CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG TRÁNH XÂM HẠI CƠ THỂ CHO HỌC SINH TRUNGHỌC CƠ SỞ... Trongtính đa dạng về hình thức, việc giáo dục kỹ năng p
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG TRÁNH XÂM HẠI CƠ THỂ CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC CƠ SỞ
Trang 2- Tổng quan nghiên cứu vấn đề
- Nghiên cứu ở nước ngoài
Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về cơ thể, tình cảm,tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạolực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bơ rơi, bỏ mặc trẻ em vàcác hình thức gây tổn hài lại khác Như vậy, có thể hiểu có 4 hìnhthức chính xâm hại trẻ em đó là sao nhãng hay bỏ mặc khôngchăm sóc trẻ em, xâm hại về cơ thể, xâm hại về tinh thần và xâmhại tình dục
Sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hôi trong giáodục học sinh là vấn đề từ lâu được các nhà giáo dục rất coi trọng.Chẳng hạn, J.A.Komenxki (1592-1670) là người đầu tiên bàn vềmối quan hệ giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong hoạt độnggiáo dục Theo ông, lòng ham học của học sinh chịu sự tác động,
sự kích thích rất lớn từ phía nhà trường, gia đình J.A.Komenxkikhẳng định: “Các bậc cha mẹ, giáo viên nhà trường, bản thân mônhọc, phương pháp dạy học phải thống nhất làm thức tỉnh và duytrì khát vọng học tập trong học sinh” Không những A.Komenxki
mà V.A.Xukhomlinxki (1918-1970) cũng đã bàn về mối quan hệbiện chứng giữa nhà trường và xã hội trong thực hiện mục đíchgiáo dục thế hệ tương lai đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa
Trang 3V.A.Xukhomlinxki đã luận chứng sự cần thiết, vai trò của sự phốihợp giữa các lực lượng trong hoạt động giáo dục xã hội.V.A.Xukhomlinxki (1918-1970) cho rằng: nếu gia đình và nhàtrường không có sự hợp tác để thống nhất mục đích, nội dunggiáo dục thì sẽ dẫn đến tình trạng “gia đình một đường, nhàtrường một nẻo”
Những năm đầu của thế kỷ XXI, ở phương Tây đã có xuhướng đề cao của PHHS trong phối hợp với nhà trường để giáodục trẻ em Chẳng hạn, Trong bài phát của mình, Alan Johnson(Bộ trưởng Bộ Giáo dục Anh đã kêu gọi PHHS cần phải cótrách nhiệm nhiều hơn trong sự phối hợp với nhà trường để giáodục con em mình
Tiếp cận cộng đồng chủ yếu từ góc độ tâm lý học, D.W.McMillan và D M Chavis cho rằng ý thức cộng đồng dựa trên cơ
sở của bốn yếu tố: 1) tư cách thành viên; 2) ảnh hưởng; 3) sự hội nhập và sự đáp ứng các yêu cầu; 4) sự gắn bó, chia sẻ tình cảm [1, tr.5] Trên cơ sở đó, Chavis đã đề xuất một bộ tiêu chí (SCI-2)
để đo lường, đánh giá sức mạnh của ý thức cộng đồng Tuy nhiên,cách tiếp cận của nhóm tác giả này chủ yếu từ góc độ tâm lý học,
vì vậy có những bất cập trong việc đánh giá vai trò của các yếu tố
tổ chức của cộng đồng trong sự phát triển xã hội Theo Fichtercộng đồng bao gồm 4 yếu tố sau: (1) tương quan cá nhân mật thiết
Trang 4với nhau, mặt đối mặt, thẳng thắn chân tình, trên cơ sở các nhómnhỏ kiểm soát các mối quan hệ cá nhân; (2) có sự liên hệ chặt chẽvới nhau về tình cảm, cảm xúc khi cá nhân thực hiện được cáccông việc hoặc nhiệm vụ cụ thể; (3) có sự hiến dâng về mặt tinhthần hoặc dấn thân thực hiện các giá trị xã hội được cả xã hộingưỡng mộ; (4) có ý thức đoàn kết tập thể Cộng đồng được hìnhthành trên cơ sở các mối liên hệ giữa cá nhân và tập thể dựa trên
cơ sở tình cảm là chủ yếu; ngoài ra còn có các mối liên hệ tìnhcảm khác Cộng đồng có sự liên kết cố kết nội tại không phải docác quy tắc rõ ràng thành văn, mà do các quan hệ sâu hơn, đượccoi như là một hằng số văn hóa Trong khi đó, theo các chuyêngia môi trường, cộng đồng là “một nhóm công dân chung sống tạimột khu vực địa lý, cùng chia sẻ một hệ thống giá trị, các nhu cầu
và lợi ích chung”
- Nghiên cứu ở Việt Nam
Bàn về phương pháp tiếp cận cộng đồng dựa vào nội lực và
do người dân làm chủ, tác giả Nguyễn Đức Vinh quan niệm: Cộng đồng gồm những người có đặc điểm hoặc mối quan tâm, lợi ích
chung Có những quan niệm về cộng đồng khác nhau Tùy cách tiếpcận và mục đích mà của chủ thể nghiên cứu có những quan niệmcộng đồng không hoàn toàn giống nhau Dựa vào địa lý, cộng đồngđược hiểu là cùng địa bàn, cùng lợi ích hoặc mối quan tâm, có
Trang 5chung đặc điểm văn hóa-xã hội, có mối quan hệ ràng buộc nhấtđịnh Dựa vào chức năng, cộng đồng được quan niệm là cùng hoặckhông cùng điạ phương hoặc địa bàn cư trú, nhưng có cùng lợi ích(nghề nghiệp, sở thích, hợp tác, ) Theo đó, tác giả quan niệm,cộng đồng được đặc trưng bởi sự gắn kết các quan hệ, sự hỗ trợ lẫnnhau, sự tôn trọng, chia sẻ, chấp nhận nhau và ý thức về lòng tự hàochung Nó tạo ra các cơ hội và sự tự do lựa chọn cho mọi người, tôntrọng sự đa dạng, cộng tác để chia sẻ trách nhiệm vì mục đích chung
[47, tr.7].
