1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN về tổ CHỨC GIÁO dục kỹ NĂNG tự PHỤC vụ CHO TRẺ mẫu GIÁO dựa vào CỘNG ĐỒNG

67 2,7K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 53,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng theo tác giả, để hình thành được những kỹnăng kỹ xảo, thói quen lao động, kỹ năng tự phục vụ cho trẻthì công tác rèn luyện cần phải tiến hành thường xuyên, tỉ mỉtheo từng bước cụ th

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC GIÁO DỤC

KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ MẪU

GIÁO DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

Trang 2

- Tổng quan nghiên cứu vấn đề

- Trên thế giới

Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát, đại diện chohướng nghiên cứu này có P.I.Galperin, V.A.Crutexki,P.V.Petropxki, trong các công trình nghiên cứu chủ yếu đisâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyếthình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn

Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể, các nhà nghiêncứu đã nghiên cứu kỹ năng ở các lĩnh vực hoạt động khácnhau như kỹ năng lao động gắn với những tên tuổi các nhàtâm lý - giáo dục như V.V.Tseburseva, kỹ năng học tậpgắn với G.X.Cochiuc, N.A.Menchinxcaia, kỹ năng hoạt động

sư phạm gắn với tên tuổi X.I.Kixegops

Kỹ năng sống được đề cập trong các chương trình hànhđộng của UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dụccủa Liên hiệp quốc), WHO (Tổ chức y tế thế giới), UNICEF(Quỹ Nhi đồng Liên hiệp Quốc) cũng như trong các chươngtrình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước

ở hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ

Trang 3

thống các kỹ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dungcác kỹ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành vàphát triển hệ thống các kỹ năng đó [37]

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo là mộttrong những vấn đề đã được các nhà tâm lý, nhà giáo dụcquan tâm nghiên cứu Mặc dù có khác nhau về các biện pháp,phương pháp khác nhau từ các góc độ nghiên cứu song họ đềucho rằng chính hai mặt năng lực và phẩm chất là hai mặt thenchốt mà giáo dục cần tác động đến nhằm tạo ra những conngười toàn diện

Tác giả Côvaliôp trong công trình nghiên cứu của mình

đã rất chú trọng đến việc giáo dục lao động tự phục vụ cho

trẻ Tác giả cho rằng: “Thói quen là bản tính thứ hai của con người Khi có thói quen lao động, nếu không làm việc người

ta không chịu được v.v ” Như vậy theo Côvaliôp một khi

đã có thói quen lao động thì con người sẽ chủ động thực hiệncông việc, nếu như không thực hiện thường xuyên thì họ sẽcảm thấy khó chịu, buồn bực Vì vậy, đối với trẻ em một khicác kỹ năng tự phục vụ đã hình thành thì cần được thực hiệnmột cách thường xuyên, liên tục để chúng trở thành nhu cầucủa trẻ, nếu không các em sẽ thấy khó chịu Tác giả cũng

Trang 4

nhấn mạnh rằng việc trẻ chủ động thực hiện các công việc tựphục vụ sẽ mang lại cho chúng niềm vui, niềm tự hào đó làđộng lực thôi thúc các em thực hiện lao động tự phục vụ Vìvậy tác giả cho rằng giáo viên cần tạo được niềm vui, sự hứngthú cho trẻ trong quá trình trẻ thực hiện hoạt động tự phục vụ,điều đó mang lại hiệu quả cao trong việc giáo dục lao động tựphục vụ cho trẻ

Phẩm chất đạo đức hình thành ở trẻ em trước hết là trongquá trình lao động Phẩm chất ấy thể hiện ở sự ham thích vàthói quen lao động phục vụ bản thân, gia đình, nhà trường.Như vậy sự thích thú và thói quen, kỹ năng lao động tự phục

vụ bản thân chính là một biểu hiện của phẩm chất đạo đức củatrẻ Ông cho rằng nên cho trẻ em làm việc dễ dàng nhưng cóích từ khi các em còn nhỏ Việc thực hiện các kỹ năng tự phục

vụ như tự rửa tay, rửa mặt, đánh răng, chải tóc là nhữngcông việc dễ dàng vừa sức trẻ mà vô cùng có ích đối với sức

khỏe và vẻ đẹp con người Dựa trên quan điểm: “Kiên quyết yêu cầu phải để trẻ em tự phục vụ từ khi còn nhỏ, nếu không các em sẽ phát triển thói ăn bám xấu xa„ của Crupxkaia, tác giả cho rằng: “Con cái chúng ta phải hưởng tuổi thơ hạnh phúc, nhưng tuyệt nhiên không có nghĩa là tuổi thơ ấy phải

Trang 5

nhàn rỗi Trẻ em sẽ không thấy hạnh phúc khi bố mẹ cứ phục

vụ các em mãi như cậu ấm cô chiêu” Đồng thời tác giả đưa

ra nguyên tắc vô cùng đơn giản và quan trọng để rèn cho trẻ

thói quen vệ sinh sạch sẽ đó là: Không làm thay con cái những việc mà các em có thể tự làm được, ngay cả với những trẻ bé nhất, tùy theo khả năng, trẻ em phải tự ăn uống, rửa mặt, đánh răng.

