằm đảm bảo rằng các chủ thể đang nằm giữ, quản lý chứng cứ sẽ thực hiện trách nhiệm giao nộp khi có yêu cầu, tránh hành vi cản trở quá trình thu thập chứng cứ hợp pháp và chính đáng của các cá nhân, cơ quan có quyền thu thập theo quy định của pháp luật Đồng thời, do nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về đương sự, nên hoạt động thu thập chứng cứ, giao nộp, cung cấp tài liệu cho Tòa án trước hết được xác định là hoạt động bắt buộc đối với đương sự Đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, khi có yêu cầu thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp chứng cứ chứ không bắt buộc phải giao nộp trong trường hợp không có yêu cầu từ phía đương sự hoặc

cơ quan tiến hành tố tụng

Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là một trong những điều kiện bảo đảm thực hiện nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh

Giống như tất cả các nguyên tắc khác, để có thể đảm bảo thi hành, đảm bảo đương sự thực hiện được quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ của mình, cần có các quy định pháp luật khác đóng vai trò như điều kiện bảo đảm thực hiện Và nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ

Trang 35

chức có thẩm quyền đóng vai trò như một trong những điều kiện luật định quan trọng bảo đảm thực hiện nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh

Thực tiễn cho thấy, không phải lúc nào đương sự cũng nắm giữ toàn bộ các chứng cứ cần thiết để chứng minh cho yêu cầu của mình Và khi không nằm trong

sự chiếm giữ của đương sự, chứng cứ vẫn cần được thu thập để đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn, công bằng Hoạt động thu thập chứng cứ khi chứng

cứ không do đương sự nắm giữ, quản lý cũng thường gặp nhiều khó khăn trên thực tiễn do sự cản trở của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền vì nhiều lí do khác nhau Đương sự hoàn toàn không có một công cụ nào đủ mạnh để có thể yêu cầu các chủ thể đang nắm giữ, quản lý giao nộp chứng cứ

Do vậy, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, tổ chức, cơ quan

có thẩm quyền trao cho đương sự hoặc cơ quan tố tụng một công cụ để có thể thu thập được chứng cứ Được ghi nhận trở thành một nguyên tắc, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ được cụ thể hóa trong BLTTDS bằng các quy định về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể; trình

tự, thủ tục thực hiện; hệ quả pháp lý trong các trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ Các quy định rõ ràng sẽ buộc các chủ thể đang nằm giữ, quản lý chứng cứ thực hiện đúng và đủ trách nhiệm cung cấp chứng cứ của mình,

để đương sự cũng như cơ quan tố tụng thu thập được chứng cứ cần thiết càng nhanh càng tốt Kể cả trong trường hợp chưa đủ các quy định pháp luật cụ thể hóa, với vai trò là một quy định nguyên tắc mang tính chất chỉ đạo, các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi nhận được yêu cầu cung cấp chứng cứ vẫn phải thực hiện Như vậy, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền là một trong những điều kiện đảm bảo đương sự thu thập được chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự, hỗ trợ đương sự thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh, đồng thời góp phần giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, hiệu quả

1.5 Lược sử quy định của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

1.5.1 Pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam

Trang 36

Một điểm sáng đã xuất hiện trong pháp luật phong kiến Việt Nam, đó là sự ra đời một bộ luật tố tụng riêng biệt “Quốc triều khám tụng điều lệ” Với 31 điều lệ chỉ áp dụng cho hoạt động kiện tụng và xét xử, tất cả các giai đoạn để giải quyết một vụ việc tại cơ quan xét xử gồm nộp đơn kiện, nộp đơn tố cáo, bước khám nghiệm hiện trường, xét xử, thi hành án, cho đến quy định về thời hiệu đều được thiết kế kèm theo những quy định ngăn chặn sự vi phạm từ phía quan lại, đồng thời bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của con người

Trong Quốc triều khám tụng điều lệ, các vấn đề liên quan đến chứng cứ, chứng minh cũng được quy định nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng sự thật khách quan, đảm bảo giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời Theo đó, chứng cứ, hiện trường phải được bảo vệ nghiêm ngặt: “Phàm những người tố cáo về cờ bạc, nên chỉ đúng vào lúc đang cuộc cờ bạc, có đầy đủ tang vật đánh bạc, nhất nhất rõ ràng, người ngồi chơi không quá 5,6 người, bắt đúng hiện trạng mới được nhận khám Nếu

