1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lý CHẤT LƯỢNG GIÁO dục tại TRƯỜNG mầm NON

65 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 78,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG MẦM NON CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG MẦM NON CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG MẦM NON CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG MẦM NON

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT

LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG MẦM NON

Trang 2

Tổng quan các nghiên cứu về quản lý chất lượng giáo dục mầm non

Cùng với sự phát triển của khoa học quản lý GD, rấtnhiều nhà khoa học đã đầu tư công sức, trí tuệ để nghiêncứu và tổng kết những vấn đề lý luận liên quan đến quản lý

và nâng cao chất lượng GD Có thể kể tên một số nhà khoahọc tiêu biểu như: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Cảnh Toàn,Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Văn Lê, Hồ SĩThế Nhiều công trình nghiên cứu cũng nhấn mạnh: các nhàquản lý GD phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượngđiều hành và quản lý của mình để qua đó tác động một cáchhiệu quả vào quá trình cải tiến chất lượng ở các khâu, các bộphận của hệ thống GD

GDMN là bậc học nền tảng, là khâu đầu tiên đặt nềnmóng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ Trướcnhững thời cơ và thách thức mới đặt ra cho bậc học MNtrong giai đoạn hiện nay, đội ngũ CBQL trường mầm noncũng dành nhiều tâm huyết quan tâm, tìm hiểu nghiên cứu

về các biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng GD của nhàtrường tại nơi các CBQL công tác

Trang 3

Bên cạnh đó Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương

và chính sách nhấn mạnh vai trò quốc sách hàng đầu của GD;trong đó, đặc biệt quan tâm đến GDMN Rất nhiều các vănbản, chính sách của Nhà nước có liên quan đến sự phát triểnGDMN lần lượt ra đời làm cơ sở cho những bước vận động

và phát triển vững chắc trên cả ba phương diện quy mô, chấtlượng và công bằng xã hội cho GDMN Các văn kiện Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX đều nhấn mạnh nhiệm

vụ “Chăm lo phát triển giáo dục mầm non” Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” với mục tiêu Phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ

5 tuổi vào năm 2015, đến năm 2020 có ít nhất 30% trẻ emtrong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi Mẫu giáo đượcchăm sóc , giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻsuy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non giảmxuống dưới 10%

Từ sau Đại hội lần thứ XI của Đảng, vấn đề giáo dụctrong đó có giáo dục MN luôn được Đảng quan tâm Trên cácNghị quyết và Quyết định của các Đại hội Đảng, Hội nghịBan Chấp hành Trung ương Đảng thể hiện:

Trang 4

Tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triểngiáo dục và đào tạo, tiếp tục chú trọng, cải tiến nâng caoCLGD toàn diện, xây dựng nền giáo dục theo hướng chuẩnhóa, hiện đại hóa, XHH.

Chuẩn hóa từ chương trình, nội dung giảng dạy, sáchgiáo khoa, và qui trình kiểm tra, đánh giá chất lượngGD&ĐT, đến chuẩn hóa tiêu chí đánh giá sản phẩm cuối cùngcủa giáo dục là con người; chuẩn hóa đội ngũ GV đạt chuẩnđào tạo theo các tiêu chuẩn phẩm chất và năng lực nghềnghiệp; chuẩn hóa về CSVC, trường lớp, các trang thiết bị dạyhọc cho tất cả các cấp bậc học

XHHGD: coi sự nghiệp giáo dục và đào tạo không chỉ lànhiện vụ của ngành giáo dục mà còn là nhiệm vụ của toàn

XH, động viên sự tham gia của XH vào làm công tác giáodục, xây dựng CSVC, môi trường giáo dục đẩy mạnh đadạng hóa các loại hình, tạo sự bình đẳng trong tiếp cận, thamgia vào quá trình GD Thực hiện đối xử công bằng với tất cảngười học, duy trì chính sách hỗ trợ cho các khu vực khókhăn, đối tượng chính sách XH có điều kiện đặc biệt, tăngcường cơ hội học tập cho trẻ em

Trang 5

Các quan điểm của Đảng được thể hiện trong một số vănbản của Nhà nước:

Luật Giáo dục (2005) ở các Điều 21, 22, 23, 24, 25 cụthể hóa mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình và các

cơ sở giáo dục mầm non [2]

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004) đã nêutrẻ em có quyền được chăm sóc ở các điều 5, 12, 17, 18, 28[31]

Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩymạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục,thể thao đề ra những yêu cầu cụ thể nhằm phát huy nội lựccủa toàn XH đi đôi với việc sử dụng hiệu quả ngân sách nhànước dành cho GD, tạo điều kiện cho GDMN ngày càng đápứng tốt hơn các yêu cầu về quy mô, chất lượng và công bằngtrong phát triển [10]

Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm

2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triểnGDMN giai đoạn 2006-2015 nêu rõ: “Nhà nước có tráchnhiệm quản lý, tăng cường đầu tư cho GDMN; hỗ trợ CSVC,đào tạo đội ngũ nhà giáo; đồng thời đẩy mạnh XHH, tạo điều

Trang 6

kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để mọi tổ chức, cá nhân

và toàn xã hội tham gia phát triển GDMN Nhà nước ưu tiênđầu tư cho các vùng có điều kiện kinh tế XH khó khăn; từngbước thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp GDMN, gắnvới đổi mới giáo dục phổ thông chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1,góp phần tích cực, thiết thực nâng cao CLGD” [11]

Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển GDMNgiai đoạn 2011-2020 nêu rõ” Tập trung vào Quản lý chấtlượng giáo dục, chuẩn hóa đầu ra và các điều kiện đảm bảochất lượng trên cơ sở ứng dụng các thành tựu mới về Khoahọc giáo dục, khoa học công nghệ và khoa học quản lý Đẩymạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông nhằm nângcao hiệu quả quản lý giáo dục ở các cấp.”

Năm 1994 trường CĐSP nhà trẻ- mẫu giáo Trung ương

số 1 cho ấn phẩm tài liệu “Quản lý giáo dục mầm non” đã đềcập khá nhiều về nguyên tắc, phương pháp, cơ cấu, chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn, năng lực, phẩm chất nhân cáchkhi tham gia vào công tác quản lý trong các cơ sở GDMN[18]

Trang 7

Riêng về quản lý CLGDMN có các văn bản, tài liệu,công trình nghiên cứu như sau:

Lê Thu Hương ở Trung tâm nghiên cứu chiến lược và

phát triển chương trình giáo dục mầm non về “Những điểm mới của chương trình giáo dục mầm non” Năm 2006 có báo cáo tổng kết đề tài “Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục mầm non” của Trần Lan Hương chủ nhiệm đề

tài [22],[25]

Năm 2004 có báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc nâng cao chất lượng chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ 3-6 tuổi trong trường mầm non” của Lê Thu

Hương Tháng 7/2005 tại hội thảo đánh giá chất lượng giáodục lý luận và thực tiễn, Nguyễn Văn Lê, giảng viên trườngCao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung ương 1 báo cáo đề tài

“Một số vấn đề về chất lượng giáo dục mầm non” [21],[27].

Một số luận văn thạc sĩ khoa học QLGD đã nghiên cứu

về QLCLGD tại các cơ sở GDMN tiêu biểu như: “Biện pháp quản lý giáo dục mầm non tư thục ở Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ” (tác giả Nguyễn Thị Hoài An- 1998), “Giải pháp thực hiện xã hội hóa công tác giáo

Trang 8

dục của ngành học mầm non trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng”(tác giả Võ Ngọc Hoa- Phó Chủ tịch

UBND quận Thanh Khê- 2004), năm 2006 có luận văn thạc sĩ

của tác giả Nguyễn Thị Châu với đề tài “Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường mầm non huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng” Dưới góc độ, phạm vi

thực tiễn nhất định, mỗi công trình nghiên cứu vừa kể trênđều bàn về CLGD đề xuất các biện pháp QLGDMN [23],[24]

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi đề xuất tiến

hành nghiên cứu “Quản lý chất lượng giáo dục trẻ của trường Mầm non Ánh Sao đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay” đề tài sẽ đưa ra thực trạng QLCLGD tại trường

Mầm non Ánh Sao, Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội và đề xuấtcác biện pháp QLCLGD có tính cấp thiết, tính khả thi phùhợp với đặc điểm tình hình của địa phương trong công tácQLCLGD phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của XH hiệnnay

Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

Quản lý

Trang 9

QL là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trùtồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọichế độ XH, của mọi quốc gia trong mọi thời đại, trong quátrình hình thành và phát triển của lý luận QL, khái niệm QL

đã được các nhà nghiên cứu đưa ra theo nhiều cách khácnhau, tùy theo những tiếp cận khác nhau:

Theo từ điển Tiếng Việt, “QL là hoạt động hay tác động

có định hướng có chủ đích của chủ thể QL (người quản lý)đến khách thể QL (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằmlàm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”

“QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vậndụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉđạo (lãnh đạo) và kiểm tra” “QL là dựa vào các quy luậtkhách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thốngnhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [32]

Trần Kiểm quan niệm: “QL là những tác động của chủthể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điềuchỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực)trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưunhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [26]

Trang 10

Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc địnhnghĩa: “Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đíchcủa chủ thể QL (người quản lý) đến khách thể QL (người bịquản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành

và đạt được mục đích của tổ chức” [17]

Có thể nói ngắn gọn rằng, QL là một khái niệm chứatrong mình các thành tố: Chủ thể QL, khách thể QL và mụctiêu QL phụ thuộc vào công cụ QL và phương pháp QL Songchúng ta nhận diện các dạng QL thông qua nội hàm của cácthành tố chủ thể QL, khách thể QL và mục tiêu QL mà quátrình QL hướng tới Vì vậy, QL vừa là khoa học vừa là nghệthuật Nó mang tính khoa học vì các hoạt động QL có tổ chức,

có định hướng đều dựa trên những quy luật, những nguyên tắc

và phương pháp hoạt động cụ thể, đồng thời mang tính nghệthuật vì nó cần được vận dụng một cách sáng tạo vào nhữngđiều kiện cụ thể, đối tượng cụ thể, trong sự kết hợp và tácđộng nhiều mặt của của các yếu tố khác nhau của đời sống

XH

Như vậy QL là quá trình tác động có tổ chức, có địnhhướng của chủ thể QL lên khách thể QL bằng việc vận dụng

Trang 11

các chức năng QL, để sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng

và cơ hội của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Về chức năng QL có nhiều cách phân chia khác nhau, doquan điểm của từng tác giả nhưng nhìn chung các nhà nghiêncứu khoa học QL đều cơ bản thống nhất chung 4 chức năngcủa QL đó là: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

Kế hoạch hóa: Nhà QL phải xây dựng kế hoạch cụ thể,

có các biện pháp tổ chức hoạt động tại các cơ sở GD như cácđiều kiện về nguồn lực CSVC, đội ngũ GV, nguồn kinh phí vàcác điều kiện về nhân sự, yếu tố khách quan, chủ quan…

Tổ chức bộ máy: Trong công tác QL, tổ chức là quátrình hình thành cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, các bộphận trong một tổ chức để họ thực hiện thành công kế hoạch

và mục tiêu chung của tổ chức xây dựng và ban hành quyđịnh hoạt động của bộ máy QL để đảm bảo về số lượng, cótrình độ chuyên môn nghiệp vụ, tăng cường vai trò tráchnhiệm, mối quan hệ giữa các đơn vị tham gia QL Đồng thời

có cơ chế linh hoạt, phù hợp để phát huy hiệu quả các nguồnlực (nhân sự, CSVC, tài chính…)

Trang 12

Chỉ đạo các hoạt động trong môi trường nhà trường: Làhoạt động thường xuyên mang tính kế thừa và phát triển Nóxuyên suốt trong quá trình QL, chỉ đạo công tác QL gồm việcdẫn dắt, điều hành, tập hợp, tác động đến cá nhân, nhằmkhuyến khích tạo mọi điều kiện để các thành viên đạt đến mụctiêu QL.

Kiểm tra là một chức năng quan trọng của người QLnhằm thu thập thông tin về việc thực hiện các quyết định củanhà QL, từ đó nhà QL biết được việc đang thực hiện khó khănchỗ nào, thiếu phương tiện và điều kiện gì để hỗ trợ hoặc điềuchỉnh cách chỉ đạo kịp thời, giúp đạt hiệu quả cao trong QL

Tóm lại công tác QL thể hiện qua các chức năng QL, cácchức năng này xuyên suốt trong tất cả các khâu của quá trình

QL Để thành công trong quá trình QL, nhà QL phải thực hiệnđồng bộ, hiệu quả các chức năng QL này

Quản lý giáo dục

Cũng như QL, QLGD cũng có nhiều định nghĩa khácnhau Từ điển giáo dục học: Theo nghĩa rộng QLGD là thựchiện việc QL trong lĩnh vực GD Ngày nay, lĩnh vực giáo dụcđược mở rộng từ giáo dục thế hệ trẻ sang người lớn và toàn

Trang 13

XH nhưng GD thế hệ trẻ vẫn là một bộ phận nòng cốt của lĩnhvực GD cho toàn xã hội; Theo nghĩa hẹp thì QLGD chủ yếu làQLGD thế hệ trẻ, GD nhà trường, GD trong hệ thống GDquốc dân.

Trong quá trình nghiên cứu về QLGD, có một số kháiniệm sau:

Theo Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát làhoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng XH nhằm đẩymạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển củaXH” [8]

Theo tác giả Trần Kiểm: QLGD được hiểu là những tácđộng tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệthống, hợp qui luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắt xíchcủa hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhàtrường) nhằm thực hiện có CL và hiệu quả mục tiêu phát triểnGD&ĐT thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD

QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đíchcủa chủ thể QL lên hệ thống GD nhằm tạo ra tính trồi(emergence) của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềmnăng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu

Trang 14

một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môitrường bên ngoài luôn luôn biến động [26].