Theo từ điển tiếng Việt: Phối hợp là cùng chung góp, cùnghành động ăn khớp để hỗ trợ cho nhau [46] Trong lịch sử giáodục ở nước ta, từ lâu giữa nhà trường và gia đình đã có sự hợp tácchặt chẽ trong việc giáo dục trẻ Sự phối hợp giữa nhà trường vàcha mẹ học sinh được hiểu là các thầy cô trong trường và cha mẹhọc sinh có sự hợp tác, cùng thống nhất hành động và hỗ trợ nhauthực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh Công tác phối hợp giữanhà trường và cha mẹ học sinh là nhằm nâng cao chất lượng vàhiệu quả giáo dục học sinh về học lực và hạnh kiểm Chủ thể phốihợp là hiệu trưởng (phạm vi toàn trường), giáo viên chủ nhiệm(từng lớp) và cha mẹ học sinh (kể cả tổ chức hội cha mẹ họcsinh)
Trang 6Giáo dục liên quan đến mọi người, là lợi ích của mọi người,các gia đình, cộng đồng Do đó, toàn xã hội phải có trách nhiệmđối với giáo dục và việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục,trực tiếp nhà trường, gia đình và xã hội là đòi hỏi khách quan củaquá trình giáo dục Sinh thời, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ sự cần thiết,tầm quan trọng của sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xãhội trong việc giáo dục học sinh Người chỉ rõ: “Trẻ em trong nhưtấm gương, cái tốt dễ tiếp thu, cái xấu cũng dễ tiếp thu Nếu nhàtrường dạy tốt mà gia đình dạy ngược lại, sẽ có những ảnh hưởngkhông tốt tới trẻ em, và kết quả cũng không tốt Cho nên muốngiáo dục các cháu thành người tốt, nhà trường, đoàn thể, gia đình
và xã hội đều phải kết hợp chặt chẽ với nhau” Đảng ta cũng đã
chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công dân Cần kết hợp tốt giáo dục học đường với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh; người lớn làm gương cho con trẻ noi theo.”… [19, tr.9]
Chương VI của Luật Giáo dục (bổ sung, sửa đổi 2009) quyđịnh sự phối hợp giữa ba môi trường giáo dục nhà trường, giađình và xã hội Điều 93 quy định trách nhiệm của nhà trường:
“Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xãhội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục” [41, tr.109] Luật
Trang 7Giáo dục không chỉ quy định trách nhiệm của nhà trường mà conquy định trách nhiệm của gia đình (Điều 94), trách nhiệm của xãhội (Điều 96) đối với nhà trường cũng như đối với giáo dục.
