Hồ sơ vụ án hình sự chứa đựng toàn bộ các thông tin, chứng cứ về tội phạm và người phạm tội, được các cơ quan tiến hành tố tụng dựa vào đó để thực hiện các chức năng tố tụng của mình, đồ
Trang 3tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ MINH ĐỨC
Trang 4
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự
BLHS: Bộ luật hình sự
VKS: Viện kiểm sát
Trang 5BẢNG 3.1: Tỷ lệ số vụ án Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ
sung chia theo nhóm tội phạm 55
BẢNG 3.2: Số vụ án Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung
chia theo căn cứ tại Điều 245 BLTTHS năm 2015 55
BIỂU 3.3: Cơ cấu số vụ án án Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra
bổ sung theo căn cứ quy định tại Điều 245 BLTTHS năm 2015 56
Trang 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT LỊCH SỬ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI
ĐOẠN TRUY TỐ 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 6
1.1.1 Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 6
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 12 1.2 Ý nghĩa của việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 16
1.3 Khái quát lịch sử quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 21
K t uận hương 1 24
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 26
2.1 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 26
2.1.1 Các trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 26
2.1.2 Thẩm quyền và trình tự, thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 36
2.1.3 Những quy định khác của pháp luật về hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 40
2.2 Đánh giá quy định pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 42
2.2.1 Một số điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và văn bản hướng dẫn thi hành so với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 42
2.2.2 Một số bất cập của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 49
K t uận hương 2 53
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ54 3.1 Thực tiễn trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 54
3.1.1 Tổng quan tình hình trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 54
3.1.2 Đánh giá tình hình trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 59
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 64
3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố 64
3.2.2 Các giải pháp khác 68
K t uận hương 3 72
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 T nh ấp thi t ủ tài
Để xác định sự thật khách quan của một vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau theo quy định của pháp luật Một trong số những giai đoạn đó là Truy tố, trong đó Viện kiểm sát phải tiến hành các hoạt động cần thiết, nghiên cứu, xem xét các vấn đề về thủ tục tố tụng và nội dung
vụ án thể hiện qua hồ sơ nhằm đảm bảo quá trình điều tra đúng pháp luật, khách quan, toàn diện, đầy đủ, bên cạnh đó cũng đảm bảo việc ban hành quyết định truy tố
bị can ra xét xử trước Tòa án có thẩm quyền hoặc những quyết định khác cần thiết cho việc giải quyết vụ án là có căn cứ và đúng pháp luật
Theo quy định của pháp luật, trong giai đoạn truy tố, khi Viện kiểm sát phát hiện thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể tự mình
bổ sung được hay khi có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến
vụ án nhưng chưa được khởi tố; hoặc khi có phát hiện vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì Viện kiểm sát sẽ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhằm khắc phục những thiếu sót, tồn tại trong giai đoạn tố tụng trước và giải quyết vụ án theo hướng đúng đắn
Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố đã được pháp luật Việt Nam quy định từ khi ban hành BLTTHS năm 1988, được hoàn thiện hơn ở BLTTHS năm 2003 và cho đến BLTTHS năm 2015 hoàn thiện hơn cả Tuy được ra đời từ lâu, nhưng cho đến nay, qua thực tiễn áp dụng, quy định về vấn đề này bộc lộ một số hạn chế, bất cập dẫn đến hệ quả như hiện tượng trả hồ sơ tràn lan, không căn
cứ, ảnh hưởng đến quá trình tố tụng Bên cạnh đó, việc lạm dụng thẩm quyền, xem nhẹ quy định về thời hạn điều tra hoặc kéo dài thời hạn điều tra của nhiều vụ án,… đều là những hệ quả của việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung tràn lan
Thực tiễn áp dụng cho thấy quy định của BLTTHS năm 2003 về vấn đề này còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết vụ án hình sự Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 khi quy định về vấn đề này đã có những sửa đổi, về cơ bản đã khắc phục được một số tồn tại, hạn chế trong quy định của BLTTHS năm 2003 Tuy nhiên, song song với việc loại bỏ một số vướng mắc trong các quy định pháp luật trước đó, BLTTHS năm 2015 cũng đặt ra yêu cầu phải có những nghiên cứu, hướng dẫn nhằm tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật, đảm bảo việc giải thích cũng như
áp dụng pháp luật thống nhất và tháo g những bất cập, hạn chế trong quy định của
Trang 8pháp luật về vấn đề Từ đó, hạn chế trường hợp hồ sơ bị trả đi trả lại nhiều lần khiến thời hạn giải quyết vụ án kéo dài
Trong bối cảnh hiện nay, khi BLTTHS năm 2015 đã chính thức có hiệu lực
và cả nước đang trong quá trình thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 48-NQ-TW ngày 25/4/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 cũng như các văn kiện khác của Đảng về cải cách tư pháp, việc tiếp tục nghiên cứu về cơ sở l luận, cơ sở thực tiễn cũng như kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, bao gồm cả quy định về trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố theo BLTTHS năm 2015 có nghĩa quan trọng và hết sức cần thiết Từ những phân tích trên, chúng tôi quyết định
chọn đề tài r h s để đi u tra sung trong giai đo n tru tố theo qu đ nh
của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” làm đề tài luận văn thạc s của mình
2 Tình hình nghiên ứu tài
Từ trước đến nay, đề tài trả hồ sơ điều tra bổ sung nói chung và trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố nói riêng đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nghiên cứu dưới dạng sách chuyên khảo, tham khảo, các bài viết, bài báo, chuyên đề, luận văn như:
- Nguyễn Đức Hạnh (2009), Trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Luận văn thạc s
luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
Luận văn đã nêu lên một số tồn tại và vướng mắc giữa quy định của chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và thực tiễn áp dụng, phân tích thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung từ năm 2002 đến 2008 giữa các cơ quan tiến hành tố tụng,chỉ ra được một số nguyên nhân và đưa ra các giải pháp, kiến nghị để hạn chế tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với hoạt động tố tụng hình sự;
- Vũ Gia Lâm (2013), Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về
việc Tòa án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Tạp chí Tòa án nhân dân số
8, Hà Nôi
Bài viết trao đổi một số bất cập, vướng mắc của các quy định BLTTHS năm
2003 về việc Tòa án ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm, trên cơ sở đó, đề xuất việc tiếp tục hoàn thiện quy định của BLTTHS về vấn đề này;
Trang 9- Hoàng Thị Thùy Linh (2016), Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong tố tụng
hình sự Việt Nam, Luận văn thạc s Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
Luận văn nghiên cứu về những vấn đề l luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đánh giá thực trạng áp dụng quy định pháp luật và đưa ra một số giải pháp hạn chế việc trả hồ sơ giữa các cơ quan tố tụng
- Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn
truy tố (2017); Luận văn thạc s Luật học,
Ngoài việc nghiên cứu những vấn đề l luận, luận văn đã làm rõ quy định của BLTTHS năm 2003 về trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định của BLTTHS năm 2003 và thực tiễn thực hiện đến năm 2017 và đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động này
Ngoài ra, còn rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề trả điều tra bổ
sung ở Việt Nam như bài viết của tác giả Nguyễn Hải Ninh “Sửa đổi, bổ sung quy
định của pháp luật về điều tra bổ sung” đăng trên Tạp chí Luật học số 7/2008; bài
viết của tác giả Lê Ngọc Huấn“Một số giải pháp nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để
điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng” đăng trên Tạp chí kiểm sát số
10/2009; luận văn thạc sĩ luật học Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong luật
tố tụng hình sự Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Hải Châu vào năm 2010; bài viết
của tác giả Nguyễn Quang Lộc “Bàn về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung” đăng trên Tạp chí Tòa án số 8/2013; bài viết của tác giả Thái Chí Bình “Hoàn thiện
các quy định của BLTTHS năm 2013 về yêu cầu điều tra bổ sung” đăng trên Tạp chí
Nhà nước và pháp luật số 11/2013; Bài viết của tác giả Lê Tấn Cường Giải pháp để
hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố đăng trên Tạp chí
Kiểm sát số 10/2014; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (2018); Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Kiểm sát (2017);
Các công trình nghiên cứu trên đều đã đề cập đến vấn đề trả hồ sơ điều tra bổ sung ở các mức độ khác nhau và là tài liệu tham khảo quan trọng mà tác giả kế thừa, tiếp tục nghiên cứu làm rõ trong luận văn của mình
Tuy nhiên, kể từ khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành, chưa có nhiều các công trình nghiên cứu tập trung phân tích cụ thể và chuyên sâu quy định về trả
hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố trên các góc độ khác nhau như khái niệm, nghĩa, quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành cũng như đưa ra
Trang 10đánh giá về thực trạng áp dụng pháp luật và kiến nghị những giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 2015 về vấn đề trả hồ sơ để điều tra bổ sung
3 Đối tƣợng nghiên ứu, phạm vi nghiên ứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề l luận và
quy định pháp luật cũng như thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố
- Về phạm vi nghiên cứu: Cùng với những vấn đề l luận, luận văn nghiên
cứu quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố theo pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam, đặc biệt tập trung làm rõ quy định của BLTTHS năm
2015 và thực tiễn thực hiện giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ qua điều tra trong Công an nhân dân
Do tính đặc thù về thời điểm nghiên cứu: khi mà BLTTHS năm 2015 mới có hiệu lực thi hành và trước đó vào năm 2017 đã có Luận văn thạc sĩ của tác giả Võ
Thị Xuân Hương về “Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố” phản
ánh khá đầy đủ về thực tiễn trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định của BLTTHS năm 2003; Hầu hết những bất cập trong quy định của BLTTHS năm 2003
về vấn đề này đã được khắc phục trong quy định của BLTTHS năm 2015 Do vậy,
để tránh trùng lặp, luận văn chỉ nghiên cứu thực tiễn thực hiện việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định của BLTTHS năm 2015
4 Mụ tiêu nghiên ứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề l luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố; Phân tích, đánh giá thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố, luận văn đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và hạn chế tình trạng trả hồ sơ vụ án giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
5 Nhiệm vụ nghiên ứu
Luận văn hướng tới giải quyết những câu hỏi nghiên cứu sau:
- Khái niệm, đặc điểm, nghĩa của hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố được thể hiện như thế nào ?
- Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố trước và sau khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành Có những điểm khác biệt nào trong quy định pháp luật hiện hành so với BLTTHS năm
2003 Còn có những bất cập nào cần tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện
Trang 11- Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố Đã đạt được những kết quả gì ? Còn những tồn tại, hạn chế nào, do những nguyên nhân nào? Có những giải pháp gì nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố ?
6 Cá phương pháp nghiên ứu áp dụng ể thự hiện uận văn
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp luật Các giải pháp luận văn đưa
ra nghiên cứu dựa trên những quan điểm định hướng chỉ đạo, những nguyên tắc pháp l đã được Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn hiện nay
Ngoài ra, tác giả còn sử dung các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích tổng hợp vừa đảm bảo tính khái quát của vấn đề được nghiên cứu vừa đảm bảo tính chuyên sâu ở mỗi nội dung liên quan đến trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; Phương pháp thống kê được sử dụng để nêu rõ số liệu thực tiễn về thực hiện quy định pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổ sung
7 Ý nghĩ kho họ và thự tiễn ủ uận văn
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần bổ sung, làm rõ một số vấn đề l luận cũng như quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có giá trị như một tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật, góp phần nêu lên một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố
8 Bố ụ ( á hương) ủ uận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề l luận và khái quát lịch sử quy định pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và giải pháp nâng cao chất lượng trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT LỊCH SỬ QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ
1 1 Khái niệm, ặ iểm ủ hoạt ộng trả hồ sơ ể i u tr bổ sung trong gi i oạn truy tố
1.1.1 Khái niệm tr h s để đi u tra sung trong giai đo n tru tố
- Khái niệm giai đoạn truy tố
Truy tố là một thuật ngữ pháp l có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể là một hoạt động tố tụng hình sự hoặc một giai đoạn tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự
Dưới khía cạnh hoạt động tố tụng, Truy tố là việc đưa người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử Theo quy định của pháp luật, truy tố người phạm tội ra trước Tòa án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân Sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố rồi gửi cùng hồ sơ
vụ án đến Viện kiểm sát cùng cấp thực hiện truy tố1
Truy tố cũng có thể được hiểu là một giai đoạn của tố tụng hình sự Luật tố tụng hình sự Việt Nam chia quá trình tố tụng thành các giai đoạn: Khởi tố vụ án hình sự, Điều tra vụ án hình sự, Truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, thi hành án hình sự và giai đoạn đặc biệt2 Trong đó, Truy tố là giai đoạn Viện kiểm sát tiến hành hoạt động xem xét quyết định việc truy tố sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển đến và kết thúc khi Viện kiểm sát ra bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố ra trước Tòa án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án Truy tố chính là giai đoạn tiếp theo sau giai đoạn điều tra, được bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận hồ sơ vụ án kèm theo bản Kết luận điều tra
đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.3
Truy tố là giai đoạn của tố tụng hình sự do VKS có thẩm
Trang 13quyền tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm buộc tội bị can trước tòa án có thẩm quyền bằng bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố 4
Từ sự phân tích trên, có thể thấy, chủ thể đóng vai trò quan trọng nhất trong giai đoạn này là Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân nhân danh nhà nước thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp5 Quyền năng công tố nhà nước do Viện kiểm sát thực hiện gồm nhiều quyền năng tố tụng, trong đó, quyền truy cứu trách nhiệm hình sự bị can ra trước Tòa án là quyền đặc trưng của Viện kiểm sát.6
Đây là một trong những hoạt động quan trọng được VKS thực hiện trong giai đoạn
này Có thể thấy, khái niệm “truy tố” dưới góc độ một giai đoạn tố tụng hình sự bao
hàm cả khái niệm truy tố dưới danh nghĩa một hoạt động tố tụng
Giai đoạn tố tụng là những bước trong trình tự tố tụng có nhiệm vụ riêng, mang đặc thù về phạm vi chủ thể, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng.7
Nhiệm vụ cơ bản và quan trọng nhất trong giai đoạn truy tố là đảm bảo việc
ra quyết định truy tố cũng như những quyết định cần thiết khác nhằm giải quyết vụ
án là có căn cứ và hợp pháp Trong giai đoạn này, Viện kiểm sát cần nghiên cứu, xem xét tất cả những vấn đề mang tính thủ tục tố tụng và những vấn đề thuộc nội dung vụ án thể hiện qua hồ sơ điều ra nhằm xác định quá trình điều tra vụ án có tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự không, có còn những hạn chế và thiếu sót nào cần khắc phục không để kịp thời ra các quyết định tố tụng cần thiết nhằm bổ sung và hoàn thiện hồ sơ, khắc phục những vi phạm pháp luật của Cơ quan điều tra, đảm bảo việc điều tra tuân thủ đúng quy định của pháp luật, khách quan, toàn diện và đầy đủ Trên cơ sở đó, đảm bảo việc ra quyết định truy tố bị can đúng đắn, chính xác, góp phần thực hiện tốt chức năng buộc tội nhân danh nhà nước, tạo
cơ sở pháp l để Tòa án xét xử, đảm bảo lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, tôn trọng
và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân.8
Dưới góc độ là một giai đoạn tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, truy tố là giai đoạn tố tụng tiếp theo sau giai đoạn điều tra vụ án hình sự, bắt đầu khi
Trang 14cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và gửi kèm hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát và kết thúc khi Viện kiểm sát ra quyết định truy tố bị can ra trước Tòa
án để xét xử hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án Trong đó, chủ thể tiến hành tố tụng (Viện kiểm sát có thẩm quyền) tiến hành mọi hoạt động cần thiết, nghiên cứu tất cả những vấn đề về thủ tục tố tụng cũng như nội dung vụ án để quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can ra trước Tòa án có thẩm quyền hoặc ban hành những quyết định tố tụng khác trong phạm vi thẩm quyền để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
Như vậy, có thể thấy: Truy tố là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng hay quyết định truy tố, hoặc ra những quyết định tố tụng khác để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự trong thời hạn từ khi nhận hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra đề nghị truy tố do cơ quan điều tra chuyển tới đến khi Viện kiểm sát chuyển hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố cho Tòa án có thẩm quyền Thời hạn này được gọi là thời hạn quyết định việc truy tố
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm giai đoạn truy tố như sau:
Giai đoạn truy tố là một phần (một bước) của quá trình giải quyết vụ án hình
sự, trong đó Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng hay quyết định truy tố, hoặc ra những quyết định
tố tụng khác để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
- Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Trong tố tụng hình sự Việt Nam luôn tồn tại “hồ sơ vụ án hình sự” Nếu như
trong mô hình tố tụng hình sự tranh tụng không tồn tại một hồ sơ vụ án chính thức (bên buộc tội tự lập hồ sơ vụ án của mình để thực hiện chức năng buộc tội, bên bào chữa tự lập hồ sơ của mình để thực hiện chức năng g tội), thì trong suốt các giai đoạn của tố tụng hình sự nước ta luôn tồn tại một hồ sơ vụ án hình sự, được các
cơ quan tiến hành tố tụng lập thống nhất từ giai đoạn điều tra Hồ sơ vụ án hình sự chứa đựng toàn bộ các thông tin, chứng cứ về tội phạm và người phạm tội, được các
cơ quan tiến hành tố tụng dựa vào đó để thực hiện các chức năng tố tụng của mình, đồng thời được bổ sung, hoàn thiện qua từng giai đoạn tố tụng.9
Việc nghiên cứu, xem xét những tài liệu, bằng chứng được thu thập và phản ánh trong hồ sơ vụ án để ban hành quyết định tố tụng nhằm giải quyết vụ án hình sự đúng đắn là hoạt động
9 Lê Hữu Thể, Nguyễn Thị Thủy - Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp; http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/28 , ngày truy cập 27/6/2018)
Trang 15không thể thiếu của chủ thể tiến hành tố tụng mà một trong số những quyết định đó
là Trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Trả hồ sơ điều tra bổ sung là một chế định của pháp luật tố tụng hình sự, được đề cập đến lần đầu tại BLTTHS năm 1988, sau đó được quy định tương đối chi tiết, cụ thể tại BLTTHS năm 2003 và tiếp tục được ghi nhận tại BLTTHS năm
2015 Mặc dù đã nhiều lần được quy định trong các Bộ luật tố tụng hình sự nhưng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam chưa đưa ra một định nghĩa chính thức giải thích khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung Điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố là hoạt động điều tra thêm về vụ án hình sự của Cơ quan điều tra theo yêu cầu của Viện kiểm sát nhằm phát hiện, thu thập, bổ sung tài liệu, chứng cứ giải quyết vụ án được đúng đắn, khách quan Vấn đề này được thường được đề cập tới trong các công trình nghiên cứu như các giáo trình chuyên ngành của các cơ sở đào tạo pháp luật hoặc trong các luận văn, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là một hoạt động tố tụng được quy định tại Điều 168 và Điều 179 của BLTTHS năm 2003 nhằm khắc phục những tồn tại, thiếu sót của các cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử các vụ
án hình sự, đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, triệt
để, chính xác và đúng pháp luật.10
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là chế định của luật tố tụng hình sự quy định Viện kiểm sát hoặc Tòa án chuyển trả hồ sơ cho Viện kiểm sát hoặc Cơ quan điều tra để điều tra thêm về vụ án hình sự theo các căn cứ được quy định trong BLTTHS nhằm mục đích làm sáng tỏ vụ án hình sự, để Tòa án xét xử vụ án một cách công minh, chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.11
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là hoạt động tố tụng do Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện trong giai đoạn truy tố hoặc xét xử khi có các căn cứ và tiến hành theo trình tự, thủ tục BLTTHS quy định nhằm bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét xử vụ
án hình sự đầy đủ, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.12
10 Lê Tấn Cường (2012), Những vướng mắc và kiến nghị sửa đổi chế định Viện kiểm sát nhân dân trả hồ sơ
để điều tra bổ sung, Tạp chí Kiểm sát, (20), tr.15
Trang 16Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là hoạt động của Viện kiểm sát và Tòa án thực hiện trong giai đoạn truy tố hoặc giai đoạn xét xử sơ thẩm khi có căn cứ quy định tại BLTTHS nhằm bổ sung chứng cứ, khắc phục những thiếu sót, vi phạm trong quá trình điều tra, bảo đảm việc giải quyết vụ án khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.13
Trên cơ sở xem xét các khái niệm trên, có thể rút ra một số nhận xét về Trả
hồ sơ để điều tra bổ sung như sau:
Thứ nhất, thẩm quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung thuộc về Viện kiểm sát ở
giai đoạn truy tố và thuộc về Tòa án trong giai đoạn xét xử, cụ thể là trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Như đã phân tích, tố tụng hình sự Việt Nam có sự phân chia quá trình giải quyết vụ án thành các giai đoạn Sự phân chia này gắn liền với trách nhiệm của từng
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng… Giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước14 Bởi vậy, chủ thể tiến hành tố tụng ở giai đoạn tố tụng sau được trao quyền xem xét lại các hoạt động tố tụng đã được thực hiện ở giai đoạn trước đó và có quyền quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu xét thấy việc điều tra là thiếu sót hoặc có vi phạm Hơn nữa, bản chất của hoạt
động “trả hồ sơ” là để “điều tra bổ sung”, tức thực hiện những hoạt động tố tụng
thuộc chức năng của Cơ quan điều tra nên thẩm quyền quyết định việc này thuộc về hai chủ thể trên
Thứ hai, khi trả hồ sơ để điều tra bổ sung, các cơ quan tiến hành tố tụng bắt
buộc phải tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các trường hợp áp
dụng, trình tự, thủ tục thực hiện, hình thức quyết định trả hồ sơ, thẩm quyền ban hành,…khi tiến hành hoạt động này
Thứ ba, trả hồ sơ để điều tra bổ sung được tiến hành trong trường hợp phát hiện những thiếu sót nghiêm trọng hoặc sai lầm nghiêm trọng trong giai đoạn điều tra, ảnh hưởng tới việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Từ hai căn cứ nêu trên, những trường hợp phải trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung được cụ thể hóa trong các quy định của BLTTHS và chỉ khi thuộc những trường hợp đó mới được tiến hành trả hồ sơ
Trang 17Thứ tư, hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung thực chất là việc cơ quan tiến
hành tố tụng có thẩm quyền ban hành quyết định tố tụng chuyển giao hồ sơ vụ án đang được các cơ quan này thụ l cho cơ quan tố tụng đã giải quyết ở các giai đoạn trước đó theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự để điều tra thêm những vấn đề còn thiếu sót hoặc khắc phục những vi phạm trong quá trình tố tụng nhằm hoàn thiện hồ sơ, đảm bảo việc giải quyết vụ án hình sự có căn cứ, đúng pháp luật giai đoạn tố tụng nào, điều tra, truy tố hay xét xử thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi thực hiện các hành vi tố tụng nhằm giải quyết vụ án đều hướng tới việc chứng minh tội phạm và xác định sự thật khách quan của vụ án Nếu quá trình giải quyết vụ án hợp pháp, khách quan thì việc chứng minh tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự một người sẽ đúng đắn, đúng người, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.15
Hoạt động trả hồ sơ để điểu tra bổ sung cũng nhằm hướng tới mục đích đó Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong tố tụng hình sự là nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử đầy đủ, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm Trả hồ sơ điều tra bổ sung chính
là để các cơ quan tiến hành tố tụng trước đó bổ sung những thiếu sót trong quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ và bảo đảm các hoạt động điều tra tuân thủ pháp luật, thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng mà Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định.16
Như vậy, khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố có
thể hiểu là: Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố là hoạt động của
Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn truy tố được thực hiện bằng việc chuyển lại hồ sơ cho Cơ quan đã tiến hành điều tra và đề nghị truy tố, yêu cầu bổ sung chứng cứ và khắc phục những thiếu sót nghiêm trọng hay sai lầm nghiêm trọng trong quá trình điều tra nhằm đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
Tuy nhiên, việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố chỉ được thực hiện giữa VKS và Cơ quan điều tra chuyên trách Đối với vụ án do Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết, VKS không trả
hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung cho các cơ quan này
15
Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố; Luận văn thạc s Luật học, Đại Học Luật Hà Nội, tr.11
16 Hoàng Thị Thùy Linh (2016), Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc
s Luật học, Đại Học Luật Hà Nội, tr.17
Trang 181.1.2 Đặc điểm của ho t động tr h s để đi u tra sung trong giai
đo n tru tố
Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung, có thể rút ra một số đặc điểm nổi bật của hoạt động này trong giai đoạn truy tố như sau:
Thứ nhất, về thẩm quyền trả hồ sơ vụ án: Đối với hoạt động trả hồ sơ để điều
tra bổ sung được tiến hành trong giai đoạn truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét, quyết định vấn đề này là Viện kiểm sát Kể từ khi tiếp nhận bản kết luận điều tra đề nghị truy tố kèm hồ sơ vụ án, trong thời hạn quyết định việc truy tố, Viện kiểm sát có quyền ban hành các quyết định tố tụng cần thiết theo quy định của BLTTHS nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, một trong số đó là trả hồ sơ để điều tra bổ sung Cơ quan tố tụng có trách nhiệm thực hiện yêu cầu điều
tra bổ sung của Viện kiểm sát là Cơ quan điều tra có thẩm quyền Đây là “cơ quan
có chức năng chính tiếp nhận, giải quyết thông tin về tội phạm, tiến hành điều tra các tội phạm để phát hiện, xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và
đề nghị truy tố.” 17
Quyền hạn trả hồ sơ vụ án của Viện kiểm sát xuất phát từ vị trí, vai trò của cơ quan tiến hành tố tụng này trong tố tụng hình sự cũng như nhiệm vụ cơ bản đặt ra trong giai đoạn truy tố Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong giai đoạn truy tố, chủ thể duy nhất thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân, pháp nhân là Viện kiểm sát Nhiệm vụ cơ bản và quan trọng nhất trong giai đoạn truy tố là đảm bảo việc ra quyết định truy tố cũng như các quyết định cần thiết khác là có căn cứ và hợp pháp Trong giai đoạn này, Viện kiểm sát cần nghiên cứu, xem xét tất cả những vấn đề mang tính thủ tục tố tụng cũng như những vấn đề thuộc
về nội dung vụ án thể hiện qua hồ sơ điều tra nhằm xác định quá trình điều tra vụ án
có tuân thủ theo đúng các quy định của BLTTHS không, có còn những hạn chế và thiếu sót nào khác cần khắc phục hay không để kịp thời ra các quyết định tố tụng cần thiết nhằm bổ sung và hoàn thiện hồ sơ, khắc phục những vi phạm pháp luật của
Cơ quan điều tra, đảm bảo quyết định truy tố bị can đúng đắn, chính xác, tạo cơ sở
17 Phạm Mạnh Hùng (chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, NXB Lao Động, Hà Nội,
tr 67
Trang 19pháp l vững chắc để tòa án xét xử, đảm bảo lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân.18 Mặt khác, quyền quyết định trả hồ sơ của Viện kiểm sát và trách nhiệm điều tra bổ sung của Cơ quan điều tra cũng thể hiện một đặc điểm của tố tụng hình sự Việt Nam là sự phân chia giai đoạn tố tụng hình sự và mối quan hệ giữa các giai đoạn tố tụng; mỗi giai đoạn tuy độc lập những vẫn nằm trong mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo thành hoạt động thống nhất, giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước
Ngoài cơ quan điều tra, còn có một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Tuy nhiên, VKS không trả hồ sơ cho các cơ quan này mà chỉ trả hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ sung cho Cơ quan điều tra chuyên trách Đặc điểm này xuất phát từ vị trí, chức năng của các cơ quan nêu trên: Cơ quan
điều tra là Cơ quan tiến hành tố tụng, “được thực hiện các hành vi tố tụng, giải
quyết trọn vẹn nhiệm vụ của một hoặc một số chức năng trong tố tụng hình sự còn
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chỉ được tiến hành một số hoạt động điều tra khi tội phạm xảy ra trong lĩnh vực mình quản lý và hành vi phạm tội đó cần thiết phải áp dụng ngay các biện pháp ngăn chặn, biện pháp điều tra ban đầu.” 19
Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được tiến hành điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ và lí lịch người phạm tội rõ ràng20 Nếu vụ án phải được điều tra bổ sung thì không còn được xem là vụ án thuộc trường hợp “rõ ràng” để các cơ quan này tiến hành điều tra Do đó, VKS không trả hồ sơ yêu cầu các chủ thể này điều tra
bổ sung
Từ những phân tích trên, có thể thấy việc pháp luật tố tụng hình sự xác định
thẩm quyền “trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố” thuộc về Viện
kiểm sát là hoàn toàn phù hợp, tạo cơ sở pháp l quan trọng để Viện kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ những yêu cầu điều tra bổ sung của Viện kiểm sát; đảm bảo mọi hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành khách quan, toàn diện và đầy đủ
Trang 20Thứ hai, những thiếu sót, sai lầm của Cơ quan tiến hành tố tụng thuộc trường
hợp phải trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung là những thiếu sót nghiêm trọng hoặc sai lầm nghiêm trọng trong giai đoạn điều tra, ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Những thiếu sót, sai lầm nghiêm trọng là căn cứ để trả hồ sơ vụ
án được cụ thể hóa thành các quy định của BLTTHS về các trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố Nếu những thiếu sót hay sai lầm trong quá trình điều tra không đến mức “nghiêm trọng”, tức có thể được khắc phục bằng cách thực hiện các hoạt động tố tụng khác nhằm đảm bảo quá trình điều tra vụ án được khách quan, toàn diện, đầy đủ thì việc Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung là không thực sự cần thiết Do đó, chỉ khi có căn cứ là phát hiện những thiếu sót nghiêm trọng hoặc sai lầm nghiêm trọng của Cơ quan điều tra, ảnh hưởng tới việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, Viện kiểm sát mới quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố Đặc điểm này đặt ra yêu cầu cần quy định chặt chẽ các trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong Bộ luật tố tụng hình sự, hạn chế việc trả hồ sơ không có căn cứ, không cần thiết với việc giải quyết vụ án, kéo dài thời gian tố tụng
Thứ ba, trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố phải tuân thủ các
quy định của pháp luật tố tụng hình sự Chế định trả hồ sơ vụ án được quy định trong BLTTHS, bao gồm những vấn đề về thẩm quyền, trường hợp áp dụng, trình
tự, thủ tục tiến hành Do đó, việc Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung bắt buộc phải tuân thủ những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Đây
là đặc điểm cơ bản và mang tính tất yếu của chế định này Đặc điểm này phản ánh một nguyên tắc hết sức quan trọng trong tố tụng hình sự là bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự Theo đó, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
và những người tham gia tố tụng hình sự phải nghiêm chỉnh tuân thủ những quy định của BLTTHS, không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định Việc
áp dụng biện pháp cư ng chế cũng như biện pháp nghiệp vụ trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nhất thiết phải theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm
cư ng chế chỉ áp dụng với người phạm tội, nghiêm cấm làm oan người vô tội Tất
cả các quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều dựa trên
Trang 21cơ sở pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự.21 Bên cạnh đó, xuất phát từ vai trò của Viện kiểm sát - cơ quan tố tụng quyết định trả hồ sơ trong giai đoạn này - là
cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất cũng như nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn truy tố (đảm bảo việc ra quyết định truy tố cũng như các quyết định cần thiết khác là có căn cứ và hợp pháp), trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc tuân thủ các quy định của BLTTHS khi tiến hành mọi hoạt động tố tụng (bao gồm cả trả hồ sơ để điều tra bổ sung) là đặc trưng cơ bản, mang tính bắt buộc, tất yếu Mặt khác, mục đích chung của hoạt động trả hồ sơ vụ án nhằm bổ sung những thiếu sót trong quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ cũng như đảm bảo hoạt động tố tụng tuân thủ pháp luật; nếu hoạt động trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung không được tiến hành đúng theo quy định pháp luật, tức những thiếu sót, vi phạm pháp luật vẫn tiếp tục tồn tại, thì mục đích của hoạt động trả hồ sơ chắc chắn không thể đạt được; gây ảnh hưởng tới việc xác định sự thật khách quan vụ án
Thứ tư, về nội dung, mục đích của hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung
trong giai đoạn truy tố: Như đã phân tích, Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố được xem là một trong những công cụ quan trọng để Viện kiểm sát thực hiện quyền năng được trao Chế định này trao cho Viện kiểm sát cũng như Cơ quan điều tra cơ hội để bổ sung, khắc phục, sửa chữa những vi phạm, thiếu sót nghiêm trọng trong quá trình điều tra vụ án hình sự; đảm bảo việc ban hành quyết định truy tố cũng như những quyết định khác cần thiết cho việc giải quyết vụ
án có căn cứ và đúng pháp luật Đây chính là nhiệm vụ cơ bản được đặt ra trong giai đoạn truy tố - giai đoạn tố tụng mà Viện kiểm sát đóng vai trò hết sức quan trọng Như vậy, trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố chính là một hoạt động tố tụng nhằm loại bỏ vi phạm pháp luật trong quá trình tiến hành tố tụng, củng
cố chứng cứ để quyết định xử l đối với tội phạm, bảo đảm việc điều tra vụ án cũng như truy tố được khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm
21 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công An Nhân Dân,
Hà Nội, tr 63
Trang 221 2 Ý nghĩ ủ việ trả hồ sơ ể i u tr bổ sung trong gi i oạn truy tố
Có thể nói, chế định “trả hồ sơ đề điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố”
có nghĩa rất quan trọng, không những góp phần bảo đảm thực hiện nhất quán, triệt
để các nguyên tắc của BLTTHS mà còn góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Ý nghĩa của chế định này được thể hiện ở các phương diện cụ thể sau:
- uy định và thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ
để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố góp phần thực hiện nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự;
Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc bao trùm nhất được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, từ những quy định chung cho đến những quy định cụ thể Đây là nguyên tắc pháp l cơ bản nhất trong hoạt động của cơ quan, tổ chức và công dân được quy định tại Điều 8 Hiến pháp
năm 2013 “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản
lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”.22
Nguyên tắc này một lần nữa được ghi nhận tại Điều 7 BLTTHS năm 2015:
“Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định.” Theo đó, các cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Tất cả quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều phải dựa trên cơ sở của pháp luật hình sự
và pháp luật tố tụng hình sự23 Hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng không nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc này Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng khi tiến hành các hoạt động tố tụng đối với các vụ án hình sự cụ thể phải đảm bảo cho các giai đoạn tố tụng hình sự diễn ra trong thực tế theo đúng trình
tự đã được quy định, mọi vi phạm đều phải bị phát hiện, xử l và khắc phục hậu
Trang 23quả24 Việc cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ những quy định của BLTTHS trong quá trình giải quyết vụ án chính là biểu hiện của việc vi phạm nguyên tắc bảo đảm pháp chế; không chỉ ảnh hưởng tới việc xác định
sự thật khách quan của vụ án mà còn ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức và công dân Do đó, BLTTHS đặt ra chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nói chung và quy định về quyền trả hồ sơ vụ án trong giai đoạn truy tố nói riêng nhằm bổ sung, khắc phục những thiếu sót, vi phạm trong quá trình tố tụng là hoàn toàn phù hợp và cần thiết, tạo cơ sở thực hiện có hiệu quả nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự
- uy định và thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ
để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố góp phần bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc xác định sự thật vụ án;
Đây là một trong những nguyên tắc đặc thù của Tố tụng hình sự Việt Nam,
được ghi nhận tại điều 15 BLTTHS năm 2015: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm
thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội”
Đây được coi là nguyên tắc cơ bản của hoạt động tố tụng hình sự, là tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự.25
Để hoạt động đấu tranh chống tội phạm có hiệu quả, mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện và xử l , BLTTHS đã ghi nhận nguyên tắc này với nội dung sau: Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội, xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội Trong quá trình tiến hành tố tụng, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán và hội thẩm
Trang 24không được thiên vị, định kiến, phải thu thập và đánh giá chứng cứ trên tất cả các phương diện, cân nhắc k mọi tình tiết có thể làm ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án Mọi tình tiết thu được trong quá trình điều tra, xét xử đều được đánh giá trên cơ sở pháp lí để rút ra kết luận về vụ án Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội không buộc phải chứng minh là mình vô tội Muốn xác định được người bị buộc tội có tội hay không thì phải dựa trên cơ sở những chứng cứ đã thu được trong vụ án
cứ - nền tảng vững chắc bảo đảm cho hoạt động chứng minh tội phạm được khách quan, chính xác, mang tính thuyết phục27; từ đó góp phần quan trọng vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự
- uy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố góp phần đảm bảo thực hiện nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng;
Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân
là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 8 BLTTHS năm 2015
như sau: “Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con
Trang 25người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp
và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.”
Nội dung của nguyên tắc này là xác định trách nhiệm của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con ngươi, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân: phải tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tham gia tố tụng; chỉ áp dụng các biện pháp cư ng chế tố tụng trong những trường hợp cần thiết và theo đúng quy định của pháp luật; phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa, cần kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó.28
Hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố chính là một trong những biểu hiện cũng như cơ sở đảm bảo thực hiện nguyên tắc này Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà còn có những sai sót, vi phạm cần được bổ sung, khắc phục Hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố là cơ hội để khắc phục những vi phạm, thiếu sót, tiến hành thu thập, bổ sung chứng cứ, hoàn thiện hồ sơ làm cơ sở để Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật Từ đó, góp phần đảm bảo nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.29
- Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố;
Pháp luật tố tụng hình sự luôn đòi hỏi những cơ quan, người tiến hành tố tụng phải nêu cao tinh trách nhiệm trong việc thực thi nhiệm vụ được giao, đảm bảo giải quyết vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Vấn đề này được quy
định tại Điều 17 BLTTHS năm 2015 “Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình Người vi phạm pháp luật trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, giam, giữ, khởi tố,
Trang 26điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật”
Trên cơ sở chú trọng vấn đề trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Cơ quan điều tra, BLTTHS năm 2015 quy định Viện kiểm sát có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố Nếu hoạt động điều tra không đảm bảo toàn diện, khách quan, đầy đủ, Cơ quan điều tra sẽ phải tiến hành bổ sung, khắc phục những thiếu sót, vi phạm trong quá trình điều tra theo yêu cầu của Viện kiểm sát Quy định này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải thận trọng trong việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ làm cơ sở giải quyết vụ án hình sự; buộc
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải thực sự nghiêm túc, khách quan khi tiến hành
tố tụng, đảm bảo giải quyết vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
- Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố còn góp phần hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm; bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Chế định “Trả hồ sơ để điều tra bổ sung” được xem là một công cụ hiệu quả
để VKS thực hiện nhiệm vụ được giao trong tố tụng hình sự Đây là cơ hội để Viện kiểm sát loại bỏ vi phạm trong quá trình điều tra cũng như củng cố xác định chứng
cứ để quyết định xử l đối với tội phạm, đảm bảo cho việc điều tra vụ án cũng như truy tố được khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật30; từ đó, góp phần quan trọng vào việc hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm trong tố
tụng hình sự Trong thực tế, vẫn còn tồn tại các trường hợp bị can bị bức cung, dùng nhục hình hoặc hình sự hóa các quan hệ dân sự dẫn đến truy cứu trách nhiệm hình sự không chính xác Do đó, cần thiết phải có những biện pháp kiểm tra, phát hiện và sửa chữa mà một trong số đó là hoạt động trả hồ sơ vụ án của Viện kiểm sát Trên cơ sở đó, hoạt động này của Viện kiểm sát cũng góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân Trả hồ sơ vụ án góp phần đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử được đầy đủ, khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không chỉ hướng tới bảo vệ lợi ích công mà còn đảm bảo quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được tôn trọng và thực thi Đây
30 Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố; Luận văn thạc s Luật học, Đại Học Luật Hà Nội, tr 13
Trang 27là những vấn đề đang được quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới Ngoài ra, hoạt động này còn góp phần đảm bảo uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng, hạn chế việc phải bồi thường do oan, sai và góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất
1 3 Khái quát ị h sử quy ịnh v trả hồ sơ ể i u tr bổ sung trong
gi i oạn truy tố
Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố được quy định lần đầu tại BLTTHS năm 1988 Cụ thể, khi xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra, khoản 3 Điều 141 BLTTHS năm 1988 ghi nhận Viện
kiểm sát có quyền “đề ra yêu cầu điều tra, trả lại hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ
sung, yêu cầu cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về tội phạm và việc làm vi phạm pháp luật của điều tra viên, nếu có”
Tiếp đó, Điều 142 BLTTHS năm 1988 khi quy định về những quyết định
Viện kiểm sát có thẩm quyền ban hành trong giai đoạn truy tố gồm có “bản cáo
trạng, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án” Ngoài ra, Bộ luật cũng quy định thời hạn điều tra bổ sung tại Điều 98,
cụ thể: “Trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để điều tra bổ sung thì thời
hạn điều tra bổ sung không được quá hai tháng; nếu do Toà án trả lại để điều tra
bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không được quá một tháng Thời hạn điều tra
bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra”
BLTTHS năm 1988 đã ghi nhận quyền “trả hồ sơ để điều tra bổ sung” của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố nhưng chỉ dừng lại ở việc đưa ra những quy định chung Trải qua hai lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990 và 1992, Bộ luật mới có bổ sung một số quy định về căn cứ thực hiện việc trả hồ sơ điều tra bổ sung, được quy định tại Điều 143a, cụ thể:
“Điều 143a Trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung khi qua nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy:
1 Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;
2 Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội khác hoặc có người đồng phạm khác;
3 Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Trang 28Những vấn đề cần được điều tra bổ sung phải được nói rõ trong quyết định yêu cầu điều tra bổ sung.”
Tiếp đó, vào lần sửa đổi bổ sung năm 2000, Bộ luật tiếp tục quy định cụ thể thời hạn điều tra bổ sung và số lần Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Cơ
quan điều tra tại Điều 98, cụ thể: “Trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại
để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá hai tháng; nếu do Toà
án trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá một tháng Viện kiểm sát hoặc Toà án chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án
và yêu cầu điều tra”
Có thể thấy, trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, BLTTHS năm 1988 đã bước đầu quy định một số vấn đề chung về hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố của Viện kiểm sát như thẩm quyền tiến hành, căn cứ xem xét quyết định việc trả hồ sơ, số lần trả hồ sơ giữa Viện kiểm sát - Cơ quan điều tra và thời hạn điều tra bổ sung Tuy nhiên, những vấn đề này vẫn dừng ở mức hướng dẫn chung, chưa có giải thích chi tiết những vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn tố tụng để đảm bảo việc thực hiện, chưa có quy định cụ thể về hình thức quyết định trả
hồ sơ để điều tra bổ sung cũng như nghĩa vụ của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu điều tra bổ sung của Viện kiểm sát
Trên cơ sở kế thừa những ưu điểm và khắc phục một số hạn chế của BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 quy định về vấn đề này tương đối chi tiết
và đầy đủ, thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, về thẩm quyền xem xét, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung:
BLTTHS năm 2003 tiếp tục ghi nhận thẩm quyền tiến hành hoạt động này trong giai đoạn truy tố thuộc về Viện kiểm sát Cụ thể hơn, theo quy định tại khoản 2 Điều 36 BLTTHS năm 2003, quyền quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung thuộc về Viện trưởng Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự
Thứ hai, về căn cứ quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung: BLTTHS năm 2003
quy định về các căn cứ Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố tại Điều 168 Cụ thể:
Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung khi nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy: Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được; Có căn cứ
Trang 29để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác; Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Những vấn đề cần được điều tra bổ sung phải được nêu rõ trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Về cơ bản, quy định trên không có khác biệt so với quy định của BLTTHS năm 1988 Tuy nhiên, thay vì chỉ có quy định chung, vấn đề này còn được giải thích, hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC- TANDTC-BCA ngày 27/8/2010 Thông tư liệt kê các trường hợp được xác định là căn cứ để Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung nhằm đảm bảo áp dụng thống nhất trên thực tiễn
Thứ ba, về thời hạn quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, thời hạn điều tra bổ
sung và số lần trả hồ sơ:
Thời hạn điều tra bổ sung được quy định tại khoản 2 điều 121 BLTTHS năm
2003 Theo đó, trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá hai tháng; nếu do Toà án trả lại để điều tra
bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá một tháng Viện kiểm sát hoặc Toà
án chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra
Việc BLTTHS năm 2003 quy định cụ thể số lần trả hổ sơ và thời hạn điều tra
bổ sung góp phần hạn chế tình trạng trả hồ sơ nhiều lần, tràn lan và khắc phục tình trạng kéo dài việc điều tra bổ sung, ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án
Thứ tư, về hình thức quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung:
Hình thức quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung được quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/2010: Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ra quyết định bằng văn bản và do người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật k Trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi số, ngày, tháng, năm và lần trả hồ
sơ (thứ nhất hoặc thứ hai) Trong phần nội dung phải ghi cụ thể “những chứng cứ
quan trọng đối với vụ án” cần phải điều tra bổ sung, “tội phạm khác hoặc người đồng phạm khác” phải khởi tố, truy tố hoặc “những vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng” cần được khắc phục và nêu rõ căn cứ pháp luật quy định tại một trong
các khoản 1, 2 và 3 Điều 168 hoặc một trong các điểm a, b và c khoản 1 Điều 179 của BLTTHS năm 2003 Đối với những Quyết định điều tra bổ sung lại, hay còn gọi
là quyết định điều tra bổ sung lần hai thì trong Quyết định phải nêu rõ: Những vấn
đề yêu cầu điều tra bổ sung lần trước chưa được Cơ quan điều tra điều tra bổ sung;
Trang 30Những vấn đề đã được điều tra bổ sung nhưng chưa đạt yêu cầu của Viện kiểm sát; Những vấn đề mới cần điều tra do phát sinh từ kết quả điều tra bổ sung, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Thứ năm, về việc thực hiện quyết định điều tra bổ sung của Viện kiểm sát
Theo quy định tại Điều 114 BLTTHS năm 2003, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát Theo đó, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các yêu cầu nêu trong quyết định trả hồ sơ
để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 114 của BLTTHS; nếu thấy quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát không có căn cứ theo hướng dẫn tại các điều 1, 2 và 4 của Thông tư này thì sau khi nhận hồ sơ vụ án
Cơ quan điều tra phải có văn bản nêu rõ l do, quan điểm đối với việc giải quyết vụ
án và chuyển lại hồ sơ cho Viện kiểm sát… Sau khi kết thúc điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra phải có bản kết luận điều tra bổ sung, trong đó kết luận rõ đối với từng vấn đề điều tra bổ sung và quan điểm giải quyết vụ án Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn đến đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ theo thẩm quyền quy định tại Điều 164 và Điều 169 của Bộ luật tố tụng hình sự31
Tóm lại, từ những phân tích trên, có thể khẳng định: Từ BLTTHS năm 1988
đến BLTTHS năm 2003, hoạt động “Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn
truy tố” đã được quy định theo hướng ngày càng hoàn thiện, đầy đủ Không chỉ kế
thừa những ưu điểm, BLTTHS năm 2003 còn khắc phục được hạn chế trong cách quy định của những văn bản pháp luật trước đó và có hướng dẫn chi tiết về vấn đề này nhằm đảm bảo việc áp dụng thống nhất, đúng đắn trên thực tiễn
K t uận hương I
1 Qua nghiên cứu, phân tích một số vấn đề l luận về giai đoạn truy tố cũng như khái niệm, đặc điểm của hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung, luận văn đã đưa ra được khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố Từ đó, luận văn đã làm rõ một số đặc điểm của hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố liên quan đến các vấn đề về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và mục đích của hoạt động này
2 Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố có nghĩa quan trọng
cả về mặt pháp l cũng như thực tiễn, chế định này đã góp phần đảm bảo thực hiện
31
Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2010
Trang 31một số nguyên tắc quan trọng của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam như nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự, nguyên tắc xác định sự thật vụ án và nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Bên cạnh đó, Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố; góp phần hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
3 Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố được ghi nhận lần đầu tại BLTTHS năm 1988, từng bước được sửa đổi, bổ sung trước khi được quy định tương đối chi tiết, cụ thể tại BLTTHS năm 2003 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC- TANDTC-BCA ngày 27/8/2010 Đây là cơ sở pháp l quan trọng đảm bảo hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung trên thực tiễn được thực hiện đúng đắn
Trang 32Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 2.1 Quy ịnh v trả hồ sơ ể i u tr bổ sung trong gi i oạn truy tố theo quy ịnh ủ Bộ uật tố tụng hình sự năm 2015
2.1.1 Các trường hợp tr h s đi u tra sung trong giai đo n tru tố
Việc xác lập các trường hợp ban hành quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố là hết sức cần thiết Nếu BLTTHS không có quy định
về vấn đề này hoặc quy định không chặt chẽ sẽ dẫn tới tình trạng trả hồ sơ vụ án
tràn lan, tùy tiện; không chỉ kéo dài thời gian giải quyết vụ án, làm ảnh hưởng tới lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn ảnh hưởng tiêu cực tới quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát - Cơ quan điều tra, gây mất uy tín của Cơ quan tiến hành tố tụng Các trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố được quy định tại khoản 1 Điều 245 BLTTHS năm 2015 Cụ thể:
hứ nhất, còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy
định tại Điều 85 của Bộ luật tố tụng hình sự mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;
Theo quy định của pháp luật, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định
có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội Muốn xác định được người bị buộc tội có tội hay không, cơ quan tố tụng phải dựa trên những chứng cứ đã thu được để xem xét32
Do không trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ dựa vào các thông tin liên quan đến đối tượng chứng minh được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định để kết luận về các tình tiết nhằm giải quyết đúng đắn vụ án Nội dung của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là thu thập, kiểm tra và đánh giá các thông tin, tư liệu liên quan và có nghĩa đối với
32 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công An Nhân Dân,
Hà Nội, tr 53
Trang 33việc giải quyết vụ án.33 Nói cách khác, quá trình chứng minh phải làm sáng tỏ tất cả những vấn đề có liên quan đến đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự - tức
“tất cả những tình tiết phải được xác định đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án hình sự.” 34 Việc làm rõ những nội dung này góp phần xác định đúng đắn phạm vi, giới hạn chứng minh; đảm bảo quá trình chứng minh được toàn diện, đầy đủ, chính xác, tránh tràn lan, dàn trải, gây mất thời gian và tốn kém chi phí Theo quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015, khi điều tra, truy tố và
xét xử vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh những vấn đề: Có
hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi,
do cố hay vô ; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; Nguyên nhân và điều kiện phạm tội; Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt
Để làm sáng tỏ tất cả những vấn đề cần phải chứng minh, cơ quan tố tụng phải trải quá một quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá tất cả các thông tin, tài liệu phản ánh sự kiện phạm tội, phản ánh các yếu tố khách quan, chủ quan của tội phạm
và các yếu tố liên quan đến người phạm tội Những thông tin đó được gọi chung là
“chứng cứ” Đây được coi là phương tiện duy nhất được cơ quan tiến hành tố tụng
sử dụng để chứng minh trong tố tụng hình sự Thông qua việc phát hiện chứng cứ, xem xét và ghi nhận chứng cứ về mặt tố tụng, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, đánh giá chứng cứ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể nghiên cứu đầy đủ và toàn diện các tình tiết của vụ án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực từ đó tìm ra chân lý khách quan.35 Khái niệm chứng cứ được ghi nhận tại Điều 86 BLTTHS năm 2015: Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có nghĩa trong việc giải
Trang 34quyết vụ án Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn: “Vật chứng; Lời khai,
lời trình bày; Dữ liệu điện tử; Kết luận giám định, định giá tài sản; Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; Các tài liệu, đồ vật khác” 36
Trong quá trình điều tra, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể xảy ra một
số trường hợp thiếu sót chứng cứ cần thiết làm sáng tỏ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự Những trường hợp sau đây được coi là thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật tố tụng hình sự:37
- Chứng cứ để chứng minh “có hành vi phạm tội xảy ra hay không” là chứng
cứ để xác định hành vi đã xảy ra có đủ yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự hay thuộc các trường hợp không phải là hành vi phạm tội (quan hệ dân sự, kinh tế, vi phạm hành chính và các trường hợp khác theo quy định của luật);
- Chứng cứ để chứng minh “thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội” là chứng cứ xác định nếu có hành vi phạm tội xảy ra thì xảy ra vào thời gian nào, ở đâu; phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm như thế nào;
- Chứng cứ để chứng minh “ai là người thực hiện hành vi phạm tội” là chứng
cứ xác định một chủ thể cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội đó;
- Chứng cứ để chứng minh “có lỗi hay không có lỗi” là chứng cứ xác định chủ thể có lỗi hoặc không có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; nếu có lỗi thì là lỗi cố trực tiếp hay lỗi cố gián tiếp hoặc lỗi vô do quá tự tin hay lỗi vô
do cẩu thả theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Bộ luật Hình sự;
- Chứng cứ để chứng minh “có năng lực trách nhiệm hình sự không” là chứng cứ xác định khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự chưa; có mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay không; nếu có thì mắc bệnh đó vào thời gian nào, trong giai đoạn tố tụng nào;
- Chứng cứ để chứng minh “mục đích, động cơ phạm tội” là chứng cứ xác định chủ thể thực hiện hành vi phạm tội với mục đích, động cơ gì; mục đích, động
36 Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
37 khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP
Trang 35cơ phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay là tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt;
- Chứng cứ để chứng minh “tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” là chứng cứ xác định bị can, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 51, Điều 84 của Bộ luật Hình sự hoặc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều
52, Điều 85 của Bộ luật Hình sự;
- Chứng cứ để chứng minh “đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo” là chứng cứ xác định l lịch của bị can, bị cáo; nếu bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại thì phải chứng minh tên, địa chỉ và những vấn đề khác có liên quan đến địa vị pháp l và hoạt động của pháp nhân thương mại;
- Chứng cứ để chứng minh “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra” là chứng cứ để đánh giá tính chất, mức độ thiệt hại, hậu quả về vật chất, phi vật chất do hành vi phạm tội gây ra;
- Chứng cứ để chứng minh “nguyên nhân và điều kiện phạm tội” là chứng cứ xác định nguyên nhân chủ quan, khách quan, điều kiện cụ thể dẫn đến việc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội;
- Chứng cứ để chứng minh “những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt” là chứng cứ chứng minh những vấn đề được quy định tại các điều 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29,
59, 88 và các điều luật khác của Bộ luật Hình sự;
- Chứng cứ khác để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 85 của BLTTHS mà thiếu chứng cứ đó thì không có đủ căn cứ để giải quyết vụ án, như: chứng cứ để xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi; chứng cứ để chứng minh vị trí, vai trò của từng bị can, bị cáo trong trường hợp đồng phạm hoặc phạm tội có tổ chức; chứng cứ để xác định trách nhiệm dân sự của bị can, bị cáo và những vấn đề khác có nghĩa trong việc giải quyết vụ án theo quy
định của pháp luật;
- Trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội thì ngoài việc xác định chứng
cứ trong các trường hợp nêu trên còn phải xác định chứng cứ để chứng minh điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo quy định tại Điều 75 của Bộ luật Hình sự
Đây là trường hợp VKS quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, VKS đều được trả hồ sơ mà chỉ ban hành
Trang 36quyết định này khi thiếu chứng cứ VKS không thể tự bổ sung được Theo quy định tại khoản 3 Điều 236 và Điều 88 BLTTHS năm 2015, Viện kiểm sát có quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ theo quy định của BLTTHS để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra Trường hợp xét thấy còn thiếu những chứng cứ làm sáng tỏ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án, Viện kiểm sát có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTHS, bao gồm hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đối chất; trưng cầu giám định; yêu cầu định giá tài sản; thực nghiệm điều tra; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án Viện kiểm sát chỉ trả
hồ sơ trong trường hợp không thể bổ sung được những chứng cứ đó, ngay cả khi tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ nêu trên
Ngoài ra, Viện kiểm sát không trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thiếu chứng
cứ làm sáng tỏ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự nếu thiếu chứng
cứ đó nhưng vẫn truy tố, xét xử được hoặc không thể thu thập được chứng cứ đó Những quy định này không chỉ nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát mà còn hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, tránh kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến quan hệ phối hợp giữa các Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra
hứ hai, có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác; có người
đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố
bị can;
Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực có thể do cá nhân thực hiện nhưng cũng có thể do nhiều người cùng thực hiện Khi có hai người trở lên cố cùng thực hiện tội phạm (một hoặc nhiều tội) thì gọi là đồng phạm38 Vấn đề này
được ghi nhận tại Điều 17 BLHS năm 2015 “Đồng phạm là trường hợp có hai
người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.” Theo quy định của BLHS năm
2015, chủ thể của tội phạm được mở rộng hơn so với trước đây, bao gồm cá nhân và
pháp nhân thương mại nhưng BLHS năm 2015 hiện tại chỉ đặt ra vấn đề “đồng
phạm” trong trường hợp chủ thể của tội phạm là cá nhân, chưa có quy định cụ thể
38 Cao Thị Oanh, Lê Đăng Doanh chủ biên (2016), Bình luận khoa học BLHS năm 2015, NXB Lao Động, Hà Nội, tr 37
Trang 37về vấn đề này trong trường hợp chủ thể tội phạm là “pháp nhân thương mại”
Ngoài ra, trong vụ án, có thể còn có những đối tượng khác liên quan mà hành vi của
họ cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự Một trong những nhiệm
vụ đặt ra cho Cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự chính là xác định và xử l vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội trong những
trường hợp nêu trên Theo quy định tại Điều 18 BLTTHS năm 2015: “Khi phát hiện
hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội ” Việc khởi tố vụ án hình sự được tiến hành khi xác định hành
vi có dấu hiệu của tội phạm và theo trình tự mà BLTTHS quy định Quyết định khởi
tố vụ án hình sự là cơ sở pháp l để tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo.39
Khi
cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xác định có căn cứ cho rằng một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm sẽ tiến hành khởi tố bị can Để ra quyết định khởi tố bị can, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải có đủ chứng cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội, làm rõ
đó là tội phạm gì, quy định ở điều khoản nào của BLHS, xác định rõ l lịch của người thực hiện hành vi phạm tội… Khi tiến hành điều tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thể ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc quyết định khởi tố ghi không đúng họ tên, tuổi, nhân thân bị can; ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can khi có căn cứ xác định bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm nhưng chưa bị khởi tố40
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, các cơ quan tiến hành tố tụng đều áp dụng chính xác những quy định này Trong quá trình điều tra vụ án hình sự,
cơ quan điều tra có thể bỏ sót tội phạm, cũng có thể do cơ quan điều tra định hướng sai, đánh giá sai các chứng cứ, áp dụng sai các điều luật dẫn đến trường hợp này41
Bộ luật tố tụng hình sự quy định trường hợp có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác hoặc có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan
Trang 38đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can là trường hợp trả hồ sơ vụ án trong giai đoạn truy tố tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 245 BLTTHS năm 2015 Quy định này được hướng dẫn cụ thể tại khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP về Phối hợp thực hiện trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong các trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 245 của BLTTHS như sau:
- Khi có căn cứ để khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác; có người
đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố
bị can thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung:
+ Khởi tố và điều tra về một hay nhiều tội nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác;
+ Ngoài tội phạm đã khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can về một hoặc nhiều tội khác;
+ Ngoài bị can đã bị khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác có liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can
Có thể hiểu khái niệm “tội phạm khác” là trường hợp: một là tội khác với tội
mà cơ quan điều tra khởi tố, điều tra; hai là tội khác ngoài tội mà cơ quan điều tra đã khởi tố, điều tra42 Như vậy, nếu xác định có đủ căn cứ cho rằng hành vi của bị can cấu thành một hay nhiều tội phạm khác với tội phạm đã bị khởi tố, điều tra hoặc ngoài tội phạm đã bị khởi tố, điều tra, bị can còn thực hiện một hay nhiều hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm nhưng chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát có thể quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra tiến hành điều tra bổ sung Đối với trường
hợp “người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa
được khởi tố bị can”, trong giai đoạn truy tố, nếu phát hiện có đủ căn cứ xác định
trong vụ án còn có người đồng phạm khác (như người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức) hoặc còn có người liên quan khác tuy không là đồng phạm nhưng đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm trong vụ án và chưa được khởi tố bị can thì Viện kiểm sát có thể trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung Để có căn cứ xác định những vấn đề trên, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải thông qua các hoạt động điều tra, thu thập, đánh giá chứng cứ nhằm làm rõ có
42 Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố; Luận văn thạc s Luật học, Đại Học Luật Hà Nội, tr 28
Trang 39hay không một tội phạm khác hoặc có hay không người đồng phạm hay người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố bị can
- Không trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong các trường hợp sau đây:
+ Nếu có căn cứ để tách vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 242 của Bộ luật tố tụng hình sự;
+ Nếu quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án có căn cứ mà xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản
1 Điều 246 của Bộ luật tố tụng hình sự
Trong giai đoạn truy tố, nếu phát hiện có dấu hiệu “lọt người, lọt tội” nhưng
có căn cứ để tách vụ án, Viện kiểm sát không trả hồ sơ mà quyết định tách vụ án hình sự Hoạt động tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra là việc tách các tội phạm hoặc các bị can trong cùng một vụ án thành những vụ án riêng lẻ, nếu không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm… Tuy nhiên, chỉ được tách
vụ án nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan vụ
án.43 Theo quy định tại khoản 2 Điều 242 BLTTHS năm 2015, Viện kiểm sát quyết
định tách vụ án hình sự khi thuộc một trong các trường hợp Bị can bỏ trốn hoặc Bị can mắc bệnh hiểm nghèo hoặc Bị can bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và xét thấy việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện cũng như đã có quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can
Có thể thấy, những quy định của BLTTHS năm 2015 về trường hợp trả hồ sơ
vụ án để điều tra bổ sung theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 245 BLTTHS năm 2015 đã tạo cơ sở pháp l quan trọng để áp dụng thống nhất trên thực
tế, hạn chế trả hồ sơ vụ án tràn lan, không cần thiết
hứ a, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Trên cơ sở kế thừa những quy định của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm
2015 tiếp tục xác định một trong những trường hợp VKS trả hồ sơ vụ án trong giai
đoạn truy tố là “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.” Vì nhiều nguyên nhân
khác nhau, trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn mắc phải một số sai sót, vi phạm khi thực hiện các hoạt động tố tụng
Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện
43 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công An Nhân Dân,
Hà Nội, tr 322
Trang 40hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án
Xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng
là làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của người tham gia tố tụng, có thể gây ra cho họ thiệt hại về vật chất, tinh thần
Những trường hợp sau đây được coi là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng là căn cứ để Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung:44
- Lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự phải có
sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, nhưng không có phê chuẩn của Viện kiểm sát hoặc việc k lệnh, quyết định tố tụng không đúng thẩm quyền;
- Không chỉ định, thay đổi hoặc chấm dứt việc chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội theo quy định tại Điều 76 và Điều 77 của Bộ luật tốt tụng hình sự;
- Xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
- Khởi tố vụ án hình sự nhưng không có yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nhập vụ án hoặc tách vụ án không đúng quy định tại Điều 170 hoặc Điều
242 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Không cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng gồm lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án cho người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật xâm hại nghiêm trọng đến quyền bào chữa, quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác;
- Chưa điều tra, lập l lịch của bị can; chưa xác định được những đặc điểm quan trọng về nhân thân của bị can, bị cáo (tuổi, tiền án, tiền sự), l lịch hoạt động của pháp nhân thương mại phạm tội (tên, địa chỉ, những vấn đề khác liên quan đến
hồ sơ pháp l của pháp nhân thương mại);
- Không có người phiên dịch, người dịch thuật cho người tham gia tố tụng trong trường hợp họ không sử dụng được tiếng Việt hoặc tài liệu tố tụng không thể
44 Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP