Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ xã hội, tranh chấp về phân chia di sản thừa kế có xu hướng gia tăng về số lư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
TRẦN THỊ HÒA
THỰC TIỄN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO
QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
TRẦN THỊ HÒA
THỰC TIỄN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO
QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Hòa
Trang 4DANH SÁCH CHỮ VIẾT TĂT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 4
7 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI SẢN THỪA KẾ VÀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ 5
1.1 Khái niệm di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế 5
1.1.1 Khái niệm di sản thừa kế 5
1.1.2 Khái niệm phân chia di sản thừa kế 8
1.1.3 Xác định di sản thừa kế 9
1.2 Căn cứ phân chia di sản thừa kế 12
1.2.1 Theo sự thỏa thuận của tất cả những người thừa kế 13
1.2.2 Theo ý chí định đoạt của người lập di chúc 13
1.2.3 Theo quy định của pháp luật 14
1.3 Các nguyên tắc phân chia di sản thừa kế 18
1.4 Ý nghĩa của phân chia di sản thừa kế 24
1.5 Hạn chế phân chia di sản thừa kế 26
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 28
2.1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật xác định thừa kế cụ thể là quyền sử dụng đất 28
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo di chúc 35
2.2.1 Phân chia theo di chúc trong trường hợp người chết để lại di sản thờ cúng 36
2.2.2 Phân chia theo di chúc trong trường hợp có di tặng 41
Trang 62.2.3 Phân chia theo di chúc trong trường hợp người để lại di chúc
có nghĩa vụ về tài sản 46 2.2.4 Phân chia theo di chúc trong trường hợp có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 48 2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về phân chia di sản thừa
kế theo pháp luật 58 2.3.1 Phân chia di sản thừa kế thế vị 61 2.3.2 Phân chia di sản theo pháp luật trong trường hợp xuất hiện người thừa kế mới 67 Chương 3: KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 70 3.1 Một số khó khăn vướng mắc và nguyên nhân khi áp dụng pháp luật phân chia di sản thừa kế 70 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về phân chia di sản thừa kế 76 KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề thừa kế có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền của công dân Chính vì vậy, thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội Mỗi nhà nước dù có các xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân
và được ghi nhận trong Hiến pháp Cụ thể tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; Quyền sở hữu tư nhân và quyền
thừa kế được pháp luật bảo hộ”
Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân luôn luôn được pháp luật ở nhiều nước trên thế giới quan tâm, theo dõi và bảo hộ.Việt Nam là một trong những nước đang phát triển và có nền văn hóa với các truyền thống đạo đức lâu đời được truyền từ đời này qua đời khác Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ xã hội, tranh chấp về phân chia di sản thừa kế có xu hướng gia tăng về số lượng và phức tạp về nội dung, bởi vì giá trị của di sản thừa kế không còn là tài sản thông thường phục vụ sinh hoạt tiêu dùng mà là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, vốn đầu tư, cổ phiếu, trang trại, doanh nghiệp…
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, phân tích, kiến nghị để làm sáng
tỏ một số nội dung về "Thực tiễn phân chia di sản thừa kế theo quy định Bộ Luật Dân sự năm 2015" để làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học Việc nghiên
cứu phân chia di sản thừa kế nhằm nắm bắt được thực trạng của chế định thừa
kế trong xã hội đồng thời có các biện pháp hoàn thiện là rất cần thiết, để mọi
Trang 8công dân điều được đảm bảo quyền lợi công bằng trong các mối quan hệ về tài sản nói chung và quyền thừa kế nói riêng hướng đến công bằng ổn định
xã hội Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng, cấp bách cả về phương diện
lý luận cũng như thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thừa kế nói chung và phân chia di sản thừa kế là một trong những vấn
đề thu hút sự chú ý và nghiên cứu của nhiều luật gia đã có nhiều chương trình
và đề tài nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể đến: Bình luận khoa học BLDS
2015 của PGS.TS Nguyễn Văn Cừ - TS Trần Thị Huệ; Thừa kế - Qui định của pháp luật và thực tiễn áp dụng của tác giả Tiến sĩ Phạm Văn Tuyết -
Trường Đại học luật Hà Nội; Phùng Trung Tập (2002), Luật thừa kế Việt Nam Nxb Hà Nội
Bộ luật dân sự 2015 đã được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII ngày 24/11/2015 có hiệu lực ngày 01/01/2017.Bộ luật dân sự 2015
đã có nhiều đột phá quan trọng, góp phần triển khai thi hành các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, đặc biệt thể hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013, các cam kết quốc tế của Việt Nam về tôn trọng, công nhận, bảo vệ
và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự, xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế Qua đó, phát huy được vị trí, vai trò của Bộ luật dân sự thực sự trở thành luật chung, luật nền của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta
Hiện nay các tranh chấp về thừa kế có xu hướng ngày càng gia tăng và trở nên phức tạp hơn Sự nhận thức không đầy đủ về pháp luật của các cá nhân, việc áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cấp Tòa án là những
Trang 9yếu tố làm cho các vụ kiện gặp nhiều khó khăn, thời gian giải quyết kéo dài, ảnh hưởng không tốt đến truyền thống đạo đức tốt đẹp vốn có từ lâu đời của dân tộc Việt Nam Đặc biệt, một trong những khó khăn vướng mắc lớn khi áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp thừa kế chính là vấn
đề phân chia di sản thừa kế
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Với đề tài "Phân chia di sản thừa kế theo quy định Bộ Luật Dân sự năm 2015", tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu, làm sáng tỏ nội dung, bản
chất của phân chia di sản thừa kế được quy định trong Bộ Luật dân sự 2015
và thực tiễn phân chia di sản thừa kế, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị mang tính giải pháp để ngày càng hoàn thiện hơn những quy định về nội dung này trong Bộ Luật dân sự 2015
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Các quy định của pháp luật về phân chia di sản thừa kế hiện nay
Phạm vi: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, bản chất quy định của pháp luật về thừa kế nhằm làm rõ những quy định về phân chia di sản thừa kế theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học triết học duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lê nin
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải, phương pháp đối chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử, v.v
Trang 10Phương pháp bình luận, phương pháp đánh giá, phương pháp quy nạp, phương pháp đánh giá mặt mạnh, mặt yếu (phương pháp SWOT), phương pháp tổng hợp, v.v
Phương pháp so sánh: được sử dụng để so sánh giữa quy định của BLDS 2015 và BLDS 2005, ngoài ra cũng được sử dụng để so sánh mối quan
hệ giữa Bộ luật dân sự với các quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Luật đất đai, luật sở hữu trí tuệ, luật công chứng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài luận văn thạc sỹ“ Phân chia di sản thừa kế theo bộ luật dân
sự 2015” là một công trình nghiên cứu về phân chia di sản thừa kế Luận văn
đã giúp cho bản thân nâng cao được nhận thức, lý luận thực tiễn đối với các
vụ việc về giải quyết phân chia di sản thừa kế và có thể làm tài liệu tham khảo cho cá nhân, tổ chức muốn tìm hiểu pháp luật về phân chia di sản thừa kế
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần cam đoan, danh mục các từ viết tắt, mục lục, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu thành 03 Chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phân chia di sản thừa kế
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về phân chia di sản thừa kế theo quy định bộ luật dân sự 2015
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về phân chia di sản thừa kế theo pháp luật
Trang 11Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI SẢN THỪA KẾ VÀ PHÂN
CHIA DI SẢN THỪA KẾ 1.1 Khái niệm di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế
1.1.1 Khái niệm di sản thừa kế
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Di sản” có hai nghĩa: “1 Tài sản của người chết để lại Hưởng di sản của cha mẹ; 2 Cái của thời trước để lại Kế thừa di sản văn hóa” [ tr.246]
Thuật ngữ “di sản” được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực
của đời sống Song, trong từng lĩnh vực cụ thể như: văn hóa - xã hội, kinh tế thì thuật ngữ này lại được hiểu với những nghĩa khác nhau Trên lĩnh vực pháp luật, thuật ngữ di sản được các nhà làm Luật sử dụng để chỉ di sản thừa
kế trong pháp luật Dân sự Nó được hiểu như phần tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người chết để lại cho những người còn sống khác
Ở Việt Nam từ trước đến nay chưa có một văn bản pháp luật nào đưa
ra định nghĩa thế nào là di sản thừa kế mà chỉ liệt kê về di sản thừa kế Điều
612 BLDS 2015 về di sản bao gồm: “Tài sản riêng của người chết, phần tài
sản của người chết trong tài sản chung với người khác” mà: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” (Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015) Như vậy, di sản có thể là hiện vật, tiền, giấy tờ trị giá được thành tiền, quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản
Khi xem xét về vấn đề di sản thừa kế hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể là:
- Quan điểm thứ nhất: Di sản thừa kế bao gồm các tài sản và các
nghĩa vụ tài sản của người chết để lại Tức là, người để lại di sản thừa kế khi còn sống ngoài những tài sản mà họ có thì còn có các khoản nợ (nghĩa vụ tài sản) khác Những nghĩa vụ này phát sinh từ các quan hệ dân sự như: nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay, nghĩa vụ trả tiền
Trang 12thuê nhà Các nghĩa vụ về tài sản họ để lại khi chết đi sẽ được dịch chuyển cho những người thừa kế thực hiện đồng thời với việc dịch chuyển các tài sản Pháp luật nói chung và pháp luật thừa kế Việt Nam nói riêng trong thời kỳ
phong kiến phổ biến với quan điểm này vì luật tục “phụ trái tử hoàn” Người
thừa kế sẽ phải thực hiện việc thanh toán nợ của người chết để lại kể cả trong trường hợp tài sản của người chết để lại không đủ để trả hết nợ và phải chịu trách nhiệm vô hạn với nghĩa vụ đó Quan điểm này đã không còn phù hợp với sự phát triển của đất nước, cho thấy sự bất công của chế độ cũ, chế độ bóc lột người dân của bọn cường hào, địa chủ Quy định của Sắc ngày 22/5/1950 lệnh số 97/SL đã xóa bỏ quy lệ bất công này
- Quan điểm thứ hai: Di sản thừa kế chỉ bao gồm các tài sản của
người chết để lại mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản Đây là quan điểm phù hợp với những quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 Vì thừa kế là thừa hưởng của cải của người đã khuất Theo từ điển
Tiếng Việt, thì thừa kế được định nghĩa là: “hưởng của người chết để lại cho” [ Tr 972] Với ý nghĩa này thì không thể nói người thừa kế “ được hưởng nghĩa vụ tài sản” hay “ được hưởng các tài sản nợ” Những “giá trị” không
mang đến lợi ích cho người tiếp nhận thì không được coi là di sản.Vì vậy, không thể coi các nghĩa vụ là được thừa hưởng.(1)
Mặt khác, về phương diện đạo đức truyền thống, theo suy nghĩ của người Việt Nam cha mẹ sinh con thì có nghĩa vụ chăm lo, nuôi nấng con nên người Những việc làm mang tính “bổn phận” không chỉ là trong hiện tại mà còn cho cả tương lai sau này của người con, tạo ra “tiền đề vật chất” ban đầu cho con, cho cháu Người con, người cháu được thừa hưởng tài sản khi cha
mẹ chết đi, dựa vào đó mà làm ăn phát triển cuộc sống và sau này lại tích lũy tài sản cho con cái của họ Và tất nhiên những tài sản mà người chết để lại
1 Lê Văn Minh (2012) Phân chia di sản thừa kế theo BLDS 2005, Luận văn thạc sĩ Dân sự, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
Trang 13cho người được hưởng phải thuộc quyền sở hữu của họ, không trái với các quy định của pháp luật Quyền thừa kế và quyền sở hữu có mối quan hệ mật thiết với nhau Do tính chất vĩnh viễn và tuyệt đối của quyền sở hữu mà nguyên tắc liên tục của việc đảm nhận tư cách chủ sở hữu đối với tài sản được
đặt ra:“ Thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người chết sang cho những người còn sống khác” Như vậy, với ý nghĩa trên thì di sản chỉ là tài sản của
người chết mà không bao gồm các nghĩa vụ về tài sản
Về phương diện pháp luật thì: “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại trừ
trường hợp có thoả thuận khác .”(Khoản 1 Điều 615 Bộ luật Dân sự năm
2015) Cùng với việc nhận di sản thừa kế thì người thừa kế có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ mà người chết để lại Cần phải hiểu, ở đây người thừa kế khi thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại không phải với tư cách là một chủ thể mới, họ không thay thế vị trí của chủ thể Họ thực hiện nghĩa vụ tài sản bằng tài sản của người chết Khi thực hiện nghĩa vụ trả nợ do người chết để lại và những chi phí liên quan đến di sản thừa kế sẽ xảy ra các trường hợp:
Một là, nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác nhỏ hơn khối tài sản mà
người chết để lại, trong trường hợp này tài sản vẫn còn để chia thừa kế
Hai là, nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác lớn hơn hoặc bằng đúng
khối tài sản mà người chết để lại, trong trường hợp này tài sản không còn để chia thừa kế Và vì thế sẽ không có quan hệ nhận di sản
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản Nếu nhận di sản thì người thừa kế phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và ngược lại nếu họ không nhận di sản thì họ không phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Rõ ràng ở đây người thừa kế không bắt buộc phải nhận di sản để sau đó
Trang 14phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản của người chết cho chủ nợ
Tóm lại, di sản thừa kế được hiểu là tài sản, các quyền tài sản mà người đã chết có được một cách hợp pháp, không bao gồm các nghĩa vụ tài sản của người đó để lại cho người hưởng thừa kế.(2)
1.1.2 Khái niệm phân chia di sản thừa kế
Hiện nay do sự phát triển kinh tế , xã hội dẫn đến tài sản tích lũy của mỗi cá nhân và gia đình ngày càng nhiều Vì vậy, các tranh chấp nói chung và các tranh chấp liên quan đến vấn đề thừa kế nói riêng ngày càng tăng về số lượng đồng thời mang tính chất phức tạp hơn Đích cuối cùng của tranh chấp thừa kế giữa các bên chủ thể là xác định di sản và phân chia di sản thừa kế đúng để đảm bảo quyền, lợi ích của những người được hưởng thừa kế
Trong quan hệ thừa kế nếu chỉ có một người có quyền hưởng di sản thì họ là sở hữu duy nhất của khối di sản sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại và cũng chỉ có mình họ phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản đó Vì lẽ đó mà việc phân chia di sản thừa kế chỉ đặt ra khi có ít nhất
từ hai người trở lên có quyền thừa kế đối với khối di sản của người chết để lại
Vậy, phân chia di sản thừa kế là tập hợp các hoạt động nhằm xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản cho từng người một có quyền hưởng thừa kế trong khối di sản chung sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài sản từ di sản Chấm dứt tình trạng nhiều người cùng có quyền được hưởng thừa kế từ một hoặc nhiều tài sản do người chết để lại
2 Lê Văn Minh (2012) Phân chia di sản thừa kế theo BLDS 2005, Luận văn thạc sĩ Dân sự, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
Trang 151.1.3 Xác định di sản thừa kế
Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di sản mà người chết để
lại bao gồm: “Tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người đó trong tài sản chung với người khác”
Thứ nhất, tài sản riêng của người chết
Là phần tài sản không bị chi phối về mặt pháp lý, không phải chịu sự ràng buộc với các chủ thể khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và quyền định đoạt Như vậy để xác định tài sản của một cá nhân không nằm trong khối tài sản chung với người khác, không nằm trong khối tài sản chung hợp nhất của
vợ, chồng mà được xác định là: Độc lập trong sở hữu chung theo phần, độc lập trong sở hữu chung hợp nhất được căn cứ theo khoản 1 điều 43 LHN&GĐ
2014 “ Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39
và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng ’’
Theo quy định trên thì tài sản riêng của vợ, chồng được quy định theo các căn
cứ sau:
+ Tài sản riêng của vợ, chồng có trước khi kết hôn: Trước khi kết hôn
họ không bị ràng buộc về mặt pháp lý, chưa phải là vợ chồng theo quy định của pháp luật Vì vậy tất cả những tài sản do công sức lao động của họ làm ra được pháp luật thừa nhận thì tài sản đó là tài sản riêng của mỗi bên vợ hoặc chồng
+ Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân:
Là tài sản do ông bà, cha mẹ, bạn bè thân thuộc của vợ hoặc chồng
định đoạt thông qua hợp đồng tặng cho hoặc thừa kế hợp pháp
Trang 16+ Tài sản riêng của vợ, chồng có được khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Căn cứ khoản 1 Điều 40 LHN&GĐ 2014 quy định trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng
+Tài sản phục vụ nhu cầu cá nhân : Là tài sản riêng của người vợ
người chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu như công việc, học tập, nghề nghiệp và các sinh hoạt khác của vợ chồng
Từ quy định của pháp luật về căn cứ xác lập tài sản riêng trên đây, một mặt tôn trọng quyền sở hữu tài sản của vợ, chồng Mặt khác tạo điều kiện cho mỗi bên được hoàn toàn chủ động, độc lập thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép đối với chủ sở hữu
Thứ hai, tài sản riêng của người chết trong khối tài sản chung với người khác
Di sản của người chết không chỉ bao gồm tài sản riêng của người đó để lại mà còn bao gồm cả tài sản trong khối tài sản chung với người khác Trên thực tế, có nhiều trường hợp tài sản là tài sản chung của nhiều người do được tặng cho chung, thừa kế chung hoặc cùng góp vốn để hợp tác kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận… Do đó, khi một đồng chủ sở hữu chết thì phần tài sản thuộc
sở hữu của người đó có trong khối tài sản chung được xác định là di sản Theo qui định của pháp luật có hai hình thức sở hữu chung đó là sở hữu chung hợp nhất và sở hữu chung theo phần Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất và tài sản chung với người khác là sở hữu chung theo phần
Là phần tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng hoặc nằm trong khối tài sản thuộc sở hữu chung theo phần với nhiều người khác, tuỳ
Trang 17theo cách thức và căn cứ xác lập nên các hình thức sở hữu đó
+ Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng:
Tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ chồng tạo ra từ thu nhập lao động, sản xuất, kinh doanh và các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân mà vợ chồng được thừa kế chung; Tặng, cho chung và những tài sản khác được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Những tài sản này là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, nếu bên nào chết trước thì bên kia yêu cầu chia di sản thừa kế thì tài sản chung này được chia đôi một nửa thuộc sở hữu của người chết, một nửa thuộc sở hữu của người sống
+ Tài sản thuộc sở hữu chung theo phần:
Sở hữu chung theo phần cho phép xác định phần quyền của mỗi chủ sở hữu như phần vốn góp trong công ty, phần vốn góp để kinh doanh, phần tài sản được cho chung, được thừa kế chung của nhiều người Khi người này chết thì những tài sản này trở thành di sản thừa kế
Thứ ba, di sản thừa kế là các quyền tài sản của người chết để lại
Khi người còn sống họ tham gia vào các giao dich dân sự khác nhau như mua bán, cho vay nhưng người mua chưa trả hết tiền gây thiệt hại ngoài hợp đồng, trong hợp đồng chưa bồi thường thiệt hại… Thì khi chết, những người thừa kế có quyền yêu cầu những người khác phải thực hiện nghĩa vụ tài sản Có nghĩa là những người thừa kế có quyền hưởng những quyền tài sản do người chết để lại Các quyền này được gọi là tài sản quy định tại điều 105 BLDS năm 2015
Quyền được nhận tiền bảo hiểm cũng được coi là di sản thừa kế đối với quyền tài sản nếu khi còn sống người để lại di sản có ký kết hợp đồng bảo
Trang 18hiểm thì những người thừa kế có quyền yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bảo hiểm khi có sự kiện người chết
Khi tác giả của các tác phẩm văn học nghệ thuật, công trình khoa học, các đối tượng sở hữu công nghiệp chết thì những người thừa kế của tác giả đó
có quyền được hưởng các quyền tài sản liên quan đến các tác phẩm, công trình khoa học, đối tượng sở hữu công nghiệp Khi chủ sở hữu tác phẩm, đối tượng sở hữu công nghiệp mà sử dụng vào việc sản xuất kinh doanh thì phải trả cho những người thừa kế của tác giả một số tiền nhất định theo quy định
của pháp luật Điều 40 Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 quy định: “Tổ chức, cá nhân được quyền thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật về thừa
kế là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này” (3)
Người thừa kế có quyền sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng cho người khác hoặc định đoạt quyền sở hữu của mình, người thừa kế tài sản của chủ sở hữu có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật trừ những quyền nhân thân thuộc quyền của tác giả.(4)
1.2 Căn cứ phân chia di sản thừa kế
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật dân sự nói riêng, không tồn tại khái niệm “căn cứ phân chia di sản thừa kế” mà mới chỉ
có các khái niệm như “căn cứ pháp lý”, “căn cứ xác lập quyền sở hữu”, “căn
cứ chấm dứt quyền sở hữu” Vì vậy việc đưa ra một khái niệm chuẩn là cần
thiết để có cách hiểu thống nhất về “căn cứ phân chia di sản thừa kế”
3 Phùng Trung Tập (2004),“Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ 1945 đến nay”; Nxb Tư
pháp, Hà Nội
4 Phan Văn Nghĩa (2015), Xác định và phân chia di sản thừa kế theo pháp luật việt nam hiện nay, Luận văn
thạc sĩ dân sự, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
Trang 19Việc phân chia di sản thừa kế có hai trường hợp đó là chia theo di chúc và chia theo pháp luật Khi phân chia di sản thừa kế dù có phân chia theo
di chúc hay phân chia theo pháp luật thì cũng đều phải căn cứ theo những quy
định chung của pháp luật và chúng ta có thể hiểu:“ Căn cứ phân chia di sản thừa kế là những sự kiện pháp lí mà trên cơ sở đó các chủ thể tiến hành việc phân chia di sản thừa kế” Các căn cứ để phân chia di sản thừa kế gồm:
1.2.1 Theo sự thỏa thuận của tất cả những người thừa kế
Pháp luật Việt Nam luôn khuyến khích việc thỏa thuận, tự nguyện khi phân chia di sản thừa kế của những người thân quen trong gia đình Theo quy định tại điều 3 Bộ luật dân sự 2015 về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự đã ghi nhận nguyên tắc bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Khi những người thừa kế đã đạt được sự thỏa thuận, thống nhất về cách chia thì đó có thể là căn cứ để phân chia di sản thừa kế Tòa án chỉ tham gia giải quyết trong trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận với nhau được
Khi phân chia di sản theo thỏa thuận, người thực hiện phân chia di sản
có thể tham gia nhưng đây không phải là điều kiện bắt buộc Người thực hiện phân chia di sản có thể đồng thời là người quản lí di sản Theo khoản 2 điều
656 BLDS 2015 “ Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập
thành văn bản” , trong trường hợp : “Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản…” (5)
1.2.2 Theo ý chí định đoạt của người lập di chúc
Theo quy định tại Điều 610 Bộ luật dân sự 2015 có quy định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của
5 ( khoản 1, điều 57, Luật công chứng 2014)
Trang 20mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.” Quy định thể hiện quyền của cá nhân trong việc lập di chúc thể
hiện quyền định đoạt tài sản của mình
Tùy vào ý chí của người lập di chúc mà người được thừa kế theo di chúc được hưởng các phần di sản nhiều ít khác nhau Pháp luật luôn tôn trọng
ý chí của người để lại di sản, vì vậy họ có thể để lại di sản cho bất kì ai, kể cả những người không có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với họ…tức là họ được tự do thể hiện ý chí của mình, Nhà nước không quy định phạm vi người được hưởng thừa kế theo di chúc Nhưng Nhà nước ta chỉ hạn chế ý chí của người lập di chúc trong một số trường hợp cụ thể được quy định
tại Khoản 1 Điều 644 BLDS 2015“ Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần Ba của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó: Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; Con thành niên mà không
Vậy phân chia di sản theo ý chí định đoạt của người lập di chúc là căn
cứ để tiến hành việc phân chia di sản thừa kế, làm phát sinh quyền sở hữa của người có quyền thừa kế
1.2.3 Theo quy định của pháp luật
Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo diện thừa kế, hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định
Trang 21Diện thừa kế bao gồm các cá nhân còn sống có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản được tính đến thời điểm mở thừa kế của người đó và những cá nhân sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Phạm vi những cá nhân thuộc diện thừa kế được xác định theo số người được pháp luật chỉ định trong các hàng thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản
Thứ nhất, quan hệ hôn nhân
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì "hôn nhân là quan hệ giữa
vợ và chồng sau khi đã kết hôn" Vợ và chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau khi quan hệ hôn nhân của họ tính đến thời điểm mở thừa kế của người vợ hoặc người chồng được xác định là hôn nhân hợp pháp Để có thể được pháp luật thừa nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp thì việc kết hôn phải tuân thủ các điều kiện và thủ tục do pháp luật quy định Hôn nhân hợp pháp phải đảm bảo cả về mặt nội dung lẫn hình thức nghĩa là phải đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn
Thứ hai, quan hệ huyết thống
Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người có cùng dòng máu
về trực hệ hoặc bàng hệ được xác định thông qua sự kiện sinh đẻ
Xuôi theo dòng phát triển của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ cho đến nay, phạm vi các đối tượng thuộc diện thừa kế theo pháp luật xác định trên cơ sở quan hệ huyết thống theo quy định tại BLDS năm 2015 là đầy đủ và
mở rộng nhất Trước hết phải kể đến mối quan hệ giữa con và cha mẹ Quyền thừa kế theo pháp luật của con không phụ thuộc vào hình thức hôn nhân của cha, mẹ đẻ Các con đẻ của người để lại di sản, không phân biệt con trai, con gái, con trong giá thú hay con ngoài giá thú, có năng lực hành vi dân sự hay không đều thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản
Trang 22Thứ ba, quan hệ nuôi dưỡng
Theo quy định của pháp luật hiện hành, diện thừa kế được xác định trên cơ sở quan hệ nuôi dưỡng bao gồm quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại và trường hợp con riêng với bố dượng, mẹ kế nếu đáp ứng điều kiện nhất định
Trước hết, xét quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi Theo quy định tại Điều 653 BLDS năm 2015 thì " Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa
kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này" Mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi được xác lập trên sự kiện nuôi con nuôi Việc nhận nuôi con nuôi dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi Theo nguyên tắc chung thì "Người được nhận làm con nuôi phải dưới 16 tuổi Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng" (Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010) Người nhận nuôi con nuôi phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 Việc nhận nuôi con nuôi phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và ghi vào
sổ hộ tịch Con nuôi có đầy đủ quyền như con đẻ và được coi là người thừa
kế ở hàng thứ nhất của cha, mẹ nuôi
Quan hệ thừa kế được xác định dựa trên cơ sở quan hệ nuôi dưỡng còn bao gồm quan hệ giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế Theo quy định tại Điều 654 BLDS năm 2015 thì pháp luật về thừa kế chỉ thừa nhận con riêng và
bố dượng, mẹ kế thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau khi và chỉ khi đáp ứng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con Quy định này còn mang tính chủ quan, chung chung
Tóm lại, ngoài ba quan hệ: hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người để lại di sản thì không có bất cứ quan hệ nào khác để xác định diện thừa
kế theo pháp luật
Hàng thừa kế là những nhóm, người thừa kế được pháp luật xếp trong cùng một hàng Việc chia hàng thừa kế có ý nghĩa thiết thực, đảm bảo để những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng
Trang 23thừa kế trước đó đã chết, hoặc do không có quyền hưởng di sản; hoặc bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản Bộ luật Dân sự hiện hành quy định ba hàng thừa kế theo pháp luật tại Điều 651
Thứ nhất, hàng thừa kế thứ nhất
Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi,
mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết Những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất dựa trên cả ba mối quan hệ bao gồm quan hệ hôn nhân, quan
hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng Trong đó, những người ở bề trên gồm có: ông, bà; ngang bậc gồm có: vợ, chồng và bề dưới bao gồm: các con Theo quy định của pháp luật hiện hành, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau, là giám hộ và đại diện đương nhiên của nhau khi thỏa mãn các điều kiện luật định
Quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng là mối quan hệ mang tính đối nhau, nghĩa là bên này chết thì bên kia thuộc hàng thừa kế thứ nhất và ngược lại
Theo quy định tại Điều 651 BLDS năm 2015 thì con nuôi, cha nuôi,
mẹ nuôi của người chết để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ nhất Chỉ những trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và ghi vào sổ
hộ tịch hoặc có đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới phát sinh quan hệ cha mẹ và con trước pháp luật
Thứ hai, hàng thừa kế thứ hai
Hàng thừa kế thứ hai bao gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại
Hàng thừa kế thứ hai còn bao gồm anh, chị, em ruột của người chết Anh ruột, chị ruột, em ruột là anh, chị, em cùng mẹ hoặc cùng cha Quan hệ thừa kế này được hình thành theo một căn cứ duy nhất là quan
hệ huyết thống, bao gồm những người có quan hệ huyết thống trực hệ cùng một đời
Nếu anh hoặc chị hoặc cả anh chị chết thì em ruột sẽ là người thuộc hàng thừa kế thứ hai đối với di sản của anh, chị đã chết và ngược
Trang 24lại Như đã chỉ ra ở trên, con nuôi không đương nhiên trở thành anh, chị,
em của con đẻ của người nuôi nên giữa con nuôi và con đẻ không phải
là người thừa kế theo pháp luật của nhau
Tương tự như những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, những người thừa kế thuộc hàng thứ hai cũng được hưởng phần di sản bằng nhau, không phân biệt là người bề trên, người bề dưới hay người cùng bậc với người để lại di sản
Thứ ba, hàng thừa kế thứ ba
Hàng thừa kế thứ ba được quy định để dự liệu trường hợp cả hai hàng trên không còn người thừa kế Những người thừa kế ở hàng thứ ba được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2005, bao gồm
"cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại" Có thể nhận thấy, những người ở hàng thừa kế thứ ba gồm nhiều thế hệ và nhiều bậc trên - dưới khác nhau theo quan hệ huyết thống
Trong thực tiễn cuộc sống, cách xưng hô trong gia đình người Việt Nam rất phong phú và tinh tế, thể hiện nét đặc trưng của mỗi vùng miền Mặc dù cách xưng hô ở các vùng miền có sự khác nhau nhưng đều chỉ chung một chủ thể và do đó phải tuân thủ theo quy định chung của pháp luật
Như vậy, khi chia thừa kế theo pháp luật, những người thừa kế trong cùng một hàng sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau và theo thứ tự ưu tiên tuyệt đối giữa các hàng Trên thực tế rất hiếm trường hợp những người ở hàng thứ ba được hưởng thừa kế và việc lập hồ sơ đối với hàng thừa kế thứ ba gặp nhiều khó khăn so với việc lập hồ sơ đối với hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai
1.3 Các nguyên tắc phân chia di sản thừa kế
Theo quy định của pháp luật dân sự, chế định thừa kế được ghi nhận
Trang 25và chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc chung của Luật dân sự, là một chế định mang nhiều đặc thù, bị chi phối bởi chế độ sở hữu, chế độ hôn nhân và gia đình và cả nhiều yếu tố như: Phong tục, tập quán ….nên có những nguyên tắc riêng để điểu chỉnh làm cơ sở, định hướng cho những quy phạm pháp luật
về thừa kế Phân chia di sản là một phần trong chế định thừa kế nên các nguyên tắc đó và cũng được áp dụng cho các phương thức phân chia di sản, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Tuy nhiên việc phân chia di sản
có những nguyên tắc riêng của nó Để tìm hiểu về nguyên tắc phân chia di sản thừa kế là cần thiết bởi nó đóng vai một vai trò quan trọng trong pháp luật thừa kế và trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp liên quan đến phân chia di sản thừa kế Vì vậy, phân chia di sản thừa kế được quy định bởi các nguyên tắc sau:
- Các nguyên tắc phân chia di sản thừa kế trong thừa kế theo di chúc
Trước khi chết thì người lập di chúc bao giờ cũng mong muốn di chúc của mình không bị thất lạc hư hỏng, ý nguyện không bị người khác xâm phạm, di sản còn nguyên vẹn đến lúc trao tài sản cho người thừa kế, di sản được chia theo đúng ý chí chủ quan của người lập di chúc Vì vậy, khi phân chia di sản thừa kế theo di chúc chúng ta cần phải thực hiện đúng với những
gì người lập di chúc để lại như:
+ Tôn trọng ý chí của người lập di chúc
Theo quy định tại điều 158 BLDS 2015 khẳng định quyền sở hữu là quyền duy nhất của chủ sở hữu đối với tài sản, là tổng hợp của các quyền năng cụ thể đối với tài sản đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và định đoạt
Để lại di sản thừa kế là một trong những cách thức định đoạt tài sản của chủ sở hữu Nhà nước ta luôn tôn trọng ý chí của người lập di chúc, các quyền của người lập di chúc được quy định tại Điều 626 BLDS 2015 Nhà
Trang 26nước chỉ hạn chế ý chí của người lập di chúc trong một số trường hợp nhất định Nếu di chúc không vi phạm các điều cấm của pháp luật thì việc phân chia di sản sẽ theo di chúc của người chết Việc này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với những người đã khuất, thể hiện trách nhiệm đối với người để lại di sản, thực hiện theo đúng di nguyện của họ để họ yên tâm nhắm mắt
Mặt khác, đây là một truyền thống lâu đời của nhân dân ta, đồng thời qua đó khuyến khích những người còn sống cũng cố gắng tạo ra nhiều của cải vật chất không chỉ vì lợi ích của bản thân mà còn vì những người mình yêu thương
+ Tôn trọng sự thỏa thuận của những người thừa kế
Thỏa thuận có một ý nghĩa rất quan trọng trong quan hệ thừa kế Việc phân chia di sản diễn ra như thế nào, có được thuận lợi hay không phụ thuộc rất lớn vào ý chí của những người thừa kế Tòa án chỉ tham gia giải quyết trong trường hợp tranh chấp xảy ra khi những người thừa kế đã thỏa thuận bàn bạc với nhau nhưng không đạt đến kết quả thống nhất Pháp luật quy
định: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.”
Khoản 2 Điều 3 BLDS 2015 ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Tôn trọng sự thỏa thuận của những người thừa kế là việc cụ thể hóa của nguyên tắc này
+ Việc phân chia phải đảm bảo tình đoàn kết trong gia đình
Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết, tương thân, tương ái, mỗi người vì
Trang 27cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
Như chúng ta đã biết thừa kế là quan hệ bị chi phối bởi nhiều yếu tố tình cảm, tập quán, tục lệ, truyền thống vì vậy việc phân chia di sản như thế nào để đảm bảo tình đoàn kết, yêu thương giữa các thành viên trong gia đình, bảo đảm tính nhân văn của thừa kế có ý nghĩa to lớn Theo các nguyên tắc trên giúp chúng ta giải quyết phân chia di sản thừa kế thêm hợp tình, hợp lý
Nhiều trường hợp trong gia đình đã xảy ra tranh chấp xô xát giữa các anh, chị, em khi phân chia di sản của cha mẹ để lại; các cháu, chắt khi phân di sản của ông, bà để lại…Điều này làm ảnh hưởng đến tình cảm của những thành viên trong gia đình; đến truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta Vì vậy, tự phân chia di sản thừa kế giữa những người thừa kế là cách tốt nhất để đảm bảo tinh thần đoàn kết trong nội bộ trong gia đình Trường hợp không thoả thuận được thì cần phân chia một cách bình đẳng, đảm bảo việc khai thác, sử dụng tối đa, lợi ích kinh tế của tài sản và quyền lợi của những người thừa kế Chỉ khi những người thừa kế đã thỏa thuận với nhau nhưng không đạt đến kết quả thống nhất thì Tòa án mới tham gia giải quyết, nhưng phải theo sát những nguyên tắc, nền tảng để vừa đảm bảo cho mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình được bền vững lại vừa đảm bảo khai thác được lợi ích của tài sản là di sản thừa kế
- Các nguyên tắc phân chia di sản thừa kế trong thừa kế theo pháp luật
Trước hết sẽ chia di sản cho những người thừa kế ở hàng trước, theo thứ tự ưu tiên chia trước, chia hết và chia đều bằng nhau cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất Nếu không có ai ở hàng thừa kế thứ nhất do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di sản, thì di sản mới được chuyển xuống và chia đều cho những người
Trang 28ở hàng thừa kế thứ hai Tương tự như vậy đối với hàng thừa kế thứ ba Theo quy định hiện hành của pháp luật thừa kế Việt Nam, việc phân nhóm những người thừa kế về từng hàng thừa kế sẽ phụ thuộc vào mức độ thân thích, gần gũi với người để lại di sản xét trên cả quan hệ huyết thống (trước hết là quan
hệ huyết thống trực hệ), quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng
Theo nguyên tắc khi chia di sản thừa kế thì những người thừa kế cùng hàng được chia phần thừa kế bằng nhau Di sản thừa kế có thể được chia bằng bằng hiện vật; Định giá hiện vật; Bán hiện vật để chia nếu không thỏa thuận được Tuy nhiên chúng ta phải căn cứ vào tính chất và công dụng của từng loại tài sản và nhu cầu thực tế khác nhau của mỗi người thừa kế để phân chia cho phù hợp nhằm vừa phát huy được giá trị sử dụng của từng loại tài sản đó, tạo điều kiện thuận lợi cho những người thừa kế và bảo đảm sự đoàn kết trong gia đình
Việc phân chia di sản cho những người thừa kế không phải theo ý chí định đoạt của người để lại di sản, mà theo quy định chung của pháp luật, như phân chia đều bằng nhau, phân chia theo thứ tự hàng 1 hàng 2 và hàng 3, phân chia cho những người nằm trong diện thừa kế
Khi phân chia di sản thừa kế theo pháp luật phải tuân theo các nguyên tắc sau:
+ Chia hết cho những người ở hàng thừa kế trước :
Hàng thừa kế theo pháp luật là nhóm những người có cùng mức độ gần gũi với người chết và theo đó họ cùng hưởng ngang nhau đối với di sản thừa kế mà người chết để lại Mà như đã nói ở trên khi phân chia di sản theo luật sẽ ưu tiên cho những người ở hàng thừa kế trước Do đó, di sản sẽ được chia thành những phần bằng nhau và chia hết cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất Nếu khi chia thừa kế mà không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất vì đã chết trước người để lại di sản thừa kế mà không có ai thế vị hoặc có
Trang 29nhưng họ từ chối nhận di sản hay không có quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 621 BLDS 2015 hoặc bị người để lại di di sản truất quyền thừa kế thì lúc này di sản mới được chia hết cho những người thừa kế thuộc hàng thứ hai Tương tự như ở hàng thừa kế thứ hai thì di sản được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ ba Nếu không có ai trong hàng thừa kế thứ ba (người này không có họ hàng thân thích, con cháu, sống cô độc ) thì di sản sẽ thuộc
về nhà nước [ Điều 622 BLDS 2015]
+ Chia đều bằng nhau cho những người thừa kế cùng hàng:
Nguyên tắc này được cụ thể hóa tại Khoản 1 Điều 3 của BLDS 2015
và thể hiện rất rõ trong Điều 16 Hiến pháp năm 1992 Đó là sự bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự khi xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự
Trong quan hệ thừa kế nói chung và phân chia di sản thừa kế nói riêng nguyên tắc này cần được đảm bảo Những người cùng thuộc một hàng thừa kế được hưởng phần di sản như nhau [19, Khoản 2, Điều 651] Các con của người chết không phân biệt con trai, con gái, tuổi tác, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con nuôi, con đẻ đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất Vợ, chồng có quyền ngang nhau trong việc hưởng tài sản chung Đây là sự khác biệt giữa pháp luật hiện hành với pháp luật thực dân phong kiến trước kia chỉ coi người phụ nữ là nộ lệ, phân biệt đối xử giữa các thành viên trong gia đình như: con
vợ lẽ và vợ cả Nguyên tắc này thực sự là một là một điểm tiến bộ của pháp luật hiện nay, phải trải qua cuộc đấu tranh gian khổ mới có được Đây cũng là điểm khác biệt của phân chia di sản theo di chúc và phân chia di sản theo pháp luật bởi phân chia di sản theo di chúc phụ thuộc ý chí và tâm lý của người lập di chúc như: Cùng là các con của người đã chết nhưng có khi lại được nhận những phần không đều nhau, thậm chí có người được hưởng, người không
Trang 301.4 Ý nghĩa của phân chia di sản thừa kế
Thứ nhất, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người được hưởng thừa kế
Theo điều BLDS 2005 cũng như BLDS 2015 “ Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản cho người chết
để lại” Như vậy những người thừa kế sẽ trở thành chủ sở hữu đối với tài sản
mà người chết để lại Nhưng chỉ sau khi việc phân chia diễn ra họ mới là chủ thể thực sự đối với những tài sản đó và có những quyền hợp pháp đối với tài sản đó Việc phân chia di sản chính xác đầy đủ sẽ tránh được những tranh chấp không đáng có giữa những người thừa kế, tình cảm giữa các thành viên trong gia đình Đối với những đối tượng thuộc điều 644 , phân chia di sản chính xác để đảm bảo quyền và lợi ích của họ, không để họ bị thiệt thòi, tránh tình trạng những người có quyền thừa kế mà không được hưởng, đảm bảo khả năng tốt nhất cho những người thừa kế được hưởng đúng phần di sản của người quá cố để lại theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật Xác định đúng di sản thừa kế góp phần quan trọng củng cố tinh thần đoàn kết trong gia đình truyền thống của Việt Nam, “nước có mất nhưng gia đình, làng xã vẫn còn” (6)
Việc phân chia di sản thừa kế không đúng có thể làm ảnh hưởng trưc tiếp đến quyền lợi của người thừa kế, dẫn đến sự tranh chấp gây bất hòa cho những quan hệ thân thích trong gia đình
Thứ hai, bảo đảm quyền và lợi ích của người có liên quan
Việc phân chia di sản thừa kế không chỉ có ý nghĩa đảm bảo quyền lợi cho những người thừa kế mà còn là sự đảm bảo cho quyền lợi của những người khác bởi trong thực tế có nhiều trường hợp tài sản của một người lại liên quan đến nhiều người khác (khi nằm trong khối tài sản chung của người
6 Trần Thị Huệ (2011) Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà Nội
Trang 31khác) Khi họ qua đời thì việc phân chia di sản thừa kế của người này không chính xác có thể sẽ xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác
Việc phân chia di sản thừa kế không chính xác hoặc không đầy đủ thì người thừa kế bị ảnh hưởng về quyền lợi (không được hưởng hoặc được hưởng không đủ phần di sản mà lẽ ra họ được hưởng) và cũng vì thế mà họ không có đủ điều kiện để thực hiện nghĩa vụ mà người để lại thừa kế có nghĩa
vụ nào đó ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ được pháp luật bảo vệ.(7)
Trong trường hợp người chết để lại cả di sản và nghĩa vụ tài sản (khoản nợ), những khoản nợ này vẫn chưa được thanh toán thì việc phân chia chính xác tạo điều kiện thuận lợi để những người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản chính xác đối với các chủ thể có liên quan
Thứ ba, bảo đảm tính minh bach, công bằng của pháp luật
Xuất phát từ tầm quan trọng là đối tượng được dịch chuyển trong quan
hệ thừa kế, phân chia di sản thừa kế là yếu tố đầu tiên cần được xác định để xem xét các yếu tố tiếp sau trong quan hệ để lại và nhận di sản thừa kế Pháp luật quy định phân di sản thừa kế và việc dịch chuyển nó từ người chết sang cho những người còn sống khác là mang tính khách quan, đáp ứng được quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong quan hệ thừa kế, qua đó thực hiện được các chức năng điều chỉnh của pháp luật, tạo điều kiện để các chủ thể xử
xự theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội Đặc biệt, nó tạo
cơ sở pháp lý về các tiêu chí khi xác định di sản thừa kế
Theo từng trường hợp cụ thể, quy định của pháp luật về di sản thừa kế cho phép xác định nguyên tắc, căn cứ để giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế Quy định của pháp luật về di sản thừa kế được sử dụng với ý nghĩa là
7 Phùng Trung Tập (2004),“Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ 1945 đến nay”; Nxb Tư
pháp, Hà Nội
Trang 32cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế, nhằm để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể trong quan hệ thừa kế
Những quy định của pháp luật về phân di sản thừa kế góp phần điều tiết, ổn định các quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự Những quy định của pháp luật về phân chia di sản thừa kế là cơ sở quan trọng cho việc xác định các loại tài sản nào được để lại thừa kế, phạm vi được định đoạt trong tài sản chung, quyền phân định di sản của người có di sản, quyền của người được hưởng di sản thừa kế Đó cũng là cơ sở pháp lý được áp dụng khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc thừa kế
1.5 Hạn chế phân chia di sản thừa kế
- Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia Ví du: khi ông
A có vợ là bà B và 3 con C,D,F Trước khi chết ông A có để lại di chúc và trong đó đã phân chia di sản cho những người thừa kế nhưng trong di chúc cũng đã xác định là di sản chỉ được phân chia khi các con đều đủ 18 tuổi thì mặc dù di chúc của ông A đã có hiệu lực pháp luật từ thời điểm ông A chết nhưng di sản của ông A chỉ được phân chia khi các con ông đều đủ 18 tuổi
Nếu di chúc chỉ định thời hạn phân chia sau khi mở thừa kế (ví dụ 05 năm), thì di sản sẽ được phân chia khi hết thời hạn đó Tuy nhiên, di chúc không thể chỉ định sau 10 năm Trường hợp di chúc không xác định thời hạn chia di sản mà những người thừa kế thỏa thuận thời hạn phân chia thì đúng thời gian đó di sản sẽ phân chia, việc thỏa thuận này không hạn chế về thời gian (10 năm, 20 năm ), vì sau thời hiệu khởi kiện về thừa kế, nếu có tranh chấp thì Tòa án sẽ phân chia tài sản chung theo từng phần
Trang 33- Trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm
Sau khi mở thừa kế, nếu người thừa kế khởi kiện yêu cầu chia di sản ngay thì Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp về di sản theo thủ tục xét xử chung Tuy nhiên, nếu việc chia di sản mà ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của những người thừa kế khác như vợ, chông, con chưa thành niên thì Tòa
án sẽ xác định phần di sản của mỗi người thừa kế nhưng không quá 03 năm
kể từ thời điểm mở thừa kế, thì những người thừa kế mới có quyền yêu cầu chia di sản hoặc yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Bộ Luật dân sự 2015 cũng có điểm khác với BLDS 2005 là “Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa
án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm” Việc bổ sung thêm điều này rất có ý nghĩa vì nhiều trường hợp sau 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà
vợ hoặc chồng vẫn chưa ổn định được cuộc sống nên khi kéo dài được thêm 3 năm nữa là phù hợp với nhu cầu thực tế hiện nay
Trang 34Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ PHÂN CHIA
DI SẢN THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015
Trong những năm gần đây, các loại tranh chấp trong quan hệ dân sự gia tăng, trong đó tranh chấp về phân chia di sản thừa kế và việc giải quyết loại án này luôn là mối quan tâm của xã hội, thậm chí gây bức xúc khi có những vụ việc phải giải quyết nhiều lần, qua nhiều cấp xét xử do khiếu kiện gay gắt, kéo dài
Hệ thống pháp luật về dân sự và tố tụng ở nước ta không ngừng được hoàn thiện để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn Trong đó, chế định về phân chia di sản thừa kế đã có nhiều quy định thay đổi, bổ sung nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết các vụ việc về thừa
kế
Tuy nhiên, trên thực tế việc giải quyết yêu cầu phân chia di sản thừa
kế vẫn là một vấn đề nhức nhối, không chỉ liên quan đến quyền lợi của các bên mà còn đụng chạm đến cả những vấn đề đạo đức, thuần phong mỹ tục và nền tảng văn hóa gia đình
Qua thực tiễn cho thấy, các tranh chấp về thừa kế nói chung và tranh chấp về phân chia di sản thừa kế nói riêng là loại tranh chấp rất phức tạp, thực
tế xác định di sản thừa kế gặp rất nhiều khó khăn và có không ít vướng mắc Trong quá trình giải quyết tranh chấp về phân chia di sản thừa kế tại tòa án, các đương sự đều tìm cách chứng minh có lợi nhất cho mình về kỷ phần, đồng thời phủ nhận hoặc làm giảm bớt quyền lợi của những người thừa kế khác Bản chất của tranh chấp thừa kế suy cho cùng là xác định kỷ phần khi phân chia thừa kế Do tính chất phân chia di sản nên việc xác định đúng khối di sản
là bước khởi đầu có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết các tranh chấp thừa kế
2.1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật xác định thừa kế cụ thể là quyền sử dụng đất
Những quy định của pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất có những
Trang 35thay đối qua các thời kỳ do quan niệm khác nhau về quyền sử dụng đất Trước hiến pháp 1980, pháp luật ghi nhận cho công dân có quyền sở hữu đất đai Từ Hiến pháp 1980 đến Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Hiến pháp 1980 còn quy định nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhượng đất đai dưới mọi hình thức Từ sau Hiến pháp 1992 và đặc biệt là Luật đất đai năm 1993 thì đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý nhưng nhà nước giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được sử dụng ổn định lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu đối với đất đai
Từ yêu cầu thực tế khách quan đòi hỏi phải có các quy định của pháp luật làm sơ sở cho việc xác định căn cứ xác lập quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Luật đất đai năm 2013 và BLDS năm 2015 trước đây đã quy định những căn cứ xác lập quyền sử dụng đất như: được nhà nước giao đất, được nhà nước cho thuê đất, được người khác chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với những quy định của BLDS và pháp luật đất đai Như vậy thì người có quyền sử dụng đất được coi là sở hữu hợp pháp dựa trên các căn cứ nói trên
Bộ luật Dân sự năm 2015 không còn có sự phân biệt việc thừa kế quyền sử dụng đất của cá nhân và hộ gia đình Theo Bộ luật Dân sự năm
2015 thì đất cấp cho hộ gia đình cũng là đối tượng của việc để lại thừa kế theo
di chúc hoặc theo pháp luật và cũng không còn sự phân biệt giữa các loại đất
ở, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm và nuôi trồng thủy sản Hay nói cách khác là không đặt ra điều kiện khác nhau trong việc thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp
để trồng rừng Đây là một quy định hoàn toàn hợp lý, phù hợp với thực tiễn cuộc sống và là một thuận lợi cho các Toà án khi giải quyết tranh chấp quyền
Trang 36sử dụng đất.(8)
Khi giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất thì Toà án không chỉ căn cứ vào Bộ luật Dân sự mà phải căn cứ vào Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản khác quy định về thừa kế quyền sử dụng đất để giải quyết cho phù hợp
Thừa kế quyền sử dụng đất có một số đặc điểm sau:
Thừa kế QSDĐ cũng là một hình thức chuyển QSDĐ nhưng sự chuyển dịch này là từ người chết sang cho người còn sống vào thời điểm mở thừa kế Thông qua di chúc, người để lại di sản thực hiện một giao dịch dân sự đơn phương thể hiện ý chí của mình không phụ thuộc vào ý chí của người thừa kế Còn trong các trường hợp chuyển QSDĐ khác thì việc chuyển QSDĐ được thực hiện dựa trên cơ sở hợp đồng dân sự có sự thoả thuận của các bên tham gia (các bên đều còn sống khi thực hiện việc chuyển QSDĐ)
Thừa kế QSDĐ có điểm khác biệt hẳn so với việc thừa kế các tài sản thông thường:
Bên cạnh những đặc điểm chung với việc thừa kế các tài sản thông thường khác thì thừa kế QSDĐ có một số điểm khác biệt sau:
+ Đối với thừa kế QSDĐ thì người để lại thừa kế không có quyền sở hữu đất đai mà chỉ có quyền sử dụng đất Đồng thời người hưởng thừa kế QSDĐ đến lượt mình cũng chỉ có QSDĐ mà không trở thành chủ sở hữu đất đai;
+ Thừa kế QSDĐ không những được quy định trong BLDS mà còn được quy định cả trong pháp luật về đất đai;
+ Đối với thừa kế QSDĐ thì người nhận thừa kế QSDĐ nếu là người Việt Nam định cư ở nước ngoài đáp ứng một số điều kiện nhất định của pháp luật thì mới được thừa kế QSDĐ tại Việt Nam (9)
Trang 37+ Đối với các tài sản thông thường khác người lập di chúc có thể định đoạt tài sản của mình cho bất cứ cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức nào Nhưng đối với QSDĐ, nếu định đoạt di sản là QSDĐ (hoặc nhà ở gắn liền với QSDĐ ở) cho người Việt Nam ở nước ngoài không thuộc diện được mua nhà ở Việt Nam hoặc người nước ngoài thì những người đó chỉ được hưởng giá trị của QSDĐ (hoặc nhà ở đó)
+ Đối với hầu hết các tài sản thông thường khác khi thực hiện việc thừa kế không phải tiến hành thủ tục đăng ký thừa kế nhưng đối với thừa kế QSDĐ thì thủ tục đăng ký thừa kế QSDĐ là bắt buộc;
+ Trong quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất, di sản là QSDĐ phải có sự công nhận của Nhà nước thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
+ Vấn đề giải quyết tranh chấp về thừa kế QSDĐ: Đối với việc giải quyết tranh chấp về thừa kế các tài sản khác thì hoà giải tại UBND xã, phường, thị trấn không phải là thủ tục bắt buộc còn đối với tranh chấp về QSDĐ, thì hoà giải tại UBND xã, phường, thị trấn là một thủ tục bắt buộc; Việc giải quyết tranh chấp về thừa kế các tài sản khác cơ quan có thẩm quyền giải quyết là Toà án, còn đối với tranh chấp đất đai nói chung và tranh chấp
về thừa kế QSDĐ nói riêng thì không phải bất cứ tranh chấp nào về quyền sử dụng đất đều được giải quyết theo trình tự Toà án
Tóm lại: Thừa kế QSDĐ vừa có điểm chung vừa có điểm đặc thù so với việc thừa kế các tài sản khác Tính chất đặc thù này do tính đặc biệt của đất đai quyết định Chính vì vậy việc thừa kế QSDĐ vừa phải tuân theo các quy định tại BLDS vừa phải tuân theo các quy định của Luật Đất Đai.(10)
10 Phan Văn Nghĩa (2015), Xác định và phân chia di sản thừa kế theo pháp luật việt nam hiện nay, Luận
văn thạc sĩ dân sự, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
Trang 38năm 1990 và mẹ là bà Ngô Thị H chết năm 2007, từ trước tới nay cha bà sống
ở ấp X, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, khi cha của bà chết còn mẹ bà thì ở lại sống chung với ông B trên phần đất đang tranh chấp Đến năm 2007, thì
mẹ của bà mất
Trước khi cha mẹ của bà chết, có quản lý thửa đất 215 có diện tích 12.200m2 và thửa 202 có diện tích 2.400m2 , nhưng vào thời điểm đó cha mẹ của bà không có đứng tên quyền sử dụng đất và cũng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Sau khi cha mẹ của bà mất không có để lại di chúc phần đất này và hiện nay ông Dương Văn B đứng tên quyền sử dụng đất nêu trên và ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1993 Hiện nay bà đang cất nhà ở khoảng 500m2
và sử dụng 1.000m2 đất ruộng trên thửa 215 và 202 do ông Dương Văn B đứng tên quyền
sử dụng đất và gia đình bà ở từ năm 2000 cho đến nay
Nay bà V khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng giải quyết chia thừa kế theo pháp luật trong thửa 215 và 202, đồng thời bà xin được hưởng 500m2
đất ở và đất nông nghiệp 1.000m2 trên thửa
215 và 202, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng
- Theo đơn phản tố ngày 06/02/2017; các biên bản hòa giải ngày 10/01/2017, ngày 12/4/2017, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm Bị đơn ông Dương Văn B trình bày: Nguồn gốc đất này không phải cha cha mẹ ông để
lại, khi mẹ ông bệnh ông mới đem mẹ ông về nhà chăm sóc, đến năm 2007,
Trang 39thì mẹ ông mất Phần đất này trước đây là đất hoang, do ông tự khai phá và canh tác ổn định và liên tục đến năm 1993, thì ông được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng cho đến nay Năm 2004, ông thấy em ruột là bà Dương Thị V có hoàn cảnh khó khăn nên ông có cho mượn một nền nhà có diện tích 44m2
để tạm ở và 01 công ruộng
để làm, 02 thửa trên đều thuộc thửa 215 tờ bản đồ số 02, loại đất thổ cư, đất màu và lâu năm, tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng
Đối với bà V yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, thì ông không đồng
ý, còn bà V đang ở trên đất của ông là ông cho mượn chứ ông không có cho
Do đó ông yêu cầu:
Tòa án xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị
V về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật Vì nguồn gốc đất là do ông tự khai phá và sử dụng ổn định từ năm 1976 đến nay và ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định pháp luật
Buộc gia đình bà Dương Thị V trả lại cho ông phần diện tích đất đã mượn để ở và đất ruộng đang canh tác thuộc thửa 215, tờ bản đồ số 02, loại đất thổ cư đất màu và lâu năm tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng
Yêu cầu bà Dương Thị V tháo dỡ căn nhà đang ở để hoàn trả lại cho ông phần diện tích như hiện trạng ban đầu
Nhận đinh của Tòa án:
[1] Nguyên đơn cho rằng: Nguồn gốc đất tranh chấp trước đây khi cha
mẹ chết có để lại phần đất thửa 215 và 202 tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, hiện nay do ông Dương Văn B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện M (nay là huyện C, tỉnh Sóc Trăng) cấp giấy chưng nhận quyền sử dụng đất ngày 29/4/1993 Thực tế ông B được quyền sử dụng đất có diện tích 19.950m2
thuộc tờ bản đồ số 02
Trang 40gồm các thửa 202 có diện tích 2.400m2
, thửa 215 có diện tích 12.200m2 , thửa 598 có diện tích 5.305m2
, đất tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện M (nay là huyện C, tỉnh Sóc Trăng) và bị đơn ông Dương Văn B đã sử dụng ổn định và liên tục từ đó cho đến nay, đồng thời đất không có tranh chấp Do đó, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở để chấp nhận
Xét nội dung yêu cầu phản tố của bị đơn Dương Văn B:
[2] Do nguyên đơn bà Dương Thị V đã sống và ổn định trên phần đất này từ năm 2004 cho đến nay Hơn nữa giữa nguyên đơn và bị đơn là quan hệ anh em ruột, căn nhà nguyên đơn đang ở là nhà tình thương được nhà nước cấp Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn
về việc buộc nguyên đơn trả cho bị đơn phần đất ruộng đang canh tác thuộc thửa 215, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, diện tích 1.300m2
Theo biên bản thẩm định tại chổ ngày 12/5/2017, có tứ cận như sau:
Hướng Đông giáp phần đất còn lại của thửa 215 có số đo 43,92m Hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa 215 có số đo 43,92m Hướng Nam giáp phần đất còn lại của thửa 215 có số đo 29,6m
Hướng Bắc giáp thửa 200 có số đo 29.6m2
Diện tích: 1.300m2
(có sơ đồ kèm theo)
[3] Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn Dương Văn B yêu cầu nguyên đơn bà Dương Thị V thảo dỡ căn nhà đang ở để hoàn trả lại cho bị đơn phần diện tích đất như hiện trạng ban đầu Cần buộc nguyên đơn trả lại giá trị bằng tiền đối với phần đất mà nguyên đơn đã sử dụng của bị đơn để xây dựng nhà ở cụ thể: 104m2
x 150.000 đồng/m2 = 15.600.000 dồng Theo biên bản thẩm định tại chổ ngày 12/5/2017, có tứ cận như sau:
Hướng Đông giáp thửa 200 của ông Nguyễn Văn Q có số đo 10m