Xét về mặt thực tiễn, ngoại trừ một số nước đã bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi, việc sử dụng các dấu hiệu này hiện nay đã xuất hiện ở nhiều nước, trong nhiều lĩnh vực như: điệ
Trang 1TRẦN ANH NGỌC
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH VÀ MÙI - KINH NGHỆM THẾ GIỚI VÀ KHUYẾN NGHỊ
CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2018
Trang 2TRẦN ANH NGỌC
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH VÀ MÙI -KINH NGHỆM THẾ GIỚI VÀ KHUYẾN NGHỊ
CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số : 8380108
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Bá Bình
HÀ NỘI - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên nếu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
về đề tài của mình
NGƯỜI CAM ĐOAN XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CPTPP: Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
2 CTM: Hệ thống thương hiệu cộng đồng Châu Âu
3 INTA: Hiệp hội thương hiệu quốc tế
4 IPA: Cơ quan sở hữu trí tuệ Úc
5 JPO: Cơ quan sáng chế Nhật Bản
6 NHCĐ: Nhãn hiệu cộng đồng
7 OHIM: Cơ quan Nhãn hiệu và Kiểu dáng Châu Âu
8 TMEP: Sổ tay hướng dẫn thủ tục kiểm tra nhãn hiệu
9 TRIPS: Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của WTO
10 TTAB: Cơ quan giải quyết tranh chấp nhãn hiệu của USPTO
11 UBTVQH: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
12 USPTO: Cơ quan sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ
13 WIPO: Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
14 WTO: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1: Sơ đồ cách đánh giá khả năng bảo hộ Nhãn hiệu phi truyền thống Hình 2: Đoạn nhạc miêu tả nhãn hiệu âm thanh trong hồ sơ đăng ký nhãn hiệu
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Tình hình nghiên cứu đề tài 4
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 6
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 6
6 Các câu hỏi nghiên cứu 7
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 7
8 Bố cục của luận văn 8
CHƯƠNG 1 9
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÃN HIỆU ÂM THANH VÀ NHÃN HIỆU MÙI 9
1.1 Khái niệm nhãn hiệu 9
1.1.1 Định nghĩa 9
1.1.2 Đặc điểm của nhãn hiệu 17
1.1.3 Nhãn hiệu không được bảo hộ 20
1.2 Khái niệm nhãn hiệu âm thanh 21
1.3 Khái niệm nhãn hiệu mùi 24
1.4 Pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi 27
CHƯƠNG 2 37
BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH VÀ MÙI THEO MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 37
2.1 Pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi theo một số điều ước quốc tế 37
Trang 72.2 Pháp luật bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi tại Hoa Kỳ,
Nhật Bản và Úc 40
2.2.1 Cơ sở pháp lý bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi tại các nước Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc……… 40
2.2.2 Quy định về xác lập quyền đối với nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi 44
2.2.3 Thực thi quyền đối với nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi 55
2.2.4 Hủy bỏ quyền đối với nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi 57
2.2.5 Vấn đề khiếu nại 59
2.3 Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi theo pháp luật Liên minh Châu Âu 61
CHƯƠNG 3 68
MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI VÀ ĐỀ XUẤT CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH VÀ NHÃN HIỆU MÙI 68
3.1 Một số bài học kinh nghiệm của thế giới về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi 68
3.2 Kiến nghị về việc xây dựng pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi tại Việt Nam 73
3.2.1 Nội luật hóa các cam kết của Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi 73
3.2.2 Xây dựng khung pháp luật bảo hộ nhãn hiệu linh hoạt 75
3.2.2.1 Nguyên tắc chấp nhận đơn đăng ký 75
3.2.2.2 Quy định về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi 76
3.2.2.3 Thể hiện nhãn hiệu trong đơn đăng ký 78
3.2.2.4 Yêu cầu sử dụng nhãn hiệu 79
Trang 83.2.2.5 Việc sử dụng nhãn hiệu trên Internet 80 3.2.2.6 Vấn đề xung đột quyền kề cận 81 3.2.3 Các biện pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi ……….83
KẾT LUẬN 86
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập của các nền kinh tế thế giới, trái ngược với việc cố gắng giảm thiểu các hàng rào mậu dịch quốc tế, các quốc gia, trong đó có Việt Nam đang tăng cường biện pháp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cả về mặt pháp lý
và thực thi quyền Trong đó, việc bảo hộ nhãn hiệu là hoạt động vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo và tăng cường tính cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trong môi trường thương mại quốc tế Nền kinh tế với rất nhiều loại hàng hóa, dịch vụ của nhiều chủ thể kinh doanh khác nhau, và để giúp người tiêu dùng nhận biết được sản phẩm và chọn lựa chính xác và nhanh chóng sản phẩm hàng hóa mà họ cần thì việc đặt tên cho sản phẩm đó thật sự là cần thiết Một trong những nhãn hiệu mới được nhiều người quan tâm và tìm hiểu đó chính là bảo hộ nhãn hiệu
âm thanh (sound mark) và mùi (scent mark)
Với việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào tháng 11 năm 2006, Việt Nam đã có một bước ngoặt rất lớn đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Trong khuôn khổ WTO, Việt Nam tiếp cận được với một hiệp định đa phương toàn diện quan trọng về các vấn đề sở hữu trí tuệ - Hiệp định TRIPS, nâng cao ý thức của quốc gia về tầm quan trọng của vấn
đề liên quan đến sở hữu trí tuệ , trong đó có bảo hộ nhãn hiêu Và đầu năm nay đánh dấu một cột mốc mới của Việt Nam trong việc hợp tác toàn diện với các quốc gia lớn, với hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Một trong những thách thức lớn đối với Việt Nam khi tham gia hiệp định này là các tiêu chuẩn về sở hữu trí tuệ Đây là hiệp định đa phương đầu tiên
mà Việt Nam tham gia có quy định mở rộng phạm vi đăng ký nhãn hiệu, cụ thể
là nhãn hiệu đăng ký sẽ không chỉ dừng lại ở mức là nhãn hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc, mà còn được mở rộng cho phép đăng ký các nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi (Điều 18.18)
Trang 10Mặc dù Việt Nam đã ký kết hiệp định CPTPP, vẫn còn những ý kiến và tranh luận xung quanh việc thực thi các điều khoản về bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống như âm thanh và mùi Cho đến nay, pháp luật Việt Nam không quy định
về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi Theo quy định tại Điều
72 Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam năm 2005 sửa đôi, bổ sung năm 2009, nhãn hiệu sẽ được bảo hộ nếu đáp ứng đủ 2 điều kiện là: dấu hiệu nhìn thấy được và dấu hiệu có khả năng phân biệt Điều kiện tiên quyết để một nhãn hiệu có thể được bảo hộ tại Việt Nam đó là “dấu hiệu nhìn thấy được”, sau đó mới xét đến khả năng phân biệt của chúng như thế nào Có thể thấy, với tình hình phát triển kinh tế, thương mại của Việt Nam hiện tại, dù nhiều loại hình kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mới được hình thành, cũng sự phát triển của internet và các thiết bị công nghệ, nhưng phần lớn các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa tiếp cận và hiểu hết được những lợi ích mà các nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi mang lại Xét về mặt thực tiễn, ngoại trừ một số nước đã bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi, việc sử dụng các dấu hiệu này hiện nay đã xuất hiện ở nhiều nước, trong nhiều lĩnh vực như: điện ảnh, giải trí, phát thanh truyền hình, công nghệ thông tin, điện tử, dịch vụ khách sạn, nhà hàng… Chúng ta cũng từng bắt gặp những hình ảnh sinh động, những âm thanh mang tính biểu trưng của nhà sản xuất, phát hành khi xem các tác phẩm điện ảnh, băng đĩa giải trí; hay cũng có thể biết đến một mùi đặc trưng nào đó mang tính chỉ định nguồn gốc sản phẩm, dịch vụ Thực tiễn cho thấy vấn đề sử dụng nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi đang ngày càng được quan tâm Cho nên, việc bảo hộ các loại nhãn hiệu này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp, duy trì trật tự quản lý trong lĩnh vực sử dụng nhãn hiệu là rất cần thiết và mang tính tất yếu khách quan
Hơn nữa, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó một số quốc gia phát triển trên thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc,… đã có quy định từ khá sớm về vấn về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi, nhiều doanh nghiệp cũng đã đăng
Trang 11ký bảo hộ thành công với những âm thanh hay mùi hương đặc trưng như: Tiếng chuông điện thoại Nokia, tiếng sư tử gầm của hãng phim M&M, mùi cỏ tươi mới cắt sử dụng cho sản phẩm bóng tennis,… Số lượng không ngừng tăng lên do nhu cầu phát triển đa dạng các loại hình kinh doanh Khi Việt Nam mở cửa hội nhập sâu rộng hơn với thế giới, các nhãn hiệu của nước ngoài thâm nhập và phát triển thị trường trong nước Việc Việt Nam chưa có cơ chế bảo hộ các nhãn hiệu phi truyền thống một cách toàn diện, gây ra những khó khăn và trở ngại cho các nhãn hiệu nước ngoài muốn phát triển tại Việt Nam Bởi sẽ có những rủi ro nhất định khi nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi đã được đăng ký bảo hộ tại các quốc gia trên thế giới, nhưng lại không được bảo hộ tại Việt Nam Điều này sẽ khiến cho nhãn hiệu sẽ dễ bị lợi dụng, sử dụng không đúng mục đích của chủ sở hữu nhãn hiệu, ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp Mặt khác, ngay cả đối với các doanh nghiệp trong nước, nhu cầu phát triển đa dạng các loại hình hàng hóa và dịch vụ đòi hỏi nhãn hiệu cũng cần phát triển theo phù hợp với xu thế chung Tuy nhiên pháp luật Việt Nam lại chưa có những quy phạm điều chỉnh cần thiết, thành ra các nhãn hiệu phi truyền thống như âm thanh và mùi lại
là phạm trù mà doanh nghiệp trong nước chưa thể tiếp cận được Điều này sẽ khiến cho doanh nghiệp có thể bỏ lỡ cơ hội phát triển, khẳng định vị thế của mình một cách hứa hẹn hơn
Như vậy, Việt Nam mới chỉ có cơ chế bảo hộ đối với nhãn hiệu nhìn thấy được Điều này lại xung đột với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập CPTPP
về bảo hộ nhãn hiệu, và không phù hợp với sự phát triển của pháp luật sở hữu trí tuệ quốc tế Để đảm bảo sự tương thích pháp luật khi Việt Nam trở thành thành viên của CPTPP nói riêng và thống nhất với pháp luật quốc tế, thiết nghĩ cần phải kịp thời có những nghiên cứu, để xuất giải pháp sửa đổi, khắc phục những hạn chế của pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam nói chung, và pháp luật về nhãn hiệu nói riêng, phù hợp hơn với thực tế phát triển thương mại cũng như với hệ thống pháp luật quốc tế, đặc biệt là những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký
Trang 12kết, đáp ứng được kịp thời nhu cầu phát triển các loại hình nhãn hiệu trong thực
tế hiện nay Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã chọn đề tài: “Pháp luật về bảo hộ
nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi - Kinh nghiệm thế giới và khuyến nghị cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nhãn hiệu và tầm quan trọng của việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi trên lãnh thổ quốc gia và phạm vi quốc tế Đồng thời phân tích những điểm nổi bật, khác biệt về cách thức, trình tự, để đăng ký bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi tại các quốc gia có hệ thống pháp luật nhãn hiệu tương đối đầy đủ như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc, bên cạnh đó nghiên cứu những quy định trong các Điều ước quốc tế riêng biệt về nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi, nhằm đưa đến cái nhìn tổng quan về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi, qua đó giúp cho Việt Nam xây dựng và hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu trong lãnh thổ quốc gia Bên cạnh đó, luận văn còn đưa ra các chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi của các hệ thống pháp luật,
đề ra phương hướng khắc phục những hạn chế đó khi áp dụng cho Việt Nam
3 Tình hình nghiên cứu đề tài
Khái niệm âm thanh và mùi còn khá mới mẻ trong hệ thống luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam, hầu như chưa có 1 nghiên cứu chuyên sâu nào tại nước ta về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi, mà chỉ dừng lại ở các kỷ yếu khoa học, hội thảo nghiên cứu có thể kể đến như:
-Luận văn thạc sĩ luật học năm 2016 của thạc sĩ Trần Cao Thành về những bất đồng về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý khi hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được vận hành
- Đề tài luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh tế của tác giả Trần Văn Hải về "Giải pháp khắc phục những rào cản về sở hữu trí tuệ đối với Việt
Trang 13Nam khi tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương
- TPP"
- Nghiên cứu trao đổi về những bất cập của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam
và những kiến nghị hoàn thiện của Luật sư Phạm Thị Hồng Đào.1
- Nghiên cứu của Lê Thị Thu Hà đăng trên tạp chí khoa học ĐHQGHN năm
2016 về vấn đề: Xung đột bảo hộ chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu trong Hiệp định TPP và những vấn đề đặt ra với Việt Nam.2
Ngoài ra, khái niệm nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi cũng chỉ được đề cập sơ qua trong các luận văn nghiên cứu về pháp luật nhãn hiệu của các quốc gia trên thế giới Ngược lại, trên thế giới có nhiều bài viết chuyên sâu về vấn đề này, đặc biệt là các bài phân tích của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO về các nhãn hiệu phi truyền thống như:
-Kỷ yếu hội thảo của WIPO về “Áp dụng các nguyên tắc đánh dấu thương hiệu thành lập cho các loại nhãn hiệu mới hoặc nhãn hiệu phi truyền thống” -Nghiên cứu “Trạng thái mùi được coi như một nhãn hiệu: xu hướng quốc tế” năm 2012 của Hiệp hội thương hiệu quốc tế.3
- Bài phân tích nghiên cứu “Một sự phản ánh các cách định nghĩa nhãn hiệu phi truyền thống trong pháp luật các nước” của Thạc sĩ Roberto Carapeto đăng trên tạp chí pháp luật so sánh số 34của trường đại học Waseda, Nhật Bản.4
-Phân tích những ví dụ về việc từ chối đăng ký nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi tại cơ quan cấp bằng sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới.5
http://www.wipo.int/export/sites/www/sct/en/comments/pdf/sct23/ref_usa.pdf
Trang 14Hầu như các nghiên cứu đều chỉ ra được những khác biệt trong việc nhận biết một nhãn hiệu âm thanh hay là nhãn hiệu mùi theo quy định của các nước trên thế giới Tuy nhiên, việc bảo hộ nhãn hiệu, cụ thể với thủ tục đăng ký, xác lập quyền, thực thi hay hủy bỏ quyền đối nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi có những đặc biệt như thế nào thì vẫn chưa có tài liệu nào đề cập một cách đầy đủ
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu, phân tích các khái niệm, nguyên tắc cơ bản của bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi, đồng thời phân tích những vấn đề pháp lý nổi bật và khác biệt của việc bảo hộ nhãn hiệu
âm thanh và nhãn hiệu mùi so với nhãn hiệu thông thường khác trong hệ thống pháp luật quốc tế về nhãn hiệu như Hiệp ước nhãn hiệu, và pháp luật các quốc gia Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Úc đều là các quốc gia phát triển đang có hệ thống luật về nhãn hiệu khá đầy đủ, trong đó có nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi Bên cạnh đó, Nhật Bản và Úc đều là thành viên của hiệp định CPTPP vì vậy nghiên cứu luật các quốc gia này sẽ dễ dàng hơn cho Việt Nam học hỏi kinh nghiệm khi xây dựng pháp luật về âm thanh và mùi của mình Ngoài ra, các Điều ước quốc tế đề cập đến nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi như: Hiệp ước nhãn hiệu, hiệp ước Singapore về luật nhãn hiệu, hiệp định CPTPP,…cũng là nguồn luật vô cùng quan trọng, đối chiếu với pháp luật Việt Nam khi hoàn thiện pháp luật nhãn hiệu Luận văn cũng nêu ra những vụ việc thực tiễn để phân tích nhằm tìm ra hạn chế, và kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi sau này
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong khóa luận này tác giả có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử: tìm hiểu lịch sử ra đời và phát triển của khái niệm nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi, nhu cầu bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi trên thế giới
Trang 15- Phương pháp so sánh: so sánh các quy định pháp luật của các quốc gia và các điều ước quốc tếvề nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi, đối chiếu với những vụ việc thực tế từ Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng phương pháp so sánh, đối với pháp luật Việt Nam với hệ thống pháp luật quốc tế, phân tích để tìm ra điểm bất cập còn tồn tại trong những quy định về nhãn hiệu hiện nay
- Phương pháp phân tích tổng hợp: phân tích các quy định về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi của các hệ thống pháp luật trên thế giới để tìm
ra những ưu điểm và nhược điểm của các cách thức tiến hành đăng ký, bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi trong từng hệ thống pháp luật hiện nay, qua đó có được những kinh nghiệm giúp Việt Nam lựa chọn cách thức bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi phù hợp, hiệu quả nhất
- Phương pháp sơ đồ: dùng sơ đồ minh họa quy trình tư duy, lập luận trong quy định của pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi
6 Các câu hỏi nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, cần làm rõ câu trả lời của các câu hỏi sau:
- Có những khó khăn gì trong việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay?
- Việt Nam học hỏi được gì từ kinh nghiệm các quốc gia trong vấn đề bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi?
-Làm thế nào để xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
và nhãn hiệu mùi tại Việt Nam?
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Về mặt khoa học: Đề tài bổ sung thêm nguồn nghiên cứu khoa học trong hệ thống các công trình đã công bố liên quan đến CPTPP và nhãn hiệu phi truyền thống Người học có thể hiểu được những quy định về Sở hữu trí tuệ với nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi, chỉ ra những khó khăn trong bảo hộ loại nhãn này, từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục, rút kinh nghiệm khi áp dụng quy định
Trang 16CPTPP về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi đối với Việt Nam Kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi trong thời gian tới
- Về mặt thực tiễn: Đề tài sẽ rà soát lại hệ thống pháp luật Sở hữu trí tuệ của các quốc gia Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc, kể cả những Điều ước quốc tế có quy định về nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi, những điểm tích cực và hạn chế Đồng thời qua các thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi trên thế giới, luận văn đề ra các giải pháp khắc phục những bất đồng và khó khăn trong bảo hộ nhãn hiệu nói chung, nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi nói riêng, giảm thiểu đến mức thấp nhất những thiệt hại về kinh tế khi Việt Nam thực thi CPTPP, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng tốt cơ hội để hội nhập sâu rộng hơn
8 Bố cục của luận văn
Luận văn được kết cấu 3 phần, phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận, trong đó phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi
Chương 2: Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi theo một số điều ước quốc tế và pháp luật một số nước trên thế giới
Chương 3: Một số bài học kinh nghiệm của thế giới và đề xuất cho Việt Nam trong việc xây dựng pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi
Trang 17CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬNVỀ NHÃN HIỆU ÂM THANH VÀ NHÃN
HIỆU MÙI 1.1 Khái niệm nhãn hiệu
1.1.1 Định nghĩa
Nhãn hiệu đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại Những người cổ đại thời kỳ đồ đá vẫn thường trao đổi với nhau những vũ khí được thiết kế khác biệt với vẻ ngoài đem lại cảm tưởng sẽ giúp họ thành công hơn trong săn bắn Thuật ngữ nhãn hiệu-“brand” xuất phát từ người Iceland cổ đại với nghĩa là đốt cháy-
“to burn” Vào thời bấy giờ, những người chăn nuôi gia súc muốn người mua hàng nhận biết được những con gia súc chất lượng tốt của mình, với hi vọng rằng khách hàng sẽ mua lại trong những lần sau hay giới thiệu với người khác
Họ đóng dấu phân biệt cho các loại gia súc, bằng cách đốt cháy 1 khoảng da hay lông của chúng với kí hiệu của riêng mình Sau đó, các nhà sản xuất gốm, gia thú, chế tác kim loại và tơ lụa cũng sử dụng phương pháp này nhằm phân biệt các sản phẩm của họ với của nhà sản xuất khác Cách đây khoảng 3000 năm, những người thợ thủ công Ấn Độ thường khắc chữ ký của mình lên các tác phẩm trước khi đem hàng đi bán tại Iran Người Trung Quốc cũng sử dụng phương pháp này để dánh dấu nhận biết hàng hóa trước khi mang sang bán tại Địa Trung Hải
Dần dần, cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa, kéo theo là sự phát triển của hoạt động thương mại và buôn bán hàng hóa, nhãn hiệu bắt đầu đóng một vai trò quan trọng và trở thành nhân tố không thể thiếu trong xu hướng thương mại hóa và toàn cầu hóa của nền kinh tế thị trường Khi nền kinh tế sản xuất hàng hóa phát triển, lượng hàng hóa khổng lồ khiến thị trường trở nên phong phú, đa dạng các mặt hàng, nhiều người cùng sản xuất ra một mặt hàng dẫn đến sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất và các thương nhân Đối với người tiêu dùng, giữa các sản phẩm hàng hóa này lại không có sự khác nhau về chất
Trang 18lượng, giá trị hay hình thức bên ngoài nên họ rất khó khăn trong việc lựa chọn hàng hóa mình ưa thích Từ đó nảy sinh nhu cầu cần phải có dấu hiệu riêng biệt cho từng loại hàng hóa đối với từng đơn vị sản xuất khác nhau nhưng có cùng một chủng loại hoặc có tính chất tương tự.Do đó, hàng hóa của từng nhà sản xuất cần phải được đặt tên Và phương tiện để đặt tên cho các loại hàng hóa trên thị trường chính là nhãn hiệu
Đến thế kỷ XIX, từ điển Oxford đã định nghĩa “brand” là dấu hiệu của nhãn hiệu thương mại Ngày nay, nhãn hiệu-“brand” được hiểu là tổng hòa tất cả các thông tin về một sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất, được truyền đạt tới người tiêu dùng bằng tên gọi hoặc các dấu hiệu nhận biết khác như logo hoặc hình tượng Quá trình định nhãn (branding), hay việc sử dụng các biểu tượng để truyền đạt các thông tin về một sản phẩm hay dịch vụ, đã làm tăng giá trị và mở rộng mức độ ảnh hưởng của nhãn hiệu Kết quả là nó tạo ra của cải vật chất cho người sở hữu, đặt ra nhu cầu cần có cơ chế nhãn hiệu tránh bị đối thủ cạnh tranh lợi dụng để gây nhầm lãn với người tiêu dùng Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “trademark” dùng để chỉ một nhãn hiệu đã được bảo hộ, không còn đơn thuần là “brand” nữa Ngày nay, với phần lớn người tiêu dùng từ “brand” mang nghĩa chủ yếu là các nhãn hiệu nổi tiếng, đã có chỗ đứng trên thị trường
Như vậy, sự ra đời của nhãn hiệu ban đầu chỉ đơn thuần là một dấu hiệu hay
ký hiệu mang tính ngẫu nhiên Cùng với sự phát triển của hoạt động sản xuất và thương mại hàng hóa, các thương nhân đã ngày càng ý thức hơn về nhãn hiệu, khi đó dấu hiệu hay ký hiệu dùng làm nhãn hiệu không còn mang tính ngẫu nhiên nữa mà ẩn chứa những dụng ý của nhà sản xuất và người bán hàng nhằm phân biệt, làm nổi bật loại hàng hóa của mình trên thị trường Nhãn hiệu trong thời kỳ trước chỉ nhằm mục đích phân biệt hàng hóa nên mới chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là nhãn hiệu hàng hóa Nhưng trong thương mại hiện đại, khi các ngành dịch vụ phát triển, nhãn hiệu còn là căn cứ phân biệt dịch vụ của doanh
Trang 19nghiệp này với dịch vụ của doanh nghiệp khác, với những dấu hiệu nhận biết đặc trưng
Trên thực tế, mỗi quốc gia trên thế giới đều có quy định khác nhau về nhãn hiệu hàng hoá Tuy vậy, khi thương mại quốc tế ngày càng phát triển, chu kỳ sống của hàng hoá dịch vụ bị rút ngắn lại dẫn đến việc xuất hiện ngày càng nhiều những hàng hoá dịch vụ mới với những chất lượng khác nhau thì những tranh chấp, xung đột giữa các công ty liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá là điều khó tránh khỏi Để hạn chế những tranh chấp, xung đột đó cần phải có những quy định thống nhất về nhãn hiệu hàng hoá trên phạm vi toàn thế giới
Trước khi tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) được thành lập, đã có nhiều định nghĩa về nhãn hiệu được đưa ra nhưng tựu chung lại đều thống nhất
với nhau ở quan điểm cho rằng “nhãn hiệu là bất kỳ một dấu hiệu nào có thể cá
thể hóa hàng hóa của một nhà sản xuất và phân biệt chúng với đối thủ cạnh tranh” Định nghĩa này bao hàm hai khía cạnh: một là chức năng cá thể hóa hàng
hóa của nhãn hiệu, hai là chức năng chỉ dẫn nguồn gốc của nhãn hiệu Để cá thể hóa một hàng hóa, nhãn hiệu phải chỉ ra nguồn gốc của hàng hóa đó, nhưng việc chỉ ra nguồn gốc của hàng hóa không có nghĩa là nhãn hiệu phải cho người tiêu dùng biết người thực sự sản xuất ra hàng hóa đó Nhãn hiệu không cần thiết phải chỉ rõ xuất xứ, chỉ cần người tiêu dùng tin vào nhà sản xuất là đủ Trên thực tế, chức năng các thể hóa của nhãn hiệu thực chất là giúp người tiêu dùng nhận ra sản phẩm đó là của nhà sản xuất nào, mà không cần đề cập đến địa chỉ chi tiết, nhà máy sản xuất như thế nào Chức năng thứ hai của nhãn hiệu là nhằm phân biệt hàng hóa của doanh nghiệp này với hàng hóa của doanh nghiệp khác Chỉ khi nhãn hiệu giúp người tiêu dùng phân biệt được một hàng hóa mang nhãn hiệu của doanh nghiệp này với các hàng hóa của doanh nghiệp khác được đưa ra thị trường, thì nhãn hiệu đó mới đạt được chức năng thứ nhât là xác định nguồn gốc Điều này cho thấy chức năng phân biệt và chức năng chỉ dẫn nguồn gốc của nhãn hiệu là không thể tách rời
Trang 20Trên cơ sở chức năng của nhãn hiệu, Luật mẫu của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới về Nhãn hiệu, tên thương mại và cạnh tranh không lành mạnh năm
1967 đã đưa ra một định nghĩa khái quát: “Nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào có
khả năng phân biệt với hàng hóa của một doanh nghiệp này với đối thủ cạnh tranh” Thực tế hiện nay, không chỉ có các nhà sản xuất đưa hàng hóa ra thị
trường mà còn có cả các nhà cung cấp dịch vụ đưa dịch vụ cạnh tranh trên thị trường Vì vậy tất yếu đòi hỏi cũng phải có dấu hiệu để người tiêu dùng phân biệt được dịch vụ của các nhà cung cấp với nhau Nhãn hiệu dịch vụ, về bản chất cũng giống như nhãn hiệu hàng hóa, do đó khái niệm nhãn hiệu hiện nay theo các điều ước quốc tếvà pháp luật của nhiều quốc gia được quy định với hàm nghĩa bao gồm cả nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ
Tại vòng đàm phán Uruguay của GATT (tiền thân của tổ chức WTO) đã thông qua Hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) được ký kết vào ngày 15/04/1994 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 cùng với sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới WTO Trong Hiệp định TRIPS, các quốc gia trên thế giới đã tiến tới một thoả thuận chung nhất về nhãn hiệu hàng hoá, dịch
vụ trong thương mại quốc tế Điều 15 Hiệp định TRIPS quy định: “Bất kỳ một
dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký làm nhãn
- Thứ nhất, đó phải là một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu Các dấu hiệu
đó có thể là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó
6
Điều 15 Hiệp định TRIPS
Trang 21- Thứ hai, các dấu hiệu đó có thể là dấu hiệu nhìn thấy được, cũng có thể là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu
- Thứ ba, các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác
Có thể nói, đây là một khái niệm mang tính khái quát và mềm dẻo trong pháp luật quốc tế Việc xác định một đối tượng bất kỳ có phải là nhãn hiệu hàng hóa hay không sẽ căn cứ vào tính phân biệt của hàng hoá dịch vụ Điều này thể hiện
rõ nhất trong các quy định tương ứng của TRIPS là bất kỳ một dấu hiệu nào, cho
dù là hình ảnh, màu sắc, âm thanh hay mùi hương có khả năng phân biệt được hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác đều được coi là nhãn hiệu hàng hóa Đây cũng là cách tiếp cận chung của các nước khi định nghĩa nhãn hiệu hàng hóa trong pháp luật của mình
Cũng trên tinh thần của Hiệp định TRIPS, tại Khoản 16 Điều 4 của luật Sở
hữu trí tuệ Việt Nam 2005 sửa đổi năm 2009 đã ghi rõ: “Nhãn hiệu là những dấu
hiệu dùng để phân biệt hàng hoá dịch vụ của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau” Tuy nhiên đây cũng là một trong những thiếu sót của Việt Nam bởi nhãn
hiệu là những dấu hiệu riêng biệt dùng để nhận biết các sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các cơ sở kinh doanh khác nhau chứ không thể phân biệt được các hàng hóa, dịch vụ khác loại Chỉ khi “cùng loại hàng hóa, dịch vụ”, chức năng của nhãn hiệu mới được thể hiện rõ, làm cơ sở nhận biết Do đó, việc quy định thiếu cụm từ “cùng loại” trong định nghĩa nhãn hiệu là một thiếu sót của các nhà làm luật hiện nay và cần khắc phục trong tương lai
Đạo Luật Lanham Act của Hoa Kỳ thì quy định: “nhãn hiệu hàng hoá bao
gồm từ ngữ, tên, biểu tượng, hình vẽ hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó nhằm phân biệt hàng hoá của một người cung cấp với hàng hoá của những người cung cấp khác Nhãn hiệu hàng hoá có thể được áp dụng cho hàng hoá, dịch vụ và
Trang 22những nhãn hiệu xác nhận nguồn gốc, chất lượng, độ nguyên chất nếu chúng thoả mãn các yêu cầu của một nhãn hiệu (certification marks)” Hay Như vậy, luật của các
nước đều thống nhất rằng nhãn hiệu bao gồm cả tên nhãn hiệu (brand name) và dấu hiệu của nhãn hiệu (brand mark).7
Tên nhãn hiệu là bộ phận của nhãn hiệu
mà ta có thể đọc được như: “Dove”, “Tiger” Còn dấu hiệu của nhãn hiệu là bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể nhận biết được, những không thể đọc được, ví
dụ như biểu tượng, hình vẽ, màu sắc, hay kiểu chữ đặc thù Ví dụ như hình ảnh con chim bồ câu là biểu tượng cho sản phẩm Dove, con hổ vàng là biểu tượng cho bia Tiger hay hình ảnh ba hình thoi chụm vào nhau là biểu tượng cho ô tô của hãng Mitsubishi
Việc gắn tên nhãn hiệu hiện nay đã phổ biến rộng rãi đến mức hầu như bất
kỳ hàng hoá nào cũng đều có nhãn hiệu Ngoài ra, các nước còn có xu hướng mở rộng việc bảo hộ đối với các yếu tố cấu thành nhãn hiệu nhằm nâng cao tính khác biệt của sản phẩm đến mức tối đa Bất kỳ một đặc trưng nào của dấu hiệu tác động vào giác quan của người tiêu dùng cũng có thể được coi là một phần của nhãn hiệu, miễn là chúng có tính phân biệt Do đó, ngoài tên nhãn hiệu, dấu hiệu nhãn hiệu thì tiếng động, mùi vị riêng biệt của sản phẩm cũng có thể được đăng ký bản quyền Tuy nhiên, vấn đề này sẽ gây nhiều khó khăn cho việc lưu trữ, đối chiếu, kiểm tra khi xảy ra tranh chấp
Tại Châu Âu sự khác nhau trong luật về nhãn hiệu của các quốc gia thành viên có thể làm ảnh hưởng của nó đến thị trường chung Châu Âu, nên cần thiết phải có sự điều chỉnh hài hoà ở cấp độ cộng đồng Kể từ khi triển khai khung pháp lý mới được thông qua vào năm 2015 (Quy định số 2015/2424 của Nghị viện Châu Âu sửa đổi quy định về nhãn hiệu hàng hóa, quy định hướng dẫn thi hành 2018/625 và Chỉ thị 2015/2436 của Ủy ban Châu Âu), các nhãn hiệu không nhất thiết phải được trình bày bằng đồ họa mới có thể được bảo vệ Theo Điều 4
Quy định 2015/2424 của Nghị viện Châu Âu sửa đổi quy định về nhãn hiệu hàng
7
Theo Philip Kotler, Marketing căn bản, NXB Thống kê, 2002, [Tr.15]
Trang 23hóa: “Một nhãn hiệu thương mại EU có thể bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào, đặc biệt là các từ, bao gồm tên cá nhân, hoặc thiết kế, chữ cái, chữ số, màu sắc, hình dạng của hàng hóa hoặc bao bì của hàng hóa hoặc âm thanh, miễn là các dấu hiệu đó là có khả năng:
(a) phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một cam kết với các cam kết khác; (b) được đại diện trên Sổ đăng ký nhãn hiệu của Liên minh Châu Âu, (Đăng
ký Đăng ký), theo cách cho phép các cơ quan có thẩm quyền và công chúng để xác định đối tượng rõ ràng và chính xác của bảo vệ quyền của chủ sở hữu hãn hiệu đó.”
Theo định nghĩa này, nhãn hiệu đượ bảo hộ chỉ phải đáp ứng hai điều kiện: bất kỳ dấu hiệu nào phải có khả năng phân biệt hàng hoá và dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác, và phải được ghi nhận trong Sổ Đăng ký nhãn hiệu của Liên minh Châu Âu Ở điều kiện thứ nhất, “bất kỳ dấu hiệu nào” được hiểu rất rộng Việc sử dụng từ “bất kỳ dấu hiệu” (any signs) làm cho định nghĩa nhãn hiệu “mềm dẻo và không giới hạn” Mặc dù định nghĩa trên đưa ra một loạt các dấu hiệu như các từ bao gồm tên riêng, chữ cái, chữ số hoặc hình dáng của hàng hoá hoặc của bao bì sản phẩm nhưng chúng không phải là giới hạn, và có thể mở rộng ra nhiều loại hình nhãn hiệu trong tương lai Nhãn hiệu cũng không bắt buộc phải được biểu diễn dưới dạng đồ họa mới có thể được công nhận Đây là quy định mở rất mới đáp ứng nhu cầu phát triển và bảo hộ của các loại mới phi truyên thống như nhãn hiệu âm thanh hay nhãn hiệu mùi
Pháp luật các nước cũng có những quan điểm khác nhau liên quan đến những yếu tố có thể phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp Trong bối cảnh công nghệ thông tin ngày càng phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ internet và mạng xã hội, nền kinh tế toàn cầu đang mở rộng ra những nhóm ngành, lĩnh vực mới, ngày càng có nhiều nước cho phép việc đăng ký các nhãn hiệu mang ít tính truyền thống hơn như dấu hiệu ba chiều (ví dụ chai Cocacola hay thanh socola Toblerone); dấu hiệu nghe thấy được (âm thanh) và dấu hiệu
Trang 24khứu giác (mùi) Đây là xu hướng tất yếu của bảo hộ nhãn hiệu nhưng cũng đề tài gây nhiều tranh luận đói với các quốc gia chưa mở rộng đăng ký nhãn hiệu phi truyền thống như Việt Nam
Trên thực tế, có rất nhiều các dấu hiệu khác biệt không nằm trong các dấu hiệu được liệt kê và vẫn được đăng ký Mặc dù không được quy định cụ thể nhưng dấu hiệu có thể bao gồm cả khẩu hiệu, âm thanh, mùi vị…Tuy nhiên, để được đăng ký là nhãn hiệu, dấu hiệu phải được trình bày rõ ràng và chi tiết
(represented graphically) Mục đích của điều kiện này là nhằm chỉ ra nhãn hiệu
là gì Hay nói cách khác, nhãn hiệu được nhận thức như thế nào Một nhãn hiệu
có thể được nhận thức bởi một hay vài, thậm chí cả năm giác quan Chẳng hạn như nhãn hiệu mùi cỏ tươi mới cắt cho bóng tennis, tiếng nhạc chuông của hãng điện thoại NOKIA, nhãn hiệu âm thanh là tiếng bíp bíp cho phương tiện truyền thanh ở Anh, nhãn hiệu là hình ảnh không gian ba chiều chai của COCACOLA,…
Theo các định nghĩa này, dấu hiệu có thể sử dụng làm nhãn hiệu là những dấu hiệu bất kỳ, miễn là dấu hiệu đó có khả năng phân biệt Như vậy, về mặt lý luận, các dấu hiệu thuộc dạng nhìn thấy được và thuộc dạng không thể nhìn thấy được như âm thanh, mùi đều có thể trở thành nhãn hiệu Tuy nhiên, việc thừa nhận dấu hiệu thuộc dạng nào có thể sử dụng làm nhãn hiệu và sẽ được bảo hộ còn tùy thuộc vào ý chí và điều kiện thực tiễn ở mỗi quốc gia Phần lớn các quốc gia, trong đó có Việt Nam, chỉ cho phép đăng kí bảo hộ nhãn hiệu với các dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng đồ họa (nhãn hiệu truyền thống), bởi các nhãn hiệu thuộc dạng này mới có thể ghi được trong sổ danh bạ quốc gia, và công bố công khai cho công chúng về việc đăng ký nhãn hiệu Về vấn đề này, khoản 1 điều 15
Hiệp định TRIPS quy định: “Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để
được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được” Điều này làm
hạn chế góc độ tiếp cận của pháp luật nhãn hiệu đối với các đối tượng phát sinh mới trong thời kỳ khoa học công nghệ phát triển như hiện nay
Trang 25Tóm lại, dù phạm vi nhãn hiệu được quy định trong mỗi hệ thống pháp luật là khác nhau, tựu chung lại Nhãn hiệu được hiểu là những dấu hiệu có khả năng phân biệt, được sử dụng nhằm phân biệt hàng hóa, dịch vụ do một doanh nghiệp sản xuất hoặc cung cấp với hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp khác
1.1.2 Đặc điểm của nhãn hiệu
Tuy có nhiều khái niệm về Nhãn hiệu, nhưng từ các quy định đó có thể nhận thấy nhãn hiệu có những đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất, nhãn hiệu có đặc điểm quan trọng nhất là có khả năng phân biệt
hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của cá nhân,
tổ chức khác Nhãn hiệu thể hiện thông tin, chức năng hay yếu tố độc đáo của từng hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác nhau mà người tiêu dùng có thể dễ dàng nhìn vào đó có thể nhận biết đươc nguồn gốc xuất phát của chúng với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của chủ thể khác Vì vậy, có thể khẳng định được giá trị thực sự của một nhãn hiệu thông qua khả năng phân biệt Khả năng phân biệt là yêu cầu quan trọng, đầu tiên để một nhãn hiệu thỏa mãn yêu cầu bảo hộ
Đặc điểm phân biệt (distinctiveness) của nhãn hiệu có sự liên hệ trực tiếp
đến độ mạnh (strength) và phạm vi bảo hộ (scope of protection) của nhãn hiệu
(phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu được xác định một cách đầy đủ bằng mẫu nhãn hiệu và danh mục hàng hóa, dịch vụ đăng ký sử dụng nhãn hiệu) Tùy theo mức
độ phân biệt, nhãn hiệu được phân thành bốn (04) nhóm nhãn hiệu khác nhau, được sắp xếp theo trình tự có mức độ phân biệt giảm dần, bao gồm: nhãn hiệu tự tạo (coined mark), nhãn hiệu bất kỳ (arbitrary mark), nhãn hiệu có tính gợi nhớ (suggestive mark) và nhãn hiệu có tính mô tả (descriptive mark) Các dấu hiệu (chữ hay hình) không có khả năng phân biệt được gọi là các dấu hiệu “chung” và không thể đăng ký dùng làm nhãn hiệu
- Nhãn hiệu tự tạo: Nhãn hiệu tự tạo (Coined Mark) là loại nhãn hiệu có mức độ phân biệt cao nhất trong số các loại nhãn hiệu, được tạo thành bởi các dấu hiệu chữ hay hay dấu hiệu hình “tự tạo” (made-up word / design) không
Trang 26mang một ý nghĩa nào ngoại trừ sự liên hệ giữa nó và hàng hóa hay dịch vụ gắn với nó XEROX®
cho máy photocopy và GOOGLE® cho dịch vụ web là hai điển hình của loại nhãn hiệu này
- Nhãn hiệu bất kỳ: Nhãn hiệu bất kỳ (Arbitrary Mark) là loại nhãn hiệu có mức độ phân biệt đứng sau nhãn hiệu tự tạo Nhãn hiệu bất kỳ được cấu thành bởi các dấu hiệu chữ là một từ có nghĩa trong từ điển, nhưng nghĩa của từ không
có bất kỳ sự liên hệ nào đối với sản phẩm hay dịch vụ gắn với nó APPLE®
là ví
dụ điển hình của loại nhãn hiệu này
- Nhãn hiệu có tính gợi nhớ: Mặc dù có khả năng phân biệt thấp hơn nhãn hiệu tự tạo và nhãn hiệu bất kỳ, nhưng nhãn hiệu có tính gợi nhớ (Suggestive Mark) cũng là cơ sở tốt để xây dựng một nhãn hiệu mạnh Nhãn hiệu thuộc loại này có tính gợi nhớ đến chức năng hay tính chất của hàng hóa hay dịch vụ gắn với nó, nhưng không trực tiếp mô tả hàng hóa hay dịch vụ đó Khách hàng cần phải có sự tư duy trừu tượng nhất định để có thể xác định chính xác bản chất của hàng hóa hay dịch vụ tương ứng Nhãn hiệu có tính mô tả thường là các từ mang hàm ý về chất lượng kỳ vọng hoặc đặc trưng của sản phẩm mang nhãn hiệu, như hiệu quả, tốc độ, sự chính xác, sự tiện nghi hay thanh lịch… SOFTINA®
và COMPAQ® là ví dụ điển hình của loại nhãn hiệu này
- Nhãn hiệu có tính mô tả: Nhãn hiệu có tính mô tả (Descriptive Mark) là loại nhãn hiệu có tính phân biệt thấp nhất trong số các loại nhãn hiệu Nhãn hiệu loại này mô tả một cách trực tiếp hàng hóa hay dịch vụ và người dùng không cần phải có một nỗ lực tư duy trừu tượng đáng kể nào để hình dung ra hàng hóa hay dịch vụ tương ứng Các doanh nghiệp lựa chọn sử dụng loại nhãn hiệu này với mục đích đạt được sự nhận biết tức thời từ phía khách hàng đối với hàng hóa hay dịch vụ của mình thông qua sự liên hệ trực tiếp giữa nhãn hiệu với bản chất của hàng hóa hay dịch vụ tương ứng Do tính phân biệt thấp nên loại nhãn hiệu này thường không được cấp văn bằng bảo hộ, tức không được trao quyền độc quyền đối với nhãn hiệu Tuy vậy, mức độ nhận biết của loại nhãn hiệu này có thể được
Trang 27cải thiện thông qua việc sử dụng thực tiễn nhãn hiệu, đi kèm với nỗ lực tiếp thị, quảng cáo và có thể đạt được sự bảo hộ sau một thời gian sử dụng nhất định
Thứ hai, nhãn hiệu là những dấu hiệu nhìn thấy được hoặc không nhìn thấy
được cụ thể là các dấu hiệu sau đây:
+ Dấu hiệu về chữ bao gồm chữ cái, chữ số, từ ngữ Các nhãn hiệu chữ
cái, con số có thể bao gồm một hay nhiều chữ cái, một hay nhiều số, hay là sự kết hợp giữa chúng Riêng chữ cái, con số đứng riêng lẻ và không được cách điệu hóa thường được xem là không có tính phân biệt vì thế không có khả năng đăng ký nhãn hiệu tại một số nước và điều ước quốc tế
+ Dấu hiệu hình:bao gồm các hình vẽ trang trí, các nét vẽ, biểu tượng
hoặc hình họa hai chiều và ba chiều của hàng hóa hay bao bì Hầu hết pháp luật các nước đều công nhận các hình vẽ, biểu tượng có tính phân biệt và có khả năng đăng ký bảo hộ cao
+ Dấu hiệu màu sắc
+ Dấu hiệu kết hợp là sự kết hợp của bất kỳ các yếu tố nào kể trên
+ Dấu hiệu không nhìn thấy được như mùi vị, âm thanh (ngoại từ các bản
nhạc được sáng tác thuộc phạm vi bản quyền tác giả)
Các bộ phận cơ bản của nhãn hiệu sản phẩm bao gồm: Tên nhãn hiệu- là một bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể đọc được, và dấu hiệu của nhãn hiệu-là một bộ phận nhãn hiệu có thể nhận biết được, nhưng không thể đọc được,bao gồm biểu tượng, hình vẽ, màu sắc hay kiểu chữ đặc thù.Khi sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ được gắn nhãn hiệu và đưa ra chào bán trên thị trường thì mọi khía cạnh đặc trưng, đặc tính đặc thù gắn liền với sản phẩm, phong cách phục vụ của doanh nghiệp, đều được người tiêu dùng liên tưởng đến nhãn hiệu và được quy về yếu tố cấu thành nhãn hiệu Trên phương diện quản lý nhãn hiệu, có thể toàn bộ hay một bộ phận của nhãn hiệu được đăng ký tại cơ quan quản lý nhãn hiệu và được bảo vệ về mặt pháp lý
Trang 281.1.3 Nhãn hiệu không được bảo hộ
Để đảm bảo tính phân biệt của hàng hóa, dịch vụ, nhãn hiệu phải có những dấu hiệu làm nó biệt lập với nhãn hiệu của người khác Pháp luật các quốc gia hầu như đều thống nhất các trường hợp chung nhất nhãn hiệu không thuộc đối tượng được bảo hộ, bao gồm:
Có chứa các nội dung đi ngược lại với đạo đức như: lừa dối, có nội dung dèm pha, nói xấu người khác dù còn sống hay đã chết, gây tai tiếng cho các tổ chức, tôn giáo, biểu tượng quốc gia hoặc làm phương hại đến thanh danh của các
tổ chức, cá nhân đó; hoặc bao gồm chỉ dẫn địa lý được sử dụng kèm hoặc liên quan tới các mặt hàng rượu hoặc bia lại chỉ dẫn đến một nơi khác không phải là nơi xuất xứ của hàng hoá đó
Có dấu hiệu tương tự đến mức gây nhầm lẫn với các dấu hiệu đã được bảo hộ, hay có dấu hiệu, tên thương hiệu trước đây đã được sử dụng bởi một người khác và vẫn còn đang được sử dụng và nếu được dùng gắn với hình ảnh của người nộp đơn đăng ký có thể gây nên nhầm lẫn, lừa dối khách hàng
Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ Ví dụ như: cụm từ “Sản xuất tại
Châu Âu” (đối với hàng hóa sản xuất ngoài châu âu); hay “made in
Vietnam” (đối với hàng hóa sản xuất ngoài Việt Nam)
Mang biểu tượng quốc kỳ, quốc huy, biểu tượng của quân đội, biểu tượng của bất kỳ một quốc gia nào, bởi đó không phải là hình ảnh sở hữu của cá nhân Nhãn hiệu cũng không thể trùng hoặc gây nhầm lẫn với cờ, huy hiệu, biểu tượng, con dấu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- kinh tế- xã hội, tổ chức nghê nghiệp, tổ chức phi chính phủ
Ngoài ra, việc môt dấu hiệu có được bảo hộ hay không còn căn cứ vào những quy định riêng đặc thù của pháp luật mỗi quốc gia, căn cứ vào tiêu chí bảo hộ của từng quốc gia đó đối với nhãn hiệu Chẳng hạn, pháp luật Hoa Kỳ cho phép
Trang 29bảo hộ các nhãn hiệu phi truyền thống như âm thanh, mùi, màu sắc, , tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện nay lại chỉ công nhận những nhãn hiệu “nhìn thấy được” mới có khả năng bảo hộ.8
Tùy vào tình hình phát triển mỗi quốc gia, các quy định riêng biệt này trong pháp luật quốc gia có thể sẽ ngày càng có nhiều tương đồng hơn phù hợp với xu thế chung của pháp luật quốc tế
1.2 Khái niệm nhãn hiệu âm thanh
Nhãn hiệu được xem là một phần rất lớn trong khối tài sản của doanh nghiệp Trong bối cảnh kinh tế ngày càng phát triển, có thể nói nhãn hiệu có vai trò rất quan trọng trong việc truyền bá thông tin, định vị niềm tin của khách hàng Thông qua nhãn hiệu doanh nghiệp không chỉ truyền tải thông tin về đặc điểm, nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng mà họ còn gửi gắm trong
đó nhiều thông điệp mang tính gắn kết, tôn vinh, thu hút khách hàng… Chính vì
lẽ đó, các doanh nghiệp ngày càng quan tâm và đầu tư cho việc xây dựng nhãn hiệu sao cho có thể phát huy tối đa tính độc đáo, sáng tạo, mới lạ nhằm tạo nên
sự khác biệt cho các sản phẩm, dịch vụ của mình, đặc biệt là khi các thiết bị nghe nhìn ngày càng tiến bộ hơn Vì thế, bên cạnh việc sử dụng các dấu hiệu truyền thống như từ ngữ, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tên riêng, hình ảnh ba chiều, tổ hợp màu sắc…, nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã hướng tới sử dụng các dấu hiệu phi truyền thống như âm thanh, hình ảnh động hay mùi hương
Từ giữa thế kỷ XX, Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trên thế giới ghi nhận vấn đề bảo hộ nhãn hiệu “không nhìn thấy được” trong pháp luật của mình – Luật nhãn hiệu hàng hóa năm 1946 (Lanham Act), được sửa đổi nhiều lần Mục 1052 đạo luật Lanham quy định một nhãn hiệu sẽ được đăng ký vào Hệ thống đăng ký gốc nếu nó có khả năng phân biệt hàng hoá của chủ thể này với hàng hoá của chủ thể
khác trừ khi nó bị ngăn cấm bởi các quy định của pháp luật: “Không có nhãn
hiệu nào mà hàng hoá của người nộp đơn có khả năng phân biệt hàng hoá của
8
Điều 74 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2013
Trang 30những người khác lại bị từ chối đăng ký vào hệ thống đăng bạ gốc” Như vậy,
theo tinh thần của điều luật, bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt không rơi vào các trường hợp bị từ chối đều có thể được đăng ký là nhãn hiệu, kể cả dâú hiệu không nhìn thấy được như âm thanh hay mùi
Dù trong hệ thống pháp luật quốc tế và các quốc gia không có khái niệm cụ thể về nhãn hiệu âm thanh, nhưng xuất phát từ tên gọi và chức năng có thể hiểu: Nhãn hiệu âm thanh là một loại nhãn hiệu phi truyền thống, chỉ nghe mà không nhìn thấy được, là những âm thanh có tính phân biệt để nhận biết hàng hóa, dịch
vụ của thương nhân này với thương nhân khác Ở các nước trên thế giới việc sử dụng các dấu hiệu âm thanh hiện nay đã xuất hiện ở nhiều nước, trong nhiều lĩnh vực như: điện ảnh, giải trí, phát thanh truyền hình, công nghệ thông tin, điện tử, dịch vụ khách sạn, nhà hàng: Điển hình là các bản nhạc hiệu trên các chương trình giải trí, phát thanh, truyền hình Chúng ta đã trở nên quen thuộc với những hình ảnh ngộ nghĩnh, âm thanh đặc trưng mỗi khi tắt mở điện thoại di động, máy nghe nhạc kỹ thuật số… hay khi truy cập các trang mạng ưa thích: Tiếng gầm của sư tử mở đầu cho phim của hãng MGM (Hoa Kỳ), tiếng chuông điện thoại mặc định của hãng NOKIA (Phần Lan), tiếng sấm rền của hãng môtô Harley – Davidson (Hoa Kỳ) hoặc bốn nốt nhạc lên xuống trầm bổng của hãng dược phẩm HISAMITSU (Nhật Bản)… Một cách khái quát nhất, có thể hiểu nhãn hiệu âm thanh là những dấu hiệu riêng biệt bằng âm thanh, cảm nhận qua thính giác, dùng để nhận biết sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất này với sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất khác
Tuy nhiên không phải âm thanh nào cũng có thể trở thành nhãn hiệu, nó vẫn phải đáp ứng yêu cầu quan trọng nhất của một nhãn hiệu thông thường: có khả năng phân biệt Âm thanh có thể là các tiếng chuông, tiếng cồng đặc biệt, một giai điệu hay tập hợp một số nốt nhạc… nhưng phải đảm bảo có nét riêng biệt và không gây nhầm lẫn với những âm thanh phổ biến khác Một dấu hiệu âm thanh chỉ tạo từ một hay hai nốt nhạc, hay các âm thanh mô tả lĩnh vực, tính năng, tác
Trang 31dụng hay chất lượng của sản phẩm/dịch vụ liên quan thường không được chấp nhận bảo hộ Tương tự các bản nhạc thường được sử dụng rộng rãi nhiều người biết đến hàm chỉ một số sản phẩm hay dịch vụ nào đó cũng khó được chấp nhận
là nhãn hiệu độc quyền cho một chủ thể nào đó Một tác phẩm âm nhạc hoàn chỉnh hay một tập hợp nốt nhạc quá dài cũng thường không được chấp nhận làm nhãn hiệu, thậm chí chúng có thể quá quen đối với công chúng nhưng không có nghĩa chúng có đủ khả năng phân biệt để thực hiện chức năng một nhãn hiệu (một tác phẩm âm nhạc thuộc phạm vi của bản quyền tác giả).Một nhãn hiệu âm thanh phải đảm bảo yếu tố duy nhất hoặc đặc biệt, tức là nhãn hiệu âm thanh có thể phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua âm thanh thay vì hình ảnh, người nghe có thể gọi tên nhãn hiệu âm thanh ấy ở lần nghe tiếp theo
Một dấu hiệu âm thanh xác định và phân biệt một sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua phương tiện nghe chứ không phải là phương tiện trực quan Các điểm
âm thanh hoạt động như các chỉ báo nguồn khi chúng "giả định hình dạng hoặc sắp xếp dứt khoát" và "tạo ra trong tâm trí của người nghe một sự kết hợp của
âm thanh" với hàng hóa hoặc dịch vụ.9
Do đó, âm thanh có thể được đăng ký khi chúng "tùy ý, độc đáo hoặc khác biệt và có thể được sử dụng theo cách để gắn vào tâm trí của người nghe và được đánh thức sau khi nghe theo cách chỉ ra người nghe rằng một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể đến từ một nguồn cụ thể, ngay cả khi ẩn danh.10
Để xác định xem một âm thanh có khả năng trở thành nhãn hiệu hay không, cẩn xem xét liệu nó có phải là một âm thanh “chức năng” hay âm thanh phổ biến hay không? Âm thanh "chức năng" là âm thanh được tạo do hoạt động bình thường của sản phẩm hàng hóa, hoặc những âm thanh cơ bản gắn với việc cung cấp dịch vụ Ví dụ: Âm thanh của động cơ xe máy là một ví dụ về âm thanh chức
Trang 32năng đối với xe máy hoặc mô tơ xe máy, hay âm thanh của còi báo động được sử dụng bởi xe cứu thương, cứu hỏa và cảnh sát đối với những dịch vụ cụ thể đó, tiếng bíp phát ra từ xe tải lùi hoặc tiếng bíp liên quan đến các chỉ báo rẽ trên ô tô Đây là những âm thanh chỉ có thể phân biệt các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau chứ khó có thể phân biệt cùng loại hàng hóa, dịch vụ được cung cấp bởi các nhà sản xuất khác nhau.Do đó hầu như những âm thanh chức năng này không có khả năng trở thành nhãn hiệu
Ngoài ra, còn có những loại âm thanh “không thích nghi để phân biệt”.Âm thanh sẽ rơi vào thể loại này nếu chúng chứa hoặc bao gồm các âm thanh phổ biến-những âm thanh xuất hiện nhiều trong lĩnh vực cụ thể hay đời sống Chẳng hạn: tiếng trẻ con cười sử dụng đối với dịch vụ y tế cho trẻ em, tiếng còi của trọng tài sử dụng cho hàng hóa về thể thao,…Những âm thanh này đặc trưng cho một ngành sản xuất hay dịch vụ cụ thể chứ không giúp phân biệt được các nhà sản xuất của cùng loại hàng hóa, dịch vụ với nhau Do đó, nhưng âm thanh thuộc loại này cũng khó có khả năng được bảo hộ như một nhãn hiệu đối với hàng hóa hay dịch vụ
1.3 Khái niệm nhãn hiệu mùi
Giống như âm thanh, những dấu hiệu đặc biệt về mùi hương như mùi của hoa, quả, lá, cây cũng có thể được dùng để đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho các sản phẩm Nhãn hiệu mùi là những dấu hiệu riêng biệt bằng mùi hương, được cảm nhận thông qua khứu giác để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất này với nhà sản xuất khác Trong những trường hợp thích hợp, mùi có thể phục
vụ mục đích như một nhãn hiệu bằng cách xác định hàng hóa hoặc dịch vụ của một chủ sở hữu cụ thể Việc này không những giúp nhà sản xuất tạo được ấn tượng mạnh với người tiêu dùng mà còn là một bước đột phá trong kỹ thuật lập pháp Đây là một vấn đề khá thú vị trong cơ chế bảo hộ nhãn hiệu của một số quốc gia trên thế giới Theo đó, khi một dấu hiệu "mùi" đạt được khả năng tự phân biệt thì có thể sẽ được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu Ví dụ như “Mùi
Trang 33thơm tươi mát của nước hoa Plumeria” dùng cho chỉ may và thêu ren đã chính thức được công nhận bảo hộ ở Mỹ từ năm 1990
Hầu hết các quốc gia trên thế giới chỉ chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu là các dấu hiệu nhìn thấy được hoặc thể hiện được bằng đồ họa hay biểu đồ Còn riêng đối với nhãn hiệu mùi, đây dấu hiệu không nhìn thấy được mà chỉ được cảm nhận chủ quan bởi người tiêu dùng Do đó còn nhiều nghi ngờ rằng: liệu mùi có thể hoàn thành chức năng của nhãn hiệu là để nhận biết và phân biệt hàng hóa/dịch
vụ của một doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác hay không, đâu là quy chuẩn để xác định một mùi giống như mùi đã đăng kí? Bởi người tiêu dùng có thể chỉ rõ, miêu tả dấu hiệu nhìn thấy thông qua màu sắc, chữ viết, hình khối, bố cục một cách chi tiết và ít chó sự khác biệt về cảm nhận hình ảnh ấy Nhưng với dấu hiệu mùi, rất khó để miêu tả lại chính xác dấu hiệu đó, cũng như sự nhạy bén khứu giác của mỗi người là khác nhau Do đó, dấu hiệu để trở thành nhãn hiệu mùi được bảo hộ, dấu hiệu mùi phải là mùi đặc trưng nhất mà ai cũng có thể dễ dàng nhận ra sự khác biệt, không trùng lẫn với những mùi phổ biến đã có
Mùi là một trong những dấu hiệu phi truyền thống khó nhất để có thể được diễn tả bằng đồ họa Một trong những vấn đề khó khăn để pháp luật các quốc gia côngnhận bảo hộ nhãn hiệu mùi là việc cố gắng mô tả mùi là không giống như hình dạng, màu sắc, âm thanh hay lời nói Rất khó để thể hiện mùi theo cách làm sáng tỏ rõ ràng bản chất của nó vì nó không thể được nhìn thấy hoặc nghe thấy,
mà khách hàng chỉ có thể cảm nhận và nói ra theo tưởng tượng của mình Về mặt nhận dạng, càng nhiều thứ còn lại cho trí tưởng tượng, thì càng ít rõ ràng hơn so với các dạng biểu diễn bằng đồ họa có sẵn Nếu mùi được biểu thị dưới dạng đồ họa, thì các đại diện đồ họa đó phải ở trong một hình thức truyền tải thông tin phổ biến, để cho người bình thường có thể dễ dàng xác định thương hiệu Dữ liệu với tính kỹ thuật cao sẽ không được chấp nhận như là một biểu diễn đồ họa Ví dụ, kết quả của các kỹ thuật phân tích như quang phổ hồng ngoại; chưng cất chân không, phân đoạn và phân tử; hưởng từ hạt nhân; phân
Trang 34đoạn chân không; Phân tích "mũi điện tử" và các kỹ thuật sắc ký sẽ không được chấp nhận
Trong các loại mùi, mùi tự nhiên của một sản phẩm sẽ không có “sự thích ứng vốn có” để phân biệt hàng hóa, nên sẽ khó để xem xét công nhận như một nhãn hiệu Những mùi thuộc loại này có thể kể đến nhưmùi của sô cô la hoặc vani trong thành phần của loại hàng hóa thực phẩm như bánh mì, hoặc mùi cao
su thành phần của lốp xe Những mùi này tạo nên hàng hóa, hay nói cách khác là một thuộc tính tự nhiên của hàng hóa đó, do vậy không thể là dấu hiệu phân biệt các hàng hóa cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau
Ngoài mùi tự nhiên hoặc vốn có của hàng hóa, nhiều nhà sản xuất sử dụng mùi“mặt nạ” (marking scent) để che giấu mùi tự nhiên khó chịu trong hàng hóa
mà họ bán Vì lí do đó, các loại mùi mặt nạ có tính chức năng và không có khả năng phân biệt sản phẩm Ví dụ: việc sử dụng chanh để đánh bay mùi thuốc tẩy trong nhà và thuốc xịt giặt, và hoa oải hương để ngửi mùi khử mùi Vì mùi mặt
nạ thường được sử dụng trong thương mại, người mua không có khả năng coi mùi như một chỉ số về nguồn thương mại, mà là một thứ làm giảm mùi hôi khó chịu của hàng hóa
Mùi phổ biến cho một thương mại.Sử dụng không có chức năng, nhưng vẫn
sử dụng phổ biến cho thương mại, và do đó không thích nghi để phân biệt, là sử dụng một mùi để làm cho sản phẩm dễ chịu hoặc hấp dẫn hơn Những người mua hàng tiềm năng của những hàng hóa này dường như không xem xét những loại nước hoa này như một dấu hiệu cho thấy nguồn gốc của hàng hóa vì việc sử dụng hương thơm trên những hàng hóa đó là phổ biến cho thương mại Ví dụ, mùi của chanh đã được thêm vào, trong một khoảng thời gian đáng kể, để rửa bát đĩa và giặt là Mặc dù không thể nói rằng mùi chanh là "mô tả" của những hàng hóa như không có mối quan hệ cụ thể giữa chanh và chất lượng làm sạch của những hàng hóa đó, mùi chanh sẽ được coi là không thể phân biệt được bởi vì
Trang 35buôn bán Việc sử dụng mùi thông hoặc tuyết tùng cho các chất khử trùng rơi vào cùng một loại, như mùi thảo dược cho dầu gội và xà phòng
Để có khả năng phân biệt hàng hóa, mùi không thể là một đặc tính tự nhiên cũng như một đặc tính kỳ vọng của sản phẩm, nhưng một cái gì đó được thêm vào để xác định hàng hóa của nhà sản xuất với những nhà sản xuất khác trong cùng một thị trường Các ví dụ đã được chấp nhận ở nhiều khu vực pháp lý khác nhau bao gồm mùi bia cho các chuyến bay phi tiêu, và mùi gợi nhớ hoa frangipani (plumeria) cho sợi thêu, cũng như các loại nước hoa quả khác nhau cho dầu động cơ tổng hợp Trong những trường hợp này, nước hoa không bao gồm mùi tự nhiên của sản phẩm, cũng không có kỳ vọng rằng sản phẩm được tạo hương thơm Mùi là thứ gì đó bất thường được thêm vào hàng hóa để hỗ trợ xác định chúng thông qua các phương tiện khứu giác từ các sản phẩm tương tự của các thương nhân khác
1.4 Pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi
Thuật ngữ bảo hộ nói chung, thông thường được hiểu là các cách thức, biện pháp, cơ chế và chính sách bao gồm cả các chế tài ngăn ngừa và chống lại sự xâm phạm các đối tượng- các quan hệ xã hội được bảo hộ Bởi vậy, thuật ngữ bảo hộ luôn được hiểu và gắn liền với sự giúp đỡ của nhà nước thông qua các quy định của pháp luật Sự ra đời của nhãn hiệu không phải là một hiện tượng mang tính ngẫu nhiên hay theo sự sắp đặt chủ quan của một tổ chức nào đó, mà
là sự tất yếu của nền sản xuất hàng hóa với mục đích phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các cở sở sản xuất với nhau Do đó, cũng cần phải có một công cụ hữu hiệu
để ghi nhận một cách chính thức và công khai quyền của các nhà sản xuất, buôn bán trong việc cũng cố và duy trì tính phân biệt của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu Để đảm bảo tính phân biệt của nhãn hiệu, đòi hỏi phải có quy định chống lại các hành vi gây nhầm lẫn hoặc có nguy cơ gây nhầm lẫn như hành vi sao chép, làm giả hàng hóa mang nhãn hiệu, thậm chí là ăn cắp nhãn hiệu mà hậu quả có thể làm mất đi chức năng phân biệt của nhãn hiệu hoặc tước đoạt
Trang 36quyền của chủ sở hữu Công cụ để đảm bảo được 2 khía cạnh này chính là hệ thống pháp luật
Vấn đề bảo hộ nhãn hiệu được ghi nhận lần đầu tiên trong Luật về Xí nghiệp,
cơ sở chế tạo và lò xưởng thủ công năm 1809 của Pháp ngày 26/3/2857 Tiếp đó, lần lượt các quốc gia khác như Italia, Bỉ, Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, đều ban hành luật về nhãn hiệu của mình Hiện nay nhiều quốc gia còn bổ sung những quy định về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi Cơ chế pháp lý đặc thù của bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi cũng giống cơ chế đối với nhãn hiệu truyền thống,chính là cơ chế dành độc quyền cho chủ sở hữu, bao gồm các quy định về xác lập quyền độc quyền sở hữu với nhãn hiệu và việc thực thi quyền đó, chống xâm hại nhãn hiệu bằng các hành vi đăng kí, sử dụng nhãn hiệu tương tự, gây nhầm lẫn Tóm lại, việc bảo hộ nhãn hiệu nói chung và nhãn hiệu
âm thanh, mùi nói riêng là tập hợp hữu hạn các quy định pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế, các nguyên tắc pháp luật quy định về căn cứ, thủ tục xác lập quyền, nội dung quyền và cơ chế thực thi quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu, cũng như việc xử lý khi quyền của chủ sỡ hữu bị xâm phạm
Điều ước quốc tế đa phương đầu tiên đề cập đến bảo hộ nhãn hiệu đó là Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp tiếp cận phạm trù bảo hộ nhãn hiệu theo nghĩa hẹp, tức là chủ yếu gồm các quy định liên quan đến thủ tục xác lập quyền, bao gồm các điều kiện và tiêu chuẩn bảo hộ nhãn hiệu, quyền ưu tiên, các trường hợp từ chối đăng ký, hủy bỏ đăng ký hoặc cấm sử dụng nhãn hiệu.Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, sửa đổi gần đây nhất là vào năm 1979 dù là văn bản đầu tiên điều chỉnh nhãn hiệu, vẫn chưa giải quyết được một số vấn đề quan trọng, đặc biệt là không lường đến những trường hợp nhãn hiệu không nhìn thấy được như âm thanh và mùi Để khắc phục những thiếu sót trong Công ước Paris, đến năm 1891, Thỏa ước Madrit đã được thông qua tại Tây Ban Nha, và sau này Nghị định thư Mardid năm 1995 ra đời, khắc phục 1 số hạn chế cơ bản của các điều ước quốc tế (ĐƯQT) về nhãn hiệu
Trang 37trước đó, trở thành cơ sở pháp lý quan trọng khi doanh nghiệp muốn đăng ký bảo
hộ nhãn hiệu quốc tế, nhưng vẫn chưa quy định cụ thể đối với nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi
Năm 1994, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ WTO (TRIPS) được thông qua, phạm trù bảo hộ nhãn hiệu được mở rộng hơn, không chỉ bao gồm các quy định về xác lập quyền, nội dung quyền của chủ sở hữu mà còn có cả quy định về thực thi quyền chống lại các hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu thông qua các thủ tục dân sự, hình sự, hành chính hay biện pháp tạm thời Hiệp định TRIPS quy định việc bảo
hộ nhiều đối tượng sở hữu trí tuệ khác nhau kể cả nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi, khẳng định lại và mở rộng các chuẩn mực và quy định của Công ước Paris mặc dù không quy định cụ thể các loại nhãn hiệu mới này (Điều 15) Năm
1994 cũng là năm ký kết thành công Hiệp ước luật nhãn hiệu (TLT) tại Giơnevo Hiệp ước nhằm mục đích tiến tới hài hòa và đơn giản hóa các thể thức, thủ tục đăng ký nhãn hiệu ở các quốc gia, tiến tới thống nhất pháp luật về nhãn hiệu tránh những xung đột luật Dù vậy đến thời điểm đó vẫn chưa có một điều ước quốc tếđa phương nào quy định về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi như một nhãn hiệu thông thường Quy định này chỉ bắt đầu xuất hiện
kể từ Hiệp ước Singapore về luật nhãn hiệu năm 2006 (STLT)- hiệp ước dựa trên những sửa đổi củahiệp ước TLT đối với phạm vi bảo hộ nhãn hiệu Đây là Điều ước quốc tếđa phương đầu tiên về nhãn hiệu quy định rõ ràng về nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi Không giống như hiệp ước luật nhãn hiệu năm 1944, Hiệp ước Singapore về luật nhãn hiệu quy định việc bảo hộ áp dụng chung cho tất cả các nhãn hiệu, kể cả các nhãn hiệu không thể nhìn thấy như âm thanh, mùi, hình ba chiều, màu sắc, vị trí, đều có thể được đăng ký theo pháp luật của một Bên ký kết Các quy định theo Hiệp ước này cho phép các phương thức biểu thị các loại nhãn hiệu này trong đơn đăng ký không nhất thiết phải dưới dạng đồ họa, mà có thể bao gồm các bản sao không phải đồ họa hoặc ảnh, có thể được
Trang 38đính kèm dưới dạng điện tử hay hình thức khác (Điều 3).Đây là một sự thừa nhận rõ ràng rằng đối tượng của các nhãn hiệu đã và đang vượt ra khỏi những dấu hiệu truyền thống đang được tìm kiếm bảo hộ như là nhãn hiệu
Việc đăng ký các loại nhãn hiệu mới đang mở rộng trên toàn cầu cũng một phần nhờ các quy định mở về nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi trongcác hiệp định thương mại tự do song phương giữa các quốc gia (FTA) Ví dụ: nghĩa
vụ bảo vệ nhãn hiệu rõ ràng được quy định tại Điều 18.2 của FTA giữa Hàn Quốc và Hoa Kỳ, hay Điều 17.2 của FTA giữa Úc và Hoa Kỳ Các quốc gia, điển hình là Hàn Quốcđã sửa đổi Luật Nhãn hiệu của mìnhmột cách nhanh chóng sau khi ký kết FTA với Hoa Kỳ để có thể bảo vệ âm thanh và mùi với tư cách là một nhãn hiệu phù hợp với cam kết trước đó
Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến Hiệp định đối tác toàn diện và tiến
bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được ký kết vào tháng 3/2018, với quy định chi tiết rằng cả những dấu hiệu nhìn thấy được và dấu hiệu âm thanh hay mùi đều có thể được bảo hộ Đây là hiệp định đa phương quan trọng về hợp tác thương mại với các nước Châu Á -Thái Bình Dương, mà Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia đàm phán kể từ khi chưa có hiệu lực Tầm quan trọng
và quy mô của hiệp định này thể hiện ở việc có nhiều thành viên là các cường quốc lớn trên thế giới về kinh tế như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore,…tham gia đàm phán về các vấn đề tài chính, đầu tư, dịch vụ, thương mại hàng hóa,… Được ký đàm phán lần đầu tiên vào năm 2005 với mới đầu chỉ 4 quốc gia, sau đó
là 10 quốc gia năm 2008 (trong đó có Việt Nam), nhưng phải đến tháng 12/2009, TPP mới được khởi động sau cuộc bầu cử Tổng thống tại Hoa Kỳ Tháng 2/2016, 12 nước tham gia đàm phán chính thức ký thoả thuận về TPP tại New Zealand, nhưng chỉ sau đó 1 năm, Tổng thống Donald Trump ký lệnh rút Hoa
Kỳ khỏi TPP Tháng 11/2017, 11 quốc gia còn lại thống nhất đổi tên TPP thành CPTPP – Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và chính thức được ký kết vào ngày 8/3/2018
Trang 39Hiệp định có nhiều điểm khác biệt so với pháp luật Việt Nam hiện tại, đặc biệt là về sở hữu trí tuệ khi quy định bắt buộc các quốc gia thành viên mở rộng phạm vi bảo hộ nhãn hiệu đối với nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi Theo
đó, “không bên nào được yêu cầu, như một điều kiện để được đăng ký, là dấu hiệu phải nhìn thấy được, cũng như không Bên nào được từ chối đăng ký một nhãn hiệu chỉ với lý do rằng dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu đó là âm thanh Thêm vào đó, mỗi bên phải nỗ lực hết sức để đăng ký nhãn hiệu mùi”.11 Đây là sự bổ sung cần thiết của một điều ước quốc tế, cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo
hộ nhãn hiệu phi truyền thống trên thế giới Bên cạnh đó, vấn đề bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống như âm thanh và mùi từ lâu đã được đề cập trong pháp luật một số quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, hay Pháp,… với sự phát triển
đa dạng của các ngành, lĩnh vực kinh doanh như hiện nay, việc đăng ký và bảo
hộ các nhãn hiệu phi truyền thống này là cần thiết, tránh được những khó khăn khi giải quyết các tranh chấp nhãn hiệu xảy ra mà đối tượng không phải là nhãn hiệu thông thường
Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi vẫn là vấn đề khá mới trong pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam Mặc dù Việt Nam đã gia nhập nhiều điều ước quốc tế đa phương như: Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Thỏa ước Madrid 1891 về đăng ký nhãn hiệu quốc tế, Hiệp định TRIPS khi gia nhập WTO; các điều ước khu vực và liên khu vực như: Hiệp định CPTPP, Hiệp định khung ASEAN về hợp tác sở hữu trí tuệ, pháp luật Việt Nam vẫn chưa cho phép bảo hộ loại nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi Điều kiện chung với nhãn hiệu được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam “Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc
sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc”.12 Rõ ràng, pháp luật Việt Nam không ghi nhận việc bảo hộ nhãn hiệu đối với các dấu
Trang 40hiệu không nhìn thấy được Tuy nhiên, theo Khoản 16, Điều 4, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định, “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” Xét về bản chất, nhãn hiệu chính là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ Âm thanh,hình ảnh động, mùi cũng là những dấu hiệu vốn tồn tại khách quan, có thể cảm nhận được; bản thân chúng lại đa dạng, có sự khác nhau trong cùng một loại hình nên có thể dùng để đánh dấu và phân biệt sản phẩm, dịch vụ của các nhà sản xuất, kinh doanh khác nhau Do vậy, trong tương lai, Việt Nam
có thể xem xét việc sử dụng các dấu hiệu phi truyền thống làm nhãn hiệu là có
cơ sở và phù hợp với bản chất, chức năng của nhãn hiệu
Ngoài ra, các Hiệp định thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước tuy không chỉ rõ việc cần bảo hộ các nhãn hiệu phi truyền thống, nhưng lường trước những phát sinh trong tương lai, khi mà các quan hệ thương mại và sở hữu trí tuệ ngày càng phức tạp, các hiệp định này thương quy định mở về việc bảo
hộ nhãn hiệu Cụ thể, tại khoản 1 Điều 6 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa
Kỳ đã thể hiện một khái niệm bao quát và gần với chuẩn mực quốc tế
hơn: “nhãn hiệu hàng hóa được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp
bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hóa hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận” Như vậy, theo
nội dung của Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ thì các dấu hiệu có thể cấu tạo nên nhãn hiệu hàng hóa được mở rộng hơn, không chỉ là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp giữa các từ ngữ, hình ảnh như quy định của pháp luật Việt Nam, mà còn có thể là từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc… Tuy chưa đề cập đến nhãn hiệu phi truyền thống như âm thanh và mùi, nhưng Hiệp định nêu rõ “bất kỳ dấu hiệu nào phân biệt được hàng hóa, dịch vụ