1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN về bồi DƯỠNG kỹ NĂNG GIAO TIẾP, ỨNG xử với NGƯỜI dân CHO đội NGŨ CÁN bộ CÔNG CHỨC XÃ

51 185 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 60,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi giao tiếp là công cụ, phương tiện để con ngườitrao đổi, chia sẻ thông tin và lĩnh hội thông tin trong quá trìnhlao động.[1] Nhà giáo dục lỗi lạc người Nga J.A Comenxki 1670 là người

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP, ỨNG XỬ VỚI NGƯỜI DÂN CHO

ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC XÃ

Trang 2

Cơ sở lý luận

Các nghiên cứu ở nước ngoài

Trong lịch sử phát triển của loài người, ngôn ngữ có mộtvai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống củamỗi con người Nó thúc đẩy sự phát triển của tư duy, là cơ sởcủa nhận thức xã hội và là phương tiện để giao tiếp Thôngqua tiếng nói, mỗi người thực hiện việc giao tiếp trong xã hội.Ngày nay, ngoài tiếng mẹ đẻ, để tiếp nhận và giao tiếp trongcộng đồng nhân loại, con người còn dùng tiếng nước ngoài vàcác hình ảnh phi ngôn ngữ để giao tiếp Vì vậy, khả năng giaotiếp trong xã hội được rộng mở, đa dạng và phong phú Ngay

từ thời cổ đại, các nhà giáo dục, triết học đã quan tâm đến cácvấn đề giao tiếp Các hoạt động giáo dục lao động, giáo dụcsức khoẻ, giáo dục hình thành năng lực thực hành, năng lựchợp tác đã được coi trọng Từ những hoạt động giáo dục, nănglực cá nhân được phát huy, thúc đẩy xã hội loài người pháttriển

Khổng Tử (551-497 TCN) là một triết gia, một nhà giáodục lỗi lạc của Trung Quốc thời cổ đại đã có tư tưởng gắn

giáo dục với thực tiễn để tạo ta lớp người "trị quốc bình thiên

Trang 3

hạ" Ông khẳng định "Đọc thuộc ba trăm thước kinh thư giỏi, giao cho việc đi sứ không có khả năng đối đáp, học kiểu như vậy chẳng có ích gì" Tư tưởng đó của Khổng Tử cho thấy

người học ngoài việc học kiến thức chuyên môn, kiến thứcvăn hóa còn phải học cách giao tiếp để giao tiếp thành công

và hiệu quả trong công việc chuyên môn và lao động nghềnghiệp Bởi giao tiếp là công cụ, phương tiện để con ngườitrao đổi, chia sẻ thông tin và lĩnh hội thông tin trong quá trìnhlao động.[1]

Nhà giáo dục lỗi lạc người Nga J.A Comenxki 1670) là người sáng lập ra hình thức tổ chức dạy học trườnglớp, tạo môi trường giao tiếp rộng mở cho người học Ông

(1592-được coi là "ông tổ của nền sư phạm cận đại" và đã có những

đóng góp lớn lao cho nền giáo dục thế giới Tư tưởng giáodục của J.A Comenxki là kết hợp giữa giáo dục nhà trườngvới hoạt động thực hành bên ngoài cuộc sống, nhằm giảiphóng hình thức học tập "giam hãm trong bốn bức tường" của

hệ thống nhà trường giáo hội thời trung cổ Ông khẳng định

"học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà

còn lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ".

Chính tư tưởng giáo dục trên cho thấy giao tiếp của học sinh

Trang 4

không chỉ thực hiện trong nhà trường mà vượt ra khỏi phạm

vi nhà trường Môi trường giao tiếp, nội dung giao tiếp, đốitượng giao tiếp càng được mở rộng bao nhiêu thì tâm hồnngười học càng phong phú bấy nhiêu [2]

Thế kỷ XIX, C.Mác (1818-1883) và F.Anghen 1895) đã xây dựng học thuyết mới trong lịch sử phát triển loàingười Các ông không chỉ tổng kết, tìm ra quy luật của tiếntrình phát triển trong triết học, kinh tế và xã hội; hình thànhchủ nghĩa Mác Lênin có sức sống mãnh liệt qua không gian,thời gian mà các ông còn được coi là ông tổ của nền giáo dụchiện đại C.Mác và F.Anghen đã xác định mục đích nền giáo

