1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG KHOAI LANG TAỊ HUYÊṆ BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

118 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, dựa vào lý thuyết chuỗi cung ứng và phân tích các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng với mục tiêu nhâ ̣n da ̣ng các điểm nghẽn trong chu

Trang 1

PHÙNG QUANG TRƯỜNG

Tên đề tài:

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG KHOAI LANG TẠI HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH

VĨNH LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

CẦN THƠ, 2016

Trang 2

PHÙNG QUANG TRƯỜNG

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG KHOAI LANG TẠI HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH

VĨNH LONG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Ngành Quản trị kinh doanh

Mã ngành: 60340102

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền

CẦN THƠ, 2016

Trang 3

Trong quá trình học tập tại Trường Đại học Tây Đô, làm việc tại Văn phòng HĐND&UBND huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, và thực hiện bài luận văn nghiên cứu: “Giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng khoai lang huy ện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long” ở địa phương huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, nơi mà tôi đang sinh sống Tôi chân thành cám ơn GS TS Nguyễn Thanh Tuyền , nhờ sự chỉ bảo và hướng dẫn tận tình của Thầy mà tôi có th ể hiểu rõ về phương pháp khoa học và nội dung đề tài, từ đó có thể hiểu rõ và thực hiện luận văn hoàn thiện hơn

Quý Thầy, Cô trường Đại học Tây Đô đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báo trong suốt thời gian tôi theo học tại trường; những kiến thức này cung cấp cho tôi một nền tảng vững chắc để hoàn thành luận văn cũng như phục vụ cho công việc sau này

Trong quá trình thực hiện đề tài mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý Thầy Cô và bạn đọc

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

Ở Bình Tân Khoai lang đã được người dân trồng từ khá lâu Khoai lang

là một đặc sản nằm trong số chín loại trái cây, rau củ, làng nghề được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Long đề cử với Tổ chức Kỷ lục Việt Nam vào tháng 3/2015 Tuy nhiên còn rất nhiều vấn đề liên quan đến khâu sản xuất, chế biến, tiêu thụ, giá cả khoai lang và theo nghiên cứu thực hiện tại các giai đoạn phát triển cho thấy, giá trị tiềm năng của chuỗi cung ứng là cốt lõi kinh doanh của doanh nghiệp, vì vậy “Giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng khoai lang ta ̣i huyê ̣n Bình Tân , tỉnh Vĩnh Long” là hết sức cần thiết cần được nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, dựa vào lý thuyết chuỗi cung ứng

và phân tích các tác nhân tham gia chuỗi cung ứng với mục tiêu nhâ ̣n da ̣ng các điểm nghẽn trong chuỗi và tìm ra các cơ hô ̣i để hoàn thiê ̣n chuỗi cung ứng khoai lang ta ̣i huyê ̣n Bình Tân , từ đó đ ề xuất những giải pháp phù hợp với thực tiễn trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2016 - 2020 nhằm tăng cườ ng hiê ̣u quả hoạt động chuỗi cung ứng khoai lang huyê ̣n Bình Tân, nhằm giúp các nhà quản lý các cấp có đủ cơ sở xây dựng các chính sách và giải pháp phù hợp hơn

để tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững chuỗi cung ứng khoai lang tại huyện Bình Tân, từ tập trung thực hiện trồng khoai lang theo quy trình sản xuất sa ̣ch theo GAP; ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất; xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn; hoàn thiện sự tăng cường phối hợp giữa các thành phần tham gia chuỗi cung ứng thông qua các giải pháp liên kết nông dân với các thành phần khác trong chuỗi cung ứng, xây dựng mô hình Hợp tác xã kiểu mới ở địa phương nhằm giải quyết các vấn đề khó khăn trong việc sản xuất và tiêu thụ khoai lang

Trang 5

sweet potato is a specialty among the nine kinds of fruit, vegetables, villages are culture, sports and tourism of Vinh Long nomination with Vietnam record organization in March 2015 However there are many problems related to production, processing, consumption, prices, and sweet potatoes under research conducted at the stage of development shows that the potential value

of the supply chain is the core corporate business, so "perfect solution sweet potato supply chain in Binh Tan district, Vinh Long province" is very necessary need to be studied Research using qualitative methods, based on the theory of supply chain and analyze the actors with the goal of supply chain Identify bottlenecks in the chain and to find opportunities to perfect supply chain in Binh Tan sweet potatoes, which recommended out the appropriate solutions to the realities of the next stage in 2016 - 2020 in order to enhance the operational efficiency of supply chain yam Binh Tan district, to help managers at all levels are sufficient grounds building policy and more appropriate solutions to increase added value and sustainable development of sweet potato supply chain in Binh Tan district, from focusing done sweet potato production process clean GAP; information technology application into production; branding and product promotion, development of rural infrastructure; Complete the strengthening of coordination among stakeholders supply chain solutions through linking farmers with the other components in the supply chain, modeling new style cooperative to address local the problems in the production and consumption of sweet potatoes

Trang 6

Tôi là học viên lớp Cao học Quản Trị Kinh Doanh khóa 2A của Trường Đại học Tây Đô niên khóa 2014-2016 Tôi xin cam đoan với Ban Giám hiệu, Hội đồng Khoa học của Trường là đề tài tôi nghiên cứu về “Giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng khoai lang tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long” là công trình do chính tôi nghiên cứu các tư liệu thu thập từ địa bàn huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long thực hiện cùng với sự hướng dẫn của GS TS Nguyễn Thanh Tuyền – Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tôi xin cam đoan và hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Bình Tân, ngày tháng 6 năm 2016

Người cam đoan

Phùng Quang Trường

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU Error! Bookmark not defined

1 Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined

2 Mục tiêu nghiên cứu Error! Bookmark not defined

3 Câu hỏi nghiên cứu Error! Bookmark not defined

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined 4.1 Đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined 4.2 Phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined

5 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined 5.1 Phương pháp thu thập số liệu Error! Bookmark not defined

5.2 Phương pháp phân tích Error! Bookmark not defined

6 Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến chuỗi cung ứ ngError! Bookmark not defined

6.1 Công trình nghiên cứu của Joeteddy B Bugarin Error! Bookmark not defined 6.2 Chuỗi cung ứng của ZARA Error! Bookmark not defined 6.3 Chuỗi cung ứng của Dell Error! Bookmark not defined 6.4 Kinh nghiệm xây dựng chuỗi cung ứng của Singapore Error! Bookmark not defined 6.5 Kinh nghiệm xây dựng chuỗi cung ứng của Hàn Quốc Error! Bookmark not defined 6.6 Bài học kinh nghiệm từ thành công của sản phẩm gạo ở Thái Lan Error! Bookmark not defined

6.7 Kinh nghiệm từ thất bại trong việc xây dựng chuỗi cung ứng dừa ở Tỉnh Bến Tre

Error! Bookmark not defined 6.8 Luận văn khác Error! Bookmark not defined

7 Bài học kinh nghiệm Error! Bookmark not defined

8 Những nét đóng góp của luận văn Error! Bookmark not defined

9 Các bước nghiên cứu Error! Bookmark not defined

10 Kết cấu của luận văn Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI CUNG ỨNGError! Bookmark not

defined

1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứ ng Error! Bookmark not defined 1.1.1 Chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng Error! Bookmark not defined 1.1.1.1 Chuỗi cung ứng Error! Bookmark not defined 1.1.1.2 Quản trị chuỗi cung ứng Error! Bookmark not defined 1.1.2 Phân loại chuỗi cung ứng Error! Bookmark not defined 1.1.2.1 Theo tiêu chí tính liên kết giữa các thành phần trong chuỗi cung ứng Error! Bookmark not defined

1.1.2.2 Theo đặc tính của sản phẩm Error! Bookmark not defined 1.1.2.3 Theo cách thức đưa sản phẩm ra thị trường Error! Bookmark not defined 1.2 Các thành phần và mối quan hệ hợp tác trong chuỗi cung ứngError! Bookmark not defined

1.2.1 Các thành phần cơ bản trong chuỗi cung ứng Error! Bookmark not defined 1.2.2 Mối quan hệ hợp tác trong chuỗi cung ứng Error! Bookmark not defined

1.2.3 Mức độ hợp tác trong chuỗi cung ứng Error! Bookmark not defined 1.2.4 Vai trò của hợp tác trong chuỗi cung ứng Error! Bookmark not defined 1.2.4.1 Đối với bản thân doanh nghiệp Error! Bookmark not defined

Trang 8

1.3.1 Các yếu tố tác động đến hiệu quả chuỗi cung ứng Error! Bookmark not defined 1.3.1.1 Sản xuất Error! Bookmark not defined 1.3.1.2 Hàng tồn kho Error! Bookmark not defined 1.3.1.3 Vị trí Error! Bookmark not defined 1.3.1.4 Vận chuyển Error! Bookmark not defined 1.3.1.5 Thông tin Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH , ĐÁNH GIÁ CHUỖI CUNG ỨNG KHOAI LANG TẠI HUYỆN BÌNH TÂN Error! Bookmark not defined 2.1 Tổng quan về huyện Bình Tân Error! Bookmark not defined 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên Error! Bookmark not defined 2.1.1.1 Vị trí địa lý Error! Bookmark not defined 2.1.1.2 Khí hậu Error! Bookmark not defined 2.1.1.3 Tài nguyên đất đai Error! Bookmark not defined 2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội Error! Bookmark not defined 2.1.2.1 Đơn vị hành chính Error! Bookmark not defined 2.1.2.2 Tình hình dân số Error! Bookmark not defined 2.1.2.3 Tình hình kinh tế Error! Bookmark not defined 2.1.2.4 Mạng lưới giao thông và thủy lợi Error! Bookmark not defined

2.2 Giớ i thiê ̣u về cây khoai lang Error! Bookmark not defined 2.2.1 Đặc điểm Error! Bookmark not defined 2.2.2 Tình hình trồng khoai lang Error! Bookmark not defined 2.2.2.1 Việt Nam Error! Bookmark not defined 2.2.2.2 Tình hình sản xuất khoai lang ĐBSCL Error! Bookmark not defined