Để trẻ yêu thích lao động, thì cần phải giúp trẻ tiếp cậnvới lao động, mức độ thể hiện kỹ năng tự phục vụ ở trẻ phụthuộc vào việc tham gia vào hoạt động lao động trong môitrường xung quanh của trẻ

Tác giả Nhechaeva lại đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa củaviệc giáo dục, rèn luyện thói quen lao động tự phục vụ đối với

sự hình thành nhân cách trẻ mẫu giáo Tác giả cho rằng cầnphải giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ngay từ lứa tuổi mẫugiáo để trẻ có nhu cầu thực hiện hành động tự phục vụ mộtcách tự giác Cũng theo tác giả, để hình thành được những kỹnăng kỹ xảo, thói quen lao động, kỹ năng tự phục vụ cho trẻthì công tác rèn luyện cần phải tiến hành thường xuyên, tỉ mỉtheo từng bước cụ thể trong một thời gian liên tục Nhechaevacũng đề xuất một số phương pháp như: Làm mẫu từng thao

Trang 6

tác, giải thích bằng lời, nêu gương, tập luyện hàng ngày, sửdụng trò chơi, sử dụng trực quan, để dạy trẻ trong giờ học,trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày Theo tác giả giáoviên phải củng cố thói quen cho trẻ bằng cách nhắc nhởthường xuyên và bằng sự rèn luyện hàng ngày của trẻ

A.X.Macarenco và N.K.Krupcaia nhà giáo dục lớnngười Nga, rất quan tâm tới việc giáo dục trẻ thông qua laođộng, giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, nguyên tắc lýtưởng là phải làm thế nào cho bản thân lao động có tính hấpdẫn học sinh và kích thích họ cố gắng, đạt được những kếtquả tốt đẹp Theo hai tác giả trong lĩnh vực lao động khôngdùng khen thưởng và trách phạt, tác giả cho rằng: Nhiệm vụlao động và sự hoàn thành nhiệm vụ đó đã khiến cho nhiđồng vui sướng thoải mái rồi Khi thừa nhận công tác của các

em là tốt thì đó phải là cái phần thưởng rất quý đối với laođộng của các em Đối với trẻ mầm non cần phải giáo dục trẻthói quen sinh hoạt, thói quen văn hóa, ý thức tự lập, khảnăng tự kiềm chế, tinh thần vượt khó, ý thức trách nhiệm đốivới bản thân và mọi người Tác giả quan tâm trước tiên tớigiáo dục và phát triển kỹ năng tự phục vụ ở trẻ thông qua tròchơi, chính trò chơi phát triển rất nhiều kỹ năng ở trẻ

Trang 7

Hiện nay xu hướng giáo dục mầm non trên thế giới đặcbiệt là Mỹ và Nhật Bản rất quan tâm đến giáo dục kỹ năng tựphục vụ cho trẻ Họ cho rằng thiếu kỹ năng tự phục vụ sẽ dẫnđến hệ lụy trẻ lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham giavào các hoạt động tập thể, các nhà giáo dục cho rằng cần giáodục trẻ kỹ năng tự phục vụ ngay khi trẻ được một tuổi rưỡi,việc nắm bắt các kỹ năng tự phục vụ giúp trẻ tăng cường tínhđộc lập và cảm giác về sự thành công, không chỉ có lợi cho sựphát triển của trẻ mà hữu ích cho cả người lớn

- Ở Việt Nam

Khái niệm “Kỹ năng sống” thực sự được hiểu một cách đúng đắn và chặt chẽ sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF tổ chức năm 2003 tại Hà Nội Từ đó

người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn

về kỹ năng sống

Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu kỹ năng tiếp cận theohai hướng: Hướng thứ nhất là kỹ năng lao động, xét về mặt kỹthuật của thao tác, hành động hay hoạt động gắn với nhữngtên tuổi các nhà tâm lý - giáo dục như Trần Trọng Thuỷ, HàThị Đức…

Trang 8

Thứ hai là kỹ năng hoạt động sư phạm, kỹ năng học tậpxét về mặt năng lực của con người gắn với tên tuổi các nhàtâm lý - giáo dục như Nguyễn Như An, Nguyễn Văn Hộ, NgôCông Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thị Tính, TrầnQuốc Thành…

Việt Nam đã thực hiện đổi mới chương trình giáo dụcmầm non Chương trình mầm non mới hướng đến giáo dục

kỹ năng sống tích hợp với các hoạt động khác Giáo dục laođộng tự phục vụ, hình thành kỹ năng, thói quen tự chămsóc bản thân cho trẻ mầm non đã được các nhà nghiên cứuquan tâm khai thác như: Nguyễn Bát Can, Nguyễn Oánh,Châu Thị Hạnh, Hoàng Hồi, Phạm Năng Cường, Phạm ĐứcKhâm, Đinh Kỷ, Phan Sỹ Kỷ, Lâm Đình Liêm, NguyễnVăn Khoa đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục lao động tựphục vụ đối với giáo dục toàn diện cho trẻ Các tác giả chorằng phương pháp chủ yếu là giảng giải kết hợp trực quan,luyện tập, thực hành chủ yếu dưới hình thức tiết học

Tác giả Nguyễn Thị Phong, Trần Thanh Tùng trongcông trình nghiên cứu của mình hai tác giả cho rằng để hìnhthành các kỹ năng như lau mặt, rửa tay, chải tóc, mặc quầnáo thì cô giáo phải dạy từ động tác đơn giản đến phức tạp,

Trang 9

phải thường xuyên kiểm tra, củng cố, tạo điều kiện cho trẻđược tập luyện thường xuyên Hai tác giả đưa ra yêu cầu vàtrình tự thực hiện từng kỹ năng tự phục vụ, vệ sinh thân thểnhư: rửa mặt, rửa tay, vệ sinh tóc, móng chi tiết, cụ thể

Tác giả Nguyễn Thị Thư nêu lên sự cần thiết của việcgiáo dục và rèn luyện cho trẻ những kỹ năng thói quen tốttrong cuộc sống bao gồm cả kỹ năng tự phục vụ Theo tác giảviệc giáo dục kỹ năng cần tiến hành mọi lúc mọi nơi, tận dụng

cơ hội trong hoạt động hàng ngày để giáo dục trẻ Tác giả chỉ

ra rằng kết quả hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ liênquan đến vai trò của truyền thống gia đình, vai trò của cá nhântrẻ và tính hứng thú của chính quá trình giáo dục [32]

Tác giả Trần Thị Trọng đưa ra hệ thống các phươngpháp nhằm xây dựng kỹ năng và hình thành hành vi cho trẻnhư nhóm phương pháp trực quan (làm mẫu, phân tích độngtác); phương pháp chỉ dẫn; nhóm phương pháp khích lệ nêugương (nêu gương, dùng tình huống nhận xét) Theo tác giả,giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ gồm nhiều khâu: Làmcho trẻ nắm được các yêu cầu, rèn kỹ năng thực hiện thao tác,nắm được trình tự thực hiện trong quá trình giáo dục, phải

Trang 10

sử dụng nhiều phương pháp và tiến hành trong mọi hoạt độngcủa trẻ như vui chơi, học tập [35]

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc nghiên cứu thực trạng giáodục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo thông qua tổ chức hoạtđộng vui chơi và đề xuất một số giải pháp về giáo dục kỹnăng sống cho trẻ mẫu giáo [20]

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ được nhiều nhànghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Các tác giả đã chỉ

ra tầm quan trọng, vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục kỹ năng

tự phục vụ đối với sự phát triển của trẻ Một số công trình đãnghiên cứu các biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ thôngqua các hình thức khác nhau như lao động, vui chơi, học tập,ngày lễ, ngày hội Trong luận văn tác giả tiếp cận việc tổ chứcchế độ sinh hoạt hàng ngày để xây dựng các biện pháp tổchức giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo dựa vàocộng đồng ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

- Một số khái niệm liên quan đến đề tài

- Giáo dục

Trang 11

Theo Tác giả Nguyễn Văn Hộ, Tác giả Hà Thị Đức:

“Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình toàn vẹn nhằm hình thành, phát triển nhân cách con người, được tổ chức một cách có mục đích có kế hoạch thông qua các hoạt động và quan hệ giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục nhằm truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy trong lịch sử”[14, tr1].“Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình xã hội được tổ chức có mục đích, có

kế hoạch; trong đó dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, học sinh hình thành thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động

cơ, tình cảm, thái độ, và các hành vi thói quen đạo đức phù hợp với các giá trị chuẩn mực xã hội”[14, tr12].

Theo Tác giả Phạm Viết Vượng:“Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các đối tượng giáo dục nhằm hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách toàn diện”.“Giáo dục (theo nghĩa hẹp) được hiểu

là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ ý thức, thái độ và hành vi ứng xử với cộng đồng xã hội” [39, tr3].

Như vậy, giáo dục là quá trình tác động của nhà giáo dụclên các đối tượng giáo dục, nhằm hình thành cho đối tượng

Trang 12

giáo dục những phẩm chất nhân cách về các mặt trí tuệ, đạođức, thẩm mĩ, thể chất, kỹ năng lao động

- Kỹ năng

Trong cuốn Tâm lý học xuất bản năm 1980,

V.A.Kruteski cho rằng: “Kỹ năng là các phương thức thực hiện hoạt động - cái mà con người lĩnh hội được” Để làm rõ

khái niệm kỹ năng, tác giả đã phân tích kỹ vai trò của việcluyện tập trong thực tiễn, trong hoạt động, trong quá trìnhhình thành kỹ năng

Tác giả viết: “Trong một số trường hợp thì kỹ năng là phương thức sử dụng các tri thức, con người cần phải áp dụng và sử dụng chúng vào trong cuộc sống, vào trong thực tiễn Trong quá trình luyện tập, trong hoạt động thực hành kỹ năng trở nên được hoàn thiện trong mối quan hệ đó và hoạt động của con người cũng trở nên được hoàn hảo hơn trước”

A.G.Kovalov trong cuốn “Tâm lý học cá nhân” thì nhấn mạnh “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” Tác giả

không đề cập đến kết quả của hành động Theo tác giả, kếtquả hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan

Trang 13

trọng hơn cả là năng lực của con người chứ không đơn giản

là cứ nắm vững cách thức hành động thì đem lại kết quảtương ứng [1]

Theo L.Đ.Lêvitôv nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định”[19] Theo tác giả, người có kỹ năng hành động là người

phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hànhđộng nhằm thực hiện hành động có kết quả Tác giả còn nóithêm, con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hànhđộng mà phải vận dụng vào thực tế

Theo tác giả A.U.Pêtrôpxki: “Kỹ năng là sự vận dụng tri thức đã có để lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra Theo tác giả trên cơ sở

các tri thức thu nhận được đối tượng vận dụng những tri thức

đó theo các phương thức để đạt mục đích, ông nhấn mạnh trithức và sự vận dụng tri thức để đạt kết quả

Quan điểm của K.K.Platônôp: “Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện một hoạt động bất kỳ nào đó hay các

Trang 14

hành động trên cơ sở của kinh nghiệm cũ” Tác giả quan niệm

người có kỹ năng là người có phẩm chất thực hiện hoạt độngdựa trên kinh nghiệm đã có

Khi bàn về kỹ năng, tác giả Trần Trọng Thủy cũng cho

rằng: “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động con người nắm được cách thức hành động tức là kỹ thuật hành động có kỹ năng” [36, tr79]

Theo tác giả Vũ Dũng thì: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [9,

tr 9]

Mặc dù có sự nhấn mạnh ở các mặt khác nhau trongquan niệm về kỹ năng, song các nhà khoa học đều đã có sựthống nhất ở những vấn vấn đề sau:

Thứ nhất các tác giả đều cho rằng thực chất của khái

niệm kỹ năng là sự lựa chọn trong tình huống cụ thể cácphương thức đúng đắn của hành động để đạt tới mục đích đặt

ra, điều đó chỉ có thể làm được khi thực hiện hợp lý các thaotác trí tuệ tương ứng Mọi kỹ năng xét về mặt cấu trúc, đềubao gồm các thành phần:

Trang 15

Nhìn chung các tác giả đều cho rằng tri thức là cơ sở, lànền tảng để hình thành kỹ năng (Tri thức ở đây bao gồm trithức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hànhđộng Kỹ năng là sự chuyển hoá tri thức thành năng lực hànhđộng của cá nhân)

Mục đích hình thành kỹ năng

Các thao tác tương ứng cùng với những phương tiệnthực hiện các thao tác

Thứ hai kỹ năng bao giờ cũng gắn với một hành động cụ

thể nào đó và được xem như một đặc điểm của hành động.biểu hiện mức độ đúng đắn và thành thục của hành động Kỹnăng không có đối tượng riêng đối tượng của kỹ năng là đốitượng của hành động Không có kỹ năng chung chung hay nóicách khác, kỹ năng không phải là một hiện tượng tự thân, kỹnăng chỉ liên quan đến hành động nhưng về nguyên tắc thì lạikhác hành động

Thứ ba xét về kết quả hình thành, để đánh giá một cá

nhân có kỹ năng nào đó cần dựa vào các tiêu chuẩn cá nhânphải hiểu rõ mục đích của hành động, các yếu tố để triển khaihành động biết triển khai hành động đúng và thành thục trong

Trang 16

thực tiễn, một hành động còn nhiều sai sót, tốn nhiều thờigian, sức lực chưa thể coi là hành động có kỹ năng

Thứ tư để hình thành được hành động có kỹ năng bao

giờ cá nhân cũng phải triển khai hành động ở dạng khái quátnhất, đầy đủ nhất đồng thời tìm ra được các quy tắc quy luậtchung có thể triển khai ở các dạng tương tự

Trên những quan điểm của những học giả về kỹ năng

chúng tôi hiểu: Kỹ năng là sự thực hiện có hiệu quả một hành động hay một hoạt động nào đó đạt được mục đích đề ra

- Kỹ năng tự phục vụ

Lao động tự phục vụ là hình thức lao động nhằm thỏamãn nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày nhằm chăm sóc chobản thân như tắm rửa, cởi quần áo, thu dọn giường ngủ, chảiđầu, đi giầy dép [2, tr204]

Theo Nguyễn Thị Hòa kỹ năng tự phục vụ là khả nănghằng ngày của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt cánhân, chăm sóc cho bản thân như tắm rửa, ăn uống…[12].Tác giả cho rằng người có kỹ năng tự phục vụ là người có

Trang 17

nhận thức và kỹ năng trong các hoạt động tự phục vụ bảnthân

Theo Lê Thu Hương kỹ năng tự phục vụ là khả năngchuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào

đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc phục

vụ cho chính mình như tự nấu ăn, tự giặt quần áo [15]

Có thể hiểu: Kỹ năng tự phục vụ là hành động của một

cá nhân để giải quyết tình huống hay công việc phục vụ cho chính mình, như tự nấu ăn, tự giặt quần áo, tự xúc ăn, tự rửa mặt… mà không cần sự giúp đỡ của người khác

- Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ Mẫu giáo

Khi xem giáo dục kỹ năng tự phục vụ là một hoạt động,dựa trên khái niệm về giáo dục có thể hiểu kỹ năng tự phục vụnhư sau:

Nghĩa rộng: “Giáo dục kỹ năng tự phục vụ là quá trình tác động của giáo viên tới trẻ nhằm giáo dục cho trẻ những cách thức tiến hành công việc hàng ngày để phục vụ bản thân trẻ như ăn uống, vệ sinh cá nhân… để giáo dục cho trẻ thói

Trang 18

quen tốt, và khả năng tự chủ, chủ động trong công việc” [11 tr

6]

Khái niệm tương tự: “Giáo dục kỹ năng tự phục vụ là quá trình toàn vẹn, được tổ chức có mục đích có kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa giáo viên và trẻ nhằm truyền đạt cho trẻ những tri thức, cách thức và trẻ học được những kinh nghiệm xã hội của loài người từ giáo viên ở lớp”[11 tr6 ]

Nghĩa hẹp: “Giáo dục kỹ năng tự phục vụ được hiểu là quá trình tác động của giáo viên tới trẻ nhằm để giáo dục cho trẻ những kiến thức, kỹ năng và hành vi ứng xử phù hợp với công việc tự phục vụ bản thân” [11 tr 6]

Tác giả Nguyễn Thị Hòa: “Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ có thể hiểu là quá trình sử dụng các biện pháp khác nhau một cách khoa học nhằm tác động tới trẻ, từ đó hình thành ở trẻ kỹ năng tốt giúp trẻ biết tự chăm sóc bản thân, đặc biệt là tự giác chủ động trong công việc”[12 tr 10]

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ là một bộ phận quan trọngcủa giáo dục lao động, nhằm hình thành những phẩm chất củangười lao động mới như yêu lao động, quý trọng người lao

Trang 19

động, giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo giúp trẻnắm được các kỹ năng đơn giản phục vụ cho sinh hoạt vàchuẩn bị sau này cho trẻ tham gia vào đời sống lao động

Có thể hiểu: “Giáo dục kỹ năng tự phục vụ là quá trình,

do các nhà giáo dục tổ chức nhằm phát triển ở cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó, được sử dụng để giải quyết tình huống thực hiện công việc tự phục vụ cho chính bản thân của đối tượng được giáo dục”

Kỹ năng tự phục vụ ở trẻ Mẫu giáo là hành động của trẻ

để giải quyết tình huống hay công việc phục vụ cho chính mình như tự giặt quần áo, tự xúc ăn, tự rửa mặt… mà không cần sự giúp đỡ của người khác

Trang 20

Cộng đồng là một nhóm người sống trong một môitrường có những điểm tương đối giống nhau có những mốiquan hệ nhất định với nhau (Korten, 1987).

Theo tác giả Tô Duy Hợp: Cộng đồng là một thực thể xãhội có cơ cấu tổ chức, là một nhóm người cùng chia sẻ vàchịu sự ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung đượcthiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên

Tóm lại, dù được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau.Tuy nhiên, khi nhắc đến cộng đồng thường bao gồm một sốđặc điểm cơ bản sau:

- Đặc điểm kinh tế, xã hội

- Huyết thống

- Mối quan tâm, quan điểm

- Môi trường nhân văn

- Giáo dục kỹ năng tự phục cho trẻ mầm non dựa vào cộng đồng

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non dựa vào cộng đồng là phát huy vai trò chủ đạo của nhà trường trong

Trang 21

sự phối hợp với các các lực lượng xã hội và gia đình nhằm khai thác thế mạnh của các chủ thể vào hoạt động giáo dục

kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non

Có 3 nhân tố chính trong việc giáo dục đạo đức và phẩmchất kỹ năng phục vụ cho trẻ đó là: gia đình, nhà trường và xãhội Mỗi nhân tố đều mang một vai trò riêng nhất định:

+ Gia đình : là tế bào của xã hội, là nền tảng của mỗi quốcgia và là chỗ dựa vững chắc về mặt tinh thần, đồng thời cũng

là kim chỉ nam để tránh những nhận thức lệch lạc từ phía trẻ + Nhà trường : là môi trường giáo dục chuyên nghiệp, không chỉ phát triển về kiến thức mà còn phải truyền tải cho trẻ những giá trị chuẩn mực của xã hội để các em trở thành những con người trí thức thật sự cố đời sống tinh thần phong phú bên cạnh cuộc sống gia đình

+ Xã hội : là môi trường thực tế, giúp trẻ hoàn thiện một

số kĩ năng cuộc sống, chi phối một phần rất lớn trong suy nghĩ và hành động của học sinh

Vì vậy, sự phối hợp của 3 nhân tố trên là việc làm hết sức cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục nhân cách ở họcsinh Giống như chiếc kiềng 3 chân, đơn giản, vững chắc và không thể thiếu bất kì chân nào

Trang 22

- Một số vấn đề cơ bản về giáo dục kỹ năng tự phục

vụ cho trẻ mẫu giáo.

-Một số đặc điểm tâm lý của Trẻ mẫu giáo

Đặc điểm tâm lý trẻ mầm non thường có xu hướng muốnđộc lập và trưởng thành Trẻ thích khám phá và rất tò mò vềthế giới xung quanh, bắt đầu hòa mình vào môi trường tậpthể – môi trường lớp học

Trẻ mẫu giáo bé là trẻ độ tuổi 3- 4 tuổi Ở lứa tuổi này,

cơ thể trẻ tăng trưởng và phát triển mạnh [14]

