1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án và thực tiễn tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình

91 156 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 14,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phạm vi đề tài luận văn thạc sỹ luật học, luận văn tập trung nghiên cứu về khái niệm, quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án tro

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

MAI THỊ QUYÊN

CÁC BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN

VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Mai Thị Quyên

Trang 3

4 Hình 2.2: Biểu đồ thể hiện số vụ việc dân sự đã áp dụng từ hai biện pháp thu thập chứng cứ trở lên tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (số liệu từ năm 2015 đến năm 2017)

5 Hình 2.3: Cơ cấu nguyên nhân dẫn đến tạm đình chỉ giải quyết vụ án tại Tòa

án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (số liệu từ năm 2015 đến năm 2017)

6 Hình 2.4: Biểu đồ tình hình áp dụng biện pháp ủy thác thu thập chứng cứ của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình trong thu thập tài liệu, chứng cứ (số liệu

từ năm 2015 đến năm 2017)

Trang 4

MỤC LỤC

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG

Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ CÁC BIỆN PHÁP THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH

2.1 Thực tiễn thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về các biện pháp thu thập chứng cứ tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái

2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Trang 5

đã chọn đề tài “Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án và thực tiễn tại Tòa

án nhân dân thành phố Thái Bình” nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ với mong muốn

qua đó sẽ làm rõ khái niệm về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự, các quy định của pháp luật hiện hành về các biện pháp thu thập chứng

cứ của Tòa án và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, trên cơ sở đó đƣa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế định này, góp phần nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm

Trang 6

2

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trước năm 2015, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động thu thập chứng cứ ở nhiều khía cạnh, góc độ tiếp cận khác nhau, có thể kể đến như: Luận án tiến

sỹ luật học “Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam” của nghiên cứu

sinh Nguyễn Minh Hằng bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2009; Luận văn

thạc sỹ luật học “Hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ trong Tố tụng dân sự Việt

Nam” của học viên Nguyễn Minh Hằng bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội

năm 2012; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Trường Đại học Luật Hà Nội

“Một số vấn đề lý luận về chứng minh trong tố tụng dân sự”, do TS Nguyễn Công

Bình là chủ nhiệm năm 2012; Luận văn thạc sĩ luật học “Hoạt động thu thập chứng

cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam” của học viên Phạm Thị Hương bảo

vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013; Luận văn thạc sĩ luật học “Các biện

pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự” của học viên Nguyễn

Văn Thành bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013; Luận văn thạc sĩ luật

học “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án từ thực tiễn giải quyết các vụ án dân

sự của Tòa án cấp huyện thành phố Hải Phòng” của học viên Nguyễn Thị Liên bảo

vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2014; Ngoài ra, còn nhiều ấn phẩm sách,

tạp chí, báo cáo, đề cập tới vấn đề trên, có thể kể đến như: “Thu thập chứng cứ và

trách nhiệm chứng minh trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,

Tưởng Duy Lượng, Tạp chí Kiểm sát số 24, tháng 01/2010; “Thu thập chứng cứ và

chứng minh theo quy định của luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự”, Tưởng Duy Lượng, Tạp chí Kiểm sát số 12, tháng 6/2011,

Các công trình nghiên cứu đã góp phần cung cấp những kiến thức pháp lí, thông tin về thực tiễn liên quan đến chứng cứ và hoạt động thu thập, nghiên cứu chứng cứ của Tòa án nói chung Tuy vậy, những công trình nghiên cứu này được thực hiện chủ yếu vào thời điểm trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành Kể từ sau thời điểm Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được ban hành và có hiệu lực thi hành, hiện mới chỉ có một số công trình nghiên cứu về hoạt động thu

thập chứng cứ như: Luận văn thạc sĩ luật học “Thu thập chứng cứ theo quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” của học viên Hoàng Hải An bảo vệ tại Trường

Đại học Luật Hà Nội năm 2017,…

Trang 7

3

Luận văn này nghiên cứu các quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình kể từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có hiệu lực thi hành Do vậy, việc nghiên cứu đề tài trong lúc này

là công việc rất có ý nghĩa và có tính thời sự

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài với mục đích là làm rõ khái niệm các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự; nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án, đồng thời đánh giá những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật và trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về các biện pháp thu thập chứng cứ tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án nói chung và Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình nói riêng

Đối tượng nghiên cứu đề tài là các quy định của pháp luật hiện hành về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án và thực tiễn tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình

Trong phạm vi đề tài luận văn thạc sỹ luật học, luận văn tập trung nghiên cứu

về khái niệm, quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự và việc áp dụng quy định của Bộ luật

Tố tụng dân sự năm 2015 về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –

Lê nin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật với các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp luật học so sánh, để thực hiện đề tài

Trang 8

4

- Phương pháp phân tích: xem xét các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa

án trong tố tụng dân sự theo từng quy định của pháp luật để hiểu được bản chất của các quy định

- Phương pháp lịch sử: Tìm hiểu quy định pháp luật về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án thời kỳ trước, trên cơ sở đó so sánh với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án

- Phương pháp so sánh: So sánh quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và pháp luật một số quốc gia trên thế giới khi quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án, so sánh giữa quy định pháp luật hiện hành và pháp luật của thời kỳ trước về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân

sự để thấy được những điểm mới, tiến bộ, những điểm cần học tập, phát triển hoặc cần sửa đổi bổ sung cho phù hợp

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý toàn diện và có hệ thống

về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm trong tố tụng dân sự Nội dung của luận văn thể hiện các kết quả nghiên cứu sau: (1) Phân tích làm rõ khái niệm, ý nghĩa của các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự, phân tích làm rõ nội dung và đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án, đồng thời chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật; (2) Trình bày được những vấn đề về thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện

6 Bố cục của luận văn

Luận văn gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Phần nội dung của luận văn gồm hai chương:

Chương 1: Khái niệm và các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án

Chương 2: Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và kiến nghị hoàn thiện

Trang 9

Dưới góc độ ngôn ngữ học, khái niệm “biện pháp thu thập chứng cứ” được ghép bởi ba từ “biện pháp”, “thu thập” và “chứng cứ” “Biện pháp” là một danh từ chỉ: cách làm, cách thức tiến hành, cách giải quyết một vấn đề cụ thể1; “thu thập”: nhặt nhạnh, thu góp lại 2; “chứng cứ”: là những cái cụ thể như lời nói, việc làm, vật chứng, tài liệu tỏ rõ điều gì đó có thật3 Như vậy, dưới góc độ ngôn ngữ học thuần

túy, biện pháp thu thập chứng cứ là “tổng thể các cách thức tiến hành các hoạt

động thu góp những vật chứng, tài liệu, những cái cụ thể như lời nói, việc làm nhằm chứng minh một sự việc là có thật”

Dưới góc độ khoa học pháp lý, việc luận giải và làm rõ về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự cần được bắt đầu từ “chứng cứ” – đối tượng của hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

Trong quy định của pháp luật tố tụng dân sự của mỗi quốc gia, khái niệm chứng cứ luôn giữ một vị trí quan trọng Theo Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản thì

“chứng cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được Tòa án công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó Tòa án được thuyết phục là một tình tiết có tồn tại

1

Nguyễn Như Ý (1988), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.161

2 Nguyễn Như Ý (1988), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.1593

3 Nguyễn Như Ý (1988), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.186

Trang 10

6

gì mà hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào mà bản thân sự hàm chứa đó ảnh hưởng tới việc xác định một hành động hơn hoặc kém hơn” Điều 55

Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga quy định: “Chứng cứ trong vụ án dân sự là

những gì được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà Tòa án căn

cứ vào đó để xác định có hay không có các tình tiết làm cơ sở cho những yêu cầu hay sự phản đối yêu cầu của các bên cũng như các tình tiết khác có ý nghĩa để giải

Mặc dù mỗi quốc gia có một cách định nghĩa khác nhau về chứng cứ nhưng

có thể thấy, khái niệm chứng cứ trong hệ thống pháp luật các nước đều có điểm chung đó là xác định chứng cứ là cơ sở, căn cứ để Tòa án giải quyết vụ án

Trong hệ thống pháp luật nước ta, khái niệm chứng cứ được xây dựng trên cơ

sở tập trung vào khía cạnh giá trị chứng minh của chứng cứ, Điều 93 Bộ luật Tố

tụng dân sự năm 2015 quy định: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có

thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa

án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do

Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là

có căn cứ và hợp pháp”

Về hoạt động thu thập chứng cứ, theo Giáo trình Luật Tố tụng dân sự của

Trường Đại học Luật Hà Nội, “là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa

vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự”6 Tại đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Một số vấn đề lí luận về chứng minh trong tố tụng dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, chủ nhiệm đề tài TS Nguyễn Công Bình, xây dựng khái niệm về hoạt động thu thập chứng cứ, theo đó,

theo nghĩa rộng “thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự là hoạt động tố tụng dân

sự của các chủ thể chứng minh trong việc phát hiện, ghi nhận, thu giữ, bảo quản

4 Bộ Tư pháp – Viện nghiên cứu và đào tạo (1998), Luật Tố tụng dân sự Nhật Bản, Hà Nội, tr.453-454

5

Bộ Luật Tố tụng dân sự của Cộng hoà liên bang Nga, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr.79-80

6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

tr.164.

Trang 11

7

hơn theo tinh thần của Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung

năm 2011, đề tài đã đưa ra khái niệm “thu thập chứng cứ là hoạt động tố tụng do

Tòa án tiến hành nhằm tìm phát hiện, thu giữ, ghi nhận, thêm những bằng chứng

một khái niệm thu thập chứng cứ, hai tài liệu đã đưa ra các cách định nghĩa khác nhau Cách định nghĩa tại Giáo trình Luật Tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật

Hà Nội đã đề cập đến bản chất và mục đích của hoạt động thu thập chứng cứ nói chung của các chủ thể trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Tại đề tài nghiên cứu khoa học “Một số vấn đề lí luận về chứng minh trong tố tụng dân sự”, theo nghĩa hẹp, các tác giả đề cập đến hoạt động thu thập chứng cứ trong giới hạn là hoạt

động tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng là Tòa án tiến hành

Trên cơ sở phân tích những góc độ, cách tiếp cận khác nhau về khái niệm

“thu thập chứng cứ”, tại Luận văn thạc sỹ luật học với đề tài “Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong Tố tụng dân sự”, tác giả Nguyễn Văn Thành đã

định nghĩa “Biện pháp thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự là tổng thể cách

thức, phương pháp do luật tố tụng dân sự quy định đối với việc Tòa án trong những điều kiện nhất định được sử dụng những cách thức do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, nhằm thu thập thêm những tình tiết, sự kiện, thông tin dùng làm căn cứ để giải

Văn Thành đã nêu được mục đích tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ và xác định chủ thể tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ là Tòa án Tuy nhiên, cách

tiếp cận của tác giả đã đồng nghĩa “biện pháp thu thập chứng cứ trong tố tụng dân

sự” với “biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự” và xác

định chỉ chủ thể Tòa án mới được pháp luật tố tụng dân sự quy định được tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ Đây cũng là cách tiếp cận của Bộ luật Tố tụng dân

7 Nguyễn Công Bình (Chủ nhiệm, 2012), Một số vấn đề lí luận về chứng minh trong tố tụng dân sự, Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.97-98

8 Nguyễn Công Bình (Chủ nhiệm, 2012), Một số vấn đề lí luận về chứng minh trong tố tụng dân sự, Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.98

9 Nguyễn Văn Thành (2013), Các biện pháp thu nhập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự, Luận văn

thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.3.

Trang 12

8

sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, cụ thể, Bộ luật chỉ quy định các biện pháp thu thập chứng cứ cho chủ thể là Tòa án mà chưa quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân thu thập tài liệu chứng cứ bằng các biện pháp nào (Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011) Việc quy định này không phù hợp với các quy định khác của pháp luật tố tụng dân sự cũng như thực tiễn khi mà pháp

luật quy định đương sự có nghĩa vụ “cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu

sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình hoặc pháp luật chỉ quy định cho cơ quan

khác như Viện kiểm sát có quyền “yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức

cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền

định rõ ràng đây là một biện pháp thu thập chứng cứ của chủ thể là Viện kiểm sát Khắc phục những bất cập trên, Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định

cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền thu thập các tài liệu, chứng cứ với các biện pháp như: Thu thập vật chứng, tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử; Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý; Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng; Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ; Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật Trên cơ sở quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ của các chủ thể nói chung, pháp luật tố tụng dân sự đưa ra quy định rõ hơn về các biện pháp thu thập chứng cứ Tòa án được tiến hành cũng như điều kiện áp dụng trong từng trường hợp cụ thể

Từ những phân tích trên, ta có thể xây dựng khái niệm về biện pháp thu thập

chứng cứ của Tòa án dưới góc độ khoa học pháp lý như sau: “Biện pháp thu thập

chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự là cách thức, phương pháp mà pháp luật

tố tụng dân sự quy định cho Tòa án, trong những điều kiện nhất định, được áp dụng

10 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011

11 Khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011

Trang 13

xử của Tòa án, hạn chế án hủy, sửa do thiếu và yếu về mặt chứng cứ

1.2 Quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án

1.2.1 Các trường hợp Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự

Thứ nhất, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự

Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“1 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ bằng những biện pháp sau đây:

e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ;

g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản”

Như vậy, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ hoặc yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản Khi quy định về từng biện pháp thu thập chứng cứ cụ thể, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định đương sự có quyền yêu cầu Tòa án lấy lời khai của người làm chứng (Điều 99), yêu cầu Tòa án tiến hành đối chất (Điều 100), yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ (Điều

Trang 14

Yêu cầu của đương sự về việc đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ cũng cần phải nói rõ biện pháp mà đương sự đề nghị Tòa án áp dụng là biện pháp thu thập nào, biện pháp đó có được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân

sự hay không Khi đã nhận thấy đủ những điều kiện để tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, Thẩm phán cần giải thích cho đương sự biết nghĩa vụ nộp tạm ứng chi phí tương ứng với biện pháp thu thập mà đương sự yêu cầu (ví dụ: tạm ứng chi phí giám định, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, ) Thẩm phán chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng nếu họ thuộc trường hợp phải nộp tạm ứng

Một trong những nguyên tắc trong tố tụng dân sự đó là quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta chưa tạo ra được cơ chế thuận lợi để các đương sự làm tốt nghĩa vụ chứng minh của mình, các đương sự rất khó có thể tự mình thu thập các chứng cứ do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác lưu trữ, đặc biệt là các tài liệu, chứng cứ thuộc sự quản lý của cơ quan nhà nước Chính

vì vậy, việc pháp luật quy định đương sự trong những trường hợp không thể tự mình thu thập chứng cứ có quyền yêu cầu Tòa án thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ cần thiết để hỗ trợ thu thập chứng cứ có ý nghĩa quan trọng, tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ

Thứ hai, những trường hợp Tòa án tự mình thu thập chứng cứ

Ngoài việc thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, trong một số trường hợp, Thẩm phán cũng có thể tự mình thu thập chứng cứ Theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đó là các trường hợp: Lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng, lấy lời

Trang 15

11

khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết (Điều 98, Điều 99); Đối chất khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng (khoản 1 Điều 100); Xem xét, thẩm định tại chỗ, trưng cầu giám định khi xét thấy cần thiết (Điều 101, Điều 102); Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản khi các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản hoặc các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá (Điều 104); Ủy thác thu thập chứng cứ (Điều 105); Yêu cầu

cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết (Điều 106); Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú hoặc các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (khoản 2 Điều 97)

Khi quyết định tự mình thu thập chứng cứ mà không có yêu cầu của đương

sự, Thẩm phán phải hết sức thận trọng, xác định đủ những tài liệu làm cơ sở để tự mình thu thập chứng cứ Đồng thời khi đã có đủ cơ sở pháp lý, Thẩm phán phải tiến hành đúng biện pháp trong phạm vi thẩm quyền của mình

