KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VŨ HOÀI THU ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA HIỆN TƯỢNG PHÓNG CHIẾU TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT Chuyên ngành: Ngôn ngữ h
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ HOÀI THU
ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA
CỦA HIỆN TƯỢNG PHÓNG CHIẾU TRONG
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 9222024
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Hoàng Văn Vân
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Vũ Hoài Thu (2017), “Phóng chiếu và các cấp độ phóng chiếu theo quan điểm
của Ngữ pháp Chức năng hệ thống”, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 4
(7/2017), Tr 91-98
2 Vũ Hoài Thu (2018), “So sánh đối chiếu cụm danh từ phóng chiếu bị bao trong
tiếng Anh và tiếng Việt” Tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội, số 10 (10/2018), Tr
84-89
3 Vũ Hoài Thu (2018), “Khảo sát phóng chiếu trên cú trong tiểu thuyết The Thorn
Birds (Tiếng chim hót trong bụi mận gai)”, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư,
số 6 (11/2018), Tr 122- 126
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong quá trình giao tiếp trao đổi thông tin, phóng chiếu là một hiện tượng lý thú của ngôn ngữ Nó xuất hiện nhiều trong báo chí và trong các tiểu thuyết viết theo thể loại văn trần thuật
Việc sử dụng phóng chiếu trong dịch thuật và giảng dạy ngoại ngữ cũng như trong báo chí chưa thực sự hiệu quả
Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến hiện tượng này nhưng, trong chừng mực mà chúng tôi biết được, chưa có công trình nghiên cứu nào đối chiếu phóng chiếu chuyên sâu trong hai ngôn ngữ Anh và Việt Đặc biệt trong tiếng Việt, ngữ pháp chức năng, trong đó có phóng chiếu chưa được quan tâm thỏa đáng, tạo nên các khoảng trống
Lựa chọn đề tài luận án "Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của hiện tượng phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt", tác giả mong muốn khỏa
cách chuyển dịch giữa hai ngôn ngữ và nâng cao hiệu quả giao tiếp
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu, cụ thể là hệ thống lí thuyết liên quan đến phóng chiếu trong ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng
- Nghiên cứu những đặc trưng của phóng chiếu ở các cấp độ: cụm từ, cú đơn
và cú phức trong tiếng Anh và tiếng Việt
- Trên cơ sở của hai nội dung đã đề cập ở trên, luận án sẽ đối chiếu những đặc trưng phóng chiếu trong tiếng Anh với tiếng Việt để thiết lập những điểm tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ Trong quá trình đối chiếu, luận án sẽ cố gắng giải thích những điểm tương đồng và khác biệt đó
2.3 Phạm vi nguồn ngữ liệu
Trong tiếng Anh, các hiện tượng phóng chiếu được nghiên cứu thông qua các
cứ liệu là 15 bài báo trong tờ New York Times, 15 bài báo trong tờ USA Today và tiểu thuyết Harry Porter and the Sorcerer's Stone (Harry Porter và hòn đá phù
thủy) của nhà văn J.K Rowling Trong tiếng Việt, chúng tôi chọn cứ liệu nghiên
cứu thông qua 15 bài báo trong tờ Nhân Dân, 15 bài báo trong trang Vietnamnet và hai tiểu thuyết Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh và Cô gái đến từ hôm qua của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các thành phần phóng chiếu trên cú và
Trang 5trong cú trong tiếng Anh và tiếng Việt
Phân tích để lấy số lượng, tỉ lệ phần trăm và đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu trong cú: cụm động từ phóng chiếu, cụm giới từ phóng chiếu và cụm danh từ phóng chiếu trong khối liệu
