1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo bộ luật dân sự năm 2015

69 147 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ việc tổng hợp các cách hiểu đó, tác giả phân tích ưu điểm, nhược điểm của mỗi cách hiểu và đưa - Luận văn sử dụng phương pháp quy nạp khi phân tích những quy định pháp luật, cách hiểu

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ ANH TUYÊN

NGHĨA VỤ TÀI SẢN VÀ CÁC KHOẢN CHI PHÍ LIÊN QUAN ĐẾN THỪA KẾ ĐƯỢC THANH TOÁN THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

Trang 2

riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Anh Tuyên

Trang 3

BLDS :Bộ luật dân sự BLLĐ :Bộ luật lao độngNSNN :Ngân sách nhà nước

HN & GĐ :Hôn nhân và Gia đình BTTH :Bồi thường thiệt hại TAND :Tòa án nhân dân VKSND :Viện kiểm sát nhân dân

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4 PHẦN NỘI DUNG 6 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ TÀI SẢN VÀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI CHẾT ĐỂ LẠI 6 1.1 Lý luận chung về nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế do người chết để lại 6

1.1.1 Nguồn tài sản được dùng để thực hiện nghĩa vụ người chết để lại và thanh toán các chi phí liên quan đến thừa kế 6 1.1.2 Chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và thanh toán chi phí liên quan đến thừa kế 9 1.1.3 Thứ tự thực hiện nghĩa vụ tài sản và thanh toán chi phí liên quan đến thừa kế do người chết để lại của các chủ thể 15 1.1.4 Thời điểm phát sinh nghĩa vụ tài sản và thanh toán chi phí liên quan đến thừa kế do người chết để lại 16 1.1.5 Phạm vi thực hiện nghĩa vụ tài sản và thanh toán chi phí liên quan đến thừa kế 17

Kết luận Chương 1 23 CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ TÀI SẢN, CÁC KHOẢN CHI PHÍ LIÊN QUAN ĐẾN THỪA KẾ ĐƯỢC THANH TOÁN, NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 24 2.1 Quy định pháp luật về nghĩa vụ tài sản, các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán 24

2.1.1 Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng 24 2.1.2 Tiền cấp dưỡng còn thiếu 26

Trang 5

2.1.5 Tiền công lao động 32

2.1.6 Tiền bồi thường thiệt hại 33

2.1.7 Thuế và các khoản phải nộp khác vào Ngân sách nhà nước 34

2.1.8 Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân 36

2.1.9 Tiền phạt 36

2.1.10 Các chi phí khác 36

2.2 Thứ tự ưu tiên thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 37

2.2.1 Thứ tự thực hiện nghĩa vụ tài sản theo Bộ luật dân sự 2015 37

2.2.2 Những điểm khác nhau và ý nghĩa của việc sắp xếp thứ tự theo Bộ luật dân sự 2015 so với Bộ luật dân sự 2005 39

2.2.3 Những bất cập của Bộ luật dân sự 2015 liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 40

Kết luận Chương 2 51

PHẦN KẾT 53

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thừa kế là một chế định cơ bản, quan trọng và cần thiết trong đời sống dân sự của hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Vì vậy, chế định này đã xuất hiện, tồn tại xuyên suốt trong quá trình lập pháp của nước ta, từ Dân Luật Bắc Kỳ năm 1931, Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ Luật năm

1936, Bộ luật Sài Gòn năm 1972 đến Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Bộ luật dân sự 1995, Bộ luật dân sự 2005 và văn bản pháp luật hiện hành là Bộ luật dân sự năm 2015 Với thời gian tồn tại lâu dài, các vấn đề chính liên quan đến thừa kế đã được Cơ quan lập pháp xây dựng khá đầy đủ; tuy nhiên, khi đi vào chi tiết từng quy định pháp luật vẫn tồn tại nhiều bất cập để chúng ta phải nghiên cứu, đánh giá và hoàn thiện

Trong số các vấn đề mà chế định thừa kế bao hàm, tác giả nhận thấy vấn đề nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế rất đáng được quan tâm tìm hiểu nhiều hơn nữa Vấn đề này được Nhà nước đặt ra nhằm bảo đảm nguyên tắc công bằng trong xã hội cho các chủ thể có quyền tài sản đối với người đã chết và cũng để bảo đảm quyền lợi của các chủ thể khác như người quản lý di sản hay người thừa kế Nhận thấy vai trò quan trọng của vấn đề này, khi ban hành Pháp lệnh thừa kế vào năm 1990, pháp luật nước ta đã xây dựng Điều 34 về “Thanh toán các khoản chi từ di sản trước khi chia di sản” và đến BLDS năm 2015 hiện hành, tại Điều 658 về

“Thứ tự ưu tiên thanh toán” Tuy có ý nghĩa rất lớn và thiết thực nhưng quy định pháp luật về nghĩa vụ tài sản, các khoản chi phí liên quan đến thừa kế tại BLDS năm 2015 vẫn chưa được quy định cụ thể, còn nhiều thiếu sót cơ bản

về khái niệm của từng nghĩa vụ tài sản, các khoản chi phí; cách thức thanh toán các nghĩa vụ này, … Thêm vào đó, tuy đã gần 30 năm tồn tại quy định liên quan đến “Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế” nhưng trên thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp thừa kế vẫn tồn tại nhiều

Trang 7

thừa kế được thanh toán theo Bộ luật dân sự năm 2015” để nghiên cứu

cho luận văn thạc sĩ luật học khóa 24 tại Đại học Luật Hà Nội

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tại Việt Nam, một số công trình nghiên cứu có liên quan đến nghĩa

vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán đã được các tác giả khác thực hiện, tiêu biểu là các nghiên cứu sau:

- Trần Thị Huệ “Xác định di sản và việc thanh toán , phân chia di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học;

- Phùng Trung Tập (2002) “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay”, Luận án tiến sĩ luật học;

- Nguyễn Ngọc Điện (2001) “Bình luận khoa học về pháp luật thừa

kế trong BLDS Việt Nam”; NXB Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh;

- Nguyễn Minh Tuấn, “Pháp luật về thừa kế của Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn”; NXB Lao động xã hội;

- Phạm Văn Tuyết “Thừa kế - Quy định của pháp luật và thực tiễn

- Dưới góc độ khoa học pháp lý, chủ yếu nghiên cứu các quy định

về thừa kế nói chung và các quy định có liên quan đến nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán;

- Dưới góc độ thực tiễn, chủ yếu nghiên cứu việc áp dụng các quy

định về thừa kế trong việc giải quyết tranh chấp

Tại luận văn này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu, nêu ra cách hiểu đầy đủ nhất có thể về các khoản chi phí và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được thanh toán; đồng thời, chỉ rõ những bất cập của BLDS 2015 hiện

Trang 8

hành và đề xuất nội dung hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến nội dung đề tài

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu 3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn

Nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc các vấn đề lý luận có liên quan đến nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo Bộ luật dân sự năm 2015 Cụ thể hóa khái niệm, nội dung bao hàm liên quan đến các khoản chi phí liên quan đến thừa kế, trong khi BLDS năm 2015 còn quy định mang tính tổng quát và chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể cho vấn đề này Đồng thời, nghiên cứu một vụ án có liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn và phân tích, định hướng giải quyết vụ án theo quy định pháp luật Trên cơ sở đó, Luận văn sẽ chỉ ra các vấn đề còn bất cập của BLDS

2015 về vấn đề này và đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật với mục tiêu phù hợp với thực tiễn áp dụng

3.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn

Cơ sở lý luận của việc chuyển giao nghĩa vụ tài sản của người chết cho những chủ thể thay mặt thực hiện nghĩa vụ như người quản lý di sản, người thừa kế, người được di tặng Đồng thời, tác giả sưu tầm một vụ án thực

tế đã được Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu thụ lý giải quyết theo thông báo về việc thụ lý vụ án số 07/TB-TLVA ngày 22/03/2018

để nghiên cứu, tăng thêm tính ứng dụng cho luận văn của mình

3.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn

- Luận văn không nghiên cứu rộng các vấn đề liên quan đến thừa kế nói chung mà tập trung nghiên cứu quy định pháp luật về nghĩa vụ tài sản và việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

- Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về các khoản chi phí và nghĩa vụ tài sản của người chết được thanh toán và chỉ ra những bất cập đồng thời đề xuất hoàn thiện quy định của BLDS năm 2015;

- Nêu ra nội dung một vụ án thực tiễn liên quan đến đề tài để phân tích và đề xuất hướng giải quyết vụ án theo quy định pháp luật

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trang 9

Luận văn sử dụng các phương pháp sau để triển khai đề tài, cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích các quy phạm pháp luật có liên quan đến nghĩa vụ tài sản nói chung và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại nói riêng tại phần lý luận chung về thừa kế; khái niệm về các nghĩa vụ được thanh toán

từ di sản thừa kế, …

- Phương pháp tổng hợp áp dụng trong trường hợp đối với một vấn

đề nhưng có nhiều cách hiểu khác nhau Đơn cử như vấn đề “toàn bộ di sản” được hiểu là như thế nào có đến ba cách hiểu khác nhau Từ việc tổng hợp các cách hiểu đó, tác giả phân tích ưu điểm, nhược điểm của mỗi cách hiểu và đưa

- Luận văn sử dụng phương pháp quy nạp khi phân tích những quy định pháp luật, cách hiểu khác nhau về một vấn đề để đến kết luận khái quát liên quan đến vấn đề đó;

- Luận văn sử dụng phương pháp phân loại khi phân loại chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định của BLDS năm

2015 áp dụng trong các giai đoạn và trường hợp khác nhau như: (i) Thời điểm

di sản chưa được chia; (ii) Thời điểm di sản đã chia; (iii) Trường hợp không

có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản;

- Luận văn sử dụng phương pháp thống kê khi tiến hành thu thập, thống kê một số vụ án liên quan đến đề tài luận văn;

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Chế định thừa kế nói chung và vấn đề nghĩa vụ tài sản, các khoản chi phí liên quan đến thừa kế nói riêng là vấn đề được rất nhiều luật gia quan tâm

Bởi đây là một trong những chế định cơ bản, quan trọng, điều chỉnh

Trang 10

một mối quan hệ xã hội phổ biến phát sinh trong bất kỳ xã hội nào, cộng đồng dân cư hay nhóm người nào có quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng Việc nghiên cứu, cập nhật, chỉnh lý bổ sung những quy định này để vừa phù hợp với truyền thống, văn hóa mỗi dân tộc, vừa hội nhập, phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội là việc cần thiết Nhất là đối với pháp luật về thừa

kế ở Việt Nam, một trong những nước có truyền thống văn hóa lâu đời, tính

cố kết cộng đồng, làng mạc, họ hàng, gia đình rất bền chặt

Tuy nhiên mỗi cá nhân, tổ chức có cách tiếp cận và nghiên cứu ở những góc độ khác nhau Các vấn đề tác giả đưa ra trong luận văn này nhằm phân tích cơ sở lý luận của việc chuyển giao nghĩa vụ tài sản của người chết; đồng thời, cụ thể hóa khái niệm, nội dung bao hàm liên quan đến các khoản chi phí liên quan đến thừa kế mà BLDS 2015 chỉ quy định mang tính liệt kê, chưa có hướng dẫn rõ ràng Từ việc nghiên cứu sẽ phát hiện những vấn đề còn hạn chế của quy định pháp luật để đề xuất hoàn thiện BLDS năm 2015 vừa mới có hiệu lực chưa lâu

5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Cùng với sự phát triển nhanh chóng kinh tế - xã hội của đất nước, các quan hệ nhân thân, tài sản cũng phát sinh và xảy ra tranh chấp nhiều hơn, phức tạp hơn Nhằm hoàn thiện và đáp ứng nhu cầu thực tiễn đời sống dân sự, hạn chế những tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ tài sản do người chết để lại; việc nghiên cứu và hoàn thiện quy định pháp luật về thừa kế có ý nghĩa lớn cho việc áp dụng vào thực tiễn của cá nhân, pháp nhân cũng như Cơ quan tiến hành tố tụng

6 Bố cục của luận văn

Nội dung chính của luận văn được kết cấu bởi hai chương, cụ thể: Chương 1: Lý luận chung về nghĩa vụ tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

Chương 2: Quy định pháp luật về nghĩa vụ tài sản, các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán , những bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ TÀI SẢN VÀ THỰC

HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI CHẾT ĐỂ LẠI

1.1 Lý luận chung về nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan

đến thừa kế do người chết để lại

Có thể hiểu, cơ sở hình thành nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như sau: khi còn sống, người này có nghĩa vụ tài sản đối với bên có quyền mà khi người đó chết đi, nghĩa vụ này chưa được thực hiện hoặc đã thực hiện nhưng chưa hoàn thành Tiếp theo đó, những chủ thể được pháp luật quy định

có trách nhiệm thay mặt và sử dụng di sản của người chết thực hiện các nghĩa

vụ tài sản cho bên có quyền

Thêm vào đó, pháp luật còn quy định có hai loại chi phí liên quan đến thừa kế cần thanh toán gồm có: (i) Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng; và (ii) Chi phí cho việc bảo quản di sản

1.1.1 Nguồn tài sản được dùng để thực hiện nghĩa vụ người chết để lại

và thanh toán các chi phí liên quan đến thừa kế

Nguồn tài sản được dùng để thực hiện các nghĩa vụ do người chết để lại chính là di sản của người chết đó Theo Điều 612, BLDS 2015, di sản gồm có: (i) Tài sản riêng của người chết và (ii) phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác

1.1.1.1 Tài sản riêng của người chết

Tài sản riêng của người chết có thể được hình thành từ các nguồn tài sản như sau:

(i) Tài sản khi người đó còn sống đã tự tạo lập bằng các khoản thu nhập hợp pháp khi chưa kết hôn

Mỗi chúng ta khi còn độc thân, có đủ khả năng lao động sẽ có thể tự tạo ra các khoản thu nhập hợp pháp cho chính mình, thông qua việc tự mình hoạt động thể chất, trí tuệ; tự mình sản xuất, kinh doanh hay may mắn có được khi trúng thưởng hoặc đi làm thuê cho pháp nhân, cá nhân có nhu cầu tuyển dụng lao động Giá trị sức lao động có thể được quy đổi bằng tiền hoặc bằng tài sản tương ứng khác Người lao động có thể giữ lại khoản tiền công lao động để làm vốn tích lũy bằng cách gửi ngân hàng, làm sổ tiết kiệm hoặc

Trang 12

sử dụng khoản tiền đó để tham gia các giao dịch khác, dẫn đến hình thành các tài sản phát sinh từ thu nhập hợp pháp đó Những tài sản có được trong thời gian này được xem là tài sản riêng của người đó

(ii) Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng

Mỗi con người là tổng hòa của các mối quan hệ gia đình, quan hệ xã hội khác Vì vậy, nguồn gốc hình thành nên khối tài sản của người đó cũng đa dạng, ngoài tài sản cho chính mình tạo lập thì người đó còn có các tài sản khác hình thành từ các mối quan hệ này Trong đó, thừa kế riêng và tặng cho riêng được pháp luật thừa nhận là những căn cứ để xác lập quyền sở hữu tài sản riêng hợp pháp của người thừa kế, người nhận tặng cho tài sản

(iii) Tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định của Luật

HN & GĐ năm 2014

Theo Điều 38, Luật HN & GĐ năm 2014 quy định rằng, trong thời

kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung

Như vậy, tài sản riêng của một người cũng được hình thành theo sự thỏa thuận phân chia hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân hoặc theo bản án, quyết định có hiệu lực của Cơ quan Tòa án

(iv) Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của người đó

Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu là những tài sản gắn liền với đời sống hàng ngày của người đó như: quần áo, giày dép, đồng hồ, điện thoại, … Tài sản khác thuộc sở hữu riêng của người đó bao gồm: (1) Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ; (2) Tài sản mà người đó xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác và (3) Khoản trợ cấp, ưu đãi mà người đó được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của người đó

1.1.1.2 Phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác

Theo quy định tại Điều 207, BLDS 2015, định nghĩa sở hữu chung là

sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung hợp nhất và sở hữu chung theo phần

Trang 13

Trong phạm vi luận văn, tác giả tạm chia phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác thành các nhóm nhỏ như sau:

(i) Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (thuộc loại

sở hữu chung theo phần có thể phân chia)

Theo quy định của Luật HN & GĐ 2014, tài sản chung của vợ chồng gồm có:

Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này

Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung

và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung

Như vậy, tất cả những tài sản hợp pháp mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân cùng với những tài sản mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn nhưng đã thỏa thuận nhập thành tài sản chung thì trở thành khối tài sản chung hợp nhất trong thời kỳ hôn nhân, trừ những tài sản được xem là tài sản riêng của vợ hoặc chồng theo quy định của pháp luật HN & GĐ

(ii) Tài sản chung theo phần với người khác

Theo khoản 1, Điều 209, BLDS 2015 quy định: sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung

Vấn đề quan trọng là việc xác định đúng và đủ “phần quyền sở hữu” của người chết trong khối tài sản chung này, vì đây là cơ sở để xác định nguồn gốc di sản cho người chết để lại

Trên thực tế có những trường hợp khá rõ ràng khi có đầy đủ các hợp đồng góp vốn, chứng từ thanh toán và thỏa thuận hợp pháp khác chứng minh, định lượng được giá trị tài sản mà người đó đã góp vào khối tài sản chung khi còn sống Tuy nhiên, đối với những giá trị mang tính chất tinh thần như trí tuệ, công sức khác thì rất khó để xác định một cách “minh thị” phần quyền sở hữu của người chết khi họ còn sống; trong những trường hợp này, hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của những người đồng sở hữu tài sản chung hoặc theo phán quyết của Cơ quan có thẩm quyền

Trang 14

1.1.2 Chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và thanh

toán chi phí liên quan đến thừa kế

Khi một cá nhân chết, có hai vấn đề cần giải quyết, đó là: (i) Tài sản của người chết (nếu có) sẽ thuộc về ai và (ii) Những nghĩa vụ tài sản của người chết (nếu có) do ai tiếp tục được thực hiện Thực ra, hai vấn đề này có liên quan mật thiết với nhau, bởi vì về nguyên tắc chủ thể có trách nhiệm thanh toán nghĩa vụ sẽ sử dụng chính tài sản của người chết để thực hiện Vậy, đó là những chủ thể nào?

Theo các quy định của BLDS 2015, việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại có thể do một trong những hoặc những chủ thể sau đây thực hiện:

Thứ nhất là người hưởng thừa kế (căn cứ Điều 615, BLDS 2015); Thứ hai là người quản lý di sản (căn cứ Điều 615, BLDS 2015); Thứ ba là người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng (căn cứ Điều

645, BLDS 2015);

Thứ tư là người nhận di tặng (căn cứ Điều 646, BLDS 2015);

Thứ năm là Nhà nước (căn cứ Điều 622, BLDS 2015);

1.1.2.1 Trong trường hợp di sản chưa được chia

Theo khoản 2, Điều 615, BLDS 2015 quy định “2 Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản

lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.”

Vậy người quản lý di sản là ai? BLDS 2015 không có định nghĩa cụ thể về người này Thay vào đó, Điều 616, BLDS 2015 quy định về các phương thức, trường hợp xác lập tư cách của người quản lý di sản theo thứ tự

ưu tiên lần lượt qua một trong bốn sau:

(i) Được chỉ định trong di chúc, nghĩa là chủ thể được người để lại

di sản tin tưởng, giao phó việc quản lý di sản; hoặc

(ii) Do những người thừa kế thoả thuận cử ra, nghĩa là nếu không có

di chúc hoặc người lập di chúc không chỉ định người quản lý di sản thì người thừa kế sẽ chỉ định (trong trường hợp chỉ có một người thừa kế) hoặc do những người thừa kế thống nhất cử ra Nếu người được cử tự nhận thấy không

Trang 15

có đủ điều kiện hay không muốn đảm nhận công việc này thì có quyền từ chối

để những người thừa kế cử người khác; hoặc

(iii) Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản; hoặc

(iv) Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa

có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 616, BLDS 2015 thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý

Dù được xác lập tư cách bằng phương thức nào đi chăng nữa thì người quản lý có vai trò rất lớn trong giai đoạn di sản chưa được chia Người

này được quyền “a) Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế;” (điểm a, khoản 1, Điều 618,

BLDS 2015) Đồng thời, điểm a, khoản 1, Điều 617, BLDS 2015, quy định

người quản lý di sản có nghĩa vụ thực hiện việc “a) Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;”

Thêm vào đó, theo quy định tại khoản 2, Điều 615 và Điểm a, khoản

1, Điều 618, BLDS 2015, một trong những nhiệm vụ quan trọng của người quản lý di sản là thay mặt những người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ của người chết không phải do người quản lý di sản tự quyết định mà nó được tiến hành trên cơ sở đồng ý của những người hưởng thừa kế (nếu có) Căn cứ vào khoản 2, Điều

615 và điểm b, khoản 1, Điều 617, BLDS 2015 kết với với sự suy đoán logic thì khi thực hiện nghĩa vụ, người quản lý di sản cần phải được những người hưởng thừa kế đồng ý những vấn đề sau:

Một là, phương thức thanh toán (như bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác);

Hai là, loại tài sản (trong khối di sản) được đưa ra để thực hiện nghĩa

vụ

Có thể hình dung mối quan hệ giữa chủ nợ - chủ thể quản lý di sản – chủ thể hưởng thừa kế khi xuất hiện nghĩa vụ tài sản như sau: Chủ nợ yêu cầu

Trang 16

trả nợ và xuất trình bằng chứng về khoản nợ cho người quản lý di sản Người quản lý di sản trao đổi với người thừa kế để thẩm định, thống nhất phương án giải quyết Về bản chất là chủ thể quản lý di sản có thể không phải là người hưởng di sản, họ chỉ là người thay mặt những người hưởng thừa kế quản lý khối di sản, do đó, đương nhiên nghĩa vụ tài sản của người chết cũng không thuộc về họ Việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại trong trường hợp này chẳng qua là việc thay mặt cho người thừa kế để bảo đảm sự thuận tiện trong việc thanh toán nghĩa vụ Và những người hưởng thừa kế vẫn phải chịu trách nhiệm trước những người có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ của người quản lý di sản

1.1.2.2 Sau khi di sản được chia

Khi di sản đã được chia, nếu những nghĩa vụ tài sản của người chết chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa hết thì người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ tài sản lúc này là những người hưởng thừa kế Theo quy định của BLDS 2015, những chủ thể này bao gồm: (i) Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật; (ii) Người được di tặng; và (iii) Người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng

- Thứ nhất, đối với người thừa kế

Pháp luật hiện hành quy định hai hình thức thừa kế là (i) Thừa kế theo di chúc hoặc (ii) Thừa kế theo pháp luật Tương ứng với hai hình thức thừa kế này, người thừa kế cũng bao gồm (i) Người thừa kế theo di chúc và (ii) Người thừa kế theo pháp luật

Đối với người thừa kế theo di chúc

Người thừa kế theo di chúc là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào được chỉ định hưởng di sản trong di chúc hợp pháp, thỏa mãn những điều kiện quy định tại Điều 613, BLDS 2015 và không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1, Điều 621, BLDS 2015 Tất cả các chủ thể thừa kế theo di chúc, đủ điều kiện được thừa hưởng di sản của người chết

để lại trên thực tế đều có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết

để lại tương ứng với phần di sản mà mình được nhận

Đối với người thừa kế theo pháp luật

Trang 17

Trong trường hợp người để lại di sản không có di chúc hoặc có di chúc mà không phát sinh hiệu lực thì di sản thừa kế được chia theo quy định pháp luật Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân đáp ứng đủ các điều kiện sau:

Điều kiện thứ nhất, cá nhân đó phải thuộc diện thừa kế: là người có ít nhất một trong ba mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng với người chết Ngoài ra, việc xác định diện thừa kế còn phải dựa trên việc xác định hàng thừa kế Theo Điều 651, BLDS 2015 quy định có ba hàng thừa kế, sắp xếp tương ứng với thứ tự ưu tiên hưởng thừa kế, cụ thể như sau:

“a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi,

mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.”

Những chủ thể được liệt kê ở trên thuộc phạm vi diện thừa kế và có khả năng pháp lý được hưởng thừa kế theo hai nguyên tắc: (i) Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau và (ii) Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

Điều kiện thứ hai, phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế: Quan hệ pháp luật về thừa kế phát sinh từ thời điểm mở thừa kế, do đó, người hưởng thừa kế phải còn sống mới đủ năng lực chủ thể tham gia quan hệ này

Vậy, “còn sống” trong trường hợp này được hiểu là như thế nào? Căn cứ quy định tại các Điều 611 và Điều 619, BLDS 2015 có thể thấy rằng, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có di sản chết theo sinh học hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết Và những người có quyền thừa kế di sản của nhau

Trang 18

đều chết cùng thời điểm (không xác định được ai chết trước) thì họ không có quyền thừa kế di sản của nhau Do vậy, người còn sống vào thời điểm mở thừa kế là người có căn cứ rõ ràng chứng minh mình còn sống sau khi người

để lại di sản chết hoặc người thừa kế đã chết thì cũng phải chứng cứ hợp pháp

để xác định người đó chết sau người để lại di sản

Ngoài ra, theo quy định của BLDS 2015, ngoài các chủ thể thừa kế thông thường theo di chúc hoặc theo diện, hàng thừa kế còn xuất hiện một số chủ thể thừa kế khá đặc biệt, gồm có: (i) Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644, BLDS 2015); (ii) Người thừa kế thế vị (Điều

652, BLDS 2015) Trong đó, đối với người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc thì họ được hưởng di sản không phải với tư cách là người thừa

kế được chỉ định trong di chúc mà do mối quan hệ nhân thân đặc biệt với người để lại di sản, họ được nhận một phần di sản nhằm bảo đảm cuộc sống Còn đối với người thừa kế thế vị họ cũng được hưởng di sản từ những điều kiện và sự kiện pháp lý đặc biệt Vậy, hai chủ thể vừa nêu có phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại hay không Theo chúng tôi, bản chất của hai chủ thể này đều là người thừa kế, vì vậy, theo quy định tại Điều 615, BLDS 2015 thì các chủ thể này cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản

- Thứ hai, đối với người được di tặng

Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc Người được di tặng

là bất kỳ ai, không nhất thiết phải có mối quan hệ về huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng với người để lại di sản

Về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại của người

được di tặng quy định tại khoản 3, Điều 646, BLDS 2015, “3 Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.” Có thể nhận thấy, pháp luật Việt Nam ưu tiên việc bảo

đảm sự toàn vẹn của tài sản được di tặng cũng như tôn trọng ý chí, tình cảm

của trước khi người để lại di sản chết đối với người được di tặng

- Thứ ba, đối với người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng

Trang 19

Việc quy định quyền để lại di sản dùng vào việc thờ cúng cho thấy

sự phù hợp với phong tục, tập quán của nước ta Tại khoản 1, Điều 645,

BLDS 2015 quy định: “1 Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.” Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lợi của chủ nợ, khoản 2, Điều 645, BLDS 2015 quy định hạn chế quyền để lại di sản thờ cúng như sau: “Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.”

Vậy, giữa “di sản được di tặng” và “di sản dùng vào việc thờ cúng” thì sẽ ưu tiên sử dụng di sản nào để thanh toán nghĩa vụ trước? Vấn đề này tác giả sẽ đi sâu phân tích tại tiểu mục 1.2.3, mục 1.2, Chương I của luận văn Chủ thể thực hiện nghĩa vụ này là người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng Việc thực hiện nghĩa vụ của người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng không phải là hành vi pháp lý độc lập của người này, mà được tiến hành trên cơ sở đồng thuận của người thừa kế về việc cắt giảm di sản dùng vào việc thờ cúng và phương thức thanh toán nghĩa vụ Theo quy định tại đoạn 3, Điều

645, BLDS 2015 thì những người thừa kế có quyền giám sát việc quản lý di sản có đúng với mục địch được chỉ định trong di chúc hay không Với những trường hợp người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng do người thừa kế chỉ

ra thì việc giám sát là đương nhiên So với người quản lý di sản khi di sản chưa chia thì quyền hạn của người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng sẽ lớn hơn Bởi vì, di sản dùng vào việc thờ cúng không được chia thừa kế, việc dùng di sản thờ cúng thể hiện ý nguyện của người đã chết và người được giao quản lý loại di sản này cũng phải được nhận sự tín nhiệm cao hơn việc quản

lý các di sản bình thường

Ngoài ra, theo Điều 622, BLDS 2015 quy định: “Trường hợp không

có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực

Trang 20

hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.” Như vậy, ngoài những chủ thể cơ bản nêu trên thì Nhà nước với tư

cách tiếp nhận tài sản không có người thừa kế cũng phải thực hiện nghĩa vụ

tài sản của người chết, phần còn lại (nếu có) thuộc về Nhà nước

1.1.3 Thứ tự thực hiện nghĩa vụ tài sản và thanh toán chi phí liên quan

đến thừa kế do người chết để lại của các chủ thể

Trong thực tiễn, có thể xảy ra trường hợp khối di sản được định đoạt thành ba phần tương ứng với các chủ thể sau: (i) Phần di sản thừa kế tương ứng với người thừa kế; (ii) Phần di tặng tương ứng với người được di tặng và (iii) Phần di sản dùng vào việc thờ cúng tương ứng với người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng Vậy, thứ tự thực hiện nghĩa vụ của chủ thể mỗi phần

di sản nêu trên như thế nào? Chủ thế nào sẽ có khả năng bảo toàn di sản mà mình được hưởng tốt hơn

Hiện nay, BLDS 2015 chưa quy định cụ thể về thứ tự thanh toán của các chủ thể này Nếu xem xét một cách chủ quan theo câu chữ của BLDS

2015 tại các Điều “Điều 646 Di tặng 3 Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp ” và “Điều

645 Di sản dùng vào việc thờ cúng: …2 Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.” Có thể tạm thời sắp xếp

thứ tự thực hiện nghĩa vụ như sau: nếu phần di sản thừa kế (i) mà đủ để thực hiện nghĩa vụ tài sản thì phần (ii) và (iii) không phải thực hiện; nếu phần (i) không đủ thì tiếp đến phần (iii) sẽ thực hiện; nếu phần (i) và (iii) không đủ thì phần (ii) mới tiếp tục phải thực hiện

