Luận văn đã tổng hợp và khái quát được một số vấn đề lý luận cơ bản của đối tượng nghiên cứu; phân tích và làm rõ thực trạng hệ thống quy định của pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VƯƠNG KHÁNH HUY
THẾ CHẤP QUYỀN TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Định hướng ứng dụng
HÀ NỘI – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VƯƠNG KHÁNH HUY
THẾ CHẤP QUYỀN TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vương Khánh Huy
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẾ CHẤP QUYỀN TÀI SẢN 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm của thế chấp: 7
1.1.1 Khái niệm về thế chấp: 7
1.1.2 Đặc điểm của thế chấp 9
1.2 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của quyền tài sản 10
1.2.1 Khái niệm quyền tài sản 10
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của quyền tài sản 11
1.2.3 Phân loại quyền tài sản 12
1.3 Thế chấp quyền tài sản và những nội dung pháp lý liên quan 17
1.3.1 Khái niệm thế chấp quyền tài sản: 17
1.3.2 Những nội dưng pháp lý cơ bản của thế chấp quyền tài sản 18
1.3.2.1 Các loại quyền tài sản được thế chấp 18
1.3.2.2 Đăng ký thế chấp quyền tài sản 21
1.3.2.3 Quản lý quyền tài sản thế chấp 22
1.3.2.4 Xử lý quyền tài sản thế chấp 23
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN VỀ THẾ CHẤP QUYỀN TÀI SẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 27
2.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại 27
2.2 Quy định về thế chấp quyền tài sản tại một số Ngân hàng thương mại 30
2.2.1 Quy định của một số ngân hàng thương mại về quyền tài sản được thế chấp 30
Trang 62.3 Những vướng mắc của các Ngân hàng thương mại về thế chấp
quyền tài sản 36
2.3.1 Những vướng mắc xuất phát từ quy định của pháp luật hiện hành về xác định quyền tài sản thế chấp 36
2.3.1.1 Khái niệm quyền tài sản: 36
2.3.1.2 Đối tượng của hợp đồng thế chấp quyền tài sản: 37
2.3.1.3 Quyền định đoạt quyền tài sản thế chấp của bên thế chấp trong thời hạn thế chấp: 37
2.3.1.4 Hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền tài sản: 38
2.3.1.5 Quy định đối với quyền hưởng dụng và quyền bề mặt: 40
2.3.1.6 Thế chấp quyền tài sản hình thành từ hợp đồng mua bán: 41
2.3.1.7 Thế chấp quyền sở hữu trí tuệ: 44
2.3.1.8 Thế chấp quyền đòi nợ: 45
2.3.1.9 Thế chấp quyền phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: 47
2.3.2 Những vướng mắc của hệ thống pháp luật hiện hành về xử lý quyền tài sản thế chấp 49
CHƯƠNG III: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN TÀI SẢN 51
3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền tài sản 51
3.1.1 Hoàn thiện các quy định về thế chấp quyền tài sản nhằm khắc phục những bất cập, kẽ hở của pháp luật khi vận dụng vào thực tế 51
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền tài sản phải gắn với việc hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật 51
3.1.3 Hoàn thiện các quy định về thế chấp quyền tài sản phải được đồng bộ với hoàn thiện cơ chế về biện pháp bảo đảm: 52
Trang 73.2.1 Xác định quyền tài sản là tài sản thế chấp 53
3.2.2 Xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản 56
KẾT LUẬN 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và xu hướng hội nhập kinh tế thế giới thì các giao dịch dân sự, thương mại được xác lập ngày càng nhiều dẫn tới các vụ tranh chấp, kiện tụng cũng ngày một gia tăng.Thế chấp tài sản được lựa chọn như là một công cụ pháp lý hữu hiệu để hạn chế những rủi ro có thể phát sinh từ giao dịch vay vốn, tín dụng cũng như giảm thiểu tổn thất khi những rủi ro phát sinh Khi xác lập quan hệ thế chấp, các bên tham gia sẽ quan tâm tới việc lựa chọn tài sản thế chấp với các tiêu chí:
có giá trị lớn, có tính pháp lý và có tính thanh khoản cao (dễ dàng xử lý để chuyển đổi thành tiền)
Với sự bùng nổ về khoa học công nghệ, vai trò của quyền tài sản (các tài sản vô hình) ngày một tăng lên Các quyền tài sản ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số khối tài sản của con người Việc sử dụng loại tài sản này để bảo đảm cho các quan hệ vay vốn sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, trong thực tế, không nhiều loại quyền tài sản được đưa vào thế chấp do gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc với những quy định của BLDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn vìnhững thiếu sót, xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Vì vậy, hoàn thiện các quy định pháp luật về thế chấp quyền tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ là một việc làm quan trọng và cần thiết
Từ thực trạng nêu trên, qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật về
tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp, tôi lựa chọn vấn đề: “Thế chấp
quyền tài sản theo pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn thực hiện tại các Ngân hàng thương mại” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ
nhằm đưa ra quan điểm cá nhân về các quy định thế chấp tài sản của pháp luật Việt Nam hiện nay cũng như việc thực hiện tại các ngân hàng thương mại và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định hiện có
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Một số công trình khoa học đã được công bố có nội dung liên quan với
đề tài nghiên cứu:
Trang 9Luận văn thạc sỹ của Trần Lê Hưng (2017), Thế chấp quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự, Đại học
Luật Hà Nội Luận văn đã tổng hợp và khái quát được một số vấn đề lý luận
cơ bản của đối tượng nghiên cứu; phân tích và làm rõ thực trạng hệ thống quy định của pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; tác giả phần nào làm rõ thực trạng hoạt động thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua nhiều
vụ việc sưu tầm; tác giả cũng đã đề xuất được một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Luận văn thạc sỹ của Phạm Vân Anh (2017), Thế chấp nhà ở hình
thành trong tương lai để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng, Đại học Luật Hà
Nội Luận văn đã phân tích được một số vấn đề lý luận về nhà ở hình thành trong tương lai, hợp đồng tín dụng và việc thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai bảo đảm cho hợp đồng tín dụng; luận văn đã nghiên cứu, phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng; luận văn cũng đã chỉ ra được những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành liên quan đến thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai bảo đảm cho hợp đồng tín dụng
Luận văn của Phùng Bá Đáng, (2011), Đăng ký giao dịch bảo đảm và
thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm trong pháp luật Việt Nam,
Đại học Luật Hà Nội
Luận văn của Vũ Thị Thu Hằng, (2010), Một số vấn đề về thế chấp tài
sản tại ngân hàng thương mại, Đại học Luật Hà Nội
Luận văn của Phạm Tuấn Anh (2017), Xử lý tài sản bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng vay tài sản tại ngân hàng thương mại
cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện,
Đại học Luật Hà Nội Luận văn đã phân tích được một số quy định của pháp luật hiện hành về xử lý tài sản bảo đảm; phân tích một số những quy định của pháp luật hiện hành về nguyên tắc xử lý tái sản bảo đảm, các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm, các phương thức xử lý tài sản bảo đảm Luận văn cũng đã phân tích những bất cập vướng mắc trong hoạt động về xử lý tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng vay
Trang 10Luận án của Vũ Thị Hồng Yến (2013), Tài sản thế chấp và xử lý tài
sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, Đại học
Luật Hà Nội Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận về tài sản thế chấp và
xử lý tài sản thế chấp như: xây dựng thành công khái niệm tài sản thế chấp,
xử lý tài sản thế chấp; phát hiện các đặc điểm pháp lý của tài sản thế chấp và
xử lý tài sản thế chấp Tác giả đã phân tích, đánh giá một cách chính xác và toàn diện thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về tài sản thế chấp và xử
lý tài sản thế chấp từ đó chỉ ra được những bất cập của hệ thống pháp luật và hạn chế, yếu kém của thực tiễn áp dụng các quy định này
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Theo quy định của pháp luật thì có rất nhiều loại tài sản có thể được dùng làm tài sản thế chấp cho quan hệ tín dụng ngân hàng, tuy nhiên luận văn
sẽ chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật cho tài sản thế chấp là quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản
Trong phần nghiên cứu này, luận văn sẽ chỉ ra loại quyền tài sản nào hay được sử dụng làm tài sản thế chấp nhất, và nguyên nhân các quyền tài sản khác không được sử dụng phổ biến
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Thứ nhất, dựa trên những vấn đề lý luận về biện pháp thế chấp, luận văn