2.3 Giớ i thiê ̣u về khoai lang Bình Tân Error! Bookmark not defined

2.4 Phân tích chuỗi cung ứng khoai lang ta ̣i huyê ̣n Bình TânError! Bookmark not defined

2.4.1 Nhà cung cấp Error! Bookmark not defined 2.4.2 Tình hình sản xuất của nông dân trồng khoai Error! Bookmark not defined

2.4.2.1 Diện tích Error! Bookmark not defined 2.4.2.2 Tưới tiêu Error! Bookmark not defined 2.4.2.3 Phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Error! Bookmark not defined 2.4.2.4 Lao động Error! Bookmark not defined 2.4.2.5 Thu hoạch Error! Bookmark not defined 2.4.2.6 Kinh nghiệm sản xuất Error! Bookmark not defined 2.4.2.7 Việc sử dụng đất Error! Bookmark not defined 2.4.2.8 Về yếu tố kỹ thuật và nguồn vốn đầu tư Error! Bookmark not defined

2.4.2.9 Về chi phí và thu nhâ ̣p của nông hộ Error! Bookmark not defined 2.5 Tình hình thu nhập nhà phân phối Error! Bookmark not defined 2.5.1 Giá cả và đầu ra sản phẩm Error! Bookmark not defined 2.5.2 Phân phối Error! Bookmark not defined

2.6 Phân tích sự phối hợp giữa các thành phần trong chuỗi cung ứng khoai lang ta ̣i huyê ̣n

Bình Tân Error! Bookmark not defined

2.7 Cơ hội và khó khăn thách thức chuỗi cung ứng khoai lang huyê ̣n Bình Tân Error! Bookmark not defined

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG KHOAI LANG TA ̣I

Trang 9

3.2 Quan điểm đề xuất giải pháp Error! Bookmark not defined 3.3 Cơ sở đề xuất giải pháp Error! Bookmark not defined

3.4 Các nhóm giải pháp hoàn thi ện chuỗi cung ứng khoai lang tại huyện Bình Tân , tỉnh

Vĩnh Long Error! Bookmark not defined

3.4.1 Nhóm giải pháp xây dựng và áp dụng thành công kỹ thuật trồng khoai lang theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và chuyển giao khoa ho ̣c k ỹ thuật cho nông dân trồng khoai.

Error! Bookmark not defined 3.4.2 Nhóm giải pháp Ứng dụng công nghệ thông tin Error! Bookmark not defined

3.4.3 Nhóm giải pháp đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Bình Tân

Error! Bookmark not defined

3.4.4 Nhóm giải pháp hoàn thiện phương thức giao dịch và thanh toán trong toàn chuỗi cung ứng khoai lang huyện Bình Tân Error! Bookmark not defined 3.4.5 Hoàn thiện công tác xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩmError! Bookmark not defined

3.4.6 Nhóm giải pháp nhằm tăng cường sự phối hợp và hỗ trợ giữa các thành phần tham

gia chuỗi cung ứng khoai lang huyện Bình Tân Error! Bookmark not defined 3.4.7 Những giải pháp hỗ trợ khác Error! Bookmark not defined 3.4.7.1 Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật Error! Bookmark not defined

3.4.7.2 Giải pháp xây dựng mở rộng hệ thống tiêu thụ, tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới

Error! Bookmark not defined 3.4.7.3 Giải pháp xây dựng vùng nguyên liệu Error! Bookmark not defined 3.4.7.4 Giải pháp hỗ trợ vốn và kỹ thuật Error! Bookmark not defined 3.4.7.6 Hỗ trợ xây dựng thương hiệu khoai lang Bình Tân Error! Bookmark not defined 3.5 Những khó khăn khi triển khai thực hiện các giải pháp Error! Bookmark not defined 3.6 Khuyến nghị Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined TAI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.

Trang 10

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Diễn biến diện tích trồng khoai lang của Việt NamError! Bookmark not defined

Bảng 2.2: Diễn biến sản lượng trồng khoai lang của Việt NamError! Bookmark not defined

Bảng 2.3: Diễn biến năng suất trồng khoai lang của Việt NamError! Bookmark not defined

Bảng 2.4: Diễn biến diện tích sản lượng, năng suất khoai lang ĐBSCL năm 2015 Error! Bookmark not defined

Bảng 2.5: Diện tích và sản lượng khoai lang qua các năm Error! Bookmark not defined Bảng 2.6 Diê ̣n tích trồng khoai của nông hô ̣ Error! Bookmark not defined

Bảng 2.7: Diện tích trồng khoai lang của 74 hô ̣ được phỏng vấnError! Bookmark not defined

Bảng 2.8: Nguồn vốn đầu tư của nông hô ̣ Error! Bookmark not defined

Bảng 2.9: Chi phí đầu tư trồng khoai lang Error! Bookmark not defined Bảng 2.10 Thu nhâ ̣p hô ̣ nông dân trồng khoai Error! Bookmark not defined

Bảng 2.11: Bảng thống kê tỷ lệ lợi nhuận của các thành phần trong chuỗi cung ứng Khoai lang huyê ̣n Bình

Tân……….Error! Bookmark not defined.

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh LongError! Bookmark not defined

Hình 2.2: Tốc độ tăng trưởng từng khu vực Error! Bookmark not defined Hình 2.3: Logo nhãn hiê ̣u tâ ̣p thể khoai lang Bình Tân Error! Bookmark not defined Hình 2.4: Thị trường xuất khẩu khoai lang Bình Tân Error! Bookmark not defined Hình 2.5: Ruô ̣ng khoai lang Bình Tân Error! Bookmark not defined Hình 2.6: Sơ đồ chuỗi cung ứng khoai lang tại huyện Bình TânError! Bookmark not defined

Hình 2.7: Thu nhập từ hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh của nhà phân phốiError! Bookmark not defined

Trang 12

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 13

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khoai lang đã được người dân huyện Bình Tân, Vĩnh Long trồng từ khá lâu Khi dân cư ở vùng đất này trồng lúa mùa một vụ thì rẫy khoai lang đã được trồng xen vào như vụ mùa thứ 2 sau khi thu hoạch lúa ở các vùng đất cao Ngày nay được kiên cố hóa thủy lợi nội đồng nhiều nông hộ mạnh dạn trồng khoai lang quanh năm theo số liệu thống kê năm 2015 diện tích từ 10.579 ha

Để tổ chức thực hiện tốt Đề án 03-ĐA/TU, ngày 20/02/2014 của Tỉnh ủy Vĩnh Long về “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long theo hướng nâng cao giá trị, hiệu quả và phát triển bền vững giai đoạn 2014 – 2020” việc đưa cây màu để thay thế diện tích đất trồng lúa năng suất thấp thì trong đó cây khoai lang là thích hợp với Đề án vì ở đây điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi cho trồng khoai với qui mô lớn nhằm phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao thu nhập của nhân dân Khoai lang là mô ̣t đặc sản nằm trong số chín loại trái cây, rau củ, làng nghề được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Long đề cử với Tổ chức

Kỷ lục Việt Nam vào tháng 3/2015

Điệp khúc trúng mùa mất giá cứ tồn tại dai dẳng suốt nhiều năm qua ở vùng khoai Bình Tân khiến người nông dân không khỏi lo lắng Hầu như năm nào cũng vậy, hễ thu hoạch rộ là khoai rớt giá thê thảm Ngoài chuyện giá cả ra, người dân còn bị cánh thương lái ép giá khi ến lợi nhuận của người dân giảm đáng kể do người trồng khoai lang thiếu thông tin về thị trường, sản xuất theo kiểu nhỏ lẻ, manh mún, kỹ thuật canh tác còn thủ công, giản đơn, chưa áp du ̣ng các quy trình canh tác đạt chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm nên chất lượng khoai thấp, tình trạng lạm dung thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) ảnh hưởng đến chất lượng, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng Các hộ dân chưa liên kết lại với nhau để hình thành hợp tác xã khoai lang nhằm bảo vê ̣ lợi ích nông dân khi giá cả và sản lượng khoai lang trên thị trường biến động Tình trạng quá phụ thuô ̣c vào mô ̣t thi ̣ trường xuất khẩu là Trung Quốc nên chưa mang tính b ền vững Bên cạnh quá trình toàn cầu hóa như hiê ̣n nay phải đối mặt với sức ép cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu, sản phẩm, dịch vụ, đầu tư của các nước ASEAN, đặc biệt là khi các nước ASEAN loại bỏ hàng rào phi thuế quan Một

số ngành sẽ phải thu hẹp sản xuất, thậm chí đóng cửa Các sản phẩm xuất khẩu

Trang 14

của Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh của hàng hóa từ các nước khác trên thị trường ASEAN do AEC hình thành sẽ tạo ra thị trường chung, không còn rào cản hàng hóa, dịch vụ, vốn…và cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu đối với các sản phẩm, ngành hay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh ngay tại thị trường Việt Nam và theo nghiên cứu thực hiện tại các giai đoạn phát triển cho thấy, giá trị tiềm năng của chuỗi cung ứng là cốt lõi kinh doanh của doanh nghiệp Quản trị chuỗi cung ứng có thể được hiểu là sự phối hợp của sản xuất, tồn kho, địa điểm và vận chuyển giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhịp nhàng và hiệu quả các nhu cầu của thị trường vì v ậy “Giải pháp hoàn thiê ̣n chuỗi cung ƣ́ng khoai lang ta ̣i huyê ̣n Bình Tân , tỉnh Vĩnh Long” là

hết sức cần thiết cần được nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Tập trung nghiên cứu các tác nhân của sự hợp tác trong chuỗi cung ứng khoai lang ta ̣i huyê ̣n Bình Tân, nhâ ̣n da ̣ng các điểm nghẽn của chuỗi, các cơ hội, từ đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiê ̣n

2.2 Mục tiêu cụ thể

Phân tích hiê ̣n tra ̣ng chuỗi cung ứng Khoai lang ta ̣i huyê ̣n Bình Tân đặt trong mối liên kết, hợp tác giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng khoai lang Nhâ ̣n da ̣ng các điểm nghẽn trong chuỗi và tìm ra các cơ hô ̣i để hoàn thiê ̣n chuỗi cung ứng khoai lang ta ̣i huyê ̣n Bình Tân , từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp với thực tiễn trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2016 - 2020 nhằm tăng cường hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng chuỗi cung ứng khoai lang huyê ̣n Bình Tân , nhằm giúp các nhà quản lý các cấp có đủ cơ sở xây dựng các chính sách và giải pháp phù hợp hơn để tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững chuỗi cung ứng khoai lang tại huyện Bình Tân

3 Câu ho ̉i nghiên cƣ́u

Để thực hiện tốt mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

Một là Bản chất của sự hợp tác trong chuỗi cung ứng là gì?