Các cơ quan, hệ cơ quan đang phát triển, hệ cơ phát

triển mạnh nhưng không đồng đều, vì vậy các vận động thô ởtrẻ tốt hơn các vận động tinh tế và khéo léo Hệ xương ở trẻmẫu giáo bé đang cốt hóa nên còn mềm, tính đàn hồi cao Bộmáy tiêu hoá của trẻ còn yếu, dễ bị bệnh khó tiêu do ăn quánhiều, ăn quá nóng hay quá lạnh hoặc phản ứng khi ăn phảicác thức ăn lạ Trọng lượng tim lớn gấp 4 - 5 lần lúc mới sinh,nhịp đập chậm hơn so với lứa tuổi trước nhưng vẫn nhanh sovới người lớn Tốc độ phát triển nhanh nhưng dung lượng,cùng nhịp đập còn nhỏ và yếu, cho nên không thể tham giacác hoạt động trong thời gian dài với cường độ cao Hệ hô hấp

Trang 23

của trẻ mẫu giáo bé còn non yếu trẻ thở không sâu bằng ngườilớn, nhịp hô hấp nhiều hơn so với người lớn Não của trẻ pháttriển nhanh, các chức năng của não phát triển, kết cấu thầnkinh của não có xu thế sớm trưởng thành Song trẻ ở tuổi này

do công năng hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh chưa cânbằng nên nếu chỉ làm một việc gì đơn thuần kéo dài dễ gâymệt mỏi Đôi khi trẻ chơi vui quá không kiềm chế được, mảichơi quên cả ăn, ngủ Đó là biểu hiện năng lực tự kiềm chếcòn kém, vì thế không nên để trẻ kéo dài thời gian hưng phấnkhi vui chơi quá nhiều

Về khả năng vận động, các cơ bắp ở trẻ mẫu giáo bé có

thể nâng đỡ được trọng lượng của cơ thể Trẻ ở tuổi này cóthể chạy, nhảy, biết dùng đôi tay để nắm chặt đồ vật, biết leotrèo, đôi chân chạy nhảy liên tục Các ngón tay cử động chậmhơn so với sự vận động toàn thân

Ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lý đặc trưng củacon người được hình thành và phát triển mạnh, đặc biệt làhoạt động nhận thức của trẻ [33]

Tư duy, trí nhớ, tưởng tượng của trẻ phát triển, trong

hoạt động tư duy của trẻ mẫu giáo thường diễn ra hai kiểu tư

Trang 24

duy đó là tư duy trực quan hành động và tư duy trực quanhình tượng Một bước ngoặt rất quan trọng trong hình thành

tư duy ở trẻ mẫu giáo bé, là việc chuyển từ tư duy trực quanhành động sang tư duy trực quan hình tượng, tuy nhiên tư duycủa trẻ mẫu giáo bé còn mang tính trực giác, chủ quan vàthiếu chính xác Trí nhớ không chủ định tiếp tục phát triển vàchiếm ưu thế, chú ý có chủ định bắt đầu xuất hiện Tưởngtượng của trẻ mẫu giáo bé phong phú và sáng tạo hơn so vớilứa tuổi nhà trẻ Ở trẻ mẫu giáo bé, tưởng tượng ban đầu cònhạn chế, sự tái hiện kiến thức đã học mang tính thụ động.Phạm vi tưởng tượng của trẻ hẹp, chỉ khi tham gia vào hoạtđộng chủ đạo, trẻ mới có điều kiện phát triển tưởng tượngsáng tạo

Hoạt động nhận cảm của trẻ mẫu giáo bé phát triển mạnh Cảm giác tiếp tục phát triển và hoàn thiện, nó trở lên

chính xác hơn và có tính chất tự giác Tri giác của trẻ pháttriển rất mạnh, tri giác có chủ định phát triển do hoạt độngchủ đạo quyết định Năng lực tri giác của trẻ cũng được nângcao, tri giác nhìn đã phát triển mạnh thể hiện ở tính chính xáctrong việc phân biệt hình dáng và độ lớn của sự vật, tri giác sờ

mó và tri giác nghe phát triển mạnh

Trang 25

Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo tăng nhanh, vốn từ của trẻ

lĩnh hội khoảng 800 - 1500 từ Trẻ mẫu giáo bé có vốn từphong phú hơn lứa tuổi nhà trẻ cả về số lượng cũng như từloại Trong năm thứ 3, tốc độ tăng vốn từ của trẻ diễn ranhanh nhất, cuối 3 tuổi so với đầu 3 tuổi tăng 107% [33] Trẻ

3 - 4 tuổi đã nắm được ngữ pháp cơ bản để diễn đạt khá chínhxác những nhu cầu của mình Tuy nhiên, ngôn ngữ của trẻ 3-

4 tuổi còn chưa hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp, lời nói chưamạch lạc

Trẻ sợ tới trường:

Khi bước vào độ tuổi đi mẫu giáo, thầy cô và bạn bè ởtrường là một thế giới vô cùng rộng lớn trong mắt trẻ thơ Cónhiều bé thích thú với việc tới lớp vào mỗi buổi sáng vì đượcgặp cô, gặp bạn nhưng lại có một số bé rất sợ điều này Thậmtrí có những em nhỏ giả vờ kêu ốm, kêu mệt, đau bụng haykhóc lóc với bố mẹ để không phải đi học Tuy nhiên triệuchứng này sẽ nhanh biến mất nếu như cha mẹ cho bé nghỉ học

ở nhà buổi hôm đó

Đây là đặc điểm tâm sinh lý trẻ mầm non thường gặp.Chính vì vậy mà giáo viên cũng như cha mẹ cần yêu thương

Trang 26

và quan tâm trẻ nhiều hơn nữa Khi trẻ sợ hãi, giáo viên nênđộng viên, dỗ dành, vỗ về trẻ Khi trẻ mắc lỗi thì cũng nênnhẹ nhàng phân tích để cho trẻ hiểu, không nên quát mắnglàm các trẻ hoảng sợ, và càng không muốn tới lớp Hãy cốgắng tạo môi trường học tập thân thiện để trẻ cảm thấy tớitrường mỗi ngày là một niềm vui.

Trẻ yêu thích khám phá thế giới xung quanh

Thế giới xung quanh chứa vô vàn những điều lí thú màtrẻ luôn mong muốn được khám phá Bất kì sự vật, hiện tượng

mà trẻ nhìn thấy đều có thể trở thành đề tài để thắc mắc nhưtại sao mây màu trắng, bầu trời màu xanh, bông hoa có màuđỏ,…Nếu cha mẹ có thể trả lời một cách khoa học và dễ hiểucác câu hỏi này sẽ góp phần tạo nền tảng phát triển tư duy chotrẻ sau này

Học tập ở trường mầm non, trẻ sẽ được chơi rất nhiềucác trò chơi phát triển kĩ năng vận động như đá bóng, némbóng, chơi đất nặn, tô tượng, chơi đồ hàng… trí tưởng tượngcủa trẻ vì vậy cũng sẽ ngày càng phong phú hơn Ngoài ra,trong thời kì này trẻ rất hiếu động và nghịch ngợm nên các

Trang 27

giáo viên cần chú ý để những đồ dùng học tập nguy hiểm ở xatầm với của trẻ tránh những hậu quả nghiêm trọng.

Kỹ năng giao tiếp của trẻ có bước phát triển mới Phát triển kĩ năng giao tiếp là một trong những đặc điểm tâm lý trẻ mầm non Ở độ tuổi này, trẻ bắt đầu được giao tiếp

nhiều hơn và rất hào hứng với việc này Trẻ sẽ quan sát những

gì đang diễn ra xung quanh và ghi nhớ những lời nói và hànhđộng của người lớn để học theo Do đó, các thành viên tronggia đình cùng giáo viên mầm non nên chú ý trong ngôn từgiao tiếp sao cho chuẩn mực để cho trẻ học theo, tránh sửdụng tiếng địa phương, tiếng lóng gây nhiễu loạn ngôn ngữcủa trẻ

Trẻ bắt đầu hình thành cái tôi cá nhân và tính tự lập

Đặc điểm tâm lý trẻ mầm non nổi bật ở giai đoạn này làbắt đầu hình thành ý thức cá nhân Trẻ có thể tự đưa ra nhậnxét hay - không hay, thích - không thích khi xem một bộ phimhay nghe một bài hát Ngoài ra, trẻ cũng luôn chú ý đếnnhững lời nhận xét của người khác dành cho mình Với đặcđiểm tâm sinh lý trẻ mầm non như vậy, cha mẹ và giáo viênnên hỗ trợ trẻ trong quá trình hình thành ý thức, không cổ xúy

Trang 28

cho những hành động sai của trẻ, tránh khen hay chê bai,trách phạt trẻ trước mặt người khác khiến trẻ thấy tự ti hoặc tựmãn về bản thân.

Thích tự mình làm những việc hằng ngày như tự mặc đồ,

tự đánh răng, rửa tay, tự ăn cơm hay tự sắp xếp đồ chơi, tựmình đi vệ sinh…Do đó, giáo viên nên để trẻ tự làm nhữngviệc trong khả năng của mình và khuyến khích các em giúp

đỡ cha mẹ với những việc phù hợp với lứa tuổi

Thấu hiểu những đặc điểm tâm lý trẻ mầm non sẽ giúpcha mẹ cũng như giáo viên sẽ có những phương pháp giáodục thích hợp để giúp trẻ phát triển một cách toàn diện cả vềthể chất và tinh thần

- Ý nghĩa của giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho Trẻ mẫu giáo

Việc rèn luyện kĩ năng tự phục vụ bản thân ngay từ nhỏ

là vô cùng cần thiết đối với trẻ mầm non Nếu các con không

có kĩ năng tự phục vụ bản thân, các con sẽ không thể chủđộng và tự lập trong cuộc sống hiện đại

Trang 29

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé có ý nghĩa đối với sự phát triển nhân cách của trẻ Giáo dục kỹ

năng tự phục vụ có mối liên hệ tương hỗ với giáo dục thể chấtthể hiện ở chỗ, trong thời gian trẻ hoạt động tất cả các quátrình xảy ra trong cơ thể, như quá trình hô hấp, tuần hoàn

máu, trao đổi chất được tăng cường, trẻ khỏe mạnh hơn

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ góp phần hình thành nhữngphẩm chất đạo đức như lòng yêu lao động, sẵn sàng tự phục

vụ bản thân nói riêng và tập thể nói chung, khi trẻ nắm đượcmột số kỹ năng lao động đơn giản dần dần trẻ mới yêu laođộng và kính trọng người lao động

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ có mối quan hệ tương hỗ

đến sự phát triển trí tuệ của trẻ Trong quá trình hoạt động trẻ

trực tiếp sử dụng các đồ dùng đồ chơi bằng các vật liệu khácnhau, trẻ nắm được tính chất, vật liệu và nhiều tri thức mới,dần dần trẻ vận dụng kiến thức đã có vào thực tiễn, trẻ nắmđược các kiến thức về thế giới xung quanh ngày càng cụ thể

và vững chắc hơn

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ có mối quan hệ tương hỗvới giáo dục thẩm mỹ Trong khi hoạt động trẻ hướng tới cái

Trang 30

đẹp, các tác động của vận động trật tự, chính xác, hợp lý, làmột trong những cơ sở của thẩm mỹ, hình thành cho trẻ tínhnhịp nhàng, đều đặn, uyển chuyển, cũng như là hình thức vẻđẹp của động tác lao động

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé là phương tiện cần thiết để trẻ tham gia đời sống xã hội thích ứng với môi trường xung quanh Kỹ năng tự phục vụ rất cần

thiết để giúp trẻ sống khỏe mạnh, sống an toàn, thích ứng vớinhững thay đổi của cuộc sống hàng ngày Xã hội ngày càngphát triển, đòi hỏi có những con người khỏe mạnh, năng động,

có tri thức, văn minh, lịch sự Giáo dục tốt kỹ năng tự phục vụcho trẻ mẫu giáo sẽ giúp trẻ tự chủ, tự tin trong cuộc sống, lànền tảng trong sự nghiệp đào tạo con người mới của xã hộitrong thời đại mới

- Mục tiêu, nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo

- Mục tiêu giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo

Mục tiêu của giáo dục lao động tự phục vụ nhằm hình thành

ở trẻ sự yêu thích và hứng thú trong thực hiện lao động, giúp trẻ

có được các kỹ năng lao động tự phục vụ giản đơn phù hợp lứa

Trang 31

tuổi trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường mầm non và ở giađình trẻ

- Nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho Trẻ mẫu giáo

Nội dung giáo dục lao động tự phục vụ cho trẻ mẫu giáophong phú và đa dạng Ở mỗi nhóm tuổi thì nội dung giáo dụclao động tự phục vụ có các mức độ thực hiện và yêu cầu khácnhau Do hành động được lặp đi lặp lại hàng ngày, các kỹnăng tự phục vụ được trẻ lĩnh hội vững chắc, tạo điều kiệnthuận lợi cho trẻ tự thực hiện mà không cần sự giúp đỡ củangười lớn

Nội dung kỹ năng tự phục vụ cần giáo dục cho trẻ mẫugiáo gồm những kiến thức, thái độ, hành vi về kỹ năng tựphục vụ cốt lõi cần hình thành, phát triển cho trẻ mầm non,nội dung bao gồm:

Hệ thống các kỹ năng lao động tự phục vụ như kỹ năng

rửa mặt, rửa tay, mặc quần áo, uống nước, xúc ăn…

Trang 32

Hệ thống những quy tắc, thao tác, hành vi cần thực hiện

để giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ như các bước rửa tay,các bước rửa mặt, các bước đánh răng theo trình tự nhất định

Hệ thống những tình huống, bài tập, trò chơi, hành động luyện thói quen, kỹ năng hành vi để đạt được mục đích giáo

dục đề ra, hoặc thay đổi hành vi theo hướng tích cực để đạtđược chuẩn mực, yêu cầu

Giáo dục cho trẻ thái độ tích cực, kiên định, trong quá trình tập luyện, rèn luyện thói quen, hành vi, giáo dục tính kỉ

luật tự giác trong rèn luyện kỹ năng lao động tự phục vụ chotrẻ

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ thông qua các công việc cụthể, từ đó hình thành các kỹ năng, kỹ xảo lao động cho trẻ.Bên cạnh việc củng cố những kỹ năng đã có cần hình thànhcác kỹ năng phức tạp hơn

- Nguyên tắc, phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho Trẻ mẫu giáo dựa vào cộng đồng

- Nguyên tắc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho Trẻ mẫu giáo dựa vào cộng đồng.

Trang 33

a Đảm bảo tính mục đích

Giáo viên mầm non cần hướng mọi tác động giáo dục kỹnăng tự phục vụ cho trẻ để đạt được mục đích đã đề ra.Hướng trẻ vào việc thực hiện mục tiêu của ngành học pháttriển các mặt đức - trí - thể - mỹ - lao động Nhưng để đạtđược mục đích đó, tránh tiến hành một cách gò ép, cần chămsóc giáo dục trẻ một cách linh hoạt, cho trẻ tích cực hoạt độngtrong một tâm trạng thoải mái, được tôn trọng, thương yêu,phát triển hài hòa nhân cách

b Phù hợp với đối tượng giáo dục

Trẻ mẫu giáo bé có các đặc điểm phát triển thể chất, đặcđiểm phát triển tâm lý khác với lứa tuổi khác Ở tuổi này mỗitrẻ lại có những đặc điểm riêng biệt khác nhau Vì vậy giáodục các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ cần chọn lựa phươngpháp, hình thức sao cho phù hợp với đối tượng giáo dục

Ở mỗi độ tuổi, trẻ có những đặc điểm tăng trưởng vàphát triển khác nhau Do đó, giáo viên phải biết đoán trước vàđáp ứng kịp thời những nhu cầu phát triển của trẻ bằng cách

tổ chức cuộc sống và hoạt động phù hợp độ tuổi Trong chế

độ sinh hoạt hằng ngày, cần tổ chức các hoạt động phù hợp

Ngày đăng: 31/07/2019, 13:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w