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: QLGD là hệ thốngnhững tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủthể QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối vànguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhàtrường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quátrình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ GD tới mục tiêu dựkiến, tiến lên trạng thái mới về chất [32]

Có thể hiểu QLGD là QL quá trình giáo dục và đào tạo.Tùy theo các cấp độ mà sự QLGD sẽ khác nhau Có đơn vịchuyên QL các cơ sở giáo dục như Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT,Phòng GD&ĐT, có đơn vị chuyên QL quá trình dạy học vàcác điều kiện có liên quan như trường học

Tóm lại, QLGD có thể hiểu một cách đơn giản là sự QL

hệ thống giáo dục và đào tạo bao gồm một hay nhiều cơ sởgiáo dục, trong đó nhóm, lớp là đơn vị cơ sở, ở đó diễn ra cáchoạt động QLGD cơ bản nhất Trong QLGD, chủ thể chính là

bộ máy QL các cấp; đối tượng QL chính là nguồn nhân lực,

Trang 15

cơ sở vật chất - kỹ thuật và các hoạt động thực hiện chức năngcủa GD&ĐT.

Muốn QLGD được tốt thì người QL phải năng động,linh hoạt, tuân theo các qui luật khách quan đang chi phối sựvận hành của đối tượng QL, có như vậy thì hiệu quả QL mớiđạt được yêu cầu mong muốn

Quản lý nhà trường

QL nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kếhoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhà trường làm cho nhàtrường vận hành theo đường lối, quan điểm GD của Đảng,thực hiện được mục tiêu kế hoạch đào tạo của nhà trường, gópphần thực hiện mục tiêu chung của GD: nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

QL nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủthể QL (Hiệu trưởng) đến tập thể cán bộ, giáo viên nhằm thựchiện có chất lượng mục tiêu, kế hoạch GD của nhà trường trên

cơ sở tận dụng các tiềm lực vật chất và tinh thần của nhàtrường, gia đình và XH Đây cũng là quá trình tác động cómục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể cán bộ và

Trang 16

giáo viên để chính họ tác động trực tiếp đến quá trình CSGDtrẻ em nhằm thực hiện mục tiêu GD đối với từng độ tuổi vàmục tiêu chung của ngành học[18].

Từ khái niệm nêu trên cho thấy thực chất của công tác

QL nhà trường là QL quá trình CSGD trẻ, đảm bảo cho quátrình đó vận hành thuận lợi và có hiệu quả

Quá trình CSGD trẻ bao gồm các nhân tố tạo thành sau:

Mục tiêu nhiệm vụ CSGD trẻ

Nội dung CSGD trẻ

Phương pháp, phương tiện chăm sóc giáo dục trẻ

Giáo viên (lực lượng giáo dục)

Trẻ em từ 03 tháng đến 72 tháng tuổi

Kết quả CSGD trẻ

Các nhân tố của quá trình CSGD trẻ có quan hệ tương

hỗ, trong đó mục tiêu nhiệm vụ giáo dục giữ vai trò địnhhướng cho sự vận động phát triển của toàn bộ quá trình vàcho từng nhân tố

Trang 17

Chất lượng, chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục

Chất lượng

CL là một khái niệm khó, ở mỗi ngành, mỗi lĩnh vực cócác quan điểm tiếp cận khác nhau về CL, có thể nêu ra một sốcách tiếp cận khác nhau sau:

Theo tự điển Oxford Pocket Dictionary: Chất lượng làmức hoàn thiện, đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối,dấu hiệu đặc thù, các dữ liệu, các thông số cơ bản của một sựvật, sự việc nào đó

Theo từ điển Tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng năm 2002): Chấtlượng là cái tạo ra sản phẩm, giá trị của một con người, sựvật, hiện tượng [29]

Như vậy, chất lượng là tổng thể những tính chất, nhữngthuộc tính cơ bản của sự vật (con người, hiện tượng); cái làmcho sự vật này phân biệt với sự vật khác

Chất lượng giáo dục

CLGD là vấn đề trọng tâm của toàn ngành GD CLGD

có khá nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau

Trang 18

Theo GS.TS Nguyễn Đức Chính quan niệm CLGD làmột khái niệm động, nhiều chiều, ít nhất bao gồm 3 khíacạnh: mục tiêu, quá trình hoạt động nhằm đạt mục tiêu vàthành quả đạt được so với mục tiêu.