(1820-dục xã hội chủ nghĩa là tạo ra "con người phát triển toàn

diện" Quan điểm giáo dục của hai ông là phát triển nhân cách

con người về mọi mặt theo "phương thức giáo dục kết hợp

với lao động sản xuất" Chính quan điểm này đã được Lênin

kế thừa và phát triển thành hiện thực nền giáo dục xã hội chủnghĩa Theo quan điểm của C.Mác và F.Anghen, kết quả củagiáo dục là con người có sức khoẻ, biết làm và có khả năngthích ứng với sự biến đổi của nghề nghiệp Trong nhữngnghiên cứu về giáo dục, Lênin đã đánh giá rất cao vai trò củangôn ngữ trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách

Trang 5

con người mà trong đó KNGT chính là phương tiện dẫn đếnviệc hình thành, phát triển nhân cách con người trong xã hội[4].

Tác giả Kak - Hai - Nơdích người Đức, đã nêu rõ yêucầu về phát triển ngôn ngữ của trẻ có một vai trò quan trọng

và quá trình phát triển ở từng giai đoạn Trong mỗi giai đoạn

đó nhiệm vụ của người lớn giúp trẻ thâm nhập vào thế giớingôn ngữ phong phú và đa dạng, dẫn dắt trẻ từ những âmthành "gừ gừ" ở tuổi sơ sinh đến khi sử dụng, nắm vữngngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sựphát triển về trí tuệ Bằng những ví dụ, cách làm cụ thể, thiếtthực đã giúp các bậc phụ huynh có thêm những kiến thức cơbản trong việc giáo dục và dạy dỗ, nắm vững ngôn ngữ giaotiếp của con em mình

Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của văn hoá giao tiếp tronggia đình đến sức khoẻ tâm lý đạo đức của thanh niên, tác giảMalin I.I đã khẳng định văn hoá tâm lý của giao tiếp trong giađình được thể hiện ở hệ thống các chuẩn mực; định hướng giátrị; những cách thức và phong cách hành vi, giao tiếp và mốiquan hệ qua lại trong gia đình , những cái được áp dụngtrong hệ thống các mối quan hệ qua lại và giao tiếp giữa cha

Trang 6

mẹ với con cái Tác giả đã làm nổi bật lên 5 loại văn hoá tâm

lý của giao tiếp trong gia đình và ảnh hưởng của chúng tới sựhình thành nhân cách và sức khoẻ tâm lý đạo đức của thanhniên Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự thiếu hụt chức năng bất

kỳ nào đó của người lớn trong gia đình hoặc sự xem thường

nó sẽ làm rối loạn sức khoẻ tâm lý của trẻ Chính văn hoá tâm

lý của giao tiếp trong gia đình và ảnh hưởng của chúng sẽ tácđộng đến sự phát triển KNGT của thanh niên Để nâng caokhả năng giao tiếp cho trẻ, tác giả Linda Maget đã giới thiệunhững KNGT xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trongviệc kết giao bạn bè Với cách trình bày của mình, tác giảLinda Maget giúp các bậc cha mẹ và trẻ học được KNGT xãhội để luôn có bạn bè, trưởng thành trong học tập và cuộcsống, đó là mục tiêu của cuốn sách muốn đem lại Hay

chương trình dạy tiếng Malaysia cho rằng "sự thành thạo

ngôn ngữ làm cho học sinh học tập có hiệu quả, vì vậy ngôn ngữ được coi trong Khi học xong trung học phổ thông học sinh biết sử dụng ngôn ngữ phù hợp với trình độ phát triển của mình" Hay đối với Thái Lan trong chương trình giảng

dạy tiếng Thái Lan lại nhấn mạnh "việc dạy tiếng phải trau

Trang 7

dồi cho học sinh kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và khả năng dùng ngôn ngữ " đối với chương trình dạy tiếng [2].

Cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, trước bối cảnh toàncầu hóa, quốc tế hóa, các nước đều rất quan tâm đến vấn đềgiáo dục con người trong xã hội mới Một trong bốn trụ cộtcủa nền giáo dục toàn cầu trong thế kỷ XXI đã được

UNESCO đề xuất là “học để cùng chung sống” và được coi là

một trong những trụ cột quan trọng, then chốt của giáo dục

hiện đại Câu hỏi đặt ra là “Kỹ năng nào là cần thiết cho mỗi

con người để thành công trong công việc và cuộc sống?”, một

trong những kỹ năng toàn cầu đỏi hỏi ở mỗi con người hoàn

thiện là phải có “KNGT” [3].