Có nhiều công trình nghiên cứu ở những khía cạnh kháchnhau về vai trò, nhiệm vụ của gia đình và sự phối hợp giữa nhàtrường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ.Chẳng hạn: “Giáo dục gia đình” (Giáo trình đào tạo giáo viênTHCS, Nxb Giáo Dục), “Xã hội hoá công tác giáo dục” (PhạmMinh Hạc), “Giáo dục học- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”(Hà Thế Ngữ), “Suy nghĩ về trách nhiệm của gia đình đối với việcgiáo dục thiếu niên nhi đồng” (Nguyễn Đức Minh), “Văn hoá giađình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em” (Võ ThịCúc)…; “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, y tế ở Việt Nam”(Nguyễn Minh Phương) Bàn về trách nhiệm đối với sự nghiệpgiáo dục, tác giả Nguyễn Minh Phương cho rằng: Trách nhiệmphát triển sự nghiệp giáo dục, y tế không phải là của riêng tổchức, cá nhân nào, mà đòi hỏi sự gánh vác của toàn xã hội, cụ thể
là Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, doanh nghiệp, giađình và tổ chức xã hội
Bàn về phòng tránh bạo lực học đường và tệ nạn xã hộitrong nhà trường (khái niệm, thực trạng, nguyên nhân, giảipháp ) có các công trình tiêu biểu là: “Vấn đề tội phạm vị thành
Trang 8niên” của Hồ Sỹ Anh; “Bạo lực học đường nghĩ nhìn từ thời gianvui chơi của học sinh” Nguyễn San Hà; “Bạo lực học đường -suy ngẫm về nhân tố giáo dục gia đình trong xu thế hội nhập củacủa Trương Công Vĩnh Khanh; “Bạo lực học đường nhận diện vàgiải pháp ngăn chặn” của Phạm Văn Khanh; “Bạo lực học đường
ở trường phổ thông trung học nguyên nhân và giải pháp thay đổinhận thức cho học sinh” của Nguyễn Thị Phú; “Biện pháp giáodục phòng chống bạo lực học đường cho học sinh qua tổ chứchoạt động ngoại khóa” của Trương Thanh Thúy; “Một số nhân tốảnh hưởng đến bạo lực học đường trong học sinh hiện nay” củaĐinh Anh Tuấn
Có những đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu về tác độngphối hợp của gia đình để nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh đãđược công bố, như: Dương Văn Thạnh (2007), “Quản lý công tácphối hợp giữa nhà trường với cha mẹ học sinh ở các trường THCSvùng nông thôn thị xã Bà Rịa”; Bùi Thị Thúy Hằng (2011), “Một
số giải pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chămsóc, giáo dục trẻ ở các trường mầm non tư thục quận Cầu Giấy-
Hà Nội”; Phòng Giáo dục và Đào Tạo huyện Nghi Xuân, TrườngTHCS Tiên điền “Quy chế phối hợp Nhà trường - Gia đình - Xãhội trong việc chăm sóc, giáo dục học sinh”; Vũ Thanh Quyên(2015), “Quản lý phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong
Trang 9chăm sóc, giáo dục trẻ”; Nguyễn Thị Thúy Hằng (2017), “Phốikết hợp với phụ huynh để thống nhất một số biện pháp chăm sócgiáo dục trẻ”; La Thị Thúy (2017) “Cần sự phối hợp ba môitrường nhà trường, gia đình và xã hội”; Vũ Thị Sơn “Những biệnpháp cải thiện tác động của gia đình đến việc học tập của học sinhlớp 1,2 trường THCS” của Vũ Thị Sơn; “Các biện pháp tác độngcủa cha mẹ đến việc học tập của học sinh lớp 5 ở Thành phố HồChí Minh” của Võ Thị Bích Hạnh.
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2009), “Xây dựngmôi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: đánh giá pháp luật và chínhsách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở ViệtNam”, Nxb Văn hóa - Thông tin Cuốn tài liệu có nhiều nội dungliên quan đến phòng tránh xâm hại trẻ em Nó là cuốn tài liệu bổích, giúp các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, cán bộlàm việc với trẻ em, để tham khảo, vận dụng vào các công việc,góp phần thực hiện tốt sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em Chuyên đề Thông tin Tội phạm học (2015), “Giáo dục kỹnăng sống cho trẻ em - yếu tố quan trọng trong phòng ngừa xâmphạm tình dục”, Tạp chí Cảnh sát, số 4 Nội dung chuyên đề đãkhẳng định: Giáo dục kỹ năng sống được xem như một thành tốquan trọng để hình thành và phát triển nhân cách tích cực khôngchỉ cho học sinh, sinh viên mà còn rất có ý nghĩa đối với cả những
Trang 10người trưởng thành, cha mẹ học sinh và trong phòng ngừa tộiphạm.
Tài liệu tập huấn Phòng chống bạo lực trong gia đình củaĐoàn Tâm Đan; Tài liệu về phòng chống xâm hại tình dục trẻ emcủa Nguyễn thị Ngọc Bích; “Bạo hành và xâm hại tình dục” củaNguyễn thị Hải; “Thực trạng và kết quả phòng, chống tội phạm xâmhại trẻ em và tội phạm ở người chưa thành niên của VKSND tỉnhQuảng Ninh” của Thái Hưng; “Xâm hại tình dục trẻ em và một sốgiải pháp phòng ngừa” của Nguyễn Tuấn Anh; “Nguyên nhân củatội phạm xâm hại tình dục trẻ em và một số biện pháp đấu tranh,phòng ngừa” của Trần Thị Thu Hiền; “Tăng cường giải phápphòng, chống bạo lực và xâm hại trẻ em” của Công tâm; “Bảo vệtrẻ em tại cộng đồng của Minh Ngọc
Nhìn chung, những đề tài, luận văn nghiên cứu về sự phốihợp các lực lượng cộng đồng mà trước hết là nhà trường - giađình - xã hội đã khẳng định gia đình có tính quyết định trong việcgiáo dục thế hệ trẻ; sự phối hợp giữa giáo dục nhà trường, giađình và xã hội là yêu cầu khách quan trong quá trình giáo dục họcsinh Nhà trường, gia đình và cộng đồng cần phối hợp, phát huynhững thuận lợi và khắc phục những khó khăn trong việc giáo dụchọc sinh Sự phối hợp giữa ba môi trường giáo dục nhà trường,gia đình và xã hội là một trong những nguyên lý giáo dục của
Trang 11nước ta Tuy nhiên, tính hệ thống, tính liên tục và tính thống nhấtcác tác động giáo dục và các lực lượng giáo dục trên thực tế chưađược quan tâm đúng mức.
