1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG GIÁO dục kỹ NĂNG GIAO TIẾP với các cư dân NÔNG THÔN tại các TRUNG tâm học tập CỘNG ĐỒNG của SINH VIÊN học VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

50 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 59,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế, mà - Nội dung khảo sát - Thực trạng về kỹ năng giao tiếp của sinh viên - Nhận thức về mục tiêu, ý nghĩa của KNGT - Các mức về KNGT của SV - Các hình thức giao tiếp của SV..

Trang 1

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP

VỚI CÁC CƯ DÂNNÔNG THÔN TẠI CÁC

TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

- Khái quát về điều tra khảo sát

- Khái quát về địa bàn khảo sát

HVNNVN thuộc địa giới hành chính thị trấn Trâu Quỳ,huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội, nằm dọc theo quốc lộ 5,cách thành phố Hà Nội 12km, có tổng diện tích khoảng1.973.734m2 HVNNVN tiền thân là Trường Đại học NôngLâm được thành lập ngày 12/10/1956 theo Nghị định số53/NĐ-NL của Bộ Nông Lâm, là 1 trong 3 trường đại học đầutiên của nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” được thành lậpsau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc Khi mới thành lập,Trường trực thuộc Bộ Nông Lâm, có 3 khoa với 4 chuyênngành đào tạo: Khoa Nông học gồm hai ngành: trồng trọt và

cơ khí hóa nông nghiệp; Khoa Chăn nuôi Thú y có ngànhChăn nuôi – Thú y; Khoa Lâm học có ngành Lâm học [53]

Hiện nay, HVNNVN là một trong những trung tâm đàotạo đa ngành và nghiên cứu khoa học lớn của cả nước, làtrường thuộc top 3 các trường đại học Việt Nam và top 50 cáctrường đại học ở Đông Nam Á, thuộc top 20 tổ chức cócông

bố quốc tế nhiều nhất Việt Nam Hiện nay, Học viện có 34ngành đào tạo được chia thành các lĩnh vực: Lĩnh vực nông

Trang 3

nghiệp (Khoa Chăn nuôi, Thú y, Thủy sản, Nông học); lĩnhvực khoa học tự nhiên (Khoa Cơ điện, Quản lý đất đai, Môitrường); lĩnh vực kinh tế (Khoa Kinh tế và phát triển nôngthôn, Kế toán và quản trị kinh doanh); lĩnh vực khoa học côngnghệ (Khoa Công nghệ sinh học, Công nghệ thông tin, Côngnghệ thực phẩm); lĩnh vực xã hội (Khoa Sư phạm và Ngoạingữ, Lý luận chính trị và Xã hội) HVNNVN là trường thuộctop 4 các trường đại học đạt điểm kiểm định chất lượng giáodục cao nhất Việt Nam [54].

Học phần KNGT tại HVNNVN bắt đầu xây dựng và đưavào chương trình học từ năm 2008, đây là học phần tự chọngồm 02 tín chỉ dành cho hai ngành thuộc lĩnh vực xã hội củaHVNNVN là ngành Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp, ngành Xãhội học, nên nhiều SV tại Học viện không có cơ hội đăng kýhọc phần này Bắt đầu từ năm 2016, HVNNVN thành lập

“trung tâm KN mềm” Trung tâm KN mềm quản lý 6 KN

mềm: KN làm việc nhóm, KNGT, KN tìm kiếm việc làm, KNquản lý bản thân, KN hội nhập, KN lãnh đạo, mỗi học phầngồm 02 tín chỉ SV tại HVNNVN được phép lựa chọn và đăng

ký 3/6 học phần KN mềm mà SV muốn học Chính vì có

nhiều lựa chọn, nên tỉ lệ SV đăng ký học “học phần KNGT”