đi vào nghiên cứu các khía cạnh pháp lý và thực tiễn của thế chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản Đối với các ngân hàng thương mại, để xác định có cho một khách hàng vay hay không sẽ dựa trên các yếu tố của khách hàng như: tính pháp lý được đảm bảo, năng lực tài chính, uy tín trong lịch sử vay, nhu cầu vay vốn hợp lý và tài sản bảo đảm có giá trị Năng lực tài chính và uy tín trong lịch sử vay của khách hàng là một cơ sở để ngân hàng ra quyết định cho vay tuy nhiên vẫn sẽ chứa những rủi ro tiềm ẩn, do vậy việc đưa tài sản bảo đảm (trong đó có tài sản thế chấp) vào hoạt động tín dụng ngân hàng sẽ là một cơ sở chắc chắn để ngân hàng ra quyết định cho vay,là một cam kết chắc chắn để khách hàng thực hiện trả nợ ngân hàng Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ thì tài sản thế chấp sẽ được
Trang 11xử lý để thu hồi tiền cho ngân hàng Để đảm bảo cho việc thu hồi tiền được thuận lợi, trước khi ký kết hợp đồng thế chấp, ngân hàng sẽ định giá tài sản thế chấp cũng như tính pháp lý của tài sản đó và đặc biệt là khả năng thanh khoản của tài sản (dễ dàng trong việc xử lý để chuyển đổi thành tiền) Trong luận văn này, tác giả sẽ đi sâu vào việc chỉ ra những quyền tài sản có thể được dùng làm tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đó
Thứ hai, tác giả cũng đề cập đến thực tiễn thực hiện việc nhận quyền tài sản là tài sản thế chấp tại các Ngân hàng thương mại hiện nay để đưa ra những đánh giá, nhận định về quy định pháp luật hiện hành đã thực sự phù hợp và đáp ứng được sự đòi hỏi của thực tiễn hay chưa? Trên cơ sở bình luận các quy định của BLDS 2015, các nghị định, thông tư về tài sản bảo đảm, biện pháp bảo đảm, pháp luật về bán đấu giá tài sản, quy định của luật tố tụng dân sự, về thi hành án dân sự có liên quan đến việc xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản từ đó đưa ra các giải pháp tổng thể về xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản
Thứ ba, tác giả đưa ra những đề xuất để hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật về thế chấp quyền tài sản cũng như xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản
4 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ về mặt lý luận, cơ sở pháp lý
và thực trạng của các quy định pháp luật về thế chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật
Luận văn tiếp nối các công trình nghiên cứu về thế chấp tài sản và xử lý tài sản thế chấp và đi sâu vào một loại tài sản cụ thể là quyền tài sản Luận văn có mục tiêu nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, làm rõ những bản chất pháp lý của biện pháp thế chấp quyền
tài sản, xây dựng các khái niệm khoa học về thế chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản; phát hiện những đặc điểm pháp lý riêng biệt của thế chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản
Trang 12Thứ hai, xác định phạm vi các loại quyền tài sản là đối tượng của biện
pháp thế chấp; phân tích các điều kiện pháp lý của thế chấp quyền tài sản và
sự ảnh hưởng của nó đến quá trình hình thành, thực hiện hợp đồng thế chấp
Thứ ba, xác định các phương thức cơ bản để xử lý tài sản thế chấp là
quyền tài sản và đánh giá những ưu điểm và hạn chế của từng phương thức đó
để tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất
Thứ tư, đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật dân
sự hiện hành về thế chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản góp phần giúp hoạt động các ngân hàng thương mại thuận lợi hơn trong việc nhận tài sản thế chấp là quyền tài sản nhằm bảo đảm an toàn vốn vay cũng như giảm thiểu những tổn thất ngân hàng thương mại gặp phải trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm là quyền tài sản
5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn:
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn kết hợp các phương pháp trên với một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích kết hợp với bình luận được sử dụng để làm rõ quy định của pháp luật hiện hành về thế chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản; phương pháp tổng hợp nhằm khái quát hóa thực trạng áp dụng pháp luật về thế chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản
để đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật; phương pháp so sánh được áp dụng để tìm ra những nét khác biệt và tương đồng giữa quy định của pháp luật của Việt Nam với các nước khác, giữa nội dung của pháp luật thực định qua các thời kỳ khác nhau; phương pháp tổng kết thực tiễn…nhằm vận dụng giữa kiến thức lý luận và thực tiễn để làm rõ những vấn đề nghiên cứu về thế chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn:
Kết quả đạt được của luận văn góp phần làm rõ phương diện lý luận trong khoa học pháp lý của vấn đề thế chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản Cụ thể: xây dựng được khái niệm và đưa ra những tiêu chí cơ bản nhất để xác định tài sản thế chấp là quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản, phân tích thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với thế
Trang 13chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản, chỉ ra những bất cập của pháp luật và đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền tài sản và xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN TÀI SẢN
Trang 14CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẾ CHẤP QUYỀN TÀI SẢN
1.1 Khái niệm, đặc điểm của thế chấp:
1.1.1 Khái niệm về thế chấp:
Thế chấp là một cách thức mà bên có quyền và bên có nghĩa vụ đã lựa chọn để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ thông qua một tài sản và giá trị của tài sản này có thể tương đương hoặc lớn hơn giá trị của nghĩa vụ Trong lịch sử phát triển của văn minh loài người, hình thức thế chấp hay các hình thức tương tự thế chấp đã được sử dụng từ rất lâu tại các quốc gia cổ đại như
La Mã, Hy Lạp, Ai Cập Sự phát triển của biện pháp thế chấp trong luật La
Mã đã có ảnh hưởng tới sự ra đời, sự thay đổi các quy định pháp luật về thế chấp ở các nước theo hệ thống luật Civil Law (Pháp, Đức, Nhật Bản) Điều này thể hiện trong suốt thế kỷ 19 đến gần hết thế kỷ 20, ở Pháp, thuật ngữ
“thế chấp” được dùng để chi biện pháp bảo đảm không có yếu tố chuyển giao
vật và là biện pháp bảo đảm bằng bất động sản Điều 2114 - BLDS Pháp quy
định: “Thế chấp là một quyền tài sản đối với bất động sản được dùng để đảm
bảo việc thực hiện nghĩa vụ” Cùng với quan điểm đó, Điều 369 BLDS Nhật
Bản cũng quy định: “Người nhận thế chấp có quyền ưu tiên so với các chủ nợ
khác trong việc đáp ứng yêu cầu của mình từ bất động sản mà bên nợ hoặc người thứ ba đưa ra như là một biện pháp bảo đảm trái vụ và không chuyển giao quyền chiếm hữu”
Theo BLDS năm 2015 thì: Khoản 1 Điều 317BLDS 2015 đưa ra khái
niệm “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài
sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)” Khái niệm thế chấp tại
BLDS 2015 với khái niệm tại BLDS 2005 không có sự khác biệt, các nhà làm luật vẫn giữ nguyên các đặc điểm chính của thế chấp tài sản Thế chấp tài sản
được quy định tại Điều 342 BLDS năm 2005: “Thế chấp tài sản là việc một
bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp” BLDS 2015
Trang 15tiếp cận thế chấp dưới góc độ là một giao dịch dạng hợp đồng dựa trên cơ sở nền tảng của lý thuyết trái quyền, bởi chúng được sắp xếp nằm trong phần
“nghĩa vụ và hợp đồng” – nghĩa là thế chấp tài sản cùng chung một quy chế
pháp lý với các quy định chung về nghĩa vụ và hợp đồng Tuy nhiên, đặc điểm vật quyền trong quan hệ thế chấp cũng được thể hiện thông qua quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm tại Điều 298 BLDS 2015 Do đó, về cơ bản những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thế chấp được quy định theo BLDS 2015 của Việt Nam và pháp luật của các nước theo hệ thống luật Civil Law là giống nhau (như tài sản thế chấp không phải chuyển giao, bên thế chấp vẫn có quyền sở hữu đối với tài sản, bên nhận thế chấp có quyền thu giữ tài sản thế chấp, có quyền xử lý tài sản thế chấp nếu đến hạn
mà nghĩa vụ được bảo đảm có sự vi phạm) nhưng vẫn có những điểm khác
nhau cơ bản: Thứ nhất, theo BLDS năm 2015 thì bên thế chấp không có
quyền bán tài sản thế chấp nếu không có sự đồng ý của bên nhận thế chấp (trừ tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh), trong khi đó theo quy định của các nước khác thì bên thế chấp có quyền bán tài sản thế chấp ngay cả khi không có sự đồng ý của bên nhận thế
chấp Thứ hai, BLDS 2015 của Việt Nam mặc dù cho phép bên nhận thế chấp
có quyền xử lý tài sản thế chấp nhưng lại phụ thuộc vào việc bên thế chấp có
tự nguyện chuyển giao tài sản thế chấp để xử lý không, nếu không thì bên nhận thế chấp chỉ có thể thu giữ tài sản thế chấp thông qua thủ tục tư pháp tại Tòa án, trong khi đó pháp luật của các nước khác cho phép bên nhận thế chấp