Quốc triều khám tụng điều lệ cũng có quy định nhằm phát huy vai trò của người dân trong phòng chống tội phạm, như các quy định về thưởng với người tích cực khai báo các chứng cứ, tố giác tội phạm; hình phạt xử lý nghiêm khắc nếu dung

pháp luật bảo vệ, nếu chẳng may bị giết chết thì trình báo quan sở tại để được chôn cất và cấp giấy khen Mặc dù đã có những quy định đầu tiên về tố tụng nói chung và chứng cứ nói riêng, trách nhiệm cung cấp chứng cứ của người dân không được quy định trong Quốc triều khám tụng điều lệ Bởi lẽ, trong thời kì phong kiến, các công việc liên quan đến xét xử là công việc của Nhà nước Khi người dân đến thưa kiện, thì toàn bộ các hoạt động giải quyết vụ kiện thuộc trách nhiệm của quan lại sở tại và những người thuộc bộ máy Nhà nước được phân công giải quyết vụ kiện Người dân được khuyến khích tham gia tố giác tội phạm, chỉ điểm chứng cứ chứ không có nghĩa vụ hay trách nhiệm ràng buộc nào

15 Viện Nhà nước và pháp luật (1994), Lệ kiện tụng cờ bạc, Quốc triều khám tụng điều lệ, in trong sách: Một

số văn bản pháp luật Việt Nam thế kỉ XV đến thể kỉ XVIII, , Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, tr 325

người, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 01/2015, tr.28

Trang 37

1.5.2 Pháp luật tố tụng dân sự thời kì Pháp thuộc đến trước 1990

Trước năm 1945, do nền kinh tế phong kiến lạc hậu, kém phát triển nên pháp luật cũng chưa phát triển Trong các văn bản pháp luật được ban hành chưa có sự phân biệt rõ các lĩnh vực về hành chính, dân sự, hình sự và tố tụng Các quy định về thủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự thường được quy định trong các văn bản về tố tụng hình sự

Tuy vậy, trong thời kỳ này pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam bước đầu đã có sự phát triển Những năm đầu thế kỷ XX, chính quyền phong kiến Việt Nam đã ban hành được hàng loạt các văn bản pháp luật có quy định về thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự như Bộ Bắc Kỳ pháp viện biên chế năm 1921, Bộ luật dân sự, thương

sự tố tụng Bắc Kỳ năm 1921, Bộ Trung Kỳ pháp viện biên chế 1935, Bộ luật dân

sự, thương sự tố tụng Trung kỳ năm 1935 v.v

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra trang sử mới trong lịch

sử phát triển của dân tộc, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Từ ngày đầu thành lập, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới Trong đó, có nhiều văn bản có chứa đựng các quy phạm tố tụng dân sự như Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền các Toà án; Sắc lệnh số 144/SL ngày 22/12/1949 mở rộng quyền bào chữa cho các đương sự Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng…

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng nhưng miền Nam vẫn bị đặt dưới sự thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn cho tới năm 1975 Thời gian này chính quyền Sài Gòn cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật tố tụng dân sự mới như Luật số I/62 ngày 8/1/1962 về quy chế luật sư và tổ chức luật sư đoàn; Bộ luật dân sự, thương sự

tố tụng ngày 20/12/1972 Nhìn chung các quy định pháp luật tố tụng dân sự của chính quyền Sài Gòn khá cụ thể, đã có những tiến bộ so với pháp luật tố tụng dân sự của chính quyền phong kiến Việt Nam trước đó

Ở miền Bắc, từ những năm đầu hòa bình lập lại Nhà nước ta đã ban hành một loạt những văn bản pháp luật tố tụng dân sự mới như Thông tư số 03/VHC ngày 2/4/1955 của Bộ tài chính và Bộ tư pháp sửa đổi tạm thời lệ phí về việc hộ; Nghị

Trang 38

định số 87/NĐ-LB ngày 16/8/1955 của Bộ lao động và Bộ tư pháp về hòa giải xích mích giữa chủ và người làm công, Luật tổ chức Toà án nhân dân 1960, Luật tổ chức VKS nhân dân 1960, Thông tư số 614/DS1 ngày 24/4/1963 hướng dẫn một số thủ tục tố tụng, Thông tư số 594/NCPL ngày 27/8/1968 hướng dẫn đường lối xét xử các việc tranh chấp về thừa kế.v.v…

Trong giai đoạn từ năm 1989 trở về trước Nhà nước ta đã ban hành được một số văn bản pháp luật về tố tụng dân sự, quy định được tương đối đầy đủ, hợp lý các vấn đề về tố tụng dân sự, tuy nhiên, nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của

cá nhân, cơ quan, tổ chức thì vẫn chưa được quy định Việc nghiên cứu cho thấy, trong một số văn bản pháp luật cụ thể như một số thông tư, công văn trong thời kỳ này cũng đã có những quy định liên quan đến trách nhiệm cung cấp chứng cứ của

cá nhân, cơ quan, tổ chức

Tại Thông tư số 06-TATC ngày 25/2/1974 hướng dẫn việc điều tra trong tố tụng

dân sự có quy định: “Toà án nhân dân xử về mặt dân sự có thể sử dụng những kết

quả điều tra trong hồ sơ của vụ án hình sự để xử lý về mặt dân sự…, Viện kiểm sát nhân dân hoặc Toà án nhân dân đã xử lý về mặt hình sự có thể chuyển cho Toà án nhân dân có nhiệm vụ xử lý về mặt dân sự hồ sơ hoặc những tài liệu cần thiết cho việc xử lý về mặt dân sự Ngược lại nếu xét thấy cần thiết, Toà án nhân dân có nhiệm vụ xử lý về mặt dân sự có thể tự mình yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân hoặc Toà án nhân dân đã xử lý về mặt hình sự chuyển cho mình hồ sơ hoặc những tài liệu nói trên…”

Cũng tại Thông tư này, mục III về phương pháp điều tra có quy định: “Toà án

nhân dân có thể yêu cầu các Ủy ban hành chính xã, khu phố, cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã đưa cho Toà án xem xét và trích sao cho Toà án những sổ sách về kế toán, bản đồ về ruộng đất, nhà cửa… có liên quan đến việc kiện…”

Tại Thông tư số 03-NCPL ngày 3/3/1966 của Toà án nhân dân tối cao về trình tự

giải quyết việc ly hôn có quy định: “… Mức lương hoặc thu nhập của mỗi bên phải

được cơ quan hoặc tổ chức hữu quan chứng nhận để có căn cứ chính xác giải quyết vấn đề phí tổn nuôi con”

Trang 39

Như vậy, có thể khẳng định rằng, trong giai đoạn từ 1989 trở về trước, các văn bản về tố tụng dân sự đã ra đời, tuy nhiên, còn tản mạn, chưa có tính thống nhất Trong những văn bản này cũng đã có những quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp của các cơ quan khác trong việc cung cấp chứng cứ để đảm bảo cho quá trình giải quyết án dân sự Tuy nhiên, những quy định này còn chưa mang tính khái quát, nhưng đây cũng có thể coi là cơ sở bắt nguồn cho quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức sau này

1.5.3 Pháp luật tố tụng dân sự từ 1990 đến nay

Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004

Năm 1989, để đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ án một cách thống nhất, theo một trình tự chung và nâng cao hiệu quả công tác xét xử, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Tiếp theo đó là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 đã được ban hành Ba văn bản chính quy định về thủ tục tố tụng đã có những quy định chung mang tính nguyên tắc, nền tảng cho quá trình tố tụng dân sự Một trong những quy định được ghi nhận đó là quy định về việc cung cấp, thu thập chứng cứ

Điều 3 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, Điều 4 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994 đều quy định trong trường hợp cần thiết, Tòa

án có thể thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm việc giải quyết vụ án được chính xác Tiếp theo, Điểm b Khoản 1 Điều 38 Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự 1989

và Điều 35 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 đều quy định, một trong các biện pháp thu thập chứng cứ là yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức hữu quan, cá nhân cung cấp bằng chứng có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án mà không quy định trách nhiệm cung cấp chứng cứ của những chủ thể được yêu cầu Ghi nhận quyền yêu cầu của Tòa án là một biện pháp trao thêm quyền cho Tòa

án để thu thập chứng cứ Tuy nhiên, đây chỉ là quyền yêu cầu từ phía Tòa án chứ không có quy định về quyền yêu cầu chủ động của đương sự đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp chứng cứ cho mình Điều này làm hạn chế khả

Trang 40

năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Đồng thời, chỉ ghi nhận quyền của Tòa án trong yêu cầu cung cấp mà không quy định trách nhiệm thực hiện của cơ quan Nhà nước, tổ chức hữu quan, cá nhân thì quy định yêu cầu của Tòa án cũng chỉ mang tính hình thức Chỉ đến khi Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động 1996 ra đời, pháp luật mới quy định trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan,

tổ chức hữu quan phải cung cấp tài liệu, chứng cứ đầy đủ và đúng thời hạn theo yêu cầu của Tòa án tại Điều 3 Đây là mốc khởi đầu cho quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền trong tố tụng dân sự

Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

Ngày 15 tháng 6 năm 2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua BLTTDS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp thứ 5