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp miêu tả; phương pháp so sánh đối chiếu (hai chiều); luận án kết hợp sử dụng thủ pháp khác: thống kê, phân loại, mô hình hóa,
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
1 Về lí thuyết
Luận án góp phần làm sáng tỏ các luận điểm lí thuyết, lí luận và bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu về phóng chiếu theo quan điểm của ngữ pháp chức năng hệ thống và góp phần giúp cho các nhà nghiên cứu có thêm luận chứng để đi sâu nghiên cứu thêm về ngữ pháp và ngữ nghĩa của phóng chiếu
2 Về thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp những người làm công tác giảng dạy ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt cũng như các những người làm công tác dịch thuật hiểu rõ hơn về đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của phóng chiếu bậc trong cú và trên cú Từ đó có thể kiến tạo các văn bản cũng như chuyển dịch các văn bản giữa hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt có sử dụng phóng chiếu hiệu quả hơn Ngoài ra, đối với những người làm công tác giảng dạy, việc hiểu rõ các đặc trưng của phóng chiếu trong từng ngôn ngữ sẽ giúp họ có những chiến lược phù hợp, hiệu quả trong việc giảng dạy vấn đề này với người học Đặc biệt đối với chương trình đào tạo báo chí tại các cơ sở đào, đây là một trong những vấn đề thực
tế rất hữu ích cần được quan tâm
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án được chia thành ba chương (ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục những công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục): Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu và cơ sở
lí luận; Chương 2: Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu trên
cú trong tiếng Anh và tiếng Việt; Chương 3: Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu trong cú trong tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về một số khái niệm tương đương phóng chiếu trước ngữ pháp chức năng hệ thống
Trang 6Trong Ngữ Pháp Tiếng Việt, Diệp Quang Ban (2008) khi bàn đến câu ghép đã
đề cập đến khái niệm được ông gọi là xạ ảnh Theo ông, xạ ảnh là việc chuyển một
sự việc nào đó vào một lời nói hay ý nghĩ khác và được hiểu là “bắn” hay “phóng” hình ảnh của sự việc đó vào một lời hay ý nghĩ Hiện tượng này trước đây trong ngữ pháp truyền thống được gọi là dẫn lời, về sau thêm phần dẫn ý
Florian Coulmas (1986) đã nghiên cứu các vấn đề chung về lời tường thuật lại trong các ngôn ngữ Tác giả thảo luận về các đặc điểm giống và khác nhau trong lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp thông qua hệ thống từ vựng và ngữ pháp Theo dòng lịch sử, tác giả còn thảo luận thêm về loại hình thứ ba với các đặc điểm của
cả lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp và thống kê những khái niệm không đồng nhất về loại hình thứ ba
Fillmore (1971, 2001) cho rằng cả lời nói trực tiếp và gián tiếp đều là bổ ngữ của động từ nói năng Ông xem tất cả các tham tố có thể xuất hiện trực tiếp sau động từ nói năng là thông điệp (message) và phân chia thành bốn loại: thông điệp-nội dung (message-content), thông điệp-hình thức (message-form), thông điệp phạm-trù và thông điệp loại (message-type)
Quirk và các cộng sự (1985) đã thảo luận các nội dung tương tự như phóng chiếu mà họ gọi là “lời nói trực tiếp” (direct speech) và “lời nói gián tiếp” (indirect speech) Ngoài ra, dạng trung gian giữa lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp mà các tác giả gọi là lời nói gián tiếp tự do và lời nói trực tiếp tự do cũng được đề cập đến Các tác giả cũng có đóng góp quan trọng là bổ sung thêm khái niệm lời nói gián tiếp và lời nói trực tiếp trong ngữ pháp truyền thống Các tác giả đã chú giải
“speech” (lời nói) phải bao hàm cả những hoạt động tinh thần không được diễn tả bằng lời
Nguyễn Vân Phổ (2011), trong công trình nghiên cứu về ngữ pháp, ngữ nghĩa
vị từ nói năng tiếng Việt đã bàn về “lời dẫn trực tiếp” và “lời dẫn gián tiếp” vận dụng cả lí thuyết ngữ pháp cách của Fillmore và ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday
Diệp Quang Ban (2001) và Nguyễn Văn Hiệp (2009), trong mối quan hệ với tiếng Việt, đã xếp các câu được gọi là câu phức thành phần trong đó có lời dẫn gián tiếp và lời dẫn trực tiếp vào nhóm câu đơn hai thành phần (câu đơn song phần)
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về phóng chiếu dưới ánh sáng của ngữ pháp chức năng hệ thống
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu về phóng chiếu trên thế giới
Từ những năm 1980 lí thuyết chức năng hệ thống nói chung và hiện tượng phóng chiếu nói riêng được nghiên cứu ứng dụng đa dạng ở nhiều ngôn ngữ khác nhau như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng trung Quốc, tiếng Hy Lạp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức (chi tiết xin xem Anna-Maria & Marina, 2009; Shu-Kun Chen, 2016; Qingshun He & Junhui Wu, 2015; Esther Olayinka Bamigbola, 2015; Jing Fang, 2012; Wang Pin, 2012; Farahman, 2014; Xinxin Zhang & Xueai Zhao, 2016; Malte Rosemeyer, 2012; Vicente López Folgado, 2000; Alexandra Holsting, 2008)
Forey (2002) đã dành riêng chương 6 để bàn về quan hệ giữa siêu chức năng liên nhân và đề ngữ mở rộng (extended theme) thông qua các cú phóng chiếu
Trang 7Sanggam Siahaan & Tengkun Silvana Sinar (2013) nghiên cứu về dịch quá trình phóng chiếu từ tiếng Batak Toba (Indonesia) sang tiếng Anh Ayako Ochi (2008)
đã tiến hành một nghiên cứu về phóng chiếu tư tưởng và phóng chiếu liên nhân trong thông báo tin tức trong tiếng Anh và tiếng Nhật José Manuel Durán (2008) lại quan tâm đến mối tương quan giữa hệ thống thứ bậc (đồng đẳng và phụ thuộc)
và hệ thống phóng chiếu (lời và ý tưởng) trong tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu về hiện tượng phóng chiếu ở Việt Nam
Tuy lí thuyết về ngữ pháp chức năng hệ thống được nghiên cứu trên thế giới từ những năm 1960 nhưng lí thuyết này mới được ứng dụng trong tiếng Việt với một
số lượng không nhiều các công trình nghiên cứu như công trình của Cao Xuân Hạo (1991/2004), Phan Thiều (1993), Hồ Lê (1993), Hoàng Văn Vân (1997), Thái Minh Đức (1998), Đỗ Tuấn Minh (2007), Võ Việt Cường (2013), Nguyễn Thị Lan Anh (2014) và Nguyễn Thị Minh Tâm (2013) Vậy nên các công trình nghiên cứu
về phóng chiếu ở Việt Nam lại càng khiêm tốn
Hoàng Văn Vân trong công trình nghiên cứu Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt: Mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống (2002/2005) và công trình được bổ sung và cập nhật tái bản bằng tiếng Anh An Experiential Grammar of the Vietnamese Clause (2012) đã bàn đến các quá trình phóng chiếu như một đặc điểm
quan trọng khu biệt các quá trình tinh thần và quá trình phát ngôn với các quá trình khác
Nguyễn Thị Minh Tâm (2007) nghiên cứu quan hệ phóng chiếu trong tổ hợp
cú tiếng Anh so sánh với tiếng Việt Tác giả đã đưa ra được những đặc điểm giống
và khác nhau cơ bản nhưng chủ yếu là về hình thức thể hiện Nguyễn Thị Xuân
Mỹ (2012), nghiên cứu về quá trình phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng việt bao gồm quá trình tinh thần và quá trình phát ngôn, nhưng tác giả chỉ tìm ra những điểm tương đồng mà hầu như không tìm ra được sự khác nhau trong quá trình phóng chiếu giữa 2 ngôn ngữ Trần Hồng Vân (2013), đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm ứng dụng lí thuyết ngữ pháp chức năng để nhận diện cú phóng chiếu qua phân tích bài phát biểu của tổng thống Barack Obama tại cuộc vận động tranh cử ở Las Vegas Nguyễn Thị Minh Tâm (2013) đã phát triển và đi sâu phân tích hai loại
cú phức mà tác giả gọi là “tổ hợp cú bành trướng” và “tổ hợp cú phóng chiếu” Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đầy đủ về sự thể hiện và các hoạt động của
tổ hợp cú trong đó có cú phóng chiếu dưới ánh sáng của lí thuyết ngữ pháp chức năng ở Việt Nam Tuy nhiên, vì tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các mối quan hệ trên cú nên hiện tượng phóng chiếu trong cú chưa được tác giả quan tâm trong công trình này
Các nghiên cứu được đề cập ở trên hoặc chưa nghiên cứu sâu về phóng chiếu hoặc chưa nghiên cứu đầy đủ các cấp độ trong đó hiện tượng phóng chiếu xuất hiện Đây chính là khoảng trống mà luận án hướng tới
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Lí thuyết nghiên cứu đối chiếu
Theo Lê Quang Thiêm (2008, tr 41), “Nghiên cứu đối chiếu giúp ta xác định cái giống nhau và khác nhau của các ngôn ngữ về mặt cấu trúc, hoạt động và
sự phát triển của chúng”
Trang 8Theo Bùi Mạnh Hùng (2008), có hai cách tiếp cận cơ bản tùy theo mục đích
và nhiệm vụ cụ thể của một công trình nghiên cứu đối chiếu: (i) nghiên cứu đối chiếu một chiều và (ii) nghiên cứu đối chiếu hai chiều
1.2.2 Ngôn ngữ học chức năng hệ thống
Lí thuyết chức năng hệ thống có nguồn gốc trực tiếp từ các công trình nghiên cứu của cố giáo sư J.R Firth (1890-1960), một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Anh, người chịu nhiều ảnh hưởng từ tư tưởng nghiên cứu ngôn ngữ của nhà nhân chủng học vĩ đại người Anh Brolislaw Malinowski (1844-1942)
Halliday là người phát triển và hoàn thiện lí thuyết ngôn ngữ học với tên gọi
lí thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống (systemic functional linguistics) Ngôn ngữ học chức năng hệ thống là lí thuyết biểu hiện các mối quan hệ biến hóa giữa các đơn vị ngôn ngữ trong hệ thống hay khả năng kết nối của các đơn vị ngôn ngữ
ở mọi cấp độ ngôn ngữ
1.2.3 Phóng chiếu trong ngữ pháp chức năng hệ thống
1.2.3.1 Khái niệm tương đương câu trong ngữ pháp chức năng hệ thống
Cú đơn là một đơn vị đa diện vì nó có thể được nhận diện từ nhiều góc độ khác nhau như tầng (strata), cấp độ (rank) và siêu chức năng (metafunction) (Halliday, 1994, 2012; Martin, 1992; Halliday & Matthiessen, 2004/2014; Hoàng Văn Vân, 2002/2005, 2012) Cú được định vị ở tầng ngữ pháp-từ vựng và mang ba nét nghĩa khái quát tạo nên ba siêu chức năng của ngôn ngữ: (i) Siêu chức năng kinh nghiệm (Experiential metafuntion); (ii) Siêu chức năng liên nhân (Interpersonal metafunction); (iii) Siêu chức năng văn bản (Textual metafunction)
1.2.3.2 Phóng chiếu trong ngữ pháp chức năng hệ thống
Theo Matthiessen và các cộng sự (2010: 165), phóng chiếu là “một trong hai loại cơ bản của mối quan hệ logic-ngữ nghĩa mà chúng có thể được thể hiện bằng ý tưởng hoặc quan hệ liên nhân giữa thành phần chính và thành phần phụ, những thành phần này có liên hệ phụ thuộc lẫn nhau trong tổ hợp cụm từ, trong cú (như trong hệ thống chuyển tác và chu cảnh), trong tổ hợp cú”
Phóng chiếu là khái niệm do Halliday đề xuất Theo ông, phóng chiếu không những được thấy bậc trên cú mà nó còn được thấy ở cả bậc cú đơn (trong cú) nữa Hiện tượng phóng chiếu trong ngữ pháp chức năng được hiểu rộng hơn việc dẫn lời dẫn ý trong ngữ pháp truyền thống, vì phóng chiếu không chỉ bao gồm những động từ chỉ sự nói năng và suy nghĩ mà còn cả những động từ diễn đạt cảm giác, cảm nhận
Quá trình phóng chiếu
Theo Hoàng Văn Vân (2002), thuật ngữ “quá trình” được dùng theo hai nét nghĩa (rộng và hẹp) Theo nét nghĩa rộng, quá trình chỉ toàn bộ cái mà thường được gọi là “một sự tình” hay “một sự thể hiện” Theo nét nghĩa hẹp, quá trình bao gồm tất cả những hiện tượng có thể được gắn với việc chi tiết hóa thời gian và được diễn đạt bằng các động từ chỉ sự kiện, trạng thái hay hành động (xem Halliday1967, Halliday in Kress 1976, Fawcett 1987, Davidse 1992, 1996, Shore
1992, Matthiessen 1995)
Quá trình phóng chiếu là tên gọi chung cho hai tiểu quá trình: tinh thần và phát ngôn Ngoài ra còn có quá trình có tiềm năng phóng chiếu (quá trình hành vi)
Trang 9 Chức năng lời nói phóng chiếu
Chức năng lời nói chính yếu: khiến nghị và phán đoán được phóng chiếu và chức năng lời nói thứ yếu: chào hỏi, cảm thán,…
1.2.4 Các cấp độ phóng chiếu
1.2.4.1 Phóng chiếu trong cú
Phóng chiếu ngang cú: Cụm giới từ phóng chiếu
Cụm giới từ phóng chiếu hay các chu cảnh phóng chiếu bao gồm các giới từ được sử dụng để diễn đạt các chu cảnh chỉ quan điểm và chu cảnh vấn đề
Phóng chiếu dưới cú: Cụm danh từ phóng chiếu bị bao
Theo Halliday (1994, 2012) và Halliday & Matthiessen (2004/2014) lời và ý tưởng có thể bị bao và hạ cấp để đóng chức năng như những hậu bổ tố trong cụm danh từ Những trường hợp như vậy được coi là trường hợp phóng chiếu, nhưng thành phần phóng chiếu là một danh từ đóng chức năng sự vật và cú mà nó phóng chiếu được dùng để xác định theo cách giống như cú quan hệ hạn định xác định danh từ được nó mở rộng
Phóng chiếu dưới cú: Cụm danh từ phóng chiếu thực tế
Có một kiểu phóng chiếu khác mà cú bị phóng chiếu không bị phóng chiếu bởi quá trình tinh thần hay quá trình phát ngôn có phát ngôn thể hay cảm thể, hoặc bởi một danh từ chỉ quá trình phát ngôn hay quá trình tinh thần; mà nó lại xuất hiện như thể nó đã được đóng gói sẵn trong hình thức phóng chiếu Chúng được gọi là
phóng chiếu thực tế (fact)
Phóng chiếu dưới cú: Cụm động từ phức phóng chiếu
Các cụm động từ phóng chiếu thường là những khiến nghị, có thể hoàn thành và
Trang 10mong muốn, cảm giác) Vị trí của cú phóng chiếu có thể xuất hiện ở phần đầu hoặc phần cuối hoặc phần giữa của tổ hợp cú phức
Cú được phóng chiếu
Trong quá trình phát ngôn, nếu cú phóng chiếu là một quá trình phát ngôn thì cú bị phóng chiếu có vị thế của một lời nói (dẫn lời) Trong quá trình tinh thần, nếu cú phóng chiếu một cú tinh thần (tri giác, tri nhận, mong muốn, cảm giác) thì
cú được phóng chiếu lại là một ý được dẫn (dẫn ý) và nó không bị hạn chế ở bất kì kiểu quá trình cụ thể nào
Chức năng hoạt động của phóng chiếu trên cú
Chức năng hoạt động của cú phóng chiếu là chỉ ra cú kia được phóng chiếu:
ai đó nói hoặc nghĩ (lời hoặc ý) Chức năng hoạt động của cú được phóng chiếu là thể hiện lời hoặc ý được nói ra hoặc nghĩ đến
Phương thức hoạt động cơ bản của phóng chiếu trên cú
+ Thông báo lại
Một phát ngôn có thể được thông báo lại bằng cách thể hiện nó như một ý nghĩa Mối quan hệ của hai cú này là mối quan hệ phụ thuộc, chức năng lí tưởng hóa của nó là để thể hiện ý nghĩa hoặc nét nghĩa chính Điều này có nghĩa là người nói thông báo ý chính của điều được nói ra và ngôn từ có thể khác so với ngôn từ gốc