Trên thế giới hiện tồn tại nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, trong đó hai hệ thống pháp luật chủ yếu đó là hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (continental law)

và hệ thống pháp luật án lệ (common law) Xuất phát từ đặc trưng của từng hệ thống pháp luật mà pháp luật các quốc gia cũng có những quy định khác nhau về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

Hệ thống pháp luật Anh, Mỹ theo truyền thống pháp luật tranh tụng Trong tố tụng dân sự đề cao vai trò thu thập chứng cứ của đương sự, Thẩm phán chỉ là trọng tài trong quá trình giải quyết vụ việc, phán quyết của Tòa án trên cơ sở chứng cứ mà đương sự đã xuất trình mà hoàn toàn không trực tiếp tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ Theo pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ, các bên đương sự phải tự mình tìm kiếm, thu thập mọi chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình như thu thập các chứng cứ viết, các vật chứng, đề xuất Tòa án triệu tập người làm chứng cần

Trang 16

12

thiết, Các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ trao đổi chứng cứ với nhau và quyền được biết toàn bộ các chứng cứ của bên kia Trường hợp Thẩm phán thấy rằng chứng cứ mà các đương sự xuất trình chưa đầy đủ để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu các bên đương sự cung cấp thêm chứng cứ chứ Thẩm phán không tự mình thu thập chứng cứ.12

Khác với Anh, Mỹ theo truyền thống pháp luật tranh tụng, Pháp và Nga là hai nước có truyền thống tố tụng xét hỏi nên Thẩm phán có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng hồ sơ giải quyết vụ việc dân sự, pháp luật tố tụng dân sự của Nga và Pháp bên cạnh việc quy định nghĩa vụ chứng minh là của đương sự còn đồng thời quy định trong một số trường hợp, Tòa án có thể thu thập chứng cứ và đương sự, các bên liên quan có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án khi có yêu cầu Pháp luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp có những quy định về vai trò của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ, như tại Điều 27, Chương 2, thiên I, quyển

thứ nhất Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp quy định: “Thẩm phán tự

mình tiến hành tất cả những biện pháp thẩm cứu cần thiết Thẩm phán có quyền nghe lời trình bày của những người có thể làm sáng tỏ vụ việc cũng như những người có quyền lợi liên quan bởi quyết định của thẩm phán mà không bị lệ thuộc

có quyền điều tra và dành một mục riêng với 27 điều quy định cụ thể về hoạt động này Như vậy, ở Pháp, Thẩm phán được quyền chủ động trong hoạt động thu thập chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết vụ án

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, chứng minh là nghĩa vụ của các đương sự, các bên đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chịu trách nhiệm về việc cung cấp chứng cứ của mình Chỉ trong trường hợp chứng cứ do hai bên đương sự cung cấp trái ngược, mâu thuẫn nhau thì Tòa án phải điều tra để thu thập chứng cứ hoặc trong trường hợp đương sự không tự mình cung cấp được chứng cứ thì Tòa án hỗ trợ đương sự xác minh thu thập chứng cứ

12

Nguyễn Thị Thu Hà (2011), “Pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ và khả năng ứng dụng vào việc hoàn thiện

pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (Số 01), tr 55, 56

13 Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp, 1998, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.9

Trang 17

13

Theo quy định tại Điều 151 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản, trường hợp cần phải làm rõ các vấn đề của vụ án thì Tòa án có quyền tiến hành các biện pháp như yêu cầu các bên bổ sung chứng cứ, yêu cầu bên đương sự hoặc người thứ ba đang lưu giữ chứng cứ xuất trình chứng cứ; thẩm tra chứng cứ, tiến hành điều tra,

Có thể thấy, các nước theo truyền thống tố tụng tranh tụng thì đề cao vai trò của các bên đương sự trong việc chứng minh sự việc, Tòa án chỉ là người trọng tài trung gian và ra phán quyết, không có vai trò hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ Trong khi đó, ở các nước theo truyền thống tố tụng xét hỏi thì lại đề cao vai trò của Thẩm phán trong việc chứng minh sự việc Pháp luật tố tụng dân sự của Trung Quốc, Nhật Bản có nhiều điểm tương đồng với pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam khi đều quy định vai trò của Tòa án khi tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ và đang hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường trách nhiệm chứng minh cho đương sự, giảm nhẹ công việc thu thập chứng cứ cho Tòa án

1.2.2 Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự

1.2.2.1 Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng

Lấy lời khai là biện pháp thu thập chứng cứ ghi lại ý kiến trình bày của đương sự, người làm chứng Việc lấy lời khai của các đương sự, người làm chứng

có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc làm sáng tỏ nội dung vụ án, yêu cầu của các đương sự và là cơ sở quan trọng để giải quyết vụ án

Điều kiện tiến hành lấy lời khai của đương sự, người làm chứng: Về mặt

nguyên tắc, lời khai của đương sự do đương sự tự cung cấp, tự viết và ký tên Điều

98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “1 Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời

khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy

đủ, rõ ràng Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình Trường hợp đương

sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự” Để việc lấy lời

khai của các đương sự phục vụ tốt cho quá trình giải quyết các vụ án, Thẩm phán phải nắm chắc các tình tiết có ý nghĩa quan trọng của vụ án, các quy định của pháp luật nội dung cần áp dụng giải quyết vụ án Lời khai của đương sự phải tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng nhằm làm rõ nội dung

cơ bản của vụ án, yêu cầu của các bên đương sự, các căn cứ pháp lý và chứng cứ thực tế để bảo vệ yêu cầu của các đương sự

Trang 18

14

Người làm chứng là người được đương sự mời đến hoặc do cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến để khai báo những tình tiết có liên quan đến vụ án mà họ được biết, người làm chứng là người không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ

án Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định trường hợp cần lấy lời khai của

người làm chứng tại Điều 99, đó là trường hợp “theo yêu cầu của đương sự hoặc

khi xét thấy cần thiết” Đối với trường hợp Thẩm phán lấy lời khai của người làm

chứng theo yêu cầu của đương sự thì trước khi áp dụng biện pháp này, Thẩm phán phải xem xét đủ các điều kiện để thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự mới tiến hành lấy lời khai của người làm chứng

Khi xét thấy cần thiết, tuy đương sự không có yêu cầu, Thẩm phán có thể

tiến hành lấy lời khai của người làm chứng Được coi là “cần thiết” nếu việc lấy lời

khai của người làm chứng bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự được toàn diện, chính xác, công minh, đúng pháp luật

Lời khai của người làm chứng chứa đựng nhiều chứng cứ về những tình tiết cần chứng minh nhằm giúp Tòa án tìm ra sự thật khách quan của vụ án Tuy vậy, không phải trường hợp nào lời khai của người làm chứng cũng đúng và phù hợp với

sự thật khách quan Do đó, các lời khai của người làm chứng phải được đánh giá với các chứng cứ khác của vụ án

Về chủ thể thực hiện hoạt động lấy lời khai, theo quy định của Bộ luật Tố

tụng dân sự năm 2015, việc lấy lời khai của đương sự do Thẩm phán tiến hành Thư

ký Tòa án chỉ có thể giúp Thẩm phán ghi lời khai của đương sự vào biên bản

Về địa điểm lấy lời khai, trên thực tế, không phải lúc nào hoạt động lấy lời

khai cũng được thực hiện tại trụ sở Tòa án mà có lúc được thực hiện ngoài trụ sở

Tòa án, trong những trường hợp như vậy thì “phải có người làm chứng hoặc xác

nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan,

Công an xã, phường thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản là nhằm đề cao trách nhiệm, đồng thời xác định về mức độ tin cậy của biên bản lấy lời khai đó giúp Tòa án lấy làm chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự

14 Khoản 2 Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Trang 19

15

Về thủ tục lấy lời khai của đương sự, người làm chứng: Theo quy định tại

khoản 2 Điều 98 và khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự, người làm chứng vào biên bản Biên bản lấy lời khai của đương sự, người làm chứng phải được người khai tự đọc lại hoặc nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ Đương sự, người làm chứng có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản lấy lời khai và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận Biên bản lấy lời khai phải có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của Tòa án, trường hợp biên bản ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai Biên bản ghi lời khai lập ngoài trụ sở Tòa án phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản Ngoài ra, trước khi lấy lời khai của người làm chứng, Thẩm phán phải giải thích quyền, nghĩa vụ của người làm chứng và yêu cầu người làm chứng cam đoan

về lời khai của mình

Về năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự, người làm chứng được lấy lời khai, khi Thẩm phán tiến hành các hoạt

động thu thập tài liệu, chứng cứ nói chung, lấy lời khai nói riêng đối với người tham gia tố tụng phải xác định được họ có đầy đủ năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự Đây là điều kiện để xác định giá trị pháp lý của tài liệu, chứng cứ thu thập được

Đối với đương sự chưa đủ 6 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, đương sự từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 69

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện Việc lấy lời khai của họ phải có mặt người đại diện hợp pháp của họ và người đại diện hợp pháp của họ phải ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản lấy lời khai

Trường hợp lấy lời khai của người làm chứng, khoản 3 Điều 87 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định về việc lấy lời khai của người làm chứng không bảo đảm năng lực chủ thể, khi tiến hành lấy lời khai đối với

họ phải có mặt của người đại diện thì lời khai đó mới có giá trị được sử dụng là chứng cứ của vụ việc dân sự Tuy vậy, trên thực tế giải quyết vụ việc dân sự, có

Trang 20

16

những người làm chứng mặc dù họ không có người đại diện nhưng việc tiến hành lấy lời khai của họ theo thủ tục thông thường thì lời khai của họ không bảo đảm tính khách quan, chính xác Khoản 3 Điều 99 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã tháo

gỡ được những khó khăn, hạn chế này bằng quy định bổ sung khi lấy lời khai đối

với người làm chứng là “người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” thì

phải có mặt của người đại diện, người đang quản lý, trông nom người đó Như vậy, với quy định bổ sung nêu trên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã xác định thêm

về nhiệm vụ, trách nhiệm của Thẩm phán, bảo vệ người làm chứng

Điều 98, Điều 99 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định khá cụ thể, chi tiết về hoạt động lấy lời khai của đương sự, người làm chứng Tuy nhiên, trong từng quy định của pháp luật còn có sự mâu thuẫn, không thống nhất, không rõ ràng,

cụ thể như sau:

Thứ nhất, quy định của pháp luật về bản khai của đương sự chưa rõ ràng

Theo khoản 1 Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình, có nghĩa là bản khai phải được chính bản thân đương sự viết Vậy trong trường hợp bản khai do đương sự tự soạn thảo hoặc nhờ người khác soạn thảo trên máy vi tính trên cơ sở ý kiến của đương sự có được coi là bản khai do chính đương sự viết không? Nếu chấp nhận bản khai được soạn thảo bằng máy vi tính thì đương nhiên việc đương sự nhờ người khác viết tay hộ bản khai và sau đó đương sự ký tên dưới bản khai cũng phải được chấp nhận Và như vậy, liệu có mâu thuẫn với quy định bản khai của đương sự phải do đương sự tự viết và ký tên?

Thứ hai, về mặt kỹ thuật lập pháp, cách diễn đạt tại khoản 1 Điều 98 Bộ luật

Tố tụng dân sự năm 2015 chưa được chính xác, gây mâu thuẫn trong chính nội dung

điều luật Khoản 1 Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định“1 Thẩm

phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng ” Như vậy, nếu chỉ đọc đến đây, có thể

hiểu pháp luật quy định Thẩm phán chỉ lấy lời khai của đương sự trong hai trường

hợp đó là “đương sự chưa có bản khai” hoặc “nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ

ràng” Tuy nhiên, ngay sau đó, điều luật lại bổ sung thêm trường hợp Thẩm phán

được lấy lời khai của đương sự đó là “ Trường hợp đương sự không thể tự viết

được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự”

Trang 21

17

Thứ ba, đối với biên bản lấy lời khai của đương sự, người làm chứng được

lập ngoài trụ sở Tòa án, khoản 2 Điều 98 và khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng dân

sự năm 2015 quy định biên bản phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản Theo quy định của điều luật, biên bản lấy lời khai chỉ cần “xác nhận” của các cơ quan, tổ chức trên mà không đề cập đến việc các cơ quan, tổ chức này có phải cử đại diện tham gia chứng kiến việc lấy lời khai hay không Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức có đại diện chứng kiến việc lấy lời khai thì việc xác nhận của họ vào biên bản lấy lời khai

là hoàn toàn có căn cứ Tuy nhiên, trong trường hợp các cơ quan, tổ chức trên không có đại diện tham gia chứng kiến việc lấy lời khai, thì việc họ xác nhận vào biên bản lấy lời khai liệu có đảm bảo tính khách quan và nếu vẫn chấp nhận việc

“xác nhận” này thì nội dung xác nhận như thế nào?

1.2.2.2 Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng

Đối chất trong tố tụng dân sự là biện pháp thu thập chứng cứ do Tòa án thực hiện dưới hình thức cho hai hay nhiều người tham gia tố tụng trong vụ án dân sự cùng một lúc tham gia tranh luận và chất vấn lẫn nhau dưới sự hướng dẫn trực tiếp của người tiến hành tố tụng nhằm làm rõ những tình tiết mâu thuẫn trong lời khai trước đó của họ Khi quy định về biện pháp thu thập chứng cứ đối chất, Điều 100,

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã thừa kế quy định tại Điều 88 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 Theo đó, đối chất là biện pháp thu thập chứng cứ được áp dụng trong trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người tham gia tố tụng dân sự Mâu thuẫn ở đây là sự trái ngược nhau, phủ định lẫn nhau giữa những lời khai mang nội dung thông tin về cùng một hoặc một số tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án Việc đối chất không nhất thiết phải thực hiện giữa tất cả các đương sự trong vụ án, Thẩm phán chỉ tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy

có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng Quy định biện pháp đối chất, nhà làm luật đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

Trang 22

18

tụng trước khi nhận định lời khai của những người tham gia tố tụng phải kiểm tra kỹ tất cả các tài liệu đã có và xác định chính xác tình tiết khách quan, loại trừ những nhầm lẫn trong thu thập, đánh giá chứng cứ, nhận thức đúng sự thật khách quan của

1.2.2.3 Trưng cầu giám định

Trưng cầu giám định trong tố tụng dân sự là hoạt động tố tụng do Thẩm phán hoặc người tiến hành tố tụng thực hiện, khi có yêu cầu của đương sự hoặc xét thấy cần thiết, yêu cầu người giám định, cơ quan giám định sử dụng các kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động giải quyết vụ việc dân sự Kết quả giám định thu được giúp làm sáng tỏ các vấn đề còn đang hoài nghi, làm căn cứ cơ sở để Thẩm phán ra quyết định cuối cùng một cách khách quan, trung thực, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của các đương sự tham gia tố tụng Đây là bước tiến đáng kể trong hoạt động tư pháp theo tinh thần cải cách tư pháp, tăng cường dân chủ hóa hoạt động tố tụng, góp phần mở rộng quyền tự do dân chủ của công dân, hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người Trong thực tiễn khi giải quyết các vụ việc dân

sự, hôn nhân gia đình, nhiều trường hợp cần phải thực hiện trưng cầu giám định như: Trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết; trưng cầu giám định AND để xác định quan hệ huyết thống; trưng cầu giám định mức độ thương tích,…

Về nội dung quyết định trưng cầu giám định, khoản 2 Điều 102 Bộ luật Tố

tụng dân sự năm 2015 quy định: “2 Trong quyết định trưng cầu giám định phải

Trang 23

Việc trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại được thực hiện nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Theo đó, việc trưng cầu giám định bổ sung được thực hiện trong trường hợp nội dung kết luận chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó; việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật Giám định tư pháp