Trong bài viết “Quá trình sư phạm và chất lượng giáodục” của GS Hà Thế Ngữ, theo tác giả CLGD là CL của nhâncách được đào tạo và cũng chính là CL của quá trình đào tạonhân cách

Sau hội thảo chất lượng giáo dục kỹ năng sống tổ chứcvào tháng 9/2003 tại Hà Nội, CLGD được quan niệm theo 02cách rộng hẹp khác nhau: CLGD được quy về mục tiêu haykết quả giáo dục; hoặc CLGD được tính ở tất cả những yếu tốcấu thành GD Cách tiếp cận cụ thể hay từng phần dẫn đến sựnhấn mạnh vào những khâu hay bộ phận của giáo dục

Khung tổng quát của khái niệm chất lượng xét vềphương diện chức năng được mô tả bao gồm: chất lượng đầuvào, chất lượng thực hiện, chất lượng đầu ra- kết quả Khungcấu trúc hay thành tố chất lượng giáo dục được mô tả gồm có:chất lượng các nguồn lực, chất lượng các hoạt động, quá trình,chất lượng sản phẩm

Trang 19

Điều đó có ý nghĩa đánh dấu một bước nhận thức mớitrong cách hiểu về chất lượng là: Chất lượng giáo dục phảibao hàm cả kỹ năng sống Điều đó có nghĩa là hệ thống giáodục phải đảm bảo giáo dục kỹ năng sống cho người học, đồngthời đánh giá chất lượng giáo dục phải tính đến tiêu chí đánhgiá về kỹ năng sống.

Bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XI: học để biết, học đểlàm, học để tự khẳng định mình, học để chung sống với mọingười chính là một cách tiếp cận kỹ năng sống trong giáo dục

Chất lượng giáo dục của cơ sở giáo dục

Trong chương trình hành động Dakar (2000) củaUNESCO, chất lượng của một cơ sở giáo dục được hiểu qua

Phương pháp và kỹ thuật dạy học - học tập tích cực

Chương trình thích hợp với người dạy và người học

Trang 20

Trang thiết bị, phương tiện và đồ dùng học tập, giảngdạy, học liệu và công nghệ giáo dục thích hợp, dễ tiếp cận vàthân thiện với người sử dụng.

Môi trường học tập đảm bảo vệ sinh, an toàn, lànhmạnh

Hệ thống đánh giá thích hợp với môi trường, quá trình giáodục và kết quả GD

Hệ thống QLGD có tính cùng tham gia và dân chủ

Tôn trọng và thu hút được cộng đồng cũng như nền vănhóa địa phương trong hoạt động GD

Các thiết chế, chương trình GD có nguồn lực thích hợp,thỏa đáng và bình đẳng (chính sách và đầu tư) 10 thành tốnày đôi khi được xem như những tiêu chí tối thiểu hay nhữngthước đo cơ bản của một nền GD có CL Đó cũng chính làmong muốn của các quốc gia trong quá trình phát triển

Quản lý chất lượng giáo dục

Quản lý chất lượng

Trang 21

Có rất nhiều quan điểm về QLCL, sau đây là một sốquan điểm cơ bản Theo quan điểm của các nhà khoa họcNhật Bản, cho rằng,

+ “Quản lý chất luợng có nghĩa là nghiên cứu triển khai,thiết kế, sản xuất và bảo dưỡng một sản phẩm có chất lượng,kinh tế nhất, có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờ cũngthoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng”

+ “Quản lý chất lượng là tập hợp những hoạt động củachức năng quản lý chung, xác định chính sách chất lượng,mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biệnpháp như: lập kế hoạch chất lượng, điều khiển và kiểm soátchất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trongkhuôn khổ hệ chất lượng”

+ “Bản chất của quản lý chất lượng là sử dụng các quytrình, cơ chế bên trong trường đại học để duy trì chất lượng,hướng vào phòng ngừa các dịch vụ chất lượng thấp”và “Quản

lý chất lượng cũng tiến hoá cùng quá trình quản lý từ giaiđoạn mà trọng tâm là kiểm soát chất lượng sang bảo đảm chấtlượng và quản lý chất lượng tổng thể”

Trang 22

+ QLCL được xem xét theo các tiêu chí sau: QLCL baogồm các hệ thóng biện pháp, phương pháp nhằm đảm bảochất lượng sản phẩm, thoả mãn nhu cầu thị trường với hiệuquả kinh tế cao nhất; QLCL được tiến hành ở tất cả quá trìnhhình thành chất lượng sản phẩm; QLCL là trách nhiệm của tất

cả các cấp từ cán bộ lãnh đạo tới mọi thành viên trong tổchức

Quá trình phát triển khoa học QLCL đã đề cập đến cácphương pháp cơ

bản là: kiểm tra chất lượng (quality inspection); kiểmsoát chất lượng (quality control); bảo đảm chất lượng (qualityassurance); quản lý chất lượng tổng thể ( total qualitymanagement) Trong đó, quản lý chất lượng tổng thể được coi

là một bước phát triển mới nhất của khoa học quản lý chấtlượng

Trong giáo dục, người ta ngày càng chú trọng đến chấtlượng gắn liền với lợi ích của người học Không chất lượng,kém chất lượng đồng nghĩa với sự thất bại, sự lãng phí trong

GD Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sựtác động hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau,

Trang 23

Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải QL một cáchđúng đắn các yếu tố của quá trình GD [20]

Như vậy, QLCL được hiểu là đối tượng và cũng là mụcđích của quá trình quản lý Tức là trong quá trình quản lýngười quản lý xem chất lượng với các thành tố của tất cả làđối tượng để tác động và qua đó đạt dược mục tiêu của cáctiêu chí cũng như nâng cao chất lượng của quá trình giáo dục

Quản lý chất lượng giáo dục

QLCLGD luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu và làtrung tâm của sự nghiệp GD QLCLGD là cải thiện CLGDgắn liền, tạo thuận lợi cho nhiệm vụ và hiệu quả phát triểncon người, phát triển cá nhân, phát triển cộng đồng, phát triểnnguồn nhân lực của XH

Việc QLCLGD đòi hỏi các nhà QL phải thực hiện đồng

bộ ở tất cả các thành tố các hoạt động và các quá trình trongQLCLGD Trước những đòi hỏi ngày càng cao về chất lượnggiáo dục của một cơ sở giáo dục điều cần chú trọng đầu tiên lànâng cao nhận thức trong toàn ngành về ý nghĩa, tính cấp thiếtcủa việc nâng cao CLGD trong các nhà trường mầm non, tạonên sự mong muốn và những nỗ lực chấp nhận thực hiện sự

Trang 24

đổi mới trong các hoạt động GD của các cơ sở giáo dục Hìnhthành nền nếp, thói quen xây dựng chiến lược và kế hoạch CLcho mỗi cơ sở GD, phương pháp QLCL bên trong các cơ sởgiáo dục và các thành tố bên ngoài của QLCLGD.

Quản lý chất lượng trẻ mầm non theo hướng Quản lý chất lượng tổng thể TQM

QLCLTT được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý nghiêncứu hướng tới việc vận dụng vào việc nâng cao hiệu quả trongcông tác quản lý Tuy tất cả các nhà nghiên cứu đều dựa vàoviệc cách tiếp cận hệ thống, nhưng mỗi người lại có một địnhnghĩa riêng về khái niệm này

Thuật ngữ “quản lý chất lượng tổng thể” đã được tiến sỹA.V Feygenbaun đưa ra từ những năm 50 của thế kỷ trướckhi ông đang làm việc tại hãng General Electric với tên gọi tắttheo tiếng Anh là TQM (Total quality Management) TheoArmander V Feygenbaum, “TQM là hệ thống có hiệu quả,thống nhất hoạt động của những bộ phận khác nhau của một

tổ chức, chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng,duy trì mức chất lượng đã đạt được và nâng cao nó để đảmbảo sản xuất và sử dụng sản phẩm ở mức 17 kinh tế nhất”

Trang 25

TQM đòi hỏi sự tham gia của tất cả các bộ phận, bao gồm bộphận sản xuất, các phòng tiêu thụ, thiết kế, kiểm tra kỹ thuật

và giao sảnphẩm

Nhóm các nhà khoa học Nhật Bản khẳng định:

+ TQM có thể hiểu một cách đơn giản là sự kết hợp cảcủa ba tư tưởng chính: chất lượng được xác định dựa trên nhucầu khách hàng và phục vụ khách hàng; cải thiện các hoạtđộng của tổ chức; hoàn thiện hệ thống quản lý

+ TQM là một dụng pháp quản trị đưa đến thành công,tạo thuận lợi cho tăng trưởng bền vững của một tổ chức thôngqua việc huy động tất cả tâm trí của tất cả các thành viênnhằm tạo ra chất lượng một cách kinh tế theo yêu cầu củakhách hàng

“Quản lý tổng thể chất lượng là hoạt động tập thể, khôngthể thực hiện được bởi từng con người riêng lẻ Nó đòi hỏinhững nỗ lực chung Quản lý tổng hợp chất lượng sẽ có hiệuquả trong trường hợp nếu tất cả cán bộ của hãng từ chủ tịchđến công nhân sản xuất và nhân viên phòng tiêu thụ đềuthamgia vào đó” Nghiên cứu quá trình quản lý tổng hợp chấtlượng, các nhà khoa học Nhật bản xác định đó là “sự quản lý

Trang 26

dựa trên tinh thần nhân văn cho phép phát hiện toàn diện khảnăng của con người, phát triển tình thần sáng tạo và đổi mới”.

Các nhà khoa học Việt Nam xác định:

+ “Quản lý chất lượng tổng thể là việc tạo ra nền vănhoá chất lượng nơi mà mục đích của mọi thành tổ chức làmhài lòng khách hàng và nơi mà cấu trúc của tổ chức khôngcho phép họ cung cấp dịch vụ chất lượng thấp Theo ông,trong giáo dục, QLCLTT là sự tiếp tục của sự bảo đảm chấtlượng theo chiều sâu, là sự mở rộng phạm vi quản lý chấtlượng cho tất cả những người thừa hành và QLCLTT khác vớikiểm soát chất lượng là nó tập trung trọng tâm và xây dựngquy trình, cơ chế trong quá trình đào tạo và chuyển tráchnhiệm chính về chất lượng từ người quản lý bên trên và bênngoài sang giáo viên, cán bộ quản lý cấp thấp hơn

+ Trong các mô hình quản lý chất lượng giáo dục thì môhình QLCLTT là phù hợp hơn cả Mô hình này cho phépnghiên cứu đề ra các mục tiêu chiến lược giáo dục trong từngthời kỳ trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế xã hội của đấtnước và các chính sách lớn của Chính phủ đối với giáo dục Từ

đó, tuỳ thuộc vào nguồn lực hiện có, các nhà quản lý giáo dục

Trang 27

nói chung và quản lý chất lượng nói riêng có thể chủ động tácđộng tới những khâu, những lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởngtrực tiếp đến chất lượng và việc nâng cao chất lượng giáo dụctheo kế hoạch đã đề ra.

QLCLTT bao hàm ý nghĩa là mọi người trong cơ sở đàotạo, dù ở cương vị, chức vụ nào, làm nhiệm vụ gì cũng làngười quản lý nhiệm vụ của mình trong một quá trình cải tiếnliên tục với từng dự án nhỏ kế thừa, tích luỹ nhau với mụcđích tối cao là thoả mãn các nhu cầu của khách hàng với châtlượng cao nhất

“Triết lý quan trọng nhất của quản lý chất lượng tổng thể

là cải tiếnkhông ngừng, và có thể đạt được do quần chúng vàthông qua quần chúng”

Bốn yếu tố nền tảng của QLCLTT đó là: con người, sự

cải tiến thường xuyên, quá trình và khách hàng.

Đặc điểm của việc quản lý chất lượng toàn diện là: 1.Thực hiện quản lí toàn bộ quá trình; 2 Quản lí mọi người,mọi việc; 3 Nâng cao toàn diện việc quản lý chất lượng côngtác; 4 Quản lý có tính tổng hợp

Trang 28

“Quản lý chất lượng tổng thể đòi hỏi sự thay đổi của vănhoá tổ chức, đặc biệt là thái độ, tác phong và cách làm việccủa cán bộ quản lý và nhân viên Để đội ngũ làm việc tự giác,tích cực có hiêu quả và sản phẩm có chất lượng, đòi hỏi: tạomôi trường, cơ chế và điều kiện làm việc phù hợp cho đội ngũthay vì kiểm soát họ”

Những yếu tố đặc trưng quan trọng của QLCLTT là:Liên tục cải tiến và thay đổi văn hoá tổ chức Thay đổi vănhoá được hiểu là những thay đổi về tác phong, phương pháplàm việc của người lao động và thay đổi cách quản lý họ.Điều này đòi hỏi phải có: môi trường làm việc phù hợp;khuyến khích thành công của mỗi người; phong cách lãnhđạo, đề cao trách nhiệm cho từng người, thực chất là “xácđịnh phong cách làm việc của nhà trường” “Dạy, học, quản lýứng xử” có hiệu quả Trong giáo dục, QLCLTT đòi hỏi ngườiquản lý nhà trường phải hướng vào sự thường xuyên tăngcường khả năng toàn bộ hệ thống các yếu tố tác động đến quátrình giáo dục, trên cơ sở xây dựng nền văn hoá chất lượngcao và sự hợp tác của các thành viên của tổ chức Như vậy,QLCLTT là sự quản lý toàn bộ các tiến trình thực hiện từngcông việc của từng CBGV, nhân viên của một nhà trường,

Trang 29

nhằm ngăn ngừa rủi ro, giảm lỗi trong toàn bộ quá trình đàotạo Giảm lỗi trong quá trình đào tạo cũng chính là góp phần

“không cho phép tạo ra sản phẩm kém, phế phẩm” trong giáodục Điều quan trọng của hệ thống QLCLTT là sự thu hút tất

cả mọi người lao động vào quá trình QLCL và thực hiện quản

lý theo chức năng Đó là: kế hoạch hoá; tổ chức phân công;chỉ đạo thực hiện; kiểm tra đánh giá và điều chỉnh

Theo chúng tôi, để thức hiện theo quan điểm QLCLTT ởcác cơ sở giáo dục, các nhà quản lý phải tạo dựng một hệthống tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động mà trong đó mọithành viên có trách nhiệm tham gia quản lý và phối hợp nhịpnhàng để các thành tố của quá trình giáo dục được vận hànhđồng bộ, hiệu quả

Trường mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân

Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường mầm non

Vị trí trường MN

Trường MN là đơn vị cơ sở của GDMN trong hệ thốnggiáo dục quốc dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam do ngành giáo dục quản lý Trường MN đảm nhận việc

Trang 30

nuôi dưỡng CSGD trẻ em nhằm giúp trẻ em hình thành nhữngyếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị những tiền đề cầnthiết cho trẻ vào trường phổ thông sau này.

Trường MN có tư cách và con dấu riêng Tính chất củatrường mầm non: Chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục nhằmhình thành nhân cách trẻ em một cách toàn diện CSGD trẻ

em mang tính chất GD gia đình giữa cô và trẻ là quan hệ tìnhcảm mẹ - con, trẻ học thông qua “Học bằng chơi - Chơi màhọc” Nhà trẻ, trường mẫu giáo mang tính tự nguyện, Nhànước và nhân dân cùng chăm lo [1]

Nhiệm vụ và quyền hạn của trường MN

Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, CSGD trẻ em từ batháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình GDMN do Bộtrưởng Bộ GD&ĐT ban hành

Huy động trẻ em lứa tuổi MN đến trường; Tổ chức giáodục hoà nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ emkhuyết tật

Quản lý CB-GV-NV để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng,CSGD trẻ em Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo

Trang 31

quy định của pháp luật Xây dựng CSVC theo yêu cầu chuẩnhoá, hiện đại hoá hoặc theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặcbiệt khó khăn.

Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thựchiện hoạt động nuôi dưỡng, CSGD trẻ em

Tổ chức cho CB-GV-NV và trẻ em tham gia các hoạtđộng XH trong cộng đồng Thực hiện kiểm định chất lượngnuôi dưỡng, CSGD trẻ em theo quy định

Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quyđịnh của pháp luật [1]

Chức năng, nhiệm vụ của hiệu trưởng trường mầm non

Quản lý trường mầm non chính là những hoạt động củangười cán bộ quản lý sử dụng để tác động tới mọi nguồn lực,mọi lĩnh vực trong nhà trường để đạt được những mục tiêutrường mầm non cần đạt được

Hiệu trưởng là người đứng đầu đơn vị cơ sở của ngànhGDMN, là người chịu trách nhiệm trước Đảng bộ chínhquyền địa phương và cấp trên về quản lý toàn bộ hoạt động

Trang 32

của nhà trường theo đúng đường lối giáo dục của Đảng,phương hướng nhiệm vụ của ngành.

Vì thế hiệu trưởng là người có trách nhiệm chủ yếu, cótính chất quyết định đến kết quả phấn đấu của nhà trường.Thực tiễn đã khẳng định rằng: Muốn xây dựng trường tiêntiến cần phải bồi dưỡng người hiệu trưởng trở thành con chimđầu đàn của tập thể sư phạm “Nơi nào có cán bộ quản lý tốtthì nơi đó làm ăn phát triển, ngược lại nơi nào cán bộ quản lýkém thì làm ăn trì trệ, suy sụp”

Hoạt động của trường mầm non rất đa dạng, phức tạp,quá trình quản lý của hiệu trưởng trường mầm non phải đảmbảo những nội dung cơ bản sau:

Quản lý số lượng: Thu hút trẻ trong độ tuổi mầm nonđến trường trong địa bàn hành chính nơi trường đóng đạt chỉtiêu, trong đó ưu tiên phát triển tối đa trẻ 5 tuổi ra lớp đểchuẩn bị tâm thế cho trẻ bước vào trường phổ thông Số lượngtrẻ nhận vào các nhóm, lớp phải theo đúng qui định của điều

lệ trường mầm non Hàng năm có kế hoạch tuyển sinh vàthông báo cụ thể với phụ huynh Hiệu trưởng phải xét duyệt,phân loại và sắp xếp thời gian nhận trẻ hợp lý để giáo viên

Ngày đăng: 01/08/2019, 17:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w