có quyền kê biên đối với tài sản thế chấp mà không cần có sự đồng ý của bên thế chấp nếu đã chứng minh có hành vi vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm Bên thế chấp phải tôn trọng quyền của bên nhận thế chấp là chủ nợ có đảm bảo và không được phép thực hiện bất cứ một hành vi nào để cản trở việc thu giữ tài
sản của bên nhận thế chấp Thứ ba, BLDS 2015 quy định đăng ký thế chấp
vừa là thủ tục bắt buộc, vừa là thủ tục tự nguyện Việc đăng ký thế chấp là căn cứ để làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng thế chấp nếu pháp luật có quy định và là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận thế chấp, trong khi đó pháp luật các nước khác thì đăng ký thế chấp
Trang 16được coi là thủ tục bắt buộc và đăng ký là một trong các căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên giữa bên nhận thế chấp tài sản với các chủ thể khác (thời điểm chủ thể công khai nắm giữ hợp pháp tài sản bảo đảm của người khác cũng được ghi nhận là một trong các căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán) Với các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law thì thế chấp sẽ có những đặc điểm: Đối tượng của thế chấp là bất động sản; Không có sự chuyển giao quyền chiếm hữu bất động sản thế chấp từ người có nghĩa vụ sang người có quyền
1.1.2 Đặc điểm của thế chấp
Thứ nhất, thế chấp tài sản là thỏa thuận phái sinh mang tính bổ sung cho nghĩa vụ chính Nó không tồn tại độc lập mà luôn phụ thuộc và gắn liền với nghĩa vụ chính mà nó bảo đảm
Thứ hai, mục đích của thế chấp tài sản là nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, qua đó thúc đẩy người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình
Thứ ba, đối tượng của thế chấp tài sản là tài sản trừ trường hợp đặc biệt pháp luật có quy định khác
Thứ tư, phạm vi bảo đảm của thế chấp tài sản không vượt quá nghĩa vụ
đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính, tài sản dùng để thế chấp chỉ bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận Thứ năm, chỉ xử lý tài sản thế chấp khi có sự vi phạm nghĩa vụ, tức là khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì tài sản thế chấp được xử lý theo phương thức các bên đã thỏa thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ
Trong quan hệ thế chấp tài sản thì không có sự chuyển giao tài sản thế chấp từ bên thế chấp sang bên nhận thế chấp Bên thế chấp chỉ phải giao những giấy tờ pháp lý là chứng từ gốc chứng minh quyền sở hữu của mình đối với tài sản thế chấp như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy đăng ký quyền sở hữu tài sản, hợp đồng mua bán cho bên nhận thế chấp Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho bên thế chấp Bên thế chấp vẫn tiếp tục được
Trang 17sử dụng, khai thác công dụng của tài sản thế chấp, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản làm tăng thu nhập
Trong thời hạn hợp đồng thế chấp có hiệu lực, tài sản thế chấp chỉ có tính ổn định tương đối Điều đó có nghĩa là tài sản thế chấp vẫn có khả năng
bị thay đổi trong thời gian này do nhiều nguyên nhân khác nhau như thay đổi
về giá trị tài sản, thay đổi về tình trạng của tài sản thế chấp, thay đổi về trạng thái của tài sản thế chấp, thay đổi về chủ thể gây ra những khó khăn, phức tạp cho bên nhận thế chấp
1.2 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của quyền tài sản
1.2.1 Khái niệm quyền tài sản
Điều 181 BLDS 2005 có định nghĩa về quyền tài sản: "Quyền tài sản là
quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong các giao lưu dân sự" Quyền tài sản có thể chuyển giao trong các giao lưu dân sự phụ thuộc
vào bản chất của chúng có hay không có "gắn với yếu tố nhân thân" và quy
chế pháp lý được dành riêng cho chúng như chúng không thuộc loại tài sản bị pháp luật quy định là loại tài sản bị cấm lưu thông Ví dụ: quyền đòi nợ là quyền tài sản không gắn với nhân thân nhưng quyền yêu cầu cấp dưỡng hay quyền được hưởng lương hưu…là những quyền tài sản gắn với nhân thân Về nguyên tắc, các giá trị nhân thân chỉ thuộc về một chủ thể nhất định, không thể chuyển giao cho người khác BLDS 2015 đã có định nghĩa quyền tài sảnbằng cách liệt kê ra một số quyền tài sản, cụ thể: Theo Điều 115 BLDS
2015 thì: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài
sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác’’ BLDS 2015 đã có thay đổi về định nghĩa quyền tài sản khá
nhiều so với BLDS 2005 Thứ nhất, quyền tài sản theo quy định trong BLDS
2015 không đòi hỏi phải có sự chuyển giao trong giao dịch dân sự Đối với quyền tài sản là đối tượng của giao dịch dân sự phải đáp ứng được hai yêu cầu
là trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao cho người khác trong giao dịch
dân sự Thứ hai, quyền tài sản khác có thể là quyền đòi nợ, quyền sử dụng tài sản thuê, quyền trị giá bằng tiền, quyền thực hiện hợp đồng Thứ ba, những
quyền tài sản khác gắn với nhân thân thì không được chuyển giao như quyền
Trang 18thừa kế, quyền cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tính mạng
Trong số các văn bản dưới luật, có thể dẫn chiếu tới Ðiều 5 của Hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam (tiêu chuẩn số 07 về Phân loại tài sản) ban hành kèm theo Thông tư số 28/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc ban
hành 03 tiêu chuẩn thẩm định giá ngày 06/03/2015: “Quyền tài sản là quyền
trị giá được bằng tiền theo quy định của pháp luật Quyền tài sản bao gồm quyền sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản khác Quyền tài sản là một khái niệm pháp lý, nó bao gồm tất cả các quyền lợi và lợi ích liên quan tới quyền
sở hữu hoặc quyền sử dụng mà người chủ sở hữu,sử dụng tài sản được hưởng một cách hợp pháp….”
Theo tác giả, có thể đưa ra định nghĩa về quyền tài sản như sau: Quyền tài sản là một loại tài sản có trị giá được bằng tiền bao gồm tất cả các quyền
và lợi ích mà chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng quyền được công nhận
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của quyền tài sản
Theo quy định của Điều 115 BLDS 2015, quyền tài sản là một loại tài sản, do vậy nó cũng phải có tất cả các đặc điểm pháp lý của một tài sản nói
chung Thứ nhất, tài sản là những đối tượng mà con người có thể kiểm soát
được Nếu tài sản là vật hữu hình thì con người có thể nắm giữ hoặc chiếm giữ được thông qua các giác quan tiếp xúc; nếu tài sản là vật vô hình thì con người phải có cách thức để quản lý, ví dụ: các tài sản trí tuệ phải được thể hiện trên những "vật mang" nhất định để con người có thể nhận biết được và chủ thể sáng tạo có thể đăng ký xác lập quyền của mình tại các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền Thứ hai, tài sản phải trị giá được bằng tiền:“Theo quan
điểm của Luật học Latinh, tài sản, được hiểu là một vật có giá trị tiền tệ” 1
Trên thực tế phải có các căn cứ để định giá tài sản trị giá bao nhiêu tiền Ở đây cần có sự phân biệt giữa yếu tố giá trị và trị giá được thành tiền của tàisản Tài sản có giá trị được hiểu là tài sản đó có ý nghĩa về mặt tinh thần hay có giá trị sử dụng cụ thể nào đó với mỗi chủ thể khác nhau Ví dụ, những bức tranh được vẽ bởi các danh họa nổi tiếng thì có thể tại thời điểm hoàn
1 Tham khảo Pierre Voirin, Gilles Goubeaux Droit Civil: Personnes – Famille, Incapacité – Biens, Obligations – Sûreté
Ấn bản thứ 27.1999.Tr 26
Trang 19thành những bức tranh đó giá trị của các bức tranh này rất thấp nhưng qua thời gian giá trị của bức tranh được nâng cao bởi sở thích của các nhà sưu tầm
và được định giá thông qua các cơ quan có năng lực và cơ quan đấu giá Như vậy, không phải mọi tài sản có giá trị thì đều có thể trị giá được thành tiền Ngoài các đặc điểm chung của tài sản, quyền tài sản còn có các đặc điểm
riêng như sau: Thứ nhất, quyền tài sản là tài sản vô hình Chúng ta không thể
xác định được quyền tài sản dựa trên các giác quan cơ bản của con người (ngũ
giác) Quyền tài sản chỉ được nhận biết dưới dạng các giấy chứng nhận Thứ
hai, quyền tài sản là có tính thời hạn Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất trong trường hợp đất thuê của Nhà nước, thời hạn thuê thông thường là 50 năm Đối với quyền tài sản là quyền sở hữu trí tuệ thì có thời hạn bảo hộ được ghi trên văn bằng bảo hộ Đối với quyền khai thác tài nguyên khoáng sản sẽ là thời hạn khai thác được ghi trong giấy cấp phép Đối với quyền đòi nợ, quyền phát sinh từ hợp đồng mua bán thời hạn sẽ là thời hạn của hợp đồng
1.2.3 Phân loại quyền tài sản
Quyền tài sản có thể được phân loạitheo các tiêu chí sau:
Thứ nhất, căn cứ vào cách thức thực hiện quyền của chủ thể Quyền tài
sản trong BLDS 2015 có thể được chia làm hai nhóm, quyền đối vật và quyền đối nhân Trong quan niệm của người La-tinh, khối tài sản có của một người được tạo thành từ hai loại quyền: Quyền đối vật – tức là các quyền được thực hiện trên các vật cụ thể và xác định; quyền đối nhân – bao gồm các quyền tương ứng với các nghĩa vụ tài sản mà người khác phải thực hiện vì lợi ích
chủ thể được thực hiện các hành vi trực tiếp trên những vật cụ thể mà không cần sự cho phép hay hợp tác của các chủ thể khác Các quyền tài sản thể hiện dưới dạng quyền đối vật trong BLDS 2015 có thể kể đến là quyền sở hữu, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền đối với bất động sản liền kề; quyền của bên bảo đảm đối với tài sản bảo đảm…
Về mặt tính chất, các quyền đối vật mang những mức độ khác nhau (đầy
đủ và không đầy đủ).Quyền đối vật đầy đủ toàn diện nhất được ghi nhận trong
2 Nguyễn Ngọc Điện, Một số vấn đề về quyền tài sản và hướng hoàn thiện, năm 2010
Trang 20BLDS 2015 chính là quyền sở hữu Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật (Điều 158 BLDS 2015).Quyền sở hữu cho phép người có quyền khai thác trọn vẹn năng lực tạo giá trị vật chất, kinh tế của tài sản Chính chủ sở hữu là người có quyền tối hậu định đoạt tài sản (thông qua việc bán, tặng cho, để thừa kế…) Trong một số trường hợp chủ sở hữu buộc phải sử dụng, phải định đoạt tài sản dù có muốn hay không Ví dụ, người sử dụng đất có nghĩa
vụ sử dụng đất, nếu đất đai không được sử dụng liên tục trong một thời gian dài, kể cả việc sử dụng không đúng mục đích, sẽ bị thu hồi mà không có đền
bù (Điều 64, Điều 82 Luật Đất đai năm 2013) Bên cạnh những quyền đối vật đầy đủ còn có những quyền đối vật không đầy đủ Điển hình cho những quyền đối vật không đầy đủđược quy định trong BLDS 2015 là quyền hưởng dụng (Điều 257), quyền bề mặt (Điều 267), quyền đối với bất động sản liền kề(Điều 245), quyền của bên bảo đảm đối với tài sản bảo đảm (quyền của người cầm cố đối với tài sản cầm cố, quyền của người nhận thế chấp đối với tài sản thế chấp) Bản chất của những quyền này là sự phân rã của quyền sở hữu Ở góc độ nào đó, chủ sở hữu đã chuyển giao cho các chủ thể khác một số quyền năng đối với tài sản của mình (chuyển giao quyền chiếm hữu, quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi hay lợi tức từ tài sản trong một thời hạn nhất định) thông qua một giao dịch dân sự hoặc theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, trong mọi trường hợp chủ sở hữu luôn giữ lại cho mình quyền định đoạt tài sản Những quyền đối vật không đầy đủ nêu trên là quyền đối với tài sản, không được coi là quyền tài sản
Đối lập với quyền đối vật là quyền đối nhân Quyền đối nhân được thiết lập trong mối quan hệ giữa hai người, hai chủ thể của quan hệ pháp luật Có thể hiểu, quyền đối nhân là quyền cho phép một người yêu cầu một người khác đáp ứng đòi hỏi của mình nhằm thoả mãn một nhu cầu gắn liền với một lợi ích vật chất của mình Mối quan hệ giữa hai người này còn gọi là quan hệ
được yêu cầu một chủ thể khác (chủ thể có nghĩa vụ) phải thực hiện một hành
3
Nguyễn Ngọc Điện, Một số vấn đề về quyền tài sản và hướng hoàn thiện, năm 2010
Trang 21vi nhất định, nói cách khác quyền của chủ thể có quyền trong quan hệ nghĩa
vụ chỉ được thỏa mãn thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thể có nghĩa vụ Tiêu biểu cho các quyền tài sản dưới dạng quyền đối nhân theo quy định của BLDS 2015 gồm quyền đòi nợ, quyền yêu cầu cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín
bị xâm phạm…
Thứ hai, quyền tài sản có thể chuyển giao và quyền tài sản không thể
chuyển giao: Bản chất các quyền tài sản là một dạng tài sản theo quy định của Điều 105 BLDS 2015 Khi nhìn nhận quyền tài sản với tư cách là đối tượng của giao dịch dân sự, thì BLDS 2015 phải xác định rõ các quyền tài sản nào
có thể là đối tượng của giao dịch dân sự (được phép chuyển giao), các quyền tài sản nào không thể trở thành đối tượng của giao dịch dân sự (không được phép chuyển giao BLDS 2015 không liệt kê những quyền tài sản nào được phép chuyển giao là đối tượng của các giao dịch dân sự và những quyền tài sản nào không được phép chuyển giao không thể là đối tượng của các giao dịch dân sự Trước đây, BLDS 2005 quy định các quyền tài sản được phép
đem ra bảo đảm là đối tượng của các giao dịch bảo đảm: “Các quyền tài sản
thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, quyền
sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” (Điều 322) Kế thừa khoản 3 Điều 379 BLDS 2005, khoản 3 Điều
377 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp nghĩa vụ là nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi
thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các nghĩa vụ khác gắn liền với nhân thân không thể chuyển cho người khác được thì không được thay thế bằng nghĩa vụ khác” Hiểu rộng ra, quy
định này chỉ hạn chế một số quyền tài sản không được thay thế, chuyển giao trong các quan hệ nghĩa vụ như quyền yêu cầu cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, uy tín và các quyền tài sản gắn liền
Trang 22với nhân thân khác Theo nguyên tắc, các chủ thể của pháp luật dân sự được làm bất kỳ những gì luật không cấm, điều này đồng nghĩa với việc BLDS
2015 cho phép một số quyền tài sản khác được chuyển giao (là đối tượng của các giao dịch dân sự) Ví dụ, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền
sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm…
Thứ ba, quyền tài sản được thực hiện trên vật hữu hình, quyền tài sản
được thực hiện trên vật vô hình và quyền tài sản được thực hiện thông qua hành vi của con người: Căn cứ vào đối tượng tác động của quyền, quyền tài sản có thể được phân chia làm ba nhóm: Các quyền tài sản có đối tượng thực hiện trên những vật hữu hình (vật chất liệu); các quyền tài sản được thực hiện trên vật vô hình và các quyền tài sản được thực hiện thông qua hành vi của con người
Nhóm các quyền tài sản có đối tượng thực hiện trên các vật hữu hình, có thể kể đến như quyền sử dụng đất; quyền sở hữu có đối tượng là vật hữu hình Đặc trưng của nhóm quyền này là chủ thể quyền được thực hiện những hành
vi tác động trực tiếp lên vật hữu hình để thỏa mãn quyền mà không cần đến sự giúp đỡ hay cho phép của chủ thể khác Lưu ý ở đây đối tượng của quyền phải
là vật hữu hình (đất đai, nhà ở, xe máy, ô tô, máy tính…) Do vậy, để có thể thực hiện được quyền của mình thì các chủ thể quyền luôn phải thực hiện hành vi chiếm hữu thực tế đối với tài sản Việc chiếm hữu thực tế tài sản ở góc độ nào đó là một hình thức công khai quyền của chủ thể đối với những người thứ ba khi muốn xác lập quyền lên vật
Cần phân biệt rõ quyền tài sản và quyền đối với tài sản: Theo Bộ Luật dân sự 2015, quyền tài sản là một loại tài sản (Điều 105) Trong khi đó, Quyền đối với tài sản (hay quyền khác đối với tài sản) được quy định là một
“quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác” (Khoản 1 – Điều 159 – BLDS 2015)
Nhóm các quyền tài sản có đối tượng thực hiện trên các vật vô hình gắn liền với hoạt động phát minh, sáng chế, có thể kể đến như quyền đối với sáng chế, quyền đối với giải pháp hữu ích, quyền tài sản là đối tượng của quyền tác
Trang 23giả… Cũng giống như nhóm quyền có đối tượng thực hiện trên vật hữu hình, chủ thể quyền ở đây cũng được chủ động thực hiện hành vi để thỏa mãn quyền của mình mà không cần đến sự đồng ý hay giúp đỡ của người khác Tuy nhiên, có điểm khác biệt với nhóm quyền trên các vật hữu hình ở chỗ, đối tượng của quyền ở đây là những “vật vô hình” Điều này đồng nghĩa với việc thực hiện quyền của chủ thể không nhất thiết phải chiếm hữu tài sản trên thực
tế Đặc điểm này kéo theo hệ quả việc công khai quyền của chủ thể quyền phải được thực hiện thông qua cơ chế đăng ký quyền tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Nhóm các quyền tài sản có đối tượng là hành vi thực hiện nghĩa vụ của người khác: Các quyền tài sản thuộc nhóm này có thể được kể đến như quyền đòi nợ, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo hợp đồng… Đặc trưng cơ bản của nhóm quyền này là các chủ thể quyền muốn thỏa mãn được quyền của mình luôn cần đến sự
“giúp đỡ” của chủ thể khác (sự thực hiện nghĩa vụ của chủ thể mang nghĩa vụ) Người chủ nợ không thể nào có được khoản tiền cho vay nếu con nợ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ
Thứ tư, quyền tài sản phải đăng ký và quyền tài sản không phải đăng ký
Để xác định những quyền tài sản nào phải đăng ký, quyền tài sản nào không phải đăng ký thì không chỉ dựa vào quy định của BLDS 2015 mà còn dựa vào các luật chuyên ngành liên quan như: Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Đất đai… Theo các văn bản này, các quyền tài sản phải đăng ký bao gồm: Quyền sử dụng đất; quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
được thực hiện ở Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất đối với nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai hoặc bộ phận một cửa đối với địa phương đã tổ chức bộ phận một cửa để thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Việc đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được thực hiện ở Cục Sở
4
Điểm a khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
Trang 24hữu trí tuệ trực thuộc Bộ Khoa học – Công nghệ Đối với trường hợp luật không có quy định bắt buộc có thể dùng phương pháp loại trừ, quyền tài sản khác không phải là những quyền tài sản trên không bắt buộc phải đăng ký.Với quyền tài sản là quyền sử dụng đất: Trong pháp luật về đất đai thì đất đai và quyền sử dụng đất là hai khái niệm không đồng nhất (“đất đai” thường được nói đến khi gắn với chủ sở hữu là Nhà nước, “quyền sử dụng đất” thường được nói đến khi gắn với người sử dụng đất) Người sử dụng đất chỉ được chuyển quyền sử dụng đất (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu giữ đất) Nếu đất đai là bất động sản (là vật) thì quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản có tính đặc thù: các quyền của người sử dụng đất được thực hiện trên một thửa đất xác định Do vậy, mặc dù là quyền tài sản nhưng quyền sử dụng đất lại được hưởng các quy chế dành cho bất động sản
1.3 Thế chấp quyền tài sản và những nội dung pháp lý liên quan
1.3.1 Khái niệm thế chấp quyền tài sản:
BLDS 2005 công nhận quyền tài sản là một loại tài sản có thể dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự Ðiều 322 của Bộ luật này nêu một danh sách mở các quyền tài sản mà bên bảo đảm có thể sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình Nhà làm luật phân tách các quyền tài sản thành hai loại chính, đó là quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm và quyền tài sản đặc biệt không thuộc sở hữu của bên bảo đảm, bao gồm quyền
sử dụng đất và quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên Sở dĩ có sự phân biệt này bởi vì theo tinh thần của Hiến pháp, đất đai và tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân Như vậy ngoài hai quyền tài sản đặc biệt là quyền sử dụng đất và quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, các quyền tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm mới được được trở thành đối tượng của giao dịch bảo đảm Danh sách các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản
Trang 25phát sinh từ hợp đồng và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm Nhìn vào danh sách này có thể thấy có ba mảng quyền tài sản chính là quyền sở hữu trí tuệ (quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng), quyền phát sinh từ hợp đồng (bao gồm cả quyền đòi nợ và quyền được nhận số tiền bảo hiểm vì thực chất các quyền này cũng phát sinh
từ các hợp đồng) và phần vốn góp
Cách hiểu về tài sản thế chấp được đúc rút từ những quy định về biện
pháp thế chấp nói chung Điều 342 BLDS năm 2005 quy định: "Thế chấp tài
sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi
là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp" Đến BLDS 2015 không nêu cụ thể quyền tài sản nào được thế chấp
như vậy các nhà làm luật đã mặc định tất cả các tài sản là quyền tài sản đáp ứng được yêu cầu Điều 317 – BLDS 2015 sẽ được dùng để thế chấp
Như vậy, có thể rút ra được định nghĩa thế chấp quyền tài sản: Là việc bên thế chấp (bên sở hữu giấy chứng nhận quyền đối với quyền tài sản) mang giấy chứng nhận quyền đối với quyền tài sản giao cho bên nhận thế chấp nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ của mình/của người thứ 3 đối với bên nhận thế chấp
1.3.2 Những nội dưng pháp lý cơ bản của thế chấp quyền tài sản
1.3.2.1 Các loại quyền tài sản được thế chấp
Tại BLDS 2015, quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng
tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác” 5
BLDS 2015 không hề liệt kê những quyền tài sản nào được phép đem đi bảo đảm nói chung hay thế chấp nói riêng Các quy định trong BLDS 2015 hiện tại chỉ hướng tới thế chấp những tài sản là vật Duy nhất chỉ có hai loại quyền tài sản được nhắc đến có thể dùng để thế chấp là quyền sử dụng đất và quyền đòi nợ được ghi nhận trong văn bản hợp nhất số 8019/VBHN-BTP ngày 10/12/2013 của Bộ Tư pháp (đây
là văn bản hợp nhất Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP) Một số quyền tài sản có thể được thế chấp:
5
Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015
Trang 26Quyền sử dụng đất: quyền sử dụng đất là quyền được tách ra từ quyền sở hữu đất đai và tồn tại độc lập với quyền sở hữu đất đai Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu Như vậy, Nhà nước không thừa nhận quyền sở hữu của bất kỳ chủ thể nào khác ngoài Nhà nước đối với đất đai Nhưng mọi cá nhân, hộ gia đình, tổ chức trong xã hội đều cần có những quyền nhất định đối với đất đai như quyền sử dụng đất để xây dựng nhà ở, nhà máy sản xuất, để trồng trọt, chăn nuôi … Do đó, Nhà nước phải trao cho người dân những quyền nhất định để người dân thỏa mãn nhu cầu của họ Từ nhu cầu thực tế đó, Nhà nước đã trao cho người dân quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất đã được tách khỏi quyền sở hữu và trở thành một quyền độc lập, tồn tại bên cạnh quyền sở hữu đất đai của nhà nước Chủ thể của quyền sử dụng đất là người sử dụng đất Quyền sử dụng đất là quyền trị giá được bằng tiền, có thể chuyển giao hoặc không chuyển giao trong giao dịch dân sự
Quyền đòi nợ: Quyền đòi nợ là quyền yêu cầu trả nợ và được phép chuyển giao theo quy định của pháp luật về chuyển giao quyền yêu cầu Quyền đòi nợ là quyền tài sản (được nhắc đến tại điều 450 – BLDS 2015) Trong văn bản hợp nhất 8019/VBHN-BTP ngày 10/12/2013 thì quyền đòi nợ được dùng làm tài sản thế chấp cho khoản vay (Điều 22)
Quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ: là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống
BLDS 2015) do đó có đặc điểm của quyền tài sản và cũng được dùng làm tài sản thế chấp
Hiện nay việc đăng ký quyền tài sản đang được thực hiện tại 2 cơ quan khác nhau Theo Khoản 7 - Điều 6 – Thông tư 08/2018/TT-BTP ngày 20/06/2018 thì các tài sản thuộc trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng (được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp theo yêu cầu): “Các quyền tài
6
Khoản 2 – Điều 1 – Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009
Trang 27sản theo quy định tại Điều 115 Bộ luật dân sự, trừ quyền sử dụng đất, gồm: a) Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng; quyền đòi nợ; quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên; quyền được bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng; b) Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng thuê đóng tàu biển; quyền bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng mua bán tàu bay, tàu biển; quyền thụ hưởng bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm đối với tàu bay, tàu biển; c) Các quyền tài sản là quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán, quyền được bồi thường thiệt hại, quyền thụ hưởng bảo hiểm phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng góp vốn xây dựng nhà ở, hợp đồng hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh nhà ở, hợp đồng cho thuê, hợp đồng cho thuê mua nhà ở (bao gồm cả nhà ở xã hội) giữa tổ chức với cá nhân hoặc giữa tổ chức, cá nhân với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trong dự án xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở; các quyền tài sản là quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán, quyền được bồi thường thiệt hại, quyền thụ hưởng bảo hiểm phát sinh từ hợp đồng mua bán, hợp đồng góp vốn, hợp đồng hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh, hợp đồng cho thuê, hợp đồng cho thuê mua công trình xây dựng giữa tổ chức với cá nhân hoặc giữa tổ chức, cá nhân với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trong dự án xây dựng công trình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản; d) Quyền tài sản khác theo quy định của pháp luật.” Thủ tục đăng ký các quyền nêu trên được quy định rõ tại Thông tư này và Nghị định 102/2017/NĐ-CP Trong khi đó đối với quyền tài sản là quyền sử dụng đất lại được hướng dẫn đăng ký thế chấp theo Thông tư liên tịch 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23/06/2016 Cơ quan có thẩm quyền đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất là Văn phòng đăng ký đất đai và Chi nhánh của Văn phòng đăng ký đất đai
Theo Điều 317 – BLDS 2015 thì bên thế chấp tài sản không chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp Thực tế, các bên sẽ áp dụng việc chuyển giao các loại giấy tờ cho nhau để ràng buộc trách nhiệm Như vậy, đối với quyền tài sản là một loại tài sản vô hình được thể hiện dưới dạng các loại giấy tờ, giấy chứng nhận quyền (tài sản hữu hình) thì việc thế chấp quyền tài sản có
Trang 28những đặc điểm như thế chấp tài sản đó là: (i) Quyền tài sản phải thuộc sở hữu của bên thế chấp; (ii) Bên thế chấp sẽ không chuyển giao quyền tài sản cho bên nhận thế chấp mà chỉ chuyển giao Giấy chứng nhận quyền của bên thế chấp đối với quyền tài sản đó (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với quyền tài sản là quyền sử dụng đất; hợp đồng và xác nhận công nợ đối với quyền tài sản là quyền đòi nợ)
Do tính vô hình của quyền tài sản (quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ, quyền sở hữu trí tuệ,…) nên các hợp đồng thế chấp quyền tài sản được lập bằng văn bản, trong đó có nêu rõ bên thế chấp (có thể là bên vay vốn hoặc người thứ ba) mô tả kỹ lưỡng quyền tài sản (quyền sử dụng đất; quyền đòi nợ)
và mô tả quyền tài sản dưới dạng Giấy chứng nhận quyền (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hợp đồng kinh tế số…) và các thông tin pháp lý liên quan Hợp đồng thế chấp sau khi ký kết giữa các bên sẽ được công chứng
1.3.2.2 Đăng ký thế chấp quyền tài sản
Theo quy định của Nghị định 102/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/09/2017 thì biện pháp thế chấp sau đây phải đăng ký: Thế chấp quyền sử dụng đất; Thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
vậy có thể thấy không phải quyền tài sản nào cũng phải đăng ký giao dịch bảo đảm Điều này dẫn tới hợp đồng thế chấp chỉ còn ý nghĩa ràng buộc giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp trong các trường hợp thế chấp quyền tài sản như quyền đòi nợ Theo đó, quyền của bên nhận thế chấp đối với quyền tài sản dùng để thế chấp chỉ có hiệu lực đối với bên thế chấp Có thể thấy rằng lợi ích của bên nhận thế chấp sẽ không được bảo đảm tuyệt đối khi có chủ thể thứ ba xuất hiện, cùng có quyền lợi trên tài sản thế chấp Quyền của bên nhận thế chấp chỉ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba sau khi được hoàn thiện Việc hoàn thiện quyền của bên nhận thế chấp được hiểu là bên nhận thế chấp đã thực hiện đăng ký công bố công khai quyền đối với quyền tài sản thế chấp cho người thứ ba biết Sau khi hoàn thiện thì bất cứ người thứ ba nào xác
7 Khoản 1 – Điều 4 – Nghị định 102/2017/NĐ-CP
Trang 29lập các giao dịch tiếp theo trên quyền tài sản thế chấp đều được coi là đã biết
và có nghĩa vụ phải biết về sự tồn tại của vật quyền thế chấp Khi ký kết hợp đồng thế chấp thì quyền đối với tài sản thế chấp chỉ có hiệu lực đối với bên thế chấp và bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, nhưng không có quyền ưu tiên thanh toán khi có chủ nợ khác của bên thế chấp Khi đăng ký công bố quyền thế chấp thì quyền đối với tài sản thế chấp có hiệu lực đối với bên thứ ba và bên nhận thế chấp có quyền truy đòi tài sản thế chấp từ
sự chiếm giữ của bất kỳ ai, có quyền ưu tiên thanh toán theo thứ tự đăng ký,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Như vậy, quyền của bên nhận thế
chấp chỉ được bảo đảm trọn vẹn khi đã tiến hành việc công bố quyền thông qua thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm
Có thể nói, việc đăng ký quyền tài sản có ý nghĩa rất lớn đối với Nhà nước và đối với các chủ thể liên quan Đối với Nhà nước, việc bắt buộc đăng
ký quyền tài sản giúp cho Nhà nước quản lý được sự lưu thông các quyền tài sản này trong xã hội Bên cạnh đó, nó giúp cho Nhà nước xây dựng các chính sách thuế có liên quan (thuế thu nhập, thuế chuyển nhượng, phí trước bạ sang tên và các loại phí liên quan khác) Trong các hợp đồng có đối tượng là quyền tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, thông thường pháp luật Việt Nam quy định hợp đồng sẽ có hiệu lực vào thời điểm công chứng hoặc chứng thực Thời điểm hoàn thành việc đăng ký chuyển giao quyền chính là thời điểm để
chủ sở hữu mới có quyền “đối kháng” với người thứ ba khi có tranh chấp
1.3.2.3 Quản lý quyền tài sản thế chấp
Trong quan hệ thế chấp, tài sản thế chấp không được chuyển từ bên thế chấp cho bên nhận thế chấp, chỉ có các giấy tờ liên quan tới tài sản được chuyển giao Đối với quyền tài sản trong quan hệ thế chấp: bên thế chấp chỉ chuyển giao giấy tờ liên quan tới quyền tài sản (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận độc quyền đối với quyền sở hữu trí tuệ, bản sao hợp đồng kinh tế đối với quyền đòi nợ ) cho bên nhận thế chấp Bên nhận thế chấp có trách nhiệm quản lý lưu trữ các giấy tờ liên quan này
Việc quản lý quyền tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất: Bên nhận thế chấp thực hiện lưu giữ, bảo quản giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đối với
Trang 30đối tượng của quyền sử dụng đất là mảnh đất hiện hữu thì bên nhận thế chấp
có trách nhiệm định kỳ kiểm tra trạng thái của mảnh đất (có bị xâm phạm không, có bị thay đổi về kích thước không, có bị chuyển đổi hay thu hồi bởi Nhà nước không) 3-6 tháng/lần và định kỳ đánh giá lại giá trị quyền sử dụng đất 6-12 tháng/lần
Đối với quyền đòi nợ: Việc bên nhận thế chấp lưu giữ bản sao hợp đồng kinh tế chỉ có giá trị ràng buộc trách nhiệm của bên thế chấp đối với nghĩa vụ với bên nhận thế chấp Mỗi hợp đồng kinh tế lại có đặc điểm riêng khác nhau: thời hạn của hợp đồng, giá trị của hợp đồng, đối tượng của hợp đồng,…Bên nhận thế chấp (trong trường hợp là Ngân hàng thương mại) cần phải nắm rõ bản chất của từng hợp đồng kinh tế, cũng như nắm rõ đặc điểm hoạt động của bên thế chấp để có thể kiểm soát được thời hạn của hợp đồng kinh tế, tránh cho việc hợp đồng đã hết thời hạn mà bên thế chấp không biết Thông thường với các hợp đồng kinh tế có phát sinh nghĩa vụ trả tiền được dùng làm tài sản thế chấp, bên nhận thế chấp sẽ định kỳ hàng quý yêu cầu bên thế chấp cung cấp bản đối chiếu công nợ để kiểm soát được tình trạng khoản nợ
Đối với quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ: khi nhận quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản thế chấp, bên thế chấp có trách nhiệm xác định thời hạn được bảo hộ đối với tương ứng đối với loại quyền sở hữu trí tuệ
mà mình nhận (Theo Luật sở hữu trí tuệ 2005 và Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 cùng với các văn bản liên quan khác)
1.3.2.4 Xử lý quyền tài sản thế chấp
Điều 299 BLDS 2015 quy định các trường hợp mà bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm Các trường hợp này bao gồm: (1) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ (2) Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật (3) Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy
định Theo Khoản 1 Điều 303 – BLDS 2015 thì “Bên bảo đảm và bên nhận
bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm
cố, thế chấp sau đây: a) Bán đấu giá tài sản; b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài
Trang 31sản; c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; d) Phương thức khác” Đây là một quy định mở
bởi vì còn có các khả năng các bên có thể thỏa thuận về các phương thức xử
lý tài sản bảo đảm khác, ngoài 3 phương thức được nêu trên Trong trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản thế chấp thì tài sản sẽ được bán đấu giá (Khoản 2 Điều 303)
Đối với tài sản thế chấp là quyền tài sản, pháp luật không có quy định riêng cho các loại quyền tài sản Do đó, phương thức xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản được thực hiện như xử lý các tài sản thế chấp khác Một vài trường hợp cụ thể như:
Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất: Ngoài 3 phương thức được đề
cập tại khoản 1 Điều 303 BLDS 2015 (điểm a, b,c ) thì phương thức xử lý khác có thể là các bên có thể thỏa thuận về việc đưa tài sản bảo đảm vào khai thác hay cho thuê và số tiền thu được từ việc khai thác hay cho thuê sẽ được
sử dụng vào việc thanh toán các nghĩa vụ bảo đảm Trong một số trường hợp, pháp luật sẽ ấn định phương thức xử lý tài sản bảo đảm là quyền tài sản: khoản 2 - Điều 149 - Luật nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm
2014, việc xử lý tài sản thế chấp là dự án đầu tư xây dựng nhà ở chỉ có thể được thực hiện thông qua việc chuyển nhượng dự án cho một bên đủ điều kiện làm chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở Biện pháp bán đấu giá cũng được
áp dụng đối với quyền sử dụng đất, cụ thể: phương thức bán đấu giá tài sản có thể được sử dụng để xử lý tài sản bảo đảm trong ba trường hợp chính, đó là (i) nếu các bên có thỏa thuận sử dụng phương thức xử lý bảo đảm này, (ii) bán tài sản đã kê biên là động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng và bất động sản (Điều 101, Luật thi hành án dân sự)
Đối với các loại quyền tài sản bảo đảm khác: có thể áp dụng biện pháp bán đấu giá sau khi bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận được với nhau Luật đấu giá 2016 (có hiệu lực từ 01/07/2017) quy định tài sản phải bán thông qua đấu giátài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm; Tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; Tài sản hạ tầng đường bộ và quyền thu phí sử dụng tài sản hạ tầng đường
Trang 32bộ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng và khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; Tài sản là quyền khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về khoáng sản; Tài sản là quyền sử dụng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; Tài sản là quyền sử dụng tần số vô tuyến điện theo quy định của
Ngoài biện pháp bán đấu giá quyền tài sản, Bên nhận bảo đảm có thể tự
bán tài sản theo Điều 195 - BLDS 2015:“người không phải là chủ sở hữu tài
sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật” Điểm b Khoản 1 Điều 303 đã mở ra một ngoại lệ cho bên
nhận bảo đảm là người không phải chủ sở hữu của tài sản bảo đảm được tự bán tài sản bảo đảm Như vậy, để ngân hàng được tự mình bán quyền tài sản thế chấp, chỉ cần các bên có thỏa thuận về phương thức xử lý bảo đảm này,
mà không cần có ủy quyền của bên bảo đảm cho ngân hàng vì mục đích này.BLDS 2015 không đề cập thời điểm mà các bên có thể thỏa thuận về việc ngân hàng tự bán tài sản bảo đảm Có thể hiểu, các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm hoặc vào thời điểm xử lý tài sản bảo đảm
8
Các Điểm d, đ, k, l, m,n - Khoản 1 – Điều 4 – Luật đấu giá tài sản 2016
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG I:
Thế chấp là một biện pháp có tính chất vật quyền nhằm bảo đảm cho quan hệ trái quyền Biện pháp thế chấp được tạo lập từ hợp đồng thế chấp và bên nhận thế chấp sẽ hoàn thiện quyền trên tài sản thế chấp thông qua việc đăng ký Hiện nay, dưới góc độ học thuật cũng như dưới góc độ pháp luật thực định đều không có khái niệm chính thống về quyền tài sản BLDS năm
2015 quy định về quyền tài sản dưới dạng liệt kê các dạng tồn tại của quyền tài sản Quy định này đã bộc lộ nhiều bất cập dưới góc độ lý luận và thực tiễn
áp dụng khi không chỉ ra được bản chất và những đặc trưng pháp lý của quyền tài sản
Xác định các đặc điểm pháp lý của quyền tài sản và thế chấp quyền tài sản (thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, không chuyển giao trong các giao lưu dân sự), những quyền tài sản được dùng làm tài sản thế chấp, hình thức của thế chấp quyền tài sản, công bố quyền trên quyền tài sản dùng để thế chấp nhằm khẳng định về tư cách chủ thể có quyền xử lý tài sản thế chấp và các phương thức cơ bản để xử lý tài sản thế chấp là quyền tài sản, là những nội dung mang tính cốt yếu về mặt lý thuyết để tạo căn cứ cho việc phân tích đánh giá pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng liên quan đến nội dung của luận văn ở chương 2
Trang 34CHƯƠNG II THỰC TIỄN VỀ THẾ CHẤP QUYỀN TÀI SẢN TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng Ngân hàng thương mại cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau Nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng thương mại rất phong phú và đa dạng cùng với sự phát triển của khách hàng, khoa học kỹ thuật kinh
tế và xã hội, hoạt động của Ngân hàng thương mại cũng có nhiều phương pháp mới, nhưng các nghiệp vụ kinh doanh về cơ bản không thay đổi là nhận tiền gửi và hoạt động cho vay, đầu tư Qua Ngân hàng thương mại các chính sách tài chính tiền tệ của Quốc gia sẽ được thực hiện một cách nhanh chóng
và cũng nhờ nó mà việc kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp theo đúng luật pháp được dễ dàng hơn Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Ngân hàng luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội Trong cơ chế thị trường, các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng cũng là các doanh nghiệp nhưng chúng là những doanh nghiệp đặc biệt vì tài sản trong quá trình kinh doanh của các Ngân hàng thương mại đều phụ thuộc vào các khách hàng
Phân loại Ngân hàng thương mại theo hình thức sở hữu:
Ngân hàng sở hữu tư nhân: Là Ngân hàng do cá thể thành lập bằng vốn
của cá nhân Loại Ngân hàng này thường nhỏ, phạm vi hoạt động thường là trong từng địa phương và thường gắn liền với doanh nghiệp và cá nhân ở địa phương
Ngân hàng sở hữu của các cổ đông (Ngân hàng cổ phần): Ngân hàng
này được thành lập thông qua phát hành (bán) các cổ phiếu, việc nắm giữ các
cổ phiếu cho phép người sở hữu có quyền tham gia quyết định các hoạt động của Ngân hàng, tham gia chia cổ tức từ thu nhập của Ngân hàng đồng thời phải chịu tổn thất có thể xảy ra Do vốn sở hữu được hình thành thông qua tập trung, các Ngân hàng cổ phần có khả năng tăng vốn nhanh chóng vì vậy
Trang 35thường là các Ngân hàng lớn và có phạm vi hoạt động rộng, đa năng, có nhiều chi nhánh hoặc công ty con
Ngân hàng sở hữu nhà nước: Đây là loại hình Ngân hàng mà vốn sở hữu
do nhà nước cấp, có thể là nhà nước Trung ương hoặc tỉnh, thành phố Các Ngân hàng này được thành lập nhằm thực hiện một số mục tiêu nhất định, thường là do chính sách của chính quyền Trung ương hoặc địa phương quy định Ở các nước đi theo con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, Nhà nước thường quốc hữu hóa các Ngân hàng tư nhân hoặc cổ phần lớn, hoặc tự xây dựng nên các Ngân hàng Những Ngân hàng này thường được Nhà nước hỗ trợ về tài chính và bảo lãnh phát hành giấy nợ, do vậy rất ít khi bị phá sản, tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các Ngân hàng này phải thực hiện các chính sách của Nhà nước có thể bất lợi trong hoạt động kinh doanh
Ngân hàng liên doanh: Ngân hàng này được hình thành trên góp vốn của
hai hay nhiều bên, thường là giữaNgân hàng trong nước với Ngân hàng nước ngoài để tận dụng lợi thế của nhau
Phân loại ngân hàng thương mại chia theo tính chất hoạt động:
Ngân hàng chuyên doanh và đa năng: Ngân hàng hoạt động theo
chuyên doanh: loại Ngân hàng này chỉ tập trung cung cấp một số dịch vụ ngân hàng, như chỉ cho vay đối với xây dựng cơ bản, hoặc đối với Nông nghiệp, hoặc chỉ cho vay (không bảo lãnh hoặc cho thuê) Tính chuyên môn hóa cao cho phép Ngân hàng có được đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ, tuy vậy loại Ngân hàng này thường gặp rủi ro rất lớn khi ngành hoặc lĩnh vực hoạt động mà Ngân hàng phục vụ sa sút Ở Việt Nam giai đoạn trước năm 1990 thì có những ngân hàng chuyên doanh như: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (chuyên phục vụ nông nghiệp nông dân nông thôn), Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (chuyên phục vụ các doanh nghiệp xuất khẩu), ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (chuyên tài trợ xây dựng cơ bản) Các ngân hàng này đều là ngân hàng
có sở hữu của Nhà nước 100% Đến khi có pháp lệnh ngân hàng ngày 23/05/1990, định nghĩa Ngân hàng thương mại thì các ngân hàng trên đã phân tán dần các hoạt động tài trợ của mình vào các lĩnh vực khác nhằm
Trang 36giảm thiểu rủi roc ho chính ngân hàng Ngân hàng đa năng: Là Ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ Ngân hàng cho mọi đối tượng, đây là xu hướng hoạt động chủ yếu hiện nay của các ngân hàng thương mại, Ngân hàng đa năng thường là Ngân hàng lớn Tính đa dạng sẽ làm Ngân hàng tăng thu nhập và hạn chế rủi ro
Ngân hàng bán buôn và Ngân hàng bán lẻ: Ngân hàng bán buôn là Ngân
hàng chủ yếu cung cấp các dịch vụ cho các Ngân hàng, các công ty tài chính, cho Nhà nước, cho doanh nghiệp lớn Ngân hàng bán buôn thường là những Ngân hàng lớn hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc tế, cung cấp các tài khoản tín dụng lớn Ngân hàng bán lẻ thường cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân các khoản tín dụng nhỏ Ở Việt Nam không có một ngân hàng nào thuộc hẳn ngân hàng bán buôn hay ngân hàng bán lẻ, chỉ có các ngân hàng có xu hướng tài trợ bán buôn hay bán lẻ Ví
dụ một số ngân hàng lớn tại Việt Nam (nhóm “Big 4” gồm: VCB, VietinBank, BIDV, Agribank) thì tỷ trọng dư nợ bán buôn thường chiếm 70-80% tổng dư nợ (giai đoạn trước 2012) Trong khi đó các ngân hàng khác thì
có tỷ trọng bán buôn – bán lẻ là 50-50 hoặc nghiêng về phía bán lẻ Trong 5 năm trở lại đây, các ngân hàng lớn đã dần chuyển trọng tâm tài trợ của mình
về phía lĩnh vực bán lẻ, giảm tỷ trọng cho vay đối với bán buôn, canh trạnh rất mạnh mẽ đối với các ngân hàng khác
Phân loại Ngân hàng thương mại chia theo cơ cấu tổ chức:
Ngân hàng sở hữu công ty và Ngân hàng không sở hữu công ty: Ngân
hàng sở hữu công ty: là Ngân hàng nắm giữ phần lớn vốn của công ty, cho phép Ngân hàng được quyền tham gia quyết định các hoạt động cơ bản của công ty Các Ngân hàng không sở hữu công ty: có thể do vốn nhỏ, hoặc quy định của luật không cho phép
Ngân hàng đơn nhất được hiểu là Ngân hàng không có chi nhánh, tức là
