Với vai trò chỉ đạo công tác chăm sóc nuôi dưỡng trong nhà trường, bản thân tôi thực sự băn khoăn, trăn trở làm thế nào để đảm bảo an toàn tuyết đối cho trẻ tại trường mầm non, đặc biệt
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: ………
1 Tên sáng kiến:
“Một số biện pháp chỉ đạo công tác chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ mẫu giáo trong trường Mầm non Minh Thuận 1 năm học
2018 – 2019”
2 Lĩnh vực áp dụng sang kiến: Giải pháp quản lý trong giáo dục.
3 Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1 Tình trạng giải pháp đã biết:
- Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới:
Như chúng ta đã biết mục tiêu của giáo dục mầm non là hình thành cho trẻ những yếu tố nhân cách đầu tiên của con Nguời, phát triển toàn diện về các lĩnh vực: Thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ, tình cảm xã hội Để đạt được mục tiêu phát triển toàn diện thì ta cần kết hợp hài hoà giữa chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục đó là điều tất yếu
Vệ sinh an toàn thực phẩm là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng Vì vậy, vệ sinh an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay, các loại thực phẩm sản xuất, chế biến trong nước và nước ngoài nhập vào Việt Nam ngày càng nhiều chủng loại Việc sử dụng các chất phụ gia trong sản xuất trở nên phổ biến Các loại phẩm màu, đường hóa học đang bị lạm dụng trong pha chế nước giải khác, sản xuất bánh kẹo, chế biến thức ăn sẵn như thịt quay, giò chả, ô mai … Nhiều loại thịt bán trên thị trường không qua kiểm duyệt thú y Tình hình sản xuất thức
ăn, đồ uống giả, không đảm bảo chất lượng và không theo đúng thành phần nguyên liệu cũng như quy trình công nghệ đã đăng ký với cơ quan quản lý Nhãn hàng và quảng cáo không đúng sự thật vẫn xảy ra
Đối với Ngành giáo dục nói chung, bậc học Mầm non là nơi tập trung đông trẻ, bản thân trẻ còn nhỏ, chưa nhận thức được đầy đủ về dinh dưỡng và vệ sinh, an toàn thực phẩm, nếu để xảy ra ngộ độc thực phẩm ở lứa tuổi này thì hậu quả sẽ khôn lường Vì vậy công tác chăm sóc nuôi dưỡng và đảm bảo vệ sinh an
Trang 2toàn thực phẩm cho trẻ tại nhà trường vô cùng quan trọng, là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ tại trường mầm non
Thực phẩm là nguồn mang lại các chất bổ dưỡng nuôi cơ thể mà không có phương thuốc nào thay thế được mà nay lại chứa cả những chất độc hại, làm cho mọi người lo âu, thực phẩm hàng ngày có an toàn hay không nhất là đối với trẻ nhỏ được gửi vào trường bán trú thì đa số phụ huynh thường lo lắng, không an tâm khi con trẻ vào trường được chăm sóc tập thể và nơi tập trung nhiều trẻ nhỏ Vì vậy làm thế nào để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, để tạo uy tín đối với phụ huynh để 100% phụ huynh an tâm gửi con đến trường ngày một đông hơn
Năm học 2018 – 2019 trường mầm non Minh thuận 1 tổ chức bán trú tại điểm chính và 3 điểm lẻ với tổng số trẻ là 199 trẻ Tuy nhiên đầu năm học trẻ suy dinh dưỡng và béo phì đạt tỷ lệ rất cao, đa số trẻ chưa có thói quen tự phục
vụ và giữ gìn vệ sinh cá nhân; Đa phần phụ huynh chưa được trang bị những kiến thức về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở độ tuổi mẫu giáo; Nhân viên nuôi dưỡng chưa được tập huấn về công tác nuôi dưỡng trẻ
Với vai trò chỉ đạo công tác chăm sóc nuôi dưỡng trong nhà trường, bản thân tôi thực sự băn khoăn, trăn trở làm thế nào để đảm bảo an toàn tuyết đối cho trẻ tại trường mầm non, đặc biệt là làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Vì thế, Tôi đã quyết định chọn đề tài này
Từ các vấn đề nêu trên cho thấy, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung và ở trường mầm non tổ chức bán trú nói riêng rất quan trọng và cấp bách Khi bắt đầu thực hiện đề tài này tôi gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
* Ưu điểm:
Nhà trường có tương đối các trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho việc tổ chức bán trú, có đầy đủ bảng biểu trong nhà bếp theo quy định
Có đầy đủ bộ lưu mẫu thức ăn cho trẻ Thực hiện nghiêm túc việc lưu mẫu thức ăn hàng ngày, xây dựng thực đơn phù hợp theo mùa, Thực hiện tốt khâu giao nhận thực phẩm, cập nhật sổ sách nuôi đầy đủ, rõ ràng, biết tận dụng thực phẩm sẵn có ở địa phương giàu chất dinh dưỡng để chế biến món ăn cho trẻ
Thực hiện ký kết hợp đồng thực phẩm: (gạo, trứng, thịt, cá, tôm, rau quả…) với các đơn vị có đủ giấy tờ hợp lệ, có uy tín Về mặt pháp lý các đơn vị
đó chịu trách nhiệm trước pháp luật khi có vấn đề vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm
* Hạn chế:
- Đội ngũcán bộ, giáo viên chưa được bồi dưỡng kiến thức về lý thuyết, thực hành dinh dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến
Trang 3- Công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng dụng cụ nhà bếp và vệ sinh môi trường, vệ sinh đối với cô nuôi, giáo viên tại lớp và vệ sinh cá nhân cho trẻ chưa được trú trọng
- Công tác chỉ đạo, giám sát, kiểm tra đối với công tác chăm sóc nuôi dưỡng và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm ở nhà bếp chưa thật sát xao
- Việc theo dõi biểu đồ tăng trưởng của trẻ, khám sức khoẻ, quản lý công tác tiêm chủng mở rộng và các dịch bệnh khác chưa được chặc chẽ
Công tác tuyên truyền đối với các ban ngành và phụ huynh, lồng ghép nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm vào các hoạt động trong ngày của trẻ chưa được thường xuyên, hiệu quả chưa cao
- Bếp ăn một chiều chưa được xây dựng,phải sử dụng bếp ăn tạm để phục
vụ công tác bán trú nên gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý
Từ những thuận lợi, khó khăn trên, trước thực trạng về chất lượng an toàn thực phẩm của nhà trường, tôi suy nghĩ tìm tòi và sử dụng một số biện pháp quản
lý chỉ đạo, nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non như sau:
3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
3.2.1 Mục đích của giải pháp:
Một số biện pháp chỉ đạo công tác chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻmẫu giáo trong trường Mầm non Minh Thận 1 năm học
2018 – 2019 nhằmđảm bảo 100% trẻ được chăm sóc sức khỏe và vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh phòng bệnh đầy đủ, không xảy ra dịch bệnh và tai nạn trong nhà trường; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong nhà trường; Hướng dẫn trẻ có thói quen biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, thân thể sạch sẽ Góp phần giúp trẻ được phát triển toàn diện từ thể chất lẫn tinh thần, làm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, béo phì trong nhà trường đến mức tối đa dưới 5%
3.2.2 Nội dung giải pháp:
- Tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ:
- Nhân viên cấp dưỡng và đội ngũ
giáo viên chưa được bồi dưỡng kiến
thức về lý thuyết, thực hành dinh
dưỡng Chưa có kinh nghiệm trong
việc thực hiện vệ sinh an toàn thực
phẩm, vệ sinh trong chế biến
- Công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ
dùng dụng cụ nhà bếp và vệ sinh môi
trường, vệ sinh đối với cô nuôi, giáo