Từ những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ “Kỹ năng

sống” đã xuất hiện trong các công trình nghiên cứu của

UNICEF, trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị

sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ Phần

lớn các công trình nghiên cứu quan niệm kỹ năng sống theonghĩa hẹp, đồng nhất với các kỹ năng xã hội Dự án doUNICEF tiến hành ở các nước Đông Nam Á là những nghiêncứu có tính hệ thống Trong xu thế hội nhập, mỗi quốc giaphải có những định hướng cơ bản trong giáo dục và giáo dục

Trang 8

các kỹ năng sống nhằm đào tạo thế hệ trẻ có đầy đủ phẩmchất, năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội phát triển [13].

Ngay cả các nước trên thế giới cũng đã có sự quan tâm

và đầu tư thỏa đáng công tác giáo dục kỹ năng sống nói chung

và KNGT cho công dân của họ nói riêng, đặc biệt là việc giáodục cho trẻ em những kỹ năng sống trong đó có KNGT ngay

từ những ngày đầu trên ghế nhà trường Đó cũng là mộtnhững nguyên nhân giúp cho nguồn nhân lực của các quốc giatrên thế giới đạt chất lượng cao

- Nghiên cứu trong nước

Trong lịch sử phát triển của dân tộc, của nhà nước ViệtNam, vấn đề về giao tiếp đã được coi trọng, nó được coi lànền tảng, là một trong những tiêu chuẩn, thước đo đánh giánhân cách, đạo đức của con người, là biểu hiện của nét đẹp

văn hoá “Tiền của phân giàu nghèo, giao tiếp phân tầng văn

hóa” Vấn đề giao tiếp ở nước ta là những kỹ năng cơ bản để

con người sống, chiến đấu, sản xuất, xây dựng và bảo vệ tổquốc Sau cách mạng tháng 8/1945, một số giao tiếp cũ đã bịphá vỡ cùng tập tục hà khắc, bởi nhiều nội dung mới tronggiao tiếp được hình thành trên nền của xã hội mới Và ngày

Trang 9

nay, trong nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủnghĩa, với sự cạnh tranh, những thành tựu khoa học và thôngtin bùng nổ thì vấn đề giao tiếp trong xã hội được coi là điềukiện tất yếu để khẳng định sự thành công trong cuộc sống haynói cách khác, đó là sự “cạnh tranh” để phát triển, là điều kiệntất yếu mở rộng mối quan hệ, khẳng định được thành côngtrong các lĩnh vực hoạt động của con người

Ở nước ta, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu

về vấn đề giao tiếp dưới góc độ tâm lý học Bắt đầu từ nhữngnăm 80 của thế kỷ trước, đã có nhiều bài viết và công trìnhnghiên cứu của các nhà tâm lý học Việt Nam như Phạm MinhHạc, Trần Trọng Thuỷ, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn,Nguyễn Văn Lê được công bố, in ấn, xuất bản và áp dụngtrong giáo dục, trong cuộc sống

Năm 2012, Ủy ban nhân dân quận Phú Nhuận đã tổ chức

Hội thảo khoa học “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, thực

trạng và giải pháp”, trong đó có 21 bài viết của 21 giáo viên

các trường trung học phổ thông trên địa bàn Quận đã quantâm nghiên cứu sâu về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹnăng sống; thực trạng tổ chức các hoạt động giáo dục KNGTtại các trường trung học phổ thông trên địa bàn Quận và đề

Trang 10

xuất nhiều giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị[36].

Luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục với chủ đề “Giáo dục

KNGT cho học sinh phổ thông vùng nông thôn miền núi phía Bắc” của Ngô Giang Nam (2013) - Trường Đại học Thái

Nguyên nghiên cứu sâu về thực trạng giáo dục kỹ năng sốngliên quan đến KNGT cho học sinh vùng núi phía Bắc, đồngthời đề xuất nhiều giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả nộidung này [26]

Năm 2010, tập thể tác giả do ông Nguyễn Hữu Độ,Giám đốc Sở GD-ĐT Hà Nội đứng đầu đã biên soạn tài liệugiáo dục nếp sống thanh lịch - văn minh cho học sinh Hà Nội

và đã thí điểm đối với học sinh lớp 5 qua thực hiện các KNGTứng xử trong các mối quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội.Đây là một tài liệu có tính thực tiễn trong giáo dục KNGT chohọc sinh trung học phổ thông tại Hà Nội [14]

Về vấn đề bồi dưỡng công chức cấp xã ở nước ta cũng

có nhiều tác giả đề cập:.

Tác giả Mai Quốc Chánh đã phân tích, đánh giá về chấtlượng nguồn nhân lực, trên cơ sở đó đưa ra hệ thống các giải

Trang 11

pháp có cơ sở khoa học và tính khả thi nhằm nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực ở Việt Nam Trong đó, giải pháp quantrọng hàng đầu là thông qua đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhânlực chất lượng cao [7].

Tác giả Lê Thị Ái Lâm đã luận giải về sự cần thiết củaviệc phát triển nguồn nhân lực, đồng thời khẳng định vai tròkhông thể thay thế của Giáo dục - Đào tạo trong việc pháttriển nguồn nhân lực và điều này được minh chứng qua bàihọc kinh nghiệm được rút ra từ mô hình giáo dục, đào tạo ởcác nước trong khu vực Đông nam Á [23]

Tác giả Ngô Thành Can đã đề cập những vấn đề cơ bản

và quan trọng về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trongkhu vực công thông qua tám nội dung chủ yếu như: học tập vàphát triển nhân lực; đào tạo, bồi dưỡng trong khu vực công;xác định nhu cầu đào tạo; xây dựng kế hoạch đào tạo; thựchiện kế hoạch đào tạo; đánh giá đào tạo; phương pháp đào tạo

và trang thiết bị đào tạo [6]

Luận án tiến sĩ của tác giả Lại Đức Vương (2009), Quản

lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính trong giai đoạn hiện nay Từ việc xây dựng cơ sở lý luận của

Trang 12

quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức hànhchính, luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo, bồidưỡng công chức hành chính và quản lý Nhà nước về đào tạo,bồi dưỡng công chức hành chính; trên cơ sở đó có nhữngđánh giá về những kết quả đạt, những hạn chế, bất cập vànguyên nhân của thực trạng này Trên cơ sở đó, luận án xácđịnh mục tiêu, phương hướng và đề xuất hệ thống các giảipháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng côngchức hành chính trong giai đoạn hiện nay [39].

Đề tài Khoa học cấp Bộ của tác giả Bùi Đức Kháng

(2010), Đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng đào

tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước đáp ứng yêu cầu hội nhập Sau khi phân tích tổng quan và thực trạng

công đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước,đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đề tài đề xuất hệthống giải pháp đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng

đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, v.v

Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu đề cập theo vềtừng nội dung về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã

như các tác giả: Lê Chi Mai với “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

chính quyền cơ sở - Vấn đề và giải pháp” [25]; Vũ Đức Đán

Trang 13

với “Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền

cơ sở” [12]; Thang Văn Phúc bài “Những định hướng đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà nước theo yêu cầu cải cách hành chính tổng thể (2001 - 2010)”

[28]; Hữu Phan với “Xây dựng tiêu chuẩn cụ thể đối với các

chức danh cán bộ, công chức cấp xã” [27]; Ngô Thành Can

với “Những yêu cầu cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức” [5]; Nguyễn Thị Hồng Hải với “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyển chọn và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ, công chức” [16]; Nguyễn Hữu Tám với “Nâng cao chất lượng, hiệu quả bồi dưỡng cán bộ, công chức xã theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ” [30]; Lưu

Kiếm Thanh với “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên

chức một hình thức giáo dục - đào tạo đặc thù và chuyên biệt”

[31]; Đinh Văn Tiến, Thái Vân Hà với “Đổi mới công tác

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong tình hình mới” [35], v.v

Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu ở trên dùmang tính khái quát hay phân tích chuyên sâu về một khíacạnh nào đó trong quản lý nhà nước nói chung và bồi dưỡngKNGT nói riêng đều là những công trình nghiên cứu có giá trị

