1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và các cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự và thực tiễn tại các tòa án nhân dân ở tỉnh lạng sơn

94 207 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc các chủ thể có yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án vừa giúp chính người có yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ dân sự,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

HOÀNG THỊ THU HƯỜNG

NGHĨA VỤ CUNG CẤP, GIAO NỘP CHỨNG CỨ

CỦA ĐƯƠNG SỰ VÀ CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN TẠI

CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

HOÀNG THỊ THU HƯỜNG

NGHĨA VỤ CUNG CẤP, GIAO NỘP CHỨNG CỨ

CỦA ĐƯƠNG SỰ VÀ CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN TẠI

CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 8380103

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN PHƯƠNG THẢO

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn

này

Tác giả Luận văn

Hoàng Thị Thu Hường

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP, GIAO NỘP CHỨNG CỨ CỦA ĐƯƠNG SỰ VÀ CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và các cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự 8

1.1.1 Khái niệm 8

1.1.2 Đặc điểm 12

1.1.3 Ý nghĩa của nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ 17

1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về hoạt động cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và các cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự 20

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức 23

1.3.1 Tính hợp lý, cụ thể của các quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức 23

1.3.2 Trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật của đương sự, cơ quan, tổ chức26 1.3.3 Vai trò, trách nhiệm và phẩm chất, đạo đức của Thẩm phán Tòa án 28

1.4 Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức 29

1.4.1 Quy định có tính nguyên tắc 29

1.4.2 Các quy định cụ thể về hoạt động cung cấp, giao nộp chứng cứ 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38

Chương 2.THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT 40 TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP, GIAO NỘP TÀI LIỆU CHỨNG CỨ CỦA ĐƯƠNG SỰ, CƠ QUAN TỔ CHỨC TẠI CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN LẠNG SƠN VÀ KIẾN NGHỊ 40

2.1 Khái quát chung về Lạng Sơn và các Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 40

2.1.1 Khái quát chung về Lạng Sơn 40

2.1.2 Khái quát chung về hoạt động của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Lạng Sơn 41

Trang 6

2.2 Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015 về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự và các cơ quan, tổ

chức có liên quan 45

2.2.1 Tình hình chung về thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Lạng Sơn kể từ khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành 45

2.2.2 Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự, của cơ quan tổ chức có liên quan 46

2.3 Một số khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về nghĩa vụ chứng minh và cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và các cơ quan tổ chức có liên quan 58

2.3.1 Về việc yêu cầu đương sự thực hiện nghĩa vụ sao gửi tài liệu chứng cứ cho đương sự khác trong vụ án 58

2.3.2 Việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự 59

2.3.3 Về thời hạn cung cấp, giao nộp chứng cứ 61

2.3.4 Vướng mắc trong việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan tổ chức theo yêu cầu của đương sự hoặc của Tòa án 63

2.4 Nguyên nhân của những vướng mắc, hạn chế 66

2.5 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về nghĩa vụ chứng minh và cung cấp, giao nộp chứng cứ 69

2.5.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật 69

2.5.2 Kiến nghị về việc thi hành pháp luật 71

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73

KẾT LUẬN CHUNG 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh, hội nhập kinh tế quốc tế một cách mạnh mẽ Các quan hệ của đời sống xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng vì thế nảy sinh ngày càng nhiều, càng đa dạng và phức tạp Thực trạng này cũng dẫn đến số lượng các tranh chấp, các yêu cầu về dân sự phát sinh cần được giải quyết tại Tòa án nhân dân (TAND) ngày càng gia tăng Chủ thể của các tranh chấp, yêu cầu dân sự có quyền tiếp cận Tòa án, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự để

từ việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án thì quyền, lợi ích của họ được công nhận và bảo vệ Quyền tiếp cận Tòa án, khởi kiện đến Tòa án là một trong những quyền tự nhiên, cơ bản của con người Tuy nhiên, trước thực trạng số lượng các tranh chấp, các yêu cầu phát sinh thành các vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân ngày càng gia tăng như hiện nay đòi hỏi phải có một cơ chế hiệu quả để giải quyết kịp thời, công bằng, khách quan các tranh chấp, yêu cầu đó Bên cạnh việc ghi nhận quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ, pháp luật còn quy định nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ chứng minh của người đã đưa ra yêu cầu nhằm hạn chế việc lạm dụng quyền yêu cầu, quyền khởi kiện

và đảm bảo giải quyết thấu tình, đạt lý các vụ việc dân sự tại Tòa án Việc các chủ thể có yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án vừa giúp chính người có yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ dân sự, vừa đảm bảo cho Tòa án có chứng cứ xác thực để giải quyết được vụ việc dân sự đúng quy định của pháp luật, từ đó nâng cao

uy tín, vai trò của Nhà nước trong việc ổn định các quan hệ dân sự nói riêng

và phát triển nền kinh tế đất nước nói chung

Trong pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam, người có quyền, lợi ích hợp pháp cần bảo vệ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, yêu cầu của mình và khi được Tòa án thụ lý giải quyết thì chính thức họ có tư cách đương sự trong vụ việc dân sự Trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật tố tụng dân sự còn giao cho cơ quan, tổ chức được khởi kiện, yêu cầu Tòa án

Trang 8

bảo vệ quyền, lợi ích của người có quyền, lợi ích đó trong vụ án dân sự mà cơ quan, tổ chức đã khởi kiện Nhìn chung, người có yêu cầu Tòa án giải quyết

vụ việc dân sự có thể là đương sự, có thể là cơ quan, tổ chức và song song với việc các chủ thể này được pháp luật công nhận có quyền yêu cầu Tòa án thì

họ phải gánh chịu nghĩa vụ tương ứng là phải chứng minh cho yêu cầu của họ

là có căn cứ và hợp pháp Để chứng minh, họ phải cung cấp, giao nộp cho Tòa án những chứng cứ, tài liệu cần thiết Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng

cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức đã được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 Tuy nhiên, đứng trước một nền kinh tế liên tục

có những biến chuyển và thay đổi mạnh mẽ, các quan hệ dân sự diễn ra ngày một đa dạng, tính chất các tranh chấp ngày càng phức tạp đã làm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự ngày càng khó khăn Mặc dù, BLTTDS 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung khá quyết liệt, mới mẻ so với các quy định trước đây, song các quy định của BLTTDS 2015 về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng

cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức vẫn còn bộc lộ những bất cập, thiếu sót cần được tiếp tục hoàn thiện Việc hoàn thiện các quy định của BLTTDS 2015 về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức sẽ làm đầy đủ hơn cơ sở pháp lý của việc các đương sự, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong các vụ việc dân sự

Để có thể hoàn thiện các quy định của BLTTDS 2015 về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức thì cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận như: khái niệm, đặc điểm, bản chất của nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trong

tố tụng dân sự; cơ sở khoa học của việc pháp luật quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức; các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trên thực tế; phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này để nhận ra những vướng mắc, hạn chế, trên cơ sở đó mới

có đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Nhận thức sâu sắc

được điều này, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và các cơ quan tổ chức trong tố tụng dân sự

Trang 9

và thực tiễn tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài tốt

nghiệp Thạc sĩ Bên cạnh đó, qua thực tiễn công tác trong Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, tác giả nhận thấy số lượng các tranh chấp dân sự yêu cầu Tòa

án phải giải quyết ngày càng nhiều; tuy nhiên việc giải quyết một số vụ việc dân sự chưa kịp thời, chưa đạt hiệu quả cao xuất phát từ việc áp dụng các quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ chưa đúng Thực trạng này do nhiều nguyên nhân khác nhau như: một số quy định của pháp luật về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức còn có vướng mắc, hạn chế; hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của đương sự còn chưa cao, nhiều cán bộ Tòa án chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của mình trong việc hướng dẫn, giúp đỡ đương sự, cơ quan, tổ chức cung cấp, giao nộp chứng cứ, vẫn có vụ việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm bị hủy, sửa

do không đủ chứng cứ Thực tế này đang và sẽ gây những tác động tiêu cực đến sự ổn định trong lĩnh vực dân sự và sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay nên rất cần được nghiên cứu để đưa ra giải pháp khắc phục

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu đề tài

“Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và các cơ quan tổ chức

trong tố tụng dân sự và thực tiễn tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Lạng Sơn” là

vô cùng cần thiết và có tính thời sự Hơn nữa việc nghiên cứu đề tài này cũng nhằm đáp ứng một trong các nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp được

đề ra trong Nghị quyết 49–NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 mà trước hết là tiếp tục hoàn thiện các quy định về thủ tục tố tụng dân sự, trong đó có các quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và các cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của các cơ quan, tổ chức

trong tố tụng dân sự chưa có nhiều Có một số tác giả đã nghiên cứu đến vấn

đề này nhưng chủ yếu dưới các góc độ liên quan hoặc nghiên cứu với một

Trang 10

khía cạnh nhất định Thực tế này cho thấy vấn đề nghĩa vụ cung cấp, giao nộp

chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự là một vấn đề

khá phức tạp, liên quan tới một số quy định của pháp luật còn có nhiều cách hiểu khác nhau nên cần được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, làm cơ sở để Tòa án tiến hành giải quyết một cách khách quan, chính xác các tranh chấp, yêu cầu dân sự

Trước khi có BLTTDS 2015, tác giả Lê Tiến Tý vào năm 1997 đã chọn

đề tài khóa luận “Nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự” làm đề tài tốt nghiệp đại học Có đề cập đến nghĩa vụ chứng minh, năm 2006 tác giả Lê Thị Phượng nghiên cứu về “Đương sự trong tố tụng dân sự” hay tác giả Nguyễn Triều Dương cũng có những nghiên cứu chuyên sâu về “Đương

sự trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Năm 2007, công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên Nguyễn Mạnh Quyết về “Nghĩa vụ chúng minh của đương sự - Vấn đề cơ bản nhất của tố tụng dân sự” cũng có những nghiên cứu nhất định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự Gần đây, năm 2013, tác giả Phạm Thị Hoàng Phúc có công trình nghiên cứu “Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”; công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Nga về “Bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự”… Nhìn chung, trong giai đoạn này, các công trình nghiên cứu trực tiếp về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự chưa nhiều, nếu có thì chỉ

đề cập đến tới một vài nội dung liên quan Tính cho đến nay các công trình này chỉ còn có tính chất tham khảo về phần lý luận, còn phần các quy định pháp luật đề cập trong đề tài nghiên cứu hiện nay đã không còn hiệu lực

Sau khi Quốc hội ban hành BLTTDS 2015, số công trình nghiên cứu

về đương sự, quyền và nghĩa vụ của đương sự, nghĩa vụ chứng minh của đương sự được nâng lên Năm 2016, tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo nghiên cứu về “Đương sự, việc xác định tư cách đương sự trong vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng”; tác giả Vũ Hoàng Anh nghiên cứu về “Quyền của nguyên đơn trong tố tụng dân sự Việt Nam”, tác giả Nguyễn Hữu Nam nghiên cứu về

“Nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam và thực tiễn thực hiện

Trang 11

tại Tòa án” Các công trình nghiên cứu này đã ít nhiều có đề cập đến nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, nêu và phân tích các quy định của BLTTDS 2015 hiện hành về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ để chứng minh Tuy nhiên chưa công trình nào nghiên cứu chuyên sâu cả về mặt lý luận

và thực tiễn của vấn đề nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, đặc biệt là của cơ quan, tổ chức Hy vọng với công trình nghiên cứu này về

“Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và các cơ quan tổ chức trong tố tụng dân sự và thực tiễn tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Lạng Sơn”,

tác giả sẽ giải quyết được những vấn đề lý luận cơ bản về nghĩa vụ cung cấp,

giao nộp chứng cứ, nêu được thực trạng việc áp dụng pháp luật về cung cấp, giao nộp chứng cứ ở các Tòa án thuộc tỉnh Lạng Sơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ một số vấn đề lý luận

chung về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và cơ quan, tổ chức theo quy định của BLTTDS 2015 Ngoài ra, luận văn còn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: Để đạt được mục đích nghiên cứu

trên thì nhiệm vụ nghiên cứu được xác định như sau:

+ Chỉ ra được khái niệm, các đặc điểm cũng như nêu cụ thể từng ý nghĩa của nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức; đưa ra được các cơ sở khoa học của việc quy định nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức và các yếu tố ảnh hưởng tới việc áp dụng các quy định này trên thực tế

+ Nêu các quy định hiện hành của BLTTDS 2015 về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức và chỉ ra thực trạng áp dụng pháp luật về vấn đề này tại TAND hai cấp tỉnh Lạng Sơn

+ Chỉ ra được nguyên nhân của những hạn chế cần khắc phục và trên

Trang 12

cơ sở đó đưa ra giải pháp khắc phục, gồm các giải pháp hoàn thiện pháp luật

và các giải pháp thực hiện pháp luật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề chung về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và các cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự; các quy định của BLTTDS 2015 về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức; thực tiễn thực hiện tại các TAND ở tỉnh Lạng Sơn từ năm 2014 đến nay

Về phạm vi nghiên cứu đề tài, tác giả chỉ tiến hành nghiên cứu về nghĩa

vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự Việt Nam mà không đi vào nghiên cứu vấn đề này trong tố tụng dân sự của các nước khác Trong đó tập trung nghiên cứu những quy định của BLTTDS Việt Nam hiện hành năm 2015 về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức mà không phải là toàn bộ hệ thống các quy định của pháp luật tố tụng dân sự từ trước đến nay Phần thực tiễn áp dụng pháp luật chỉ khảo sát tại các TAND trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nhưng trên cơ sở đó các giải pháp đưa ra để nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật không chỉ có ý nghĩa áp dụng với TAND hai cấp tỉnh Lạng Sơn mà có thể được áp dụng với các Tòa án khác

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng

Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ lịch sử

Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: phương pháp phân tích; phương pháp quy nạp; phương pháp diễn dịch; phương pháp nghiên cứu lịch sử; Phương pháp so sánh; phương pháp thống kê, tổng hợp

Trang 13

6 Những điểm mới của Luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và các cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự Nội dung Luận văn thể hiện các kết quả nghiên cứu mới như:

- Một số vấn đề lý luận về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự như: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa; cơ sở của việc quy định và các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các quy định của pháp luật về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương

sự, cơ quan, tổ chức

- Nêu và phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức; Tìm hiểu, đánh giá thực trạng việc áp dụng các quy định này tại các Tòa

án nhân dân trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, phân tích nguyên nhân của các hạn chế, thiếu sót đó Từ đó chỉ các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và một số kiến nghị khác nhằm nâng cao hiệu quả của việc cung cấp, giao nộp chứng cứ trong tố tụng dân sự

- Luận văn được bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho giảng viên, sinh viên chuyên ngành luật, các cán bộ làm công tác thực tiễn liên quan đến nghĩa vụ chứng minh, cung cấp, giao nộp chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam

7 Kết cấu của Luận văn

Luận văn bao gồm các phần: Mở đầu; Nội dung; Kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo

Phần nội dung của Luận văn được kết cấu làm hai chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng

cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự

Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

năm 2015 về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp tài liệu chứng cứ của đương sự, cơ quan tổ chức tại các Tòa án nhân dân Lạng Sơn và kiến nghị

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP, GIAO NỘP CHỨNG CỨ CỦA ĐƯƠNG SỰ VÀ CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC

Trước hết là về thuật ngữ “tố tụng” Theo Từ điển Hán Việt của tác giả Đào Duy Anh thì “tố tụng” là việc thưa kiện, còn “tố tụng pháp lý” là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tụng1 Cụ thể hơn, theo giải thích trong cuốn “Tiếng nói nôm na” của tác giả Lê Gia2 dẫn giải 30.000 từ Tiếng Việt thường dùng có liên quan đến từ Hán Việt do Nhà xuất bản Văn nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh phát hành năm 1999 thì “tố tụng” là vạch tội và đưa

ra cửa công để phân giải phải trái vì chữ “tố” là vạch tội, chữ “tụng” là thưa kiện ở cửa công để xin phân phải trái Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì

“tố tụng” là việc kiện tụng ra Tòa án và được Tòa án chấp nhận giải quyết việc kiện tụng đó để phân xử đúng sai

Bản chất của việc Tòa án giải quyết vụ kiện tụng là Tòa án dùng quyền lực nhà nước phân xử vụ kiện tụng theo yêu cầu của chủ thể đi kiện để tuyên

bố đúng sai và từ đó thì quyền lợi của chủ thể trong vụ kiện tụng sẽ được bảo

vệ Tùy thuộc vào quyền lợi được Tòa án bảo vệ mà tố tụng được phân chia thành tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tố tụng hành chính

Trong nghiên cứu khoa học luật tố tụng dân sự đã có nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “tố tụng dân sự” Có người hiểu tố tụng dân sự

1 Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán Việt, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, trang 302

2

Lê Gia (1999), Tiếng nói nôm na, Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, trang 1207,1208

Trang 15

là “tổng thể các quy trình, thủ tục, công đoạn có mối quan hệ chặt chẽ, liên tiếp với nhau để thông qua đó các chủ thể tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật, đưa ra các biện pháp cần thiết để giải quyết các tranh chấp dân sự một cách khách quan, công bằng, đúng pháp luật và đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ tố tụng dân sự3 Ngắn gọn hơn, có người hiểu tố tụng dân sự “là những việc kiện cáo nhau về các quan hệ dân

sự ra trước Tòa án và yêu cầu Tòa án giải quyết”4 Có nét tương đồng với cách hiểu đầu tiên, có người hiểu “tố tụng dân sự” không chỉ là việc kiện cáo nhau về các quan hệ dân sự ra Tòa án mà còn là “trình tự do pháp luật quy định cho việc giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án dân sự”5

Mỗi cách hiểu trên tuy có những điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều xác định: nói đến tố tụng dân sự là nói đến trình tự tố tụng hay còn gọi là quy trình tố tụng giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự Quy trình tố tụng này được thể hiện qua hai phương diện: pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự bởi: “pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự là hai mặt không thể tách rời của một

hệ thống thống nhất đó là quy trình tố tụng dân sự”6 Như vậy, giống như các tố tụng khác, tố tụng dân sự cũng là quy trình giải quyết vụ việc phát sinh tại Tòa án nhưng có điểm khác là tố tụng dân sự có đối tượng giải quyết là các vụ việc dân sự, mục đích hướng tới của tố tụng dân sự chỉ là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự của đương sự trong vụ việc dân sự

Thông thường, tố tụng dân sự (TTDS) chỉ được bắt đầu từ khi có yêu cầu của đương sự hoặc của cơ quan, tổ chức do pháp luật quy định, yêu cầu Tòa

án giải quyết và yêu cầu đó được Tòa án thụ lý giải quyết Về khái niệm đương sự trong TTDS cũng đã có nhiều giải thích khác nhau Có cách giải thích đương sự trong TTDS là “người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước thuộc

3 Trương Thị Hồng Hà, Quyền con người trong tố tụng dân sự Việt Nam,Trang thông tin điện tử của Tạp chí Dân chủ và pháp luật của Bộ Tư pháp ( www.tcdcpl.moi.gov.vn ), Thứ năm ngày 22/2/2018

4

Tống Quang Cường (2007), Luật tố tụng dân sự Việt Nam – Nghiên cứu so sánh, trang 5

5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, trang 11

6 Tòa án nhân dân tối cao (1996), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân

sự, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, trang 78

Trang 16

lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự”7 Có cách giải thích cho rằng đương sự trong TTDS là chủ thể trọng tâm của TTDS, lợi ích của họ là nguyên nhân và mục đích của quá trình tố tụng8

Lý giải một cách có ngọn nguồn hơn, có cách giải thích cho rằng khái niệm đương sự trong TTDS phải xuất phát đầu tiên từ “tố quyền”, tức là quyền năng được công nhận cho cá nhân và pháp nhân để yêu cầu cơ quan tài phán bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và khi tố quyền đó được “hành xử” bằng một đơn yêu cầu Tòa án bảo vệ thì những chủ thể trong vụ việc được Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích chính là đương sự9 Như vậy, nhìn chung khái niệm đương sự trong TTDS phải được xây dựng dựa trên hai đặc điểm: là người tham gia TTDS và có quyền, lợi ích dân sự trong vụ việc dân sự được Tòa án giải quyết Ngoài đương sự, do đặc thù của một số chủ thể cần được bảo vệ quyền và lợi ích nên pháp luật quy định quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể đặc thù đó sẽ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ Chính vì vậy, trong TTDS, ngoài đương sự thì cơ quan, tổ chức không phải là đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ kiện tụng cũng là một chủ thể pháp lý có vai trò quan trọng trong việc đưa ra yêu cầu đối với Tòa án nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự

Trong TTDS, khi có yêu cầu Tòa án giải quyết thì nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ trước hết thuộc về người có yêu cầu Nếu người có yêu cầu là đương sự thì đương sự có yêu cầu phải có nghĩa vụ chứng minh Nếu người yêu cầu không phải là đương sự mà là cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự thì

cơ quan, tổ chức có yêu cầu đó có nghĩa vụ chứng minh Nguyên lý này xuất phát từ nguyên tắc quyền bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ, song song với quyền đưa ra yêu cầu Tòa án giải quyết thì chủ thể thực hiện quyền đó phải gánh vác nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu Về thuật ngữ “nghĩa vụ chứng minh” thì trong nghiên cứu khoa học luật cũng đã có những giải thích khá cặn

Trang 17

kẽ “Nghĩa vụ” được hiểu là một quan hệ pháp luật, được xác lập giữa hai chủ thể, theo đó một chủ thể (chủ thể có quyền, hay còn gọi là người có quyền) có quyền yêu cầu chủ thể kia (chủ thể có nghĩa vụ, hay còn gọi là người có nghĩa vụ) phải hoàn thành một yêu cầu nhất định Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì “nghĩa vụ” thể hiện một mối quan hệ pháp lý mà trong mối quan hệ

đó một bên bắt buộc phải thực hiện công việc đối với bên chủ thể còn lại và nếu bên bắt buộc phải làm mà không làm thì phải chịu các hậu quả bất lợi Còn về thuật ngữ “chứng minh” thì trong TTDS, chứng minh thường được hiểu là “làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ”10 Liên hệ các giải thích này với nhau thì nghĩa vụ chứng minh còn có thể được hiểu là “bao gồm những hành vi tố tụng nhất định trong hoạt động chứng minh mà các chủ thể chứng minh bắt buộc phải tiến hành hoặc không được tiến hành theo quy định của pháp luật”11

Vì hiểu một cách chung nhất chứng minh là làm rõ điều đã đưa ra là có thật, là đúng nên trong TTDS, khi người đưa ra yêu cầu (là đương sự hoặc là

cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu) tại Tòa án thì người đưa ra yêu cầu đó phải chủ động chứng minh yêu cầu đó là có căn cứ, là hợp pháp Về mặt tâm

lý, người đưa ra yêu cầu phải chủ động, nỗ lực chứng minh, còn về hành vi thì người có yêu cầu phải đưa ra cho Tòa án thấy các bằng chứng, lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu Việc đưa ra cho Tòa án các bằng chứng, lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu của mình được gọi là cung cấp chứng cứ Tuy nhiên cũng phải nhấn mạnh rằng không phải tất cả những bằng chứng, lý lẽ mà đương sự,

cơ quan, tổ chức cung cấp cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu đều được công nhận ngay là chứng cứ mà các bằng chứng, lý lẽ đó sau khi được Tòa án nghiên cứu, đánh giá đã được Tòa án công nhận là căn cứ dùng để giải quyết

vụ việc dân sự thì mới là chứng cứ Trong TTDS, cung cấp chứng cứ cho Tòa

án chỉ là một trong các biện pháp chứng minh của đương sự, của cơ quan, tổ chức khi đưa ra yêu cầu và có ý nghĩa để Tòa án nhận thấy có các chứng cứ

Trang 18

cần thiết để giải quyết vụ việc dân sự Giải thích một cách đầy đủ hơn, cung cấp chứng cứ là hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng (mà trước hết là đương sự hoặc cơ quan, tổ chức có yêu cầu) trong việc đưa lại cho Tòa án, Viện kiểm sát các chứng cứ của vụ việc dân sự12

Còn về thuật ngữ “giao nộp chứng cứ” thì cũng như thuật ngữ “cung cấp chứng cứ”, thuật ngữ “giao nộp chứng cứ” chưa được định nghĩa cụ thể bằng bất kỳ quy phạm pháp luật TTDS nào Tuy nhiên, với những quy định cụ thể

về hoạt động giao nộp chúng cứ, tài liệu như hiện nay thì có thể hiểu “giao nộp chứng cứ” liên quan mật thiết với cung cấp chứng cứ, là hệ quả của cung cấp chứng cứ Nếu cung cấp chứng cứ là việc đưa ra cho Tòa án, Viện kiểm sát thấy có các chứng cứ, tài liệu làm căn cứ chứng minh cho yêu cầu thì

“giao nộp chứng cứ nhấn mạnh đến việc các chứng cứ, tài liệu đã được Tòa

án, Viện kiểm sát tiếp nhận, bảo quản theo quy định của pháp luật Như vậy, cung cấp, giao nộp chứng cứ là các hoạt động tố tụng tiếp nối nhau và dưới góc độ là nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức thì cả hai hoạt động tố tụng này đều nhằm đưa lại cho Tòa án những bằng chứng, lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu của mình

Tổng hợp những phân tích trên về những khái niệm liên quan thì có thể hiểu về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức trong TTDS như sau:

Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và các cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự là một quan hệ pháp luật tố tụng dân sự giữa Tòa

án với đương sự, cơ quan, tổ chức, trong đó bên đương sự, cơ quan, tổ chức phải thực hiện các hoạt động tố tụng bắt buộc để đưa lại cho Tòa án những bằng chứng, lý lẽ làm căn cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình và trên cơ

sở đó Tòa án mới giải quyết được đúng đắn vụ việc dân sự

1.1.2 Đặc điểm

Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và các cơ quan, tổ

chức trong TTDS có những đặc điểm sau:

12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, trang 151

Trang 19

- Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và cơ quan, tổ chức trong TTDS mang tính bắt buộc và nếu không thực hiện thì phải chịu các hậu quả pháp lý bất lợi

Trong khoa học luật nói chung và luật TTDS nói riêng thì quyền và nghĩa vụ TTDS là một cặp phạm trù không thể tách rời Khi một chủ thể pháp luật đã được pháp luật trao cho một quyền nào đó thì tương ứng với quyền đó

họ phải gánh vác một nghĩa vụ nhất định Nguyên lý này được xây dựng xuất phát từ mục đích tránh tình trạng chủ thể có quyền lạm quyền được trao và cũng là để chủ thể này bình đẳng với các chủ thể khác trong TTDS Trong TTDS, khi đương sự và cơ quan, tổ chức có quyền đưa ra yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự thì tương ứng đương sự và cơ quan, tổ chức phải có nghĩa vụ chứng minh việc mình đưa ra yêu cầu đó là có căn cứ, nếu không chứng minh được tức là đương sự và cơ quan, tổ chức đã đưa ra yêu cầu không đúng, có thể xâm phạm đến quyền, lợi ích hay có thể gây thiệt hại cho chủ thể bị yêu cầu Vậy muốn chứng minh được yêu cầu của mình là đúng, có căn cứ thì đương sự và cơ quan, tổ chức phải cung cấp, giao nộp được cho Tòa án những chứng cứ, tài liệu làm căn cứ chứng minh cho yêu cầu Cung cấp, giao nộp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu mà mình đã đưa ra là công việc bắt buộc mà đương sự và cơ quan, tổ chức đã đưa ra yêu cầu phải thực hiện mà không được lựa chọn thực hiện hay không thực hiện Đặc điểm này là điểm rất khác biệt với quyền cung cấp chứng cứ Nếu đương

sự, cơ quan, tổ chức có quyền cung cấp chứng cứ thì đương sự, cơ quan, tổ chức có thể thực hiện hay không thực hiện, nếu không thực hiện cũng không phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi Nghĩa vụ thì khác, thực chất nghĩa vụ

là công việc buộc phải làm, nếu công việc bắt buộc là phải cung cấp, giao nộp chứng cứ mà không thực hiện được hoặc thực hiện không đầy đủ thì đương

sự, cơ quan, tổ chức phải chấp nhận hậu quả bất lợi là yêu cầu của mình không được chấp nhận, từ đó quyền, lợi ích của mình không được bảo vệ, thậm chí còn phải chịu một số tiền phạt nhất định (trong pháp luật TTDS gọi tiền này là án phí) Nghiên cứu về đặc điểm này, tác giả Nguyễn Hữu Nam còn cho rằng nghĩa vụ của đương sự có tính bắt buộc, ngoài nhằm mục đích

Trang 20

bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức thì còn thể hiện sự tôn trọng Tòa án13

Tuy nhiên cần phải xác định đúng nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và cơ quan, tổ chức Không phải đương sự, cơ quan, tổ chức nào trong TTDS cũng có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ Chỉ đương

sự và cơ quan, tổ chức có yêu cầu Tòa án giải quyết mới có nghĩa vụ chứng minh, mới phải bắt buộc cung cấp, giao nộp chứng cứ Như vậy, nếu là đương

sự nhưng không phải là đương sự đưa ra yêu cầu thì không buộc phải cung cấp, giao nộp chứng cứ Trường hợp này có thể hiểu đương sự có quyền chứng minh, tức là họ tự quyết định cung cấp hay không cung cấp chứng cứ Mặt khác, nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự cũng phải được hiểu rất linh hoạt, không phải chỉ của đương sự là nguyên đơn trong vụ

án dân sự hay người yêu cầu trong việc dân sự Cụ thể là nếu trong một vụ án, một đương sự là nguyên đơn khởi kiện thì vì có yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đó có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình nhưng nếu trong vụ án đó có yêu cầu phản tố của bị đơn thì đối với yêu cầu phản tố của bị đơn nguyên đơn khởi kiện lại có quyền chứng minh đối với yêu cầu phản tố đó Trong trường hợp đó, bị đơn lại có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu phản tố của mình và có quyền cung cấp, giao nộp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Như vậy, nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự,

cơ quan tổ chức chỉ là công việc bắt buộc phải thực hiện khi họ có yêu cầu và nếu không thực hiện được nghĩa vụ thì đương sự, cơ quan tổ chức phải chấp nhận hậu quả pháp lý của việc không chứng minh được

- Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trong TTDS là một trong những hoạt động tố tụng quan trọng nhằm bảo đảm cho Tòa án có chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự

Tòa án là một cơ quan trong bộ máy nhà nước, được Nhà nước giao quyền lực để giải quyết vụ việc dân sự nhằm giữ vũng trật tự xã hội trong lĩnh

13 Nguyễn Hữu Nam (2017), Nghĩa vụ tố tụng của đương sự trrong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án, luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, trang 10

Trang 21

vực dân sự Vì là nhiệm vụ nên Tòa án cũng không được lựa chọn thực hiện hay không thực hiện mà phải tiếp nhận các vụ việc dân sự để giải quyết Tuy nhiên, vì Tòa án không phải là chủ thể của mâu thuẫn, tranh chấp, không phải

là chủ thể của quyền, lợi ích trong vụ việc dân sự phát sinh tại Tòa án nên đương nhiên Tòa án không thể có khả năng chứng minh tốt nhất, hiệu quả nhất về quyền, lợi ích hợp pháp Chủ thể có khả năng chứng minh tốt nhất, hiệu quả nhất về quyền, lợi ích hợp pháp trong vụ việc dân sự phải là chính chủ thể có quyền, lợi ích hoặc không phải là chủ thể của quyền, lợi ích đó nhưng được nhà nước giao nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích đó, tức là đương sự

và cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật TTDS

Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trong TTDS là một trong những hoạt động tố tụng quan trọng nhằm bảo đảm cho Tòa án có chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự và điều này cũng có nghĩa là việc cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự được đặt trong mối quan hệ pháp luật TTDS giữa một bên là đương sự, cơ quan, tổ chức có yêu cầu với một bên là Tòa án - cơ quan tiến hành tố tụng có địa vị pháp lý cao hơn, đại diện cho Nhà nước Như vậy, nói đến nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức là nói đến mối quan hệ pháp luật TTDS giữa hai bên có địa vị bất bình đẳng với nhau, trong đó bên là đương

sự, cơ quan, tổ chức phải thực hiện các yêu cầu của bên Tòa án Nhìn nhận theo một cách khác, nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức có mối liên hệ mật thiết với nhiệm vụ và quá trình giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án và vì vậy các quy định của pháp luật TTDS về nghĩa

vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và cơ quan, tổ chức là không thể thiếu Chính các quy định đó sẽ đảm bảo cho việc giải quyết được vụ việc dân sự của Tòa án

- Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự được thực hiện trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự

Trang 22

Vì chứng cứ là tất cả những gì có thật14 để chứng minh cho yêu cầu nên tất cả những gì có khả năng chứng minh cho yêu cầu đều cần được cung cấp, giao nộp cho Tòa án cho dù đó là thời điểm nào trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự Quy trình tố tụng giải quyết vụ việc dân sự được bắt đầu

từ khi có yêu cầu của những chủ thể có quyền yêu cầu và chỉ thực sự kết thúc khi có bản án, quyết định của Tòa án Thậm chí trong trường hợp sau khi có bản án, quyết định của Tòa án nhưng do đó mới là bản án, quyết định của cấp xét xử thứ nhất nên nếu việc giải quyết vụ việc dân sự được thực hiện ở cấp xét xử thứ hai là cấp xét xử phúc thẩm hay ở thủ tục tố tụng đặc biệt là giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ mới, chứng

cứ bổ sung của đương sự, cơ quan, tổ chức vẫn có thể được thực hiện

Cơ sở của việc có thể thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ trong suốt quá trình giải quyết vụ việc dân sự này xuất phát từ yêu cầu Tòa án phải giải quyết đúng đắn, hợp pháp vụ việc dân sự Chứng cứ chứa đựng sự thật khách quan của vụ việc dân sự nên vào bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết vụ việc dân sự Tòa án cũng có quyền yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức giao nộp Đặc điểm này còn có nghĩa là nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức có mối liên hệ mật thiết với nhiệm

vụ của Tòa án

- Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trong TTDS là giai đoạn đầu tiên trong quá trình chúng minh và có thể được thực hiện trực tiếp hoặc qua người khác mà pháp luật quy định

Trong quá trình chứng minh để đi đến sự thật khách quan của vụ việc dân sự thì cung cấp, giao nộp chứng cứ được thực hiện đầu tiên, sau đó mới đến các giai đoạn tiếp theo là thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ Giai đoạn đầu tiên này rất quan trọng, quyết định hiệu quả giải quyết vụ việc dân

sự của Tòa án Về nguyên tắc thì vì nghĩa vụ là công việc bắt buộc mà người

có nghĩa vụ phải thực hiện nhưng không phải lúc nào cũng được họ trực tiếp thực hiện Với đương sự, nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự

14

Đọc Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Trang 23

có thể do chính đương sự thực hiện nếu đương sự là người có đủ năng lực hành vi TTDS và họ muốn được trực tiếp thực hiện Tuy nhiên, trong một số trường hợp như họ không có năng lực hành vi TTDS hoặc họ muốn người khác có kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm hơn họ thực hiện thì nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự sẽ được thực hiện qua người đại diện hợp pháp của họ Người đại diện của họ có thể là người đại diện do pháp luật quy định, có thể là người đại diện ủy quyền, thậm chí có thể là người đại diện

do Tòa án chỉ định Để bảo đảm chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ việc nên phương thức thực hiện nghĩa vụ cũng cần phải có sự linh hoạt nhất định này

Từ việc phân tích các đặc điểm nêu trên, nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trong TTDS có thể được hiểu cụ thể dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ là một quan hệ pháp luật thì nghĩa

vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trong TTDS

là quan hệ pháp luật TTDS mà các bên chủ thể của quan hệ pháp luật này bất bình đẳng với nhau, theo đó bên chủ thể là Tòa án có quyền yêu cầu bên chủ thể còn lại là đương sự hoặc cơ quan, tổ chức phải đưa lại cho Tòa án những bằng chứng, tài liệu làm căn cứ cho việc giải quyết vụ việc dân sự Dưới góc

độ là hoạt động tố tụng thì nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương

sự, cơ quan, tổ chức trong TTDS là tổng hợp các hành vi tố tụng có tính bắt buộc mà đương sự, cơ quan, tổ chức có yêu cầu bắt buộc phải thực hiện nhằm đưa lại cho Tòa án căn cứ để chứng minh cho yêu cầu của đương sự, cơ quan,

tổ chức Dưới góc độ pháp luật, nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức trong TTDS là tổng hợp các quy phạm pháp luật TTDS quy định về hoạt động cung cấp, giao nộp chứng cứ nhằm đưa đến cho Tòa án các căn cứ pháp lý để Tòa án giải quyết yêu cầu của đương sự, của cơ quan, tổ chức

1.1.3 Ý nghĩa của nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ

- Ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án:

Hoạt động cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức giữ vai trò là tiền để cần thiết cho việc Tòa án giải quyết nhanh chóng và

Trang 24

đúng đắn vụ việc dân sự Khác với ba giai đoạn thu thập chứng cứ, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ của quá trình chứng minh nhằm làm sáng

tỏ sự thật khách quan của vụ án trong tố tụng hình sự, qúa trình chứng minh nhằm làm sang tỏ sự thật khách quan của vụ việc trong TTDS bao gồm bốn giai đoạn: cung cấp, giao nộp chứng cứ; thu thập chứng cứ, nghiên cứu chứng

cứ và đánh giá chứng cứ Trong bốn giai đoạn này thì giai đoạn cung cấp, giao nộp chứng cứ là giai đoạn quan trọng nhất, có tính chất quyết định đối với việc giải quyết vụ án vì vụ việc dân sự là do chính đương sự, cơ quan, tổ chức yêu cầu giải quyết, nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ là bắt buộc đối với đương sự, cơ quan, tổ chức, Tòa án chỉ thu thập thêm chứng cứ trong trường hợp đương sự, cơ quan, tổ chức không có khả năng cung cấp, giao nộp Như vậy, để Tòa án giải quyết được, giải quyết đúng vụ việc dân sự thì đương sự, cơ quan, tổ chức phải nỗ lực cung cấp, giao nộp chứng cứ để bảo

vệ quyền, lợi ích của mình Mặt khác, khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án nhân danh Nhà nước giải quyết các yêu cầu của đương sự, của cơ quan, tổ chức nên việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án rất cần phải đảm bảo uy tín của nhà nước Muốn đảm bảo uy tín thì việc giải quyết đó phải rất chính xác, hợp pháp, hợp lý mà quan trọng nhất là phải có đủ chứng cứ để giải quyết Việc cung cấp, thu thập chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức

có yêu cầu còn có tác động trực tiếp tới các giai đoạn tiếp theo của quá trình chứng minh Nếu chứng cứ được cung cấp, giao nộp đầy đủ thì giai đoạn tiếp theo của quá trình chứng minh là thu thập thêm chứng cứ sẽ không cần phải tiến hành và từ đó sẽ giảm được thời gian, công sức, tiền bạc của cả đương sự

và Nhà nước Từ những phân tích trên có thể nhận thấy giai đoạn cung cấp, giao nộp chứng cứ là giai đoạn đầu tiên trong quá trình chứng minh và có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự của Tòa án

- Ý nghĩa đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự:

Hoạt động cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức có ý nghĩa chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, từ đó Tòa án

có cơ sở để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức

Trang 25

Hoạt động này xuất phát từ chính tâm lý tự mình nỗ lực bảo vệ quyền, lợi ích của mình, tự mình định đoạt xem mình cần cung cấp, giao nộp những gì để chứng minh cho yêu cầu của mình Trong TTDS, đương sự, cơ quan, tổ chức

có yêu cầu thì đương sự, cơ quan, tổ chức phải cung cấp, giao nộp chứng cứ Nếu không cung cấp, giao nộp được chứng cứ thì việc bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự, cơ quan, tổ chức chỉ có thể trông chờ vào việc thu thập chứng

cứ của Tòa án mà Tòa án do không phải là chủ thể có quyền, lợi ích, không phải là chủ thể có yêu cầu thì rõ ràng Tòa án không phải là chủ thể chứng minh hiệu quả nhất Như vậy hoạt động cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức có ý nghĩa rất quan trọng trong việc các chủ thể này tự bảo vệ quyền, lợi ích của mình trước Tòa án

hiện được nhiệm vụ mà xã hội, nhà nước giao cho đó là “Bảo vệ công lý, bảo

vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”15 Với hoạt động cung cấp, giao nộp chứng cứ, các đương sự, cơ quan, tổ chức đã có

“thứ vũ khí” vô cùng hiệu quả để bảo vệ quyền, lợi ích của mình trong xã hội

15 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014

Trang 26

1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về hoạt động cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự và các cơ quan, tổ chức trong

- Việc xây dựng các quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức xuất phát từ chính nhu cầu cần tiếp cận công

lý của các chủ thể pháp luật

Đương sự, cơ quan, tổ chức chỉ có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án nếu đương sự, cơ quan, tổ chức có yêu cầu Tòa án giải quyết Khi các chủ thể này tìm đến Tòa án, yêu cầu Tòa án giải quyết có nghĩa là họ muốn tiếp cận công lý, họ thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích của họ Tiếp cận công lý là “khả năng của công dân có thể tìm kiếm và đạt được một sự đền bù hoặc khắc phục cho những bất công hoặc thiệt hại do cá nhân hay chủ thể khác gây ra, thông qua các cơ chế tư pháp chính thống hoặc không chính thống phù hợp với các nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người”16 Như vậy, quyền tiếp cận công lý là khả năng chủ thể yêu cầu nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để sử dụng pháp luật nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại cơ quan nhà nước khi có tranh chấp hoặc có xử lý vi phạm pháp luật Quyền tiếp cận công lý này cần được ghi nhận trong luật, xuất phát từ nhu cầu cần được bảo vệ quyền, lợi ích của chủ thể

16 Vũ Công Giao (2009), Tiếp cận công lý và các nguyên lý của nhà nước pháp quyền – Tạp chí Khoa học

Đại học Quốc gia Hà Nội, Tạp chí Luật học 25/2009, trang 188-194

Trang 27

Khi tiếp cận công lý để thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích của mình thì thực chất đương sự, cơ quan, tổ chức đã thực hiện quyền của mình và vì thế đương nhiên họ phải gánh vác nghĩa vụ kèm theo, đó là nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án để Tòa án có thể giải quyết được vụ việc dân sự Việc pháp luật TTDS quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức cũng là điều tất yếu bởi nếu không được luật hóa thì các chủ thể pháp lý này có thể chỉ thực hiện quyền đưa ra yêu cầu đối với Tòa án mà không thực hiện việc họ cần phải làm

là cung cấp, giao nộp chứng cứ để Tòa án giải quyết được vụ việc dân sự Như vậy các quy định của pháp luật TTDS về nghĩa vụ cung cấp chứng

cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức chính là hệ quả của các quy định ghi nhận quyền tiếp cận công lý của của đương sự, của cơ quan, tổ chức Các quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ này có ý nghĩa như một biện pháp để Tòa

án giải quyết được vụ việc dân sự, từ đó đảm bảo trên thực tế cho các quyền

và lợi ích về dân sự của đương sự, của cơ quan, tổ chức Điều này cung có nghĩa là việc xây dựng các quy định về nghĩa cung cấp, giao nộp chứng cứ của phải gắn với các yêu cầu bảo vệ công lý, bảo đảm các quyền tố tụng của đương sự, của cơ quan, tổ chức trong TTDS

- Việc xây dựng các quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng, công bằng trước Tòa án của các chủ thể trong tố tụng dân sự

Quyền bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ Một chủ thể được hưởng quyền thì tương ứng phải gánh vác nghĩa vụ Đây là nguyên tắc công bằng, bình đẳng mà các nhà làm luật phải áp dụng khi quy định quyền và nghĩa vụ của một chủ thể pháp luật Quyền bình đẳng là quyền tự nhiên của con người nên không chỉ áp dụng nguyên tắc công bằng, bình đẳng với mỗi chủ thể áp luật

mà các nhà làm luật còn phải áp dụng nguyên tắc này trong mối quan hệ giữa chủ thể pháp luật khác nhau Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức chỉ đặt ra khi các chủ thể này thực hiện quyền yêu cầu, còn nếu họ không đưa ra yêu cầu thì việc cung cấp, giao nộp chứng

Trang 28

cứ không thể là nghĩa vụ của họ mà phải hiểu là quyền của họ Trong hoạt động chứng minh, các chủ thể có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, họ đều được hưởng quyền và đều phải gánh vác nghĩa vụ tương ứng Nguyên lý này được các nhà làm luật sử dụng khi xây dựng các quy định pháp luật TTDS nói chung hay các quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ nói riêng Như vậy, khi nói đến nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức thì chúng ta phải hiểu được trước đó các chủ thể này đã được hưởng quyền tương ứng và nếu họ thực hiện quyền đó thì kèm theo họ phải thực hiện nghĩa vụ

- Việc xây dựng các quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam còn xuất phát từ đường lối của Đảng về hoạt động tư pháp

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị

về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là một văn kiện chính trị vô cùng quan trọng của Đảng ta trong việc hoạch định chủ trương, đường lối xây

dựng nền tư pháp Với mục tiêu “Xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững

mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp

mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”

chúng ta có thể thấy mục tiêu chiến lược mà Bộ Chính trị đề ra là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của một xã hội đang thực hiện đường lối đổi mới một cách toàn diện, phù hợp với thể chế Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Trong Nghị quyết cũng xác định Tòa án là trung tâm, hoạt động xét xử là trọng tâm của cải cách tư pháp Để Tòa án thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa thì nhân dân cần tự nỗ lực và giúp Tòa án giải quyết được các vụ việc dân sự phát sinh tại tòa Muốn vậy, pháp luật TTDS Việt Nam cần có quy định cụ thể về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án, cần phải có cơ chế bắt buộc người có yêu cầu Tòa án giải quyết (là đương sự, cơ quan, tổ chức) bắt buộc phải cung cấp cho Tòa án, giao nộp cho Tòa án những

gì họ biết, những gì liên quan đến chính họ Có thể khẳng định có quy định về

Trang 29

nghãi vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ thì các quy định về vai trò, nhiệm vụ của Tòa án mới có tính thực tế, khả thi

- Việc xây dựng các quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam còn xuất phát từ cơ sở thực tiễn, đó là nhìn chung trình độ dân trí, hiểu biết

pháp luật của người dân Việt Nam chưa cao, nhiều người chưa nhận thức được quyền phải đi đôi với nghĩa vụ Việc pháp luật TTDS quy định rõ ràng

về công việc bắt buộc họ phải làm khi đưa ra yêu cầu tại Tòa án sẽ có tác dụng giúp họ tự biết được nghĩa vụ của mình Khi đã biết được nghĩa vụ của mình thì các chủ thể có nghĩa vụ sẽ tự có ý thức và tự giác thực hiện nghĩa vụ Tuy nhiên, về mặt tâm lý khi chủ thể có nghĩa vụ, họ hay có thái độ đùn đẩy, không muốn thực hiện nghĩa vụ Việc pháp luật TTDS quy định rõ công việc bắt buộc họ phải thực hiện, thứ tự và trình tự họ phải thực hiện nghĩa vụ sẽ làm cho họ có không muốn thực hiện thì cũng phải thực hiện Như vậy, chính các quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan,

tổ chức lại là các quy định về bảo đảm cho Tòa án giải quyết vụ việc dân sự Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế đất nước ta đang phát triển, các quan hệ xã hội phát sinh ngày càng nhiều, càng phức tạp Điều này cũng kéo theo các mâu thuẫn, tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh tại Tòa án ngày càng nhiều Khối lượng công việc tại các Tòa nhiều hơn, nhiệm vụ của Tòa án ngày một khó khăn hơn, nên để Tòa án có thể có những thuận lợi nhất khi giải quyết thì pháp luật cần phải quy định cụ thể nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể liên quan Việc quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức cũng được xây dựng trên cơ sở thực tiễn đó

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức

1.3.1 Tính hợp lý, cụ thể của các quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức

Đối với bất cứ nội dung pháp lý nào cần được xây dựng trong các quy phạm pháp luật thì tính cụ thể, tính hợp cũng được chú trọng đầu tiên Bản

Trang 30

chất của nghĩa vụ là công việc có tính bắt buộc phải thực hiện nên một chủ thể khi có nghĩa vụ thì nhìn chung là họ không muốn thực hiện, vì thế để họ

tự giác thực hiện thì các quy định về nghĩa vụ phải hợp lý và sự hợp lý này phải được chính chủ thể có nghĩa vụ nhận thấy Khi chủ thể nhận thấy nghĩa

vụ mà mình phải thực hiện là hợp lý thì họ sẽ có ý thức tự giác thực hiện Đây chính là sức hút nội tại của quy phạm pháp luật

Tính hợp lý trong các quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức thể hiện qua nhiều tiêu chí khác nhau, dựa trên các nguyên lý của khoa học luật TTDS Ví dụ, các quy định này phải là

hệ quả của các quy định ghi nhận quyền của chủ thể trước đó bởi nghĩa vụ thường có sau quyền của chủ thể Đương sự, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ thì trước đó họ phải được pháp luật ghi nhận quyền đưa ra yêu cầu đối với Tòa án Ngoài ra, tính hợp lý của các quy định

về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức còn thể hiện qua tiêu chí mức độ hay phạm vi của nghĩa vụ mà chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện Họ có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ nhưng chỉ trong phạm vi chứng minh cho yêu cầu của chính họ, còn đối với yêu cầu của chủ thể khác trong vụ việc họ không có nghĩa vụ đó Họ có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ nhưng chỉ đến mức độ họ có khả năng cung cấp, giao nộp chứng cứ đó, còn ngoài khả năng của họ thì không thể buộc họ phải thực hiện

Khi xây dựng các quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức, các nhà làm luật còn phải chú ý đến tính hợp

lý trong việc quy định trình tự, thủ tục của việc cung cấp, giao nộp chứng cứ Trong quá trình chứng minh để làm sang tỏ sự thật khách quan của vụ việc dân sự, cung cấp, giao nộp chứng cứ là giai đoạn chứng minh đầu tiên, có tính quyết định bởi nếu giai đoạn này được thực hiện có hiệu quả thì Tòa án có điều kiện thuận lợi để giải quyết vụ việc, ngược lại nếu giai đoạn này không được thực hiện một cách hiệu quả thì Tòa án sẽ khó khăn trong việc giải quyết

vụ việc dân sự Vì là giai đoạn quan trọng nên pháp luật cần quy định cụ thể

về thủ tục cung cấp, trình tự giao nộp chứng cứ để việc cung cấp, giao nộp

Trang 31

chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức không chỉ hiệu quả mà còn minh bạch, công bằng Vì tâm lý chung của người có nghĩa vụ thường là ngại thực hiện công việc bắt buộc phải làm nên thủ tục của việc cung cấp, giao nộp chứng cứ phải đơn giản, nhanh chóng, tạo thuận lợi cho đương sự, cơ quan, tổ chức Mặt khác, vì cung cấp, giao nộp chứng cứ để chứng minh cho sự thật khách quan mà mình muốn làm sang tỏ nên các quy định về thủ tục, trình tự của việc cung cấp, giao nộp chứng cứ phải làm cho các đương sự, cơ quan, tổ chức có cảm giác tin tưởng, minh bạch, khách quan khi cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án Điều này có nghĩa là bên cạnh việc pháp luật TTDS phải xây dựng các quy định về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ thì còn phải xây dựng cả các quy định về bảo quản, bảo vệ chứng cứ Ngoài ra, vì việc cung cấp, giao nộp chứng cứ là nghĩa vụ chứ không phải quyền của đương sự, cơ quan, tổ chức nên thông thường song song với các quy định về trình tự, thủ tục của việc cung cấp, giao nộp chứng cứ thì pháp luật TTDS còn quy định về thủ tục bên cung cấp, giao nộp chứng cứ cần phải chuyển cho bên đương sự đối lập bản sao tài liệu, chứng cứ đã cung cấp, giao nộp cho Tòa án Thời hạn để đương sự, cơ quan, tổ chức cung cấp, giao nộp chứng cứ cũng là một nội dung cần được pháp luật TTDS quy định một cách hợp lý, cụ thể Cung cấp, giao nộp chứng cứ phải được thực hiện trong một thời hạn nhất định để Tòa án kịp thời giải quyết vụ việc dân sự, kịp thời bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy nhiên vì cung cấp, giao nộp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, để bảo vệ quyền và lợi ích nên thời hạn cung cấp chứng cứ cũng phải được quy định đủ dài để các chủ thể có nghĩa vụ này có thể bảo vệ được tốt nhất quyền, lợi ích của mình Như vậy, làm thế nào để quy định hợp lý, cụ thể thời hạn cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức thực sự là một thách thức không nhỏ đối với các nhà làm luật về vấn đề này Thông thường thời hạn cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức sẽ có thể được thực hiện trong suốt quá trình

tố tụng, chỉ kết thúc khi Tòa án ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân

sự Tuy nhiên, trong một số trường hợp, kể cả khi đã có bản án, quyết định

Trang 32

giải quyết vụ việc dân sự thì nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự, của

cơ quan, tổ chức vẫn có thể được thực hiện

1.3.2 Trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật của đương sự, cơ quan, tổ chức

Lý luận chung về nhà nước và pháp luật đã chỉ ra rằng bản chất của pháp luật là các quy tắc xử sự mà Nhà nước đặt ra cho các chủ thể trong xã hội phải tuân thủ, là khung pháp lý do Nhà nước đặt ra để mọi tổ chức, mọi công dân dựa vào đó hoạt động và phát triển Cho dù các quy định của hệ thống pháp luật có hoàn chỉnh đến đâu, khung pháp luật có toàn diện đến đâu

mà các chủ thể là người dân trong xã hội không có kiến thức, không có ý thức pháp luật thì các quy định của hệ thống pháp luật cũng không thể phát huy tốt tác dụng Khi đó, người dân không thể có hành vi hợp pháp, không thể sử dụng pháp luật làm phương tiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và pháp luật cũng không còn là phương tiện để quản lý Nhà nước, quản

lý xã hội

Đối với các quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự, của

cơ quan, tổ chức cũng vậy Để chúng có thể được thực hiện hiệu quả trên thực

tế thì các đương sự phải có sự hiểu biết pháp luật nhất định, từ pháp luật chung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân đến pháp luật TTDS Nếu đương sự thiếu kiến thức pháp luật về vấn đề này thì rất có thể họ

sẽ lạm quyền dân sự của mình, không thực hiện bổn phận của họ đối với các chủ thể khác trong TTDS, đặc biệt là đối với Tòa án và các cơ quan tiến hành TTDS khác Việc đương sự, cơ quan, tổ chức không biết hoặc cố tình không thực hiện đúng, không thực hiện đủ nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính quyền và lợi ích hợp pháp của họ Họ thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ là để bảo vệ quyền, lợi ích của họ nên nếu họ do vô ý hoặc cố ý không thực hiện nghĩa vụ thì quyền của họ cũng không được bảo vệ Chính vì vậy, hiệu quả hay còn gọi là tính khả thi của các quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự,

Trang 33

của cơ quan, tổ chức phụ thuộc vào trình độ, ý thức tuân thủ pháp luật của chính các chủ thể này

Mặt khác, với thực trạng số lượng các văn bản pháp luật được ban hành ngày càng nhiều, nội dung càng ngày càng đa dạng, phức tạp nhằm điều chỉnh nhiều loại quan hệ xã hội đa dạng như hiện nay của Việt Nam thì việc người dân phải nắm bắt được các văn bản pháp luật cũng như các nội dung của các văn bản đó là một đòi hỏi rất khó đáp ứng một cách toàn diện Do xuất phát điểm về mặt dân trí của người dân Việt Nam là thấp, do lịch sử kinh tế, xã hội của Việt nam có nhiều biến cố nên người dân Việt Nam chưa có nhiều thời gian để nâng cao kiến thức pháp lý của mình Chính vì thế, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, góp phần nâng cao hiểu biết, ý thức pháp luật của nhân dân để các quy định của pháp luật thực sự được đi vào đời sống xã hội Tuy nhiên, hiện tại công tác này vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của một đất nước đang “đổi mới”, chưa thỏa mãn được nhu cầu bức thiết về tìm hiểu nội dung pháp luật mà người dân Trong thời gian tới, hình thức phổ biến giáo dục pháp luật, trong đó có giáo dục về quyền tiếp cận Tòa án, về trách nhiệm của Tòa án phải nhận đơn và giải quyết đơn đúng thẩm quyền cần phải được tập trung thực hiện hơn nữa thì hiệu quả của các quy định pháp luật mới nâng cao Ngoài ra, việc tuyên truyền cho người dân sử dụng các hình thức bổ trợ

tư pháp, các dịch vụ pháp lý trong xã hội như mời luật sư, mời người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình… cũng cần phải được chú trọng hơn, có như thế trình độ dân trí, pháp lý của người dân Việt Nam mới được nâng cao,

từ đó việc thực hiện nghĩa vụ do pháp luật quy định của họ mới có hiệu quả như mong muốn

Như vậy trình độ dân trí và ý thức pháp luật của người dân cũng là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc áp dụng các quy định của pháp luật nói chung

và các quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức nói riêng Khi trình độ dân trí được nâng lên, việc tiếp cận các quy định của pháp luật được tăng cường và có chất lượng hơn sẽ giúp đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống tốt hơn

Trang 34

1.3.3 Vai trò, trách nhiệm và phẩm chất, đạo đức của Thẩm phán Tòa

án

Toà án thực hiện quyền Tư pháp của Nhà nước nên Tòa án phải là biểu tượng của việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, phải là nơi mà mọi người tìm thấy lẽ phải, sự công bằng, tính nhân văn của pháp luật Bác Hồ đã từng chỉ

dạy “trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch”, có như

vậy Toà án mới thực sự là của nhân dân, vì nhân dân Tòa án là một cơ quan nhà nước nhưng nhiệm vụ của cơ quan nhà nước lại được thực hiện bởi các cá nhân của cơ quan nhà nước đó Đội ngũ cán bộ của Tòa án, đặc biệt là các Thẩm phán sẽ quyết định hiệu quả của các hoạt động trong TTDS

Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ là của đương sự, cơ quan, tổ chức có yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự Mặc dù công việc cung cấp, giao nộp chứng cứ đó bắt buộc đương sự, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nhưng có thể do trình độ, do tâm lý, do ý thức mà họ không biết hoặc không thực hiện được hiệu quả công việc đó Nếu có sự hướng dẫn, giải thích, hỗ trợ phù hợp thì công việc đó của họ sẽ được thực hiện hiệu quả hơn Thẩm phán

có vai trò hướng dẫn, có nhiệm vụ giúp đỡ các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý nên Thẩm phán cần phải là người nhiệt tình, liêm khiết, khách quan, vô tư, trung thực, có chuyên môn sâu và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Như vậy, có hệ thống các quy phạm pháp luật tốt, có người thực hiện pháp luật tốt thì dù vụ việc dân sự có khó khăn đến đâu cũng có thể giải quyết được

Muốn nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, của cơ quan, tổ chức được thực hiện hiệu quả thì người tiến hành TTDS phải là người có phẩm chất tốt cộng với năng lực chuyên môn tốt Thực tế đã cho thấy có trường hợp cán bộ Tòa án không hề có ý định thiên vị hay làm khó dễ cho một bên đương sự nhưng do trình độ chuyên môn hạn chế nên người cán

bộ của Tòa án lại không hướng dẫn đúng đương sự, cơ quan, tổ chức cần phải cung cấp, giao nộp chứng cứ nào, làm cho đương sự không bảo vệ hiệu quả được quyền, lợi ích của mình Thực tiễn còn cho thấy một số trường hợp cá biệt không phải do hạn chế về năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà

Trang 35

là do có ý định nhũng nhiễu hay thờ ơ, vô trách nhiệm mà Thẩm phán không hướng dẫn, gây khó khăn cho người thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ Như vậy, có thể khẳng định vai trò, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức

1.4 Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức

Quy định của pháp luật TTDS Việt nam hiện hành về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, cơ quan, tổ chức được thể hiện qua BLTTDS 2015 với các nội dung sau:

1.4.1 Quy định có tính nguyên tắc

Hoạt động trong TTDS là một hoạt động tố tụng đặc biệt quan trọng, có

ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết được, giải quyết đúng vụ việc dân

sự Vì vậy, việc cung cấp, giao nộp chứng cứ để chứng minh đã được pháp luật TTDS quy định thành một nguyên tắc cơ bản và đặc trưng tại Điều 6 của BLTTDS 2015 Nguyên tắc là tư tưởng pháp lý chủ đạo, có tính định hướng công tác xây dựng và thực hiện pháp luật nên nguyên tắc tại Điều 6 có ý nghĩa chi phối tới các điều luật sau về nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ và các quy định sau đó phải đồng bộ, tuân theo tư tưởng pháp lý tại Điều 6

Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 BLTTDS 2015 thì có hai nội dung được quán triệt:

- Thứ nhất, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

Với quy định cụ thể này thì việc cung cấp, giao nộp chứng cứ vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của đương sự trong TTDS Là quyền của đương sự khi đương sự đó bị đương sự khác hoặc chủ thể khác có yêu cầu đối với mình Là nghĩa vụ khi đương sự có yêu cầu đối với đương sự khác Đối với một đương

Trang 36

sự cụ thể thì có thể đương sự đó vừa có nghĩa vụ chưng minh (vì họ đưa ra yêu cầu đối với đương sự khác) nhưng đồng thời họ lại là đương sự có quyền chứng minh (vì đương sự khác đưa ra yêu cầu đối với họ) Nếu cung cấp, giao nộp chứng cứ là quyền của đương sự thì đương sự có thể tự quyết định cung cấp, giao nộp hay không cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án, Tòa án không có quyền buộc đương sự phải thực hiện việc cung cấp, giao nộp Khi đương sự quyết định không cung cấp, giao nộp thì Tòa án không được áp hậu quả pháp lý đối với họ Ngược lại, khi việc cung cấp, giao nộp chứng cứ là nghĩa vụ của đương sự thì bắt buộc họ phải thực hiện công việc đó, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả họ phải chấp nhận hậu quả pháp lý bất lợi

Việc cung cấp, giao nộp chứng cứ dù là quyền hay nghĩa vụ của đương

sự thì về nguyên tắc chung họ phải chủ động cung cấp, giao nộp cho Tòa án

để giúp Tòa án xác định sự thật khách quan, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự Tư tưởng phải “chủ động” này hoàn toàn phù hợp với bản chất của hệ thống luật dân sự và TTDS bởi đối với quyền, lợi ích dân sự thì người

có quyền, lợi ích dân sự có trách nhiệm tự bảo vệ, nỗ lực hơn các chủ thể khác Trong TTDS, Tòa án chỉ là người nhận chứng cứ, bảo quản chứng cứ và quyết định bên nào có nhiều chứng cứ chứng minh hơn chứ không phải là người chủ động chứng minh cho đương sự Việc các đương sự cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án chính là một biện pháp chứng minh của đương sự, chứng minh về sự thật khách quan, chứng minh yêu cầu của mình đặt ra đối với Tòa án là có căn cứ

- Thứ hai, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự

Với quy định này thì mặc dù cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhưng

vì là để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác nên cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là đương sự mà chỉ là chủ thể có quyền khởi kiện Tuy không phải là đương sự nhưng vì cũng như đương sự là đưa ra

Trang 37

yêu cầu khởi kiện nên cơ quan, tổ chức, cá nhân vẫn giống đương sự về quyền

và nghĩa vụ chứng minh Với tư tưởng chỉ đạo này thì cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ để chứng minh khi cơ quan, tổ chức có yêu cầu và sẽ có quyền cung cấp, giao nộp chứng cứ đối với yêu cầu của đương sự khác với mình

Không chỉ quy định chung có tính nguyên tắc về quyền và nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ, khoản 2 Điều 6 BLTTDS 2015 còn quy định về trách nhiệm của Tòa án “Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định” Từ nội dung của khoản 2 này chúng ta

có thể nhận thấy đây là quy định có vai trò như một bảo đảm cho nội dung của khoản 1 Điều 6 BLTTDS 2015 Khi có yêu cầu, đương sự, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ, và nghĩa vụ này phải được chủ động thực hiện Tuy nhiên, nếu Tòa án là cơ quan tiếp nhận, bảo quản chứng cứ lại không hướng dẫn đương sự, gây khó khăn cho đương sự thì việc cung cấp, giao nộp dù có do các chủ thể có nghĩa vụ chủ động thực hiện thì cũng không thể thực hiện được Như vậy, khoản 2 Điều 6 là quy định để bảo đảm cho khoản 1 Điều 6 BLTTDS 2015 là hoàn toàn hợp lý, làm cho điều luật có tính khả thi

1.4.2 Các quy định cụ thể về hoạt động cung cấp, giao nộp chứng cứ

Sau quy định thuộc phần chung có tính nguyên tắc thì cung cấp, giao

nộp chứng cứ được quy định cụ thể tại Chương 7 với một số điều luật chứa

đựng các nội dung khá cụ thể

* Về chủ thể có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng minh

Như đã phân tích ở các phần trước, hoạt động cung cấp, giao nộp chứng cứ là hoạt động đầu tiên trong quá trình chứng minh Là hoạt động đầu tiên nên chắc chắn việc thực hiện sẽ có nhiều khó khăn nên nội dung đầu tiên pháp luật TTDS cần quy định rõ là trong một vụ việc dân sự cụ thể thì những chủ thể nào có nghĩa vụ chứng minh và trong các chủ thể chứng minh đó thì

ai là chủ thể chứng minh đầu tiên Điều này có nghĩa là không chỉ phải nghiên

Trang 38

cứu xem pháp luật TTDS quy định ai có nghĩa vụ chứng minh mà còn phải quy định thứ tự chứng minh giữa các chủ thể có nghĩa vụ Theo quy định tại Điều 91 BLTTDS 2015 thì chủ thể có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ trong tố tụng dân sự bao gồm đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân

- Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ là đương sự: Xuất

phát từ quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì khi được Tòa án thụ lý vụ việc, người yêu cầu, người bị yêu cầu mới có tư cách đương

sự trong vụ án Đương sự trong vụ án có thể là người yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện

để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước hoặc của người khác Theo quy định tại Điều 91 BLTTDS 2015, nhìn chung “đương sự có yêu cầu” (khoản 1), “đương sự phản đối yêu cầu” (khoản 2), cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước hoặc của người khác (khoản 3) có nghĩa vụ chứng minh, trừ một số trường hợp có quy định khác Như vậy không phải tất cả đương sự trong vụ việc dân sự đều có nghĩa

vụ chứng minh mà chỉ là đương sự có yêu cầu, đương sự phản đối yêu cầu

Giao nộp tài liệu, chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của đương sự; việc giao nộp chứng cứ là một trong những nội dung quan trọng của tranh tụng nên đương sự phải giao nộp đầy đủ và công khai các tài liệu chứng cứ, trừ trường hợp pháp luật quy định được giữ bí mật Xuất phát từ quan điểm đó BLTTDS

2015 quy định: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự phải giao nộp tài liệu chứng cứ liên quan; Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ Đương sự phải giao nộp, nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập để giải quyết vụ việc dân sự.Thứ tự chứng minh giữa các đương sự cũng được sắp xếp khá rõ tại khoản 1, khoản 2 Điều 91 BLTTDS 2015: đương sự có yêu cầu phải cung cấp, giao nộp chứng cứ trước (trừ một số trường hợp) rồi đến đương sự phản

Trang 39

đối yêu cầu cung cấp, giao nộp chứng cứ, tài liệu sau và việc cung cấp, giao nộp phải diễn ra đối với Tòa án, tại Tòa án

Đối với chủ thể có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án là

cơ quan, tổ chức thì theo quy định tại Điều 187, cơ quan, tổ chức có quyền đưa ra yêu cầu khởi kiện theo quy định của pháp luật và tương ứng với quyền

đó là nghĩa vụ chứng minh bao gồm: Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình,

Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Tổ chức đại diện tập thể lao động, Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Các cơ quan, tổ chức này khởi kiện nhưng vì không phải để bảo vệ quyền, lợi ích của chính họ nên họ không phải là đương sự, nhưng dù không phải là đương sự thì BLTTDS 2015 vẫn quy định họ phải có nghĩa vụ chứng minh việc họ đưa ra yêu cầu khởi kiện là có căn cứ Trường hợp cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình khởi kiện để yêu cầu Tòa

án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách thì tư cách của cơ quan, tổ chức đó là đương sự theo quy định tại khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015 và là đương sự nên họ có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ như các đương sự khác có yêu cầu trong vụ việc dân sự

- Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ là cơ quan tổ chức:

Đây là trường hợp pháp luật TTDS quy định cơ quan tổ chức mặc dù không khởi kiện, không có yêu cầu độc lập nhưng có nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án khi cơ quan, tổ chức đang lưu giữ chứng cứ có ý nghĩa trong việc giải quyết đúng đắn vụ án Nghĩa vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ

của cơ quan, tổ chức được quy định tại điều 7 BLTTDS 2015: “Cơ quan, tổ

chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó”

Xuất phát từ thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự, các tài liệu chứng cứ

có ý nghĩa quan trọng để giải quyết đúng đắn vụ án chủ yếu đương sự giao

Trang 40

nộp, cung cấp hoặc do các cơ quan, tổ chức, cá nhân lưu giữ chứng cứ cung cấp Trong đó các tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức lưu giữ chiếm tỉ lệ lớn bao gồm các tài liệu đọc được, nghe được, dữ liệu điện tử, văn bản công chứng, chứng thực

Khoản 3 Điều 106 quy định: Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày,

kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án

* Về mục đích của việc cung cấp, giao nộp chứng cứ

Mục đích của việc cung cấp, giao nộp chứng cứ được quy định khá cụ thể tại Điều 96 BLTTDS 2015, theo đó đương sự, cơ quan, tổ chức phải cung cấp, giao nộp chứng cứ là để chứng minh cho yêu cầu của chính mình đã đưa

ra để yêu cầu Tòa án giải quyết chứ không phải là để thay Tòa án sang tỏ nội dung vụ việc Nếu đương sự, cơ quan, tổ chức cung cấp, giao nộp chứng cứ

để chứng minh thì cũng chỉ là chứng minh cho tình tiết, sự kiện trong vụ việc dân sự mà họ cho là sự thật khách quan, còn sự thật khách quan như thế nào thì chủ thể quyết định phải là Tòa án Như vậy, mục đích của việc đương sự,

cơ quan, tổ chức cung cấp, giao nộp chứng cứ là để chứng minh cho yêu cầu của chính mình chứ không phải chứng minh cho yêu cầu của chủ thể khác, càng không phải thay Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự

Ngày đăng: 02/08/2019, 19:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định về“chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: chứng minh và chứng cứ
6. Học viện Tòa án (2017), Giáo trình kỹ năng giải quyết các vụ việc dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học viện Tòa án (2017)
Tác giả: Học viện Tòa án
Năm: 2017
7. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2017
9. Lê Gia (1999), Tiếng nói nôm na, Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng nói nôm na
Tác giả: Lê Gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
10. Trương Thị Hồng Hà, Quyền con người trong tố tụng dân sự Việt Nam,Trang thông tin điện tử của Tạp chí Dân chủ và pháp luật của Bộ Tư pháp (www.tcdcpl.moi.gov.vn), Thứ năm ngày 22/2/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người trong tố tụng dân sự Việt Nam
11. Tống Quang Cường (2007), Luật tố tụng dân sự Việt Nam – Nghiên cứu so sánh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tống Quang Cường (2007)
Tác giả: Tống Quang Cường
Năm: 2007
12. TAND tối cao (1996), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự
Tác giả: TAND tối cao
Năm: 1996
13. Nguyễn Mạnh Bách (1996), Luật tố tụng dân sự Việt Nam (lược giải), Nhà xuất bản Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tố tụng dân sự Việt Nam (lược giải)
Tác giả: Nguyễn Mạnh Bách
Nhà XB: Nhà xuất bản Đồng Nai
Năm: 1996
14. Nguyễn Minh Hằng (2007), Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Hằng
Năm: 2007
15. Nguyễn Hữu Nam (2017), Nghĩa vụ tố tụng của đương sự trrong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa vụ tố tụng của đương sự trrong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện tại Tòa án
Tác giả: Nguyễn Hữu Nam
Năm: 2017
16. Vũ Công Giao (2009), Tiếp cận công lý và các nguyên lý của nhà nước pháp quyền, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 25/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận công lý và các nguyên lý của nhà nước pháp quyền
Tác giả: Vũ Công Giao
Năm: 2009
17. Nguyễn Minh Hằng, Lê Thị Hồng Nhung, Trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí Nghề Luật số 04/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự Việt Nam
18. Ngũ Thị Như Hoa, Vấn đề thực thi nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 19/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề thực thi nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự
19. Phạm Thị Mai, Bàn về quy định nộp tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quy định nộp tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện
20. Ths. Nguyễn Thị Hương, Một số vấn đề về chứng cứ, chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 11/2018.Tham luận, báo cáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chứng cứ, chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thực tiễn áp dụng
21. Tham luận về những vấn đề cần rút kinh nghiệm trong công tác xét xử sơ thẩm và phúc thẩm các vụ án dân sự qua công tác Giám đốc thẩm của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao năm 2014 Khác
22. Tài liệu tập huấn nghiệp vụ giải quyết các vụ án dân sự của Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao năm 2015 Khác
23. Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Báo cáo số 47/BC-TA ngày 06/10/2014 về tổng kết công tác năm 2014 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2015 Khác
24. Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Báo cáo số 83/BC-TA ngày 27/11/2015 về tổng kết công tác năm 2015 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2016 Khác
25. Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Báo cáo số 80/BC-TA ngày 17/10/2016 về tổng kết công tác năm 2016 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2017 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm