1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

101 242 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 12,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về các bài báo, tạp chí, có bài “Bàn về điều kiện khởi kiện của các tổ chức tín dụng có tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay” của tác giả Trịnh Huy Tân đăng trên Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm

Trang 1

PHAN THANH DƯƠNG

Trang 2

PHAN THANH DƯƠNG

Trang 3

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Phan Thanh Dương

Trang 4

BLLĐ : Bộ luật Lao động

BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự

HĐTPTANDTC : Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

NLHVDS : Năng lực hành vi dân sự

NLHVTTDS : Năng lực hành vi tố tụng dân sự

PLTTGQVADS : Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự

Trang 5

1 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1

2 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN 2

3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 4

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 4

5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 5

6 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 5

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự 6

1.1.1 Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự 6

1.1.2 Đặc điểm của khởi kiện vụ án dân sự 13

1.1.3 Ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự 17

1.2 Cơ sở của việc pháp luật quy định khởi kiện vụ án dân sự 18

1.2.1 Cơ sở lý luận của việc pháp luật quy định khởi kiện vụ án dân sự 18

1.2.2 Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định khởi kiện vụ án dân sự 21

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả khởi kiện vụ án dân sự 22

1.3.1 Các quy định của pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự 22

1.3.2 Năng lực tham gia tố tụng của người khởi kiện vụ án dân sự 22

1.3.3 Sự hỗ trợ của Luật sư đối với người khởi kiện vụ án dân sự 23

1.3.4 Hoạt động thụ lý giải quyết vụ án dân sự của Tòa án 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ 26

2.1 Thực trạng các quy định về điều kiện khởi kiện vụ án dân sự 26

2.1.1 Quy định về điều kiện chủ thể khởi kiện 26

2.1.1.1 Quy định về điều kiện chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự 26

2.1.1.2 Quy định về điều kiện để chủ thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự 33 2.1.2 Quy định về điều kiện thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án 39

Trang 6

2.1.4 Quy định về tài liệu, chứng cứ xuất trình kèm theo đơn khởi kiện 47

2.1.5 Quy định về điều kiện tiền tố tụng 48

2.1.6 Quy định về thời hiệu khởi kiện 50

2.2 Thực trạng các quy định về phạm vi, hình thức và thủ tục khởi kiện vụ án dân sự 51

2.2.1 Quy định về phạm vi khởi kiện vụ án dân sự 51

2.2.2 Quy định về hình thức khởi kiện vụ án dân sự 53

2.2.3 Quy định về thủ tục khởi kiện vụ án dân sự 53

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55

Chương 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ 56

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự 56

3.1.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện vụ án dân sự 56

3.1.2 Những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện vụ án dân sự 58

3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện vụ án dân sự 69

3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả khởi kiện vụ án dân sự 72

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện vụ án dân sự 72

3.2.2 Kiến nghị thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện vụ án dân sự 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80

KẾT LUẬN CHUNG 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trước khi ban hành Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004, vấn đề khởi kiện VADS đã được quy định trong ba pháp lệnh về thủ tục tố tụng Đó là Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQVADS) 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 Các quy định về khởi kiện vụ án dân sự (VADS) trong các pháp lệnh này là cơ sở pháp lý quan trọng để các chủ thể có thể sử dụng bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước Tòa án và cũng là cơ sở để Tòa án xem xét thụ lý giải quyết các vụ tranh chấp BLTTDS năm 2004 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 5 ngày 15/6/2004 đã kế thừa và phát triển các quy định của ba pháp lệnh về thủ tục tố tụng dân sự trước đó Đến năm 2011, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS được ban hành nhằm khắc phục một số hạn chế, vướng mắc của BLTTDS, trong đó có vấn đề khởi kiện VADS Tuy nhiên, một số quy định của Bộ luật này về khởi kiện VADS vẫn còn hạn chế và bất cập Sự thiếu cụ thể, rõ ràng của một số quy định của pháp luật đã làm cho đương sự khó khăn khi xác định các điều kiện khởi kiện để nộp đơn khởi kiện, khó khăn cho Tòa án khi thụ lý các đơn khởi kiện Năm 2013, Nhà nước ban hành Hiến pháp mới ghi nhận và bảo đảm thực hiện các quyền dân sự cơ bản của công dân, các quy định về khởi kiện VADS trong BLTTDS năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 cũng cần được hoàn thiện nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền này Ngày 25/11/2015, BLTTDS năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 10 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 Tuy nhiên, trong thực hiễn giải quyết các VADS tại các Tòa án vẫn còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập, có nhiều ý kiến khác nhau trong việc thực hiện các quy định này và chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải thích một cách đầy đủ

và thống nhất Ngoài ra, cũng có nhiều quy định mới cần được hiểu chính xác và được hướng dẫn cụ thể để triển khai áp dụng trên thực tế Việc nghiên cứu chuyên sâu lý luận về khởi kiện VADS sẽ góp phần đưa đến nhận thức sâu sắc hơn về các quy định hiện hành, chỉ ra được những khuyết điểm, hạn chế của pháp luật vẫn còn

Trang 8

tồn tại để từ đó có những đề xuất giải pháp có giá trị tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật về khởi kiện VADS tại các Tòa án trên cả nước Với những lý do trên, tôi

đã lựa chọn đề tài “Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” làm Luận văn cao học luật của mình

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài cho thấy, trong thời gian trước và sau khi BLTTDS năm 2015 được ban hành đã có một số công trình nghiên cứu về vấn

đề khởi kiện VADS được công bố

Về đề tài nghiên cứu khoa học, có công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở

đề tài “Hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo định hướng cải cách tư pháp” do PGS.TS Trần Anh Tuấn chủ nhiệm, thực hiện ở Trường Đại học

Luật Hà Nội năm 2010

Về các bài báo, tạp chí, có bài “Bàn về điều kiện khởi kiện của các tổ chức tín dụng có tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay” của tác giả Trịnh Huy Tân đăng trên Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 9/2008; bài “Về việc rút đơn khởi kiện của đương sự trong tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Triều Dương đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số tháng 11/2009; bài “Về điều kiện khởi kiện tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong một vụ án cụ thể” của tác giả Ngô Đình Quyến đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 3/2008; bài “Những vấn đề cơ bản lưu ý khi thụ lý đơn khởi kiện, khởi tố, đơn yêu cầu trong giải quyết vụ án dân sự” của tác giả Duy Kiên đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 7/2012; bài “Các điều kiện cần và đủ khi khởi kiện vụ án dân sự” của tác giả Tưởng Duy Lượng đăng trên Tạp chí Kiểm sát số Tân Xuân/2012; bài “Đảm bảo quyền khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự” của tác giả Đặng Thanh Hoa đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2012; bài

“Một số ý kiến về thời hiệu khởi kiện theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004” của tác giả Lê Mạnh Hùng đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 10/2012; bài “Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng” của tác giả Đặng Hoàng Quân đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 23/2013; bài “Giải quyết việc nguyên đơn rút đơn yêu cầu khởi kiện trong vụ án dân sự nhiều nguyên đơn có đúng yêu cầu” của tác giả Bùi Thị Tố Nga đăng trên Tạp chí Tòa án nhân

Trang 9

dân số 1/2014; bài “Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015” của tác giả Bùi Thị Huyền đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 12/2017; bài “Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự” của tác giải Nguyễn Minh Hằng đăng trên Tạp chí

Kiểm sát số 13/2017…

Về luận văn, luận án, có Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Công Bình bảo vệ

tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2006 với đề tài “Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học của học viên

Liễu Thị Hạnh bảo vệ bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2009 với đề tài

“Thụ lý vụ án dân sự, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ luật học

“Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam” của

học viên Trần Đức Thành bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2011; Luận

văn thạc sĩ luật học “Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2004” của tác giả Nguyễn Thị Hương bảo vệ tại Khoa luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012; Luận văn thạc sĩ luật học “Khởi kiện vụ án dân sự” của học viên Trần Thị Lượt bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2014; Luận văn thạc sĩ luật học “Khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Điện Biên” của học viên Bùi Thị Quế Anh bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2016; Luận văn thạc sĩ luật học “Khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài và thực tiễn thực hiện tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” của học

viên Bùi Thị Thanh Mai bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2017; Luận

văn thạc sĩ luật học “Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện vụ án dân sự theo BLTTDS năm 2015” của Lê Thị Thu Thủy, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà

Nội năm 2017 …

Ngoài ra, còn nhiều bài viết riêng lẻ khác đăng tải trên các trang Web về luật học Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến khởi kiện VADS ở nhiều góc độ khác nhau Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, các tác giả đã phát triển thêm những vấn đề lý luận pháp lý, làm sáng tỏ được nhiều vấn đề liên quan đến khởi kiện VADS Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện vấn đề khởi kiện VADS theo quy định của BLTTDS năm 2015

Trang 10

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Đối tượng nghiên cứu đề tài luận văn là các vấn đề lý luận về khởi kiện VADS, các quy định của pháp luật về khởi kiện VADS và thực tiễn thi hành các quy định này tại các Tòa án nhân dân (TAND) Việt Nam

Khởi kiện VADS gồm nhiều nội dung, có thể được nghiên cứu dưới rất nhiều góc độ khác nhau như một quyền pháp lý; một thủ tục pháp lý hay một hoạt động pháp lý Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ luật học phạm vi đề tài chỉ tập trung vào những vấn đề lý luận cơ bản về khởi kiện VADS, những quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về khởi kiện VADS và thực tiễn

áp dụng chúng tại các TAND Việt Nam trong những năm gần đây dưới góc độ khởi kiện VADS là hoạt động tố tụng mà các chủ thể thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

4 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Mục tiêu nghiên cứu đề tài nhằm góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận

về khởi kiện VADS, nội dung của các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện VADS và thực tiễn áp dụng các quy định này, qua đó phát hiện được những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành về khởi kiện VADS cũng như thực tiễn thực hiện để đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này và nâng cao hiệu quả thực hiện

Để đạt được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu đề tài có các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về khởi kiện VADS như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của khởi kiện VADS và cơ sở của việc pháp luật quy định khởi kiện VADS;

- Tìm hiểu, phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về khởi kiện VADS;

- Khảo sát thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về khởi kiện VADS;

- Phát hiện những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về khởi kiện VADS và thực tiễn thực hiện, từ đó tìm ra các giải pháp kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về khởi kiện VADS và nâng cao hiệu quả thực hiện

Trang 11

5 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện mục đích của đề tài nói trên, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh

về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách hành chính, cải cách tư pháp ở nước ta

Việc nghiên cứu cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích, lịch sử, tổng hợp, logic, quy nạp, thống kê, so sánh… nhằm làm sáng tỏ các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu đề tài

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề liên quan đến khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015 Những đóng góp của luận văn được thể hiện trên một số phương diện sau đây:

- Góp phần hoàn thiện khái niệm khởi kiện VADS; phân tích làm rõ thêm các đặc điểm, ý nghĩa của khởi kiện VADS và cơ sở của việc pháp luật quy định về khởi kiện VADS;

- Phân tích, đánh giá đúng được thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về khởi kiện VADS, thấy được những bất cập, vướng mắc trong các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về khởi kiện VADS và thực tiễn thực hiện, từ đó tìm ra các giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả khởi kiện VADS;

- Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu của các cơ sở đào tạo, các cơ sở nghiên cứu pháp luật, các cơ quan lập pháp và các cơ quan thi hành pháp luật

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, nội dung luận văn gồm

03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về khởi kiện vụ án dân sự

Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về khởi kiện vụ án dân sự

Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về khởi kiện vụ án dân sự và kiến nghị

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự

1.1.1 Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự

Hiện nay, trong cuộc cách mạng 4.0 về công nghệ đang diễn ra trên toàn thế giới, con người ngày càng xích lại gần nhau hơn, cùng với đó nhiều mối quan hệ xã hội mới cũng được phát sinh và kéo theo không thể thiếu chính là sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các chủ thể khi xảy ra mâu thuẫn Các chủ thể khị bị xâm phạm về quyền và lợi ích có thể lựa chọn một trong rất nhiều phương thức giải quyết như thương lượng, trung gian, hoà giải; giải quyết ở cơ quan tài phán phi nhà nước (trọng tài thương mại, ) hoặc giải quyết ở Toà án thông qua việc yêu cầu Tòa

án giải quyết yêu cầu của mình Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền đưa ra yêu cầu của mình đến Toà án có thẩm quyền để buộc người có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, phải bồi thường thiệt hại để phục hồi các quyền dân sự, phải thực hiện nghĩa vụ dân sự Như vậy, có thể nói cơ sở làm phát sinh thủ tục giải quyết VADS tại Tòa án dựa trên yêu cầu của các chủ thể Việc đưa ra yêu cầu này gọi là khởi kiện VADS theo thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm

Khởi kiện VADS là một thủ tục có tính truyền thống lâu đời của tố tụng dân sự (TTDS) Tuy nhiên, trước khi khởi kiện đến Tòa án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình chủ thể phải là người có quyền khởi kiện nhằm tránh khả năng một người không có quyền khởi kiện nhưng thực hiện việc khởi kiện rồi gây thiệt hại cho các chủ thể khác Trước đây, khi xã hội đã có Nhà nước, pháp luật đã ghi nhận quyền khởi kiện của các tổ chức, các nhân khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Theo cổ luật La Mã, pháp luật đã ghi nhận quyền khởi kiện của công dân La Mã, theo đó, người có quyền, lợi ích bị xâm phạm có quyền khởi kiện đến Tòa án yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Những chủ thể này có thể khởi kiện hay không khởi kiện và việc khởi kiện này phụ thuộc vào ý chí của người đó Trong xã hội ngày nay, khi quyền con người ngày càng được đề cao và bảo vệ thì quyền khởi kiện lại là một trong những nhóm quyền

Trang 13

tố tụng thuộc quyền con người Theo Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm

1948 đã ghi nhận: “Mọi người đều có quyền được bảo vệ bằng các Tòa án quốc gia

có thẩm quyền với phương tiện pháp lý có hiệu lực chống lại những hành vi vi phạm các quyền căn bản đã được Hiến pháp và pháp luật công nhận.” 1

Từ việc ghi nhận quyền con người trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 vào Hiến pháp thì để cụ thể hóa quyền con người nói chung và quyền khởi kiện nói riêng pháp luật Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định Trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời, đã có không ít văn bản pháp luật quy định về vấn đề quyền khởi kiện của đương sự Theo đó, quyền khởi kiện của đương sự được hiểu theo nghĩa rất rộng, cụ thể, quyền khởi kiện được hiểu là khả năng Nhà nước cho phép công dân được yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận một sự kiện pháp lý, các quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Sắc lệnh số 85 ngày 22/05/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và tố

tụng… thuật ngữ vụ kiện dân sự được dùng để chỉ những tranh chấp dân sự có yêu cầu Tòa án giải quyết Đến năm 1959, khi Hiến pháp năm 1959 ra đời, thuật ngữ vụ kiện dân sự trước đây được thay bằng thuật ngữ vụ án, cụ thể theo Điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 quy định “Tòa án nhân dân xét xử những vụ án hình sự và dân sự…”, khái niệm VADS ở đây được dùng để chỉ những vụ kiện dân

sự và những việc dân sự đặc biệt

Về phương diện lý luận, TS Hoàng Ngọc Thỉnh đã khẳng định trong Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 1994

rằng: “Quyền khởi kiện VADS là quyền tố tụng của công dân, pháp nhân và các tổ chức xã hội yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình, của tập thể của Nhà nước hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm” 2 Khái

niệm này được xây dựng trước khi BLTTDS năm 2004 có hiệu lực, trên cơ sở các quy định tại PLTTGQVADS do Hội đồng Nhà nước ban hành năm 1989 Theo đó, khái niệm quyền khởi kiện VADS trong trường hợp này được thực hiện đối với cả việc dân sự không có tranh chấp, như vậy, quyền khởi kiện sẽ được hiểu theo nghĩa

Trang 14

rộng hơn, đồng nhất với quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự Bên cạnh

đó, TS Hoàng Ngọc Thỉnh đưa ra khái niệm trên để nhằm phân biệt với khái niệm quyền khởi tố VADS của Viện kiểm sát nhân dân Cho đến khi BLTTDS năm 2004

ra đời là một bước ngoặt lớn trong TTDS, quy định tại bộ luật này đã phân định rõ ràng giữa VADS và việc dân sự, theo đó, thủ tục giải quyết VADS trước đây được tách thành hai thủ tụ riêng biệt đó là thủ tục giải quyết VADS và thủ tục giải quyết việc dân sự đồng thời Viện kiểm sát không còn quyền khởi tố VADS Chính vì thế

mà khái niệm quyền khởi kiện sẽ được hiểu theo nghĩa hẹp hơn Tương tự, TS

Phan Chí Hiếu cho rằng “Quyền khởi kiện VADS là quyền tố tụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp củ mình, của Nhà nước, tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc bị vi phạm” 3 Theo

BLTTDS năm 2004 thì có hai loại thủ tục riêng biệt là thủ tục giải quyết vụ việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự Theo đó, khái niệm vụ việc dân sự đã thay cho khái niệm VADS trước đây Vụ việc dân sự bao gồm VADS và việc dân sự VADS bao gồm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động Việc dân sự là những yêu cầu của cơ quan, cá nhân, tổ chức không

có tranh chấp yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp

lý Ta có thể một lần nữa khẳng định khái niệm về quyền khởi kiện quy định trong BLTTDS năm 2004 đã được hiểu theo nghĩa hẹp hơn trước đây

Về khái niệm khởi kiện VADS, dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển Tiếng

Việt thì khởi kiện được hiểu là “đứng ra đưa đơn kiện (trong một vụ án)”4

TS Hoàng Ngọc Thỉnh cho rằng “ Quyền khởi kiện VADS là quyền quan trọng của các chủ thể Nó cho phép cá nhân cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án Việc thực hiện quyền này của các chủ thể được gọi là khởi kiện vụ án dân sự.” và “Khởi kiện VADS là việc cá nhân,

cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Trang 15

hay của người khác” 5 Theo đó, khởi kiện là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp

nhân và chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Tương tự, ThS Huỳnh Thị Nam Hải

cũng đề cập đến khái niệm về khởi kiện VADS như sau: “Khởi kiện là việc cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật TTDS nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác” 6

.Theo những kết quả nghiên cứu này, có thể thấy khởi kiện VADS

được nhìn nhận dưới rất nhiều góc độ như: là một quyền tố tụng, là một hành vi pháp lý thông qua việc thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể hoặc là một hoạt động tố tụng của chủ thể yêu cầu Tòa

án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Khi đi sâu vào nghiên cứu về khởi kiện VADS ta thấy, quyền khởi kiện VADS theo thủ tục giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm là một quyền tố tụng quan trọng mà pháp luật quy định cho các chủ thể có quyền khởi kiện để những chủ thể này chống lại hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ từ phía các chủ thể khác Tuy nhiên, để thực hiện được quyền này, chủ thể có quyền khởi kiện phải thực hiện những thủ tục theo quy định của pháp luật TTDS như phải làm đơn khởi kiện, xuất trình các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn

cứ và hợp pháp, phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định trừ trường hợp được miễn theo quy định của pháp luât, Chính vì vây, nếu nhìn nhận khởi kiện VADS dưới góc độ là một quyền pháp lý thì mới chỉ ra được chủ thể có quyền khởi kiện mà chưa chỉ ra được đối tượng khởi kiện, lý do khởi kiện, phạm vi khởi kiện và Tòa án

có thẩm quyền xét xử theo thủ tục sơ thẩm VADS

Mặt khác, nếu chúng nhìn nhận khởi kiện VADS dưới góc độ là một hành vi pháp lý thông qua hành vi nộp đơn yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì mới chỉ ra được chủ thể có quyền khởi kiện, đối tượng khởi kiện và Tòa án

có thẩm quyền xét xử theo thủ tục sơ thẩm VADS mà chưa chỉ ra được thủ tục khởi kiện, lý do khởi kiện và phạm vi khởi kiện

Trang 16

Khởi kiện VADS là hoạt động tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân dẫn đến hậu quả pháp lý Tòa án phải xem xét thụ lý và giải quyết VADS Để tránh việc khởi kiện tràn lan, không có căn cứ dẫn đến xâm phạm quyền, lợi ích của chủ thể khác và việc giải quyết VADS của Tòa án có hiệu quả, pháp luật phải quy định đầy đủ, cụ thể các vấn đề liên quan đến khởi kiện VADS như các chủ thể có quyền khởi kiện, điều kiện khởi kiện VADS, phạm vi khởi kiện VADS, trình tự, thủ tục khởi kiện VADS v.v…

Thông thường, để các chủ thể bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ, pháp luật phải quy định chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện VADS Ngoài ra, pháp luật còn quy định một số chủ thể có thể khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước

Để khởi kiện VADS, các chủ thể khởi kiện VADS còn phải đáp ứng được các điều kiện nhất định Pháp luật quy định những điều kiện rất chặt chẽ để một đơn khởi kiện được Tòa án chấp nhận mà không bị trả lại, có nghĩa là các điều kiện khởi kiện ở Việt Nam tồn tại như một hệ thống sang lọc sơ bộ đối với đơn khởi kiện, nếu đơn khởi kiện đáp ứng đầy đủ các điều kiện khởi kiện thì vụ án mới được thụ lý

Hiện nay có rất nhiều quan điểm về vấn đề này, quan điểm thứ nhất cho rằng điều

kiện khởi kiện bao gồm: (i) Người khởi kiện có quyền khởi kiện và có năng lực hành vi tố tụng dân sự; (ii) Vụ án khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (bao gồm thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp Tòa án và thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ); (iii) Vụ việc phải được cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước khi khởi kiện nếu pháp luật có quy định; (iiii) Sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (iiiii) Hình thức đơn khởi kiện đáp ứng các yêu cầu của pháp luật tố tụng dân sự7 Quan điểm thứ hai cho rằng

điều kiện khởi kiện bao gồm: (i) Chủ thể có quyền khởi kiện; (ii) Vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (Gồm thẩm quyền chung, thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ); (iii) Phạm vi khởi kiện; (iiii) Hình

7 Bùi Thị Thanh Hằng (Chủ biên, 2014), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia

Hà Nội, Tr 230

Trang 17

thức khởi kiện và phương thức gửi đơn khởi kiện8 Theo ý hiểu của tác giả, quyền khởi kiện phát sinh khi một chủ thể bị một chủ thể khác có hành vi xâm phạm, gây thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp Do đó, chủ thể này có quyền yêu cầu Tòa án

là cơ quan Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, không phải vụ việc nào cũng thuộc thẩm quyền của Tòa án mà theo quy định của pháp luật có thể thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác và trong trường hợp nếu vụ việc đã được giải quyết thông qua một bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án khác hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thì Tòa án sẽ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chủ thể, trừ trường hợp được khởi kiện lại Theo quan điểm của tác giả, điều kiện khởi kiện bao gồm các điều kiện sau:

Thứ nhất, chủ thể khởi kiện phải có quyền khởi kiện

Khi cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm hoặc tranh chấp thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện VADS yêu cầu Tòa án giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc xác định chủ thể có quyền khởi kiện hay không phụ thuộc vào quy định của cả pháp luật nội dung và pháp luật hình thức Nếu chủ thể đó không thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện thì có thể thông qua người đại diện để thực hiện quyền khởi kiện và người thực hiện hành vi khởi kiện phải là người có năng lực hành vi tố tụng dân sự Vì vậy, việc một chủ thể phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự mới thỏa mãn điều kiện khởi kiện là một cách hiểu không chính xác Một cá nhân ngay cả khi họ không có năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự hoặc mắc một số căn bệnh làm mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi thì khi bị chủ thể khác xâm phạm hoặc tranh chấp về quyền và lợi ích thì nội tại bên trong chủ thể đó đã có quyền khởi kiện Chỉ có điều họ không tự mình thực hiện quyền khởi kiện của chính mình được mà pháp luật quy định trong những trường hợp này các chủ thể khác có thể thay họ thực hiện quyền khởi kiện

Thứ hai, phải khởi kiện các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án theo loại việc

Các quan điểm đã nêu ở trên đều cho rằng khi khởi kiện các chủ thể phải đảm bảo việc khởi kiện phải đúng theo thẩm quyền của Tòa án cả theo cấp và lãnh thổ

8 Nguyễn Thị Hồng Nhung (Chủ biên, 2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr 189

Trang 18

Có thể thấy, khởi kiện gắn liền với hoạt động giải quyết của Tòa án và quyền khởi kiện được ghi nhận là một trong các quyền con người được Nhà nước bảo đảm thực hiện thông qua hệ thống cơ quan Tòa án Mặt khác, việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp trong xã hội dân sự không chỉ thông qua hoạt động xét xử của Tòa án mà còn có thể thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác Do đó, khi yêu cầu Tòa án giải quyết một tranh chấp, mâu thuẫn thì các chủ thể phải đảm bảo những vấn đề này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà không thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật Ngoài ra, khi xác định tranh chấp, mâu thuẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì các chủ thể dựa trên quy định của pháp luật để xác định chính xác Tòa án nào có thẩm quyền thụ lý giải quyết Việc xác định đúng Tòa án cấp huyện hoặc cấp tỉnh hay giữa các Tòa án cùng cấp với nhau thực chất là điều kiện để Tòa án thụ lý giải quyết VADS một cách nhanh chóng, hiệu quả tránh việc chuyển đơn khởi kiện sang cho Tòa án khác

để giải quyết gây lãng phí thời gian và tiền bạc

Thứ ba, sự việc chưa được giải quyết thông qua một bản án, quyết định có hiệu

lực của Tòa án hoặc quyết định có hiệu lực của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Điều kiện này được đặt ra nhằm tránh lãng phí nguồn lực của Tòa án và xã hội khi giải quyết các vụ việc mà trước đó đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Điều kiện này cũng nhằm bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, duy trì sự ổn định của các quan hệ xã hội, tránh tình trạng cùng một sự việc lại có các quyết định giải quyết khác nhau, chồng chéo lên nhau, làm giảm uy tín của Tòa án và các cơ quan, tổ chức khác Ngoài ra, điều kiện này cũng nhằm hạn chế tình trạng chủ thể khởi kiện cố ý kéo dài quá trình giải quyết tranh chấp bằng việc nộp đơn khởi kiện, đơn khiếu nại nhiều

lần đến nhiều cơ quan khác nhau theo kiểu “cầu may” Tuy nhiên, điều kiện này

cũng có những ngoại lệ Trong những điều kiện nhất định, đương sự có quyền khởi kiện lại mặc dù vụ việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án9 Việc quy định này không phá vỡ sự ổn định của các bản

9

Xem khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015

Trang 19

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án mà để nhằm bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích của chủ thể trong các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

Phạm vi khởi kiện VADS là giới hạn những vấn đề chủ thể khởi kiện có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trong một VADS Việc pháp luật quy định cụ thể phạm vi khởi kiện VADS không những tạo thuận lợi cho các chủ thể thực hiện quyền khởi kiện của họ mà còn tạo thuận lợi cho Tòa án trong việc giải quyết VADS

Khởi kiện VADS là hoạt động TTDS khởi đầu cho quá trình TTDS tại Tòa án,

có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết VADS Để bảo đảm cho hoạt động này có hiệu quả thì pháp luật phải quy định cụ thể trình tự, thủ tục và phương thức hoạt động Việc pháp luật quy định cụ thể trình tự, thủ tục và phương thức hoạt động của khởi kiện VADS không những tạo thuận lợi cho các chủ thể trong việc thực hiện quyền khởi kiện VADS mà còn tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án trong việc quyết định thụ lý VADS hay không

Hiện nay, trong pháp luật Việt Nam không quy định định nghĩa về khởi kiện

VADS Tuy vậy, qua các phân tích trên có thể đi đến kết luận: “Khởi kiện VADS là hoạt động tố tụng của các cá nhân, tổ chức, cơ quan có quyền, tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp của mình đưa vấn đề tranh chấp ra Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác, lợi ích công cộng hoặc lợi ích của Nhà nước”

1.1.2 Đặc điểm của khởi kiện vụ án dân sự

Với tư cách là hoạt động tố tụng làm tiền đề phát sinh những giai đoạn tiếp theo trong quá trình tố tụng, hoạt động khởi kiện VADS cũng mang trong mình những đặc điểm cụ thể như sau:

Thứ nhất, khởi kiện là cơ sở làm phát sinh thủ tục sơ thẩm giải quyết VADS tại Tòa án

Khởi kiện VADS được thực hiện thông qua hành vi nộp đơn khởi kiện đến Tòa

án có thẩm quyền của chủ thể có quyền và lợi ích bị xâm phạm hoặc thông qua người đại diện hợp pháp của họ Nếu không có hoạt động này sẽ không có VADS được giải quyết tại Tòa án Ở các vụ án hình sự thời điểm các cơ quan tiến hành tố tụng bắt đầu tham gia giải quyết là khi có đơn tố giác tội phạm hay phát hiện hành

Trang 20

vi có dấu hiệu tội phạm Trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự mà có thể không cần phải thông qua yêu cầu của người bị hại Thông qua hoạt động tố tụng này hay cụ thể hơn là nộp đơn khởi kiện kèm tài liệu chứng cứ liên quan đến VADS thì cơ quan tiến hành TTDS ở đây là Tòa án mới có thể xem xét và giải quyết theo yêu cầu của đương sự Việc làm đơn khởi kiện là bước đầu tiên trong hoạt động khởi kiện,

từ việc làm đơn khởi kiện sẽ là tiền đề cho các hoạt động tố tụng tiếp theo trong quá trình giải quyết VADS như: Thụ lý hay không thụ lý vụ án; nộp tạm ứng án phí; hòa giải;…Chính vì vậy, khởi kiện được coi là hoạt động không thể thiếu, là cơ sở làm phát sinh VADS tại Tòa án

Khi giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ được xem xét trong phạm vi yêu cầu của các chủ thể, không giải quyết những nội dung mà các chủ thể không yêu cầu Chính vì vậy khởi kiện VADS chính là cơ sở làm phát sinh thủ tục tố tụng dân sự giải quyết VADS tại Tòa án đồng thời cũng chính là căn cứ

Ngoài ra, các chủ thể có quyền khởi kiện muốn thực hiện quyền khởi kiện của

mình thì phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự (NLHVTTDS) Theo đó, “Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng bằng hành vi của mình thực hiện các quyền

10

Nguyễn Công Bình (2017), Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.243

Trang 21

và nghĩa vụ tố tụng dân sự” 11 Nếu năng lực pháp luật TTDS là điều kiện cần thì

NLHVTTDS là điều kiện đủ để một chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Trong trường hợp chủ thể này không thể tự mình khởi kiện thì có thể thông qua người đại diện hợp pháp của mình khởi kiện thay theo quy định của pháp luật

Ví dụ, trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ12 Việc quy định này nhằm đảm bảo triệt để quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 khi mà Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Thứ ba, khởi kiện VADS là hoạt động tố tụng mà các đương sự tự do định đoạt trong việc bảo vệ quyền lợi của mình

Về bản chất, khởi kiện VADS là một trong những phương thức để giải quyết những tranh chấp, xung đột về lợi ích Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền thực hiện hoặc không thực hiện việc yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp phát sinh, buộc người có hành vi xâm phạm quyền dân

sự phải chấm dứt hành vi, bồi thường thiệt hại hoặc theo thỏa thuận của các bên Việc khởi kiện này được thực hiện trên cơ sở tự nguyện và quyền tự do cá nhân của mỗi chủ thể Vấn đề này xuất phát từ bản chất dân sự của các quan hệ pháp luật dân

sự, hôn nhân, gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được hình thành dựa trên

sự tự nguyện, tự do thỏa thuận khi các chủ thể xác lập quan hệ dân sự Chình vì vậy, ngay cả khi đã khởi kiện VADS ra Tòa thì các chủ thể có tranh chấp vẫn có thể thỏa thuận với nhau để rút đơn khởi kiện không tiếp tục giải quyết tại Tòa án hoặc thay đổi yêu cầu khởi kiện của mình Ngoài ra, các đương sự còn được tự do lựa chọn các phương thức để bảo vệ quyền lợi của mình như thương lượng, hòa giải, trọng tài hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết

Thứ tư, đối tượng của khởi kiện VADS là những vụ án chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án hay quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ trường pháp luật quy định khác

Trang 22

Khởi kiện VADS là một trong những thủ tục TTDS quan trọng, giúp các chủ thể

bị xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ thông qua hoạt động xét xử của cơ quan Tòa án Tuy nhiên, để đảm bảo tính nhanh chóng của TTDS

và tính ổn định của bản án, quyết định thì chỉ những VADS chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án hay quyết định đã có hiệu lực của

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới được Tòa án xem xét giải quyết trừ trường hợp pháp luật cho phép được khởi kiện lại như: (i) Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; (ii) yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu

mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại; (iii) Đã có đủ điều kiện khởi kiện; (iiii) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật13

Thứ năm, khởi kiện VADS được thực hiện theo một trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định

Để thực hiện quyền khởi kiện của mình thì các chủ thể có quyền khởi kiện đều phải tuân theo đầy đủ, chính xác mọi quy định của pháp luật TTDS Các vấn đề về chủ thể có quyền khởi kiện, khởi kiện đúng Tòa án (vụ việc phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đó mà không thuộc cơ quan, tổ chức khác), hình thức của khởi kiện, thủ tục khởi kiện, việc nộp tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, đều phải đảm bảo theo quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục, thời gian, cách thức thực hiện… đã được quy định cụ thể trong BLTTDS Mọi trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật TTDS về khởi kiện VADS như vi phạm về chủ thể có quyền kháng cáo, về thẩm quyền của Tòa án,… đều không được chấp nhận và có thể bị trả lại đơn khởi kiện hoặc chuyển đơn khởi kiện sang cho Tòa án khác có thẩm quyền

Thứ sáu, khởi kiện VADS là phương thức văn minh thay thế cho việc tự do hành sử của cá nhân trong việc giải quyết tranh chấp

Do các bên trong quan hệ pháp luật nội dung bình đẳng về địa vị pháp lý nên một bên không thể tự mình cưỡng chế bên kia thực hiện nghĩa vụ của mình nên họ cần phải tìm đến một chủ thể có địa vị pháp lý cao hơn, có quyền năng đặc biệt để

13

Xem khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015

Trang 23

giúp họ khôi phục quyền và lợi ích bị xâm phạm hoặc yêu cầu dừng hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích của họ, chủ thể đặc biệt đó là Nhà nước mà cụ thể ở đây

là Tòa án Thay vì hành xử bằng các hành vi, lời nói đời thường không được ghi nhận thì việc chọn khởi kiện ở cơ quan nhà nước có thẩm quyền là lựa chọn tối ưu, tránh dẫn đến những hành xử không đúng chuẩn mực Thông qua hoạt động xét xử của Tòa án, các chủ thể hoàn toàn có thể dựa trên Bản án, quyết định của Tòa án để

có thể điều chỉnh hành vi của mình một cách văn minh tránh xâm phạm đến quyền

và lợi ích của người khác

1.1.3 Ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự

Khởi kiện VADS là một trong rất nhiều biện pháp các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể lựa chọn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Thông qua việc thực hiện hoạt động khởi kiện, chủ thể có quyền khởi kiện nhờ tới sự can thiệp của Tòa án, thông qua hoạt động xét xử, Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ngăn chặn được các thiệt hại xảy ra, chấm dứt hành vi vi phạm và khôi phục lại các quyền dân sự của các chủ thể Đồng thời, khi thực hiện việc khởi kiện, nghĩa là chủ thể mong muốn được Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để phán xét, khôi phục quyền hay lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm Quyết định của Tòa án mang tính cưỡng chế bắt buộc thi hành đối với những chủ thể liên quan và được đảm bảo thực hiện thông qua Cơ quan Thi hành án dân sự Do đó, pháp luật ghi nhận vấn đề khởi kiện, trao quền khởi kiện cho cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng có nghĩa là trao trách nhiệm cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, điều

đó thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với đời sống của nhân dân, thực hiện theo đường lối của Đảng và Nhà nước đó là “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” Khởi kiện VADS là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS Đây

là hành vi đầu tiên của các chủ thể trong quan hệ tranh chấp đưa vấn đề tranh chấp

ra trước Tòa án và khởi động một quá trình tố tụng Chỉ khi có đơn yêu cầu khởi kiện của chủ thể thì Tòa án mới xem xét để có thụ lý giải quyết hay không Quyền khởi kiện của cá nhân, tổ chức, cơ quan là xuất phát tự ý chí của chính họ, họ có quyền tự thỏa thuận và tự định đoạt đối với các chủ thể khác khi xảy ra tranh chấp

Vì vậy, khi có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì người có thẩm quyền sẽ xem xét vào đưa ra quyết định thụ lý hay không thụ lý Khi có quyết định thụ lý thì Tòa án

Trang 24

sẽ thực hiện các giai đoạn tiếp theo của tố tụng Nếu chủ thể có quyền khởi kiện không thực hiện hoạt động khởi kiện thì sẽ không có những hoạt động tố tụng tiếp theo và VADS sẽ không được phát sinh kéo theo đó là tranh chấp sẽ không được giải quyết triệt để Có thể thấy khởi kiện là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân,

và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ luật TTDS; là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ tố tụng dân sự; là tiền đề cho các hoạt động tiếp theo trong quá trình giải quyết VADS

Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án góp phần bảo vệ và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa đồng thời nâng cao hiệu quả xét xử, xác lập chế độ trách nhiệm cao với nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân với chế độ Với hoạt động khởi kiện của mình, đương sự đã nhờ tới sự can thiệp của chủ thể đặc biệt đó là Nhà nước đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi đó, Nhà nước sẽ sử dụng

bộ máy quyền lực mang tính cưỡng chế của mình không chỉ khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại của đương sự mà còn trừng trị hành vi vi phạm pháp luật nhằm răn đe, ngăn chặn các hành vi vi phạm khác, đảm bảo sự ổn định của các quan hệ xã hội, góp phần tạo nên một xã hội văn minh, phát triển

1.2 Cơ sở của việc pháp luật quy định khởi kiện vụ án dân sự

1.2.1 Cơ sở lý luận của việc pháp luật quy định khởi kiện vụ án dân sự

- Dựa trên cơ sở Nhà nước ghi nhận và đảm bảo thực hiện các quyền con người về dân sự

Khởi kiện VADS là hoạt động của chủ thể có quyền triển khai thực hiện quyền khởi kiện theo một trình tự, thủ tục luật định để bảo vệ quyền và lợi ích của mình hay của người khác khi các quyền và lợi ích này bị xâm phạm hay tranh chấp, theo

đó khi chủ thể có quyền (quyền khởi kiện) thì được thực hiện hoạt động khởi kiện Việc quy định khởi kiện VADS trước hết được dựa trên cơ sở Nhà nước ghi nhận

và đảm bảo các quyền con người về dân sự Quyền khởi kiện được ghi nhận là một quyền con người trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và các Công ước quốc tế khác, cụ thể tại Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 có

viết “Mọi người đều có quyền được bảo vệ bằng các Tòa án quốc gia có thẩm quyền với phương diện pháp lý có hiệu lực chống lại những hành vi vi phạm các quyền căn bản đã được Hiến pháp và pháp luật công nhận” Ghi nhận các quy định

Trang 25

về quyền con người, Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam tại Điều 14 đã quy định như sau: “Ở nước Cộng hòa xã hộ chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”

Ngoài việc ghi nhận quyền con người về dân sự thì việc đảm bảo cho nó được thực

hiện còn mang ý nghĩa quan trọng hơn Hiến pháp năm 2013 đã chỉ ra “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo

vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của

tổ chức, cá nhân” 14theo đó giao nhiệm vụ này cho Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp Trên cơ sở đó, pháp luật tố tụng dân sự cũng cụ thể hóa cơ chế bảo vệ các quyền này thông qua phương thức khởi kiện tại Tòa án Vì vậy, việc ghi nhận khởi kiện VADS là hành động triển khai thực hiện quyền khởi kiện của chủ thể có quyền trong TTDS trước hết phải dựa trên cơ sở ghi nhận và đảm bảo các quyền con người về dân sự

- Dựa trên cơ sở trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đặt ra các yêu cầu, nhiệm vụ đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân các cấp, trong đó có việc “đổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đơn đến Tòa án, Tòa án có trách nhiệm tiếp nhận và thụ

lý đơn…”15

Tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là

cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Vì vậy, khi công dân thực hiện quyền khởi kiện của mình yêu cầu Tòa án

giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền lợi cho họ thì Tòa án – cơ quan tư pháp phải

có trách nhiệm với việc khởi kiện đó của công dân Để bảo vệ quyền lợi của công dân khi họ khởi kiện thì Tòa án phải bố trí cán bộ, thời gian, địa điểm để tiếp nhận đơn, hồ sơ khởi kiện của công dân, hướng dẫn cụ thể cho công dân khi họ đến liên

hệ khởi kiện VADS Thể chế hóa Nghị quyết số 49-NQ/TW và cụ thể hóa Hiến

14 Xem Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013

15 Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020”, tr 5

Trang 26

pháp 2013, BLTTDS năm 2015 có những quy định mới nhằm đề cao trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đó là đảm

bảo quyền tiếp cận công lý của người dân khi quy định về việc “Tòa án không được

từ chối thụ lý với lý do chưa có điều luật để áp dụng” 16 Đây là một quy định hoàn

toàn mới trong BLTTDS năm 2015 góp phần tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân thực hiện quyền khởi kiện của mình, nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

- Dựa trên cơ sở mối liên hệ với quyền dân sự của các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự

Quyền khởi kiện được đặt trong mối quan hệ giữa luật nội dung và luật hình thức hay nói cách khác chính là mối quan hệ giữa quyền, lợi ích hợp pháp với việc bảo đảm thực hiện quyền, lợi ích đó Khi các chủ thể tham gia vào các quan hệ dân

sự theo nghĩa rộng (Dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động) đều hướng đến mục đích đạt được những quyền và lợi ích theo thỏa thuận Tuy nhiên, để đảm bảo các quyền và lợi ích của các chủ thể này được thực hiện hiệu quả trên thực tế, đem lại tối đa lợi ích cho các bên thì Nhà nước cần phải trao cho họ một phương tiện pháp lý để họ có thể chủ động sử dụng khi có dấu hiệu của sự tranh chấp, mâu thuẫn Mặt khác, các chủ thể có thể sử dụng phương tiện pháp lý này để tạo một cơ chế an toàn, ràng buộc các bên khi tham gia vào các giao dịch dân sự Chính bởi vậy, viêc ghi nhận quyền khởi kiện cho các bên trong quan hệ pháp luật dân sự nhằm tạo một cơ chế pháp lý chủ động để các chủ thể có thể nhanh chóng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

- Xuất phát từ nguyên tắc tuân thủ pháp luật

Tuân thủ pháp luật là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, có tác dụng đảm bảo cho hoạt động của bộ máy Nhà nước minh bạch và đảm bảo công bằng xã hội Nguyên tắc này yêu cầu mọi hoạt động dù của bất kỳ ai, cơ quan, tổ chức nào đều tuân theo pháp luật Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức không tuân theo pháp luật, vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý Do đó, việc quy định khởi kiện VADS – bước đầu tiên trong giai đoạn tố tụng là cần thiết

16

Khoản 2 Điều 4 BLTTDS 2015

Trang 27

làm tiền đề cho những bước về sau của tố tụng dân sự trong việc xử lý các vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm tuân thủ pháp luật

1.2.2 Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định khởi kiện vụ án dân sự

Ngoài các cơ sở lý luận của việc pháp luật quy định khởi kiện VADS nêu trên, thì quy định này còn được xuất phát từ những cơ ở thực tiến sau đây:

Thứ nhất, các quan hệ xã hội phát triển ngày càng phong phú, kéo theo đó là

các tranh chấp xảy ra cũng đa dạng, phức tạp Khi xảy ra tranh chấp, các bên đương

sự rất khó khăn trong việc tự giải quyết Trong nhiều trường hợp,việc tự giải quyết của đương sự đã làm cho việc giải quyết tranh chấp kéo dài, tình trạng tranh chấp phức tạp hơn, khó giải quyết được Chính vì vậy, việc pháp luật quy định về khởi kiện VADS là một vấn đề tất yếu được đặt ra không chỉ giúp cho người dân có thể

dễ dàng hơn trong việc khởi kiện mà còn đảm bảo cho Tòa án có thể thực hiện đúng cách thức trình tự tố tụng

Thứ hai, do nhận thức cũng như hiểu biết pháp luật của người dân còn chưa

cao, tâm lý đa số muốn lợi ích phần nhiều về mình mà việc xâm phạm quyền, lợi ích của người khác có thể bị thực hiện dù vô tình hay cố ý vẫn diễn ra, gây ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích của người bị xâm phạm nói riêng và của nền văn minh xã hội nói chung Vì vậy, cần có cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm này bằng cách trao cho họ quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể đặc biệt chính là Nhà nước đứng ra bảo vệ quyền lợi cho mình

Thứ ba, thực tiễn thụ lý giải quyết các VADS trong những năm qua của các

Tòa án cho thấy không phải chủ thể nào cũng có hiểu biết đầy đủ về pháp luật, không phải chủ thể nào cũng có kinh nghiệm tham gia tố tụng Chính vì thế không ít trường hợp chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm đã thực hiện không tốt quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình như khởi kiện chậm, không có căn cứ, không đúng thẩm quyền của Tòa án, không đúng phạm vi, trình tự, thủ tục khởi kiện v.v…Điều này đã ảnh hưởng không ít đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ ở trước Tòa án mà còn gây cả khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết VADS

Như vậy, từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên pháp luật đã quy định

về khởi kiện VADS Quá trình xây dựng luật không thể tránh khỏi những thiếu sót

Trang 28

do đó pháp luật hiện hành quy định về khởi kiện VADS có thể còn thiếu, chưa hợp

lý Và để khắc phục lỗ hổng trên thì những nhà làm luật phải sớm bổ sung, hoàn thiện các quy định về khởi kiện VADS mang lại hiệu quả cao trong việc thực thi cũng như bảo vệ công lý, quyền lợi cho người dân