Việc xác định người thừa kế (i) đầu tiên có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ là hợp lý Bởi vì, phần di sản (ii) và (iii) ngoài ý nghĩa vật chất còn ý nghĩa tinh thần nên cần được ưu tiên bảo toàn hơn so với phần di sản (i) Tuy nhiên, vì yếu tố tinh thần nên việc sắp xếp nêu trên còn mang định tính, do đó

có thể đề xuất đến phương án như sau: Thứ tự lần lượt là (i) Phần di sản thừa

kế tương ứng với người thừa kế rồi đến đồng thời cả (ii) Phần di tặng tương ứng với người được di tặng và (iii) Phần di sản dùng vào việc thờ cúng tương ứng với người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng Theo phương án này,

Trang 21

nếu tài sản chia thừa kế không đủ thực hiện nghĩa vụ thì phần di sản thờ cúng

và phần di tặng sẽ cùng được cắt giảm theo tỷ lệ để thực hiện việc hoàn thành phần nghĩa vụ còn lại Tỷ lệ này có thể được xác định theo công thức: [DSTC/ (DSTC + DT)] x NVTSCL và [DT/ (DSTC + DT)] x NVTSCL

Ví dụ: A có di sản 500 triệu đồng, khoản nợ 250 triệu đồng A định đoạt di chúc như sau: cho B thừa kế 100 triệu đồng; giao C dùng thờ cúng 250 triệu đồng; di tặng D 150 triệu đồng

Theo công thức tích: DSTC = 250 triệu đồng; DT = 150 triệu đồng; NVTSCL = 150 triệu đồng Vậy nghĩa vụ còn lại được chia theo tỷ lệ:

C phải chi trả = 250 triệu/400 triệu x 150 triệu = 93,75 triệu

D phải chi trả = 150 triệu/400 triệu x 150 triệu = 56,25 triệu

1.1.4 Thời điểm phát sinh nghĩa vụ tài sản và thanh toán chi phí liên

quan đến thừa kế do người chết để lại

1.1.4.1 Thời điểm phát sinh nghĩa vụ của người thừa kế

Theo Điều 614, BLDS 2015 quy định: “Thời điểm phát sinh quyền

và nghĩa vụ của người thừa kế

Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.”

Như vậy, quyền và nghĩa vụ của người thừa kế phát sinh từ thời điểm

mở thừa kế Đây là mốc thời gian rất quan trọng, làm cơ sở phát sinh nhiều vấn đề pháp lý như: thời điểm có hiệu lực di chúc, bắt đầu khoảng thời gian

để từ chối nhận di sản, căn cứ tính thời hiệu khởi kiện, thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế Theo khoản 1, Điều 611, BLDS 2015

quy định: “1.Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.”

Thời điểm người có tài sản chết được chia thành hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất: Người này chết tự nhiên theo sinh học, thời điểm mở thừa kế di sản của họ là thời điểm người đó chết;

Trường hợp thứ hai: Người này chết pháp lý theo tuyên bố của tòa

án, thời điểm mở thừa kế di sản của họ được xác định theo khoản 1, Điều 71, BLDS 2015, cụ thể như sau:

Trang 22

“a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án

có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.”

1.1.4.2 Thời điểm phát sinh nghĩa vụ tài sản của chủ thể khác

Ngoài người thừa kế, có hai chủ thể phổ biến, gồm có: người quản lý

di sản dùng vào việc thờ cúng và người được di tặng cũng là chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại

Hiện nay, BLDS 2015 chưa quy định về thời điểm phát sinh nghĩa vụ đối với di sản thừa kế của những chủ thể này Tuy nhiên, căn cứ quy định tại các Điều 645 và Điều 646, BLDS 2015 thì nghĩa vụ của hai chủ thể này phát sinh khi có điều kiện Chỉ khi phần di sản của người thừa kế không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng và người được

di tặng mới phải thực hiện phần nghĩa vụ còn lại Trước hết, chủ thể có quyền phải yêu cầu người quản lý di sản (nếu di sản chưa được chia), sau đó, yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ (nếu di sản đã được chia) Tiếp theo đó, mới yêu cầu thì người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng, người được di tặng thực hiện nghĩa vụ nếu cần thiết Cách xác định như vậy là phù hợp quy định pháp luật và phù hợp với ý nghĩa tinh thần khi ý chí của người để lại di sản được bảo đảm

1.1.5 Phạm vi thực hiện nghĩa vụ tài sản và thanh toán chi phí liên quan

đến thừa kế

Trong Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Điều 373 quy định rằng “các đồng thừa kế phải cùng nhau trang trải các khoản nợ và đảm nhiệm các nghĩa vụ trong việc thừa kế, ít nhiều tùy theo phần của mỗi người được hưởng Lại cả người được tặng giữ tất cả hay một phần thừa kế cũng thế.”

Trang 23

Tinh thần điều luật nêu trên khá tương đồng với quy định tại Pháp lệnh thừa kế năm 1990 cho đến quy định hiện hành đối với việc thực hiện nghĩa vụ chỉ giới hạn trong phạm vi di sản mà người chết để lại (nếu di sản chưa chia) hoặc tương ứng với phần di sản mà người thừa kế nhận được (nếu tài sản đã chia)

1.1.5.1 Trường hợp di sản chưa được chia

Trong trường hợp này, người quản lý di sản sẽ thay mặt những người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại trên cơ sở thỏa thuận với những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại theo quy định tại khoản 2, Điều 615, BLDS 2015 Tuy nhiên, hiện nay vẫn có một số cách hiểu khác nhau về “phạm vi di sản”, nội dung này, tác giả sẽ phân tích

cụ thể tại tiểu mục 2.2.3, mục 2.2, Chương 2, Luận văn về hạn chế quy định pháp luật

Thêm một vấn đề khác cũng cần phải xác định là những hoa lợi, lợi tức phát sinh từ khối di sản tư thời điểm mở thừa kế có được nhập vào khối di sản để xác định phạm vi thực hiện nghĩa vụ của người chết hay không? Đây là vấn đề rất đáng quan tâm Bởi vì trên thực tế, có những khoản lợi tức rất lớn phát sinh từ di sản, đơn cử như lợi tức thu được từ việc sở hữu cổ phần trong những Công ty có doanh thu lớn; đồng thời, việc xác định khoản hoa lợi, lợi tức có nhập vào khối di sản cũng ảnh hưởng đến quyền lợi của người thừa kế, chủ nợ và các chủ thể khác có liên quan Theo quy định của BLDS, vấn đề này phụ thuộc vào thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản và thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức phát sinh từ di sản đó Áp dụng quy định tại Điều

224, BLDS 2015: “Chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó” Và theo Điều 614, BLDS 2015 thì kể

từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có quyền, nghĩa vụ do người chết để lại Vậy kể từ thời điểm mở thừa kế (người để lại di sản chết) thì người thừa kế xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người chết để lại Xét

về đặc tính hoa lợi: Là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại, không chịu sự tác động của người sở hữu tài sản đó Xét về đặc tính của lợi tức: Phải qua tác động của chủ sở hữu mới sinh ra lợi tức, là lợi ích vật chất của chủ thể thu

Trang 24

được thông qua khai thác hợp pháp tài sản thuộc quyền sở hữu của mình1 Do

đó, kể từ thời điểm xác lập quyền sở hữu (khối di sản được chuyển giao quyền sở hữu từ người để lại di sản sang người thừa kế) thì hoa lợi, lợi tức thuộc quyền sở hữu của người thừa kế, là tài sản riêng của người thừa kế Mà

đã thuộc quyền sở hữu của người thừa kế thì họ có quyền định đoạt theo quy định của pháp luật Trong khi đó, khoản 1 Điều 615, BLDS 2015 chỉ giới hạn nghĩa vụ tài sản phải thực hiện là trong phạm vi di sản mà thôi Vậy hoa lợi, lợi tức từ di sản không thuộc trường hợp được tính để thực hiện nghĩa vụ theo thứ tự Đánh giá tính hợp lý: (i) Phù hợp với khoản 2 Điều 659, BLDS 2015:

“2 Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa

kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.” (ii) Điều thứ 466 Dân luật Bắc kỳ 1931 quy định:“Các sản vật của ruộng đất, các lợi tức về hộ luật, các gia súc đẻ con

ra, thì là của người sở hữu chủ vì quyền phụ thiêm mà được” Vậy theo quy

định này thì những hoa lợi, lợi tức thuộc quyền sở hữu của người thừa kế Điều này cũng phù hợp với các chế định tương tự về hoa lợi, lợi tức như quyền sở hữu các lợi ích phát sinh từ tài sản thất lạc, chìm đắm… (ví dụ khoản 2 Điều 231, BLDS 2015) Tuy nhiên, vẫn tồn tài một bất cập nhỏ đó là: tranh chấp về hoa lợi, lợi tức phát sinh khi thanh toán di sản có thể xảy ra là

do việc phân chia di sản diễn ra sau thời điểm mở thừa kế một thời gian tương đối dài Trong thời gian ấy sẽ phát sinh những quyền, nghĩa vụ của người quản lý di sản, người chiếm hữu, sử dụng di sản trong thời gian chưa phân chia và chưa thực hiện nghĩa vụ Mà theo Điều 618 thì người quản lý, sử dụng, chiếm hữu di sản chỉ được hưởng thù lao, thanh toán chi phí bảo quản

di sản; người đang chiếm hữu sử dụng được tiếp tục sử dụng di sản Như vậy

bộ luật chưa liệt kê cụ thể quyền hưởng hoa lợi, lợi tức từ khối di sản Đối với

1 Nguyễn Văn Cừ- Trần Thị Huệ (2017), “Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015

của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, Tr.217

Trang 25

người được tiếp tục sử dụng di sản khi di sản chưa được phân chia, cũng đồng nghĩa với việc họ được hưởng lợi từ di sản, vậy việc tiếp tục sử dụng này có được hiểu là được tiếp tục khai thác hoa lợi và tác động làm sinh ra lợi tức hay không? Bởi lẽ mỗi một căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với một loại tài sản nhất định đều có một không gian, chế định khác nhau trong bộ luật dân

sự, nếu như đã quy định cụ thể về việc hưởng các tài sản phát sinh từ gia súc thất lạc, gia cầm thất lạc… thì cũng nên quy định rõ ràng về quyền hưởng hoa lợi, lợi tức đối với di sản, không chỉ đối với người thừa kế, mà còn đối với người quản lý, chiếm hữu, sử dụng hợp pháp không phải là người thừa kế Ngoài ra, nghĩa vụ tài sản cho người chết để lại có thể phải thanh toán bằng tiền hoặc bằng hiện vật Trong khi đó, di sản mà người chết để lại cũng có thể bằng tiền hoặc bằng các tài sản khác Trong trường hợp, di sản để lại là vật như nhà, đất, phương tiện giao thông, …mà phải thanh toán bằng tiền cho chủ nợ thì người quản lý di sản xin ý kiến của những người thừa kế

để bán di sản lấy tiền trả nợ Và ngược lại, nếu người chết để lại di sản bằng tiền nhưng phải thanh toán cho chủ nợ bằng hiện vật thì người quản lý di sản xin ý kiến của những người thừa kế để dùng tiền mua hiện vật thanh toán nợ Ngoài ra có thể thỏa thuận với người có quyền về việc thay thế hình thức thực hiện nghĩa vụ, nếu thỏa thuận đó không trái luật, không nhằm làm trốn tránh nghĩa vụ với người khác, không trái đạo đức xã hội…

1.1.5.2 Trường hợp di sản đã được chia

Liên quan đến vấn đề này, Điều thứ 374, Dân Luật Bắc Kỳ năm 1931

đã quy định như sau: “Trong việc các con ăn của thừa kế cha mẹ thì những người thừa kế phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn về tất cả các khoản

nợ, trừ có việc thì tố cáo lẫn nhau không kể Lại cả người chồng hay vợ còn lại hoặc cháu đích tôn ăn thừa kế cũng thế.”

Theo quy định nêu trên, phạm vi thực hiện nghĩa vụ là vô hạn trong trường hợp các con hưởng thừa kế của cha mẹ, vợ chồng hưởng thừa kế của nhau hay cháu đích tôn hưởng thừa kế của ông, bà Quy định này tuy cho thấy việc bảo đảm quyền lợi cho chủ nợ nhưng lại quá bất hợp tình, bất hợp lý khi những người hưởng thừa kế không được hưởng nhiều di sản mà phải gánh vác

Trang 26

phần nghĩa vụ quá lớn mà người chết để lại, có thể dẫn đến hệ lụy là đời sống khó khăn từ đời này sang khác

Nay, Bộ luật dân sự hiện hành đã quy định hợp lý hơn so với Dân

Luật Bắc Kỳ 1931 khi tại khoản 3, Điều 615, BLDS 2015 có nêu:“3 Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.” Với các quy định này, điều luật

đề cập đến hai vấn đề: (i) Xác định tỷ lệ thực hiện nghĩa vụ giữa các đồng thừa kế bằng công thức giá trị phần di sản được hưởng trên tổng giá trị di sản

và (ii) Giới hạn nghĩa vụ là trong phạm vi di sản mà người thừa kế đã nhận

- Đối với thừa kế theo di chúc

Trên thực tế, người để lại di chúc có thể chia di sản theo tỷ lệ trên tổng khối tài sản hoặc có thể chia di sản bằng hiện vật, thậm chí trong di chúc chỉ xác định những người được hưởng thừa kế Tương ứng với những cách phân chia di sản cụ thể thì việc xác định tỷ lệ và giới hạn thực hiện nghĩa vụ cũng có sự khác biệt nhất định Cụ thể các trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: Xác định tỷ lệ và phạm vi thực hiện nghĩa vụ theo nội dung được ghi nhận tại di chúc

Trong trường hợp người lập di chúc đã chỉ định những người thừa kế đồng thời đã xác định rõ trong di chúc về tỷ lệ mà mỗi người thừa kế được hưởng trên tổng giá trị khối di sản (như ½, ¼, …) thì sau khi định giá từng tài sản để xác định tổng giá trị của khối di sản thừa kế hiện còn vào thời điểm phân chia di sản, di sản được phân chia cho từng người thừa kế theo tỷ lệ đã được xác định trong di chúc Tuy nhiên, cần phải xác định khối di sản hiện còn vào thời điểm phân chia di sản thật chính xác, phải xác định lý do và căn

cứ pháp lý của sự chênh lệch giữa khối di sản vào thời điểm mở thừa kế so với khối di sản hiện còn vào thời điểm mở thừa kế Việc xác định chính xác vừa bảo đảm quyền lợi của người thừa kế cũng như chủ thể có quyền Theo

đó, những phần di sản không còn vào thời điểm phân chia di sản là do người được hưởng thừa kế theo di chúc đã sử dụng hết hoặc đã định đoạt thì vẫn tính vào tổng giá trị di sản vào thời điểm phân chia và người thừa kế nào đã

sử dụng hết hoặc đã định đoạt phần di sản đó sẽ bị khấu trừ khi nhận phân

Trang 27

chia di sản Và những tài sản đó vẫn được tính vào phạm vi di sản người thừa

kế được nhận để thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với các chủ nợ Do tài sản phân chia cho người thừa kế theo tỷ lệ nên căn cứ vào khoản 3, Điều 615, BLDS 2015 thì nghĩa vụ về tài sản cũng được chia tỷ lệ theo tổng giá trị của nghĩa vụ phải thanh toán

Trường hợp thứ hai, xác định tỷ lệ và phạm vi thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp di sản được chia theo từng hiện vật cụ thể

Theo đó, di sản được giao cho từng người thừa kế bằng hiện vật như

di chúc đã xác định hoặc theo sự thỏa thuận giữa những người thừa kế Người thừa kế nhận hiện vật theo tình trạng hiện tại của vật vào thời điểm phân chia

di sản thừa kế và được nhận hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu huỷ do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu BTHH

Do việc chia di sản là theo hiện vật nên khi xác định tỷ lệ thực hiện nghĩa vụ theo khoản 3, Điều 615, BLDS 2015 thì cần phải định giá hiện vật

mà mỗi người thừa kế được hưởng để xác định tỷ lệ thực hiện nghĩa vụ Tỷ lệ được xác định trên cơ sở giá trị hiện vật mà mỗi người thừa kế được hưởng trên tổng giá trị di sản Đối với việc xác định phạm vi thực hiện nghĩa vụ thì những hiện vật cụ thể mà người thừa kế được hưởng sẽ là tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ

Trường hợp thứ ba: Xác định tỷ lệ và phạm vi thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp người để lại di sản chỉ định người hưởng thừa kế mà không xác định rõ phần di sản từng người thừa kế được hưởng

Nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp

có thoả thuận khác

- Đối với Trường hợp thừa kế theo pháp luật,

Khi chia di sản phải tuân theo các nguyên tắc: chia trước và chia hết cho những người ở hàng thừa kế trước; di sản được chia đều cho những người cùng hưởng thừa kế

Trang 28

Do những người được hưởng phần di sản bằng nhau nên theo quy định tại khoản 3, Điều 615, BLDS 2015 thì những người thừa kế cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài của người chết để lại theo tỷ lệ ngang nhau

để lại chính là di sản của người chết đó Thêm vào đó, pháp luật còn quy định

có hai loại chi phí liên quan đến thừa kế cần thanh toán gồm có: (i) Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng; và (ii) Chi phí cho việc bảo quản di sản

Về bản chất là chủ thể quản lý di sản có thể không phải là người hưởng di sản, họ chỉ là người thay mặt những người hưởng thừa kế quản lý khối di sản, do đó, đương nhiên nghĩa vụ tài sản và việc thanh toán chi phí liên quan thừa kế của người chết cũng không thuộc về họ Việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại trong trường hợp này chẳng qua là việc thay mặt cho người thừa kế để bảo đảm sự thuận tiện trong việc thanh toán nghĩa vụ Và những người hưởng thừa kế vẫn phải chịu trách nhiệm trước những người có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ của người quản lý di sản; Người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc và người thừa kế thế vị vẫn phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại;

Thứ tự thực hiện nghĩa vụ đối với các phần di sản lần lượt là (i) Phần

di sản thừa kế tương ứng với người thừa kế rồi đến đồng thời cả (ii) Phần di tặng tương ứng với người được di tặng và (iii) Phần di sản dùng vào việc thờ cúng tương ứng với người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng Theo phương án này, nếu tài sản chia thừa kế không đủ thực hiện nghĩa vụ thì phần

di sản thờ cúng và phần di tặng sẽ cùng được cắt giảm theo tỷ lệ để thực hiện việc hoàn thành phần nghĩa vụ còn lại;

Kể từ thời điểm mở thừa kế (người để lại di sản chết) thì người thừa

kế xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản do người chết để lại Hoa lợi, lợi tức từ di sản không thuộc trường hợp được tính để thực hiện nghĩa vụ theo thứ tự

Trang 29

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ TÀI SẢN, CÁC KHOẢN CHI PHÍ LIÊN QUAN ĐẾN THỪA KẾ ĐƯỢC THANH TOÁN, NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH

PHÁP LUẬT 2.1 Quy định pháp luật về nghĩa vụ tài sản, các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán

Theo quy định tại Điều 658, BLDS 2015, di sản của người chết để lại

sẽ được dùng để trả cho hai nhóm chi phí sau:

Nhóm thứ nhất là các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán, gồm có: (i) Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng; (ii) Chi phí cho việc bảo quản di sản; (iii) Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ

và các chi phí khác

Nhóm thứ hai là các nghĩa vụ tài sản, gồm có: (i) Tiền cấp dưỡng còn thiếu; (ii) Tiền công lao động; (iii) Tiền bồi thường thiệt hại; (iv) Thuế và các khoản phải nộp khác vào NSNN; (v) Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân; (vi) Tiền phạt

2.1.1 Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng

Mai táng là một lễ nghi đã tồn tại lâu đời ở Việt Nam, thể hiện quan niệm “nghĩa tử là nghĩa tận” đối với người đã khuất

Theo quy định tại khoản 5, Điều 2, Nghị định số 23/2016/NĐ-CP của Chính phủ về xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng, mai táng được hiểu là thực hiện việc lưu giữ thi hài hoặc hài cốt, tro cốt của người chết ở một địa điểm dưới mặt đất Tuy nhiên, không đơn thuần như câu chữ của pháp luật (chỉ là “thực hiện việc lưu giữ thi hài, …”), thực tế cho thấy các công việc trước, trong và sau một nghi lễ mai táng cũng rất phức tạp và tốn kém chi phí Đặc biệt, cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, đời sống tâm linh kết hợp với phong tục, tập quán mà mỗi gia đình, mỗi địa phương lại có những hoạt động mai táng khác nhau dẫn đến chi phí cho việc mai táng cũng khác nhau Vấn đề này sẽ ảnh hưởng một phần đến khối di sản

mà người chết để lại, dẫn đến việc ảnh hưởng đến quyền lợi của người thừa

kế cũng như các chủ thể có quyền đối với người đã khuất Vì vậy, việc xác định những chi phí hợp lý cho việc mai táng là cần thiết nhằm bảo đảm cho

Trang 30

người đã khuất có được hậu sự đầy đủ, chu toàn mà không lãng phí, vừa bảo đảm quyền lợi của những chủ thể có liên quan

Tham khảo quy định tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về

BHTT ngoài hợp đồng, quy định “2.2 Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ ”

Theo quy định nêu trên, các chi phí hợp lý cho việc mai táng được nêu ra bằng phương thức liệt kê Cũng vì vậy, mà các chi phí này chưa thể bảo đảm được nêu ra đầy đủ so với trên thực tiễn áp dụng Thực tế cho thấy rằng, việc xác định những chi phí mai táng hợp lý trên từng trường hợp cụ thể chỉ cần bảo đảm một trong hai yếu tố: (i) Chi phí cần thiết và (ii) Chi phí hợp

Truyền thống và tín ngưỡng ở Việt Nam nói chung là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Văn hóa phương Đông có sự tương đồng giữa các nước về việc mai táng, trong đó người ta tiến hành các nghi lễ trang trọng để thỏa mãn tâm linh, tình cảm của mỗi người dành cho người thân thích Tuy nhiên, pháp luật chỉ thừa nhận những thủ tục, nghi lễ cơ bản, xuất hiện phổ biến và là thước đo chung cho hoạt động tối thiểu, phù hợp với truyền thống văn hóa và cũng là căn cứ thống nhất xác định nghĩa vụ tài sản đối với di sản của người chết

Trong đó, chi phí cần thiết là những chi phí không thể thiếu trong một nghi lễ đám tang thông thường, gồm có: tiền mua quan tài, khăn xô, vải liệm, hương hoa đèn nên, chi phí lập bàn thờ, tiền thuê xe tang, chi phí cho việc chôn cất hay hỏa táng cho người chết Ngoài ra, về chi phí hợp lý cho một đám tang sẽ tùy thuộc vào phong tục, tập quán ở mỗi địa phương mà xác định những với điều kiện cụ thể, ví dụ như: Chi phí cho việc xây mộ đối với mai táng ở nơi có phong tục cải táng; Chi phí kèn trống cho đám tang; Tiền thuê nhà tang lễ, chi phí phục vụ tang lễ

Trang 31

Riêng đối với chi phí dịch vụ nghĩa vụ và dịch vụ hỏa táng, Điều 26, Nghị định số 23/2016/NĐ-CP của Chính phủ về xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng đã liệt kê gồm những loại chi phí như sau:

“Điều 26 Quản lý chi phí dịch vụ nghĩa trang, dịch vụ hỏa táng

2 Các chi phí dịch vụ nghĩa trang, dịch vụ hỏa táng bao gồm:

a) Dịch vụ tổ chức tang lễ;

b) Dịch vụ hỏa táng, lưu giữ bình tro, cốt sau hỏa táng;

c) Dịch vụ vận chuyển linh cữu, tro cốt và lưu bình tro, cốt sau hỏa táng (nếu có);

d) Dịch vụ chôn cất và xây dựng mộ (bao gồm phần dưới và trên mặt đất);

đ) Dịch vụ chăm sóc, bảo quản, bảo trì, vệ sinh môi trường;

e) Các chi phí hợp lệ khác, thuế theo quy định của pháp luật”

2.1.2 Tiền cấp dưỡng còn thiếu

Theo cách hiểu chung nhất, tiền cấp dưỡng còn thiếu là những khoản tiền mà người để lại di sản khi còn sống phải thực hiện chi trả đối với người được cấp dưỡng theo quy định của pháp luật

Ví dụ : Ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho M mỗi tháng là 100.000 đồng nhưng 4 tháng trước khi chết ông Y chưa đưa tiền cấp dưỡng cho M thì (100.000 đồng x 4 tháng) = 500.000 đồng ông T chưa thực hiện đó phải được thanh toán cho M trước khi di sản của ông được chia thừa kế

Về khái niệm cấp dưỡng trong mối quan hệ hôn nhân gia đình được

hiểu là việc một chủ thể có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của pháp luật

Đồng thời, Điều 107, Luật HN & GĐ năm 2014 quy định nghĩa vụ

cấp dưỡng được thực hiện giữa những người có mối quan hệ thân thích với nhau Nghĩa vụ này được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với

Trang 32

nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này

Tuy nhiên, Luật HN & GĐ 2014 có quy định: Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác Vậy, liệu quy định này có xung đột với quy định tại Điều 658, BLDS

2015, khi nghĩa vụ cấp dưỡng đã được chuyển giao cho chủ thể được hưởng

di sản thực hiện thay cho người đã chết!? Theo quan điểm của tác giả, quy định tại Luật HN & GĐ năm 2014 chỉ quy định ở khía cạnh, chủ thể có nghĩa

vụ cấp dưỡng không được chuyển giao nghĩa vụ này cho người khác khi còn sống và bản chất của nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện được thực hiện giữa những người có mối quan hệ thân thích với nhau, không chuyển giao cho người ngoài gia đình Hơn nữa, đối với việc BLDS 2015 quy định về nghĩa vụ chi trả tiền cấp dưỡng còn thiếu, chỉ là người được hưởng di sản đang thay mặt người đã chết thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Việc này cũng bảo đảm được quyền lợi của những người được cấp dưỡng nên hoàn toàn hợp lý

Cụ thể hóa các mối quan hệ trong nghĩa vụ cấp dưỡng, Luật HN &

GĐ năm 2014 quy định cụ thể các trường hợp như sau:

Thứ nhất, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng

vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con

Thứ hai, nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha, mẹ

Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

Thứ ba, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em

Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; em đã thành niên không sống

Trang 33

chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

Thứ tư, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy định tại Điều 112 của Luật HN & GĐ

2014

Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại

có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật HN & GĐ 2014

Thứ năm, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột

Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa

vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật HN & GĐ 2014

Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột

có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì, chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật HN &

GĐ 2014

Về mức cấp dưỡng, khoản 1 Điều 116 Luật HN & GĐ 2014 có quy định, mức cấp dưỡng do chủ thể có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của chủ thể có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết" Như vậy, theo quy định của Luật, có hai cách thức để xác định mức cấp dưỡng là (i) Chủ thể có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận ; hoặc (ii) Theo bản án, quyết

Trang 34

định của Tòa án có thẩm quyền Việc xác định mức cấp dưỡng phụ thuộc vào hai yếu tố sau:

Một là, thu nhập, khả năng thực tế của chủ thể có nghĩa vụ cấp dưỡng (tức là căn cứ vào mức thu nhập thường xuyên hoặc tài sản chung họ còn sau khi đã trừ đi chi phí thông thường cần thiết cho cuộc sống của họ);

Hai là, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng (tức là mức sinh hoạt trung bình của người được cấp dưỡng theo mức sống trung bình của người dân địa phương nơi người được cấp dưỡng cư trú, bao gồm các chi phí cần thiết về ăn ở, mặc, học hành, khám chữa bệnh và các chi phí cần thiết khác nhằm bảo đảm cuộc sống của người được cấp dưỡng)

Việc xác định chủ thể được cấp dưỡng và mức cấp dưỡng là những vấn đề quan trọng Bởi vì hệ quả của vấn đề này liên quan đến việc bảo đảm quyền lợi của bên được nhận cấp dưỡng, quyền lợi của người hưởng di sản thừa kế và quyền lợi của các chủ nợ có thứ tự ưu tiên thanh toán sau khoản tiền cấp dưỡng này

Ngoài ra, để bảo đảm quyền lợi cho người được cấp dưỡng, Điều

119, Luật HN & GĐ 2014 quy định những người sau có quyền yêu cầu Tòa

án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, gồm có:

Một là, người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó;

Hai là, người thân thích của người được cấp dưỡng; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ

nữ

2.1.3 Chi phí cho việc bảo quản di sản

Theo quy định tại Điều 618, BLDS 2015, hai trong số các quyền của

người quản lý di sản là “b) Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế; c) Được thanh toán chi phí bảo quản di sản” Như vậy, người

quản lý di sản là chủ thể được thanh toán chi phí bảo quản di sản theo quy định pháp luật

Theo quy định nêu trên, chi phí bảo quản di sản bao gồm: (i) Những khoản tiền mà người quản lý di sản đã chi trả trên thực tế để duy trì giá trị của

Ngày đăng: 02/08/2019, 19:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
2. Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
3. Quốc hội (2014), Luật hôn nhân và Gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và Gia đình
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
4. Quốc hội (2000), Luật hôn nhân và Gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và Gia đình
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2000
5. Quốc hội (2015), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
6. Quốc hội (2012), Bộ luật lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật lao động
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2012
7. Quốc hội (2013), Luật Đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
8. Quốc hội (2012), Luật xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2012
9. Quốc hội (2012), Luật Ngân sách nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân sách nhà nước
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2012
10. Quốc hội (2014), Luật phá sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật phá sản
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
14. Hội đồng thẩm phán (2006), Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP
Tác giả: Hội đồng thẩm phán
Năm: 2006
15. Chính phủ (2016) Nghị định số 23/2016/NĐ-CP về xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 23/2016/NĐ-CP
16. Chính phủ (2015), Nghị định số 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật lao động năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 05/2015/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
17. Chính phủ (2016), Nghị định 163/2016/NĐ-CP của Chính Phủ hướng dẫn Luật ngân sách nhà nước 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 163/2016/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
18. Chính phủ (2006), Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính Phủ hướng dẫn giao dịch bảo đảm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 163/2006/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
20. Nguyễn Văn Cừ- Trần Thị Huệ (2017), “Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ- Trần Thị Huệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2017
21. Trần Nhâm (1995), Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan các quyển I-VI (1995), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan các quyển I-VI (1995)
Tác giả: Trần Nhâm (1995), Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan các quyển I-VI
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
22. Trần Thị Huệ “Xác định di sản và việc thanh toán , phân chia di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xác định di sản và việc thanh toán , phân chia di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam”
23. Phùng Trung Tập (2002) “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay”, Luận án tiến sĩ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay”
31. Website:https://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/loi-pho-bien-khi-xu-tranh-chap-thua-ke-2890515.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w