Trang 14

cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn trong bồi dưỡng KNGT vớidân cho đội cũ cán bộ công chức xã Song, đến nay chưa có

đề tài hay nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu về bồi dưỡngKNGT với dân cho đội ngũ cán bộ công chức xã , đặc biệt làđối với cán bộ công chức cấp xã ở huyện miền núi như huyện

Sa Pa, tỉnh Lào Cai Vì vậy, hướng nghiên cứu của tác giảluận văn có ý nghĩa lí luận và thực tiễn

- Cán bộ công chức cấp xã

- Khái niệm

- Cán bộ

Theo quy định tại điều 61 của Luật Cán bộ, công chức22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội về CBCC xã,phường, thị trấn [29] Thì Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đâygọi chung là cấp xã) có các chức vụ sau đây: Bí thư, Phó Bí thưĐảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủtịch UBND; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bíthư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch HộiLiên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam(áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm,

Trang 15

ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủtịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Tóm lại “Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân ViệtNam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thườngtrực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứngđầu tổ chức chính trị - xã hội” [29; Điều 4]

Như vậy, đến nay khái niệm cán bộ đã được quy định rõ ràng, cụ thể, xác định rõ nội hàm, đó là những người giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị Việt Nam, từ trung ương đến địa phương

- Công chức cấp xã

Khái niệm công chức xã được quy định tại Khoản 3,

Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 như sau: “Công

chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [29; Điều 4].

Như vậy, công chức xã được tuyển dụng và phụ tráchnhững lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp

Trang 16

xã, trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việcđiều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Cơ cấu công chức cấp xã Theo Khoản 3, Điều 61 củaLuật cán bộ, công chức 2008 [29, Điều 61], công chức cấp xã

có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởngQuân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị

và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nôngnghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kếtoán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội Công chức cấp xã docấp huyện quản lý Ngoài các chức danh theo quy định trên,công chức cấp xã còn bao gồm cả cán bộ, công chức được luânchuyển, điều động, biệt phái về cấp xã

Số lượng công chức cấp xã Theo quy định tại Khoản 1,Điều 4 của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 củaChính phủ [8, Điều 4] quy định: Số lượng cán bộ, công chứccấp 13 xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã: cấp xãloại 1 không quá 25 người, cấp xã loại 2 không quá 23 người,cấp xã loại 3 không quá 21 người (bao gồm cả cán bộ, côngchức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã) Việcxếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại

Trang 17

Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ

về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn

Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắnvới cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chứcdanh Những người đủ các tiêu chí chung của CBCC mà đượctuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhànước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý, cấp

xã thông qua quy chế tuyển dụng (thi tuyển, xét tuyển), bổnhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định làcông chức Công chức là những người được tuyển dụng lâudài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạnhành chính nhất định) được cơ quan có thẩm quyền trao cho vàchịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việcthực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao Việc quy định côngchức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liênthông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chínhtrị - xã hội trong hệ thống chính trị Đây là điểm đặc thù củaViệt Nam, rất khác so với một số nước trên thế giới nhưng lạihoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ởViệt Nam

- Đặc điểm, vai trò của cán bộ công chức cấp xã

Trang 18

- Về đặc điểm công chức cấp xã

Công chức cấp xã (xã, phường, thị trấn), đặc biệt là tại

xã thường là người được tuyển chọn từ nguồn tại chỗ của địaphương, sinh sống và có quan hệ gắn bó với cộng đồng dân

cư nơi làm việc

Họ là đội ngũ gần dân nhất, là cầu nối quan trọng chínhquyền với nhân dân Bản thân công chức cấp xã là ngườithường trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các công việc hằngngày liên quan đến đời sống của nhân dân Họ là người truyềntải chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luậtcủa Nhà nước đến với nhân dân và ngược lại quá trình tiếpxúc với nhân dân làm cho công chức cấp xã hiểu đầy đủ vềtâm tư, nguyện vọng của nhân dân để báo lên cấp trên

Thường thì mỗi chức danh công chức cấp xã phải kiêmnhiệm nhiều công việc, nhiều chuyên ngành đào tạo khácnhau: Địa chính – xây dựng; Văn phòng – thống kê v.v

Từ những đặc thù của công chức cấp xã như đã nêu trên,đòi hỏi về mặt đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xãphải phù hợp nhằm xây dựng đội ngũ công chức cấp xã đápứng với yêu cầu công việc

Trang 19

Vai trò CBCC chính quyền cấp xã có một ví trí vô cùngquan trọng trong hoạt động quản lý điều hành ở cơ sở CBCCchính quyền cấp xã là người đại diện cho Nhà nước thực hiệnchức năng quản lý nhà nước theo đúng chính sách và thẩmquyền được giao CBCC chính quyền cấp xã hàng ngày cọ sátvới thực tiễn rất phức tạp thuộc nhiều lĩnh vực nên họ cầnphải có bản lĩnh, có bề dày kinh nghiệm và hiểu biết Song họlại ít được đào tạo, bồi dưỡng lý luận, nghiệp vụ và thông tin

về chính sách pháp luật Việc chăm lo đời sống vật chất, tinhthần đối với họ cũng chưa tương xứng Thực tế này là mộttrong những nguyên nhân làm hạn chế năng lực trình độ quản

lý điều hành của CBCC chính quyền ở cơ sở

Ngoài những vị trí, vai trò trên CBCC chính quyền cấp xãcòn có vị trí, vai trò thể hiện những phương diện sau đây:

CBCC chính quyền cấp xã vừa là người đại diện Nhànước, vừa là người đại diện cộng đồng, vừa là người cùnglàng, cùng họ, vừa là người dân, là người gần gũi dân, sát dânnhất cho nên họ là người trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyệnvọng tình cảm của dân để phản ánh lên các cấp chính quyền

để các cấp chính quyền đặt ra chính sách đúng Thực tế chothấy, ở đâu mà CBCC chính quyền cấp xã gần dân, hiểu dân,

Trang 20

nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của dân thì ở đó các cấpchính quyền sẽ đề ra chính sách đúng, ngược lại ở đâu mà cán

bộ chính quyền cấp xã quan liêu, hách dịch, cửa quyền thì sẽ

đề ra chính sách không phù hợp

CBCC chính quyền cấp xã là người trực tiếp tuyêntruyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và pháp luậtcủa Nhà nước cho nhân dân và vận động nhân dân thực hiệntốt đường lối, chính sách, pháp luật đó trong cuộc sống Làngười tiên phong gương mẫu trong việc thực hiện chính sáchpháp luật và xây dựng gia đình văn hóa ở khu dân cư

CBCC chính quyền cấp xã là người trực tiếp giải quyếtnhững yêu cầu, những thắc mắc về lợi ích chính đáng củanhân dân

CBCC chính quyền cấp xã là người am hiểu các phongtục tập quán, truyền thống dân tộc của địa phương, họ là ngườitập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở, là người pháthuy tính tự quản của cộng đồng dân cư

Tóm lại, CBCC chính quyền cấp xã là người có vị trí,

vai trò quan trọng trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh

Trang 21

tế - xã hội ở cơ sở, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạođiều kiện phát huy tính tự quản trong cộng đồng dân cư.

- Những tiêu chuẩn của cán bộ công chức cấp xã

- Tiêu chuẩn chung:

Công chức cấp xã phải đáp ứng những tiêu chuẩn chungquy định tại điều 3 Nghị định 112/2011/NĐ - CP ngày05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, thị trấn đó là:Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhànước; Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phươngthực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách và pháp luật của Nhà nước; Có trình độ văn hóa và trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị tríviệc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụđược giao; Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán củacộng đồng dân cư trên địa bàn công tác; Có khả năng phốihợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vàlực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốcphòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dânsự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ

Trang 22

Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân,tài sản của Nhà nước (Đối với công chức Chỉ huy trưởngquân sự cấp xã và Trưởng công an xã).

- Những yêu cầu cụ thể của công chức cấp xã:

Thực hiện Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày30/10/2012 của Bộ Nội Vụ hướng dẫn về chức trách, tiêuchuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, thị trấn;

Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số43/2013/QĐ-UBND ngày 10/10/2013 quy định tiêu chuẩn,chức trách, nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức xã, phường,thị trấn trên địa bàn tỉnh Lào Cai thì công chức cấp xã nóichung, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói riêngngoài những tiêu chuẩn chung đã nói ở trên, cần phải cónhững tiêu chuẩn cụ thể sau:

+ Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên;

+ Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông;

+ Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp Trung cấp trở lêncủa ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chứcdanh công chức đảm nhiệm;

Trang 23

+ Trình độ tin học: có chứng chỉ tin học văn phòng trình

độ A trở lên;

+ Tiếng dân tộc thiểu số: Phải biết giao tiếp thành thạotiếng DTTS đối địa bàn công tác cần sử dụng tiếng DTTStrong thực thi công vụ Nếu khi tuyển dụng chưa đảm bảo tiêuchuẩn này thì chậm nhất sau 36 tháng sau khi tuyển dụng phảihoàn thành;

+ Quản lý hành chính Nhà nước và trình độ chính trị:Chậm nhất 36 tháng sau khi tuyển dụng phải được đào tạo,bồi dưỡng theo chương trình đối với chức danh công chức cấp

xã hiện đang đảm nhiệm;

Bên cạnh đó, UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định

số 3673/QĐ-UBND ngày 18/8/2017 về phê duyệt Đề án vị tríviệc làm và cơ cấu ngạch công chức đối với cán bộ, côngchức cấp xã - Tỉnh Lào Cai thì yêu cầu về trình độ chuyênmôn: Đối với xã vùng I có trình độ từ Đại học trở lên (trừchức danh Công an xã, Quân sự xã có trình độ từ Cao đẳngtrở lên), xã loại II, III có trình độ chuyên môn từ Cao đẳng trởlên (trừ chức danh Công an, Quân sự, Tư pháp –Hộ tịch) Nhưvậy, để thực hiện tốt công việc của mình, công chức cấp xã

Trang 24

nhất thiết phải không ngừng học tập rèn luyện và tu dưỡng vềnhiều mặt.

- KNGT, ứng xử với người dân của cán bộ công chức cấp xã

- Khái niệm về KNGT, ứng xử với người dân

- Giao tiếp, ứng xử

Hàng loạt nghiên cứu về vấn đề GT, ứng xử đã đưa ranhững cách hiểu khác nhau về GT, ít nhất có 2 hướng quanniệm về GT: một hướng nghiêng về nghĩa tâm lí học và ngônngữ học, hướng kia theo nghĩa rộng và nghiêng về thông tin,truyền thông, giao dịch và quan hệ xã hội thực tế

Theo hướng thứ nhất, có những định nghĩa như sau:

“GT là sự tiếp xúc tâm lí, tạo nên giữa hai hay nhiều

người với nhau, chứa đựng nội dung xã hội - lịch sử nhất định,

có chức năng tác động, hỗ trợ lẫn nhau: thông báo, điều khiển, nhận thức, hành động và tình cảm nhằm thực hiện mục đích nhất định của một hoạt động nhất định” [2, tr 169].

“GT là sự tiếp xúc tâm lí giữa người và người, thông

qua đó con người trao đổi với nhau về: thông tin, cảm xúc, tri

Trang 25

giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau” [40, tr

48]

Theo hướng thứ hai có một số định nghĩa như sau:

“GT là sự tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục

đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống kinh nghiệm, kĩ năng,

kĩ xảo nghề nghiệp” [17, tr11].

“GT là bất kì sự tương tác nào giữa người này với người

khác, bao gồm việc chia sẻ thông tin, ý tưởng và tình cảm với nhau Đó là quá trình hai kênh: tiếp nhận những phản ứng của người khác đáp lại tác động của mình, và điều chỉnh suy nghĩ, cảm nhận của mình” [41, tr 39].

Những định nghĩa trên gần như phản ánh đầy đủ nhữngđặc điểm và thành phần của GT từ nhiều góc độ khác nhau,mặc dù những yếu tố này còn tản mạn, chưa có hệ thống vàchưa khái quát Sự tương tác, chia sẻ, cộng tác và hợp táccũng là hình thức tiến hành GT Các ngôn ngữ chung ở đâyđược hiểu theo nghĩa rộng, từ ngôn ngữ chính thức như lờinói, chữ viết, kí tự, kí hiệu… cho đến cử chỉ, vận động cơ thể,điệu bộ và bất cứ phương tiện gì thỏa mãn nhu cầu GT

Ngày đăng: 31/07/2019, 13:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w