các dịch vụ Ngân hàng chỉ do một cơ sở Ngân hàng cung cấp Ngân hàng có chi nhánh thường là Ngân hàng tương đối lớn, cung cấp dịch vụ Ngân hàng thông qua nhiều đơn vị Ngân hàng, việc thành lập chi nhánh thường bị kiểm soát chặt chẽ bởi Ngân hàng Nhà nướcthông qua các quy định về mức vốn sở
Trang 37hữu, về chuyên môn của đội ngũ cán bộ, về sự cần thiết của các dịch vụ Ngân hàng trong vùng
Nghiệp vụ quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại là luân chuyển vốn từ nơi dư thừa đến nơi thiếu (cho vay), nhờ có nghiệp vụ này mà ngân hàng thương mại đóng vai trò như mạch máu của nền kinh tế quốc gia Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại thực hiện dựa trên việc cung cấp vốn cho các doanh nghiệp,cá nhân có nhu cầu bằng việc 2 bên cam kết thực hiện nghĩa vụ: bên cho vay cam kết cung cấp đủ nguồn vốn như nhu cầu và bên vay cam kết hoàn trả số vốn vay kèm theo lãi đúng kỳ hạn quy định Ngoài ra để bảo đảm cho việc thực hiện cam kết của bên vay, bên vay sẽ phải dùng tài sản của mình (hoặc của bên thứ 3) để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình Tài sản có thể là là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai Quyết định cấp tín dụng của ngân hàng ngoài việc dựa trên đánh giá về năng lực tài chính, hiệu quả phương án kinh doanh của khách hàng còn dựa trên đánh giá về tài sản bảo đảm Với những tài sản bảo đảm có giá trị cao, có tính thanh khoản tốt, Ngân hàng thường “tự tin” hơn trong việc
ra quyết định cho vay Ngược lại với những tài sản có tính thanh khoản thấp, khó quản lý, Ngân hàng sẽ hạn chế nhận
Trong danh mục tài sản nhận thế chấp của ngân hàng thương mại, chiếm
tỷ trọng lớn về số lượng cũng như giá trị chính là quyền sử dụng đất Đối với ngân hàng thương mại, quyền sử dụng đất được phân vào danh mục bất động sản Đây là loại tài sản có giá trị lớn, tính thanh khoản ở mức khá, và với đặc điểm “đất không thể tự sản sinh”, giá trị của quyền sử dụng đất càng ngày càng tăng, ngân hàng có xu hướng ưu tiên nhận tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất (chỉ đứng sau sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi)
2.2 Quy định về thế chấp quyền tài sản tại một số Ngân hàng thương mại
2.2.1 Quy định của một số ngân hàng thương mại về quyền tài sản được thế chấp
Tuy định nghĩa quyền tài sản theo BLDS 2015 bao gồm cả quyền sử
Trang 38loại quyền sử dụng đất vào tài sản thế chấp là bất động sản, tách quyền sử dụng đất riêng biệt so với các quyền tài sản khác Điều này là kết quả của việc trong khoảng 20 năm trở lại đây, giá trị quyền sử dụng đất ngày càng tăng lên dẫn tới các Ngân hàng thương mại “ưa thích” nhận tài sản bảo đảm là quyền
sử dụng đất hơn so với các quyền tài sản khác Ngoài ra, pháp luật cũng có sự thay đổi khi chuyển từ quy định các loại quyền tài sản nào được dùng làm tài sản bảo đảm (Điều 322 BLDS 2005) thành mọi quyền tài sản đều có thể được dùng làm tài sản bảo đảm (BLDS 2015 không quy định cụ thể quyền tài sản nào được dùng hay không được dùng làm tài sản bảo đảm)
Một số ngân hàng tại Việt Nam quy định các quyền tài sản được nhận thế chấp làm tài sản bảo đảm (ngoại trừ quyền sử dụng đất như phân tích ở trên) bao gồm: quyền đòi nợ, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền
sở hữu trí tuệ, quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền phát sinh từ hợp đồng thuê dài hạn văn phòng, địa điểm kinh doanh, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai, quyền tài sản khác Tuy vậy, mức cấp tín dụng đối với các tài sản này sẽ có những khác biệt nhất định, có ngân hàng thương mại quy định mức cấp tín dụng tối đa trên giá trị quyền tài sản thế chấp khác nhau đối với từng quyền tài sản
Đối với quyền tài sản là quyền sử dụng đất, mức cấp tín dụng trong khoảng 50%-70% giá trị được định giá của quyền sử dụng đất
Đối với quyền tài sản là quyền đòi nợ: mức cấp tín dụng cao nhất là 70% giá trị tài sản bảo đảm (đối với quyền đòi nợ có bảo lãnh thanh toán của Tổ chức tín dụng), 50% đối với trường hợp bên có nghĩa vụ thanh toán không phải là doanh nghiệp mới thành lập, có quy mô trình bình, lớn, được ngân hàng cho vay đánh giá ở mức tốt, 0% với các trường hợp còn lại
Đối với quyền tài sản là quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên: mức cấp tín dụng cao nhất 40% trên tổng chi phí mà bên bảo đảm đã nộp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (lệ phí cấp phép hoạt động khoáng sản, tiền ký quỹ phục hồi môi trường, chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng, chi phí đầu tư xây dựng mỏ theo báo cáo khả thi về khai thác khoáng sản đã được phê duyệt ) nhưng không được vượt quá giá trị trữ
Trang 39lượng khai thác còn lại của tài sản
Đối với quyền tài sản là quyền sở hữu trí tuệ: mức cấp tín dụng là 0% Đối với quyền tài sản là quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp: mức cấp tín dụng là 0%
Đối với quyền tài sản là quyền phát sinh từ hợp đồng thuê dài hạn văn phòng, địa điểm kinh doanh: mức cấp tín dụng tối đa 40% số tiền thuê đã trả theo hợp đồng thuê ký kết với bên có chức năng cho thuê trừ đi tiền thuê đã trả cho thời gian sử dụng
Đối với quyền tài sản là quyền phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai: mức cấp tín dụng tối đa 70% giá trị đối với tài sản
đã hình thành nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu, 50% đối với tài sản đang trong quá trình thi công xây dựng
Đối với các quyền tài sản khác: 0%
Như vậy, từ mức cấp tín dụng trên giá trị quyền tài sản thế chấp của một
số ngân hàng thương mại, có thể thấy “khẩu vị” của các ngân hàng thương mại đối với mỗi quyền tài sản có sự khác biệt rất lớn Với những quyền tài sản là quyền sử dụng đất, quyền tài sản là quyền phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai, quyền đòi nợ có bảo lãnh thì mức cấp tín dụng cao hơn hẳn so với các quyền tài sản khác Theo thông tin tham khảo
từ 4 ngân hàng lớn nhất tại Việt Nam thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất chiếm khoảng 89-90% về số lượng và 95-97% về giá trị trên tổng danh mục tài sản thế chấp tại các ngân hàng này Điều này thể hiện đánh giá của Ngân hàng thương mại đối với khả năng có thể xử lý của các quyền tài sản này trong trường hợp cần phải xử lý để thu hồi nợ, quyền tài sản nào càng khó xử
lý thì mức cấp tín dụng càng thấp Trường hợp với các quyền tài sản có mức cấp tín dụng bằng 0% thì người vay phải thế chấp thêm các tài sản khác để bảo đảm cho khoản vay của mình, lúc này quyền tài sản thế chấp chỉ mang tính bổ sung
Việc các Ngân hàng có “ưu ái” đối với quyền tài sản là quyền sử dụng đất hơn so với các quyền tài sản khác dựa trên cơ sở về việc Nhà nước có nhiều quy định về quyền sử dụng đất và hướng dẫn chi tiết về thế chấp cũng
Trang 40như xử lý thế chấp đối với tài sản là quyền sử dụng đất hơn so với các quyền tài sản khác: Luật Đất đai 2013, Luật Nhà ở 2014, Thông tư liên tịch 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23/06/2016 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, Thông tư 23/2014/TT-BTMT ngày 29/12/2014 về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, Nghị định 44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định về giá đất, Với nhiều văn bản quy định và hướng dẫn về quyền sử dụng đất cũng như thế chấp và xử lý quyền sử dụng đất đã khiến cho các ngân hàng thương mại cảm thấy “yên tâm” để nhận quyền sử dụng đất hơn so với các quyền tài sản khác
2.2.2 Quy định của một số ngân hàng thương mại về xử lý quyền tài sản thế chấp
Ngân hàng cho vay có thể lựa chọn một trong số các phương thức xử lý sau: (i) ngân hàng cho vay phát mại tài sản bảo đảm công khai; (ii) Thỏa thuận các bên cùng bán tài sản bảo đảm; (iii) Thỏa thuận giao cho bên có tài sản bảo đảm tự bán tài sản; (iv) Tiếp nhận tài sản bảo đảm từ cơ quan thi hành
án và các cơ quan có thẩm quyền khác; (v) ngân hàng cho vay trực tiếp nhận các khoản tiền, tài sản từ bên thứ 3; (vi) ngân hàng cho vay nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm; (vii) ngân hàng cho vay ủy quyền cho tổ chức có chức năng bán đấu giá tài sản thực hiện bán tài sản bảo đảm Tham khảo văn bản nội bộ của một số ngân hàng lớn tại Việt Nam (Vietinbank, BIDV), có thể nhận thấy các ngân hàng tuy có hướng dẫn về thủ tục xử lý tài sản thế chấp nhưng phần lớn các quy trình đều dựa trên tinh thần của các văn bản hướng dẫn hiện có (Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2016 về giao dịch bảo đảm, nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 sửa đổi nghị định 1632006, thông tư liên tịch 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/06/2014) Các ngân hàng chưa thực sự xây dựng được một quy trình xử lý tài sản bảo đảm là quyền tài sản một cách cụ thể, chi tiết đối với từng loại quyền tài sản để có thể được gọi
là “cẩm nang xử lý quyền tài sản”