Tiểu kết chương 1 Trong chương này, chúng tôi đã tổng quan khái quát một số các nghiên cứu tiêu biểu trong ngữ pháp truyền thống (câu trực tiếp và câu gián tiếp) liên quan đến phóng chiếu trong ngữ pháp chức năng để có được cái nhìn đa chiều về hiện tượng này Các nghiên cứu về phóng chiếu được tổng quan cho thấy chưa có sự nghiên cứu sâu và đầy đủ ở các cấp độ về đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt Đây chính là khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu mà luận án của chúng tôi hướng tới
Ngoài việc làm rõ các khái niệm về phóng chiếu, các cơ sở lí luận liên quan đến phóng chiếu cũng được nghiên cứu chi tiết trong chương này Phóng chiếu trong ngữ pháp chức năng có nội hàm rộng hơn khái niệm câu trực tiếp và câu gián tiếp trong ngữ pháp truyền thống Phóng chiếu không những được thấy ở bậc trên
cú mà nó còn được thấy ở cả bậc cú/câu đơn hay ngang cú và dưới cú (cụm từ) nữa
Chương 2 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA PHÓNG
CHIẾU TRÊN CÚ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Trang 112.1 Phân tích đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phóng chiếu trên cú trong
Hình thức thể hiện của cú phóng chiếu được nhận diện thông qua vị trí trong
tổ hợp cú và dấu câu Vị trí của của cú phóng chiếu có thể được tìm thấy ở trước hoặc sau cú được phóng chiếu, thậm chí còn ở giữa cú được phóng chiếu Cú phóng chiếu và cú bị phóng chiếu thường được ngăn cách bằng một dấu phẩy hoặc dấu hai chấm nếu cú phóng chiếu đứng đầu tổ hợp cú, ngăn cách bằng một dấu phẩy nếu đứng cuối và ngăn cách bằng hai dấu phẩy nếu đứng giữa Chức năng hoạt động của cú phóng chiếu là chỉ ra cú kia bị phóng chiếu
Động từ phát ngôn: Động từ say (nói) khái quát, Động từ đặc thù cho chức
năng lời nói khác nhau, Động từ chứa các đặc điểm chu cảnh thêm vào, Động từ chứa nét biểu niệm nào đó
Động từ tinh thần (tri nhận và tình cảm)
Động từ hành vi
Tính từ phóng chiếu (Qúa trình quan hệ)
Các tham thể tham gia các quá trình phóng chiếu rất phong phú tùy thuộc vào quá trình mà chúng được hiện thực hóa Các cảm thể trong quá trình tinh thần, hành thể và ứng thể trong quá trình hành vi, đương thể trong quá trình quan hệ thường là các đối tượng có nhận thức và tư duy Tuy nhiên, phát ngôn thể trong quá trình phát ngôn lại có thể bao gồm bất kỳ cái gì có thể phát ra tín hiện và thông tin, không nhất thiết phải là danh từ chỉ người (Halliday 1994, 2012; Halliday & Matthiessen 2004/2014; Eggins, 1994/ 2004; Hoàng Văn Vân 2002/2005, 2012) Các chu cảnh tham gia quá trình phóng chiếu bao gồm chu cảnh chỉ vấn đề và chu cảnh chỉ quan điểm Chu cảnh chỉ vấn đề có quan hệ mật thiết với quá trình phát ngôn và quá trình tinh thần
2.1.2 Cú bị phóng chiếu
2.1.2.1 Đặc điểm ngữ pháp
Trang 12Cú bị phóng chiếu trong tiếng Anh được nhận diện qua các từ dẫn nhập (hư từ), dấu câu và các thức thể hiện
Trong hình thức trích nguyên trong văn viết, cú được phóng chiếu trong tiếng Anh thường được đặt giữa hai dấu ngoặc kép và được ngăn cách với cú phóng chiếu bằng một dấu phẩy Trong hình thức trích dẫn, trước cú được phóng
chiếu thường có từ dẫn nhập that hoặc if / whether hoặc các từ dạng WH- Tuy nhiên trên thực tế sử dụng, trong nhiều trường hợp từ that có thể ẩn đi mà không
làm ảnh hưởng đến ngữ nghĩa của câu
Cú phóng bị chiếu trong trích nguyên được thể hiện đa dạng về thức Ngược lại trong thông báo lại, các cú được phóng chiếu rất hạn chế về thức, chỉ có một hình thức duy nhất là thức tuyên bố
2.1.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa
Bảng 2.2 Số lượng và chức năng ngữ nghĩa của cú bị phóng chiếu trong
tiếng Anh Thể loại
37 (6,7%)
74 (13,5%)
3 ( 0,7%)
548 (100%) Theo số liệu khảo sát cho thấy, cú được phóng chiếu là các phán đoán được
sử dụng cao hơn vượt trội so với các khiến nghị, các phán đoán lời với 434 lần xuất hiện chiếm 79,2% gấp 11,7 lần các khiến nghị lời (6,7%); còn các phán đoán
ý với 74 lần xuất hiện chiếm 13,5%, cao gấp 24,7 lần các khiến nghị ý Đặc biệt các khiến nghị ý xuất hiện rất hạn chế trong khối liệu khảo sát (0,7%) cho thấy kiểu phóng chiếu này được sử dụng không phổ biến trong tiếng Anh
Các phán đoán và khiến nghị được phóng chiếu bởi cả các quá trình phát ngôn và quá trình tinh thần Tuy nhiên, với các quá trình phóng chiếu tinh thần, trong khi các phán đoán được phóng chiếu bởi các quá trình tinh thần tri nhận thì các khiến nghị được phóng chiếu bởi các quá trình tinh thần tình cảm
2.2 Phân tích đặc điểm ngữ pháp ngữ, ngữ nghĩa của phóng chiếu trên cú
trong tiếng Việt
Bảng 2.3 Số lượng tổ hợp cú phóng chiếu phát ngôn và tinh thần trong tiếng Việt Thể loại Số lượng tổ hợp cú phóng chiếu Tổng số
Quá trình phát ngôn Quá trình tinh thần
Trang 13với cú được phóng chiếu bằng một dấu phẩy hoặc dấu hai chấm Trong hình thức thông báo lại thứ bậc, khi cú phóng chiếu đứng trước cú được phóng chiếu, hai cú
thành phần được nối với nhau bằng từ rằng hoặc từ là Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp chữ rằng hoặc chữ là bị tỉnh lược mà nghĩa của câu không thay đổi Trong tiếng Việt, các từ dẫn nhập rằng hoặc là thường gắn với cú phóng chiếu hơn
là cú được phóng chiếu trong hình thức thông báo lại thứ bậc
2.2.1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa
Nghĩa biểu hiện hay nghĩa kinh nghiệm của cú phóng chiếu thể hiện qua các yếu tố: các tham thể, các quá trình (các động từ) và các chu cảnh Các quá trình phóng chiếu xuất hiện trong khối ngữ liệu khảo sát được nhận diện qua các tiểu lớp động từ sau:
Động từ phát ngôn: Động từ say (nói) khái quát, Động từ đặc thù cho chức
năng lời nói khác nhau, Động từ chứa các đặc điểm chu cảnh thêm vào, Động từ chứa nét biểu niệm nào đó
Động từ tinh thần (tri nhận và tình cảm)
Động từ hành vi thể hiện lời nói
Động từ chỉ trạng thái tâm lý thể hiện lời nói
Các tham thể tham gia các quá trình phóng chiếu rất đa dạng và thường được hiện thực hóa bằng cụm danh từ Khi tham gia quá trình phóng chiếu, các tham thể
là cảm thể, hành thể, ứng thể và đương thể bắt buộc phải là các cụm danh từ chỉ người Ngược lại phát ngôn thể không bắt buộc phải là một tham thể có ý thức, mà
có thể là bất cứ cái gì tạo ra tín hiệu và thông tin
Các chu cảnh đồng vị chặt chẽ với quá trình phóng chiếu xuất hiện trong khối liệu khảo sát bao gồm chu cảnh chỉ vấn đề và chu cảnh chỉ quan điểm
2.2.2 Cú bị phóng chiếu
2.2.2.1 Đặc điểm ngữ pháp
Tiêu chí nhận diện cú bị phóng chiếu trong tiếng Việt được căn cứ qua các dấu câu và thức thể hiện
Trong trích nguyên, cú được phóng chiếu được xuống dòng và có dấu gạch
đầu dòng phía trước Trong tiếng Việt, các từ dẫn nhập rằng hoặc là thường gắn
với cú phóng chiếu hơn là cú bị phóng chiếu trong hình thức thông báo lại thứ bậc Trong thông báo lại đồng đẳng, hai cú thành phần thường được ngăn cách bằng dấu phẩy hoặc hoặc dấu hai chấm và dấu gạch ngang Cú phóng bị chiếu trong trích nguyên có sự đa dạng về thức Ngược lại, trong thông báo lại, các cú bị phóng chiếu rất hạn chế về thức, chỉ có một hình thức duy nhất là thức tuyên bố
109 (19,2%)
8 (1,4%)
569 (100%)