- Hiểu rõ những chủ trương, sách lược của Đảng và Chính phủ cách mạng trong việc đối phó với quân Trung Hoa Dân quốc, bọn phản cách mạng và thực dân Pháp từ sau ngày Cách mạng tháng Tám
Trang 1Giáo án môn Lịch sử lớp 12 Bài 17 – NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
TỪ NGÀY 2 – 9 – 1945 ĐẾN TRƯỚC NGÀY 19 – 12 – 1946
I Mục tiêu
Học xong bài này, học sinh cần:
1 Kiến thức
- Biết được những thuận lợi và khó khăn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
sau Cách mạng tháng Tám 1945
- Nêu và phân tích được những biện pháp trước mắt và lâu dài của chính quyền
cách mạng trong việc giải quyết những khó khăn (về xây dựng chính quyền non trẻ, diệt giặc đói, giặc dốt, tài chính và tàn dư của xã hội cũ để lại)
- Hiểu rõ những chủ trương, sách lược của Đảng và Chính phủ cách mạng trong
việc đối phó với quân Trung Hoa Dân quốc, bọn phản cách mạng và thực dân Pháp từ sau ngày Cách mạng tháng Tám 1945 đến trước ngày 19/12/1946
2 Kĩ năng
Rèn luyện kĩ năng phân tích, so sánh, nhận định, đánh giá các sự kiện, nhân vật lịch sử liên,… quan đến tình hình Việt Nam ở năm đầu sau Cách mạng tháng Tám 1945 (Ví dụ: Vì sao nói nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay khi mới ra đời đã ở vào tình
thế “ngàn cân treo sợi tóc”?).
3 Thái độ, tư tưởng
- Bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, tự hào dân tộc, trung thành và tin
tưởng vào sự lãnh đạo tài tình của Đảng
- Lên án những hành động phá hoại, xâm lược của kẻ thù, sự phản bội Tổ quốc của
bọn phản cách mạng
Trang 2II Gợi ý tiến trình và phương pháp tổ chức dạy học
1 Ổn định lớp học
2 Kiểm tra bài cũ
GV có thể sử dụng câu hỏi sau:
- Trình bày sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ý nghĩa của bản
Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945)
- Nêu nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám 1945.
Nguyên nhân quyết định đối với sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám?
3 Bài mới
Chuẩn kiến thức
(Kiến thức cần đạt)
Hoạt động dạy – học của thầy, trò
I Tình hình nước ta sau Cách
mạng tháng Tám năm 1945
* Thuận lợi:
- Hệ thống xã hội chủ nghĩa trên
thế giới đang hình thành,
- Nhân dân ta được làm chủ nên
rất phấn khởi, gắn bó với chế độ
- Cách mạng có Đảng, đứng đầu
là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh
đạo Đây là thuận lợi cơ bản nhất
Hoạt động 1: GV nêu câu hỏi:
Sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước ta có những thuận lợi cơ bản nào? Theo em, thuận lợi nào là cơ bản nhất.
HS: Tìm hiểu SGK và trả lời GV: Nhận xét, trình bày bổ sung và chốt ý (có
3 thuận lợi cơ bản) Ở đây, GV cần nhấn mạnh đến yếu tố có Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng suốt lãnh đạo nên nhân dân ta rất tin tưởng Chính nhờ vào sự lãnh đạo tài tình của Đảng, phong trào đánh Pháp, Nhật đã giành thắng lợi, đưa nhân dân ta thoát khỏi ách
đô hộ của chủ nghĩa thực dân, phát xít
HS: Lắng nghe và ghi chép.