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả khởi kiện vụ án dân sự

1.3.1 Các quy định của pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự

Pháp luật tố tụng dân sự là phương tiện pháp lý để các chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Theo đó, pháp luật về khởi kiện VADS là cơ sở pháp lý cho Tòa án tiền hành các hoạt động thụ lý, giải quyết VADS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, bảo vệ lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng Vì vậy, pháp luật về khởi kiện VADS có vai trò vô cùng quan trọng đối với tính hiệu quả của khởi kiện vụ án dân sự:

- Pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện VADS đầy đủ, công khai, minh bạch là

cơ sở để các chủ thể có đầy đủ các phương tiện pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, chống lại các hành vi xâm phạm về quyền và lợi ích của các chủ thể và đảm bảo quyền khởi kiện của các chủ thể này được thực hiện

- Pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện VADS đáp ứng tính khả thi, phù hợp sẽ làm cho các quy định này không chỉ có ý nghĩa trên văn bản mà sẽ phát huy hiệu lực, hiệu quả trên thực tế đảm bảo quyền khởi kiện của các chủ thể được thực hiện

- Pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện VADS đáp ứng tính thống nhất, đồng bộ cũng như quy định cụ thể, rõ ràng, có cơ sở khoa học và không mâu thuẫn nhau thì Tòa

án sẽ dễ dàng trong việc xem xét thụ lý để giải quyết VADS cũng như các chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thuận lợi trong việc tiếp cận công lý

1.3.2 Năng lực tham gia tố tụng của người khởi kiện vụ án dân sự

Năng lực của mỗi người trong xã hội là khác nhau, chính vì lý do này nhận thức và xử sự của mỗi người cũng khác nhau, chủ thể này có thể xâm phạm hoặc tranh chấp đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác Khi bị gây thiệt hại không phải chủ thể nào cũng nhận thức được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, cũng không phải chủ thể nào cũng nhận thức được quyền khởi kiện của mình và cũng có những chủ thể nhận thức được quyền khởi kiện của mình nhưng lại không biết thực hiện quyền khởi kiện đó như thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình Mặc dù vậy, khi thực hiện quyền khởi kiện của mình thông qua việc khởi

Trang 29

kiện VADS tại Tòa án, sự thiếu hiểu biết pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện VADS sẽ gây khó khăn cho chính cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án Các chủ thể sẽ không biết bảo vệ quyền và lợi ích của mình như thế nào Hoặc khi nhận thức pháp luật tố tụng dân sự

về khởi kiện VADS kém sẽ gây trở ngại, khó khăn cho các chủ thể khác khi khởi kiện VADS không đúng, lợi dụng việc khởi kiện để xâm phạm quyền và lợi ích của các chủ thể khác

1.3.3 Sự hỗ trợ của Luật sư đối với người khởi kiện vụ án dân sự

Khởi kiện VADS là hoạt động đầu tiên của quá trình giải quyết vụ án dân sự, người khởi kiện có toàn quyền định đoạt về việc khởi kiện của mình Nhưng không phải người nào khởi kiện cũng có đủ kiến thức pháp luật, kinh nghiệm tố tụng để quyết định vấn đề này, đặc biệt trong những vụ tranh chấp có giá trị lớn liên quan đến

uy tín, danh tiếng, hình ảnh, bí mật cá nhân… Trong trường hợp này, sự tham gia của Luật sư là hết sức cần thiết Với vai trò là người hỗ trợ, giúp đỡ, có nền tảng kiến thức pháp lý, kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm tố tụng phong phú, luật sư sẽ giúp người khởi kiện có những quyết định và hướng đi đúng đắn, phù hợp với giai đoạn đầu tiên này.Sự tham gia của Luật sự được thể hiện trong những nội dung sau:

Thứ nhất, quyết định có khởi kiện hay không Nhằm mục đích giúp đỡ người

khởi kiện khắc phục những thiếu sót, luật sư mặc dù chưa có tư cách tố tụng chính thức trong giai đoạn này nhưng luật sư vẫn sẽ trao đổi và thu thập thông tin từ khách hàng sau đó phân tích để làm sang tỏ những vấn đề pháp lý như: điều kiện khởi kiện của chủ thể, phạm vi khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật để khởi kiện… sau khi xác định người khởi kiện đủ điều kiện khởi kiện, luật sư tiếp tục đánh giá và phân tích để người khởi kiện hiểu rõ thuận lợi, khó khăn nếu tiếp tục lựa chọn phương thức giải quyết thông qua Tòa án

Thứ hai, soạn thảo đơn khởi kiện và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện Như đã khẳng

định ở trên, luật sư chỉ có vai trò hỗ trợ, giúp đỡ, quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về người khởi kiện Sự tham gia của luật sư trong giai đoạn này được thể hiện

rõ nhất qua việc hỗ trợ người khởi kiện soạn thảo đơn khởi kiện và chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ kèm theo

Thứ ba, nộp đơn khởi kiện Sau khi đơn khởi kiện đã được soạn thảo và hiệu

đính, hồ sơ khởi kiện đã đầy đủ và được sắp xếp theo thứ tự phù hợp, luật sư sẽ trao đổi với người khởi kiện lần cuối trước khi gửi đơn cho Tòa án có thẩm quyền Bên

Trang 30

cạnh thủ tục nộp đơn, luật sư cũng cần hướng dẫn để người khởi kiện biết được những quyền và nghĩa vụ của mình trong giai đoạn này

1.3.4 Hoạt động thụ lý giải quyết vụ án dân sự của Tòa án

Thụ lý giải quyết VADS không phải là một quyền của chủ thể pháp luật mà là một tổ hợp các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền giải quyết các VADS Có thể nói, chỉ khi quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật được thực hiện thì mới có hoạt động thụ lý đơn khởi kiện của Tòa án Và ngược lại, chỉ khi hoạt động thụ lý được thực hiện thì quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật mới được thực hiện và quyền lợi hợp pháp của chủ thể mới có khả năng được đảm bảo

Thụ lý VADS là công việc đầu tiên của Tòa án trong quá trình tố tụng Nếu không có hoạt động thụ lý thì Tòa án sẽ không có các bước tiếp theo của quá trình tố tụng Hoạt động này bao gồm nhiều công đoạt nhỏ như tiếp nhận đơn khởi kiện, kiểm tra nội dung đơn đã đầy đủ điều kiện theo luật định hay chưa, Tòa án chấp nhận những tài liệu chứng cứ ban đầu kèm theo đơn khởi kiện, thông báo về việc nộp tiền tạm ứng án phí và vào sổ thụ lý… Khi Tòa án đã vào sổ thụ lý VADS đồng nghĩa với việc Tòa án đã xác nhận trách nhiệm giải quyết VADS thuộc về mình mà không phải thuộc về một cơ quan Nhà nước nào khác, và cũng từ đây các mối quan hệ pháp luật

tố tụng sẽ được phát sinh, các chủ thể sẽ bị ràng buộc với nhau và mối quan hệ đó sẽ tiếp tục được điều chỉnh bằng các quy định cụ thể của pháp luật TTDS

Khi khởi kiện vụ án dân sự, vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Suy cho cùng, mục đích cuối cùng của người nộp đơn khởi kiện chính là giải quyết được vấn đề tranh chấp, xác lập lại được quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình Vì vậy, thụ lý giải quyết VADS đóng vai trò khá quan trọng trong quá trình tố tụng, là giai đoạn đầu của tố tụng

Như vậy, việc thụ lý giải quyết VADS của Tòa án là hoạt động nhận biết kết quả của việc nộp đơn khởi kiện VADS có thành hay không Khi Tòa án đưa quyết định thụ lý giải quyết VADS đồng nghĩa với việc thủ tục đầu tiên – nộp đơn khởi kiện VADS đã hoàn thành đúng thủ tục cũng như điều kiện pháp luật quy định; ngược lại, trường hợp Tòa án từ chối thụ lý giải quyết, người nộp đơn khởi kiện cần xem xét thủ tục, điều kiện về chủ thể, thẩm quyền, thời hiệu… tránh sai sót không đáng có ảnh hưởng đến cả một quá trình tố tụng

Trang 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, khởi kiện VADS là hoạt động tố tụng của các

cá nhân, tổ chức, cơ quan có quyền, tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp đưa vấn đề có tranh chấp ra trước Tòa án có thẩm quyền theo trình tự và thủ tục pháp luật quy định nhằm yêu cầu được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hay bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước Đây là hoạt động tố tụng đầu tiên để bảo vệ quyền dân sự do các chủ thể có quyền lợi hoặc được pháp luật trao quyền thực hiện theo quy định của pháp luật trên cơ sở quyền tự do định đoạt, là tiền

đề cho các hoạt động tố tụng tiếp theo trong quá trình giải quyết VADS Việc Tòa án thụ lý chỉ được thực hiện khi có yêu cầu khởi kiện của chủ thể có đầy đủ điều kiện

mà pháp luật quy định và khi việc khởi kiện của các chủ thể có quyền khởi kiện thỏa mãn các điều kiện thụ lý theo quy định của pháp luật TTDS

Việc pháp luật quy định về khởi kiện VADS dựa trên cơ sở nguyên tắc đảm bảo quyền con người trong TTDS, nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự…và thực tiễn thi hành pháp luật, thực tiễn giải quyết các VADS của Tòa án được hình thành và phát triển ở Việt Nam theo một chiều dài lịch sử

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả khởi kiện VADS bao gồm: Các quy định của pháp luật về khởi kiện VADS, năng lực tham gia tố tụng của người khởi kiện VADS, sự hỗ trợ của Luật sư đối với người khởi kiện VADS và hoạt động thụ lý giải quyết vụ án dân sự của Tòa án Vì vậy, để nâng cao hiệu quả khởi kiện VADS của các chủ thể một mặt phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về khởi kiện VADS mặt khác phải nâng cao cả năng lực tham gia tố tụng của người khởi kiện VADS, sự hỗ trợ của Luật sư đối với người khởi kiện VADS và hoạt động thụ lý giải quyết vụ án dân sự của Tòa án

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

2.1 Thực trạng các quy định về điều kiện khởi kiện vụ án dân sự

2.1.1 Quy định về điều kiện chủ thể khởi kiện

Như đã phân tích ở Chương I, khi khởi kiện ra Tòa án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị người khác xâm phạm hoăc tranh chấp thì cá nhân, cơ quan, tổ chức trước hết phải có quyền khởi kiện Theo quy định của pháp luật nội dung hay pháp luật tố tụng, trong trường hợp họ được xác định là có quyền khởi kiện thì họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác khởi kiện thay nếu không thể tự mình khởi kiện Do đó, để Tòa án chấp nhận yêu cầu và thụ lý giải quyết VADS bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì chủ thể khởi kiện ngoài việc có quyền khởi kiện phải đảm bảo các quy định của pháp luật mới thực hiện được quyền khởi kiện

2.1.1.1 Quy định về điều kiện chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự

Thứ nhất, chủ thể khởi kiện VADS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Theo quy định tại Điều 14 Hiến pháp 2013 thì “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” Trong đó quyền dân sự có ý nghĩa rất quan trọng Khi quyền và lợi

ích của chủ thể bị xâm phạm hay tranh chấp thì chủ thể đó có quyền thực hiện những phương pháp mà pháp luật cho phép và một trong những biện pháp đó chính

là khởi kiện VADS

Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, Điều 186 BLTTDS năm

2015 quy định:“Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án

có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Khi quyền,

lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chủ thể có quyền và lợi ích bị xâm phạm có quyền tự định đoạt khởi kiện hoặc không khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bảo vệ và việc khởi kiện này phải tuân thủ quy định của pháp luật về năng lực chủ thể, thẩm quyền của Tòa án,… cũng như được thể hiện thông qua đơn khởi kiện

Trang 33

Đối với người khởi kiện là cá nhân thì phải là con người cụ thể, không phân biệt là người nước ngoài hay người Việt Nam ở trong nước hay người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài hoặc người nước ngoài không ở Việt Nam có mặt tại Việt Nam đều có quyền khởi kiện Khi cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm hoặc tranh chấp họ có quyền khởi kiện và việc khởi kiện VADS tại Tòa án chính là thực hiện quyền khởi kiện Khi họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự (NLHVDS) thì họ có thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện Trong trường hợp cá nhân là người mất NLHVDS, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi dân sự thì việc thực hiện quyền khởi kiện thông qua người đại diện hợp pháp của họ

Tuy nhiên, trên thực tế trường hợp hiểu thế nào là người có quyền, lợi ích bị xâm phạm để từ đó xác định chủ thể có quyền khởi kiện là vấn đề còn có nhận thức khác nhau, dẫn đến có Tòa án đã từ chối không thụ lý đơn khởi kiện của đương

sự17 Ví dụ: Bản án dân sự phúc thẩm số 30/DS-PT ngày 17/7/2017 của Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh M tuyên ông X phải trả cho bà Y số tiền 700.000.000 đồng Ngày 27/9/2017, ông X bán căn nhà của mình cho bà L, hợp đồng mua bán giữa ông X và

bà L đã được công chứng Tuy nhiên, sau khi nhận được tiền bán nhà từ bà L, ông

X không trả tiền cho bà Y nên bà Y đã làm đơn yêu cầu thi hành án gửi Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, đồng thời khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà giữa ông X và bà L Có ý kiến cho rằng, bà Y không có quyền khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà giữa ông X và bà L bởi chỉ có các chủ thể của hợp đồng mua bán mới có quyền khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng và các tranh chấp khác phát sinh từ quan hệ hợp đồng Tác giả đồng tình với quan điểm của PGS.TS

Bùi Thị Huyền rằng “nếu hiểu chỉ những chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự mới có quyền khởi kiện VADS là hạn chế quyền khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức”18 Chúng ta cần hiểu quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015 dưới góc

độ bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo hướng tất cả các chủ thể cho rằng

bị ảnh hưởng bởi hợp đồng mua bán giữa ông X và bà L đều có quyền khởi kiện

Trang 34

Trong trường hợp này, việc xác định chủ thể có quyền khởi kiện VADS cần phải căn cứ vào cả pháp luật chuyên ngành Trong trường hợp này, theo Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự19 thì bà Y có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng giữa X và L là vô hiệu mặc dù bà

Y không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật về mua bán nhà giữa X và L

Tương tự, đối với trường hợp xác định chủ thể có quyền khởi kiện đối với tranh chấp liên quan đến nhà, đất của dòng họ Theo quy định tại Điều 211 BLDS 2015 thì nhà thờ họ, đất hương hỏa là tài sản chung của cộng đồng; tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia Theo khoản 3 Điều 7 Luật Đất đai năm 2013 thì người đại diện cho cộng đồng dân cư có thể được cộng đồng dân cư thỏa thuận cử ra đối với việc sử dụng đất Hiện nay, trên thực tế khi giải quyết các vụ

án liên quan đến tranh chấp nhà thờ họ còn gặp nhiều vướng mắc và chưa thống nhất

Có ý kiến cho rằng, chỉ cần đa số các hộ gia đình trong chi, họ đó ủy quyền cho một hoặc một số người đứng đơn khởi kiện là đã đảm bảo tư cách của người khởi kiên Nhưng ý kiến khác lại cho rằng, do nhà thờ họ là tài sản chung của cộng đồng họ tộc, mọi việc liên quan đến quản lý, sử dụng nhà thờ họ phải thể hiện sự nhất trí chung của cả họ và chỉ có cộng đồng họ tộc mới có quyền đòi người đang quản lý phải trả lại nhà thờ họ nên việc khởi kiện phải thể hiện ý chí chung của cả dòng họ

Đối với cơ quan, tổ chức khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc tranh chấp thì cũng có quyền khởi kiện ra Tòa để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Muốn thực hiện quyền khởi kiện thì trước hết cơ quan, tổ chức đó phải có tư cách pháp nhân20 Theo quy định tại Điều

74 BLDS năm 2015 thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đầy đủ các điều kiện sau: (i) Được thành lập theo quy định của BLDS năm 2015, luật khác có liên quan; (ii) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 BLDS năm 2015; (iii)

Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (iiii) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập

19

Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho,…cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án…

20 Vấn đề pháp nhân được quy định tại các Điều từ Điều 74 đến Điều 96 Chương IV Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLDS năm 2015

Trang 35

Cơ quan, tổ chức muốn khởi kiện phải thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hoặc người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho người khác Cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải chứng minh quyền, lợi ích quyền và lợi ích của minh bị xâm phạm, tranh chấp thông qua các giấy tờ, văn bản, tài liệu liên quan

Ngoài các chủ thể được quy định trên thì hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân cũng có quyền khởi kiện VADS Theo Điều 101 BLDS năm 2015, trường hợp tổ hợp tác, hộ gia đình, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của tổ hợp tác, hộ gia đình, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân

sự Tuy nhiên, về vấn đề này cũng chưa được quy định rõ xem phải do tất cả các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân khởi kiện hay một trong số các thành viên đó hoặc người đại diện ủy quyền có quyền khởi kiện21

Thứ hai, chủ thể khởi kiện VADS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước

Bên cạnh chủ thể khởi kiện là người có quyền và lợi ích hợp pháp trực tiếp vị xâm phạm, khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình thì pháp luật còn quy định một số chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khác Đó là chủ thể khởi kiện với tư cách là người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền của đương sự Trong một số trường hợp để bảo đảm quyền khởi kiện của nhóm chủ thể yếu thế BLTTDS năm 2015 đã quy định một số chủ thể được đề cập ở Điều 187 Bộ luật này có quyền khởi kiện để bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của họ Cụ thể:

+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện trong trường hợp cần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người quy định tại khoản 5 Điều 84; khoản 2 Điều 86; khoản 3 Điều 102; khoản 2

21

Bùi Thị Huyền (2017) “Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015” Kiểm sát, (12), tr

31- 36

Trang 36

Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Luật HNGĐ năm 2014) Đó là trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con; hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên; xác định con cho cha mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành

vi dân sự và trường hợp buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó Trong trường hợp này, người được các cơ quan, tổ chức trên khởi kiện để bảo vệ quyền lợi là nguyên đơn trong vụ án dân sự So với quy định của BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì BLTTDS năm 2015

có sự thay đổi về mặt tên gọi của chủ thể khởi kiện trong quy định này từ “cơ quan

về dân số, gia đình và trẻ em” thành “cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em” nhằm thống nhất với Luật HNGĐ và các văn bản

pháp luật chuyên ngành liên quan

+ Tổ chức đại diện tập thể người lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền So với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì BLTTDS năm 2015 có sự thay đổi về mặt tên gọi của chủ thể

khởi kiện trong quy định này từ “Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở” thành

“Tổ chức đại diện tập thể lao động” và bổ sung thêm trường hợp khi được người

lao động ủy quyền thì Tổ chức đại diện tập thể lao động cũng có quyền khởi kiện vụ

án lao động nhằm thống nhất với Bộ luật Lao động và các văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan

+ Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Đây là một chủ thể có quyền khởi kiện mới được bổ sung vào BLTTDS năm 2015 nhằm phù hợp với quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như điều kiện thực tế khi nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng gia tăng,

sự biến động phức tạp của thị trường cung cầu trong và ngoài nước dẫn đến quyền lợi của người tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng và cần được bảo vệ một cách nhanh chóng, kịp thời Trên thực tế, đa số các cá nhân các cá nhân tham gia quan hệ mua bán sản phẩm, hàng hóa trên thị trường là với tư cách người tiêu dùng Tuy nhiên, nếu với tư cách là người tiêu dùng thì ngoài việc tự mình khởi kiện, cá nhân, tổ

Trang 37

chức còn được tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện thay Chình vì vậy, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cần đưa ra Nghị quyết nhằm hướng dẫn rõ trường hợp nào là khởi kiện với tư cách là người tiêu dùng, trường hợp nào là khởi kiện với tư cách là cá nhân thông thường

Để trở thành tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì cần đáp ứng được các tiêu chí quy định tại Điều 27 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Cụ thể là cần có 02 điều kiện: (i) Được thành lập theo quy định của pháp luật

và hoạt động theo điều lệ được tham gia hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; (ii) Hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức xã hội phải tuân theo quy định của pháp luật hiện hành Hiện nay, theo thống kê của Bộ Công thương thì ngoài Hội tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (VINASTAS)

đã có 41 Hội tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở 41 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương22

+ Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định tại khoản 2 Điều 52, khoản 5 Điều Điều

84, khoản 2 Điều 86, Điều 92, khoản 3 Điều 102, khoản 2 Điều 119 luật Luật HNGĐ năm 2014 Đây là các trường hợp khởi kiện vụ án về việc: Yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác

mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do vợ, chồng của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ23; yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hộn khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên; xác định cha, mẹ con trong trường hợp người có yêu cầu chết; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự (NLHVDS); buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ Chủ thể có quyền khởi kiện trong trường hợp này là sự bổ sung mới của BLTTDS năm 2015 nhằm tương thích với Luật HNGĐ năm 2014 và để đảm bảo quyền lợi của người vợ hoặc chồng bị mất NLHVDS chịu ảnh hưởng nghiêm

22 Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương, Danh sách Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tại địa chỉ:

http://www.vca.gov.vn/Default.aspx?CateID=2 , truy cập ngày 15/7/2018

23

Xem Khoản 2 Điều 51 Luật HNGĐ năm 2014

Trang 38

trọng của hành vi bạo lực gia đình Các quy định mới của BLTTDS năm 2015 xuất phát từ Hiến pháp 2013 khi mà Đảng và Nhà nước ta đề cao việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế

+ Bên cạnh việc quy định các chủ thể khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, BLTTDS năm 2015 kế thừa các quy định của BLTTDS năm

2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) ghi nhận quyền khởi kiện của cơ quan tổ chức vì lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước Theo đó các cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật Trong trường hợp này, các cơ quan, tổ chức khởi kiện

sẽ được xác định là nguyên đơn trong VADS mặc dù không có quyền lợi bị xâm phạm hoặc tranh chấp Ví dụ, cơ quan Tài nguyên và môi trường có quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi gây ô nhiễm môi trường phải bồi thường thiệt hại, khắc phục sự cố gây ô nhiễm môi trường công cộng; Cơ quan Văn hóa – Thông tin có quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi xâm phạm di sản văn hóa thuộc sở hữu toàn dân phải bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra

Qua những phân tích trên, ta nhận thấy BLTTDS năm 2015 đã mở rộng hay quy định đầy đủ hơn các chủ thể có quyền khởi kiện VADS so với quy định tại BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) Việc mở rộng này đã đáp ứng được quyền tiếp cận công lý của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự nói chung và các chủ thể tham gia các quan hệ xã hội nói riêng, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp 2013 và đặc biệt là bảo đảm quyền lợi cho nhóm các chủ thể yếu thế trong xã hội Ngoài ra, việc bổ sung các chủ thể có quyền khởi kiện mới trong BLTTDS năm 2015 đã tạo nên sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật với nhau đặc biệt là LHNGĐ, BLLĐ, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng… phù hợp với sự phát triển của

xã hội cũng như hướng đến sự ổn định về mặt pháp lý để các chủ thể có thể bảo

vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình và của người khác thông qua cơ chế khởi kiện tại các hệ thống cơ quan Tòa án

Trang 39

2.1.1.2 Quy định về điều kiện để chủ thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự

Khi một chủ thể cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, theo quy định của pháp luật chủ thể đó có quyền nộp đơn khởi kiện đến TA yêu cầu bảo vệ quyền lợi ích mình Tuy nhiên, để yêu cầu của họ được Tòa án thụ lý giải quyết thì chủ thể khởi kiện ngoài việc có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật còn cần phải có đủ khả năng tự mình thực hiện quyền khởi kiện Chủ thể có quyền khởi kiện muốn tự mình khởi kiện thì cần phải có năng lực pháp luật và NLHVTTDS Năng lực pháp luật dân sự là khả năng pháp luật quy định cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có các quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự Năng lực pháp luật tố tụng dân

sự được coi là điều kiện đầu tiên (điều kiện cần) để chủ thể tham gia vào quá trình

tố tụng dân sư Một chủ thể chỉ có quyền tham gia tố tụng dân sự khi được pháp luật thừa nhận có năng lực pháp luật tố tụng dân sư Nếu năng lực pháp luật tố tụng dân

sự là điều kiện cần thì NLHVTTDS là điều kiện đủ để một chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Theo đó, NLHVTTDS là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng dân sự

Thứ nhất, cá nhân khởi kiện với tư cách là nguyên đơn để bảo vệ quyền lợi của mình hoặc khởi kiện với tư cách là người đại diện để bảo vệ quyền lợi của người khác

+ Những người có đầy đủ NLHVTTDS Là những người từ đủ mười tám tuổi trở lên và không mắc một số các căn bệnh làm mất khả năng lực và làm chủ hành

vi Trong trường hợp này, họ có thể tự thực hiện quyền khởi kiện hoặc ủy quyền khởi kiện vụ án cho một chủ thể khác, trừ việc ly hôn24 Tuy nhiên, thực tiễn xét xử hiện nay đang có sự không thống nhất trong nhận thức về một số quy định của pháp luật, trong đó có việc ủy quyền khởi kiện vụ án dân sự

Theo đó, Điều 186 BLTTDS năm 2015 về quyền khởi kiện quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”

Khoản 2 Điều 189 BLTTDS năm 2015 về việc làm đơn khởi kiện của cá nhân tại các điểm a và b quy định:

24

Nguyễn Công Bình (2017), Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.243

Trang 40

“a) Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;

b) Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;”

Các quy định nêu trên dẫn đến có những quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, Điều 186 BLTTDS năm 2015 quy định về

quyền khởi kiện, theo đó cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án và người đại diện hợp pháp ở đây bao gồm người đại diện theo ủy quyền và người đại diện theo pháp luật Do đó, người đại diện theo ủy quyền có thể trực tiếp ký đơn hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện Tức là, người có quyền và lợi ích bị xâm hại có thể ủy quyền cho người khác khởi

Quan điểm thứ hai cho rằng, quy định tại Điều 189 BLTTDS năm 2015 đã xác

định đối với cá nhân có quyền, lợi ích bị xâm hại là người có đầy đủ NLHVDS thì phải trực tiếp ký hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện và cho rằng đây là quyền nhân thân của người khởi kiện, không thể chuyển giao cho người khác Chỉ trường hợp người khởi kiện là người chưa thành niên, người mất NLHVDS, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ mới ký hoặc điểm chỉ đơn khởi kiện vụ án Nói cách khác, người có quyền, lợi ích bị xâm hại phải trực tiếp ký, điểm chỉ vào đơn khởi kiện và việc ủy quyền tham gia tố tụng giải quyết vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích của họ chỉ được thực hiện sau khi khởi kiện

và Tòa án đã thụ lý vụ án26

25 Huỳnh Minh Khánh (2017), “Cá nhân có được quyền ký vào đơn thay cho người khởi kiện?”, Tạp chí Tòa

án nhân dân điện tử ngày 18/12/2017, tại địa chỉ:

kien/HyTKM1SfG.html , truy cập ngày 16/7/2018.

http://tapchitoaan.vn/bai-viet/trao-doi-y-kien/ca-nhan-co-duoc-quyen-ky-vao-don-thay-cho-nguoi-khoi-26 Nguyễn Huy Hoàng (2017) , “Trao đổi bài viết “Cá nhân có được quyền ký vào đơn thay cho người khởi kiện hay không?”, đăng trên tạp chí điện tử ngày 17/01/2018, tại địa chỉ:

nguoi-khoi-kien-hay-khong/S1kMWI2EG.html , truy cập này 16/7/2018.

Ngày đăng: 02/08/2019, 18:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm