Bởi vậy, việc nghiên cứu về vấn đề xử lý tài sản chung vợ chồng của cơ quan Thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án dưới góc nhìn của Luật Hôn nhân và gia đình, việc xác đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BẢN ÁN CÓ HIỆU LỰC CỦA TÒA ÁN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Định hướng ứng dụng
HÀ NỘI - NĂM 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BẢN ÁN CÓ HIỆU LỰC CỦA TÒA ÁN
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Trần Thị Thùy Linh
Trang 4Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo tại Đại học Luật Hà Nội, những người đã nhiệt tình giảng dạy, giúp tôi có những kiến thức quý báu và bổ ích về chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Luật
Hà Nội, Khoa Đào tạo Sau Đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành chương trình học và đề tài nghiên cứu
Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn TS Vương Thanh Thúy – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành Luận văn này Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Tổng cục Thi hành án dân sự đã cung cấp cho tôi những số liệu liên quan tới đề tài Luận văn, Lãnh đạo và đồng nghiệp tại Vụ Giải quyết khiếu nại, tố cáo – Tổng cục Thi hành
án dân sự đã tạo điều kiện tốt nhất, kịp thời động viên, chia sẻ và cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu trong quá trình xây dựng Luận văn Tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thiện Luận văn một cách tốt nhất
Mặc dù, tôi đã cố gắng để thực hiện đề tài Luận văn một cách hoàn thiện nhất, song do chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học cũng như còn nhiều hạn chế về kiến thức nên không thể tránh được những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của quý thầy, cô để Luận văn hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12/2018
Tác giả
Trang 5BLDS: Bộ luật dân sự;
BLDS 2015: Bộ luật dân sự năm 2015;
BLDS 2005: Bộ luật dân sự năm 2005;
HN&GĐ: Hôn nhân và gia đình;
Luật HN&GĐ: Luật hôn nhân và gia đình;
Luật HN&GĐ 2000: Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Luật HN&GĐ 2014: Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
THADS: Thi hành án dân sự;
Luật THADS 2008: Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội;
Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung 2014: Luật số 64/2014/QH13 ngày 25/11/2014 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành
án dân sự số 26/2008/QH12 ngày 14/11/2008;
Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015: Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN,
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG SAU KHI XỬ
LÝ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG ĐỂ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN CỦA MỘT BÊN THEO QUYẾT ĐỊNH, BẢN ÁN CÓ HIỆU LỰC CỦA TÒA ÁN 7
1.1 Khái niệm chung về xác định tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi xử lý tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản án của Toà án 7
1.1.1 Khái niệm tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng 7 1.1.2 Khái niệm quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng 8 1.1.3 Khái niệm xác định tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng sau khi xử lý tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản án của Toà án 9
1.2 Cách thức cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung của vợ chồng
để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản án của Toà
án 10
1.2.1 Điều kiện để cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung vợ chồng
để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của một bên 10 1.2.2 Trình tự, thủ tục xử lý tài sản chung vợ chồng của cơ quan Thi hành án dân sự 13
1.3 Xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng sau khi cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản án có hiệu lực của Toà án 25
1.3.1 Trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung vợ chồng trên cơ sở vợ chồng thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung
vợ chồng 25
Trang 7sản chung vợ chồng 31
1.4 Xác định quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sau khi xử lý tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản án của Toà án 34
1.4.1 Quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với gia đình 34
1.4.2 Quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG; XÁC ĐỊNH TÀI SẢN, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG SAU KHI XỬ LÝ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG ĐỂ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN CỦA MỘT BÊN THEO QUYẾT ĐỊNH, BẢN ÁN CỦA TÒA ÁN 40
2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý tài sản chung của vợ chồng để thực hiện nghĩa vụ thi hành của một bên 40
2.1.1 Kết quả đạt được 40
2.1.2 Vướng mắc, khó khăn 46
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật để xác định tài sản chung, riêng, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sau khi xử lý tài sản chung của vợ chồng để bảm đảm nghĩa vụ thi hành án của một bên 55
2.2.1 Pháp luật chưa quy định cụ thể hậu quả pháp lý về tài sản trong trường hợp Chấp hành viên xác định phần tài sản của mỗi bên vợ chồng và xử lý tài sản chung vợ chồng để thi hành án 55
2.2.2 Pháp luật chưa quy định cụ thể thời điểm có hiệu lực của việc xác định phần tài sản của mỗi bên vợ chồng trong khối tài sản chung vợ chồng của Chấp hành viên 59
2.2.3 Vướng mắc trong việc xác định tài sản chung, riêng là quyền sử dụng đất mà vợ, chồng xác lập sau khi Chấp hành viên xử lý tài sản chung vợ chồng 60
Trang 82.3.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Thi hành án dân sự 62
2.3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Hôn nhân và gia đình 63
2.2.3 Các giải pháp khác 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quan hệ tài sản giữa vợ, chồng là quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân, tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, không có tính đền bù ngang giá và khó phân định được công sức đóng góp của mỗi bên nên khi có sự kiện cần xác định tài sản chung vợ chồng thì rất phức tạp, khó khăn
Trong đời sống chung vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng không chỉ phục vụ nhu cầu của đời sống chung của gia đình mà còn tham gia vào các giao dịch kinh tế, thương mại, thậm chí là để thực hiện nghĩa vụ riêng của mỗi bên vợ chồng đối với bên thứ ba Thực tế cho thấy, hiện nay, nhiều bên vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ riêng về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng bản thân họ không có tài sản riêng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án Hầu hết tài sản của người phải thi hành án đều nằm trong khối tài sản chung của vợ chồng Để thực hiện nghĩa vụ thi hành án của bên vợ, chồng, cơ quan Thi hành án dân sự bắt buộc phải xử lý phần tài sản của người phải thi hành án có trong khối tài sản chung vợ chồng Sau khi cơ quan Thi hành án dân sự xử lý phần tài sản của một bên vợ, chồng trong khối tài sản chung vợ chồng để thực hiện nghĩa vụ thi hành án của một bên, vấn đề về tài sản giữa vợ và chồng đã có thay đổi so với thời điểm ban đầu Có những tài sản không còn là tài sản chung của vợ chồng, có những tài sản chung vợ chồng lại trở thành tài sản riêng Với sự thay đổi như vậy, việc xác định quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sau khi cơ quan Thi hành án dân
sự đã xử lý tài sản chung vợ chồng để thi hành nghĩa vụ cho một bên càng trở lên cấp thiết nhất là khi những tài sản này tiếp tục được đưa vào các giao dịch dân sự, mỗi bên vợ chồng phát sinh nhiều mối quan hệ về tài sản với bên thứ
ba Đây là những vấn đề tồn tại, phát sinh từ thực tiễn nên cần phải có sự nghiên cứu thấu đáo
Trang 10Bởi vậy, việc nghiên cứu về vấn đề xử lý tài sản chung vợ chồng của cơ quan Thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án dưới góc nhìn của Luật Hôn nhân và gia đình, việc xác định tài sản chung, riêng của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sau khi một bên phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo Quyết định, Bản án của Tòa án có là hết sức
cần thiết Đó chính là lý do để tác giả chọn làm đề tài: “Xác định tài sản
chung, riêng, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sau khi cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của một bên theo Quyết định, Bản án có hiệu lực của Tòa án” làm
luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực Hôn nhân
và gia đình đã có một số bài viết, công trình khoa học đề cập đến những khía cạnh khác nhau về vấn đề xác định tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng, chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân… Tiêu biểu có thể kể đến như: Xác định tài sản
chung, riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, Phan Văn Khanh, luận văn
thạc sĩ, 2016; Xác định tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014, Nguyễn Đức Anh, luận văn thạc sĩ, năm 2017; Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Chu Minh Khôi, luận văn thạc sĩ, năm 2015; Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014, Nông Thị Thoa, luận văn thạc sĩ, năm 2017; Một số vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn (Đỗ Văn Nhật, tạp chí Dân chủ và pháp luật số
3/2012) Đây là những công trình có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn đề cập đến vấn đề xác định tài sản, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành
Trang 11Một số bài viết, trao đổi về quyền phân chia tài sản chung vợ chồng của
Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án như: Bàn về thẩm quyền
phân chia tài sản chung của vợ, chồng ở giai đoạn thi hành án dân sự, (Nguyễn Thị Ngân- Tạp chí kiểm sát số 14/2017); Bàn về kê biên, xử lý tài sản chung (tác giả Văn Tâm Hồng, tại mục Nghiên cứu trao đổi, Cổng thông
tin điện tử Tổng cục Thi hành án dân sự ngày 09/5/2017); Kê biên, xử lý tài
sản thuộc sơ hữu chung của người phai thi hành án- Một số vấn đề từ thực tiễn (Hồ Quân Chính, Hoàng Thị Thanh Hoa-Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số
tháng 8 (317) năm 2018); Chấp hành viên có quyền phân chia tài sản chung
hay không (Nguyễn Công Thức, tại mục trao đổi pháp luật, trang thông tin
điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi) Những bải viết này đề cập đến khía cạnh về thủ tục xử lý tài sản chung vợ chồng của cơ quan Thi hành án dân sự trong thủ tục chung để tổ chức thi hành án
Tuy nhiên, chưa có bài viết, công trình nghiên cứu khoa học nào làm rõ vấn đề xác định tài sản chung, riêng của vợ chồng đối với phần tài sản mà mỗi bên vợ chồng nhận được, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sau khi
cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án cho một bên Đây là một nội dung khá mới mẻ nhưng cũng thực sự rất phức tạp Tác giả mong muốn sẽ thực hiện những bước nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy định về quyền
của Chấp hành viên trong việc xác định phần tài sản của bên vợ, chồng trong khối tài sản chung, việc xử lý tài sản chung vợ chồng trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án; quy định của pháp luật về vấn đề xác định tài sản chung, riêng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi Chấp hành viên xử lý tài sản chung vợ chồng để thi hành nghĩa vụ của một bên; một số
vụ việc cụ thể liên quan đến vấn đề này
Trang 12- Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ, tác giả
nghiên cứu các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định tài sản chung, riêng của vợ chồng, việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân; quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Luật Thi hành
án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 về thẩm quyền của Chấp hành viên trong việc xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn có mục đích là làm sáng tỏ những vấn
đề về xác định tài sản chung, riêng, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sau khi cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của một bên Qua đó, luận văn muốn đề xuất một số biện pháp hoàn thiện pháp luật về Hôn nhân và gia đình, pháp luật về Thi hành án dân sự hiện hành để khắc phục được những vướng mắc hiện nay liên quan đến vấn đề xác định, phân chia tài sản chung, riêng của vợ chồng, đồng thời, hướng tới nâng cao vai trò, hiệu quả của Chấp hành viên trong quá trình
xử lý tài sản chung vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của một bên theo bản án, quyết định của Tòa án
- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Luận văn nghiên cứu những nội
dung chủ yếu sau:
+ Làm rõ khái niệm tài sản chung, riêng của vợ chồng, khái niệm về quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng; khái niệm xác định tài sản chung, riêng, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sau khi cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung vợ chồng để thi hành án cho một bên;
+ Làm rõ quyền và trình tự, thủ tục xử lý tài sản chung vợ chồng của cơ quan Thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án;
Trang 13+ Xác định những tài sản nào là tài sản chung, riêng của vợ chồng, những quyền và nghĩa vụ tài sản nào mà vợ chồng được phép thực hiện sau khi cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung vợ chồng;
+ Tìm hiểu những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn về các vấn đề trên
và đề xuất cách thức giải quyết, hoàn thiện pháp luật
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để giải quyết được những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, tác giả nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng đển các phương pháp như:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm làm sáng tỏ các vấn đề chung
về xác định tài sản chung, riêng vợ chồng; phân chia tài sản chung vợ chồng
để thực hiện nghĩa vụ thi hành án; khái quát được những nội dung cơ bản của từng vấn đề nghiên cứu trong luận văn
- Phương pháp so sánh khi thực hiện đối chiếu các quy định pháp luật hiện hành;
- Phương pháp phân tích, dự báo khoa học thực tiễn khi đưa ra các nội dung mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn chưa dự liệu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu tổng hợp các quy định của pháp luật dân sự, Hôn nhân và gia đình, Thi hành án dân sự liên quan đến việc phân chia, xử lý tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của cơ quan Thi hành án dân sự Đây là vấn đề còn mới, chưa thực sự nhiều người nghiên cứu mặc dù thực tế đã và đang diễn ra rất phổ biến
Về mặt khoa học, Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu khác có cùng nội dung, cũng như có thể là một
Trang 14phần đóng góp trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện chế định pháp luật hôn nhân gia đình về xác định tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng; phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; pháp luật về thi hành án dân
sự trong việc quy định quyền hạn của Chấp hành viên khi xử lý tài sản chung
vợ chồng Luận văn cũng có thể là tài liệu nghiên cứu, học tập
Về mặt thực tiễn, luận văn có thể là tài liệu để người dân, đặc biệt là những cặp vợ chồng, những người đang phải có trách nhiệm thi hành án dân
sự hiểu được những quy định của pháp luật về quyền xử lý tài sản chung của
vợ chồng để thi hành án Qua đó, luận văn góp phần phổ biến pháp luật về hôn nhân gia đình, pháp luật về thi hành án, qua đó góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm chấp hành quyết định, bản án của Tòa án của người dân Luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo cho những người làm công tác tổ chức thi hành án, người làm công tác xét xử hoặc luật sư, người trợ giúp pháp lý
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về xác định tài sản chung, riêng, quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi xử lý tài sản chung vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản án của Toà án
Chương 2: Thực tiễn xử lý tài sản chung vợ chồng và xác định tài sản chung, riêng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi xử lý tài sản chung vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản án của Toà án
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG SAU KHI XỬ LÝ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG ĐỂ BẢO ĐẢM NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN CỦA MỘT BÊN THEO QUYẾT ĐỊNH, BẢN ÁN CÓ HIỆU LỰC
CỦA TÒA ÁN
1.1 Khái niệm chung về xác định tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi xử lý tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản án của Toà án
1.1.1 Khái niệm tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
* Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Kể từ thời điểm kết hôn, vợ chồng cùng nhau chung sống, gánh vác các công việc của gia đình, cùng nhau tạo lập khối tài sản chung để bảo đảm các điều kiện vật chất phục vụ những nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình, thực hiện các quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, phụng dưỡng cha mẹ và thỏa mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần khác của các thành viên trong gia đình Để đáp ứng những nhu cầu này, vợ chồng phải có tài sản chung Tài sản chung của vợ chồng chính là tài sản thuộc sở hữu chung của
vợ chồng Sự tồn tại của tài sản chung vợ chồng phụ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân Có thể đưa ra khái niệm về tài sản chung của vợ chồng như
sau: Tài sản chung của vợ chồng là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
hiện có hoặc hình thành trong tương lai thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, do vợ chồng cùng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
* Khái niệm tài sản riêng của vợ chồng
Trước khi kết hôn, có thể mỗi bên vợ, chồng đã tự tạo lập được một khối tài sản nhất định do chính công sức lao động của mình hoặc được tặng
Trang 16cho riêng Về bản chất, khối tài sản này thuộc sở hữu riêng của một bên vợ, chồng Người vợ, chồng là chủ sở hữu tài sản riêng đó có quyền chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt đối với tài sản riêng của mình mà không phụ thuộc vào
người vợ, người chồng của mình Như vậy, có thể hiểu: Tài sản riêng của vợ
chồng là vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ, chồng, tách biệt với khối tài sản chung của vợ chồng
1.1.2 Khái niệm quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng
Trong gia đình, quan hệ vợ chồng là quan hệ nền tảng ảnh hương đến mọi mối quan hệ khác trong gia đình Quan hệ vợ chồng được xây dựng từ hai yếu
tố tình cảm và vật chất Tình cảm là điều kiện cần cho một cuộc hôn nhân bắt đầu và vật chất là điều kiện đủ để cho cuộc hôn nhân tồn tại Vật chất ở đây được hiểu đó là tài sản vợ chồng, đó có thể là tài sản chung hoặc tài sản riêng của vợ, chồng Tình cảm là yếu tố khó kiểm soát nhưng tài sản mà đặc biệt là quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng được Nhà nước điều chỉnh bằng các quy định của pháp luật cụ thể Quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng
là cơ sở kinh tế bảo đảm cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội, đồng thời đáp ứng các nhu cầu vật chất của vợ, chồng, đảm bảo cho vợ, chồng thực hiện tốt các quyền nhân thân với nhau, thực hiện tốt các quyền và nghĩa
vụ với con cái và các thành viên khác trong gia đình Thông qua các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng biết được các quyền cũng như trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội, từ đó có cách ứng xử phù hợp đảm bảo lợi ích chung của gia đình và lợi ích của bản thân1
Như vậy, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng là những quyền và
nghĩa vụ mà vợ chồng được pháp luật cho phép thực hiện bằng hành vi của mình trong thời kỳ hôn nhân liên quan đến những lợi ích về tài sản nhằm đảm
Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.6
Trang 17bảo sự tồn tại, phát triển của gia đình trong đời sống xã hội cũng như đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng về tài sản của vợ chồng, quyền, lợi ích về tài sản của người khác có giao dịch với vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
1.1.3 Khái niệm xác định tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi xử lý tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản án của Toà án
Thi hành án dân sự (THADS) là việc tổ chức thi hành các bản ản, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của các cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cơ quan, tổ chức
Thực tiễn cho thấy, người phải thi hành án không phải lúc nào cũng tự nguyện thi hành án Do đó, trường hợp người phải thi hành án cố tình không thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì cơ quan THADS sẽ kê biên tài sản của họ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án Về nguyên tắc, vợ hoặc chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì họ phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình Khi đó, cơ quan THADS sẽ kê biên, xử lý tài sản riêng của người phải thi hành án Tuy nhiên, nếu người phải thi hành án không có hoặc có tài sản riêng nhưng không đủ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì cơ quan THADS sẽ tiến hành xử lý phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án Việc xử lý tài sản chung vợ chồng của cơ quan THADS nêu trên đã ít nhiều làm thay đổi đến khối tài sản chung vốn có lúc đầu của
vợ, chồng Vấn đề đặt ra là phải xác định lại tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sau khi cơ quan THADS xử lý tài sản chung vợ chồng
Theo Từ điển tiếng Việt, từ: xác định có nghĩa Qua nghiên cứu để biết
được chính xác Việc nghiên cứu và phân biệt, làm rõ tài sản chung, tài sản
riêng, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng phải dựa trên cơ sở pháp luật Như vậy:
Trang 18- Xác định tài sản chung của vợ chồng sau khi xử lý tài sản chung của
vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của một bên là việc căn cứ vào quy
định của pháp luật để phân biệt, nhận định những tài sản (vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản) nào là tài sản chung của vợ chồng sau khi cơ quan THADS
đã xử lý một phần hoặc toàn bộ khối tài sản chung trước đó của vợ chồng
- Xác định tài sản riêng của vợ chồng sau khi xử lý tài sản chung của
vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản
án của Toà án là việc căn cứ vào các quy định của pháp luật để phân biệt, nhận định những tài sản (vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản) nào được coi
là tài sản riêng của vợ, chồng sau khi cơ quan THADS đã xử lý một phần hoặc toàn bộ khối tài sản chung trước đó của vợ chồng
- Xác định quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sau khi xử lý tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của một là việc căn
cứ vào các quy định của pháp luật để xác định những quyền và nghĩa vụ mà
vợ chồng được phép thực hiện liên quan đến tài sản chung, tài sản riêng của
vợ chồng nhằm đảm bảo sự tồn tại, phát triển của gia đình trong đời sống xã hội cũng như đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng về tài sản của vợ chồng, quyền, lợi ích về tài sản của người khác có giao dịch với vợ chồng trước và sau khi cơ quan THADS xử lý tài sản chung vợ chồng để thi hành án
1.2 Cách thức cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản
án của Toà án
1.2.1 Điều kiện để cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung vợ chồng để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của một bên
Thứ nhất: có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật
Điều 136 Hiến pháp năm 2013 quy định mang tính nguyên tắc hiến
định: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải
Trang 19được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Như vậy, bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật của Tòa án là bản án, quyết định có tính bắt buộc thực hiện đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan Đây là cơ sở pháp lý quan trọng
để cơ quan THADS tổ chức thi hành trên thực tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên theo bản án, quyết định của Tòa án
Xét về mặt nội dung, chỉ có những bản án, quyết định của Tòa án có nội dung yêu cầu đương sự thực hiện nghĩa vụ về dân sự mới là đối tượng thi hành của cơ quan THADS Đây chính là phạm vi điều chỉnh của Luật THADS năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014:
“Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa
án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại“
Như vậy, những bản án, quyết định của Tòa án quy định tại Điều 2 Luật THADS 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 phải là các bản án, quyết định giải quyết các vụ việc dân sự, là các quyết định về tài sản trong các bản
án hình sự, hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến tài sản của người phải thi hành án…mới được tổ chức thi hành
theo thủ tục thi hành án dân sự
Thứ hai: Vợ hoặc chồng có nghĩa vụ thi hành án
Cơ quan THADS chỉ có thể yêu cầu một đối tượng phải thực hiện nghĩa
vụ khi bản thân họ có nghĩa vụ và nghĩa vụ đó phải được xác định trong bản
Trang 20án, quyết định của Tòa án Nghĩa vụ ở đây có thể là nghĩa vụ phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định2 Tuy nhiên, trường hợp phải xử lý tài sản để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án thì đó chỉ có thể là để thực hiện nghĩa vụ trả tiền
Bản án, quyết định của Tòa án tuyên buộc chồng hoặc vợ phải thực hiện nghĩa vụ Do đó, trường hợp này phải xác định đây chính là nghĩa vụ riêng về tài sản của chồng hoặc vợ Nghĩa vụ này có thể phát sinh trước khi kết hôn, nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên vợ, chồng xác lập, thực hiện không vì nhu cầu gia đình Đó có thể là nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ trả nợ cho bên thứ ba, nghĩa vụ tài chính với Nhà nước
Thứ ba, người phải thi hành án là vợ hoặc chồng không có tài sản riêng, hoặc có tài sản riêng nhưng tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa
vụ thi hành án
Khoản 3 Điều 44 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Nghĩa vụ riêng
về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó“ Về
nguyên tắc, đối với nghĩa vụ dân sự riêng của một bên vợ hoặc chồng thì người đó phải dùng tài sản riêng của mình để thi hành án Tuy nhiên, không phải trường hợp người vợ người chồng nào cũng có tài sản riêng để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án Hoặc nếu có thì tài sản riêng chỉ đủ để thi hành một phần nghĩa vụ thi hành án Do đó, để bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án, cơ quan THADS phải xử lý tài sản chung của vợ chồng, lấy ra phần
sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án đối với tài sản chung vợ chồng đó
để thực hiện nghĩa vụ thi hành án Như vậy, cơ quan THADS sẽ chỉ xử lý tài sản chung vợ chồng để thực hiện nghĩa vụ thi hành án của một bên khi bản
2
Xem Điều 274 BLDS 2015
Trang 21thân người đó không có tài sản riêng hoặc có nhưng không đủ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án
1.2.2 Trình tự, thủ tục xử lý tài sản chung vợ chồng của cơ quan Thi hành án dân sự
Cũng tương tự như quá trình tổ chức thi hành án nói chung, quá trình xử
lý tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án cho một bên cũng phải tuân thủ các trình tự, thủ tục theo quy định cơ bản sau:
Bước 1: Ra quyết định thi hành án
- Đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu, Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án3
- Đối với trường hợp cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành
án, tùy vào từng loại việc cụ thể, cơ quan THADS có thể ra ngay quyết định thi hành án sau khi nhận được quyết định của Tòa án hoặc có thể ra quyết định thi hành án trong thời hạn 03 ngày, 05 ngày kể từ ngày nhận được bản
án, quyết định của Tòa án4
Sau khi ban hành Quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan THADS
phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc
Bước 2: Tống đạt quyết định thi hành án
Để người phải thi hành án biết và thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình, người được thi hành án nắm được quyền lợi của mình, cơ quan THADS phải tống đạt quyết định thi hành án cho họ Việc tống đạt quyết định thi hành
án phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án5
5
Khoản 2 Điều 39 Luật THADS 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014
Trang 22Việc tống đạt quyết định thi hành án có thể được thực hiện theo các hình thức: tống đạt trực tiếp; Niêm yết công khai; Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
Trong trường hợp cụ thể này, người phải thi hành án là một bên vợ hoặc chồng (là cá nhân chứ không phải tổ chức, cơ quan) nên thủ tục tống đạt trực tiếp sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 40 Luật THADS 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 Nếu không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp thì
cơ quan THADS tiến hành niêm yết công khai Việc niêm yết Quyết định thi hành án chỉ được thực hiện khi không có địa chỉ của người được thông báo hoặc không thể thực hiện được việc thông báo trực tiếp trừ trường hợp pháp luật có quy định khác6
Thủ tục niêm yết được thực hiện theo trình tự quy định tại Khoản 2 Điều 42 Luật THADS 2008 được sửa đổi, bổ sung năm
2014 Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc khi đương sự có yêu cầu Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng được thực hiện theo quy định tại Điều 43 Luật THADS 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 Ngoài ra Quyết định thi hành án cũng có thể được công khai trên Trang thông tin điện tử của Cục THADS, Cổng thông tin điện tử của Tổng cục THADS Bộ Tư pháp
Bước 3: Xác định tài sản chung, tài sản riêng của người phải thi hành
án (Xác minh điều kiện thi hành án)
Khoản 1 Điều 45 Luật THADS 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014
quy định: “Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải
thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án” Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự
nguyện thi hành án, mà bên vợ hoặc chồng không tự nguyện thực hiện nghĩa
vụ thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành
6
Khoản 1 Điều 42 Luật THADS 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014
Trang 23án, trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay
Xác minh điều kiện thi hành án chính là việc Chấp hành viên thu thập
thông tin, tiếp cận, xác định đối tượng mục tiêu cần phải thi hành (tài sản, thu
nhập của người phải thi hành án, vật, giấy tờ, nhà phải trả…) và các thông
tin khác phục vụ cho quá trình tổ chức thi hành án như: nhân thân, hoàn cảnh
gia đình của người phải thi hành án…Đây là hoạt động trung tâm, quan trọng
nhất trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự Kết quả xác minh là cơ sở để Chấp hành viên thuyết phục đương sự tự nguyện, thỏa thuận thi hành án, là cơ
sở để Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra các quyết định ủy thác, hoãn, đình chỉ thi hành án hay lựa chọn biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp Có thể nói, xác minh điều kiện thi hành án chính là căn cứ làm phát sinh hàng loạt các tác nghiệp khác trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định, đòi hỏi Chấp hành viên cần thiết phải nắm vững cơ sở pháp lý của việc xác minh, kỹ năng xác minh và xử lý kết quả xác minh phù hợp với quy định của pháp luật về thi hành án dân sự7
Đối với trường hợp xử lý tài sản chung vợ chồng đây chính là giai đoạn Chấp hành viên xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng Giai đoạn này đòi hỏi Chấp hành viên có kỹ năng nghiệp vụ cao, am hiểu quy định của pháp luật liên quan đến tài sản của vợ chồng
Căn cứ kết quả thông tin về tài sản mà người phải thi hành án hoặc người được thi hành án cung cấp, hoặc trường hợp không có hoặc không rõ thông tin về tài sản của người phải thi hành án, Chấp hành viên tiến hành xác minh tại các cơ quan nơi có thông tin về tài sản
Tổng cục Thi hành án dân sự, tại địa chỉ
http://thads.moj.gov.vn/nghean/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=13 , ngày truy cập 11/8/2018
Trang 24Chấp hành viên tiến hành xác minh tại các cơ quan có thẩm quyền để xác định số lượng tiền, tài sản hoặc quyền tài sản; tiền mặt, tiền trong tài khoản; giá trị ước tính và tình trạng của từng loại tài sản; mức thu nhập định
kỳ, không định kỳ, nơi trả thu nhập, các khoản thu nhập hợp pháp khác Trên
cơ sở đó, Chấp hành viên đánh giá khả năng và điều kiện thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án
Đối với trường hợp người phải thi hành án là một bên vợ chồng, Chấp hành viên bắt buộc phải xác minh tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cấp Giấy đăng ký kết hôn cho vợ chồng để xác định thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân vợ chồng Chấp hành viên tiến hành xác minh hoàn cảnh kinh tế, gia đình, thông tin về tài sản, nghĩa vụ về tài sản khác của người phải thi hành án tại địa phương
Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm thì Chấp hành viên tiến hành xác minh tại cơ quan đăng ký tài sản, giao dịch đó Chấp hành viên có thể xác minh trực tiếp hoặc bằng văn bản xác minh Văn bản yêu cầu xác minh phải nêu rõ nội dung xác minh và các thông tin cần thiết Đối với tài sản phải đăng ký, khi tiến hành xác minh thì Chấp hành viên phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp tất cả thông tin tài sản của cả vợ và chồng Bởi nhiều trường hợp, tài sản là tài sản chung của vợ chồng nhưng lại đứng tên một bên vợ hoặc chồng trong khi người đó không phải là người phải thi hành án Nếu Chấp hành viên chỉ xác minh tài sản theo tên của người phải thi hành án thì có khả năng sẽ dẫn đến việc bỏ sót tài sản chung của vợ chồng
Khi xác minh trực tiếp, Chấp hành viên phải lập biên bản xác minh, nội dung biên bản thể hiện đầy đủ kết quả xác minh, có xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh
Trang 25Nếu có thông tin tài sản của người phải thi hành án ở địa phương khác thì Chấp hành viên căn cứ khoản 3 Điều 44 Luật THADS 2008 được sửa đổi,
bổ sung năm 2014 để tiến hành ủy quyền xác minh điều kiện thi hành án dân
sự cho cơ quan THADS nơi có tài sản của người phải thi hành án
Sau khi có đầy đủ thông tin về tài sản của người phải thi hành án, các loại tài sản, nơi có tài sản…, Chấp hành viên phải căn cứ vào thời điểm xác lập tài sản, thời điểm kết hôn, căn cứ vào quy định của pháp luật về Hôn nhân
và gia đình để xác định tài nào là tài sản riêng, tài sản nào là tài sản chung vợ chồng Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:
“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu
nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh
từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”
Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ
ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân Đây chính là căn cứ quan
trọng và đầu tiên để xác định tài sản chung của vợ chồng Thời kỳ hôn nhân bắt đầu từ khi kết hôn tức là ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn- nơi thường trú của vợ hoặc chồng vào Sổ đăng kí kết hôn và cấp giấy Chứng nhận kết hôn cho hai vợ chồng và chấm dứt khi một trong hai bên vợ chồng chết hoặc vợ chồng ly hôn Mọi tài sản trong gia đình tạo dựng được trong thời kỳ hôn nhân đều được coi là tài sản chung của vợ chồng
Trang 26Dựa vào nguồn gốc tài sản được xác lập, Chấp hành viên có thể xác
định được các loại tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng, cụ thể: Tài sản
chung của vợ chồng là tài sản tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân
Tài sản riêng chính là tài sản vợ chồng có được trước khi kết hôn, là tài sản được tặng cho, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân
Nếu kết quả xác minh cho thấy người phải thi hành án không có tài sản riêng hoặc nếu có nhưng không đủ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản chung của vợ chồng để thi hành án
Bước 4: Xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của vợ chồng
Để có cơ sở áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp kê biên và phát mại tài sản để lấy tiền thi hành án thì việc xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung
vợ chồng là hết sức quan trọng
- Trường hợp thứ nhất: Nếu vợ chồng tự thỏa thuận được việc xử lý tài sản chung nào của vợ chồng để đảm bảo việc thi hành án cho bên vợ hoặc chồng (việc thỏa thuận không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người phải thi hành án) thì Chấp hành viên căn cứ văn bản thỏa thuận của vợ chồng để
xử lý phần tài sản của người phải thi hành án
- Trường hợp thứ hai: Nếu vợ chồng không thỏa thuận được việc xử lý tài sản chung vợ chồng để thi hành án và yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung vợ chồng sau khi có thông báo của cơ quan THADS
Điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 hướng dẫn thi hành Điều 74 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 có quy định:
Trang 27Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết
Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn
30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ
Như vậy, sau khi nhận được thông báo của Chấp hành viên về việc xác định phần tài sản của bên vợ, chồng trong khối tài sản chung vợ chồng nếu
vợ, chồng không đồng ý với cách xác định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung Trong trường hợp này, kết quả phân chia tài sản chung của vợ chồng của Tòa án sẽ là căn cứ để Chấp hành viên kê biên, xử lý phần tài sản của người phải thi hành án để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án
- Trường hợp thứ ba: Vợ, chồng không thỏa thuận, không yêu cầu Tòa
án phân chia tài sản chung vợ chồng
Căn cứ quy định tại Điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định
62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 nêu trên thì nếu sau 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Chấp hành viên về việc xác định phần sở hữu của mỗi bên vợ, chồng trong khối tài sản chung vợ chồng mà vợ, chồng không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung vợ chồng thì Chấp hành viên căn cứ quy định của pháp luật
về hôn nhân và gia đình để xác định phần sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của vợ, chồng trong khối tài sản chung
Khi xác định phần sở hữu, phần sử dụng tài sản của mỗi bên vợ, chồng, Chấp hành viên áp dụng nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Trang 28được quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 Theo đó, tài sản của vợ
chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như: về hoàn cảnh của gia
đình của vợ, chồng; về công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Về cách phân chia, tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị
Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quy
định: “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương
ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định này 8 …” Do đó, trường hợp vợ chồng có nhiều tài sản chung, Chấp hành viên cần tính toán, ước lượng về giá trị tài sản đó trên cơ sở khả năng phán đoán của mình, có tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn, giá cả thị trường tại thời điểm đó và các yếu tố cần thiết khác để xác định giá trị các loại tài sản chung vợ chồng Qua đó, Chấp hành viên xác định phần tài sản của người phải thi hành án Nếu phần tài sản của người phải thi hành án gồm nhiều loại tài sản, nhiều giá trị khác nhau thì Chấp hành viên sẽ tiến hành chọn lựa tài sản để thi hành án Phần tài sản được chọn để xử lý phải có giá trị tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí phát sinh trong quá trình xử lý tài sản
Ví dụ: ông A và bà B có tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân là quyền sử dụng 100m2 đất, trị giá khoảng 2.000.000.000 đồng (hai tỷ
đồng), 01 chiếc ô tô 04 chỗ có giá trị khoảng 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng) Ông A không có tài sản riêng nào Theo Bản án có hiệu lực của
8
Khoản 4 Điều 24 Nghị định này quy định: “Trường hợp người phải thi hành án tự nguyện
đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án, các chi phí liên quan thì Chấp hành viên lập biên bản giải thích cho họ về việc phải chịu mọi chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản đó và tiến hành kê biên tài sản để thi hành án Người phải thi hành án bị hạn chế quyền thực hiện giao dịch đối với các tài sản khác cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án”
Trang 29Tòa án, ông A có nghĩa vụ trả nợ cho ông C số tiền là 500.000.000 đồng (năm
trăm triệu đồng) và lãi suất chậm thi hành án Chấp hành viên ước tính ông A
và vợ là bà B mỗi người có quyền sử dụng đối với 50m2 đất, giá trị khoảng 1.000.000.000 đồng; ông A và bà B mỗi người được sở hữu ½ chiếc ô tô, giá trị khoảng 350.000.000 đồng Nếu kê biên chiếc xe, phần ông A được nhận sẽ không đủ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án Do đó, Chấp hành viên lựa chọn
xử lý 50m2 đất là phần của ông A để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án (việc tách riêng 50m2 để xử lý đảm bảo không làm giảm sút giá trị tài sản)
Trường hợp nếu vợ chồng chỉ có tài sản chung duy nhất hoặc nếu tài sản chung không thể phân chia hoặc nếu phân chia sẽ làm giảm đáng kể giá trị tài sản thì Chấp hành viên tiến hành xử lý toàn bộ tài sản chung vợ chồng đó
Ví dụ: Giả sử cũng giống như tình huống nêu trên nhưng vợ chồng ông
A và bà B chỉ có tài sản chung duy nhất là quyền sử dụng 50m2 đất và căn nhà 02 tầng được xây dựng trên đất Tài sản này được xác định không thể phân chia vì việc chia sẽ làm giảm sút giá trị tài sản nên để bảo đảm nghĩa vụ của ông A với ông C, Chấp hành viên tiến hành kê biên toàn bộ tài sản chung của ông A, bà B để xử lý
Tuy nhiên, quá trình xác định, lựa chọn tài sản chung vợ chồng của người phải thi hành để xử lý thì Chấp hành viên bắt buộc phải tuân thủ
nguyên tắc quy định tại điểm a khoản 2 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP:
“ Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là quyền
sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không
đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của đương sự theo quy định tại Khoản
4 Điều này”
Căn cứ quy định của pháp luật, sau khi xác định phần sở hữu của vợ chồng, Chấp hành viên thông báo cho vợ chồng biết và thông báo cho họ trong vòng 30 ngày kể từ ngày được thông báo, họ có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng nếu họ không đồng ý với kết quả xác định của Chấp hành viên
Trang 30Bước 5: Kê biên, xử lý tài sản
- Kê biên tài sản:
+ Nếu sau 30 ngày kể từ khi được thông báo hợp lệ, vợ hoặc chồng đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung thì Chấp hành viên căn cứ kết quả giải quyết của Tòa án, tiến hành kê biên phần tài sản của người phải thi hành án để
xử lý theo quy định
+ Nếu sau 30 ngày kể từ khi được thông báo hợp lệ, vợ hoặc chồng không đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung thì Chấp hành viên tiến hành kê biên phần tài sản của người phải thi hành án mà Chấp hành viên đã xác định trước đó để xử lý Tùy vào từng loại tài sản kê biên mà Chấp hành viên tiến hành các trình tự, thủ tục kê biên, xử lý phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014
Trường hợp tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án Trường hợp tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.
- Định giá tài sản: Ngay khi kê biên tài sản mà đương sự thỏa thuận được về giá tài sản hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó Giá tài sản do đương sự thỏa thuận là giá khởi điểm để bán đấu giá Trường hợp đương sự có thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó Nếu các bên không thỏa thuận được thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên9
Trang 31- Thông báo kết quả thẩm định giá:
+ Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá, Chấp hành viên thông báo cho đương sự quyền yêu cầu định giá lại Chấp hành viên thực hiện thủ tục thông báo kết quả thẩm định giá theo quy định chung về thông báo thi hành án quy định tại Điều 39, 40, 41, 42, 43 Luật THADS 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015; Điều 2 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 Trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá, nếu đương sự có yêu cầu định giá lại thì phải nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại Việc định giá lại được thực hiện theo quy định tại tại khoản 2, khoản 3 Điều 98 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 Việc định giá lại chỉ được thực hiện một lần và phải được thực hiện trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản
+ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá, Chấp hành viên thông báo cho chủ sở hữu chung quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014:
Chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung
Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101 của Luật này
Trang 32Đối với quá trình xử lý tài sản chung vợ chồng, đây là thủ tục bắt buộc
mà Chấp hành viên phải thực hiện, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ
sở hữu chung tài sản là vợ hoặc chồng, tạo điều kiện cho họ được tiếp tục sở hữu, sử dụng phần tài sản mà trước đó họ đang đồng sở hữu, sử dụng
- Bán đấu giá tài sản: Chấp hành viên thông báo cho các đương sự quyền thỏa thuận về tổ chức bán đấu giá trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày định giá Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá do đương sự thỏa thuận Trường hợp đương sự không thỏa thuận được thì Chấp hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá10
Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là
30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng Tổ chức bán đấu giá được Chấp hành viên ký sẽ tiến hành các trình tự, thủ tục bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản
Bước 6: Kết thúc việc xử lý tài sản chung vợ chồng
- Thanh toán tiền thi hành án:
+ Trường hợp tài sản đưa ra bán đấu giá là phần sở hữu tài sản, phần sử dụng đất của người phải thi hành án: Sau khi bán đấu giá thành, Chấp hành viên tiến hành thanh toán tiền thi hành án Số tiền sau khi trừ đi các chi phí thi hành án, khoản án phí của người phải thi hành án sẽ được thanh toán cho người được thi hành án Nếu sau khi thanh toán xong nghĩa vụ thi hành án mà còn thừa tiền, Chấp hành viên sẽ tiến hành trả lại cho người phải thi hành án
+ Trường hợp tài sản đưa ra bán đấu là tài sản chung không thể chia: Sau khi bán đấu giá thành, một nửa số tiền thu được, Chấp hành viên sẽ thông báo cho người vợ hoặc chồng của người phải thi hành án đến nhận Sau 15
10
Xem Điều 101 Luật THADS 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014
Trang 33ngày kể từ ngày thông báo, nếu họ không đến nhận thì Chấp hành viên gửi số tiền đó theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho họ biết Đối với phần của người phải thi hành án, sau khi trừ đi các chi phí thi hành án, án phí, Chấp hành viên thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án như đã nêu ở phần trên
- Giao tài sản đã xử lý:
+ Trường hợp người vợ hoặc người chồng của người phải thi hành án thực hiện quyền ưu tiên mua tài sản chung, Chấp hành viên ra Quyết định bán tài sản cho chủ sở hữu chung (đối với tài sản là bất động sản và động sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng) hoặc lập biên bản giao tài sản cho chủ
sở hữu chung (đối với tài sản là động sản nhưng không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng)11
+ Trường hợp tài sản bán cho bên thứ ba hoặc người được thi hành án nhận tài sản để khấu trừ thì Chấp hành viên tổ chức giao tài sản cho họ theo trình tự, thủ tục quy định
1.3 Xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng sau khi cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của một bên theo quyết định, bản án có hiệu lực của Toà án
1.3.1 Trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung vợ chồng trên cơ sở vợ chồng thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung vợ chồng
Trong trường hợp này, cơ quan THADS căn cứ vào văn bản thỏa thuận
phân chia tài sản chung vợ chồng hoặc Bản án của Tòa án về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để xử lý phần tài sản của người phải thi hành án để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án Do vợ chồng đã thỏa
11
Điều 7 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC
Trang 34thuận hoặc yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nên việc xác định tài sản chung, riêng của vợ chồng sau khi cơ quan THADS
xử lý tài sản của vợ chồng để thi hành án được áp dụng theo quy định của pháp luật về Hôn nhân và gia đình, cụ thể:
1.3.1.1 Xác định tài sản chung vợ chồng
Khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản
chung của vợ chồng như sau:
1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập
do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng
Như vậy, tài sản chung của vợ chồng được xác định theo các căn cứ: các tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; các tài sản có được do thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được thừa kế, tặng cho chung; các tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
- Tài sản, thu nhập do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân: Sau khi
kết hôn, vợ chồng cùng chung sống với nhau, cùng tạo dựng tài sản nhằm đảm bảo cuộc sống gia đình, vì lợi ích của gia đình Thông qua sức lao động của vợ, chồng được thể hiện dưới hình thức khác nhau để tạo ra nguồn thu nhập, cùng đóng góp thu nhập để mua sắm tài sản, xây dựng nhà ở nếu đó là lao động hợp pháp đều được công nhận là tài sản chung vợ chồng Thu nhập hợp pháp của vợ chồng do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh như
Trang 35lương, lợi nhuận do hoạt động kinh doanh, sản xuất mang lại Những thu nhập này thường là nguồn thu nhập chính, ổn định để bảo đảm cuộc sống chung của gia đình
- Tài sản là thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân: Các khoản thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng thường có tính chất
bất ngờ, có được không phải do lao động sản xuất mà do pháp luật quy định
Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ năm 2014
quy định thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân bao
gồm:
1 Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của Nghị định này
2 Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của
Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước
3 Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật
Các khoản thu nhập do trúng thưởng, trúng xổ số, khoản tiền thưởng được xác lập trong thời kỳ hôn nhân dù là vợ hay chồng được nhận đều là tài sản chung của vợ chồng
Trong thời kỳ hôn nhân, chỉ cần một trong hai bên vợ chồng xác lập quyền sở hữu đối với tài sản theo quy định của BLDS năm 2015 (ví dụ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu, tài sản bị người khác đánh rơi, bỏ quên, tài sản bị chôn giấu được tìm thấy ) thì tài sản đó là tài sản chung vợ chồng
- Tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung, tặng cho chung: Vợ chồng
được thừa kế chung xảy ra trong trường hợp được thừa kế theo di chúc Người chết để lại di chúc trong đó có nội dung để lại tài sản thừa kế cho cả vợ
Trang 36và chồng Trong trường hợp này, phần tài sản mà vợ chồng cùng được thừa kế chung được xác định là tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, nếu di chúc lại chỉ rõ phần tài sản mỗi bên vợ chồng được nhận thì tài sản đó thuộc sở hữu chung theo phần chứ không phải là sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng Trong thời kỳ hôn nhân, vợ hoặc chồng có thể được người thân hoặc bạn bè tặng cho tài sản Nếu người có tài sản thể hiện ý chí tặng cho chung vợ chồng mà không xác định phần mỗi người được nhận đối với tài sản được tặng thì tài sản được tặng cho đó là tài sản chung của vợ chồng Tài sản được tặng cho là bất động sản thì vợ chồng có quyền sở hữu chung kể từ thời điểm đăng ký tên cả hai vợ chồng Tài sản được tặng cho là động sản thì vợ chồng
có quyền sở hữu chung kể từ thời điểm nhận tài sản
- Tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được
sau khi kết hôn: Quyền sử dụng đất là tài sản có giá trị lớn của mỗi gia đình
Đối với quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân do Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng, do vợ chồng nhận chuyển nhượng,
do thừa kế chung, được tặng cho chung thì là tài sản chung Quyền sử dụng đất trong trường hợp là tài sản riêng trước khi kết hôn nhưng sau khi kết hôn
vợ chồng vợ chồng lập văn bản thỏa thuận nhập vào tài sản chung thì quyền
sử dụng đất lúc này là tài sản chung vợ chồng
Trường hợp vợ chồng chỉ có duy nhất một tài sản chung vợ chồng hoặc
có nhiều tài sản chung nhưng phải kê biên, xử lý hết mới đủ để thanh toán nghĩa vụ thi hành án (nghĩa là phải phân chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng) thì về cơ bản tài sản chung vợ chồng sẽ không còn Trừ khi, sau khi cơ quan THADS xử lý tài sản chung vợ chồng, các bên vợ chồng tự nguyện nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung thì khi đó tài sản riêng trở thành tài sản chung của vợ chồng12 Tài sản riêng này có thể có được trước khi kết
12
Xem Khoản 1,2 Điều 46 Luật HN&GĐ năm 2014
Trang 37hôn, cũng có thể là tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng và cũng có thể
là phần tài sản bên vợ, chồng nhận được sau khi chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân
Đối với những tài sản riêng có giá trị lớn như nhà ở, quyền sử dụng đất,
xe ô tô thì việc thỏa thuận nhập thành tài sản riêng phải được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng, một số trường hợp bắt buộc phải công chứng, chứng thực Tuy nhiên, việc thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản sẽ bị vô hiệu13
1.3.1.2 Xác định tài sản riêng của vợ chồng
Như đã trình bày ở tiểu mục 1.2.1, cơ quan THADS chỉ xử lý tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của một bên vợ, chồng khi bên vợ, chồng là người phải thi hành án không có tài sản riêng hoặc có nhưng không đủ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án Do đó, trong trường hợp này, đối với bên vợ, chồng là người phải thi hành án thì tài sản riêng của họ là phần tài sản họ nhận được; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản họ nhận được sau khi phân chia tài sản chung vợ chồng
Đối với bên vợ chồng của người phải thi hành án thì tài sản riêng của
+ Tài sản có trước khi kết hôn: Trước khi kết hôn, họ đã tham gia vào trong quá trình lao động, sản xuất đó và tạo ra được khối tài sản của riêng mình Với tư cách là một công dân, họ có quyền sở hữu tài sản mà mình đã
sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2002, tr.40
Trang 38tạo lập ra theo quy định Thực tế cho thấy, trước khi kết hôn, họ đã sở hữu nhiều tài sản có giá trị, đó có thể là một khoản tiền, một chiếc xe máy hoặc ô
tô, thậm chí là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở…Khi tham gia vào một quan hệ hôn nhân hợp pháp, pháp luật vẫn bảo đảm tài sản họ có được trước khi kết hôn là tài sản riêng của họ Việc thiết lập quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa vợ và chồng không làm thay đổi hay hủy bỏ quyền sở hữu cá nhân của người vợ hoặc người chồng đối với tài sản riêng có được trước khi kết hôn Do đó, những tài sản bên vợ, chồng của người phải thi hành án có được trước khi kết hôn là tài sản riêng của họ
+ Tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân:
Loại tài sản này được tạo ra không phải bắt nguồn từ công sức lao động, hoạt động kinh doanh, sản xuất của vợ chồng mà là được tặng cho riêng, thừa kế
riêng trong thời kỳ hôn nhân
Tài sản được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản mà cá nhân người vợ hoặc người chồng nhận được từ người cho tặng và người cho tặng thể hiện ý chí rõ ràng là cho tặng riêng vợ hoặc chồng Tài sản được thừa
kế riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản mà bên vợ hoặc chồng nhận được theo di chúc hoặc được chia thừa kế theo pháp luật mà họ là hàng thừa kế Các loại tài sản này dù bên vợ hoặc chồng có được trong thời kỳ hôn nhân nhưng nó được xác định là di sản thừa kế riêng, được tặng cho riêng nên
nó là tài sản riêng của vợ chồng
+ Tài sản đáp ứng nhu cầu cần thiết của vợ chồng: Tài sản đáp ứng nhu cầu cần thiết của vợ chồng là các tài loại tài sản phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng riêng phù hợp với giới tính, công việc của vợ chồng Đó thể là tài
sản phục vụ nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám
bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho
Trang 39cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình14
Ví dụ như chiếc xe đạp, xe máy
phục vụ nhu cầu đi lại hàng ngày của vợ chồng, là chiếc máy tính xách tay phục vụ nhu cầu công việc, là chiếc điện thoại di động Đó cũng có thể là các đồ dùng, tư trang luôn đi theo người vợ hoặc người chồng
+ Tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng vợ
chồng: Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình thì tài sản riêng khác của vợ chồng được xác định gồm: Quyền tài sản đối với đối tượng
sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ; Tài sản mà vợ chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác; Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài
sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng
1.3.2 Trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản chung vợ chồng trên cơ sở tự xác định phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ chồng
Trường hợp này do người phải thi hành án không có tài sản riêng, vợ chồng không thỏa thuận cũng không yêu cầu Tòa án phân chia, xác định phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ chồng nên Chấp hành viên đã chủ động xác định phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ chồng và tiến hành xử lý để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án Tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được xác định như sau:
1.3.2.1 Xác định tài sản chung của vợ chồng
Khi xử lý tài sản chung của vợ chồng để thi hành án cho một bên, Chấp hành viên đã xác định phần tài sản của bên vợ, bên chồng trong khối tài sản
14
Khoản 20 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014
Trang 40chung của vợ chồng Chấp hành viên chỉ tiến hành xử lý phần tài sản của người phải thi hành án Quá trình tác nghiệp của Chấp hành viên không làm thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân người phải thi hành án
Trường hợp vợ chồng có nhiều tài sản chung, để thi hành nghĩa vụ của một bên chỉ cần xử lý một phần tài sản chung của vợ chồng là đủ thanh toán nghĩa vụ thi hành án thì khi đó phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản này cũng chính là tài sản chung của vợ chồng Đó chính là những tài sản vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân trước thời điểm cơ quan THADS xử lý tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của một bên được quy định tại khoản
1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014
Trường hợp nếu vợ chồng chỉ có tài sản chung duy nhất hoặc nghĩa vụ thi hành án quá lớn bắt buộc phải xử lý hết phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung vợ chồng, do đó, sau khi cơ quan THADS
xử lý tài sản chung vợ chồng để thi hành án thì sẽ không còn tài sản chung vợ chồng trừ trường hợp các bên thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung
vợ chồng
1.3.2.2 Xác định tài sản riêng vợ chồng
Theo quy định của pháp luật, cơ quan THADS không phải là cơ quan
có thẩm quyền phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Tuy nhiên, trên cơ sở thực hiện phán quyết của Tòa án trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, Chấp hành viên đã tiến hành xác định phần tài sản của mỗi bên vợ chồng trong khối tài sản chung của vợ chồng Việc Chấp hành viên xác định phần tài sản của mỗi bên vợ chồng là đã xác định những tài sản nào là của bên vợ, những tài sản nào là của bên chồng, xét về mặt bản chất nó giống như chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Bất kể là trường hợp tài sản chung được chia theo