- Nghiên cứu về xác lập quyền Sở hữu công nghiệp thì có công trình nghiên cứu Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thùy Linh với đề tài “Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn đ
Trang 2tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRẦN THỊ KIM HƯƠNG
Trang 3NHTT : Nhãn hiệu tập thể
SHCN : Sở hữu công nghiệp
NHHH : Nhãn hiệu hàng hóa
Trang 4MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NHÃN HIỆU TẬP THỂ VÀ XÁC LẬP QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU TẬP THỂ 7
1.1 Khái quát về nhãn hiệu tập thể 7
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu tập thể 7
1.1.2 Đặc điểm của nhãn hiệu tập thể 11
1.1.3 Vai trò của nhãn hiệu tập thể 14
1.1.4 Chức năng của nhãn hiệu tập thể 16
1.1.5 Phân biệt nhãn hiệu tập thể với một số loại nhãn hiệu khác và chỉ dẫn địa lý 20
1.2 Khái quát về xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể 23
1.2.1 Khái niệm về xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể 23
1.2.2 Đặc điểm của xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể 24
1.2.3 Ý nghĩa của việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN XÁC LẬP QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU TẬP THỂ TẠI TỈNH HÀ NAM 27
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể 27
2.1.1 Căn cứ xác lập và quyền đối với nhãn hiệu tập thể 27
2.1.2 Yêu cầu đối với đơn đăng kí nhãn hiệu tập thể 33
2.1.3 Thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể 38
2.1.4 Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể 43
2.2 Thực tiễn xác lập quyền đối vỡi nhãn hiệu tập thể tại tỉnh Hà Nam 44
Trang 5nhãn hiệu tập thể 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63 CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NHÃN HIỆU TẬP THỂ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÁC LẬP QUYỀN TẠI TỈNH HÀ NAM 64 3.1 Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về nhãn hiệu tập thể 64 3.2 Giải pháp thi hành trên thực tế nhằm nâng cao hiệu quả xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể tại tỉnh Hà Nam 69 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sở hữu trí tuệ (SHTT) ngày càng chứng tỏ là một công cụ đắc lực đối với sự phát triển của doanh nghiệp Thực tiễn cho thấy, nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã rất thành công nhờ có chính sách đúng đắn về SHTT cũng như việc áp dụng chiến lược
sử dụng quyền SHTT một cách có hiệu quả trong quá trình sản xuất, chế biến và kinh doanh, mở rộng thị trường
Nước ta gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đặt ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức, trong đó có vấn đề SHTT Luật SHTT Việt Nam được thông qua năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã có tác dụng khuyến khích, tạo điều kiện cho các hoạt động sáng tạo, cạnh tranh lành mạnh trong sản xuất, kinh doanh, chuyển giao các tài sản trí tuệ, phát triển khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Nền sản xuất hàng hóa không ngừng hoàn thiện và đã đạt được những bước tiến mới, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường và thương mại quốc tế Với yêu cầu của thị trường sản xuất hàng hóa, kỹ thuật công nghệ sản xuất ngày một tân tiến, cách thức quản lý trở lên nhịp nhàng hơn, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đã giảm song chất lượng tăng lên chính là động lực thúc đẩy sự sáng tạo không ngừng của con người nhằm tạo ra những sản phẩm là hàng hóa và dịch vụ ngày một đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Đến một thời điểm nhất định, các sản phẩm không khác nhau về hình thức, chất lượng thì các nhà sản xuất, kinh doanh cần có một dấu hiệu để người tiêu dùng có thể nhớ đến một cách ấn tượng nhất và có thể phân biệt với những sản phẩm cùng loại khác Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng cần được cung cấp các thông tin cần thiết để đưa ra quyết định của mình Nhãn hiệu đã được hình thành từ đó Ngày nay, nhãn hiệu tập thể ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của mình, bởi qua nhãn hiệu tập thể thể hiện
sự uy tín của nhà sản xuất, kinh doanh đối với khách hàng của mình, còn với người tiêu dùng, họ đang dần dần hình thành ý thức mua sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ
mà họ tin tưởng thông qua nhãn mác cụ thể Chính vì vậy, việc cung cấp nền tảng
Trang 7pháp lý vững chắc cho nhãn hiệu tập thể là một việc hết sức cần thiết mà quốc gia nào cũng cần ưu tiên lưu tâm
Nhãn hiệu tập thể ngày nay không còn trở nên xa lạ, thuật ngữ sở hữu trí tuệ (SHTT) ngày càng được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam, kể từ khi Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành và nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới Tuy nhiên, sự hiểu biết về sở hữu trí tuệ còn rất hạn chế Không phải ai, người nào hay doanh nghiệp nào cũng hiểu thấu đáo về thuật ngữ này và nhất là vận dụng trong cuộc sống, trong hoạt động sản xuất, kinh doanh… Đối với nhiều người, SHTT vẫn còn là một khái niệm pháp lý mơ hồ ít liên quan đến cuộc sống hàng ngày
Cùng với xu thế mở rộng giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng diễn
ra mạnh mẽ và quá trình toàn cầu hóa nhanh chóng đã đặt SHTT vào vị trí trung tâm Từ một chủ đề ít được chú ý, thì nay SHTT là một yếu tố then chốt trong việc hoạch định chính sách cũng như xây dựng kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp
Với những vai trò to lớn, NHTT góp phần nâng cao giá trị sản phẩm đặc sản của địa phương, từ đó tăng thu nhập cho bà con từ việc sản xuất và kinh doanh sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể NHTT bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người tiêu dùng, biết được nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm hoặc dịch vụ NHTT góp phần đảm bảo quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho chủ sở hữu (là đại diện của tập thể) và tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản phẩm đặc thù của địa phương ngày càng chất lượng và có thị trường tiêu thụ rộng rãi hơn Vì vậy việc nghiên cứu về NHTT và đặc biệt là xác lập quyền (sở hữu công nghiệp đối) với NHTT là một việc làm rất cần thiết Hơn nữa Hà Nam lại là một tỉnh có nhiều những làng nghề, nhiều thương hiệu nổi tiếng Chính vì vậy, tác giả đã chọn và làm rõ hơn đề tài “Xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể - Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại tỉnh Hà Nam”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến việc nghiên cứu các quy định pháp luật về việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu nói chung và NHTT nói riêng đã có nhiều đề tài nghiên cứu, các bài viết liên quan trên báo và các tạp chí chuyên ngành như:
Trang 8- “Bảo hộ NHTT, nhãn hiệu chứng nhận tại Việt Nam - Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” Khoá luận tốt nghiệp Văn Thanh Phương; Người hướng dẫn: TS Vũ
Thị Hải Yến Hà Nội, 2012 Khóa luận này đã làm sáng rõ về cơ sở lí luận về nhãn hiệu tập thể, hơn nữa cũng đã chỉ ra một số những vấn đề về bảo hộ nhãn hiệu trong thực tiễn
- “Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, nghiên cứu so sánh giữa pháp luật liên minh Châu Âu và Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ của Phan Ngọc Tâm năm 2011 Công trình
đã làm nền tảng so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật với các nước khác cho luận văn của tác giả
- “Bảo hộ NHTT ở Việt Nam”, Khoá luận tốt nghiệp Bùi Văn Bằng; Người
hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Tuyết - Hà Nội, 2010 đã làm điểm tựa cho tác giả về
cơ sở lí luận, về nhãn hiệu, nhãn hiệu tập thể theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành
- “Xác định khả năng phân biệt của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ luật học của Đỗ Thị Hồng năm 2008
- “Nhãn hiệu có khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng dưới góc độ
so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ”, Luận văn
Thạc sỹ luật học của Đàm Thị Diễm Hạnh năm 2009
- PGS.TS Đoàn Năng: “ Về thực trạng và phương hướng tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền SHCN ở nước ta hiện nay” đã chỉ ra những ưu và khuyết
điểm hiện hành của hệ thống pháp luật Việt Nam về vấn đề sở hữu công nghiệp trong đó có nhãn hiệu tập thể từ đó tác giả kế thừa và nâng cao những quan điểm trong công trình này
- Luận văn Thạc sỹ của Quế Thị Trâm Ngọc năm 2017; PGS.TS Trần Văn Hải
về “Bảo hộ nhãn hiệu tập thể qua thực tiễn thi hành tại tỉnh Nghệ An” Công trình
đã một lần nữa tập trung nghiên cứu về bảo hộ nhãn hiệu tập thể đặc biệt là về điều kiện bảo hộ, xác lập quyền ngay trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 9- Nghiên cứu về xác lập quyền Sở hữu công nghiệp thì có công trình nghiên
cứu Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thùy Linh với đề tài “Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp”
Các công trình trên đây đã phần nào nghiên cứu những vấn đề pháp lý hoặc
cơ sở lý luận cho việc bảo hộ nhãn hiệu và xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể, chẳng hạn như luận văn thạc sỹ của Quế Thị Ngọc Trâm phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến NHTT, chưa nêu ra được các điểm bất cập trong quy định của luật Hơn nữa, phần thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền thì luận văn chỉ tập trung phân tích thực trạng trong việc thực thi quyền tại tỉnh Nghệ An Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về xác lập quyền đối với NHTT
và cũng chưa ứng dụng để đánh giá thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hà Nam
3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận văn là luận giải căn cứ
lý luận và thực tiễn để kiến nghị các giải pháp khả thi cho việc sửa đổi, ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến việc xác lập quyền đối với NHTT Mười ba năm kể từ khi luật SHTT 2005 ra đời tạo hành lang pháp lý cao nhất cho việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu nói chung và NHTT nói riêng theo đúng quy định của pháp luật đã bộc lộ những điểm hạn chế Kèm theo đó, sự bất cập trong thực tiễn đã đặt ra sự cấp thiết để nhìn nhận và nghiên cứu lại những hạn chế, thiếu sót trong nội hàm các quy định của pháp luật Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm sáng
tỏ vấn đề về mặt lý luận và cơ sở pháp lý cho việc xác lập quyền đối với NHTT ở Việt Nam; Nghiên cứu các quy định của pháp luật các nước trên thế giới về xác lập quyền đối với NHTT; Từ thực trạng xác lập quyền đối với NHTT ở tỉnh Hà Nam để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả xác lập quyền đối với NHTT
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt
Nam về xác lập quyền SHCN đối với NHTT Bên cạnh quy định của pháp luật Việt Nam, luận văn cũng nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật của các nước trên thế giới để so sánh đối chiếu với pháp luật Việt Nam Ngoài ra, luận
Trang 10văn cũng nghiên cứu vụ việc trong thực trạng xác lập quyền SHCN đối với NHTT, tìm ra những điểm còn hạn chế trong quy định của Luật cũng như trong thực tế thực hiện quyền đối với NHTT của chủ sở hữu đặc biệt tại tỉnh Hà Nam
4 Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp đối chiếu,
so sánh, khái quát hoá, phương pháp logic và phương pháp lịch sử trong việc phân tích và luận giải những vấn đề đã đặt ra, phương pháp thu thập số liệu, xử lí và đánh giá số liệu, phương pháp quan sát Đồng thời luận văn cũng kế thừa và sử dụng một số kết quả nghiên cứu, chuyên đề khoa học có liên quan đến xác lập quyền đối với NHTT
Cụ thể, ở chương 1, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp các quy định của pháp luật Việt Nam về NHTT và xác lập quyền với NHTT Ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh với những quy định của nước ngoài để thấy rõ sự khác nhau trong từng hệ thống pháp luật của các quốc gia Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng kèm một số những biện pháp logic và phương pháp lịch
sử trong việc phân tích
Ở chương 2, ngoài các phương pháp đã sử dụng ở chương 1, tác giả còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp thu thập số liệu, xử lí
và đánh giá số liệu, phương pháp quan sát để tăng thêm thông tin khách quan và góc nhìn thực tiễn cho bài viết Phương pháp thu thập thông tin, bình luận và đánh giá thực trạng của quy định pháp luật hiện hành và việc triển khai các quy định trong thực tế tại tỉnh Hà Nam về xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể
Ở chương 3, tác giả sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, liên hệ và phát triển thêm những kết quả nghiên cứu khoa học khác Chủ yếu ở chương 3- Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu tập thể và giải pháp nâng cao hiệu quả xác lập quyền tại tỉnh Hà Nam, tác giả lồng ghép giữa ý kiến cá nhân và thực trạng pháp luật hiện hành dựa trên cơ sở phương pháp quan sát và thu thập thông tin từ chương 2
Trang 115 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Rất nhiều các đề tài nghiên cứu về nhãn hiệu tập thể nói chung, nhưng luận văn là tài liệu trong số rất ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu về xác lập quyền SHCN đối với NHTT tại Việt Nam và đặc biệt là luận văn đầu tiên nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hà Nam Luận văn đã có những ý nghĩa khoa học như sau:
• Làm sáng tỏ về mặt lý luận về xác lập quyền đối với NHTT;
• Làm rõ về hệ thống xác lập quyền đối với NHTT theo pháp luật Việt Nam;
• Nghiên cứu pháp luật của một số nước về NHTT và phân tích so sánh đối chiếu với pháp luật Việt Nam;
• Chỉ ra thực trạng đăng ký và sử dụng NHTT tại tỉnh Hà Nam và xây dựng các kiến nghị phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật về xác lập quyền đối với NHTT Luận văn trực tiếp góp phần trong việc tiếp tục bổ sung, phát triển và làm phong phú thêm lý luận về bảo vệ môi trường trong xác lập quyền với nhãn hiệu tập thể Các kết quả nghiên cứu của tác giả có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo tin cậy đối với những công trình nghiên cứu có liên quan trong phạm vi và đối tượng điều chỉnh của luận văn Qua đó góp phần kiến nghị, sửa đổi những quy định hiện nay trong hệ thống pháp luật về SHTT
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tham khảo, nội dung Luận văn bao gồm có ba chương:
Chương 1: Khái quát về NHTT và xác lập quyền đối với NHTT
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành xác lập quyền đối với NHTT tại tỉnh Hà Nam
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu tập thể và giải pháp nâng cao hiệu quả xác lập quyền tại tỉnh Hà Nam
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NHÃN HIỆU TẬP THỂ VÀ XÁC LẬP
QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU TẬP THỂ
1.1 Khái quát về nhãn hiệu tập thể
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu tập thể
Để hiểu biết thế nào là nhãn hiệu tập thể (NHTT), trước tiên cần tìm hiểu nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) là gì? Qua những nghiên cứu về khảo cổ học, người ta đã xác định được ngay từ 3000 năm trước Công nguyên, những người thợ thủ công Ấn
Độ đã chạm khắc chữ ký của họ trên các sản phẩm do mình tạo ra với mục đích để phân biệt hàng hoá của họ với những hàng hóa của thương nhân khác Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa, đặc biệt là sự phát triển của nền kinh tế thị trường và thương mại quốc tế, các nhãn hiệu ngày càng đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng Bên cạnh chức năng chính là phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các nhà sản xuất khác nhau trên thị trường, cung cấp thông tin cho người tiêu dùng trong việc lựa chọn sản phẩm dịch vụ, trong thời đại ngày nay, nhãn hiệu còn là biểu tượng cho hình ảnh và danh tiếng cho doanh nghiệp, là yếu tố quyết định tính cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường và là một tài sản có giá trị đặc biệt Khoản 1 Điều 15 Hiệp định TRIPS quy định “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu
tố hình họa và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải
có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa
Tại Điều 785 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995 “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc” Trước khi Luật
Sở hữu trí tuệ ra đời, Nghị định 63/CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ
Trang 13quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp cũng đã có giải thích nhưng chưa đưa ra khái niệm về nhãn hiệu hàng hóa (Nghị định 63 sử dụng thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa”) Tuy nhiên, những giải thích này còn sơ sài và chưa hiểu đúng bản chất thế nào là nhãn hiệu Nghị định có giải thích “Nhãn hiệu hàng hóa” được hiểu là bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ Thay vì giải thích thế nào là nhãn hiệu hàng hóa, Nghị định chỉ đưa ra giải thích về mặt nội dung bao hàm của nhãn hiệu hàng hóa là bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ Khắc phục những thiếu sót của Nghị định 63, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (SHTT) đã đưa ra khái niệm của nhãn hiệu trong phần giải thích từ ngữ như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” (Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT 2005) Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận Theo quy định của SHTT, nhãn hiệu trước hết là một dấu hiệu Dấu hiệu để đăng ký được danh nghĩa là nhãn hiệu phải là một dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, chữ
số, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc một số màu sắc nhất định Theo quy định nêu trên, thì những dấu hiệu không nhìn thấy được hoặc không thể hiện dưới dạng vật chất thì sẽ không được dùng làm nhãn hiệu Quy định này đã loại trừ các nhãn hiệu là nhãn hiệu mùi vị hay âm thanh
Luật nhãn hiệu Mỹ coi các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả dấu hiệu mùi vị, âm thanh Do vậy, chúng ta có thể thấy rằng quy định của
Mỹ đã mở rộng phạm vi hơn so với quy định của pháp luật Việt Nam Nhưng không phải bất kỳ dấu hiệu nào cũng có thể được sử dụng làm nhãn hiệu mà nhãn hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của những tổ chức, cá nhân khác nhau Chức năng phân biệt là một yếu tố quan trọng khi xác định một dấu hiệu làm nhãn hiệu của một chủ thể 1
Tóm lại, nhãn hiệu hàng hóa là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ này với các nhà sản xuất,
1 Lê Đình Nghị và Vũ Thị Hải Yến, Giáo trình Luật SHTT- Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
Trang 14nhà cung cấp dịch vụ khác trên thị trường, hay chỉ dẫn đền nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ
Một dấu hiệu có khả năng đăng ký nhãn hiệu phải đáp ứng được các tiêu chuẩn do các Cơ quan nhãn hiệu quốc gia đặt ra và các tiêu chuẩn quốc tế Có hai tiêu chí chính để xem xét (i.) Nhãn hiệu phải độc đáo và/hoặc có khả năng phân biệt các sản phẩm/dịch của doanh nghiệp này với các sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp khác (ii.) Nhãn hiệu không mô tả sản phẩm/dịch có thể gây hiểu lầm hoặc vi phạm các trật tự xã hội và các đạo đức xã hội
NHTT được ghi nhận tại Điều 7bis, Công ước Pari năm 1883, tuy nhiên Công ước này không đưa ra khái niệm về NHTT, cũng không quy định về cách thức bảo
hộ Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng chỉ quy định về NHTT như sau: “NHHH bao gồm cả dịch vụ, NHTT và nhãn hiệu chứng nhận) (Khoản 1 Điều
6 Chương 2) Các điều ước quốc tế trên chỉ mới đề cập mà chưa đưa ra khái niệm cụ thể về NHTT Đây cũng là vấn đề có nhiều điểm không thống nhất giữa pháp luật các nước
Cũng giống như nhãn hiệu, ở Việt Nam trước đây NHTT không được quy định trong Bộ luật dân sự 1995 mà được đề cập đến trong Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp (SHCN)
Trước khi Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) ra đời, Nghị định 63/CP cũng đã đưa ra một khái niệm về NHTT trong phần giải thích từ ngữ như sau: “NHTT là nhãn hiệu hàng hóa được tập thể các cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác cùng sử dụng, trong đó mỗi thành viên sử dụng một cách độc lập theo quy chế do tập thể đó quy định” Theo quy định của Nghị định 63/CP nêu trên thì NHTT là nhãn hiệu hàng hóa và được tập thể các cá nhân, pháp nhân cùng sử dụng theo một quy chế do tập thể quy định Quy định này của Nghị định chỉ nêu bật được NHTT là gì và chủ thể của nhãn hiệu này là ai chứ không thể hiện được khả năng phân biệt của nhãn hiệu Trong khi đó khả năng phân biệt của nhãn hiệu là yếu tố vô cùng quan trọng khi xác định một dấu hiệu có phải là NHTT hay không Khắc phục được các thiếu sót đó, Luật SHTT đã quy định tại Điểm 17 Điều 4 như sau: “ NHTT là nhãn hiệu dùng để
Trang 15phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu
đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”
Để hiểu rõ hơn khái niệm NHTT, chúng ta cần hiểu trước tiên thế nào là “tập thể” Theo từ điển Tiếng Việt “Tập thể là một nhóm chính thức có tổ chức, thống nhất, thực hiện mục đích chung, phù hợp với lợi ích xã hội” Tập thể là một nhóm chính thức, nhưng không phải bất cứ nhóm nào cũng là một tập thể Tập thể có các dấu hiệu sau:
Về quan hệ tổ chức, trong tập thể sẽ xác lập những mối quan hệ rõ ràng, chặt
chẽ giữa chủ thể quản lý và các thành viên, hoạt động vì các mục tiêu và lợi ích chung của tập thể Quyền và nghĩa vụ của chủ thể quản lý và thành viên được quy định chính thức và được tuân thủ chặt chẽ
Về quan hệ quản lý, trong tập thể có sự phân chia chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn cụ thể Trong đó, chủ thể quản lý sẽ chịu trách nhiệm điều hành, kiểm soát việc tuân thủ các quy định mà tập thể đã đặt ra, xử lý các hành vi vi phạm do việc không tuân thủ hoặc làm trái các quy định của tập thể… Hoạt động của các thành viên sẽ tuân theo sự quản lý của chủ thể quản lý theo một sự chỉ đạo thống nhất và có kỷ luật, quy chế hoạt động rõ ràng
Về quan hệ tài chính, trong tập thể sẽ hình thành nên các quỹ tiền tệ và hình
thành nên mối quan hệ trong việc sử dụng và phân phối các quỹ tiền tệ Lợi ích trong tập thể được phân chia công bằng cho các thành viên
Về mục đích hoạt động, để thực hiện một mục đích chung mà tập thể đề ra phù
hợp với sự phát triển của xã hội
Chính những đặc điểm riêng của “tập thể” đã tạo nên những khác biệt trong vấn đề sở hữu và xác lập quyền, trong tổ chức quản lý và sử dụng NHTT NHTT quy định của mỗi quốc gia lại có sự khác nhau Ở Mỹ quy định “NHTT sẽ được hiểu bao gồm nhãn hiệu thông thường hoặc nhãn hiệu dịch vụ mà được sử dụng bởi một tập thể hoặc một hiệp hội hoặc một tổ chức mà tập thể, tổ chức hay hiệp hội có
Trang 16ý định sử dụng một cách trung thực trong thương mại và nộp đơn đăng ký dựa trên người được ủy quyền theo quy định”
Không giống như ở Việt Nam, khái niệm theo Luật Mỹ tập trung vào khía cạnh chủ sở hữu của NHTT, không đưa ra các yếu tố về khả năng phân biệt của nhãn hiệu Tuy nhiên, để một dấu hiệu được đăng ký làm NHTT theo luật Mỹ thì dấu hiệu đó cũng phải đáp ứng đủ điều kiện là có khả năng phân biệt Nếu như Luật
Mỹ chú trọng đến chủ sở hữu của NHTT và đề cập đến vấn đề sử dụng NHTT thì Luật nhãn hiệu của Anh đưa ra những quy định về NHTT dựa trên quy định về chủ
sở hữu và khả năng phân biệt của NHTT Tại Điều 49 Luật Nhãn hiệu của Anh có quy định về NHTT như sau: “NHTT là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của thành viên của hiệp hội là chủ sở hữu của nhãn hiệu đó với những người thuộc các doanh nghiệp khác” Tuy nhiên, luận văn vẫn nghiên cứu và phát triển khái niệm NHTT theo Luật SHTT 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009: “NHTT là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”
Trên cơ sở đó, có thể hiểu NHTT là nhãn hiệu của một tập thể các nhà sản xuất (thường là một hiệp hội, hợp tác xã, tổng công ty…) trong đó, tổ chức tập thể xây dựng quy chế chung về việc sử dụng nhãn hiệu tập thể (như các chỉ tiêu chung
về chất lượng, nguồn gốc phương pháp sản xuất…) và các thành viên có quyền sử dụng nhãn hiệu nếu hàng hóa, dịch vụ của họ đáp ứng tiêu chuẩn đó NHTT có thể xem như một hình thức liên kết hiệu quả trong việc tiếp thị sản phẩm, dịch vụ của một nhóm doanh nghiệp
1.1.2 Đặc điểm của nhãn hiệu tập thể
Nhãn hiệu tập thể cũng mang những đặc điểm chung của nhãn hiệu thông thường và có thêm những đặc điểm riêng của nó Xem xét đặc điểm của NHTT chúng ta xem xét trên cả những đặc điểm chung của nhãn hiệu thông thường và chỉ
ra những điểm khác biệt của NHTT
Trang 17Thứ nhất, NHTT phải là một nhãn hiệu có tính phân biệt Nhưng tính phân
biệt của NHTT không phải là giữa cá nhân với cá nhân đơn thuần hay giữa cá nhân với tổ chức như nhãn hiệu thông thường, tính phân biệt của NHTT được hiểu là giữa thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT với tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó Điều này có nghĩa là NHTT trước tiên phải là một nhãn hiệu thông thường có khả năng phân biệt với cách thức thể hiện và phạm vi phân biệt như sau:
Cách thức thể hiện: Khả năng phân biệt của NHTT sẽ được thể hiện qua các dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc và
có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác Điều này hoàn toàn đúng bởi lẽ chức năng chính của nhãn hiệu là chức năng phân biệt Do đó, nếu không đảm bảo được tính phân biệt thì nhãn hiệu đó không thể là một nhãn hiệu thông thường nói chung và NHTT nói riêng Đặc điểm này của NHTT không những được quy định trong Luật SHTT của Việt Nam mà một số nước trên thế giới cũng quy định về khả năng phân biệt của NHTT
Phạm vi phân biệt: Khả năng phân biệt được xem xét trong phạm vi giữa thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT với tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó Đây là yếu tố quan trọng khi xem xét điểm khác nhau giữa NHTT với nhãn hiệu thông thường
Thứ hai, chủ sở hữu của NHTT phải là một tổ chức
Không giống như nhãn hiệu thông thường, chủ sở hữu có thể là cá nhân hoặc
tổ chức Đối với NHTT, chủ thể đăng ký chỉ có thể là tổ chức Tại sao không quy định là “tập thể” mà lại quy định là “tổ chức” Giữa tập thể và tổ chức có sự khác nhau, tổ chức là một nhóm người làm việc chung với nhau nhằm mục đích điều hành hoặc quản lý một công việc nào đó chứ không phải là một nhóm chính thức có
tổ chức, thống nhất thực hiện mục đích chung dựa trên cơ sở thỏa mãn và kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung như đối với tập thể Tổ chức trong quy
Trang 18định về NHTT sẽ là danh từ chung để chỉ các chủ thể có thể là hợp tác xã, hiệp hội, công ty…
Việc quy định chủ sở hữu của NHTT là tổ chức phù hợp với chức năng của NHTT là dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của thành viên của tổ chức là chủ sở hữu của NHTT với hàng hóa, dịch vụ của thành viên không phải là thành viên của
tổ chức đó Và thành viên này có thể là cá nhân hoặc tổ chức
Thứ ba, việc sử dụng NHTT của các thành viên của tổ chức phải tuân thủ theo
một quy định chung được thể hiện trong quy chế sử dụng của NHTT Các quy định này thường là các quy định về tiêu chuẩn để trở thành thành viên của tổ chức là chủ
sở hữu của NHTT, điều kiện sử dụng NHTT tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm mang NHTT… Các quy định này trong quy chế đòi hỏi sự chấp hành của các thành viên Sự tuân thủ này được thể hiện qua chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà thành viên sử dụng phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng trong quy chế Hay phải đáp ứng các điều kiện được sử dụng NHTT như phải sản xuất, kinh doanh sản phẩm mang NHTT… Nếu thành viên nào cung cấp sản phẩm kém chất lượng, không đáp ứng được các điều kiện trong quy chế thì tổ chức đại diện có thể xem xét không cho thành viên đó được tiếp tục sử dụng NHTT Điều này bắt nguồn từ đặc điểm sản phẩm, dịch vụ bắt nguồn từ địa danh cụ thể, nên việc cung cấp một sản phẩm, dịch
vụ kém chất lượng của một thành viên sẽ làm ảnh hưởng đến thành viên khác và làm ảnh hưởng đến uy tín của sản phẩm, dịch vụ tại một vùng nhất định
Thứ tư, lợi ích của một thành viên trong việc sử dụng NHTT gắn liền với lợi
ích của tập thể NHTT thường mang lại giá trị kinh tế cho một nhóm người là thành viên của tổ chức sở hữu NHTT đó.2
Không như nhãn hiệu thông thường, giá trị kinh tế của nó gắn với một cá nhân hoặc một tổ chức nhất định, NHTT gắn liền với nhiều thành viên trong tổ chức sở hữu NHTT Vì đặc điểm này mà ngày nay NHTT là một công cụ hữu hiệu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ xây dựng và phát triển Đối với một doanh nghiệp nhỏ và vừa có được sự nhận biết và sự trung thành của người tiêu dùng là một nhiệm vụ hết
2 Lê Thị Vân (2013), Bảo hộ quyền SHCN đối với NHTT, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật (Đại học quốc gia Hà Nội), Hà Nội
Trang 19sức khó khăn Không tính đến chất lượng hàng hóa, việc làm cho người tiêu dùng biết đến hàng hóa đòi hỏi khoản đầu tư đáng kể có thể vượt quá ngân sách của nhiều doanh nghiệp Cùng nhau hợp tác là một chiến lược đúng đắn khiến các cá nhân, tổ chức có thể phát triển chiến lược marketing cho các sản phẩm của mình sử dụng NHTT
Những quy định về NHTT không giống nhau ở mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể cũng như quan điểm lập pháp riêng mà họ có thể đưa ra các quy định cụ thể liên quan đến việc công nhận một nhãn hiệu là NHTT
1.1.3 Vai trò của nhãn hiệu tập thể
Thông thường, nhãn hiệu tập thể hay đi liền với tên địa danh để chỉ sản phẩm
có xuất xứ từ địa phương và vùng lãnh thổ mang địa danh đó Việt Nam từ lâu là một nước nông nghiệp, mỗi vùng miền đều có nét đặc trưng riêng về điều kiện tự nhiên (khí hậu, thổ nhưỡng), nên sản phẩm nông nghiệp có những nét đặc thù riêng của từng vùng miền mà vùng khác không thể có được hoặc sản phẩm có chất lượng không bằng Việc chọn lựa và bảo hộ nhãn hiệu tập thể đi liền với tên địa danh chắc chắn sẽ đem đến nhiều lợi ích cho tập thể và cho các thành viên của tập thể Danh tiếng và chất lượng của sản phẩm xuất xứ từ vùng mang địa danh chắc chắn sẽ nhanh chóng được người tiêu dùng gần xa đón nhận
Hơn nữa, sản phẩm có gắn nhãn hiệu sẽ giúp người tiêu dùng nhận biết và ghi nhớ nhiều hơn về sản phẩm đó Và một khi sản phẩm đó ngon và có chất lượng vượt trội hơn so với những sản phẩm cùng loại khác, người tiêu dùng sẽ nhớ và tìm mua khi có nhu cầu tiêu dùng ở lần tiếp theo Ngược lại, nếu sản phẩm không có nhãn hiệu thì người tiêu dùng không thể nào biết được sản phẩm đó có nguồn gốc từ đâu
Ngoài ra, nhãn hiệu tập thể có tên địa danh đi kèm khi gắn trên sản phẩm cũng được coi là dấu hiệu đảm bảo về mặt chất lượng cho người tiêu dùng vì rằng danh tiếng về sản phẩm từ vùng địa danh đó đã được khẳng định theo thời gian
Nói chung, nhãn hiệu tập thể được xem là phương thức hiệu quả để các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các hợp tác xã, hội làm vườn, hội ngành nghề, …
Trang 20quảng bá sản phẩm của tập thể ra thị trường, qua đó giúp đỡ từng hội viên phát triển sản phẩm của mình Nếu không có tập thể, từng cá nhân chắc khó có nhãn hiệu riêng cho sản phẩm của mình, và như vậy sản phẩm làm ra sẽ không thể bán với giá cao do người tiêu dùng không tin tưởng
Không những thế, “nhãn hiệu tập thể” còn có vai trò rất lớn đối với sản phẩm nông nghiệp:
Thứ nhất, được Nhà nước hỗ trợ và tạo nhiều điều kiện thuận lợi để các hội
ngành nghề trong cả nước bảo tồn và phát triển nhãn hiệu tập thể cho các sản phẩm đặc trưng của vùng Các đề án xây dựng và bảo hộ nhãn hiệu tập thể cho các địa phương được trung ương và điạ phương hỗ trợ về kinh phí xây dựng, quảng bá và đăng ký bảo hộ nên mang đến nhiều lợi ích cho các hội viên tham gia hội và sử dụng nhãn hiệu tập thể
Thứ hai, các hộ kinh doanh cá thể, hộ làm vườn, nhà nông, … do không có
nhiều kinh phí nên không thể xây dựng và phát triển nhãn hiệu hay thương hiệu riêng cho mình Việc tham gia hội và sử dụng nhãn hiệu tập thể sẽ giúp nhà nông dễ tiêu thụ sản phẩm làm ra hơn, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc tràn ngập thị trường nên sản phẩm không có nhãn hiệu thường rất khó tiêu thụ
Thứ ba, hội viên cùng sử dụng nhãn hiệu tập thể chỉ tốn một chi phí cho việc
đăng ký và quảng bá nhãn hiệu nhưng lại có được nhãn hiệu để nhiều người cùng sử dụng cho sản phẩm của mình, qua đó nâng cao giá trị sản phẩm của vùng góp phần cải thiện được đời sống cho các hội viên
Thứ tư, tham gia tập thể, hội làm vườn, … ngoài việc các hội viên có được
nhãn hiệu tập thể để quảng bá cho sản phẩm của mình, hội viên sẽ được tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật, được tập huấn và hỗ trợ thường xuyên về kỹ năng canh tác, được chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm canh tác với nhau, được hỗ trợ cách phòng chống dịch bệnh cho sản phẩm, … nên sản phẩm làm ra sẽ có chất lượng đồng đều, năng suất cao nên rất được giá, đời sống nhà nông qua đó được cải thiện Ngược lại, nếu sản xuất đơn lẻ, nhà nông sẽ gặp nhiều khó khăn, như là sản phẩm có hình dáng
Trang 21không đồng đều, tỉ lệ sản phẩm đạt chất lượng thấp, số lượng ít, cộng với việc không có thương hiệu nên thường bị ép giá và không tiêu thụ được ở siêu thị hay thành phố lớn
Thư năm, khả năng tiếp cận thị trường lớn nhiều hơn, phần lớn các sản phẩm
nông nghiệp ít có khả năng tiếp cận với thị trường lớn vì không có nhãn hiệu Các
hộ sản xuất nông nghiệp khi thu hoạch thường bán lại cho thương lái tại địa phương hoặc tiêu thụ tại chỗ nên giá bán thường không cao Khi tham gia hội ngành nghề, sản phẩm làm ra của hội viên tập hợp lại được nhiều hơn nên có thể cung cấp ổn định cho siêu thị và thành phố lớn nên sẽ bán được giá hơn
Thứ sáu, với mọi loại hàng hóa, sản phẩm có thương hiệu và thông tin rõ ràng
luôn luôn có giá cao hơn sản phẩm không có thương hiệu, và trái cây không là một ngoại lệ Ngày nay người tiêu dùng chỉ an tâm khi sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng nên sản phẩm không có thương hiệu thì khó tiêu thụ và cạnh tranh trên thị trường
Ví dụ: có thể thấy rằng trước khi Bưởi Bạch Đằng - Tân Uyên có “thương hiệu” thì các hộ trồng bưởi ở Bạch Đằng bán cho các thương lái có giá từ 300.000- 350.000 đồng/chục quả, trong khi đó thương lái gắn nhãn hiệu riêng của họ và bán ra thị trường với giá 500.000 - 600.000 đồng/chục Hiện nay, sau khi Bưởi Bạch Đằng có
“thương hiệu” nhiều khách hàng đã tìm đến mua, đặt hàng lâu dài
Thứ bảy, nhãn hiệu tập thể là công cụ tiếp thị và quảng bá các sản phẩm mang
đặc trưng của một vùng nhất định nhanh nhất thị trường Lợi thế về địa danh đã được khẳng định nên sản phẩm dễ dàng được người tiêu dùng đón nhận (Theo bài viết của Minh Đức (Phòng Quản lý chuyên ngành) - Lợi ích của việc xác lập quyền cho Nhãn hiệu tập thể).3
1.1.4 Chức năng của nhãn hiệu tập thể
Như chúng ta đã biết, người tiêu dùng khi lựa chọn một sản phẩm hay một dịch vụ, họ thường quan tâm tới nguồn gốc của sản phẩm, dịch vụ đó Để người tiêu dùng có thể phân biệt một sản phẩm, dịch vụ nhãn hiệu phải chỉ được nguồn gốc
3 Minh Đức (Phòng Quản lý chuyên ngành)- Lợi ích của việc xác lập quyền cho nhãn hiệu tập thể):
http://thuonghieu24h.com.vn/loi-ich-cua-viec-xac-lap-quyen-cho-nhan-hieu-tap-the-1-2-2053995.html
Trang 22của sản phẩm, dịch vụ này Điều này không có nghĩa là nhãn hiệu phải thông tin cho người tiêu dùng về thông tin của sản phẩm như chủ sở hữu, nơi sản xuất… Chỉ cần người tiêu dùng có thể tin tưởng vào doanh nghiệp nhất định là người đã sản xuất ra sản phẩm hay cung ứng dịch vụ mà không nhất thiết phải biết đến về doanh nghiệp
đó Một khi lấy được niềm tin của người tiêu dùng trên thị trường cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã thành công trên con đường kinh doanh; đưa sản phẩm, dịch vụ đến với người tiêu dùng Thực tế đây là một vấn đề không dễ dàng đối với các doanh nghiệp, điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải đảm bảo được chất lượng, mẫu mã rồi giá thành của sản phẩm… lúc đó mới tạo được ấn tượng và niềm tin đối với người tiêu dùng
Chức năng chỉ dẫn nguồn gốc như trên đã cho thấy nhãn hiệu phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp khác Chỉ khi nhãn hiệu cho phép người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm bán dưới nhãn hiệu đó với sản phẩm của doanh nghiệp khác trên thị trường thì lúc đó nhãn hiệu đã hoàn thành chức năng này Điều này cho thấy các chức năng này tuy khác nhau nhưng thực tế nó phụ thuộc vào lẫn nhau và cần được xem xét cùng nhau
Vậy NHTT có nhiều chức năng như trên không? NHTT trước hết phải là một nhãn hiệu do đó cũng có những chức năng của một nhãn hiệu thông thường Chúng
ta có thể khái quát lại một số chức năng như sau:
a) Chức năng phân biệt sản phẩm, dịch vụ của NHTT
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đó là sự đa dạng về sản phẩm, dịch vụ Các doanh nghiệp đều đưa ra những hàng hóa, dịch vụ đặc trưng riêng của doanh nghiệp mình để tạo ra một chỗ đứng trên thị trường Người tiêu dùng khi lựa chọn hàng hóa, dịch vụ chủ yếu dựa vào các dấu hiệu được sử dụng làm NHTT mà thành viên sử dụng nhãn hiệu gắn trên sản phẩm hay bao bì khi đưa ra thị trường Như trên đã phân tích, không phải nhãn hiệu nào cũng thể hiện rõ chủ sở hữu, nơi sản xuất… do đó khi người tiêu dùng nhận biết được NHTT đối với sản phẩm, dịch vụ
Trang 23của một chủ thể nhất định thì lúc đó NHTT đã đạt được chức năng phân biệt sản
phẩm, dịch vụ của mình Đó cũng là chức năng phân biệt của NHTT
Không giống như nhãn hiệu thông thường, chức năng phân biệt được thể hiện
ở phạm vi là giữa tổ chức, cá nhân khác nhau NHTT có chức năng phân biệt sản phẩm, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT với những sản phẩm, dịch vụ của những cá nhân, tổ chức không phải là thành viên của tổ chức đó Như vậy, chức năng phân biệt của NHTT có một đặc điểm riêng đặc trưng đó là phạm vi phân biệt ở đây được xem xét giữa các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu của NHTT với những cá nhân, tổ chức không phải là thành viên của tổ chức đó Chỉ dẫn địa lý (cũng là một đối tượng được bảo hộ quyền của SHCN) có chức năng phân biệt sản phẩm có nguồn gốc từ địa danh được bảo hộ với sản phẩm cùng loại có nguồn gốc từ địa danh khác Khác biệt với chỉ dẫn địa lý, đối với trường hợp NHTT không gắn với địa danh cụ thể thì trong một địa phương có thể có nhiều tổ chức đại diện cho tập thể, cá nhân khác nhau, bởi vậy cũng có thể có nhiều NHTT, nhưng chỉ có duy nhất một chỉ dẫn địa lý cho một loại sản phẩm trong một địa phương Như vậy, khi sản phẩm của một địa phương chưa đủ các yếu tố cần thiết để bảo hộ chỉ dẫn địa lý, thì bảo hộ NHTT là một công cụ hữu hiệu để nâng cao khả năng cạnh tranh của tập thể doanh nghiệp này so với tập thể doanh nghiệp khác
b) Chức năng thông tin về hàng hóa, dịch vụ
NHTT có chức năng thông tin gián tiếp về sản phẩm hay dịch vụ “Nhìn vào NHTT người tiêu dùng có thể nghĩ đến nguồn gốc, chất lượng, giá cả của sản phẩm, dịch vụ Họ biết được sản phẩm được chế tạo từ vật liệu gì, có tốt không và quan trọng là nó có phù hợp với nhu cầu của họ và họ cũng hoàn toàn tin tưởng vào sản phẩm hay dịch vụ mang NHTT đó Chính vì thế mà nó có chức năng thông tin gián tiếp về sản phẩm hay dịch vụ”
Cũng giống như chức năng nói trên, chức năng thông tin về sản phẩm dịch vụ được thể hiện bởi đặc điểm đặc trưng của NHTT đó là thông tin cho các sản phẩm, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT đó, nó không đơn thuần
Trang 24là thông tin cho tổ chức, cá nhân nhất định Vì thế, danh tiếng mà NHTT đem lại cho các chủ thể là thành viên của tổ chức sẽ có phạm vi lớn hơn
Do người tiêu dùng có thể sử dụng NHTT để nhận biết loại hàng hóa, dịch vụ
sẽ thỏa mãn nhu cầu của họ Do đó việc sử dụng của người tiêu dùng có khuynh hướng khuyến khích chủ sở hữu nhãn hiệu duy trì chất lượng ổn định cho hàng hóa, dịch vụ được chào bán dưới dạng NHTT của họ Trong kinh doanh, giá trị cố hữu trong việc giành được sự trung thành, tin tưởng của người tiêu dùng đối với NHTT
cụ thể thông qua việc duy trì chất lượng ổn định của sản phẩm, được xem như là
“danh tiếng” đi kèm với NHTT Người tiêu dùng sử dụng thông tin về nguồn gốc cũng như chất lượng có thể tin được của sản phẩm để củng cố quyết tâm mua hàng của mình
c) Chức năng quảng cáo
Một chức năng đặc biệt quan trọng của NHTT là sử dụng chúng để tiếp thị hay quảng cáo sản phẩm, dịch vụ vì nhãn hiệu là một cách thức vô cùng cô đọng để chỉ sản phẩm, dịch vụ Điều này dựa trên khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của NHTT đối với người tiêu dùng Chúng ta xem xét đối với trường hợp NHTT của
“Vinataba” cho sản phẩm “Thuốc lá điếu” Trên các phương tiện thông tin đại chúng bây giờ chỉ cần xuất hiện chữ “Vinataba” là chúng ta biết được ngay đó là của Tổng công ty thuốc lá Việt Nam cho sản phẩm “Thuốc lá điếu” Và như vậy Vinataba đã hoàn thành được chức năng quảng cáo của mình Hiện nay, Vinataba không chỉ dừng lại ở NHTT mà nó đã trở thành nhãn hiệu nổi tiếng được nhiều người biết đến Đây có thể là một trong những ví dụ điển hình của sự thành công trong việc xây dựng thương hiệu và kinh doanh
Một ưu điểm của chức năng quảng cáo của NHTT so với nhãn hiệu thông thường đó là NHTT không chỉ có chức năng quảng cáo cho một tổ chức hay nhãn hiệu nhất định (như đối với sản phẩm thông thường) mà chức năng quảng cáo của NHTT ở đây là cho tất cả các thành viên của tổ chức (có thể là tổ chức, cá nhân) là chủ sở hữu NHTT đó Vì thế, danh tiếng mà NHTT đem lại cho các thành viên sử dụng NHTT đó sẽ có phạm vi rộng hơn
Trang 251.1.5 Phân biệt nhãn hiệu tập thể với một số loại nhãn hiệu khác và chỉ dẫn địa
lý
1.1.5.1 Nhãn hiệu tập thể với một số loại nhãn hiệu khác
Pháp luật SHTT Việt Nam ghi nhận các loại nhãn hiệu được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp như: nhãn hiệu thông thường, NHTT, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu nổi tiếng tại các khoản 16,17,18,19,20 Luật SHTT năm
2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 Theo quy định pháp luật, các loại nhãn hiệu này có những điểm giống nhau và những điểm riêng biệt, trong nội dung luận văn tác giả xin phân biệt ba loại nhãn hiệu gồm: nhãn hiệu thông thường, NHTT và nhãn hiệu chứng nhận qua các phương diện để chỉ ra những đặc trưng cơ bản của NHTT:
Tiêu chí Nhãn hiệu thông
thường
Nhãn hiệu tập thể Nhãn hiệu chứng
nhận Khái
niệm
“Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hang hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá
(Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009)
“Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu
đó với hàng hoá, dịch
vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó” (Khoản 17 Điều 4 Luật SHTT
2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009)
“Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch
vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng,
độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc
Trang 26tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu (Khoản 18 Điều 4 Luật SHTT
2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009) Chức
năng
Phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức cá nhân khác nhau
Phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức sở hữu NHTT này với các cá nhân, tổ chức không phải là thành viên của tổ chức
Chứng nhận hàng hóa, dịch vụ đáp ứng các đặc tính về xuất
xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch
vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu
Chủ thể
sở hữu
- Cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh
- Tổ chức được thành lập hợp pháp
- Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận hàng hóa, dịch vụ với điều kiện không được tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ đó
Trang 27- Tổ chức
- Thành viên của tổ chức
- Bất kỳ chủ thể nào
có hàng hóa, dịch vụ đạt tiêu chuẩn đã đặt
ra và được chủ sở hữu cho phép gắn nhãn hiệu
1.1.5.2 Nhãn hiệu tập thể với chỉ dẫn địa lý
Cùng với mục đích chỉ ra đặc trưng của NHTT, chúng ta phân biệt NHTT với chỉ dẫn địa lý qua một số phương diện cụ thể sau:
Khái niệm “Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu
dùng để phân biệt hàng hoá, dịch
vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành của tổ chức đó” (Khoản 17 Điều 4 Luật SHTT 2005 sửa đổi,
bổ sung năm 2009)
“Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dung để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể” (Khoản 22 Điều 4 Luật SHTT 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Chủ sở hữu Thuộc sở hữu của một tổ chức
Trang 28Hàng hóa, dịch
vụ được sử dụng
Có thể sử dụng cho cả hàng hóa, dịch vụ do thành viên tổ chức tập thể tự sản xuất
Chỉ có tính chất, chất lượng đặc thù, có nguồn gốc từ khu vực địa lý đặc biệt
Yêu cầu đối với
chủ thể sử dụng
Thành viên của tổ chức có thể tiến hành sản xuát, kinh doanh ở các địa phương khác nhau
Bắt buộc chủ thể sử dụng chỉ dẫn địa lý phải tiến hành hoạt động sản xuất hàng hóa tại địa phương tương ứng với chỉ dẫn địa lý
Chuyển nhượng
quyền
1.2 Khái quát về xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể
1.2.1 Khái niệm về xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể
Xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể là cách gọi tắt của việc xác lập quyền
sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với nhãn hiệu tập thể Chính vì vậy, đi tìm hiểu khái niệm xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể chính là làm rõ khái niệm xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu tập thể
Theo nghĩa khách quan, xác lập quyền SHCN được hiểu là các thủ tục pháp lý
do pháp luật quy định mà các chủ thể phải tiến hành nhằm đạt được sự công nhận từ phía nhà nước quyền sở hữu của họ đối với đối tượng SHCN cụ thể
Theo nghĩa chủ quan, đăng ký xác lập quyền là hành vi của các chủ thể thực hiện các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nhằm đạt được sự công nhận
từ phía nhà nước quyền sở hữu của họ đối với đối tượng SHCN và hệ quả theo sau
là sự bảo hộ của nhà nước đối với đối tượng đó
Tuy NHTT cũng là một đối tượng của SHCN nhưng cũng có những đặc điểm đặc thù nên việc xác lập quyền SHCN đối với NHTT cũng có những điểm khác với việc xác lập quyền đối với các đối tượng SHCN khác Cụ thể, xác lập quyền (xác lập quyền SHCN) đối với NHTT là hành vi của các chủ thể thực hiện các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nhằm đạt được sự công nhận từ phía nhà nước
Trang 29quyền sở hữu của tổ chức tập thể đối với nhãn hiệu được nhà nước bảo hộ để các thành viên của tổ chức tập thể sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ của họ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhằm phân biệt với hàng hóa, dịch vụ này của các cá nhân, tổ chức không là thành viên của tổ chức
1.2.2 Đặc điểm của xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể
Thứ nhất, quyền SHCN đối với NHTT được xác lập trên cơ sở đăng ký bảo hộ
tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục, trình tự chặt chẽ
Thứ hai, Quyền SHCN đối với NHTT được phát sinh trên cơ sở quyết định
cấp giấy chứng nhận đăng ký NHTT do cơ quan có thẩm quyền cấp theo trình tự, thủ tục luật định
Thứ ba, bản chất của việc xác lập quyền đối với NHTT: Đăng ký là thủ tục bắt
buộc để có sự công nhận quyền SHCN đối với NHTT từ phía nhà nước Việc đăng
ký có ý nghĩa là sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền Ở nhiều quốc gia có hệ thống pháp luật hiện đại, việc đăng ký NHTT không phải là bắt buộc (có thể đăng ký hoặc không đăng ký), họ thừa nhận quyền SHCN đối với NHTT trên cơ sở sử dụng NHTT (ví dụ như ở Mỹ) và đảm bảo một số điều kiện khác mà pháp luật quy định
Thứ tư, trình tự, thủ tục xác lập quyền: Thời gian xét nghiệm dài, thủ tục xét
nghiệm phức tạp do cơ quan đăng ký phải kiểm tra, đánh giá, xác định khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ của NHTT Giấy chứng nhận đăng ký NHTT có hiệu lực
từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm4 Sau khi cấp văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu phải nộp lệ phí duy trì theo thời hạn trên, việc không thực hiện nghĩa vụ nộp lệ phí là một trong những căn cứ dẫn đến việc chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ
1.2.3 Ý nghĩa của việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể
Đầu tiên, đăng ký xác lập quyền là sự ghi nhận bảo hộ một cách chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về NHTT được đăng ký Xác lập quyền đối với NHTT nhằm thông báo cho công chúng biết mình là chủ sở hữu quyền SHCN đối với NHTT đó, đồng thời bản thân chủ sở hữu và thành viên có độc quyền sử
4 Luật SHTT 2005, Điều 93, khoản 6
Trang 30dụng cho các hàng hóa, dịch vụ được bảo hộ NHTT Khi sử dụng NHTT đã được đăng ký sẽ tạo ra tâm lý thoải mái vì được chính thức công nhận mình là chủ sở hữu NHTT này, không còn tâm trạng lo lắng, không an toàn rằng chủ thể khác có thể sử dụng NHTT của mình Khi đăng ký NHTT và được cấp văn bằng, chủ sở hữu có quyền khởi kiện tại Tòa nếu NHTT của mình bị vi phạm bởi các đối tượng khác không thuộc tổ chức của mình
Tiếp đến, kết quả của việc đăng ký xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể là văn bằng bảo hộ quyền SHCN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Đây được coi là chứng chỉ ghi nhận về mặt thời gian, tiền và trí tuệ của những người tham gia vào quá trình đăng ký bảo hộ NHTT và là sự đảm bảo về chất lượng, uy tín, danh tiếng của sản phẩm mang NHTT
Ngoài ra, việc một NHTT được cấp bảo hộ giúp cho những thành viên của tổ chức chủ sở hữu NHTT có động lực sản xuất và phát triển nhãn hiệu của tổ chức mình, thúc đẩy sự sản xuất tập thể, tạo thu nhập, công ăn việc làm cho tổ chức chủ
sở hữu và thành viên của họ
Trang 31KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua chương 1 Luận văn đã khái quát được những vấn đề lý luận về nhãn hiệu tập thể và xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể và đã làm rõ một số khái niệm: nhãn hiệu tập thể, xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể Bên cạnh đó, luận văn đã chỉ ra đặc điểm của từng khái niệm, kết hợp so sánh để làm rõ chức năng của nhãn hiệu tập thể đồng thời chỉ rõ sự cần thiết và ý nghĩa của việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể trong sự phát triển kinh tế của đất nước và là cơ sở để giải quyết tình trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với những nhãn hiệu tập thể ngày nay, khuyến khích sự canh tranh lành mạnh giữa các cơ sở sản xuất, kinh doanh, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và thành viên của tổ chức với nhãn hiệu tập thể
NHTT là một công cụ hữu hiệu đối với sự phát triển kinh tế khu vực và đặc biệt giúp cải thiện đối với những “nhãn hiệu truyền thống” lưu giữ tại các vùng miền trên đất nước NHTT giúp góp phần cải thiện công ăn việc làm, tạo uy tín và chất lượng cho chính những hộ dân, doanh nghiệp đang sử dụng nhãn hiệu đấy NHTT có vai trò quan trọng như vậy nên việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về NHTT là một việc làm cấp thiết Luật SHTT 2005 ra đời không chỉ đáp ứng các yêu cầu tối thiểu của pháp luật SHTT quốc tế (Hiệp định TRIPS) mà còn xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế nội tại của Việt Nam cũng như khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường Quốc tế Bước đầu tiên làm được việc
đó chính là xây dựng và xác lập quyền cho NHTT Tuy nhiên, NHTT tại Việt Nam
là một vấn đề mới nên đại đa số từ cán bộ quản lý đến người sản xuất kinh doanh đều chưa hiểu hết ý nghĩa, nội dung cũng như lợi ích của việc xây dựng và đăng ký xác lập quyền cho NHTT mang lại cho địa phương và bản thân
Trang 32CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN XÁC LẬP QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU TẬP THỂ TẠI TỈNH HÀ NAM
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể
Ngoài khái niệm được nêu ra trong phần giải thích từ ngữ, Luật SHTT Việt Nam không có những quy định cụ thể và chi tiết về NHTT, các quy định về các vấn
đề liên quan của NHTT, điều kiện bảo hộ, xác lập quyền… sẽ được xem xét từ các quy định chung về nhãn hiệu thông thường
Việc xác lập quyền (xác lập quyền sở hữu công nghiệp) đối với NHTT gồm 3 nội dung chính là căn cứ xác lập và quyền đăng ký NHTT; thẩm định đơn đăng ký NHTT ở Việt Nam; quyền sử dụng NHTT
2.1.1 Căn cứ xác lập và quyền đối với nhãn hiệu tập thể
a) Căn cứ xác lập quyền đối với nhãn hiệu tập thể
Quyền sở hữu công nghiệp đối với NHTT được xác lập dựa trên quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về SHTT – Giấy chứng nhận đăng ký NHTT (Đó là Cục sở hữu trí tuệ trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ) theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật SHTT (Điểm a Khoản 3 Điều 6 Luật SHTT, Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp, Điểm 1.3 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT)
Việc pháp luật quy định đăng ký quyền SHCN là một thủ tục bắt buộc bởi nhiều lí do:
Thứ nhất, việc nộp đơn đăng ký bảo hộ tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
là cơ sở pháp lý để xác định tư cách của chủ sở hữu, xác định thứ tự đăng ký bảo
hộ, là cơ sở để giải quyết các tranh chấp liên quan đến đối tượng
Trang 33Thứ hai, đăng ký bảo hộ là một cách thức để công khai hóa quyền sở hữu đối
với các loại tài sản vô hình cho các chủ thể khác biết
Thứ ba, thông qua các thủ tục đăng ký, Nhà nước có thể khuyến khích các
hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và thương mại
Giống như quyền SHCN, quyền SHCN đối với nhãn hiệu tập thể cũng mang tính lãnh thổ tuyệt đối, nó chỉ phát sinh trên cơ sở công nhận hoặc cấp văn bằng bảo
hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chỉ được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia nhất định đã công nhận hoặc cấp văn bằng bảo hộ đó
b) Quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể
Để được bảo hộ NHTT, chủ thể nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ phải đáp ứng đủ điều kiện và những tiêu chuẩn nhất định về quyền nộp đơn và đơn đó phải được thẩm định hình thức và nội dung theo quy định của pháp luật
Theo quy định tại Khoản 13 Điều 1 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm
2009 thì “Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký
là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.” (Khoản 13 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009)
Việc quy định chủ thể có quyền nộp đơn đăng ký là “Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp” đã loại trừ đối tượng nộp đơn đăng ký NHTT là cá nhân “Tổ chức tập thể” là cụm danh từ với nội dung bao hàm cả khái niệm “Tập thể” và khái niệm “Tổ chức”, để chỉ một nhóm người có tổ chức cao, cùng làm việc chung với nhau nhằm mục đích điều hành nhau quản lý một công việc với một hoạt động nào
đó với hoạt động có mục đích, sự phối hợp, có kế hoạch Đối với việc đăng ký NHTT, tổ chức tập thể được nói tới ở đây bao gồm, ví dụ: hợp tác xã, các hội như hội nông dân, hội sản xuất và kinh doanh hoặc các công ty
Trang 34“Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp” có nghĩa là Tổ chức – nhóm người làm việc chung với nhau được Nhà nước công nhận sự tồn tại của tổ chức này thỏa mãn các yêu cầu đặt ra để trở thành tổ chức về mặt pháp lý
Đó là quy định sửa đổi của Luật SHTT so với Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 Bởi lẽ, Nghị định 63/CP quy định quyền đối với NHTT, quyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ thuộc về cá nhân, pháp nhân đại diện cho tập thể cá nhân, pháp nhân hoặc cho chủ thể khác cùng tuân theo quy chế sử dụng nhãn hiệu hàng hóa tương ứng” Phạm vi chủ thể có thể nộp đơn theo yêu cầu đăng ký NHTT theo Nghị định rộng hơn của luật, việc Luật SHTT quy định chủ thể đăng ký NHTT chỉ là “Tổ chức được thành lập hợp pháp”thể hiện sự khác biệt của NHTT đối với nhãn hiệu thông thường Nhãn hiệu thông thường dùng để phân biệt hàng hóa, dịch
vụ của các chủ thể khác nhau nên chủ thể có quyền nộp đơn đăng ký có thể là tổ chức, cá nhân Nguyên tắc chung trong thủ tục đăng ký xác lập quyền gồm:
(i) Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (Điều 90 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ
sung năm 2009)
Nguyên tắc này bao gồm các trường hợp sau:
Thứ nhất, trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký các sáng chế trùng hoặc
tương đương với nhau, các kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng
kể với nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ;
Thứ hai, trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký
các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự với nhau hoặc trường hợp có nhiều đơn của cùng một người đăng ký các nhãn hiệu trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có ngày ưu
Trang 35tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ5
Thứ ba, trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký trong hai trường hợp trên cùng
đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo thoả thuận của tất cả những người nộp đơn; nếu không thoả thuận được thì các đối tượng tương ứng của các đơn đó bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ
Lấy một ví dụ cụ thể, trường hợp có hai chủ thể A và B có sáng chế tương tự, ngày nộp đơn đăng ký bảo hộ là như nhau, trường hợp này đòi hỏi A và B phải thỏa thuận với nhau nếu A và B thỏa thuận được với nhau thì văn bằng bảo hộ sẽ được cấp cho một trong hai chủ thể đã nộp đơn, còn nếu không thỏa thuận được thì các đối tượng đã nộp đơn bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ
Như vậy, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên này sẽ đảm bảo cho việc một đối tượng quyền sở hữu công nghiệp chỉ được cấp cho một người duy nhất Khi đơn của bạn
có nhiều người hoặc nhiều đơn trùng hoặc tương tự mà dễ gây ra nhầm lẫn thì văn bằng bảo hộ sẽ chỉ được cấp khi: Đơn của chủ thể nộp đơn đó là hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ
(ii) Nguyên tắc ưu tiên (Điều 91 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung năm
5 Tác giả Nguyễn Thùy Linh với đề tài “Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp”
Trang 36Thứ nhất, người nộp đơn là công dân Việt Nam hoặc công dân của nước thành
viên của Công ước Paris hoặc cư trú, có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc tại nước thành viên của công ước đó;
Thứ hai, đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam hoặc tại nước thành viên của
Công ước Paris và đơn đó có chứa phần tương ứng với yêu cầu hưởng quyền ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu;
Thứ ba, đơn đăng ký được nộp trong thời hạn sau đây kể từ ngày nộp đơn đầu
tiên:
6 tháng đối với đơn đăng ký nhãn hiệu hoặc kiểu dáng công nghiệp, 12 tháng đối với đơn đăng ký sáng chế Thời hạn ưu tiên bắt đầu kể từ ngày nộp đơn đầu tiên, ngày nộp đơn đầu tiên đó không tính trong thời hạn ưu tiên Nếu ngày cuối cùng của thời hạn ưu tiên là ngày lễ chính thức hoặc ngày cơ quan sở hữu công nghiệp không nhận đơn tại nước có yêu cầu bảo hộ, thời hạn ưu tiên sẽ được kéo dài tới ngày làm việc đầu tiên tiếp theo đó;
Thứ tư, trong đơn đăng ký người nộp đơn có nêu rõ yêu cầu hưởng quyền ưu
tiên và phải nộp bản sao đơn đầu tiên trong trường hợp nộp tại nước ngoài, trong đó
có xác nhận của Cơ quan nhận đơn đầu tiên;
Thứ năm, nộp đủ lệ phí yêu cầu hưởng quyền ưu tiên
Trong trường hợp người nộp đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu muốn hưởng quyền ưu tiên theo điều ước quốc tế khác, yêu cầu hưởng quyền ưu tiên sẽ được chấp nhận nếu đáp ứng được các điều kiện về quyền ưu tiên quy định trong điều ước đó
Câu hỏi đặt ra là liệu việc ghi nhận nguyên tắc ưu tiên như vậy có dẫn đến đây
là một trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc nộp đơn đầu tiên? Quyền ưu tiên là quyền của người nộp đơn trên cơ sở có một đơn hợp lệ đầu tiên đã được nộp tại một quốc gia là thành viên điều ước quốc tế có quy định về quyền ưu tiên, trong một thời hạn nhất định, người nộp đơn có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hoặc nhãn hiệu đó tại một quốc gia thành viên khác và đơn nộp sau đó được coi như nộp cùng ngày với đơn đầu tiên Ngày ưu tiên là ngày nộp đơn
Trang 37của đơn đầu tiên, mà ngày nộp đơn của đơn đầu tiên lại được xác định theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên Cho nên, nguyên tắc ưu tiên không phải là một trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc nộp đơn đầu tiên
Ví dụ như sau: Một công ty A của Nhật Bản đăng ký bảo hộ nhãn hiệu MITACHI tại Nhật Bản vào ngày 03/08/2014, một công ty B của Việt Nam đăng ký nhãn hiệu MITACHI tại Việt Nam vào ngày 21/11/2014 Sau đó vào ngày 15/12/2014 công ty A tiến hành đăng ký nhãn hiệu CHACHANG tại Việt Nam và xin hưởng quyền ưu tiên thì đơn nộp sau đó được xem là đã nộp vào ngày 03/08/2014 Do đó, đơn của công ty B bị xem là đơn nộp sau và sẽ không được chấp nhận bảo hộ.6
Về nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc quyền ưu tiên trong việc đăng
ký bảo hộ nhãn hiệu, Việt Nam áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên Cụ thể khi có hai hay nhiều chủ thể cùng nộp đơn xin đăng ký bảo hộ cùng một nhãn hiệu hàng hóa hay các nhãn hiệu hàng hóa tương tự nhau có khả năng gây nhằm lẫn cho người tiêu dùng và cơ quan đăng ký phải lựa chọn việc cấp đăng ký cho ai có đơn nộp đầu tiên Theo nguyên tắc này thì cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp văn bằng bảo hộ cho người nộp đơn đầu tiên Cụ thể tại Khoản 2 Điều 90 Luật SHTT, “Trong trường hợp
có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hay tương tự với nhau hoặc trường hợp có nhiều đơn của cùng một người đăng ký các nhãn hiệu trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong
số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ”
Tuy nhiên, nguyên tắc "Nộp đơn đầu tiên" không áp dụng cho những nhãn hiệu được coi là nổi tiếng theo Công ước Paris hoặc với nhãn hiệu đã được sử dụng
và đã được thừa nhận một cách rộng rãi Trong các trường hợp này, quyền ưu tiên
sẽ được dành cho người nào có thể chứng minh rằng nhãn hiệu của mình là nổi
6 http://nhanhieulogo.com/quyen-uu-tien-la-gi-nd,2881
Trang 38tiếng hoặc đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãi mà không cần phải xét đến nguyên tắc này
Theo Công ước Paris mà trong đó Việt Nam là một thành viên, nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ tại Việt Nam không cần phải qua đăng ký Tuy nhiên, luật pháp hiện hành chưa quy định chi tiết thế nào là một nhãn hiệu nổi tiếng Do đó, trong thực tế, yếu tố quyết định một hàng hoá là nổi tiếng hay không còn phụ thuộc vào chuyên gia giám định của Cục Sở hữu trí tuệ Do chưa có điều khoản nào quy định
rõ một sản phẩm là nổi tiếng, ở khoản 20 điều 4 Luật SHTT chỉ định nghĩa “nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” Cục Sở hữu trí tuệ thường dựa vào những tiêu chí sau:
• Chất lượng hàng hoá do người tiêu dùng đánh giá;
• Vùng lãnh thổ nơi hàng hoá dịch vụ mang nhãn hiệu này được bán ra được cung cấp;
• Doanh thu bán hàng và chất lượng của hàng hoá dịch vụ được bán ra hay được cung cấp;
• Thời gian sử dụng liên tục liên tục nhãn hiệu này;
• Danh tiếng của hàng hoá dịch vụ khi sử dụng nhãn hiệu này;
• Số quốc gia bảo hộ nhãn hiệu đó
2.1.2 Yêu cầu đối với đơn đăng kí nhãn hiệu tập thể
Theo Điều 105 Luật SHTT hiện hành thì:
“ 1 Tài liệu, mẫu vật, thông tin xác định nhãn hiệu cần bảo hộ trong đơn đăng ký nhãn hiệu bao gồm:
a) Mẫu nhãn hiệu và danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;
b) Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể, quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận
2 Mẫu nhãn hiệu phải được mô tả để làm rõ các yếu tố cấu thành của nhãn hiệu và
ý nghĩa tổng thể của nhãn hiệu nếu có; nếu nhãn hiệu có từ, ngữ thuộc ngôn ngữ tượng hình thì từ, ngữ đó phải được phiên âm; nhãn hiệu có từ, ngữ bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt
3 Hàng hoá, dịch vụ nêu trong đơn đăng ký nhãn hiệu phải được xếp vào các nhóm
Trang 39phù hợp với bảng phân loại theo Thoả ước Ni-xơ về phân loại quốc tế về hàng hoá
và dịch vụ nhằm mục đích đăng ký nhãn hiệu, do cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp công bố
4 Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây: a) Tên, địa chỉ, căn cứ thành lập và hoạt động của tổ chức tập thể là chủ sở hữu nhãn hiệu;
b) Các tiêu chuẩn để trở thành thành viên của tổ chức tập thể;
c) Danh sách các tổ chức, cá nhân được phép sử dụng nhãn hiệu;
d) Các điều kiện sử dụng nhãn hiệu;
đ) Biện pháp xử lý hành vi vi phạm quy chế sử dụng nhãn hiệu
5 Quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận phải có những nội dung chủ yếu sau đây: a) Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu nhãn hiệu;
b) Điều kiện để được sử dụng nhãn hiệu;
c) Các đặc tính của hàng hoá, dịch vụ được chứng nhận bởi nhãn hiệu;
d) Phương pháp đánh giá các đặc tính của hàng hóa, dịch vụ và phương pháp kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu;
đ) Chi phí mà người sử dụng nhãn hiệu phải trả cho việc chứng nhận, bảo vệ nhãn hiệu, nếu có.”
Thứ nhất, đơn đăng ký NHTT bao gồm các tài liệu kèm theo (Điều 100, 104
Luật SHTT; Điểm 7.1; Điểm 7.2 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN) Đơn phải có tính thống nhất: Mỗi đơn chỉ được yêu cầu đăng ký một nhãn hiệu cho một hoặc nhiều hàng hóa, dịch vụ Nếu nhãn hiệu xin đăng ký có chứa chỉ dẫn nguồn gốc địa
lý, chủ đơn phải nộp kèm theo đơn tài liệu xác nhận tổ chức đăng ký NHTT là tổ chức của các hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh tại địa phương tương ứng với chỉ dẫn địa lý Nếu nhãn hiệu xin đăng ký có chứa chỉ dẫn nguồn gốc địa lý đặc sản, chủ đơn phải nộp kèm theo đơn giấy phép của chính quyền địa phường (Ủy ban nhân dân tỉnh/ thành phố trực thuộc Trung ương) cho phép người nộp đơn đăng ký NHTT mang dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc địa lý của địa danh
Trang 40Thứ hai, tờ khai theo mẫu quy định7, trong đó có mẫu nhãn hiệu, danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu Phần mô tả nhãn hiệu trong tờ khai phải nêu rõ nhãn hiệu đăng ký là nhãn hiệu tập thể; có yếu tố cấu thành, ý nghĩa của nhãn hiệu; phiên âm từ ngữ thuộc ngôn ngữ hình tượng; dịch tiếng Việt của từ ngữ bằng tiếng nước ngoài; nêu rõ nội dung và ý nghĩa của yếu tố hình; nếu yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu màu thì phải chỉ rõ yêu cầu đó và nêu tên màu sắc thể hiện trên nhãn hiệu Danh mục hàng hóa, dịch vụ phải được nêu rõ và xếp nhóm phù hợp theo Bảng phân loại quốc tế về hàng hóa, dịch vụ (Ban hành kèm theo Thỏa ước Ni-xơ)
Thứ ba, mẫu nhãn hiệu: Năm mẫu; kích thước không lớn hơn 80mm và không
nhỏ hơn 8mm, đúng màu sắc yêu cầu bảo hộ, có ảnh chụp hoặc hình vẽ phối cảnh nếu nhãn hiệu là hình ba chiều Mẫu nhãn hiệu phải được mô tả: Nêu rõ nhãn hiệu đăng ký là NHTT; các yếu tố cấu thành; ý nghĩa của nhãn hiệu; phiên âm từ ngữ thuộc ngôn ngữ hình tượng; dịch tiếng Việt của từ ngữ bằng tiếng nước ngoài; nêu
rõ nội dung và ý nghĩa của yếu tố hình
Thứ tư, quy chế sử dụng NHTT: Quy chế phải có đủ nội dung tối thiểu theo
quy định (Điều 105 Luật SHTT và Điểm 37.6 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN), bao gồm: Tên, địa chỉ, căn cứ thành lập và hoạt động của tổ chức tập thể là chủ sở hữu nhãn hiệu; Các tiêu chuẩn để trở thành thành viên của tổ chức tập thể; Danh sách các tổ chức, cá nhân được phép sử dụng nhãn hiệu; Các điều kiện sử dụng nhãn hiệu; Biện pháp xử lý hành vi vi phạm quy chế sử dụng nhãn hiệu; thông tin về nhãn hiệu và hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu; nghĩa vụ của người được sử dụng nhãn hiệu; quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu; cơ chế cấp phép, kiểm soát, kiểm tra việc sử dụng nhãn hiệu
Đấy là điểm khác biệt của NHTT với nhãn hiệu thông thường Quy chế NHTT
là yếu tố không thể thiếu trong đơn đăng ký NHTT Nội dung của quy chế quy định những điều kiện cần thiết để được cấp phép sử dụng, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu và các thành viên sử dụng NHTT Đây là điều kiện quan trọng để đảm bảo hoạt động của tổ chức sở hữu NHTT, việc quy định để được cấp phép sử dụng và chấm
7
Có kèm theo phụ lục Phụ lục 1 - Mẫu số: 04-NH