- Một số khái niệm cơ bản của đề tài
- Khái niệm về xâm hại cơ thể
Xâm hại cơ thể trẻ em là một trong hành vi gây tổn hại về
cơ thể, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới cáchình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏmặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác Xâm hại trẻ em cónhiều hình thức, trong đó có có bốn hình thức chủ yếu về xâm hạitrẻ em là sao nhãng hay bỏ mặc không chăm sóc trẻ em, xâm hại
về cơ thể, xâm hại về tinh thần và xâm hại tình dục
Các dấu hiệu chung thường thấy ở học sinh khi bị xâmhại bao gồm: thay đổi đột ngột về hành vi hoặc học lực giảm sút,thái độ cảnh giác, dò xét, lo sợ điều gì đó, vẻ phục tùng, thụ động,thu rút Các dấu hiệu nghi ngờ học sinh bị xâm hại cơ thể là:vết bỏng, vết cắn, vết thâm tím, bầm mắt, gãy xương không lýgiải được lý do (đặc biệt sau khi các em nghỉ học vài ngày); trên
da có những tổn thương cũ mới khác nhau, bằng chứng của xâmhại cơ thể nhiều lần; thái độ thu rút, lùi lại khi có người lớn đếngần
Trang 12Hệ quả của xâm hại cơ thể học sinh: Tổn thương và ảnhhưởng đến sự phát triển của cơ thể, bị những tổn thương nghiêmtrọng tới sức khỏe, cơ thể Những tổn thương bên trong không thấyđược, có thể dẫn đến tử vong Rối loạn ăn uống, rối loạn giấcngủ Tổn thương và ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm lý và tinhthần: Học sinh bị xâm hại cơ thể cũng dễ bị chấn thương tâm lý, tự
kỷ, thu rút mình, thậm chí mắc phải những vấn đề tâm thần Giảmkhả năng học tập và hòa nhập xã hội của các em, tác động tới quátrình trưởng thành và để lại những hệ quả tiêu cực lâu dài trongcuộc sống của trẻ Nhiều trẻ lớn lên trở nên sống khép kín, gặp trởngại trong giao tiếp xã hội Họ cũng có biểu hiện mặc cảm, thiếu tựtin vào bản thân Trẻ mất niềm tin vào người lớn, tình yêu thương.Khi trưởng thành có thể trở nên nóng nảy dễ có hành vi bạo lực.Nhiều người chấn thương tâm lý dẫn tới những hành động hunghăng, thậm chí có hành vi tự hại, luôn muốn tự làm đau mình đểgiảm stress căng thẳng
- Giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh trung học cơ sở
Là một hiện tượng xã hội - lịch sử, giáo dục là quá trìnhchuyển giao hệ thống tri thức, giá trị, thái độ và kinh nghiệm hoạtđộng của thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau nhằm phát triển vàhoàn thiện nhân cách cá nhân, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề
Trang 13nghiệp, đảm bảo cho cá nhân phát triển, đóng góp vào sự tồn tại,phát triển xã hội Trong phạm vi nhà trường, giáo dục là một quátrình tổng thể của hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục nhằmphát triển nhân cách, chuẩn bị tâm lý cho học sinh được tổ chức
có kế hoạch, đáp ứng yêu cầu của xã hội về xây dựng con người
phát triển toàn diện Như vậy, giáo dục là hoạt động có mục đích,
có tổ chức của chủ thể giáo dục tác động đến đối tượng giáo dục nhằm thành ở họ tri thức, tình cảm và hành vi phù hợp với các yêu cầu của xã hội mong đợi.