Điều 90 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 chỉ quy định về hoạt động trưng cầu giám định của Thẩm phán hoặc người tiến hành tố tụng thực hiện theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, trong khi đó, khoản 3 Điều 2 Luật

Giám định tư pháp năm 2012 quy định: ”Người yêu cầu giám định là người có

quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ việc dân sự, ” Để

phù hợp với quy định của Luật Giám định tư pháp, ngoài việc quy định đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định, Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 đã bổ sung thêm nội dung hoàn toàn mới về quyền yêu cầu giám định của đương sự, theo đó, đương sự có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự Quyền này được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự

Trang 24

20

Qua nghiên cứu quy định liên quan đến trưng cầu giám định, yêu cầu giám định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản liên quan nhận thấy còn một số điểm bất cập như sau:

Thứ nhất, khi quy định về xử lý hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập

chứng cứ của người tiến hành tố tụng, Điều 489 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa đề cập đến việc xử lý khi đương sự, người liên quan đến giám định không hợp tác trong quá trình cung cấp mẫu giám định dẫn đến tình trạng mặc dù Tòa án đã trưng cầu giám định nhưng cơ quan giám định không thể thực hiện được việc giám định do không có mẫu vật giám định Trong khi đó, nhiều vụ vệc kết luận giám định được xác định là căn cứ mấu chốt và quyết định đến việc chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của đương sự như trưng cầu giám định ADN trong các vụ việc xác định cha, mẹ, con,

Thứ hai, về quyền tự mình yêu cầu giám định của đương sự: Khoản 1

Điều 22 Luật Giám định tư pháp năm 2012 quy định về thời hạn cơ quan tiến hành

tố tụng, người tiến hành tố tụng phải thông báo về việc từ chối yêu cầu giám định,

theo đó: “1 Người yêu cầu giám định có quyền gửi văn bản yêu cầu cơ quan tiến

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không chấp nhận yêu cầu thì trong thời hạn 07 ngày phải thông báo cho người yêu cầu giám định bằng văn bản Hết thời hạn nói trên hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định” Về thời điểm thực

hiện quyền, khoản 1 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“1 Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa

vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự” Pháp luật đã quy định cho đương sự có quyền tự mình yêu cầu giám định, giới

hạn thời điểm chấm dứt quyền nhưng chưa quy định cho các chủ thể này thời hạn

để thực hiện quyền Trong trường hợp, ngay sau khi thông báo cho người yêu cầu giám định về việc không chấp nhận trưng cầu giám định, Tòa án ra quyết định đưa

vụ án ra xét xử hoặc quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, vậy liệu quyền

tự mình yêu cầu giám định của đương sự có được bảo đảm thực hiện? Mặc khác, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng chưa có quy định cụ thể về điều kiện để cơ quan

Trang 25

21

tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ chối trưng cầu giám định nên đã dẫn tới việc áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án ở các địa phương khác nhau và

liệu việc từ chối này có phải lúc nào cũng phù hợp với quy định: “Tòa án có trách

nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ…” theo khoản 3 Điều 6 Bộ

luật Tố tụng dân sự năm 2015 không? Trong trường hợp sau khi đương sự tự mình yêu cầu giám định, kết quả giám định chứng minh yêu cầu giám định của đương sự

là có căn cứ và được sử dụng để xác định sự thật khách quan của vụ án, Tòa án, người tiến hành tố tụng đã từ chối yêu cầu giám định của đương sự có phải chịu trách nhiệm về việc đã từ chối tiến hành trưng cầu giám định?

1.2.2.4 Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản

Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản là biện pháp thu thập chứng cứ được thực hiện trong hầu hết các vụ án có tranh chấp liên quan đến tài sản Khoản 5, khoản 15 Điều 4 Luật Giá năm 2012 quy định:

“…5 Định giá là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quy định giá cho hàng hóa, dịch vụ

15 Thẩm định giá là việc cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá trị bằng tiền của các loại tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự phù hợp với giá thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, phục vụ cho mục đích nhất định theo tiêu chuẩn thẩm định giá”

Như vậy, có thể hiểu dưới góc độ là một biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án, định giá, thẩm định giá tài sản là hoạt động xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận mang tính pháp lý bằng văn bản về giá của đối tượng nhất định Việc định giá tài sản, thẩm định giá tài sản giúp Tòa án có căn cứ xác định giá trị tài sản tranh chấp, từ đó làm căn cứ để phân chia tài sản hoặc giải quyết các tranh chấp liên quan tài sản

Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã mở rộng quyền chủ động của đương sự trong việc xác định giá trị tài sản tranh chấp so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, theo đó đương sự có quyền cung cấp giá tài sản đang tranh chấp, thỏa thuận về giá tài sản đang tranh chấp, các đương sự có

Trang 26

tế có rất nhiều vụ án, đương sự không thỏa thuận được giá đối với tài sản đang tranh chấp nhưng không có đương sự nào yêu cầu Tòa án ra quyết định định giá nên không thể định giá đối với tài sản đang tranh chấp làm cho Tòa án lúng túng trong việc giải quyết vụ án Vì vậy, để khắc phục vướng mắc đó, khoản 3 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung thêm quy định trong trường hợp các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản thì Tòa án cũng có quyền

ra quyết định định giá tài sản

Về thành phần Hội đồng định giá tài sản, điểm a khoản 4 Điều 104 Bộ luật

Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Hội đồng định giá do Tòa án thành lập gồm

Chủ tịch Hội đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người quy định tại Điều 52 của Bộ luật này không được tham gia Hội đồng định giá…” Để bảo đảm sự vô tư, khách quan của các thành viên trong quá trình định

giá tài sản, nhà làm luật đã bổ sung các trường hợp thành viên Hội đồng định giá tài sản phải từ chối tham gia Hội đồng định giá nếu họ đã tiến hành tố tụng trong vụ án

đó và trường hợp quy định tại Điều 52 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đó là: Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự; Họ đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ việc đó; Có căn

cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ

Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi có mặt đầy đủ các thành viên Trong trường hợp cần thiết, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá Các đương sự được thông báo trước về thời

Trang 27

23

gian, địa điểm tiến hành định giá, có quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá Quyền quyết định về giá đối với tài sản định giá thuộc Hội đồng định giá

Về trách nhiệm cử thành viên tham gia Hội đồng định giá của cơ quan

chuyên môn, trách nhiệm của người được cử tham gia thành phần Hội đồng định giá được quy định tại điểm b, khoản 4 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Theo đó, cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan có trách nhiệm

cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ Người được cử làm thành viên Hội đồng định giá có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá Trường hợp cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn không thực hiện trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá, người được cử tham gia Hội đồng định giá không tham gia định giá mà không có lý do chính đáng thì tùy từng trường hợp, Tòa án có quyền yêu cầu cơ quan quản lý có thẩm quyền trực tiếp chỉ đạo cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn thực hiện yêu cầu của Tòa án hoặc yêu cầu lãnh đạo

cơ quan đã cử người tham gia Hội đồng định giá xem xét trách nhiệm, cử người khác thay thế Quy định này là hết sức cần thiết, nhằm đảm bảo sự phối hợp và tôn trọng Toà án trong việc giải quyết nhanh vụ án, tránh trường hợp các cơ quan này từ chối cử người tham gia Hội đồng định giá tài sản, cũng như cá nhân người được cử làm thành viên Hội đồng định giá tài sản nhưng không tham gia, gây khó khăn, tốn kém tiền bạc cũng như thời gian của các đương sự và Toà án mà trước đây không có bất cứ một chế tài nào đối với cơ quan, cá nhân đó

Về trình tự, thủ tục tiến hành định giá được quy định tại điểm c khoản 4 Điều

104 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Việc định giá phải được lập biên bản, trong

đó ghi rõ ý kiến của từng thành viên, đương sự nếu họ tham dự Quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành Các thành viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản”

Pháp luật tố tụng dân sự khi quy định về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản còn một số vướng mắc như sau:

Một là, pháp luật chưa quy định về hình thức thể hiện sự thỏa thuận của

đương sự về giá tài sản dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất trên thực tiễn Trường hợp trong quá trình đương sự trình bày lời khai tại Tòa án hoặc khi

Trang 28

24

Tòa án lấy lời khai của từng đương sự, một bên đưa ra ý kiến về giá tài sản, các đương sự khác đều có ý kiến nhất trí giá trị tài sản đã đưa ra trong các bản khai, lời khai tại Tòa án thì có được coi là các đương sự đã có sự thỏa thuận về giá tài sản?

Có quan điểm chấp nhận đây là sự thỏa thuận của các đương sự về giá tài sản để làm căn cứ tiếp tục giải quyết vụ án Tuy nhiên quan điểm khác cho rằng đã là thỏa thuận thì phải được lập thành văn bản riêng giữa các bên và lưu trong hồ sơ vụ án, việc mỗi đương sự thể hiện ý kiến về giá trị tài sản ở các văn bản khác nhau, dù các

ý kiến đó thống nhất về giá trị tài sản cũng không được chấp nhận và do đó vẫn hướng dẫn đương sự làm đơn yêu cầu định giá tài sản và tiến hành thành lập Hội đồng định giá tài sản để định giá tài sản đang tranh chấp

Hai là, trong quá trình thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ

sung năm 2011, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC ngày 28/3/2014 Hướng dẫn thi hành Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản Thông tư đã hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục ra quyết định thành lập Hội đồng định giá tài sản của Tòa án cũng như tiến hành định giá tài sản của Hội đồng định giá, là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ thông qua biện pháp định giá tài sản, thẩm định giá tài sản Với việc Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ra đời và có hiệu lực thi hành, Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC ngày 28/3/2014 không còn hiệu lực Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 chưa có quy định chi tiết và chưa có văn bản hướng dẫn thi hành về trình tự, thủ tục tiến hành định giá tài sản, thẩm định giá tài sản dẫn đến cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều lúng túng khi thực hiện các thủ tục trên Thực tiễn, các Tòa án, Hội đồng định giá tài sản vẫn đang áp dụng tương tự các quy định tại Thông tư liên tịch

số 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC ngày 28/3/2014 trong quá trình thành lập Hội đồng định giá tài sản, định giá tài sản

Ba là, về việc hoãn phiên định giá tài sản, giải quyết trong trường hợp có

đương sự vắng mặt tại phiên định giá tài sản pháp luật cũng chưa có quy định hoặc quy định mang tính chất chung chung dẫn đến việc áp dụng pháp luật lúng túng

Trang 29

25

Khi nào thì phải hoãn định giá tài sản? Trong trường hợp đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên định giá tài sản, Hội đồng định giá có bắt buộc phải hoãn định giá không? Trong trường hợp có đương sự vắng mặt, Tòa án có phải gửi kết quả định giá tài sản cho họ không?

Bốn là, theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự

năm 2015, quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định cụ thể điều kiện về mặt

số lượng thành viên của Hội đồng định giá, vậy trong trường hợp tỉ lệ biểu quyết tán thành và không tán thành của Hội đồng định giá là 50/50 thì xử lý như thế nào?

Năm là, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bỏ quy định Tòa án yêu cầu tổ

chức tiến hành thẩm định giá tài sản tiến hành thẩm định giá theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự đã từng được quy định tại khoản 5 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 Việc loại bỏ này là không hợp lý bởi

lẽ, thực tiễn cho thấy rất nhiều trường hợp do khối lượng tài sản quá lớn hoặc do trình độ chuyên môn của các thành viên Hội đồng định giá không thể đáp ứng được yêu cầu định giá tài sản (như định giá doanh nghiệp,…), bắt buộc cần đến sự tham gia của tổ chức thẩm định giá tài sản Trong trường hợp này, nếu đương sự không yêu cầu hoặc không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản, Tòa án phải căn cứ vào đâu để xác định giá tài sản?

1.2.2.5 Xem xét, thẩm định tại chỗ

“Xem xét, thẩm định tại chỗ là việc Tòa án đến tận nơi có tài sản, vật chứng

định tại chỗ là một trong những biện pháp quan trọng để Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ bởi trên thực tế có đối tượng tranh chấp không thể hiện trên tài liệu hoặc

có thể hiện nhưng không đầy đủ, thậm chí có nghi ngờ về tính chính xác đó trên tài liệu thì Tòa án phải xem xét, thẩm định tại chỗ

Về điều kiện tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, Điều 89 Bộ luật Tố tụng

dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định Thẩm phán tiến hành việc

15

Nguyễn Văn Thành (2013), Các biện pháp thu nhập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự, Luận văn

thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.28

Trang 30

26

xem xét, thẩm định tại chỗ nhưng không xác định rõ việc Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ đó là chủ động thực hiện hay là do yêu cầu của đương sự Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể về điều kiện để Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ đó là theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết

Về thủ tục tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Tố

tụng dân sự năm 2015 quy định: “Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại

chỗ với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó” Theo khoản 2 Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc

xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản Nội dung biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ phải thể hiện rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem

xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận

So với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

đã bổ sung thêm quy định cấm đối với các hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ cũng như Thẩm quyền của Tòa án khi xảy ra những hành vi này, theo đó, Thẩm phán có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an xã, phường, thị trấn nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định tại chỗ hỗ trợ trong trường hợp có hành

vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ

Quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xem xét, thẩm định tại chỗ còn bộc lộ một số hạn chế như sau:

Thứ nhất, pháp luật chưa quy định rõ vai trò của đại diện Ủy ban nhân dân

cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định khi tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ Các chủ thể này

Trang 31

27

chỉ chứng kiến việc xem xét, thẩm định tại chỗ hay trực tiếp cùng với Tòa án tiến hành xác minh, nghiên cứu đối tượng được xem xem xét, thẩm định? Cần phải khẳng định rằng những người tiến hành tố tụng không thể có chuyên môn về mọi lĩnh vực, trong khi thực tiễn các tranh chấp dân sự rất đa dạng, phát sinh trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực của đời sống xã hội, do đó, nếu pháp luật không quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể trên sẽ dẫn đến việc Tòa án không nhận được sự hỗ trợ cần thiết trong quá trình thực hiện xem xét, thẩm định tại chỗ

Thứ hai, tương tự như với trường hợp định giá tài sản, khi tiến hành xem xét,

thẩm định tại chỗ, Tòa án “phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ” 16 để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định tại chỗ Vậy trường hợp Tòa

án đã thực hiện việc thông báo theo quy định nhưng đương sự vắng mặt không có lý

do thì Tòa án có bắt buộc phải hoãn việc xem xét, thẩm định tại chỗ không?

Thứ ba, hiện nay, pháp luật chưa quy định về việc xem xét, thẩm định tại chỗ

lại, vậy đương sự có quyền yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ lại không và giới hạn của quyền này đến đâu? Về vấn đề này, hiện có nhiều ý kiến trái chiều Có quan điểm cho rằng, tuy luật không quy định hạn chế quyền đề nghị này của đương sự, nhưng đề nghị xem xét, thẩm định tại chỗ lại chỉ được Tòa án chấp nhận khi có căn cứ cho rằng kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ lần trước đó không đúng quy định về hình thức tại khoản 2 Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Ngoài lý do này, Tòa án không thể chấp nhận đề nghị của đương sự về xem xét, thẩm định tại chỗ lại Có ý kiến khác cho rằng pháp luật không hạn chế quyền đề nghị Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ của đương sự, hơn nữa, nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thuộc về đương sự, nếu yêu cầu khởi kiện của họ không được Tòa án chấp nhận, do đó, Tòa án không thể đưa ra bất kỳ lý do gì để từ chối việc yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ lại của đương sự

1.2.2.6 Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, xuất phát từ việc tài sản, đương sự hoặc chứng cứ được lưu trữ ở các cơ quan thuộc địa phương khác (trong lãnh thổ Việt Nam) hoặc ở nước ngoài, việc Tòa án trực tiếp thụ lý giải quyết vụ án tự tiến hành thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được

16

Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Trang 32

28

Khi đó, pháp luật cho phép Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để ủy thác cho Tòa

án khác, cơ quan khác có thẩm quyền lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ án để đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự diễn ra đúng pháp luật, đúng trình tự, thủ tục đã được quy định

Về quyết định ủy thác thu thập chứng cứ: Khoản 2 Điều 105 Bộ luật Tố tụng

dân sự năm 2015 quy định: “Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của

nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ” Quy định của pháp luật về thông tin của đương sự trong quyết định

ủy thác thu thập chứng cứ chưa thực sự hợp lý bởi lẽ quá trình giải quyết vụ án dân

sự, các đương sự trong vụ án bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trong trường hợp ủy thác lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay khi triệu tập đương sự tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản,… mà trong quyết định ủy thác thu thập chứng cứ không có thông tin của họ thì Tòa án nhận ủy thác căn cứ vào đâu để thực hiện yêu cầu ủy thác hay Tòa án ủy thác lại phải làm một văn bản đi kèm với quyết định ủy thác để cung cấp thông tin các đương sự khác trong vụ án? Mặt khác, để việc thực hiện ủy thác có hiệu quả, xác định đúng trọng tâm công việc được ủy thác, Tòa án nhận ủy thác cần nắm bắt được nội dung cụ thể của vụ án, vậy việc pháp luật không quy định Tòa án

ủy thác phải nêu nội dung vụ án trong quyết định ủy thác liệu có đảm bảo cho hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nhận ủy thác?

Thời hạn thực hiện ủy thác được quy định tại khoản 3 Điều 105 Bộ luật Tố

tụng dân sự năm 2015 Theo đó, Tòa án nhận được quyết định uỷ thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được uỷ thác trong thời một tháng, kể từ ngày nhận được quyết định uỷ thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định uỷ thác; kể cả trường hợp đã tiến hành thực hiện yêu cầu ủy thác mà không thực hiện được thì cũng phải thông báo bằng văn bản và nêu lý do của việc không thực hiện được yêu cầu ủy thác gửi cho Tòa án ủy thác Việc quy định một thời hạn nhất định để Tòa án nhận ủy thác thực hiện công việc ủy thác và thông báo kết quả ủy thác là cần thiết, một mặt, giúp Tòa án nhận ủy thác có thời gian để thực hiện công việc được ủy thác, mặc khác, cũng giới hạn trách nhiệm của chính Tòa án

Trang 33

29

nhận ủy thác, góp phần hạn chế việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án do chờ kết quả ủy thác thu thập chứng cứ Văn bản trả lời của Tòa án nhận ủy thác là cơ sở pháp lý để Tòa án ủy thác tiếp tục giải quyết vụ án

Trong trường hợp việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở ngoài lãnh thổ Việt Nam thì Tòa án có thể làm thủ tục uỷ thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự của nước ngoài mà nước

đó và Việt Nam đã ký kết hiệp định tương trợ tư pháp hoặc cùng Việt Nam gia nhập điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này

Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng

cứ đã có trong hồ sơ vụ việc dân sự

1.2.2.7 Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự

Về điều kiện áp dụng: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định nghĩa vụ

cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan) Theo đó, đương sự phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Tuy nhiên, trên thực tế quá trình thu thập chứng cứ của đương

sự gặp phải rất nhiều khó khăn Nguyên nhân có thể xuất pháp từ các vấn đề về bảo mật thông tin hoặc chưa có cơ chế phù hợp để các cơ quan, tổ chức cung cấp chứng

cứ hoặc sự không hợp tác từ một số chủ thể quản lý chứng cứ,… Để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự, Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định về quyền yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ cho các đương sự Cụ thể, tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được diễn ra khách quan

Trang 34

30

Khi yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ thì đương sự phải làm đơn với nội dung thể hiện rõ vấn đề cần chứng minh; tài liệu, chứng cứ cần thu thập; lý do mình không tự thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan,

tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập

Đối với Toà án, khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan,

tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án

Về thời hạn cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án: Theo quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015, thời hạn này là 15 ngày kể từ ngày cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận được yêu cầu Hết thời hạn này, nếu không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, chủ thể được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do Việc không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân cho Tòa án

Có thể thấy, quy định trên là hoàn toàn phù hợp, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khi không thể tự mình thu thập chứng cứ vì nhiều lý do khác nhau và giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra sự thật khách quan của vụ

án, là căn cứ đưa ra phán quyết chính xác, công bằng

1.2.2.8 Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú

Theo quy định tại khoản 2 Điều 169, điểm i khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung 2011 thì khi Tòa án đã thụ lý đơn khởi kiện

có kèm giấy xác nhận chứng minh nơi cư trú của bị đơn hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan của chính quyền địa phương, nhưng trong quá trình giải quyết vụ

án, Thẩm phán tiến hành xác minh lại thì được biết bị đơn hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt khỏi địa phương trước thời điểm Tòa án thụ lý thì Tòa án đình chỉ vụ án hoặc trả lại đơn khởi kiện cho đương sự với lý do người khởi kiện không cung cấp được địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án Thực trạng này đã gây rất nhiều khó khăn cho người khởi kiện, nhất là khi người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đi

Trang 35

31

khỏi địa phương hoặc cố tình che giấu địa chỉ nơi cư trú dưới hình thức liên tục thay đổi địa chỉ cư trú nhằm trốn tránh nghĩa vụ dẫn đến vụ án không thể giải quyết được Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đã khắc phục được khó khăn, vướng mắc trên Cụ thể, điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung”

Do đó, trong trường hợp không thể xác định được nơi cư trú của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án sẽ không được đình chỉ giải quyết

vụ án để trả hồ sơ vụ kiện như trước đây mà phải tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng chung đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Để có căn cứ tiếp tục giải quyết vụ án, Tòa án sẽ tiến hành xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú Trong trường hợp không thể xác định được nơi cư trú của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Tòa án có thể thông qua thủ tục niêm yết để xét xử vắng mặt hoặc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng khi có yêu cầu của các đương sự khác trong vụ án

1.2.2.9 Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

Điểm i Khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “2

Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:

i) Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này”

Theo quan điểm cá nhân, “các biện pháp khác” là các biện pháp nhằm tìm ra

các chứng cứ các tình tiết để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có

cơ sở, là hợp pháp hoặc không có cơ sở, không hợp pháp và bản chất của các biện

Trang 36

Khi xem xét một cách tổng thể quy định của pháp luật tố tụng dân sự về các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án, nhận thấy rằng còn một số mâu thuẫn giữa chính các quy định với nhau và với các quy định khác của pháp luật tố tụng dân sự

Một là, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã hai lần sử dụng thuật ngữ “biện pháp khác” khi đề cập đến các biện pháp thu thập chứng cứ tại Điều 97 và Điều

105 Vậy có “biện pháp khác” trong hai trường hợp này được hiểu như thế nào? Như đã phân tích ở trên, quy định về “biện pháp khác” tại điểm i Khoản 2 Điều 97

là quy định dự liệu trường hợp luật không bao quát hết các biện pháp thu thập chứng cứ mà Tòa án áp dụng trong thực tiễn xét xử của và không bao gồm các biện pháp đã được liệt kê từ điểm a đến điểm h Điều 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 Trong khi đó, khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“1 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác

để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều này lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự” Theo quy định này, ngoài các biện pháp thu thập chứng cứ đã được liệt kê

là lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá

tài sản, Tòa án, cơ quan nhận ủy thác có thể tiến hành các “biện pháp khác” để thu thập chứng cứ Quy định này đã dẫn đến hai cách hiểu khác nhau về “biện pháp

khác” trong thu thập chứng cứ Cách hiểu thứ nhất cho rằng nội dung thuật ngữ

“biện pháp khác” trong hai trường hợp sử dụng là đồng nhất, khi đó, ngoài các biện

pháp lấy lời khai của lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại

Trang 37

33

chỗ, tiến hành định giá tài sản, Tòa án, cơ quan nhận ủy thác không được sử dụng các biện pháp thu thập chứng cứ như đối chất, trưng cầu giám định, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ, xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú mà chỉ được sử dụng thêm các biện pháp thu thập chứng cứ mà Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa quy định để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự Vấn đề đặt ra ở đây là nếu không được sử dụng các biện pháp thu thập chứng cứ đối chất, trưng cầu giám định, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ, xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú, liệu Tòa án nhận ủy thác có đảm bảo thực hiện được công việc được ủy thác trong các trường hợp mà tài liệu, chứng cứ đang được lưu trữ tại cơ quan có thẩm quyền hay đương sự đang cư trú, có nơi cư trú cuối cùng trên địa bàn của Tòa nhận ủy thác, Cách hiểu thứ hai thì cho rằng

không thể đánh đồng khái niệm “biện pháp khác” trong hai quy định tại Điều 97 và Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Thuật ngữ “biện pháp khác” tại khoản

1 Điều 105 được hiểu là bao gồm các biện pháp chưa được liệt kê tại khoản 1 Điều

105 nhưng đã được quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như đối chất, trưng cầu giám định, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ, xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú, và

cả các biện pháp mà luật không bao quát hết nhưng Tòa án áp dụng trong thực tiễn xét xử Nếu hiểu theo cách thứ hai sẽ dẫn đến sự không thống nhất trong quy định của pháp luật Như vậy, cùng một thuật ngữ được sử dụng trong các quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau gây khó khăn cho việc áp dụng trên thực tiễn

Hai là, theo quy định tại điểm e Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,

Tòa án có thể ủy thác cho Tòa án khác, cơ quan khác có thẩm quyền xác minh, thu thập chứng cứ nhưng pháp luật lại không quy định xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự với vai trò là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án Trong khi đó, biện pháp xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự được các Tòa án tiến hành thường xuyên trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, ví dụ: trường hợp xác minh về nguồn gốc đất tranh chấp tại cơ quan quản lý đất đai tại địa phương, xác minh về nhân thân của người chết phục vụ cho việc giải quyết vụ án

Trang 38

vụ việc dân sự, bao gồm cả việc xác minh sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại nơi

cư trú, do đó biện pháp thu thập chứng cứ xác minh sự có mặt, vắng mặt của đương

sự tại nơi cư trú chỉ là một phần của xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự Việc pháp luật chỉ quy định cho Tòa án được thực hiện biện pháp xác minh sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú mà không quy định Tòa án được xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự dẫn đến quy định của pháp luật vừa thừa, vừa không bao quát hết được các trường hợp Tòa án sử dụng biện pháp xác minh

Ba là, cách sử dụng thuật ngữ trong các điều luật quy định về các biện pháp

thu thập chứng cứ của Tòa án chưa tương thích với một số quy định khác của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 dẫn đến cách áp dụng chưa thống nhất, cụ thể: tại các Điều từ 97 đến Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, pháp luật sử dụng thuật

ngữ “đương sự”, như “Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi

đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng”, hay khi

đề cập đến một trong các căn cứ pháp lý để tiến hành một số biện pháp thu thập

chứng cứ đó là khi “đương sự có yêu cầu” Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1

Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự trong vụ án dân sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đương sự trong việc dân sự bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan Vậy trong trường hợp đương sự không tham gia tố tụng nhưng có người đại diện hợp pháp thì lời khai hay việc người đại diện hợp pháp của đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành một trong các biện pháp thu thập chứng cứ giải quyết như thế nào khi pháp luật chỉ quy định người đại diện hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng khác mà không phải đương sự (Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015)? Nếu cho rằng trường hợp đương sự không tham gia tố tụng nhưng có người đại diện hợp pháp thì người đại diện có các quyền của đương sự trong tố tụng dân sự, bao gồm cả quyền yêu cầu Tòa án thực hiện một số biện pháp thu thập chứng cứ thì rõ ràng quy định tại các Điều từ 97 đến 106 Bộ luật Tố tụng dân sự

Trang 39

35

năm 2015 chưa tương thích với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

2015 về cách dùng thuật ngữ pháp lý khi tại Điều 227, Điều 228 quy định rõ ràng

hậu quả pháp lý trong trường hợp “đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của

đương sự” vắng mặt tại phiên tòa và trường hợp “đương sự vắng mặt tại phiên tòa

nhưng có người đại diện hợp pháp” tham gia phiên tòa Trong trường hợp cho rằng

nếu đương sự không tham gia tố tụng thì Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai của người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc người đại diện hợp pháp không không có quyền yêu cầu Tòa án thực hiện một số biện pháp thu thập chứng cứ thì quy định tại các Điều từ 97 đến Điều 106 lại mâu thuẫn về nội dung với quy định tại Điều 86 về quyền, nghĩa vụ của người đại diện, theo đó:

“1 Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện

2 Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa

vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền”

Bốn là, trừ biện pháp thu thập chứng trưng cầu giám định, yêu cầu giám định

có quy định giới hạn về thời điểm đương sự được quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định là trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, đối với các biện pháp thu thập chứng cứ khác, hiện nay pháp luật không giới hạn quyền yêu cầu của đương sự về mặt thời gian Điều này có nghĩa là đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ này vào bất kỳ thời điểm nào trong quá trình giải quyết vụ án Việc pháp luật không quy định hoặc quy định giới hạn thời điểm đương sự được quyền yêu cầu Tòa án thực hiện biện pháp thu thập chứng cứ trước thời điểm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đã dẫn đến những bất cập trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của đương sự Khoản 2 Điều 200 và khoản 2 Điều 201 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015 quy định, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Vấn đề đặt ra ở đây là sau khi đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đương

sự yêu cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu chứng cứ và được Tòa án chấp nhận thì sau khi thu thập được tài liệu, chứng cứ mới, Tòa án có phải mở lại phiên họp kiểm tra

Trang 40

36

việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không? Tại văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số

vấn đề nghiệp vụ hướng dẫn: “Trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần thì

lần hòa giải đầu tiên Tòa án phải tiến hành theo đúng trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải quy định tại Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Đối với lần hòa giải tiếp theo, Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ khi có tài liệu, chứng cứ mới

và ghi vào biên bản hòa giải” Nếu áp dụng như hướng dẫn tại Văn bản này, thì

thời điểm bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được đưa ra yêu cầu phản

tố, yêu cầu độc lập được tính trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra chứng cứ đầu tiên, sau đó, mặc dù Tòa án thu thập được các tài liệu, chứng cứ mới theo yêu cầu của đương sự mà các tài liệu, chứng cứ này có thể làm thay đổi bản chất vụ việc nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thể đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập Như vậy, vô hình chung, việc pháp luật không quy định giới hạn thời điểm đương sự được yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ và giới hạn thời điểm Tòa án tự tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ khi xét thấy cần thiết khiến cho các quy định của pháp luật trở lên không thống nhất, ảnh hưởng trực tiếp quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự

Năm là, về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, qua xem xét các quy định chi phí tố

tụng tại các Điều 153, Điều 157, Điều 161, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015, nhận thấy pháp luật mới chỉ dừng lại ở quy việc quy định: Đương sự, người

đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí định giá, thẩm định giá, chi phí cho người làm chứng nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận hoặc nếu lời làm chứng của người làm chứng phù hợp với sự thật nhưng không đúng với yêu cầu của người đề nghị Nghĩa là, yêu cầu của đương sự nếu không được Tòa án chấp nhận toàn bộ, thì đương sự phải gánh chịu mọi chi phí tố tụng phát sinh (nếu có) Vấn đề đặt ra với trường hợp các bên đương sự không có thoả thuận về nghĩa

vụ chịu các chi phí tố tụng thì nghĩa vụ của từng đương sự được xác định như thế nào khi yêu cầu khởi kiện của đương sự được Tòa án chấp nhận một phần Ngoài ra,

theo quy định, tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; định giá tài sản“là

Ngày đăng: 31/07/2019, 06:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w