Trang 4

không nhiều Theo thống kê của trung tâm KN mềm của

HVNNVN, từ khóa K61 (hiện nay đang là SV năm thứ 2 của

HVNNVN) tính tới thời điểm tháng 3/2018 mới có hơn 41.8% SV trong trường học KNGT Số liệu thống kê cho thấy chưa được 50% SV đăng ký học KNGT Chính vì thế, mà

- Nội dung khảo sát

- Thực trạng về kỹ năng giao tiếp của sinh viên

- Nhận thức về mục tiêu, ý nghĩa của KNGT

- Các mức về KNGT của SV

- Các hình thức giao tiếp của SV

Trang 5

- Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng đồng cho sinh viên

- Đánh giá nhận thức của GV và SV về ý nghĩa, vai tròcủa GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các TTHTCĐ;

- Đối tượng khảo sát

300 SV bao gồm 100 SV khoa Kinh tế và phát triểnnông thôn, 100 SV khoa Thú y, 100 SV khoa Nông học

Trang 6

30 GV, cán bộ quản lý thường xuyên đưa SV đi thực tậptại các cơ sở.

- Xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Số liệu điều tra của luận văn được xử lý bằng phần mềmSPSS V.17 kết hợp với phương pháp phỏng vấn và quan sátcác hoạt động giao tiếp của SV HVNNVN

Cách đánh giá: Đề tài sử dụng hai phương pháp đánh giálà: định lượng theo tỷ lệ % và phương pháp cho điểm

- Quy ước mức độ thang đo cho điểm

bình

1 Không có ý nghĩa/Chưa đạt/Không bao

giờ/Không cần thiết/Không ảnh hưởng 1,00 – 1,75

2 Ít có ý nghĩa/Trung bình/Hiếm khi/Ít cần

3 Có ý nghĩa/Khá/Thỉnh thoảng/Cần thiết/

Trang 7

- Thực trạng nhận thức của giảng viên, sinh viên về khái niệm

kỹ năng giao tiếp

Chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra cho hai đốitượng là GV và SV Số lượng phiếu phát ra là 330 phiếu (30phiếu của GV, 300 phiếu SV của ba khoa: Nông học, Kinh tế

và phát triển nông thôn, Thú y) Kết quả thu được 330 phiếuhợp lệ Khảo sát thực trạng nhận thức của GV, SV về kháiniệm KNGT được tiến hành điều tra qua câu hỏi số 1 ở cả haiphiếu dành cho GV và SV (phụ lục 1 và phụ lục 2) Kết quảthu được như sau:

Trang 8

- Nhận thức của GV, SV về khái niệm KNGT

Nội dung nhận thức về khái niệm KNGT

Tỷ lệ

%

a KNGT là quá trình tiếp xúc, quan hệ giữa con người

với con người, nhằm mục đích trao đổi các thông tin,

hiểu biết lẫn nhau, tâm tư tình cảm của nhau

26.5

b KNGT là năng lực của con người biểu hiện trong

quá trình giao tiếp, là hệ thống các thao tác cử chỉ,

điệu bộ hành vi được chủ thể giao tiếp phối hợp hài

hòa

13.6

c KNGT là khả năng tri giác hiểu được những biểu

hiện bên ngoài cũng như những diễn biến bên trong

của các hiện tượng, trạng thái, phẩm chất tâm lý của

đối tượng giao tiếp

9.7

d KNGT là năng lực tiến hành các thao tác, hành

động, kể cả năng lực thực hiện xúc cảm, thái độ nhằm

giúp chủ thể giao tiếp trao đổi thông tin, tư tưởng, tình

cảm với đối tượng giao tiếp một cách hiệu quả nhất

50.2

Trang 9

nhằm đạt được mục đích giao tiếp.