Hoạt động 2: GV trình bày nêu vấn đề: Bên
Trang 3* Khó khăn: Nước ta phải đối
phó với 2 mối đe dọa lớn:
- Giặc ngoại xâm và bọn nội
phản: Phía Bắc có quân Trung
Hoa Dân quốc và bọn tay sai Việt
Quốc, Việt Cách muốn cướp
chính quyền cách mạng Phía
Nam có quân Pháp được đế quốc
Anh giúp sức đã trở lại xâm lược
Ngoài ra còn có 6 vạn quân Nhật,
bọn Tờrốtkít,… cùng một lúc
nước ta phải đối phó với nhiều kẻ
thù nguy hiểm
- Sự non yếu của chính quyền
mới thành lập và những tàn dư
của chế độ cũ để lại trên tất cả
các mặt: nạn đói đe dọa, nạn dốt
(hơn 90% dân số mù chữ), tài
chính của nhà nước trống rỗng,
…
Những mối đe dọa trên đẩy
cạnh những thuận lợi cơ bản nêu trên, tình hình nước ta những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám cũng gặp muôn vàn khó khăn Nhiều người đã nhận định: Cách mạng Việt Nam bấy
giờ ở trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”,
giống như Lênin từng nhận định về nước Nga sau Cách mạng tháng Mười năm 1917: Giành chính quyền đã khó, nhưng giữ vững được
chính quyền còn khó khăn bội phần Vì sao
vậy? Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gặp phải những khó khăn gì sau Cách mạng tháng Tám 1945? Những khó khăn của nước ta
có gì giống và khác so với nước Nga Xô Viết sau Cách mạng tháng Mười năm 1917?
HS: Nghiên cứu SGK, kết hợp tái hiện lại
những kiến thức đã học ở lớp 11 để so sánh, trao đổi và trả lời
GV: Nhận xét, trình bày bổ sung và phân tích.
Ở đây, GV cần sử dụng Lược đồ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm đầu sau Cách mạng tháng Tám 1945 để hướng dẫn HS quan sát, hình dung về những mối đe dọa của giặc ngoại xâm từ vĩ tuyến 16 đổ ra Bắc (quân Trung Hoa Dân quốc và bọn Việt Quốc, Việt Cách) và từ vĩ tuyến 16 đổ vào Nam (6 vạn quân Nhật chờ giải giáp, đế quốc Anh mở đường cho quân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta,… Từ các dẫn chứng và phân tích cụ thể ở trên, GV đi đến kết luận và chốt ý
HS: Lắng nghe và ghi chép ý chính
Trang 4nước ta vào tình thế “ngàn cân
theo sợi tóc”.
II Bước đầu xây dựng chính
quyền cách mạng, giải quyết
nạn đói, nạn dốt và khó khăn
về tài chính.
1 Xây dựng chính quyền cách
mạng
- Ngày 6/1/1946, tổ chức Tổng
tuyển cử trong cả nước bầu ra
Quốc hội khóa đầu tiên
- Ngày 2/3/1946, Quốc hội họp kì
đầu tiên, bầu ra Chính phủ cách
mạng do Hồ Chí Minh đứng đầu
- Ngày 9/11/1946, Quốc hội họp
kì thứ hai, thông qua Hiến pháp
của nước VNDCCH
- Gấp rút xây dựng các lực lượng
vũ trang, gồm các lực lượng giải
phóng quân và dân quân tự vệ
2 Giải quyết nạn dói
- Biện pháp trước mắt: Kêu gọi
cả nước “nhường cơm sẻ áo”,
lập “Hũ gạo cứu đói” cho dân,…
- Biện pháp lâu dài: Kêu gọi nhân
Hoạt động: GV nêu vấn đề, sau đó phát Phiếu
học tập cho HS, đồng thời hướng dẫn các em nghiên cứu SGK để điền thông tin vào phiếu trong thời gian 4 phút (xem Phiếu học tập ở phần Phụ lục):
Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn ở trên, Đảng và Chính phủ ta đã làm gì để bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám 1945?