BLTTDS năm 2004 quy định khá đầy đủ các vấn đề về tố tụng dân sự như các nguyên tắc cơ bản, thẩm quyền dân sự của Tòa án; cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành và người tham gia tố tụng, chứng minh và chứng cứ trong tố tụng dân sự; biện pháp khẩn cấp tạm thời… Đặc biệt, một số nguyên tắc mới trong tố tụng dân

sự đã được bổ sung

Lần đầu tiên, trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có

thẩm quyền được quy định độc lập tại Điều 7 Cụ thể, “cá nhân, cơ quan, tổ chức

trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, Toà án chứng cứ trong vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án biết và nêu rõ lý

do của việc không cung cấp được chứng cứ” Quy định này là sự kế thừa và phát

triển, khắc phục tình trạng thiếu cơ sở pháp lý để thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của ba Pháp lệnh trước đây Điều 7 trao quyền yêu cầu cung cấp chứng cứ cho đương sự và Tòa án, còn chủ thể thực hiện yêu cầu là cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Ngày đăng: 02/08/2019, 19:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công an ( 2015), Thông tư 33/2015/ TT – BCA ngày 20/7/2015 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 33/2002/ NĐ – CP ngày 28/03/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 33/2015/ TT – BCA ngày 20/7/2015 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 33/2002/ NĐ – CP ngày 28/03/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước
2. Chính phủ (2002), Nghị định 33/2002/ NĐ – CP ngày 28/3/2002 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 33/2002/ NĐ – CP ngày 28/3/2002 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
3. Chính phủ ( 2011), Nghị định số 34/2011/ NĐ – CP ngày 17 /5/2011 quy định về xử lý kỉ luật đối với công chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 34/2011/ NĐ – CP ngày 17 /5/2011 quy định về xử lý kỉ luật đối với công chức
4. Chính phủ ( 2015), Nghị định số 78/ 2015/ NĐ – CP ngày 14/9/2015 về đăng ký doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 78/ 2015/ NĐ – CP ngày 14/9/2015 về đăng ký doanh nghiệp
5. Chính phủ ( 2017) , Nghị định số 73/2017/ NĐ – CP ngày 14/6/ 2017 về thu thập, quản lý và sử dụng thông tin, dữ liệu về tài nguyên môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 73/2017/ NĐ – CP ngày 14/6/ 2017 về thu thập, quản lý và sử dụng thông tin, dữ liệu về tài nguyên môi trường
6. Ngũ Thị Như Hoa (2014), Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự
Tác giả: Ngũ Thị Như Hoa
Năm: 2014
20. Bruce L. Hay & Kathryn E. Spier (1997), Burdens of Proof in Civil Litigation: An Economic Perspective, The Journal of Legal Studies, p.145 21. Louis Kaplow ( 2011), Burden of Proof, John M.Olin Center for Law,Economic and business, Cambridge Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of Legal Studies", p.145 21. Louis Kaplow ( 2011), "Burden of Proof
Tác giả: Bruce L. Hay & Kathryn E. Spier
Năm: 1997
22. Nguyễn Quốc Hùng (1975), Hán Việt tân từ điển, Nxb. Khai Trí, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt tân từ điển
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Nhà XB: Nxb. Khai Trí
Năm: 1975
23. Nguyễn Minh Tuấn ( 2015), Quốc triều khám tụng điều lệ với việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của con người, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 01/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
24. Peter Gabriel ( 2013), Burden of proof and standard of proof in civil litigation, Singapore Academy of Law Journal, Singapore Sách, tạp chí
Tiêu đề: Singapore Academy of Law Journal
25. Tòa án nhân dân tối cao (2015), Báo cáo tổng kết thi hành Bộ luật tố tụng dân sự 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thi hành Bộ luật tố tụng dân sự 2004
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2015
26. Tòa án nhân dân tối cao (2017), Báo cáo tổng kết công tác năm 2016 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2017 của các Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2016 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2017 của các Tòa án nhân dân
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2017
27. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng (2017), Báo cáo rút kinh nghiệm về công tác xét xử năm 2017 đối với Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố thuộc cụm thi đua số III khu vực duyên hải miền trung và Tây nguyên, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rút kinh nghiệm về công tác xét xử năm 2017 đối với Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố thuộc cụm thi đua số III khu vực duyên hải miền trung và Tây nguyên
Tác giả: Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
Năm: 2017
28. Tòa án nhân dân tối cao (2018), Báo cáo tổng kết công tác năm 2017 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2018 của các Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2017 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2018 của các Tòa án nhân dân
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2018
29. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Một số vấn đề lí luận về chứng minh trong tố tụng dân sự, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lí luận về chứng minh trong tố tụng dân sự
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2012
30. Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2015
31. Trường Đại học Luật Hà Nội ( 2016), Giáo trình Lí luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận chung về Nhà nước và pháp luật
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
33. Nguyễn Cửu Việt (2004), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Cửu Việt
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội"
Năm: 2004
34. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2003
35. Viện Nhà nước và Pháp luật (1994), Một số văn bản pháp luật Việt Nam thế kỉ XV đến thể kỉ XVIII, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản pháp luật Việt Nam thế kỉ XV đến thể kỉ XVIII
Tác giả: Viện Nhà nước và Pháp luật
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w