- Nhận thức về khái niệm KNGT

Khái niệm KNGT có ý nghĩa rất quan trọng, giúp ngườigiao tiếp xác định được hoạt động, mục đích giao tiếp của bảnthân GV và SV cần phải có nhận thức đúng đắn, đầy đủ,chính xác về khái niệm KNGT, để có thể định hướng đượcnhững thao tác, hành động trong quá trình giao tiếp nhằm đạtđược những mục đích nhất định

Qua kết quả khảo sát được trình bày trong bảng 2.2 vàbiểu đồ 2.1, chúng tôi có nhận xét như sau:

Có 50.2% số lượng GV và SV nhận thức đúng và đầy đủ

về khái niệm KNGT; có 13.6% và 9.7% nhận thức đúngnhưng chưa đầy đủ về khái niệm KNGT, còn 26.5% nhậnthức khái niệm KNGT nhầm sang khái niệm giao tiếp Từ kếtquả khảo sát, chúng tôi nhận thấy đa số GV và SV đã nhận

thức đúng về khái niệm KNGT tuy nhiên, có 49.8% gần một

nửa số lượng GV và SV chưa có nhận thức đầy đủ về kháiniệm KNGT hoặc nhầm khái niệm KNGT sang khái niệmgiao tiếp, đây là tỷ lệ khá lớn, chính điều này ảnh hưởng rất

Trang 10

lớn đến quá trình GD KNGT cho SV Tiến hành trò chuyện,phỏng vấn sâu một số SV thì chúng tôi nhận được kết quả.

Em N.T.L cho biết “Do trong quá trình học em, em cũng

không hiểu rõ về cơ sở lý luận của các khái niệm nên có sự nhầm lẫn khi chọn” Em V.C.N cho biết “Vì nội hàm của khái niệm cũng nhiều phần giống nhau, em chưa hiểu kỹ về các khái niệm nên chọn nhầm sang khái niệm giao tiếp”.

Như vậy, còn khá nhiều SV chưa nhận thức đứng đắn vềcác khái niệm về KNGT hoặc có nhận thức đúng nhưng chưađầy đủ về khái niệm KNGT, biện pháp đặt ra cần GD nhậnthức cho GV và SV nhiều hơn về khái niệm giao tiếp, KNGT,

để SV hiểu rõ vấn đề

- Thực trạng nhận thức về ý nghĩakỹ năng giao tiếp đối với sinh viên

Tìm hiểu thực trạng nhận thức về ý nghĩa KNGT cho

SV, chúng tôi tiến hành khảo sát qua các câu hỏi số 2 ở cả haiphiếu GV và SV Kết quả thu được như sau:

Trang 11

- Thực trạng nhận thức về ý nghĩa KNGT đối với SV

Có ý nghĩ a

Ít có ý nghĩ a

Khôn

g có ý nghĩa

1 Tăng cơ hội tìm

Trang 12

5 Phát triển năng lực

Trong bảng chúng tôi đưa ra 5 ý nghĩa cơ bản củaKNGT cho SV HVNNVN gồm: Tăng cơ hội tìm kiếm việclàm; Nhanh chóng, dễ dàng hòa nhập với môi trường làmviệc; Hoàn thiện KNGT cho bản thân; Khắc phục tính rụt rè,

tự tin hơn trong giao tiếp; Phát triển năng lực chuyên môn với

giá trị trung bình sau khi chúng tôi xử lý kết quả là 3.49-3.60.

Kết quả này cho thấy phần lớn GV và SV đều đánh giá caovai trò to lớn và quan trọng ý nghĩa của KNGT với SV Hầuhết các GV và SV đều chọn ở mức độ rất có ý nghĩa và có ýnghĩa là chiếm đa số

Qua bảng số liệu ta thấy, ý nghĩa quan trọng đều được cả

GV và SV lựa chọn là nội dung: Khắc phục tính rụt rè, tự tinhơn trong giao tiếp; Tăng cơ hội tìm kiếm việc làm, với tỉ lệ

62.9% và 61.0% được đánh giá ở mức rất có ý nghĩa.

Ở nội dung: Nhanh chóng, dễ dàng hòa nhập với môitrường làm việc; Thành công trong việc và cuộc sống; Hoànthiện KNGT cho bản thân; Phát triển năng lực chuyên môn,

Trang 13

GV đều đánh giá ở mức rất có ý nghĩa và có ý nghĩa Nhữngvẫn còn một số ít GV đánh giá nội dung này ở mức độ ít có ýnghĩa Khi tiến hành phỏng vấn 05 GV kết quả chúng tôi thu

được và tổng hợp lại: Các GV cho rằng thường GV chỉ tập

trung vào giảng dạy những kiến thức nội dung bài học, giảng những kiến thức môn học tới SV mà chưa thật sự hiểu sâu sắc bản chất hoặc chưa quan tâm nhiều đến những KNGT của

SV Hoặc trong quá trình giảng dạy cũng cho SV thực hiện nhiều hoạt động nhưng không nhận xét về các KNGT của SV

mà tập trung vào kết quả môn học mà SV thu nhận được.

Về phía SV qua bảng số liệu, chúng tôi nhận thấy phầnlớn SV đều cho rằng 5 nội dung ý nghĩa của giáo dục kỹ năngmềm trên là rất có ý nghĩa, có ý nghĩa đối với SV Nhưng vẫn

có một lượng nhỏ SV cho rằng 05 ý nghĩa đề cập trên làkhông có ý nghĩa hoặc ít có ý nghĩa

Tiến hành phỏng vấn, ý kiến quan điểm được các em đưa

ra dù biết các ý nghĩa quan trọng của KNGT đối với bản thân,nhưng các em chưa được tham gia thường xuyên vào các hoạtđộng GD KNGT, chưa thật sự hiểu bản chất của quá trình này.Thời gian dành cho việc học trên lớp quá nhiều, không có thờigian dành cho các hoạt động khác, các hoạt động chưa đa dạng

Trang 14

về hình thức nên chưa thu hút và tạo hứng thú để các em thamgia.

Tóm lại, qua bảng số liệu, chúng ta thấy rằng SV đã cónhận thức ban đầu về ý nghĩa KNGT Tuy nhiên, chưa đánhgiá đúng được từng ý nghĩa KNGT Vì vậy, điều cần đặt rangay lúc này là phải ứng dụng, cũng như được áp dụng rộngrãi về KNGT cho SV, đặc biệt thông qua tổ chức các hoạtđộng cộng đồng

- Thực trạng các mức độ về kỹ năng giao tiếp của sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Để khảo sát thực trạng các mức độ về KNGT của SVHVNNVN hiện nay Chúng tôi tiến hành điều tra qua câu hỏi

số 3 ở cả hai phiếu điều tra dành cho GV và phiếu điều tradành cho SV (phụ lục 1 và phụ lục 2) Kết quả chúng tôi thuđược như sau:

Trang 15

- Thực trạng các mức độ về KNGT của SV HVNNVN

T

T

Các kỹ năng giao tiếp

Mức độ thực trạng Điểm

trun g bình

Tốt Kh

á

Trun g bình

Qua bảng có thể thấy rằng các KNGT của SV hiện nay

đang dừng lại ở mức “Khá” và mức “Trung bình” là nhiều nhất với điểm trung bình chúng tôi xử lý từ 2.49 đến 2.96

(điểm trung bình nằm ở mức Trung bình đến mức Khá).KNGT là KN được diễn ra thường xuyên, hàng ngày trong

Trang 16

đời sống của SV, chúng tôi liệt kê ra 04 KNGT đây là nhữngKNGT cơ bản nhất, những KNGT chung nhất mà SV nàocũng yêu cầu phải đạt được Nhưng chúng ta thấy, các KNGT

này ở mức Tốt chiếm tỷ lệ rất ít từ 8.1% đến 28.2% đây là

con số rất kiêm tốn với số lượng SV chúng tôi tiến hành điềutra, chỉ có KN thuyết trình số lượng SV đạt mức độ tốt là caohơn so với các KN khác là chiếm 28.2%, mức Khá chúng tathấy có một vài KNGT chiếm gần 50% là KN lắng nghe, KNthuyết trình, KN diễn đạt thông tin tiếp theo là KN viết vănbản Đối với mức Trung bình cao nhất là KN viết văn bản

chiếm 46.6%, tiếp theo là KN làm quen chiếm 41.1% Tiếp

tục nhìn vào bảng số liệu ta thấy lượng SV chưa đạt các

KNGT này còn khá nhiều từ 4.2% đến 13.5% đây là con số

đáng báo động, vì đây là những KNGT cơ bản nhất nhữngcũng có rất nhiều SV chưa đạt được những KN này

Qua phỏng vấn sâu một 05 SV chúng tôi nhận được kếtquả: Hiện nay HVNNVN có học phần KNGT do các thầy/cô

Bộ môn Tâm lý giảng dạy, giáo trình KNGT giảng dạy cho

SV các KN như: KN lắng nghe; KN thuyết trình; KN diễn đạtthông tin; KN phản hồi Từ năm 2016, Học viện thành lập ratrung tâm KN mềm, giáo trình KNGT của Trung tâm cũng đề

Trang 17

cập đến các KN như: KN lắng nghe, KN thuyết trình; KNdiễn đạt thông tin Chính vì vậy, do được học trên lớp, đượcthực hành nên những KN của SV như lắng nghe, thuyết trình,diễn đạt thông tin… SV tự đánh giá mình đang ở mức Kháchiếm tỷ lệ gần 50% Ngoài ra, ngay trên lớp dạy các môn học

GV cũng hướng dẫn SV về các KNGT nên SV khá hơn ở các

KN làm quen, lắng nghe, thuyết trình, các KN còn lại do chưađược làm nhiều, thực hành nhiều nên thực trạng hiện nay cácKNGT của SV dừng lại ở mức trung bình

Tóm lại, chúng ta thấy thực trạng hiện nay các KNGTcủa SV là chưa tốt, có những KN SV tự nhận thấy mình chưađạt, hoặc chỉ dừng lại ở mức trung bình, mức khá, còn mứctốt là rất ít Biện pháp đặt ra cần lồng ghép vào các môn học

để GD các KNGT cho SV hoặc qua đoàn thể, trải nghiệmgiúp SV hoàn thiện hơn các KNGT

- Thực trạng các hình thức giao tiếp của sinh viên

Để khảo sát các hình thức giao tiếp của SV HVNNVNhiện nay Chúng tôi tiến hành điều tra qua câu hỏi số 4 ở cảhai phiếu điều tra dành cho GV và phiếu điều tra dành cho SV(phụ lục 1 và phụ lục 2) Kết quả chúng tôi thu được như sau:

Trang 18

- Các hình thức giao tiếp của SV

Thườn

g xuyên

Thỉnh thoản g

Hiế m khi

Khôn

g bao giờ

Trang 19

chơi

5 Thông qua

câu lạc bộ 17.8 31.3 38.4 12.5 2.18

Qua bảng chúng ta dễ dàng nhận thấy, có sự khác biệt ở

điểm số trung bình từ điểm trung bình thấp 2.18 đến điểm trung bình cao 3.58 Phân tích hình thức giao tiếp của SV,

chúng tôi thấy hình thức được SV sử dụng thường xuyên đó là

thông qua làm việc theo nhóm chiếm tỷ lệ 65.7%, tiếp theo thông qua thuyết trình, báo cáo chiếm 52.1%, thông qua trả lời câu hỏi và phát biểu ý kiến 23.6%, thông qua tổ chức chơi trò chơi 19.8%, cuối cùng thông qua câu lạc bộ là 17.8%.

Hình thức giao tiếp ở mức độ thỉnh thoảng được GV và SVlựa chọn nhiều nhất là thông qua tổ chức trò chơi chiếm

70.5%, tiếp theo thông qua trả lời câu hỏi và phát biểu ý kiến chiếm 47.9% Ở mức độ “không bao giờ” giao tiếp chỉ có

duy nhất hình thức thông qua câu lạc bộ được một lượng nhỏ

Trang 20

tiếp như thông qua làm việc theo nhóm; thuyết trình, báo cáo; thông qua trả lời câu hỏi và phát biếu ý kiến; thông qua tổ chức chơi trò chơi được chúng tôi sử dụng trong lớp học, với hình thức học tín chỉ, SV tự học là chính nên chúng tôi thường giao bài tập, chủ đề chia nhóm cho SV về làm báo cáo, để buổi sau lên thuyết trình Chính vì vậy, mà hình thức thông qua làm việc nhóm đượcchúng tôi sử dụng thường xuyên và nhiều nhất Thỉnh thoảng chúng tôi cũng tổ chức trò chơi làm cho không khí lớp vui vẻ, bớt căng thẳng, SV tích cực vào bài học hơn Còn hình thức thông qua câu lạc bộ, không phải bạn SV nào cũng tham gia các câu lạc bộ trong

và ngoài HVNNVN và có những bạn chưa từng tham gia câu lạc bộ nào” Tổng hợp ý kiến của SV, chúng tôi thu được

kết quả: Nhiều SV cũng có ý kiến, hiện nay các thầy/côthường chia lớp thành các nhóm nhỏ khác nhau để các nhómtrao đổi thảo luận, trả lời câu hỏi, bài tập trên lớp, hoặc làmnhững bài thuyết trình để buổi sau lên báo cáo, nên hình thứcnày được sử dụng nhiều nhất Sau khi SV báo cáo GV cũngyêu cầu SV nhận xét, bổ sung cho bài của bạn, đặt câu hỏi vàtrả lời câu hỏi của các nhóm khác Còn hình thức tổ chứcchơi trò chơi thì các em cho rằng hình thức này diễn ra ở mức

Trang 21

độ thỉnh thoảng, vì tiết học có hạn về thời gian nên khôngphải lúc nào cũng có thể tổ chức chơi trò chơi Hình thức giaotiếp thông qua câu lạc bộ, các em cho biết câu lạc bộ thườngsinh hoạt theo tuần/tháng/quý nên mức độ gặp nhau thườngxuyên để giao tiếp là ít hơn so với các hình thức khác.

Tóm lại chúng ta thấy, các hình thức giao tiếp chủ yếucủa SV là thông qua làm việc nhóm, thuyết trình, báo cáo.Còn các hình thức giao tiếp khác SV dừng lại ở mức độ thỉnhthoảng

- Thực trạng các hình thức giáo dục kỹ năng giao tiếp cho sinh viên của Học viện nông nghiệp Việt Nam

Chúng tôi tìm hiểu thực trạng thầy/cô đã GD KNGT cho

SV thông qua hình thức nào Chúng tôi tiến hành điều tra quacâu hỏi số 5 ở cả hai phiếu GV và SV (phụ lục 1 và phụ lục2) Đây là câu hỏi có nhiều lựa chọn, sau khi xử lý số liệuchúng tôi thu được kết quả như sau:

- Thực trạng các hình thức GD KNGT cho SV HVNNVN

Qua biểu đồ, chúng tôi nhận thấy rằng GV đã có rất GDKNGT cho SV bằng nhiều hình thức khác nhau như: thông

Trang 22

qua dạy các môn học, thông qua hoạt động trải nghiệm, thôngqua đoàn thể, thông qua tự rèn luyện Nhìn vào số liệu thống

kê trên biểu đồ thì hình thức SV và GV lựa chọn nhiều manglại hiệu quả cao đó chính là hình thức thông qua dạy các môn

học đạt 63.1%, tiếp đến là hoạt động trải nghiệm đạt 49.1%, đoàn thể đạt 32.6%, cuối cùng là tự rèn luyện đạt 24.5% Qua

phỏng vấn sâu một 05 SV chúng tôi tổng hợp kết quả: Hiệnnay, trong các chương trình đào tạo của HVNNVN mới chỉ cómột học phần KNGT (tự chọn), chỉ dành cho một vài Khoatrong Học viện, nên cơ hội được học lớp KNGT của SV làkhông nhiều Bắt đầu từ K61 (hiện nay là SV năm thứ hai)Học viện mới ra quy định bắt buộc phải học ba trong sáu KNmềm tự chọn (KNGT, KN hội nhập, KN làm việc theo nhóm,

KN quản lý bản thân, KN tìm kiếm việc làm, KN lãnh đạo)như vậy Học viện có 02 học phần KNGT để SV lựa chọn học(01 học phần trong chương trình đào tạo của Học viện, 01 họcphần trong chương trình của trung tâm KN mềm) Ngoài ra,trong giờ học trên lớp các môn học khác SV cũng được GVhướng dẫn về KNGT thông qua các hoạt động tổ chức trênlớp như: hỏi – đáp, giảng giải, đặt vấn đề, phương pháp đóngvai, xử lý tình huống, làm việc theo nhóm… cũng giúp SV

Trang 23

rèn luyện được các KNGT Chính vì vậy, GD KNGT dạy họcthông qua dạy học môn học được cả GV và SV lựa chọnnhiều hơn các hình thức khác

Ngoài ra, Học viện cũng còn tổ chức rất nhiều các hoạtđộng trải nghiệm giúp SV rèn luyện các KNGT như: cuộc thi

SV tìm hiểu pháp luật (theo nhóm), SV khởi nghiệp, cuộc thiolympic…SV tại HVNNVN cũng có nhiều cơ hội tham giacác đoàn thể, các câu lạc bộ nhằm rèn luyện các KNGT như:Tình nguyện, hoạt động Đoàn…đây cũng chính là cơ hội giúp

SV rèn luyện được các KNGT

- Kết luận thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Học viện nông nghiệp Việt Nam

Qua phân tích số liệu thống kê chúng tôi nhận thấy rằng,

SV vẫn chưa có nhận thức đúng và đầy đủ về khái niệmKNGT, vẫn nhầm lẫn sang những khái niệm khác Các KNGTcủa SV hiện nay đang ở mức trung bình và mức khá là nhiềunhất, số lượng SV có KNGT này ở mức tốt vẫn còn đang hạnchế, hơn thế nữa chúng tôi thấy, chủ yếu các hoạt động giaotiếp của SV lựa chọn đều diễn ra trong lớp học, ngoài lớp học

và rất ít số liệu này thống nhất với số liệu phân tích các hình

Trang 24

thức GD KNGT chủ yếu của GV là thông qua dạy các mônhọc Như vậy, thông qua các môn học là chủ yếu, nên GV cầntích hợp các nội dung GD KNGT vào các môn học để GD choSV.

- Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng đồng cho sinh viên Học viện nông nghiệp Việt Nam

- Thực trạng nhận thức về ý nghĩa giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng đồng của sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng nhận thức về ýnghĩa KNGT với các cư dân nông thôn tại các TTHTCĐ của

SV HVNNVN được tiến hành điều tra qua câu hỏi số 7 ở cả

hai phiếu điều tra dành cho GV và SV Kết quả thu được như

Trang 25

m trun g bìn h

Rất

có ý nghĩ a

Có ý nghĩ a

Ít có ý nghĩ a

Khô

ng có ý nghĩ a

1

Giúp SV nâng cao KN

tiếp cận kiến thức, hòa

nhập môi trường làm

việc, hòa nhập cuộc

sống, tăng cơ hội xin

việc sau khi ra trường

69.2 27.5 3.3 0 3.71

2

Giúp SV tăng khả năng

giao tiếp, truyền đạt

thông tin tới người

khác

57.9 36.2 5.9 0 3.52

3 Giúp SV rèn luyện và

sử dụng phương tiện

ngôn ngữ và phi ngôn

ngữ trong nhiều hoàn

cách khác nhau nhằm

55 38.5 5.6 0.9 3.47

Ngày đăng: 31/07/2019, 13:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w