HS: Tìm hiểu SGK và quan sát kênh hình để
thảo luận, điền thông tin vào phiếu học tập theo gợi ý cho sẵn Nhằm tăng thêm không khí học tập và phát huy tính tích cực, chủ động của
HS, GV thông báo sẽ chấm bài làm trên phiếu học tập của 5 người làm nhanh nhất
GV – HS: Hết thời gian, GV gọi một số HS
trình bày bài làm trên phiếu học tập của mình, các bạn khác lắng nghe và bổ sung Cuối cùng,
GV nhận xét, đưa ra thông tin phản hồi, kết hợp với sử dụng một số hình ảnh và phim tư liệu để cụ thể hóa cho những biện pháp của Đảng và Chính phủ ta trong việc giải quyết các khó khăn trên Ví như sử dụng các đoạn phim
tư liệu nói về nhân dân ta đi bầu cử ngày 6/1/1946, giải quyết nạn đói, nạn dốt, hình ảnh Quốc hội khóa I họp phiên đầu tiên ở Hà Nội,
… (Nguồn tư liệu hình ảnh này GV xem lại ở
phần “Phương tiện dạy học chủ yếu”).
Trang 5dân “tăng gia sản xuất”, bãi bỏ
các loại thuế vô lí và giảm tô thuế
cho nông dân,…
- Kết quả: Nạn đói được đẩy lùi,
nhân dân phấn khởi và tin vào
chính quyền cách mạng
3 Giải quyết nạn dốt
- Biện pháp trước mắt: Tổ chức
các lớp bình dân học vụ để xóa
nạn mù chữ cho nhân dân
- Biện pháp lâu dài: Khai giảng
hệ thống trường học từ phổ thông
đến đại học, áp dụng nội dung và
phương pháp giáo dục mới
- Kết quả: Đã xóa nạn mù chữ
cho hơn 2,5 triệu người, nhân dân
thực hiện nếp sống văn hóa mới
4 Giải quyết khó khăn về tài
chính
- Biện pháp trước mắt: Kêu gọi
nhân dân hưởng ứng phong trào
“Tuần lễ vàng”, “Quỹ độc lập”.
- Biện pháp lâu dài: Ngày
23/11/1946, Quốc hội cho lưu
hành tiền Việt Nam trong cả
nước
Khi tổ chức dạy học các nội dung này, GV cần lưu ý nhấn mạnh cho HS 2 điểm sau:
+ Tổng tuyển cử tự do thực sự là một cuộc vận động chính trị rộng lớn Với kết quả hơn 90%
cử tri cả nước vượt qua mọi hành động chống phá của kẻ thù để đi bỏ phiếu thực sự là một thành công lớn Tổng số 333 đại biểu đại diện cho ba miền Bắc – Trung – Nam được bầu vào Quốc hội, cơ quan cao nhất của nhà nước đã tượng trưng cho khối đoàn kết của toàn dân tộc, chứng tỏ nhân dân ta hết rất tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng và Chính phủ
+ Cùng với việc xây dựng chính quyền mới, việc giải quyết những tàn dư của chế độ cũ để lại như nạn đói, nạn dốt, khó khăn về tài chính trong bối cảnh nhân dân cả nước đang gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn được đông đảo người dân ủng hộ cho thấy các chủ trương, biện pháp trước mắt và lâu dài của Đảng, Chính phủ ta rất đúng đắn, sáng suốt Việc thực hiện thành công những biện pháp này đã khẳng định uy tín của Đảng, Chính phủ được nâng cao và người dân sẽ còn tin tưởng hơn nữa vào các biện pháp đối phó với giặc ngoại xâm
HS: Tập trung theo dõi phần trình bày của GV
để hiểu rõ hơn, đồng thời đối chiếu với kết quả bài làm của mình để sửa chữa, bổ sung
GV: Dẫn dắt sang mục III.
Trang 6- Kết quả: Đến năm 1946, Nhà
nước căn bản cân bằng thu – chi
III Đấu tranh chống ngoại
xâm và nội phản, bảo vệ chính
quyền cách mạng
1 Kháng chiến chống thực dân
Pháp trở lại xâm lược Nam Bộ
* Thực dân Pháp xâm lược trở
lại
- Thực dân Pháp đã có âm mưu
trở lại xâm lược nước ta từ khi
phát xít Nhật đầu hàng Đồng
minh (cử tướng Lơcơléc và
Đácgiăngliơ đến Sài Gòn)
- Ngày “Tết độc lập” (2/9/1945),
Pháp xả súng vào dân thường ở
Sài Gòn - Chợ Lớn làm 47 người
chết, nhiều người bị thương
- Ngày 23/9/1945, Pháp chính
thức cho quân nổ súng, mở đầu
Hoạt động 1: GV nêu câu hỏi:
Thực dân Pháp đã có âm mưu và hành động trở lại xâm lược nước ta từ như thế nào?
HS: Nghiên cứu SGK, trao đổi và trả lời: GV: Nhận xét, trình bày và phân tích giúp HS
hiểu được: Âm mưu trở lại xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp đã có từ rất sớm, ngay từ khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện và quân Đồng minh chưa vào nước ta Âm mưu và hành động xâm lược của Pháp thể hiện
ở chỗ: Thứ nhất, Chính phủ Đờ Gôn đã ra
quyết định thành lập một đạo quân viễn chinh đến Sài Gòn do Tướng Lơcơléc làm chỉ huy,
cử Đô đốc Đácgiăngliơ sang làm Cao ủy Pháp
ở Đông Dương Thứ hai, ngay trong ngày
2/9/1945 khi nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn
xuống đường mít tinh mừng ngày “Tết độc
lập”, Pháp đã xả súng vào người dân, giết chết
47 người và làm hàng chục người khác bị
thương Thứ ba, đêm 22 rạng sáng ngày
23/9/1945, Pháp cho quân đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ Sài Gòn Hành động này chính thức mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần hai Trên thực tế, Pháp sớm đánh chiếm trở lại nước ta cũng vì được đế quốc Anh giúp sức Ngay khi đến Sài Gòn, quân Anh đã yêu cầu ta giải tán lực lượng vũ trang, rồi tự mình thả hết
tù binh Pháp, trang bị cho quân Pháp vũ khí,…
Trang 7cuộc chiến tranh xâm lược Việt
Nam lần thứ hai
* Nhân dân ta kháng chiến:
- Nhân dân Nam Bộ đã anh dũng
đánh trả bọn xâm lược bằng mọi
hình thức và vũ khí trong tay, gây
cho Pháp nhiều khó khăn
- Hưởng ứng lời kêu gọi của
Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ
Chí Minh, hàng vạn thanh niên
miền Bắc hăng hái gia nhập đoàn
quân “Nam tiến”, sát cánh cùng
nhân dân miền Nam đánh Pháp
HS: Lắng nghe và ghi chép ý chính Hoạt động 2: GV nêu vấn đề để HS suy nghĩ:
Vậy trước những âm mưu và hành động trở lại xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta đã đứng lên kháng chiến như thế nào?
HS: Tìm hiểu SGK và quan sát hình để trả lời: GV: Nhận xét, trình bày bổ sung, kết hợp
hướng dẫn HS khai thác hình Đoàn quân
“Nam tiến” lên đường vào Nam chiến đấu rồi
chốt ý
HS: Lắng nghe và ghi vở.
2 Đấu tranh với quân Trung
Hoa Dân quốc và bọn phản
cách mạng ở miền Bắc
- Ta chọn sách lược hòa hoãn,
dùng ngoại giao khôn khéo để
tránh xung đột quân sự, đồng thời
kiên quyết vạch mặt âm mưu phá
hoại của quân Trung Hoa Dân
quốc và bọn phản cách mạng
Hoạt động 1: GV tổ chức trao đổi với HS và
trình bày nêu vấn đề:
Ngay sau ngày “Tết độc lập”, Đảng và Chính
phủ ta cùng một lúc phải đối phó với nhiều loại
kẻ thù nguy hiểm: quân Anh, Pháp, phát xít Nhật ở miền Nam, quân Trung Hoa Dân quốc, bọn Việt Quốc, Việt Cách ở miền Bắc, bọn phản cách mạng,… Trong đó, quân Anh và Trung Hoa Dân quốc vào nước ta là có pháp lí quốc tế, làm nhiệm vụ giải giáp phát xít Nhật Vậy theo các em, chúng ta có nên dùng quân
sự để đánh quân Trung Hoa Dân quốc lúc này không? (HS sẽ trả lời không)
GV tiếp lời: Nếu dùng quân sự để đánh kẻ thù
Trang 8- Biểu hiện:
+ Nhường cho bọn Việt Quốc,
Việt Cách 70 ghế trong Quốc hội
không qua bầu cử và 4 ghế Bộ
trưởng trong Chính phủ liên hiệp
+ Nhân nhượng cho quân Trung
Hoa Dân quốc một số quyền lợi
về kinh tế (cung cấp cho chúng
một phần lương thực, nhận tiêu
tiền của Trung Quốc,…)
+ Đảng tuyên bố “tự giải tán”,
nhưng thực chất là rút vào hoạt
động bí mật
+ Ban hành một số sắc lệnh dể
trấn áp các tổ chức phản cách
mạng, trừng trị thẳng tay những
hành động phá hoại của bọn tay
sai thân Trung Hoa Dân quốc,
lúc này là rất bất lợi, vì chúng vào nước ta mang pháp lí quốc tế dưới danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp phít xít Nhật Hơn nữa, chính quyền và lực lượng của ta lúc này còn yếu, khó có thể thắng được Sách lược đấu tranh của chúng ta lúc này là tránh trường hợp cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, nên chọn giải pháp hòa hoãn, tránh xung đột quân sự, dùng ngoại giao khôn khéo, đồng thời kiên quyết vạch mặt âm mưu phá hoại của kẻ
thù Vậy trong giai đoạn từ tháng 9/1945 đến
trước ngày 6/3/1946, Đảng và Chính phủ cách mạng đã thực hiện những chủ trương, sách lược gì để đối phó với quân Trung Hoa Dân quốc và bọn phản cách mạng ở miền Bắc?
HS: Tìm hiểu SGK, suy nghĩ, trao đổi, trả lời: GV: Nhận xét, bổ sung và kết luận.
Nếu điều kiện cho phép, GV có thể cho HS
xem đoạn phim tư liệu về Đảng và Chính phủ
cách mạng đón tiếp quân Trung Hoa Dân quốc vào nước ta để cụ thể hóa sự kiện (nguồn từ
đĩa CD Hồ Chí Minh toàn tập).
HS: Theo dõi và ghi ý chính.
GV: Dẫn dắt chuyển sang mục 3: Chủ trương,
sách lược của Đảng, Chính phủ ta đã làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền của quân Trung Hoa Dân quốc cùng bọn tay sai của chúng Nhưng làm thế nào để đuổi chúng về nước? Chúng ta cùng tìm hiểu ở mục 3
Trang 9 Âm mưu lật đổ chính quyền
cách mạng của kẻ thù thất bại
3 Hòa hoãn với Pháp nhằm
đẩy quân Trung Hoa Dân quốc
ra khỏi nước ta
* Hoàn cảnh:
- Để đem quân ra Bắc nhằm thôn
tính cả nước ta, thực dân Pháp đã
đàm phán với Chính phủ Trung
Hoa Dân quốc cho họ ra chiếm
đóng miền Bắc thay thế
- Ngày 28/2/1946, Hiệp ước Hoa
– Pháp được kí kết, quân Pháp
được phép ra miền Bắc làm
nhiệm vụ giải giáp quân Nhật
thay quân Trung Hoa Dân quốc
gây bất lợi cho ta
- Để tránh cùng một lúc phải đối
phó với nhiều kẻ thù và có thêm
thời gian hòa hoãn và chuẩn bị
lực lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
Hoạt động 1: GV nêu câu hỏi để HS suy nghĩ:
Vì sao thực dân Pháp và Chính phủ Trung Hoa Dân quốc lại kí với nhau Hiệp ước Hoa – Pháp? Đảng và Chính phủ ta đã thực hiện chủ trương, biện pháp gì để hòa hoãn với Pháp và đuổi quân Trung Hoa Dân quốc về nước?
HS: Tìm hiểu SGK để trao đổi và trả lời GV: Nhận xét, trình bày, phân tích và kết luận.
Ở đây, GV cần làm rõ các ý sau:
+ Vì sao thực dân Pháp và chính phủ Trung Hoa Dân quốc phải thương lượng với nhau? Thực dân Pháp sau khi chiếm được các đô thị
ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, chúng muốn đem quân ra Bắc để thôn tính cả nước nhưng lại bị cản trở bởi quân Trung Hoa Dân quốc dưới danh nghĩa quân Đồng minh đang ở miền Bắc Việt Nam vào giải giáp phít xít Nhật Đồng thời, quân Trung Hoa Dân quốc cùng bọn tay sai sau một thời gian sang nước ta với
âm mưu muốn cướp chính quyền, phá hoại cách mạng không thành đã nản lòng, chúng lại gặp phải khó khăn trong nước đó là phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản lên cao, nhiều khu giải phóng mở rộng,… nên rất muốn trở về để đối phó với quân cách mạng trong nước Chính trong bối cảnh trên, thực dân Pháp và Chính phủ Trung Hoa Dân quốc đã gặp nhau để thương thuyết và Hiệp ước Hoa – Pháp được kí kết (nội dung như
Trang 10đã chọn giải pháp “hòa để tiến”:
kí với Chính phủ Pháp Hiệp định
Sơ bộ (6/3/1946)
* Nội dung của Hiệp định Sơ bộ:
- Pháp công nhận nước ta là một
quốc gia tự do, có chính phủ,
nghị viện, quân đội, tài chính
riêng,… nằm trong khối Liên
hiệp Pháp
- Ta đồng ý cho Pháp đem 15.000
quân vào miền Bắc thay thế
Trung Hoa Dân quốc, nhưng sẽ
rút dần trong thời hạn 5 năm
- Hai bên ngừng bắn ở Nam Bộ,
tạo không khí thuận lợi cho cuộc
đàm phán chính thức sau này
SGK)
+ Hiệp ước Hoa – Pháp được kí kết đặt nhân dân ta đứng trước sự lựa chọn một trong hai con đường: khẩn trương cầm vũ khí để đứng lên chống Pháp ngay khi chúng vừa đặt chân ra miền Bắc (cách này rất nguy hiểm vì chênh lực lực lượng giữa ta và Pháp rất lớn); hoặc là chủ động đàm phán với Pháp để nhanh chóng đuổi quân Trung Hoa Dân quốc về nước, làm cho bọn tay sai của chúng hoang mang, ta lại có thêm thời gian hòa hoãn chuẩn bị lực lưởng để bước vào cuộc kháng chiến với Pháp sau này (cách này thể hiện phương pháp ngoại giao rất khôn khéo, lại được nhiều người tán thành) Cuối cùng, trên cơ sở phân tích lợi thế giữa ta
và kẻ thù, Đảng và Chính phủ ta (đại diện là
Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã chọn giải pháp “hòa
để tiến”, thông qua việc kí kết với thực dân
Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 (Nội dung Hiệp định như SGK)
HS: Lắng nghe và ghi ý chính.
Hoạt động 2: GV thông báo kiến thức:
Tranh thủ thời gian hòa bình, Đảng và Chính phủ ta khẩn trương củng cố, xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt: thành lập Liên Việt, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang,… Tuy nhiên, phía thực dân Pháp lại ra sức phá hoại Hiệp định: chúng tiếp tục gây xung đột vũ trang ở Nam Bộ, ngang nhiên thành lập chính phủ Nam Kì tự trị, âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi nước ta,… Trong hoàn cảnh đó, Chủ tịch