Giáo dục THCS được “thực hiện trong bốn năm, từ lớp sáuđến lớp chín Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chươngtrình THCS, có độ tuổi là mười một tuổi” [41, tr.46] Học sinhTHCS có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi là những học sinh đang trongthời kỳ phát triển nhân cách, là “thời kỳ quá độ” từ trẻ nhỏ sangngười lớn Tuổi 11 đến 15 tuổi là lứa tuổi có bước phát triển nhảyvọt về cơ thể lẫn tinh thần Ở giai đoạn này, các em đang tách dầnkhỏi thời thơ ấu để chuyển sang giai đoạn trưởng thành tạo nênnội dung cơ bản và sự khác biệt trong phát triển về cơ thể, trí tuệ,tình cảm, đạo đức, ; đồng thời, có sự tồn tại song song “vừa trẻcon, vừa người lớn” Ở cùng độ tuổi của học sinh THCS cũng có
sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau củatính người lớn Sự khác biệt tương đối ở các học sinh THCS là do
Trang 14hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em quy định
Trong độ tuổi học sinh THCS, giai đoạn đang phát triển vềmặt cơ thể và tinh thần Trong đó, sự phát triển cơ thể của các emchưa vững chắc, bởi đang bắt đầu thời kỳ phát triển về mặt sinh
lý Đa số các em ở cuối độ tuổi thiếu niên (lớp 9), có thể đạt đượcnhững khả năng phát triển về cơ thể như người lớn, đó là yếu tố
cơ bản giúp học sinh THCS có thể tham gia các hoạt động phongphú, đa dạng, phức tạp của chương trình giáo dục kỹ năng sốngcũng như giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể
Nhận thức của học sinh THCS đang có bước chuyển biến từnhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính Nhờ tư duy trừu tượngdựa trên kiến thức được trang bị ở nhà trường; đồng thời, tích luỹvốn sống của các em đã tăng dần Kỹ năng phòng tránh xâm hại cơthể của các em cũng có những biến đổi khá phong phú Do sựtrưởng thành và tích luỹ của giai đoạn trước, ở cấp THCS các em đã
có một vị trí xã hội mới Học sinh THCS không hoàn toàn là trẻcon, nhưng cũng chưa phải là một người lớn Ở giai đoạn này, cảmxúc, tình cảm, kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể của các em bịchi phối bởi các yếu tố cơ bản là: sự cải tổ về mặt giải phẫu sinh lýdẫn đến sự dậy thì; hoạt động giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi vàvới người lớn của các em được mở rộng Ở tuổi học sinh THCS, các
em bắt đầu có sự quan tâm đến hình dáng bề ngoài, đến bạn khác
Trang 15giới và ở nhiều em nảy sinh những cảm xúc về giới Như vậy, hoạtđộng giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinhTHCS đạt được mục đích đặt ra đòi hỏi chủ thể giáo dục phải nắmvững đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, có sự quan tâm đúng mứcđến tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của các em.
Kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể học sinh THCS có kếtquả cao, nó chính là sự phản ánh chất lượng, hiệu quả cao của quátrình giáo dục Hình thành, phát triển kỹ năng phòng tránh xâmhại cơ thể cho hoc sinh THCS là đòi hỏi tất yếu, nhằm góp phầnhình thành, phát triển toàn diện nhân cách học sinh Giáo dục kỹnăng phòng tránh xâm hại cơ thể bằng các phương thức tác độngthích hợp sẽ giúp học sinh THCS nhận thức đúng tính tích cực,chủ động trong quá trình học tập, rèn luyện và ứng xử trong cuộcsống; đồng thời giúp các em có nhận được giá trị bản thân và giátrị của người khác, có khả năng đề phòng, ngăn ngừa những xâmhại cơ thể do ngoài ý muốn mang lại
Kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đãnghiên cứu, dựa vào những nội dung luận bàn ở trên, có thể quan
niệm: Giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh THCS là hoạt động có mục đích, định hướng, có tổ chức của chủ thể giáo dục nhằm giúp cho học sinh có những năng sống tích cực, nhất là những hiểu biết về kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ
Trang 16thể, qua đó hình thành thái độ, hành vi ứng xử đúng đắn trong
quan hệ xã hội Nội dung của quan niệm về giáo dục kỹ năng
phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh THCS bao gồm:
Về mục đích: nhằm giúp học sinh THCS hình thành thái độ
và hành vi đúng đắn trong các mối quan hệ bạn bè, biết cách giảiquyết các vấn đề liên quan đến tình cảm, tình yêu; giúp cho họvượt qua được những khó khăn trong lứa tuổi vị thành niên đểxây dựng cuộc sống lành mạnh, có văn hóa và hướng tới cuộcsống hạnh phúc tương lai
Về nội dung: trang bị cho học sinh THCS những tri thức cần
thiết về kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể Giáo dục ý thứctrách nhiệm, ý thức tôn trọng của con người, biết quan tâm đếnnhững cảm xúc của người khác trong quá trình hoạt động chung;giáo dục khả năng tự đánh giá hành vi của mình trong quan hệ vớingười khác Biết phân biệt tốt xấu, đúng sai trong hoạt động, giáotiếp; giáo dục thái độ trách nhiệm đối với bản thân và đối vớingười khác; giáo dục ý thức về đạo đức cũng như văn hóa giaotiếp
Về phương pháp, hình thức: được sử dụng bởi hệ thống các
phương pháp (tùy theo khối lớp) Trong đó, sử dụng các phươngpháp cơ bản là phương pháp động não, thảo luận nhóm, đóng vai,phương pháp nghiên cứu tình huống và một số phương pháp khác
Trang 17Giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh THCSđược thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú Thông qua giảngdạy các môn khoa học bằng hình thức tích hợp hay lòng ghép, như:GDCD, Ngữ văn, Lịch sử cũng có thể xây dựng một số chủ đềgiáo dục riêng Thông qua sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, tọa đàm;sinh hoạt câu lạc bộ thanh thiếu niên Thông qua các phương tiệntruyền thống; thông qua tài liệu sách báo về kỹ năng phòng tránhxâm hại cơ thể Thông qua tư vấn của chuyên gia tâm lý Trongtính đa dạng về hình thức, việc giáo dục kỹ năng phòng tránh xâmhại cơ thể cho học sinh THCS được thực hiện thông qua giảng dạy
và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; sự phối hợp cáclực lượng cộng đồng trong giáo dục là phương thức cơ bản, quantrọng nhất
- Phối hợp lực lượng cộng đồng trong giáo dục
kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh trung học cơ sở
- Khái niệm lực lượng cộng đồng
Bàn về khái niệm cộng đồng có nhiều cách tiếp cận khácnhau, tùy thuộc vào mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra Cónhiều loại, dạng thức cộng đồng đã, đang tồn tại trong xã hội.Những loại, dạng thức cộng đồng đó không chỉ khác nhau về bản
Trang 18sắc, hình thức tổ chức, nguyên tắc vận hành mà còn có vai trò khácnhau trong đời sống hiện thực Những loại hình, dạng thức phongphú của cộng đồng vừa tồn tại độc lập tương đối, vừa lồng ghép,đan xen, tích hợp với những mối tương tác đa chiều và phức tạp.Tuy nhiên, dù loại hình, dạng thức cộng đồng có khác nhau, nhưngđều có mẫu số chung là sức cố kết, là sức sống của các cộng đồng
đó, đều dựa trên cường độ của ý thức cộng đồng
Mỗi cách tiếp cận nghiên cứu về cộng đồng đều mang lạinhững giá trị nhất định Nếu dựa vào chức năng, cộng đồng đượchiểu là những người được liên kết với nhau bởi lợi ích chung trên
cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức.Cộng đồng cũng chính là nơi sinh sống, học tập, lao động, vuichơi, là thôn, xóm, làng Dù hình thức biểu hiện, tính phong phúcủa cộng đồng được tiếp cận ở những góc độ khác nhau, nhưngvai trò của cộng đồng luôn được khẳng định trong mọi hoạt độngcủa đời sống xã hội Theo tác giả Trâm Anh “cộng đồng là mộtnhóm người (một tập thể) chung sống với nhau trên một vùng địa
lý nhất định, có chung một đặc tính xã hội và sinh học nào đó,cùng chia sẻ với nhau lợi ích vật chất, tinh thần nào đó Theo từđiển: Cộng đồng là thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm người cócùng sở thích hoặc cùng cư trú trong một vùng lãnh thổ nhất định.Trong cộng đồng thường có những quy tắc chung được mọi người
Trang 19thống nhất thực hiện Cộng đồng là một nhóm xã hội của các cơthể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng cácmối quan tâm chung Những kế hoạch, niềm tin, các mối ưutiên, nhu cầu, nguy cơ và một số điều kiện khác có thể có và cùngảnh hưởng đến đặc trưng, sự thống nhất của các thành viêntrong cộng đồng Đặc tính chung của cộng đồng được thể hiện và
tương tác lẫn nhau bằng rất nhiều cách Như vậy, cộng đồng là khái niệm dùng để chỉ toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội.
Phương châm giáo dục của Đảng, Nhà nước ta rất coi trọng
và đánh giá cao vai trò giáo dục của nhà trường Tuy nhiên, đểhoàn thành mục tiêu giáo dục đòi hỏi tất yếu là có sự phối hợpgiữa nhà trường và các lực lượng cộng đồng Có nhiều cách tiếpcận nghiên cứu về các lực lượng cộng đồng Dựa vào địa vực cưtrú, các lực lượng cộng đồng là những người dân cư trú trongcùng một địa bàn, có chung đặc điểm văn hóa-xã hội, có mối quan
hệ ràng buộc với nhau và cùng được áp dụng chính sách chung.Dựa vào chức năng, các lực lượng cộng đồng được hiểu là nhữngngười có lợi ích chung, được liên kết với nhau trên cơ sở nghềnghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức Các lực lượngcộng đồng cũng là nơi sinh sống, học tập, lao động, vui chơi, làthôn, xóm, làng Công động có tác động rất lớn đến sự phát triển
Trang 20nhân cách thế hệ trẻ Theo đó, lực lượng cộng đồng trong giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học THCS được quan niệm là gia đình học sinh và các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, các doanh nghiệp, cơ quan đơn vị hoạt động ở trên địa bàn nhất định có tác động tới việc giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh.
Phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường hayhuy động các lực lượng cộng đồng trong giáo dục là quá trình vậnđộng (động viên, khuyến khích, thu hút) và tổ chức mọi thànhviên trong các lực lượng cộng đồng tham gia vào hoạt động giáodục cho học sinh Phối hợp giữa nhà trường và các lực lượngcộng đồng trong quá trình giáo dục là một trong những nguyên lý
cơ bản của nền giáo dục nước ta Luật Giáo dục khẳng định: “Mọi
tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệpgiáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục,xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn” [41, tr.39]
Điều 100 Luật Trẻ em năm 2016 nêu rõ: Cha, mẹ, giáo viên,người chăm sóc trẻ em và các thành viên trong gia đình có tráchnhiệm trau dồi kiến thức, kỹ năng giáo dục trẻ em về đạo đức,nhân cách, quyền và bổn phận của trẻ em; tạo môi trường an toàn,phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em; phòng ngừa trẻ em rơivào hoàn cảnh đặc biệt, có nguy cơ bị xâm hại hoặc bị xâm hại
Trang 21Cả lý luận và thực tiễn đã chứng minh sự phối hợp giáo dục giữanhà trường và các lực lượng cộng đồng là chân lý phổ biến, làmột trong những nguyên lý cơ bản của giáo dục, được các nhànghiên cứu và hoạt động giáo dục tôn trọng, áp dụng theo mụcđích, tính chất, nhiệm vụ của nền giáo dục trong những giai đoạnlịch sử-cụ thể
-Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục kĩ năng phòng tránh xâm hại cơ thể: dựa vào cách tiếp cận trên đây, có thể quan niệm: phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh THCS là mối liên kết chặt chẽ, thống nhất giữa nhà trường với gia đình và các tổ chức thuộc các lực lượng cộng đồng tại địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong quá trình giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh Quan niệm này chỉ rõ:
Một là, phối hợp các lực lượng công đồng trong giáo dục,
trước hết là giữa nhà trường và các tổ chức thuộc cộng đồng lànhằm thực hiện mục tiêu và nguyên lý giáo dục nói chung, giáodục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh THCS nóiriêng Trong sự phối hợp đó, nhà trường đóng vai trò là đầu mối,chủ động trong việc xây dựng mục tiêu, nội dung chương trìnhgiáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh; dựkiến các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia thực hiện
Trang 22Nhà trường chủ động thiết lập các mối quan hệ với các tổ chứcthuộc cộng động tạo nên sự thống nhất trong quá trình giáo dục
kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh THCS Mỗi lựclượng, thành viên đại diện cho tổ chức, đoàn thể, PHHS, có cơhội được tham gia góp ý, hoàn thiện nội dung chương trình, kếhoạch hành động và cùng thống nhất đưa ra nội dung, cách thứcphối hợp thực hiện có hiệu quả, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh THCS đề ra
Hai là, nội dung tổ chức mối liên hệ giữa các lực lượng
cộng đồng trong giáo dục giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại
cơ thể cho học sinh THCS, mà trực tiếp, cô động nhất là giữa nhàtrường với PHHS bao gồm: Nhà trường giúp đỡ, hỗ trợ cụ thể choPHHS trong việc giáo dục, giúp họ nắm được nội dung, yêu cầucủa từng lứa tuổi; sử dụng linh hoạt phương pháp giáo dục kỹnăng phòng tránh xâm hại cơ thể của các em học sinh phù hợptrong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình; giúp choPHHS nhận thức đúng vai trò, nội dung, cách thức tham gia giáodục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho con em mình; cùngchia sẽ trách nhiệm, nghĩa vụ với nhà trường và các tổ chức thuộccác lực lượng cộng đồng trong việc giáo dục kỹ năng phòng tránhxâm hại cơ thể của học sinh Hơn nữa, với tư cách là chủ thể giáodục, PHHS có trách nhiệm chủ động phối hợp với nhà trường và
Trang 23các tổ chức thuộc các lực lượng cộng đồng trong việc giáo dục kỹnăng phòng tránh xâm hại cơ thể của chính con mình; chốngkhuynh hướng tự đề ra những yêu cầu giáo dục kỹ năng phòngtránh xâm hại cơ thể cho học sinh đi ngược với mục tiêu, nhiệm
vụ nhà trường; tránh yêu cầu hoặc khoán trắng cho nhà trường vàcác tổ chức xã hội trong giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơthể cho học sinh THCS mà con em họ là một thành viên
Ba là, tổ chức mối liên hệ giữa nhà trường với các đoàn thể
quần chúng nhằm tạo nên một môi trường giáo dục đúng đắn,rộng khắp toàn xã hội Tạo ra quá trình giáo dục thống nhất vàliên tục cả về mặt không gian, thời gian nhằm cùng tác động trựctiếp đến việc hình thành kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể chohọc sinh THCS Tạo điều kiện cả vật chất và tinh thần cho hoạtđộng phối hợp giữa các lực lượng trong giáo dục kỹ năng phòngtránh xâm hại cơ thể cho học sinh THCS
Bốn là, tổ chức mối liên hệ giữa gia đình và các lực lượng
giáo dục khác trong xã hội sao cho gia đình phát huy được tínhđịnh hướng, tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động xãhội vì xã hội là môi trường giáo dục tốt nhất cho học sinh, giúpcác em nhận thức đúng tầm quan trọng của giáo dục kỹ năngphòng tránh xâm hại cơ thể Các lực lượng xã hội tham gia vàocông tác giáo dục phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh THCS
Trang 24càng có ý thức, trách nhiệm cao, càng tạo tạo môi trường rộng lớnảnh hưởng tích cực đến kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể củamỗi học sinh và ngược lại.
- Giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh trung học cơ sở
- Mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh trung học cơ sở
Trung học cơ sở là cấp học cơ sở của bậc trung học, là cầunối giữa bậc THCS với trung học phổ thông THCS là bậc họcphổ cập nhằm chuẩn bị đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước.Mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục ở bậc THCS mang tínhphổ thông cơ bản, toàn diện Giáo dục THCS nhằm “giúp họcsinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS; cóhọc vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về
kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông,trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [41, tr.48]
Thông qua hoạt động dạy học - giáo dục hình thành, phát triểncho học sinh THCS những năng lực cơ bản: năng lực thích ứng vớinhững thay đổi trong thực tiễn để tự chủ, tự lập, năng động trongcuộc sống; năng lực hành động, nghĩa là biết làm, biết giải quyếtnhững tình huống thường nhật; năng lực cùng sống và làm việc với
Trang 25tập thể, với các lực lượng cộng đồng; năng lực tự học tập thườngxuyên, suốt đời, cũng như năng phòng tránh xâm hại cơ thể, như:nhận diện cảm xúc, hạ nhiệt cảm xúc, điều khiển suy nghĩ; gópphần định hướng rèn luyện kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thểtrong một số tình huống cụ thể.
- Nội dung giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh trung học cơ sở
Nội dung giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể đượclồng ghép vào nội dung dạy học; cũng có thể tổ chức thành mộtquá trình học tập theo chuyên đề nhằm trang bị kiến thức, hìnhthành và phát triển kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho họcsinh THCS
-lồng ghép nội dung kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thểvào các môn học (GDCD, Văn học, Sinh học, ) Các môn họcnày là những môn học có nội dung kiến thức gần gũi với nội dung
kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể Giải quyết mối quan hệ giữaphần kiến thức cơ bản của môn học với việc lồng ghép giáo dục
kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh
Việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng phòng tránh xâmhại cơ thể vào trong các môn học cần phải lựa chọn và phù hợpvới đặc điểm từng môn học, học phần, kiến thức nào cần lồng
Trang 26ghép, ; khắc phục sự chồng chéo và lặp lại kiến thức ở các bộmôn giúp học sinh hứng thú với môn học và với phần lồng ghépnội dung giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể Tăngcường tính chủ động học tập của học sinh ở phần lồng ghép nhằmgiúp học sinh tự nhận thức vấn đề thông qua quá trình trải nghiệm
và có cơ hội làm phép so sánh, đối chiếu, đánh giá giữa lý thuyết
và thực tiễn trải nghiệm kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể chohọc sinh
- lồng ghép vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp Các tổchức đoàn thể trong nhà trường tổ chức những hoạt động thiếtthực có lồng ghép các trò chơi giáo dục kỹ năng phòng tránh xâmhại cơ thể hay các kỹ năng khác trong hoạt động tập thể để họcsinh có cơ hội bọc lộ khả năng, rèn luyện bản lĩnh nhằm hìnhthành những hành vi, thói quen tích cực; giúp học sinh biết cáchgiữ bình tỉnh, lựa chọn cách thức, biện pháp xử lý tình huống khi
có nguy cơ bị kẻ xấu xâm hại cơ thể
-Giáo dục kĩ năng thông qua tổ chức các buổi báo cáo, cácbuổi huấn luyện chuyên về kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể.Chọn lựa, xây dựng nội dung các chủ đề giáo dục kỹ năng phòngtránh xâm hại cơ thể phù hợp với từng độ tuổi, lớp học, theo tháng,theo năm để tránh nội dung bị lặp đi lặp lại trong suốt quá trình học,làm học sinh nhàm chán; chuẩn bị đội ngũ giáo viên, chuyên gia