viên tại lớp và vệ sinh cá nhân cho trẻ
chưa được thực hiện tốt, chưa được
- Nhân viên cấp dưỡng và đội ngũ giáo viên được bồi dưỡng kiến thức về lý thuyết, thực hành dinh dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến qua các buổi tập huấn và học tập kinh nghiệm tại các đơn vị trường tiên tiến trong và ngoài huyện
- Công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng dụng cụ nhà bếp và vệ sinh môi trường, vệ sinh đối với cô nuôi, giáo viên tại lớp và vệ sinh cá nhân cho trẻ được thực hiện một cách triệt để đảm
Trang 4trang bị đầy đủ bảo hộ lao động khi
thực hiện công tác bán trú như (tạp
dề, khẩu trang, …)
- Chưa có Phó Hiệu trưởng chỉ đạo
trực tiếp công tác bán trú trong nhà
trường nên kiểm tra, giám sát đôi lúc
chưa thường xuyên
- Việc theo dõi biểu đồ tăng trưởng,
khám sức khoẻ, quản lý công tác
tiêm chủng mở rộng và các dịch bệnh
khác chưa được quan tâm kịp thời
- Công tác tuyên truyền đối với các
ban ngành và phụ huynh chưa được
thường xuyên Chưa tổ chức được
chuyên đề “Nhà trường và cộng đồng
trong công tác giáo dục trẻ mẫu
giáo”
- Bếp ăn một chiều chưa được xây
dựng,phải sử dụng bếp ăn tạm để
phục vụ công tác bán trú nên đôi lúc
chưa đảm bảo dinh dưỡng cân đối
cho trẻ hàng ngày
bảo vệ sinh môi trường, đội ngũ nhân viên giáo viên cấp dưỡng được khám sức khỏe chuyên khoa định kỳ, được trang bị đầy đủ bảo hộ lao động khi thực hiện công tác bán trú như (tạp dề, khẩu trang, …)
- Công tác chỉ đạo, giám sát, kiểm tra đối với công tác chăm sóc nuôi dưỡng,
vệ sinh an toàn thực phẩm ở nhà bếp được thực hiện thường xuyên do có thêm một Phó Hiệu trưởng chỉ đạo trực tiếp công tác bán trú trong nhà trường
- Việc theo dõi biểu đồ tăng trưởng, khám sức khoẻ, quản lý công tác tiêm chủng mở rộng và các dịch bệnh khác được quan tâm hàng đầu, trẻ được cân đo 3 lần/ năm học, đối với những trẻ
bị suy dinh dưỡng và béo phì được cân
đo 1 lần/ tháng
- Công tác tuyên truyền đối với các ban ngành và phụ huynh được thường xuyên hơn qua các buổi họp phụ huynh, trao đổi giữa giáo viên với phụ huynh qua các buổi đón trả trẻ Nội dung VSATTP được lồng ghép vào các hoạt động trong ngày của trẻ Tổ chức chuyên đề “Nhà trường và cộng đồng trong công tác giáo dục trẻ mẫu giáo”
- Trang thiết bị, bếp ăn một chiều, cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng đảm bảo phục vụ công tác bán trú
- Phần mềm tính khẩu ăn của trẻ được thực hiện, đảm bảo cho trẻ được đủ lượng đủ chất hàng ngày
3.2.2.1 Tên các giải pháp
* Giải pháp 1: Bồi dưỡng kiến thức về lý thuyết, thực hành dinh dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến cho đội ngũ
* Giải pháp 2: Chú trọng công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng dụng cụ nhà bếp và vệ sinh môi trường, vệ sinh đối với cô nuôi, giáo viên tại lớp và vệ sinh cá nhân cho trẻ
* Giải pháp 3: Tăng cường công tác chỉ đạo, giám sát, kiểm tra đối với công tác chăm sóc nuôi dưỡng, chú trọng kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm ở nhà bếp
Trang 5* Giải pháp 4: Chỉ đạo theo dõi biểu đồ, khám sức khoẻ, quản lý công tác tiêm chủng mở rộng và các dịch bệnh khác
* Giải pháp 5: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối với các ban ngành và phụ huynh, lồng ghép nội dung VSATTP vào các hoạt động trong ngày của trẻ
* Giải pháp 6: Tham mưu mua sắm cơ sở vật chất
3.2.2.2 Triển khai các giải pháp
* Giải pháp 1: Bồi dưỡng kiến thức về lý thuyết, thực hành dinh
dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến cho đội ngũ.
- Hành động 1:Đầu năm học, nhà trường tổ chức tập huấn chuyên môn
cho cán bộ giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng về các nội dung theo tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý và giáo viên, nhân viên, các nội dung tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm do trung tâm y tế huyện phối hợp với Phòng giáo dục tổ chức, Một trong những nội dung quan trọng là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong việc tổ chức ăn cho trẻ tại trường mầm non, chú trọng vấn đề kiến thức thực hành dinh dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến và vệ sinh ăn uống cho trẻ
Ví dụ: Nội dung chọn thực phẩm tươi sạch thì cung cấp cho giáo viên,
nhân viên biết:
Nếu là thực phẩm sống: Chỉ lựa chọn những thực phẩm còn tươi mới, không bị dập nát, không có mùi, màu lạ
Nếu là thực phẩm chín: Không mua khi thấy bày bán gần nơi cống rãnh, bụi bẩn, bùn lầy, nước đọng, để lẫn lộn thực phẩm sống và chín, không có dao thớt dùng riêng, không có giá kê cao, không có dụng cụ che đậy, màu sắc loè loẹt không tự nhiên và không có đồ bao gói
Nếu là thực phẩm bao gói sẵn: Không mua khi không có nhãn hàng hoá,
có nhãn mác nhưng không ghi hạn dùng, không ghi rõ nơi sản xuất
Nếu là đồ hộp: Không mua khi hộp không có nhãn mác, không có hạn sử dụng, không ghi rõ cơ sở sản xuất, hộp phồng, méo, rạn, nứt, han rỉ
- Thực hiện vệ sinh phòng bệnh trong các nhóm lớp ở trường mầm non: + Vệ sinh môi trường: Vệ sinh không khí, giữ sạch nguồn nước, xử lý chất thải
+ Vệ sinh nhóm lớp: Phòng học, đồ dùng, đồ chơi, nhà bếp
+ Vệ sinh trẻ: thao tác rửa tay, lau mặt, đi tiểu tiện
Những nội dung trên tôi chỉ đạo tổ chức bằng nhiều hình thức khác nhau như giảng trực tiếp, nghiên cứu tài liệu, thảo luận, dự thực hành
+ Tổ chức bồi dưỡng kiến thức, cập nhập thông tin về vệ sinh an toàn thực phẩm thường xuyên cho giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng trong toàn trường
Trang 6Đặc biệt, là tập luyện bồi dưỡng và chỉ đạo thực hiện tốt các công tác nâng cao chất lượng giáo dục vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh nhóm lớp, cá nhân
và vệ sinh môi trường
+ Tạo điều kiện cho giáo viên tham gia học tập, tập huấn bồi dưỡng chuyên môn hè, các lớp bồi dưỡng chuyên đề Đối với giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng, những người trực tiếp tiếp xúc với trẻ hàng ngày, những người trực tiếp chế biến món ăn cho trẻ phải được tham gia tập huấn vệ sinh an toàn thực phẩm
và có giấy chứng nhận do trung tâm y tế huyện cấp;
- Hành động 2:Song song với việc tổ chức bồi dưỡng bằng lý thuyết Bản
thân tôi cũng đã chú trọng bồi dưỡng kỹ năng thực hành cho đội ngũ giáo viên như; Cách lựa chọn thực phẩm sạch, thực hành chế biến, tổ chức bữa ăn, thực hành vệ sinh cá nhân, sơ cứu khi trẻ gặp tai nạn, thương tích;
- Hành động 3:Xây dựng các tiết thao giảng có lồng ghép chủ đề vệ sinh
an toàn thực phẩm qua các môn học như tìm hiểu môi trường xung quanh, làm quen văn học-chữ viết, tạo hình, thể dục, hoạt động vui chơi giáo viên học tập rút kinh nghiệm để áp dụng trong quá trình chăm sóc trẻ;
- Hành động 4:Bên cạnh đó, Tôi đã tham mưu với hiệu trưởng phân công
những nhân viên làm nhiệm vụ nuôi dưỡng lâu năm, có nhiều kinh nghiệm trong chế biến món ăn cho trẻ hướng dẫn những nhân viên mới vào nghề, chưa có kinh nghiệm để thực hiện tốt công tác nuôi dưỡng trẻ trong nhà trường
Thông qua các hình thức bồi dưỡng đó mà mỗi một cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường nắm được những nội dung cần thiết trong công tác chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non và cộng đồng, góp phần giảm tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng, béo phì trong trường mầm non
Bảng so sánh kết quả sau khi áp dụng giải pháp:
Trước khi áp dụng SK (Tỷ lệ)
Sau khi áp dụng SK (Tỷ lệ)
1
Nhân viên cấp dưỡng và đội ngũ giáo
viên có kinh nghiệm trong việc thực
hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh
trong chế biến
2
Thành thạo thực hành chế biến, tổ chức
bữa ăn, thực hành vệ sinh cá nhân, sơ
cứu khi trẻ gặp tai nạn, thương tích
3 Biết lồng ghép chủ đề vệ sinh an toànthực phẩm qua các môn học 55% 90%
Trang 7=>Giải pháp 1 có tính mới, tính sáng tạo làbồi dưỡng cho nhân viên cấp dưỡng và giáo viên kiến thức, kinh nghiệm trong công tác VSATTP, kinh nghiêm trong việc chọn thực thẩm tươi ngon, thành thạo trong việc thực hành chế biến các món ăn và tổ chức cho trẻ ăn nhằm làm giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong nhà trường.
*Giải pháp 2: Chú trọng công tác vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng dụng
cụ nhà bếp và vệ sinh môi trường, vệ sinh đối với cô nuôi, giáo viên tại lớp
và vệ sinh cá nhân cho trẻ.
- Hành động 1: Vệ sinh khu vực bếp, đồ dùng, dụng cụ nhà bếp
+ Thực hiện nguyên tắc bếp một chiều nhằm tránh không để thực phẩm sống, chưa làm sạch và thức ăn chín, sạch chung một lối đi
+ Sắp xếp vị trí các khu vực sao cho thuận tiện, gọn gàng để tránh lúc nấu nướng phải đứng lên, ngồi xuống hoặc đi lại nhiều lần, đồng thời tránh được các loại côn trùng, chuột vào bếp Các khu vực hoạt động của bếp phải có biển đề rõ ràng: Nơi tiếp nhận thực phẩm, khu sơ chế thực phẩm, khu tinh chế, khu nấu chín, khu chế biến thực phẩm chín, khu chia ăn
+ Nhà bếp có bảng phân công dây chuyền nấu trong ngày: Người nấu chính, người nấu phụ, người tiếp phẩm, sơ chế thực phẩm, vệ sinh dụng cụ
+ Bếp ăn có bảng thực đơn theo tuần, bảng định lượng suất ăn hàng ngày
và công khai tài chính cụ thể rõ ràng
+ Chỉ đạo nhân viên nuôi dưỡng nghiêm túc khâu vệ sinh nhà bếp theo lịch hàng ngày, tuần và tháng
Ví dụ: Hàng ngày, khi nấu nướng xong phải dọn dẹp, sắp xếp đồ dùng,
dụng cụ vào đúng nơi quy định, vệ sinh quét dọn sạch sẽ, mở quạt thông gió, mở các cửa sổ để thông gió cho khô, thoáng nhà bếp trước khi đóng cửa ra về
+ Chén bát và nơi để thức ăn phải thoáng có lưới để ngăn không cho ruồi, nhặng, muỗi, chuột đậu hoặc xà vào thức ăn
+ Chạn bát hàng ngày phải được lau sạch, chỗ úp bát, thìa trẻ phải khô ráo, không úp trực tiếp xuống bàn hoặc xuống tủ Bát thìa của trẻ dùng bằng inox, không dùng loại nhựa tái sinh và phải được hấp tráng nước sôi trước khi ăn
Có đầy đủ dụng cụ chế biến thức ăn sống, chín riêng, dụng cụ dùng xong phải được rửa sạch phơi khô, trước khi dùng phải rửa lại
Ví dụ: Bát, dĩa, đũa, thìa… phải được rửa sạch giữ khô, ống đựng thìa đũa
phải thoáng khô sạch Các dụng cụ như soong, nồi phải được rửa sạch, sau đó phải treo cất đúng nơi quy định
+ Thức ăn nấu chín được chia vào các dụng cụ bằng inox, không dùng loại nhựa tái sinh, có nắp đậy hoặc phải có lòng bàn tránh ruồi nhặng bâu vào nhiễm bẩn, tuyệt đối không dùng vải để che đậy, phủ trực tiếp lên thức ăn
Trang 8+ Chậu rửa, giá kệ úp dụng cụ: rổ rá, thớt, xoong nồi phải được kê cao ráo, thông thoáng và thoát nước
+ Bàn chế biến và chia thức ăn được làm bằng inox và đá sạch để không thấm nước và dễ cọ rửa
- Hành động 2: Vệ sinh môi trường
+ Rác và thức ăn hàng ngày phải đổ vào đúng nơi quy định, rác ngày nào phải xử lý ngày đó không để đến hôm sau mới xử lý gây mất vệ sinh và thu hút chuột, dán tới Thùng rác có nắp đậy sạch sẽ, tuyệt đối không để rác rơi vãi ra xung quanh và nước thải rò rỉ ra ngoài, rác thải để xa nơi chế biến Cống rảnh khu vực sân rửa thực phẩm, nhà bếp luôn được thông thoáng, không ứ động
+ Bên cạnh vệ sinh môi trường luôn sạch sẽ, tôi đã chú trọng việc xây dựng môi trường xanh sạch đẹp, là một trong các tiêu chí hưởng ứng phong trào xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” Nhà trường đã phát động đến toàn thể cán bộ viên chức, các bậc cha mẹ học sinh và các cháu cùng nhau xây dựng môi trường sư phạm “Sáng-Xanh-Sạch- Đẹp” Đây là phong trào đã được cán bộ viên chức và toàn thể cha mẹ học sinh, các cháu học sinh đồng tình hưởng ứng, cho nên cảnh quan môi trường, lớp học luôn xanh mát Bảo vệ chăm sóc tạo cảnh quan môi trường, bỏ rác đúng nơi quy định trong sân trường, đồ chơi đẹp - sạch -an toàn và lành mạnh đó là những gì tất cả cán bộ giáo viên, cha
mẹ học sinh và học sinh đã hưởng ứng tốt phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
- Hành động 3: Vệ sinh đối với cô nuôi, nhân viên nhà bếp
+ Nhân viên nuôi dưỡng đã được học và có chứng chỉ bồi dưỡng những kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, qua đó nắm rõ trách nhiệm của mình là phải đảm bảo nuôi dưỡng trẻ khoẻ mạnh và an toàn
+ Chỉ đạo nhân viên dinh dưỡng thực hiện nghiêm túc khâu vệ sinh cá nhân trong quá trình chế biến ăn cho trẻ như: mặc quần áo đồng phục ở trường, mang tạp dề, đầu tóc gọn gàng, móng tay, móng chân cắt ngắn, sạch sẽ Rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi tay bẩn, sau khi đi
vệ sinh, qua mỗi công đoạn chế biến Có khăn lau tay riêng và được giặt phơi khô hàng ngày
+ Phải tuân thủ đúng quy trình sử dụng dụng cụ chế biến thức ăn theo một chiều, không tuỳ tiện sử dụng đồ dùng, dụng cụ đựng, chế biến thực phẩm sống, chín lẫn lộn Không được ho, khạc nhổ khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi nếm thức ăn còn thừa phải đổ đi
+ Khi chia ăn cho trẻ phải đeo khẩu trang và chia bằng dụng cụ, không dùng tay bốc, chia thức ăn Thực hiện nghiêm túc việc cân, đong chia thức ăn cho trẻ đảm bảo định lượng
+ Nhân viên nhà bếp 6 tháng phải khám sức khoẻ định kỳ, được bố trí nơi thay quần áo và vệ sinh riêng, không dùng chung với khu chế biến thức ăn cho trẻ
Trang 9- Hành động 4: Vệ sinh cá nhân đối với giáo viên và trẻ tại lớp
+ Chỉ đạo các giáo viên rửa tay bằng xà phòng trước khi chia ăn và cho trẻ ăn, sau khi đi vệ sinh Đầu tóc, quần áo gọn gàng, đeo khẩu trang khi chia thức ăn và cho trẻ ăn, có dụng cụ chia thức ăn riêng, không dùng tay bốc Chuẩn
bị đủ bàn ghế, khăn ướt lau tay, dĩa đựng thức ăn rơi vãi cho trẻ Định kỳ 6 tháng cũng khám sức khoẻ có xét nghiệm như nhân viên dinh dưỡng
+ Tăng cường kiểm tra các nhóm lớp thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt trong ngày phù hợp với từng độ tuổi, chú trọng công tác chăm sóc nuôi dưỡng và các thời điểm vệ sinh cho trẻ
Ví dụ: Trẻ phải được rửa tay trước khi ăn bằng xà phòng dưới vòi nước
chảy, rửa xong lau khô Dạy trẻ biết rửa tay sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn, nhắc nhở cha mẹ trẻ hàng tuần cắt móng tay, móng chân cho trẻ
+ Dạy trẻ có thói quen biết giữ vệ sinh ăn uống:
Ví dụ: Ăn chín, uống sôi, ăn chậm, nhai kỹ, ăn uống từ tốn, tránh rơi vãi,
khithức ăn rơi vãi nhặt bỏ vào nơi quy định Trẻ ăn xong biết đánh răng, súc miệng sạch sẽ, uống nước
Bảng so sánh kết quả sau khi áp dụng giải pháp:
Trước khi áp dụng SK (Tỷ lệ)
Sau khi áp dụng SK (Tỷ lệ)
1 Trẻ có thói quen biết giữ gìn vệ sinh cánhân. 35% 88%
2 Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, béo phì 12,8% 0,65%
3 Trẻ biết tự phục vụ cho bản thân, nề nếptrong việc ăn, ngủ đúng giờ 26% 92% 4
Nhân viên cấp dưỡng, giáo viên có trách
nhiệm, ý thức trong vệ sinh môi trường,
khu bếp,…
=>Giải pháp 2 có tính mới, tính sáng tạo lànâng cao ý thức cho nhân viên nuôi dưỡng, giáo viên có ý thức trong vệ sinh môi trường, vệ sinh khu bếp, thực hiện đúng theo quy trình bếp ăn một chiều; Rèn cho trẻ có thói quen biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, biết tự phục vụ cho bản thân, ăn ngủ đúng giờ.
*Giải pháp 3:Tăng cường công tác chỉ đạo, giám sát, kiểm tra đối với công tác chăm sóc nuôi dưỡng, chú trọng kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm ở nhà bếp.
- Hành động 1: Chọn nguồn thực phẩm sạch
+Để có nguồn thực phẩm sạch, tôi đã tham mưu với Hiệu trưởng ký hợp đồng với các cơ sở cung cấp thực phẩm sạch, có uy tín, chất lượng, có biên bản pháp lý được cấp trên cấp giấy phép đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để lấy
Trang 10thực phẩm cho trẻ Hợp đồng cung ứng thực phẩm sạch cần có những giao kèo chặt chẽ từ khâu vận chuyển thực phẩm đến khâu giao nhận thực phẩm tại bếp
ăn của nhà trường, cung ứng phải đảm bảo kịp thời, đủ định lượng và chất lượng;
Ví dụ: Thực phẩm phải tươi, ngon, sạch sẽ, không bị dập nát, khô héo
hoặc ôi thiu…, các dụng cụ đựng thực phẩm nên là các thùng hộp nhựa cứng, thưa, trơn, nhẵn để các thực phẩm khi vận chuyển không bị dập nát, khi rửa làm
vệ sinh thùng, hộp được dễ dàng, sạch sẽ
+ Nghiêm túc thực hiện việc ký kết hợp đồng với các nhà cung cấp thực phẩm
+ Bản hợp đồng thực phẩm có xác nhận của hiệu trưởng nhà trường, đại diện hội phụ huynh, nhân viên dinh dưỡng và nhà cung cấp thực phẩm
Phối hợp với Y tế phường tuyên truyền tác hại của việc sử dụng các loại hoá chất trong nuôi trồng sản xuất và bảo quản thực phẩm
- Hành động 2: Chỉ đạo công tác tiếp phẩm và giao nhận thực phẩm.
+ Chỉ đạo nhân viên nhà bếp tuyệt đối không nhận thực phẩm không rõ nguồn gốc, quá hạn sử dụng, không nhận thực phẩm chế biến sẵn, thực phẩm đông lạnh, thực phẩm không rõ nguồn gốc, nơi sản xuất, giấy phép đăng ký chất lượng…Đặc biệt, không nhận thực phẩm không đảm bảo chất lượng như rau không xanh tươi, cá thịt không tươi…
+ Nhân viên nhà bếp khi tiếp nhận thực phẩm phải ghi rõ ngày, giờ nhận thực phẩm, tên thực phẩm, ghi rõ số lượng, tình trạng thực phẩm, sổ kiểm thực 3 bước, Những thực phẩm bị dập nát có dấu hiệu không tươi, nghi ngờ hỏng, không đảm bảo chất lượng, không đúng với hợp đồng thì không được tiếp nhận
và chế biến dùng cho trẻ Các phẩm màu phụ gia thực phẩm không rõ nguồn gốc, không nằm trong danh mục cho phép của Bộ Y tế thì không được dùng trong trường mầm non
+ Khi giao nhận thực phẩm, ngoài nhân viên nhà bếp còn có đại diện của nhà trường, nhân viên y tế, kế toán, đại diện giáo viên trên lớp cùng kiểm tra thực phẩm
+Thực hiện nghiêm túc kiểm thực 3 bước (kiểm tra trước khi nhận thực phẩm, trước khi nấu và kiểm tra trước khi ăn)
+ Khâu bảo quản lưu giữ tại kho và tủ lạnh của bếp ăn nhà trường đảm bảo vệ sinh, không để thực phẩm quá hạn, ẩm mốc, kém chất lượng Các hộp đựng hoặc chai, lọ đựng gia vị, thực phẩm phải có nhãn tên, không cất giữ chung với các loại hoá chất diệt côn trùng, xà phòng, xăng dầu hoả với kho thực phẩm
- Hành động 3: Chỉ đạo chế biến và bảo quản thực phẩm.