Trang 15

Hai là sự hợp tác và tính hiệu quả của chuỗi cung ứng khoai lang huyê ̣n

Bình Tân?

Ba là Những thành phần tham gia vào chuỗi cung ứng sẽ cần những giải

pháp nào để chuỗi cung ứng Khoai lang huyê ̣n Bình Tân đem la ̣i hiê ̣u quả?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng khoai lang tại huyện Bình Tân , tỉnh Vĩnh Long

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian

Nghiên cứu triển khai tại 5 xã: Thành Trung , Tân Thành , Thành Đông, Thành Lợi, Tân Quới, là 5 xã chính tập trung hơn 80% diện tích và sản lượng khoai lang tại huyện Bình Tân Bên cạnh đó đề tài còn nghiên cứu các doanh nghiệp thu mua mặt hàng Khoai lang trên đi ̣a bàn huyê ̣n và Thi ̣ xã Bình Minh , người sản xuất khoai lang, thương lái và người tiêu dùng

Về thời gian

Dữ liệu thứ cấp dùng để thực hiện đề tài nghiên cứu được thu thập trong khoảng thời gian chủ yếu từ năm 2011-2015, từ lược khảo tài liê ̣u thứ cấp có liên quan đến sản xuất và tiêu thu ̣ khoai lang ta ̣i các xã và trên đi ̣a bàn huyê ̣n Bình Tân như: dữ liệu đã có sẵn từ các báo cáo của Chi cu ̣c thống kê huyện Bình Tân, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục thống kê tỉnh Vĩnh Long

Dữ liệu sơ cấp thu được thông qua điều tra xã hội học triển khai từ tháng 06/2016 đến tháng 08/2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Luâ ̣n văn được thực hiê ̣n theo phương pháp nghiên cứu đi ̣nh tính thông qua phỏng vấn chuyên gia trong và ngoài liên quan đến đề tài nghiên cứu như phỏng vấn sâu các nhà quản lý chuyên ngành nông nghiê ̣p của huyê ̣n , tỉnh và giảng viên trường Đại học Tây Đô, tranh thủ sự đóng góp ý kiến của người hướng dẫn khoa học GS TS Nguyễn Thanh Tuyền – Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh nhằm thiết lập sơ đồ chuỗi cung ứng khoai lang tại huyện Bình Tân cho phù hợp với

Trang 16

tình hình thực tế tại huyện Bình Tân

5.1 Phương pháp thu thập số liệu

5.1.2 Số liệu sơ cấp

Phỏng vấn trực tiếp các cá nhân , tổ chức, doanh nghiê ̣p tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh khoai lang, từ hộ trồng khoai lang đến thương lái, doanh nghiê ̣p xuất khẩu

5.1.3 Cỡ mẩu

Theo Hair&ctg (2006) đề nghị cỡ mẫu tối thiểu 100 bảng câu hỏi nên tác giả chọn cỡ mẫu 100 quan sát để phân tích hoa ̣t đô ̣ng các tác nhân trong chuỗi cung ứng khoai lang Bình Tân

Các quan sát thuộc nhóm đối tượng nông dân trồng khoai lang được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuâ ̣n tiê ̣n và đặc điểm các hộ trồng khoai tương đối giống nhau nên luâ ̣n văn cho ̣n 15 hộ/xã được lựa chọn Các đối tượng còn lại của chuỗi cung ứng khoai lang được chọn mẫu bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Ngoài ra, đối với 2 đối tượng nghiên cứu là các thương lái, doanh nghiệp xuất khẩu m ặt hàng khoai lang thì số liệu sơ cấp ngoài việc thu thập tại địa bàn huyện Bình Tân, còn được thu thập tại thi ̣ xã Bình Minh là nơi tập trung phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu khoai lang, để xác định sự hợp tác của chuỗi cung ứng khoai lang ta ̣i huyê ̣n Bình Tân

Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua tiến trình sau:

Bước 1: Xây dựng bảng câu hỏi

Giai đoạn 1: Xây dựng bảng câu hỏi thô dựa trên nền tảng các thông tin cần thu thập trong mô hình nghiên cứ u

Giai đoạn 2: Chọn lọc và hiệu chỉnh các câu hỏi dựa trên ý kiến đóng góp

Trang 17

của cán bộ phòng Nông nghiệp và PTNT Phỏng vấn thử 15 cá nhân để kiểm tra mức độ rõ ràng của bảng câu hỏi, qua đó ghi nhận ý kiến ban đầu của họ

Giai đoạn 3: Hiệu chỉnh và hoàn tất bảng câu hỏi lần cuối

Bước 2: Xác định số lượng mẫu cần thiết

Bước 3: Phỏng vấn điều tra khách hàng

Bước 4: Kiểm tra kết quả phỏng vấn, loại ra những mẫu không đạt yêu cầu Bước 5: Nhập liệu

Bước 6: Xử lý dữ liệu

5.2 Phương pha ́ p phân tích

5.2.1 Phương pha ́ p phân tích đi ̣nh tính

- Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả thông qua thu thập

dữ liệu có sẵn tiến hành lập bảng biểu cũng như vẽ các đồ thị, biểu đồ để dễ dàng so sánh và đánh giá nội dung nghiên cứu

- Bên cạnh đó, kết hợp với phương pháp suy diễn để lập luận và giải thích đặc điểm chuỗi cung ứng Khoai lang Bình Tân thông qua các sơ đồ minh họa

5.2.2 Phương pha ́ pphân tích đi ̣nh lươ ̣ng

Phương pháp này được thực hiện nhằm xác định hiệu quả hoạt động của các tác nhân trong chuỗi cung ứng khoai lang Bình Tân

6 Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến chuỗi cung ư ́ ng 6.1 Công trình nghiên cứu của Joeteddy B Bugarin

Joeteddy B Bugarin [8] nghiên cứu về “Cải tiến trong chuỗi cung ứng của

ngành sầu riêng tại vùng Davao-Philippine” trong đó tác giả đã dùng phương pháp thống kê miêu tả 108 mẫu, qua bài nghiên cứu tác giả đã chỉ ra được những điểm yếu kém trong chuỗi: khâu yếu nhất là từ người trồng sầu riêng đến người thu mua, dẫn đến chất lượng sầu riêng là vấn đề lớn nhất ảnh hưởng đến hiệu quả toàn chuỗi và tác giả cũng đề ra một số giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả chuỗi sầu riêng tại vùng Davao-một trong những vùng trồng sầu riêng lớn nhất tại Philippine Tuy nhiên, có nhiều đối tượng nghiên cứu nên phần hạn chế của

đề tài là kết quả nghiên cứu còn chưa thể hiện hết được những yếu kém của toàn

Trang 18

chuỗi cũng như những giải pháp còn mang tính chung chung, chưa cụ thể đòi hỏi người đọc phải nghiên cứu thêm

6.2 Chuỗi cung ứng của ZARA [6]

Hãng thời trang Zara là một ví dụ điển hình về chuỗi cung ứng nhanh và hiệu quả Zara là công ty thành viên có tỉ lệ lợi nhuận cao nhất, là lá cờ đầu của

tập đoàn Inditex – một trong những tập đoàn có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong ngành công nghiệp thời trang

Những biểu hiện thành công của chuỗi cung ứng tại Zara:

- Lượng hàng thanh lý của hãng chỉ chiếm 10% lượng sản phẩm, so với mức 17-20% của ngành thời trang

- Lượng hàng bán ra với giá niêm yết ban đầu chiếm 80-85% lượng sản phẩm, so với mức 60-70% của ngành

- Zara quản lý hiệu quả hơn 300.000 đơn vị dự trữ mỗi năm

- Khi ngành thời trang chỉ cho phép các điểm bán hàng thay đổi 20% lượng đơn hàng một khi mùa thời trang bắt đầu, con số Zara cho phép là 40-50%

- Các điểm bán của Zara chỉ phải giữ một lượng hàng rất nhỏ trong kho

- Mẫu mã thay đổi liên tục của Zara rất thu hút khách hàng Một khách

hàng điển hình của Zara đến cửa hàng 17 lần một năm, con số này của đối thủ cạnh tranh GAP chỉ là 4-5 Điều này giúp hãng giới hạn chi phí quảng cáo ở mức 0,3% doanh số, so với mức 3-4% của đối thủ cạnh tranh

Những thành tựu trên là biểu hiện rõ rệt cho hoạt động hiệu quả của Zara

Để thành công thực hiện mục tiêu phổ thông hóa thời trang cao cấp và mang đến khách hàng toàn cầu hơn 12.000 mẫu thiết kế mới mỗi năm, Zara đảm bảo tính linh hoạt trong chuỗi cung ứng của mình:

- Từng hoạt động trong chuỗi cung ứng được đảm bảo hiệu quả và nhanh chóng tối đa Zara tập trung xây dựng tính thời gian thực của dòng thông tin và

sự phối hợp giữa mọi đối tác trong chuỗi cung ứng

- Zara kiểm soát chặt chẽ chuỗi cung ứng của mình Hãng sử dụng tối đa nguồn lực của mình và các công ty cùng tập đoàn Inditex để thực hiện các công đoạn trong chuỗi cung ứng Bên cạnh đó, Zara lựa chọn các đối tác bên ngoài rất cẩn thận

Dòng lưu chuyển thông tin trong chuỗi cung ứng luôn thông suốt Mọi đối

tác liên quan đến chuỗi cung ứng của Zara luôn kết nối với nhau, từ khách hàng

Trang 19

đến người phụ trách cửa hàng Zara, từ cửa hàng tới các chuyên gia về thị trường

và nhà thiết kế, từ bộ phận thiết kế đến khâu sản xuất, từ nhà máy đến các nhà thầu cung cấp, từ kho đến trung tâm phân phối của Zara…

Mọi khâu liên quan đến hoạt động của Zara đều được hoạch định để phục

vụ mục đích này, từ cơ cấu tổ chức, cách thức kinh doanh, chỉ tiêu đánh giá hoạt động đến cả kiến trúc văn phòng và cửa hàng

Chủ trương này của Zara tạo điều kiện cho mọi đối tác trong chuỗi có thể góp ý cho các quyết định của hãng

Zara vận hành ba chuỗi cung ứng tương đối riêng biệt cho ba dòng sản

phẩm của mình Kinh doanh các sản phẩm rất khác nhau dành cho phái đẹp, phái mạnh và trẻ em, Zara dành riêng cho mỗi dòng sản phẩm một chuỗi cung ứng với đội ngũ thiết kế, bán hàng, mua nguyên liệu, chuyên gia thị trường và hoạch định sản xuất riêng biệt Điều này có nghĩa một nhà máy gia công sản phẩm áo cho cả phái đẹp và trẻ em của Zara phải giao dịch và hợp tác với ít nhất hai đội ngũ khác nhau của hãng

Một minh chứng khác cho sự hoạt động song song nhưng riêng rẽ của ba chuỗi cung ứng nêu trên là sự phân chia đại bản doanh của Zara tại La Coruna Tây Ban Nha thành ba khu vực khác nhau dành cho nhân sự của ba dòng sản phẩm Vận hành cùng lúc ba chuỗi cung ứng tạo thêm nhiều chi phí cho Zara Nhưng chiến lược này mang lại cho hãng sự linh hoạt nhờ đội ngũ của từng chuỗi chỉ tập trung cho dòng sản phẩm của mình

Các hoạt động của Zara là kết quả của mọi đối tác trong chuỗi cung ứng

Như đã nói ở trên, Zara rất chú trọng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng, thể

hiện ở các chính sách và chiến lược của hãng

Một ví dụ điển hình cho điều này là viê ̣c bố trí ở mỗi phân khu mô ̣t xưởng thiết kế và ta ̣o sản phẩm mẫu, tạo điều kiện cho mọi người tại Zara đóng góp ý kiến, tăng tính hấp dẫn và thực tế của các mẫu thiết kế Trên thực tế, Zara có khả năng hoàn thành quá trình đánh giá và lựa cho ̣n mẫu thiết kế để đưa vào sản xuất, tính toán và thông qua các nguồn lực cần thiết cho việc sản xuất và đưa sản phẩm đến tay khách hàng chỉ trong vài giờ

Zara có được thành quả này là nhờ các nhóm thiết kế linh hoa ̣t gồm nhân sự với:

Trang 20

+ Các nhà thiết kế tài năng và năng động: Zara tuyển chọn đô ̣i ngũ thiết kế dựa trên thực tài Chủ yếu là các nhà thiết kế chưa đến 30 tuổi, họ được đánh giá thường xuyên để đảm bảo khả năng làm viê ̣c và tính linh hoa ̣t

+ Các chuyên gia thị trường: Luôn liên lạc với các cửa hàng và hiểu biết về thị trường và người tiêu dùng, họ đánh giá và đóng góp cái nhìn thực tế cho các mẫu thiết kế (kiểu cách, màu sắc, chất liê ̣u…) Các chuyên gia thị trường còn đề xuất giá bán thích hợp

+ Các nhà hoạch định nguyên liệu và sản xuất : Dựa trên các mẫu thiết kế được phát triển, đô ̣i ngũ này cung cấp những tính toán nhanh chóng nhưng rất quan tro ̣ng về năng lực sản xuất và chi phí

Zara cung cấp nhiều đợt hàng số lượng nhỏ cho thi ̣ trường Thay vì dựa vào số lượng nhỏ các đợt hàng lớn để tận dụng tính hiệu quả nhờ quy mô, Zara gửi nhiều đợt hàng nhỏ cho thị trường Chiến lược này tạo thêm chi phí cho Zara, yêu cầu hãng luôn theo sát thị trường, kịp thời sản xuất và cung cấp sản phẩm Điều này giải thích cho việc nhiều cửa hàng Zara nhận hàng từ công ty 2-6 lần/tuần Bên cạnh đó, lượng hàng trong kho của mỗi sản phẩm là rất ít Tuy nhiên, những lợi quyết định này mang là rất lớn:

+ Số lượng rất lớn các thiết kế (hơn 12.000 mẫu mới mỗi năm), chất lượng cao và giá hợp lý tạo nên sự hấp dẫn của Zara với thị trường Trên thực tế, lượng hàng ít ỏi của mỗi sản phẩm khiến khách hàng thường xuyên đến các cửa hàng Zara Khi một mẫu thiết kế hết hàng, họ sẽ lựa chọn và mua sản phẩm khác Theo một cách nhất định, Zara đã biến tình trạng hết hàng thành một ưu thế cạnh tranh của mình trên thị trường

+ Việc tích trữ một lượng ít hàng trong kho hạn chế rủi ro mà các cửa hàng Zara phải chịu

+ Tính linh hoạt của Zara được đảm bảo

Tóm lại, yếu tố quyết định trong sự thành công của chiến lược này tại Zara

là dòng thông tin luôn thông suốt mà hãng thiết lập cùng với mọi đối tác trong chuỗi cung ứng

Zara kiểm soát chặt chẽ chuỗi cung ứng Tận dụng tối đa nguồn lực của mình, và tập đoàn mẹ Inditex, và làm việc với các đối tác được lựa chọn cẩn thận giúp Zara đảm bảo chất lượng của chuỗi cung ứng

Trang 21

6.3 Chuỗi cung ứng của Dell [5]

Dell Inc có một chuỗi cung ứng tuyệt vời, đã từng được Thomas Friedman

ca ngợi “Bản giao hưởng của chuỗi cung ứng Dell là một trong những kỳ quan thực sự của thế giới phẳng”

Cohen và Roussel cũng đánh giá “Dell đã biến chuỗi cung ứng của mình thành một thứ tài sản chiến lược để viết lại quy luật cạnh tranh trong ngành”

Năm 2008 chuỗi cung ứng của Dell được xếp thứ 2 trong các chuỗi cung ứng hàng đầu thế giới, năm 2009 Dell đứng thứ 2, chỉ thua Apple

Đặc điểm CCU của Dell:

Quản trị đầu vào

Chọn nhà cung cấp kỹ lưỡng: Dell chọn nhà cung cấp rất kỹ lưỡng, nếu họ

không theo kịp, họ sẽ bị loại Thông thường, Dell đi với các nhà cung cấp lớn vì

sự tăng trưởng của nó sẽ ít gây khó khăn cho các nhà cung cấp đó “Để có được một lát trong chiếc bánh thu mua hậu hĩ của nó, đạo quân nhà cung cấp của Dell

phải làm việc theo cách của nó Họ phải đủ linh hoạt, giá đủ cạnh tranh, - và trên hết là đủ nhanh để cạnh tranh theo điều kiện của Dell

Giảm số nhà cung cấp: Có lúc số lượng nhà cung cấp của Dell lên đến 500

Khi giới hạn lại số nhà cung cấp, Dell chọn các nhà cung cấp lớn Hiện nay, số lượng nhà cung cấp của Dell là khoảng 35 nhà cung cấp, hầu hết là những nhà

cung cấp lớn và có uy tín như: Fujitsu, Hitachi, IBM, Microsoft…

Thay hàng tồn kho bằng thông tin: Vấn đề then chốt là cung cấp cho nhà

cung cấp tất cả các thông tin họ cần, giữ liên hệ chặt chẽ hơn với nhà cung cấp Dell đã hoàn toàn tự động hóa khả năng nhận hàng ngàn đơn đặt hàng, chuyển chúng ra hàng triệu nhu cầu về linh kiện và làm việc trực tiếp với nhà cung cấp của mình để chế tạo và giao sản phẩm, đáp ứng đòi hỏi của khách hàng

Để nhà cung cấp giữ hàng tồn kho: Dell có khả năng hoạt động chỉ với

hàng tồn kho đủ dùng trong hai giờ, vì nó có đội ngũ các nhà cung ứng nhanh Tuy nhiên, nhà cung cấp lại chính là người ôm hàng tồn kho Dell bắt nhà cung cấp giữ hàng tồn kho ở gần mình và duy trì được những mối kết nối chặt chẽ với các nhà cung cấp

Quản trị tồn kho

Tồn kho gần như bằng 0

Trang 22

Tăng tốc độ lưu chuyển hàng tồn kho

Quản trị đầu ra

Dell - với thị trường rộng lớn như Hoa Kỳ, Châu Âu, Châu Á -Thái Bình Dương, Nhật, Trung Đông và Châu Phi Trong đó Trung Quốc có lẽ được coi là một ví dụ tiêu biểu nhất cho thành công của Dell trong lĩnh vực phát triển thị trường, chỉ trong 5 năm Dell đã trở thành nhà cung cấp máy tính, các sản phẩm

hệ thống và dịch vụ lớn thứ ba của nước này và Trung Quốc là thị trường lớn thứ

tư trong chính sách phát triển của Dell

Để tiếp tục duy trì và mở rộng thị phần của mình, Dell đã xây dựng một mô hình thương mại điện tử điển hình để quản trị tốt đầu ra, cụ thể: Dell bắt đầu

bằng mô hình marketing trực tiếp đối với máy tính cá nhân, sau đó là kinh doanh qua mạng Tiếp đến Dell áp dụng mô hình Build-to-order (BTO) với quy

mô lớn, cho phép khách hàng lựa chọn sản phẩm theo nhu cầu Dell thu được lợi nhuận nhờ giảm chi phí trung gian và giảm lượng hàng lưu kho

6.4 Kinh nghiệm xây dựng chuỗi cung ứng sầu riêng Thái Lan

- Thái Lan có chính sách hỗ trợ về giá cho nông dân trồng 05 loại cây chủ lực là sầu riêng, nhãn, vải, măng cụt và chôm chôm Việc trợ giá nông sản không chỉ thực hiện ở việc mua giá ưu đãi của nông dân mà nông dân còn được hưởng những ưu đãi khác như mua phân bón với giá thấp, miễn cước vận chuyển phân bón, được cung cấp giống mới có năng suất cao, được vay vốn lãi suất thấp từ ngân hàng nông nghiệp v v

- Thực hiện tốt chính sách hổ trợ này chính phủ Thái Lan đưa các chuyên viên cao cấp phụ trách chương trình với nhiệm vụ giám sát từ việc sản xuất, phân phối, chế biến, giá cả cho đến tìm thị trường xuất khẩu mới

- Hiệp hội ngành nghề tích cực phát huy vai trò liên kết các thành phần và cung cấp thông tin cập nhật giá cả sầu riêng qua các năm trên hệ thông website của phòng Thương mại và Công nghiệp Thái Lan, danh sách các doanh nghiệp, hợp tác xã nông dân được niêm yết thành sách và phát miễn phí cho các doanh nghiệp hoặc tổ chức nước ngoài có nhu cầu hợp tác hoặc nhập khẩu sầu riêng Thái Lan Chính điều này đã góp phần tháo gỡ khó khăn đầu ra cho sầu riêng Thái Lan Nhờ có thông tin, chính sách hợp lý của chính phủ Thái Lan đã giúp

Trang 23

nông dân trồng sầu riêng duy trì sản lượng và giá bán hợp lý, tăng ổn định qua các năm

Đây là chính sách nhằm “bắt bệnh và tìm thuốc chữa” xuất phát từ sự quan tâm của vua Thái Lan đến chính phủ và chính quyền của các địa phương trồng sầu riêng Các chính sách ấy đã kết hợp được kinh nghiệm truyền thống và công nghệ hiện đại đề từng bước làm cho suy nghĩ, nhận thức của người nông dân Thái Lan thay đổi, họ đã hiểu sản xuất nông nghiệp không chỉ để ăn mà còn để xuất khẩu Từ đây họ đã chung sức, chung lòng phát triển nền nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng nhanh, công nghệ cao và một số lĩnh vực đứng đầu thế giới

6.5 Chuỗi cung ƣ ́ ng rau an toàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chuỗi cung ứng rau an toàn thành phố Hồ Chí Minh tương đối chặt chẽ Các đối tượng giữa các khâu có mối quan chặt chẽ với nhau, trong đó vai trò của hợp tác xã là chủ lực Rau an toàn được hình thành từ các hộ trồng rau (hay gọi

là Tổ rau an toàn) Các Hợp tác xã thiết lập cho mục đích trồng trọt rau theo qui trình đảm bảo an toàn và xúc được việc tiêu thụ thu gom, tập hợp sản phẩm của các nông dân để cung cấp cho các cửa hàng, các siêu thị, trung tâm bán sỉ hiện đại để hình thành nên mô hình mẫu trong việc cung cấp rau an toàn tại thành phố Bên cạnh, vai trò thương lái gắn liền với HTX, khiến cho chuỗi giá trị rau

an toàn thành phố Hồ Chí Minh phát huy hiệu quả

Một số công ty rau quả có chuỗi cửa hàng, cung cấp cho các Nhà hàng, khách sạn thường mua trực tiếp từ các hộ nông dân hay các tổ rau an toàn, số lượng còn lại nhân dân bán tại các chợ, do đó cả người nông dân, siêu thị, các cửa hàng hiện nay đều có chức năng như những người bán lẻ thực thụ Tuy nhiên, về qui mô cũng như về hình thức bao bì đóng gói, quy cách hàng hoá có những sự khác biệt nên giá cả cũng khác biệt nhiều và việc chế biến rau an toàn chưa được đẩy mạnh nên chất lượng chuỗi cung ứng rau an toàn thành phố Hồ Chí Minh

6.6 Bài học kinh nghiệm từ thành công của sản phẩm gạo ở Thái Lan [18]

Thái Lan là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, chiếm trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo toàn cầu tuy sản lượng chỉ chiếm khoảng 5% tổng sản lượng gạo thế giới”, đó là thông tin ít người biết mà TS Phạm Nguyên Minh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu thương mại (Bộ Công

Trang 24

Thương) cho biết tại Hội thảo cấp quốc gia chủ đề “Phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững” do Ủy ban Kinh tế Quốc hội Khóa XIII phối hợp cùng một số

bộ, ngành, địa phương tổ chức

Thành công của hạt gạo Thái Lan trước tiên phải kể tới vai trò của Nhà nước trong xác định lấy ưu tiên phát triển nông nghiệp làm chiến lược cơ bản cho phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Theo TS Phạm Nguyên Minh, năm 1982, Chính phủ nước này định ra

“Chiến lược phát triển kinh tế quốc dân lấy hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp làm mục tiêu”

Tiếp đó là “Quy hoạch tăng cường phát triển cơ giới hóa nông nghiệp và ứng dụng kỹ thuật mới vào nông nghiệp” (năm 1995) và “Chiến lược nâng đỡ sản xuất nông nghiệp lấy năng suất cao, tăng phụ gia sản phẩm nông nghiệp, tăng sức cạnh tranh sản phẩm nông nghiệp làm mục tiêu phấn đấu” (năm 2000)

Các bộ, ban, ngành đều thành lập các “Ban thúc đẩy sản xuất nông nghiệp

và sản xuất lúa gạo” để thực hiện các chính sách về ưu đãi, nâng đỡ sản xuất nông nghiệp, nhất là sản xuất lúa gạo với những biện pháp (như chính sách trợ cấp giá, đầu tư và cho vay…) nhằm phát huy tối đa tính tích cực sản xuất lúa gạo của nông dân

Đối với xây dựng và phát triển thương hiệu gạo xuất khẩu, theo TS Minh, gạo thơm Thái Lan có lịch sử trên 100 năm Năm 1959, Thái Lan đã chính thức công bố các giống lúa gạo nổi tiếng - Thai Hom Mali Rice, đồng thời xây dựng

bộ tiêu chuẩn chất lượng cho các loại gạo Gạo “Thai Hom Mali” với tên thương hiệu hiện tại là Khao Hom Mali thung Kula Ronghai là sản phẩm đầu tiên ở Đông Nam Á được đăng ký theo chương trình bảo hộ chỉ dẫn địa lý của Liên minh châu Âu

GS TS Võ Tòng Xuân kể rằng, với Thái Khao Dawk Mali hay Thai Hom Mali, các nhà khoa học sau khi thống nhất chọn làm thương hiệu, họ ra đồng lựa những nhánh lúa chất lượng nhất đem về làm giống, nhân giống cho nông dân trồng Sau đó thành lập tiểu ban đánh giá chất lượng gạo quốc gia Tiếp đến, các chuyên gia về lúa gạo ăn thử các loại gạo xem loại nào thơm, ngon cơm nhất sẽ

Trang 25

chọn loại đó làm thương hiệu quốc gia Thái Lan chỉ chọn ra 3-4 giống lúa với hơn 10 doanh nghiệp xây dựng thương hiệu gạo

Trong chiến lược tuyên truyền hàng xuất khẩu thì “gạo Thái” được đặt lên

vị trí hàng đầu và Thái Lan đổ nhiều công sức, kể cả tài chính vào công tác quảng cáo Tất cả các cơ hội như festival, hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước đều được Thái Lan tận dụng

Thái Lan còn hợp tác với các nước, nhất là các nước ASEAN lập ra các tổ chức như Hiệp hội Lúa gạo, Hợp tác Đối tác trao đổi lúa gạo, Hiệp hội Tiêu thụ gạo nhằm tăng cường trao đổi kinh nghiệm với các nước, đưa “gạo Thái” thành thương hiệu nổi tiếng toàn cầu

Không chỉ nhờ có thương hiệu, gạo của Thái Lan rất có uy tín trên thị trường thế giới nhờ khả năng cạnh tranh về chất lượng và giá cả Cũng là gạo 5% tấm nhưng gạo Thái Lan đồng đều về độ dài, bóng và chỉ tiêu tạp chất chưa đầy 1,5%, giá xuất khẩu thường ở mức trên dưới 600 USD/tấn Chất lượng gạo xuất khẩu trong các giao dịch quốc tế chịu sự giám sát của Sở Ngoại thương và các tổ chức tiếp thị cho nông dân Chính phủ Thái Lan luôn khuyến khích nông dân trồng lúa chất lượng cao

Để nâng cao giá trị gia tăng của hạt gạo, Thái Lan tập trung thực hiện hàng loạt chính sách từ quy hoạch vùng cung ứng nguyên liệu quy mô nhằm giảm giá thành thu mua; đầu tư nghiên cứu và ứng dụng các loại lúa có chất lượng cao, kể

cả việc nhập khẩu loại giống lúa chất lượng cao từ các nước nông nghiệp phát triển; đầu tư vào khâu chế biến, bảo quản

Hiện Thái Lan có trên 90% cơ sở chế biến gạo quy mô lớn, được trang bị đồng bộ nên chất lượng gạo xuất khẩu cao Thái Lan rất chú trọng đầu tư vào khâu tiêu thụ, quảng bá và phát triển thương hiệu sản phẩm Gạo Thái Lan được đóng bao với trọng lượng 5-10kg, bên ngoài có nhãn mác ghi đầy đủ nguồn gốc xuất xứ, tên gọi bằng tiếng Anh, tiếng Thái và cả tiếng nước ngoài ở những vùng có nhiều người nước ngoài sử dụng

Tại Thái Lan, tất cả các sản phẩm từ hạt thóc đều được sử dụng chế biến thành các sản phẩm có giá trị Bên cạnh việc tạo ra sản phẩm chính là gạo trắng, thì các phần khác của gạo cũng được tận dụng sử dụng vào các mục đích khác

Trang 26

nhằm tăng thêm giá trị

Chẳng hạn như trên 90% vỏ trấu được sử dụng làm nhiên liệu cho máy xay lúa và phát điện; 40% cám được dùng để sản xuất thành dầu, 60% còn lại được

sử dụng trong sản xuất thức ăn gia súc; 30% tấm thu được trong quá trình chế biến gạo được chế biến thành bột gạo sử dụng để sản xuất pasta, khoai tây chiên

và các loại thực phẩm ăn liền cũng như được sử dụng thay thế bột lúa mì; rơm được dùng làm giá để trồng nấm, dùng cho công nghiệp chăn nuôi gia súc, làm nguyên liệu giấy và chất đốt

Gạo được chế biến thành các loại giấy mỏng có thể ăn được dùng trong bao

bì thuốc lá và bao bì bánh kẹo; gạo cũng được sử dụng để chế biến thành các đồ uống có cồn như rượu sake, rượu vang và bia Trung bình mỗi năm Thái Lan xuất khẩu khoảng 150.000 tấn sản phẩm chế biến từ gạo đạt kim ngạch khoảng

78 triệu USD, tương đương với 0,5 triệu tấn gạo xuất khẩu

Tại Thái Lan, các cơ chế điều phối kinh doanh lúa gạo tập trung ở khu vực

tư nhân Chính phủ chỉ điều hành thương mại lúa gạo trong từng trường hợp cụ thể và chỉ khi cần thiết Chính phủ duy trì các kho gạo ở cấp độ thích hợp, để đảm bảo an ninh lương thực và điều tiết giá khi cần thiết

Nông dân Thái Lan không chỉ được nhận sự hỗ trợ về tín dụng mà còn được nhận hỗ trợ dưới dạng tiến bộ kỹ thuật, hỗ trợ vật tư đầu vào như giống, phân bón và hỗ trợ tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm do nông dân làm ra Riêng đối với kết cấu hạ tầng, từ những năm 60 của thế kỷ XX đến nay, Thái Lan đã đầu tư hàng trăm tỉ bath để phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và xuất khẩu nông sản này, nhất là thủy lợi và giao thông nông thôn Hiện cơ sở hạ tầng của nông thôn Thái Lan vào loại bậc nhất ở Đông Nam Á

Các điểm thu mua nông sản, kho chứa, bến bãi, cảng chuyên dùng cho xuất khẩu nông sản được quan tâm đầu tư Các chi phí bốc xếp hàng nông sản xuất khẩu và các chi phí có liên quan ở Thái Lan thấp hơn ở Việt Nam đến hai lần Các doanh nghiệp Thái Lan luôn duy trì mối quan hệ trực tiếp với Cục Xúc tiến xuất khẩu, Ủy ban Phát triển xuất khẩu, các công ty thương mại quốc tế Các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản thường tham gia các phái đoàn của Chính phủ Thái Lan đàm phán các hợp đồng dài hạn về xuất khẩu nông sản

Trang 27

6.7 Kinh nghiệm từ thất bại trong việc xây dựng chuỗi cung ứng dừa ở

Tỉnh Bến Tre [23]

Ngành dừa có vai trò rất quan trọng đối với kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre và cần được coi như là một bộ phận không thể thiếu được trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre.Ngành dừa Bến Tre tạo ra nguồn lực kinh tế rất lớn cho tỉnh Bến Tre, ước tính hàng năm mang lại hơn bốn ngàn tỷ đồng giá trị gia tăng.Mặc dù vậy, chuỗi giá trị dừa Bến Tre còn tồn tại một số hạn chế nhất định Tình trạng “được mùa mất giá”, “được giá mất mùa”, việc phụ thuộc vào thương lái Trung Quốc, tư tưởng nóng vội phát triển liên tục và ồ ạt, thiếu quy hoạch mà không tìm hiểu kỹ thuật, thị trường đầu ra đã khiến cho người nông dân luôn trong tình cảnh lao đao Điển hình là đầu tháng 4/2012, giá dừa ở Bến Tre và khu vực sụt giảm nghiêm trọng Giá dừa từ 120.000đồng/chục (1 chục dừa bằng 12 quả) vào cuối năm 2011, xuống còn 80.000đồng/chục, rồi 40.000 đồng/chục giá dừa tiếp tục lao dốc đến chỉ còn khoảng 10.000đồng/chục Người trồng dừa điêu đứng, nông dân không thể sống được nhờ dừa, nhiều người bắt đầu đốn bỏ dừa để chuyển sang đào ao nuôi tôm nhằm mong vượt qua tình cảnh khó khăn trước mắt

Nguyên nhân thất bại của chuỗi cung ứng dừa ở Bến Tre

- Yếu kém trong khâu sản xuất - thiếu sự hỗ trợ từ chính quyền: Ngành dừa Bến Tre chưa được hỗ trợ chính thức và cụ thể từ chính quyền trung ương Các

cơ quan nghiên cứu chưa tạo ra những đột phá trong công nghệ trồng dừa hoặc công nghệ trồng trọt hiện đại chưa được phát triển và áp dụng tốt trên thực địa Ngân sách Nhà nước cấp tỉnh chưa đủ mạnh để thực hiện một chương trình đầu

tư phát triển toàn diện ngành dừa để tạo ra năng lực cạnh tranh mới cho ngành

và bảo đảm sự phát triển bền vững của ngành dừa trong nhiều năm tới

- Sản phẩm thiếu cạnh tranh: Các sản phẩm chế biến từ dừa còn nhiều sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế, thiếu các sản phẩm tinh chế có giá trị cao Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm sơ chế, dưới dạng nguyên liệu thô cho chế biến sâu hơn như dừa trái lột vỏ, xơ dừa, mụn dừa, than thiêu kết, thạch dừa thô

Do đó, còn nhiều giá trị gia tăng chưa được khai thác tốt để tạo ra thêm nhiều lợi ích cho địa phương

- Cấu trúc chuỗi giá trị không bảo đảm cung ứng nguyên liệu đầy đủ số

Trang 28

lượng và có chất lượng tốt, khó xây dựng vùng nguyên liệu ổn định cho ngành chế biến Bị thương lái Trung Quốc chi phối - không có thương hiệu mạnh, đầu

ra không ổn định

- Hiện nay ở Bến Tre, không chỉ dừa tươi, cơm dừa mà cả ngành sản xuất thạch dừa cũng đang nằm trong bàn tay chi phối của thương lái Trung Quốc 90% sản phẩm dừa của Bến Tre do thương lái Trung Quốc bao tiêu nên họ quyết định giá cả, sản lượng, thậm chí chất lượng mặt hàng Trong nhiều năm qua thị trường dừa Việt Nam phụ thuộc vào thương lái Trung Quốc, trong khi họ có thể thống nhất với nhau những bước đi nhằm chi phối thị trường nước sở tại thì các đoàn thể, hiệp hội ngành nghề địa phương vẫn chưa hợp tác chặt chẽ với nông dân, ngành dừa Việt Nam vẫn chưa tìm ra được giải pháp nhằm phát triển cây dừa bền vững

- Vấn đề thương hiệu: hầu hết các sản phẩm chưa được chú trọng xây dựng thương hiệu Kẹo dừa đã định hình thương hiệu trên một số thị trường và được bảo hộ chỉ dẫn địa lý Một số doanh nghiệp chế biến cơm dừa nạo sấy đang xây dựng thương hiệu riêng cho sản phẩm, trong khi một số khác vẫn xuất khẩu thông qua các đầu mối thương mại nước ngoài nên không thâm nhập được thị trường và không xây dựng được thương hiệu

6.8 Luận văn khác

Luận văn Cao Học của Cao Thị Thu Trang (2010) [1] nghiên cứu giải

pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng Thanh Long Bình Thuận

Tóm lại: các công trình nghiên cứu trên thế giới theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau, cả định tính và định lượng với mục đích tìm ra mô hình chuỗi cung ứng cụ thể cho từng đối tượng, qua phân tích tác giả đã đề xuất những giải pháp cải thiện chuỗi cung ứng từ những yếu kém và hạn chế của mỗi đối tượng trong từng đề tài nghiên cứu

7 Bài học kinh nghiệm

Từ việc tổng quan vê tình hình nghiên cứu có liên quan đến chuỗi cung ứng tại mục 1.6, tác giả rút ra một số bài học quan trọng cho chuỗi cung ứng

khoai lang tại huyện Bình Tân như sau:

Bài học 1 Nhà nước cần có cơ quan Đầu mối và chính sách điều phối ở

Trang 29

tầm vĩ mô về chuỗi cung ứng/chuỗi giá trị, xây dựng chiến lược phát triển chuỗi cung ứng một cách khoa học, tránh sự phát triển không đúng hướng, dẫn đến

không hiệu quả và không bền vững Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi (xây dựng

cơ sở pháp lý hoàn chỉnh về chuỗi cung ứng và logistics, làm tốt khâu quy hoạch, phát triển cơ sở hạ tầng, có những chính sách ưu đãi về tín dụng, đầu tư ) khuyến khích các doanh nghiệp, người sản xuất liên kết để xây dựng các

chuỗi cung ứng nội địa và chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để tham gia các chuỗi cung ứng toàn cầu Có chính sách thích hợp để phát triển công nghiệp hỗ trợ tạo điều kiện cho chuỗi cung ứng phát triển Tạo điều kiện cho các Hiệp hội, các trường, viện phổ biến kiến thức, huấn luyện đào tạo các kiến thức về chuỗi cung ứng và lợi ích của việc gia nhập chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Vườn ươm doanh nghiệp, trung tâm sáng tạo là những mô hình thích hợp để đào tạo, hỗ trợ, tư vấn về chuỗi cung ứng

Bài học 2 Các doanh nghiệp Việt Nam cần có nhận thức đúng đắn về

chuỗi cung ứng và vai trò của chuỗi cung ứng trong điều kiện hiện đại Mỗi chuỗi cung ứng đều có những tiêu chuẩn, đòi hỏi riêng, muốn gia nhập chuỗi nào thì cần hiểu rõ chuỗi đó và tích cực chuẩn bị để có thể đáp ứng những đòi hỏi của chuỗi; Không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo ra những khâu, công đoạn mạnh, đủ khả năng chiến thắng các đối thủ cạnh tranh, để có thể gia

nhập chuỗi thành công và hiệu quả Cần giữ chữ tín, tạo niềm tin, xây dựng và

phát triển mối quan hệ tốt đẹp với các nhà cung cấp và khách hàng – các thành viên trong chuỗi cung ứng Để xây dựng và phát triển các chuỗi cung ứng bền vững, thì mối quan hệ giữa các mắt xích trong chuỗi cần được xây dựng trên cơ

sở các cam kết khoa học và cần thực hiện đúng những điều đã cam kết Phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, tăng cường tính minh bạch, tạo luồng

thông tin thông suốt trong doanh nghiệp và toàn chuỗi cung ứng

Bài học 3 Sự phối hợp chặt chẽ giữa người nông dân với nhau, giữa

người nông dân với thương lái, doanh nghiệp, cùng với sự hỗ trợ của hiệp hội ngành nghề, chính sách đúng đắn của chính phủ giúp kiểm soát mức gia tăng giá bán một cách hợp lý và duy trì sản lượng ổn định qua các năm

Bài học 4 Sự thiếu liên kết giữa các thành phần trong chuỗi cung ứng,

thiếu sự phối hợp hỗ trợ của cơ quan ban ngành và chính sách hỗ trợ định hướng

Trang 30

của chính phủ có thể tạo cơ hội cho tư thương chi phối thị trường, ép giá nông dân

Bài học 5 Minh bạch về giá cả, sản lượng, thông tin nhà cung cấp sản

phẩm để tạo điều kiện tối đa cho các nhà đầu tư cũng như nhà nhập khẩu nước ngoài dễ dàng đầu tư hoặc mua bán sản phẩm trong nước

Việc áp dụng tốt những bài học trên sẽ giúp ích rất nhiều cho việc nâng cao chất lượng chuỗi cung ứng, nâng cao sự liên kết giữa các thành phần, tiết kiệm chi phí và phát huy hiệu quả tối đa từ khâu trồng trọt chăm sóc đến khâu đầu ra của sản phẩm sầu riêng huyện Cai Lậy - tỉnh Tiền Giang trong thời gian tới

8 Nhƣ ̃ng nét đóng góp của luận văn

Trong nghiên cứu này tác giả đã trực tiếp điều tra khảo sát từng cá nhân, tổ chức đang sản xuất và kinh doanh khoai lang tại huyê ̣n Bình Tân để phân tích đánh giá hiện trạng chuỗi cung ứng và các thành phần tham gia chuỗi cung ứng,

sự hợp tác và tính hiệu quả cùng những nguyên nhân tác động đến tính hiệu quả của chuỗi cung ứng Đề xuất các giải pháp đồng bộ phù hợp và mang tính phát triển lâu dài cho từng thành phần tham gia vào chuỗi cung ứng khoai lang tại huyê ̣n Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

Trang 31

9 Các bước nghiên cứu

Từ công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả đã xây dựng khung nghiên cứu cho luận văn như sau:

Cơ sở lý thuyết chuỗi cung ứng

Các thành phần và mối

quan hê ̣ hợp tác

Các tiêu chu ẩn đo lường tính hiê ̣u quả

Bài học kinh nghiê ̣m

Phân tích hiê ̣n tra ̣ng chuỗi cung ứng khoai lang ta ̣i huyê ̣n Bình Tân , tỉnh Vĩnh Long

Nghiên cứu tổng quan

quá trình sản xuất khoai

lang huyê ̣n Bình Tân

Nghiên cứu các nhân tố tác đô ̣ng đến chuỗi cung ứ ng khoai lang tại huyện Bình Tân

Nghiên cứu mức đô ̣

hơ ̣p tác các thành phần trong chuỗi cung ứng khoai lang

Đánh giá, nhâ ̣n diê ̣n các ưu điểm, nhược điểm tác đô ̣ng đến hiê ̣u quả chuỗi

cung ứng khoai lang ta ̣i huyê ̣n Bình Tân

Các giải pháp xây dựng chuỗi cung ứng khoai lang huyện Bình Tân

Mục tiêu , quan điểm và cơ

sở đề xuất giải pháp

Các giải pháp đề xuất cho các thành phần trong chuỗi cung ứng khoai lang huyê ̣n Bình Tân

Trang 32

10 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn được bố cục theo 4 chương như sau:

Ngoài phần Lời nói đầu, mục lục và phần kết luận, Luận văn chia thành 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý thuyết về chuỗi cung ứng

Trong chương này tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng; Cấu trúc chuỗi cung ứng; Tiêu chuẩn đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng Đồng thời tác giả nghiên cứu bài học kinh nghiệm về chuỗi cung ứng, từ đó rút ra bài học cho chuỗi cung ứng khoai lang huyện Bình Tân

Chương 2 Phân tíchhiê ̣n tra ̣ng chuỗi cung ứng khoai lang ta ̣i huyê ̣n Bình Tân

Trong chương này tác giả đã thực hiện điều tra khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 75 nông hộ; 20 cá nhân, tổ chức thu mua và 05 cán bộ phòng Nông nghiê ̣p và PTNT huyê ̣n, cán bộ ở địa phương nghiên cứu Mẫu được chọn

để phỏng vấn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuâ ̣n tiê ̣n theo đi ̣a bàn nghiên cứu Từ đó nhận diện mă ̣t được, chưa được, thuâ ̣n lợi khó khăn và đánh giá sự liên kết giữa các khâu trong chuỗi cung ứng khoai lang để làm cơ sở đề xuất giải pháp ở chương 3

Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng khoai lang ta ̣i huyê ̣n Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

Trong chương này tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể cho từng thành phần trong chuỗi cung ứng nhằm phát triển chuỗi cung ứng khoai lang huyện Bình Tân trong thời gian tới

Trang 33

Theo Thomas Fredman [5]

“Chuỗi cung ứng là một yếu tố chủ yếu làm phẳng thế giới”

“Chuỗi cung ứng chính là nghệ thuật và khoa học của sự cộng tác để tạo ra giá trị”

“Chuỗi cung ứng là một yếu tố chủ yếu làm phẳng thế giới”

“Chuỗi cung ứng chính là nghệ thuật và khoa học của sự cộng tác để tạo ra giá trị”

(Thế giới Phẳng: Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ 21)

Theo Ganeshan và Harrison (1995), “chuỗi cung ứng là mạng lưới các lựa

chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện chức năng thu mua nguyên vật liệu, chuyển những nguyên vật liệu này thành bán thành phẩm và thành phẩm, rồi

phân phối chúng đến khách hàng” [7]

Theo Lambert, Stock và Elleam (1998), “Chuỗi cung ứng là sự kết hợp

giữa các doanh nghiệp nhằm đưa sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường” [9]

Theo Chopra Sunil và Peter Meindl (2001), “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hoặc gián tiếp, đến việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và người cung cấp, mà còn có cả các nhà vận chuyển, kho bãi, người bán lẻ và bản thân khách

hàng ”[6]

Trang 34

Theo Chou và Keng-Li (2001), “chuỗi cung ứng là mạng lưới toàn cầu

nhằm phân phối sản phẩm và dịch vụ từ nguyên liệu ban đầu đến người tiêu dùng cuối cùng thông qua dòng chảy thông tin, phân phối và mua sắm đã được

thiết lập” [6]

Theo từ điển Supply chain & Logistics, “chuỗi cung ứng là chuỗi liên kết

các công đoạn từ khâu cung cấp các nguyên vật liệu thô chưa qua xử lý đến khâu sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng, chuỗi cung ứng cũng kết nối nhiều công ty lại với nhau (nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng)”

Theo Christopher (2005), “chuỗi cung ứng là mạng lưới của những tổ chức liên quan đến những mối liên kết theo dòng chảy ngược và xuôi của những quá

trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và

dịch vụ cho khách hàng” [3]

Theo GS Souviron (2007), “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới gồm các tổ

chức có liên quan, thông qua các mối liên kết phía trên và phía dưới, trong các

quá trình và hoạt động khác nhau, sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm, dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng Việc sắp xếp năng lực của các thành viên trong chuỗi cung ứng ở phía trên hay phía dưới nhằm mục đích tạo ra giá trị lớn hơn cho người sử dụng, với chi phí thấp hơn cho toàn bộ chuỗi cung

ứng” [6]

Theo Hội đồng Tổ chức chuỗi cung ứng (2010), “chuỗi cung ứng bao gồm

mọi nỗ lực liên quan đến việc sản xuất, phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ

hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng”[6] Theo David Blanchard, “chuỗi cung ứng là chuỗi tất cả các hoạt động liên

quan đến vòng đời một sản phẩm từ lúc ra đời đến khi kết thúc Chuỗi cung ứng cũng có thể được định nghĩa là các hoạt động từ nhà cung cấp đầu tiên đến

khách hàng cuối cùng” [4]

Theo Đoàn Thi ̣ Hồng Vân và cô ̣ng sự, chuỗi cung ứng là một tổng thể giữa nhiều nhà cung ứng và khách hàng được kết nối với nhau; trong đó, mỗi khách hàng, đến lượt mình lại là nhà cung ứng cho tổ chức tiếp theo cho đến khi thành phẩm tới được tay người tiêu dùng

Trang 35

Nói một cách khác, có thể xem chuỗi cung ứng là một mạng lưới bao gồm

những đơn vị, công đoạn có liên quan với nhau trong việc khai thác tài nguyên nhằm sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho người tiêu dùng, kể cả các công đoạn

trung gian như vận tải, kho bãi, bán buôn, bán lẻ và bản thân khách hàng

Chuỗi cung ứng là nghệ thuật và khoa học của sự hợp tác nhằm đem lại

những sản phẩm/dịch vụ tốt nhất cho người tiêu dùng Nói một cách cụ thể hơn, chuỗi cung ứng là mạng lưới các tổ chức tham gia vào dòng vận động của các yếu tố đầu vào và thông tin từ nhà cung cấp đầu tiên đến người tiêu dùng cuối cùng và các hoạt động của những tổ chức đó

Trong chuỗi cung ứng, hoạt động logistics của mỗi mắt xích (mỗi đơn vị)

là quá trình hoạch định, triển khai và kiểm tra kiểm soát một cách có hiệu lực và hiệu quả dòng hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan từ điểm đầu vào của mắt xích này đến đầu vào của mắt xích kế tiếp, nhằm mục đích đáp ứng các chuẩn mực, yêu cầu của mắt xích kế tiếp và của toàn chuỗi Do vậy, chuỗi cung ứng là chuỗi của các hoạt động logistics – hoạt động tối ưu hóa, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của chuỗi và các doanh nghiệp trong chuỗi

Đến lượt mình, mỗi doanh nghiệp trong chuỗi lại là một chuỗi cung ứng

Trang 36

nội bộ thu nhỏ, bao gồm: các bộ phận sản xuất và các bộ phận chức năng (tài chính, công nghệ thông tin, phát triển sản phẩm mới, tiếp thị, bán hàng, phân phối và dịch vụ khách hàng) liên quan đến thỏa mãn nhu cầu của khách hàng

Nhìn chung về cơ bản một chuỗi cung ứng bao gồm một hành trình liên kết giữa các nhân tố trong đó có 3 hoạt động cơ bản nhất, gồm:

- Cung cấp: tập trung vào các hoạt động mua nguyên liệu như thế nào? Mua từ đâu và khi nào nguyên liệu được cung cấp nhằm phục vụ hiệu quả quá trình sản xuất

- Sản xuất: là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng

- Phân phối: là quá trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được phân phối đến khách hàng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, bán lẻ một cách kịp thời và hiệu quả

Trên cơ sở nghiên cứu một số khái niệm về chuỗi cung ứng, có thể định nghĩa chuỗi cung ứng như sau:

Chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động của mọi đối tượng có liên quan từ mua nguyên liệu, sản xuất ra sản phẩm cho đến cung cấp cho khách hàng cuối cùng Nói cách khác, chuỗi cung ứng của một mặt hàng là một quá trình bắt đầu

từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo thành sản phẩm cuối cùng và được phân phối tới tay người tiêu dùng nhằm đạt được hai mục tiêu cơ bản, đó là: tạo mối liên kết với nhà cung cấp của các nhà cung ứng và khách hàng của khách hàng vì họ

có tác động đến kết quả và hiệu quả của chuỗi cung ứng; hữu hiệu và hiệu quả trên toàn hệ thống [6]

1.1.1.2 Quản trị chuỗi cung ứng [5]

Theo Jerrey P.Wincel (2004), “quản trị chuỗi cung ứng đồng nghĩa với

việc quản trị toàn bộ mọi hoạt động của chuỗi cung ứng”

Theo Christopher (2005), “quản trị chuỗi cung ứng là quản lý các mối quan hệ nhiều chiều giữa các nhà cung cấp và khách hàng nhằm phân phối đến

khách hàng những sản phẩm/dịch vụ có giá trị cao hơn với chi phí ít hơn trong toàn bộ chuỗi cung ứng”

Trang 37

Các tác giả Mentzer, Dewitt, Min, Nix, Smith và Zachia (2001), “Quản trị

chuỗi cung ứng là sự kết hợp mang tính chiến lược, có hệ thống các chức năng kinh doanh truyền thống đồng thời đề ra sách lược phối hợp các chức năng này

trong một công ty cụ thể cũng như liên kết các doanh nghiệp trong một chuỗi cung ứng nhằm mục đích nâng cao năng lực của từng công ty và toàn bộ chuỗi cung ứng trong dài hạn”

Theo Michael Hugos (2010, bản dịch của Tinh Văn Media), “Quản trị chuỗi cung ứng là việc phối hợp hoạt động sản xuất, lưu kho, địa điểm và vận tải giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm mang đến cho thị trường mà bạn phục vụ sự kết hợp tiện ích và hiệu quả tốt nhất”

Theo Hiệp hội các Nhà Quản trị chuỗi cung ứng (2007), “quản trị chuỗi cung ứng bao gồm hoạch định và quản lý tất cả mọi hoạt động liên quan đến nguồn cung, mua hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trị logistics” Quản trị chuỗi cung ứng là quản trị toàn bộ mọi hoạt động của chuỗi, trong đó,

vấn đề mấu chốt là quản lý được các mối quan hệ giữa các mắt xích trong chuỗi

Nói cách khác, quản trị chuỗi cung ứng là quá trình hoạch định, tổ chức, quản lý, lãnh đạo, kiểm tra và kiểm soát toàn bộ quá trình cung ứng, sản xuất, phân phối và tiêu thụ trong mối liên kết, tích hợp, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau từ nhà cung cấp, người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng

Theo Đoàn Thi ̣ Hồng Vân và cô ̣ng sự, Quản trị chuỗi cung ứng là quản trị toàn bộ mọi hoạt động của chuỗi, trong đó, vấn đề mấu chốt là quản lý được các mối quan hệ giữa các mắt xích trong chuỗi Trong thời “Thuê ngoài” như hiện nay thì nhà quản trị chuỗi cung ứng cũng là một nhạc trưởng trong việc xây dựng môi trường cộng tác hiệu quả giữa các đối tác, nhà cung cấp và bản thân doanh nghiệp Họ cần được hát chung một nhịp đồng ca được dẫn nhịp bởi nhạc trưởng

Tóm lại: Dựa vào việc nghiên cứu một số quan điểm của các chuyên gia về quản trị chuỗi cung ứng cho thấy đây là một phần nội dung không thể thiếu của chuỗi cung ứng Để chuỗi cung ứng của một doanh nghiệp hay một ngành hiệu quả, bền vững và thể hiện tính liên kết chặt chẽ thì chuỗi cung ứng ấy phải được

tổ chức quản lý một cách khoa học, linh hoạt, trong đó điều kiện tối thiểu cần thiết là các thành phần trong chuỗi phải liên kết, tương tác, hợp tác chặt chẽ với nhau

Trang 38

1.1.2 Phân loại chuỗi cung ứng

1.1.2.1 Theo tiêu chí tính liên kết giữa các thành phần trong chuỗi cung ứng

- Chuỗi cung ứng hơp tác

Được hiểu một cách đơn giản bao gồm hai hoặc nhiều hơn các doanh nghiệp độc lập làm việc với nhau nhằm lên kế hoạch và thực thi các hoạt động chuỗi cung ứng sẽ đạt được thành công hơn là hoạt động riêng biệt và các chuỗi cung ứng hợp tác thông thường khác nhau do chính cấu trúc của chúng

- Chuỗi cung ứng tương tác

Được chia theo 4 mức độ hệ thống, bao gồm:

+ Mức độ hệ thống 1: Chuỗi nội bộ trong doanh nghiệp

+ Mức độ hệ thống 2: Quan hệ đối tác song phương

+ Mức độ hệ thống 3: Chuỗi mở rộng gồm nhà cung cấp, các nhà cung cấp của nhà cung cấp, khách hàng và các khách hàng của khách hàng

+ Mức độ hệ thống 4: Mạng lưới các chuỗi nối liền với nhau

1.1.2.2 Theo đặc tính của sản phẩm

- Chuỗi có sản phẩm mang tính cải tiến (Innovative Supply Chain): Các

sản phẩm thay đổi liên tục trên thị trường (các loại chip, phần mềm tin học, quần

áo thời trang, đồ gỗ, ) Đặc điểm của loại chuỗi này là thông tin được chia sẻ tốt, thời gian đáp ứng rất nhanh, tốc độ qua chuỗi lớn, vòng đời sản phẩm ngắn, mức độ tồn kho ít

- Chuỗi có sản phẩm mang tính chức năng (Functional Supply Chain): Đặc tính sản phẩm ít thay đổi, nhu cầu trên thị trường ít biến động (lương thực,

thực phẩm, các sản phẩm nông nghiệp.) Để tăng hiệu suất hoạt động của chuỗi, nên tìm cách giảm chi phí trong sản xuất, vận chuyển và giao dịch Quản lý chuỗi chú trọng tới việc giảm tồn kho, và tăng chia sẻ thông tin giữa các thành viên với nhau

1.1.2.3 Theo cách thức đưa sản phẩm ra thị trường

Chuỗi đẩy (Push Supply Chain): Sản phẩm được sản xuất dạng tồn kho,

sản xuất song song với việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ Các nhà quản lý cố gắng đẩy sản phẩm ra khỏi kho của mình đến lớp tiếp theo trong kênh phân

Trang 39

phối Đến lượt các lớp này lại cố gắng đẩy nó lên phía trước gần khách hàng hơn Quyền lực nằm trong tay nhà cung cấp, họ có nhiều vị thế trong đàm phán

về giá cả, đặc biệt đối với các sản phẩm mới Khách hàng không có nhiều cơ hội chọn lựa

Chuỗi kéo (Pull Supply Chain): Sản phẩm xuất phát từ nhu cầu của khách

hàng trên thị trường, họ tìm kiếm các nhà sản xuất có thể đáp ứng nhu cầu của

họ Các nhà sản xuất lại tìm những nhà thầu phụ, nhà cung cấp khác có thể giúp

họ hoàn thành thương vụ và quá trình cứ thế lặp lại, chuỗi cung ứng được hình thành Khách hàng có cơ hội chọn lựa những nhà cung cấp mà họ cảm nhận giá trị sản phẩm là tốt nhất

1.2 Các thành phần và mối quan hệ hợp tác trong chuỗi cung ứng

1.2.1 Các thành phần cơ bản trong chuỗi cung ứng

Theo Lambert [9] cho rằng một chuỗi cung ứng bao gồm hệ thống các

thực thể và các kết nối giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng Hay một chuỗi cung ứng về cơ bản bao gồm các thành phần đó là các pháp nhân (các doanh nghiệp cung ứng, doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ), các tổ chức, các mạng lưới

và các thể nhân Sự kết nối giữa các thành tố trên được xem là các kết nối hoặc các mối quan hệ

Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi nên hình ảnh sản phẩm dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và cuối cùng đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng Song song đó các dòng thông tin, sản phẩm và tài chính dọc cả hai hướng của chuỗi này Trong thực tế, nhà sản xuất có thể nhận nguyên liệu từ vài nhà cung cấp và sau đó cung ứng đến nhà phân phối, chính vì vậy đa số các chuỗi cung ứng thực sự là các mạng liên kết (network) Trong một chuỗi cung ứng có thể phân tích thành các thành phần cơ bản sau đây, gồm:

Nhà cung cấp

Nhà cung cấp được xem như một thành viên bên ngoài - có năng lực sản xuất không giới hạn Tuy nhiên, bởi vì những nhân tố không chắc chắn trong tiến trình chuyển phát, nhà cung cấp có thể sẽ không cung cấp nguyên liệu thô

cho nhà sản xuất đúng lúc Trong nghiên cứu này, nhà cung cấp bao gồm các trung tâm vật tư, các đại lý bán sỉ, đại lý bán lẻ được nhà sản xuất lựa chọn tùy

Trang 40

thuộc vào năng lực và uy tín cung ứng của họ

Nhà sản xuất

Bao gồm các nhà chế biến nguyên liệu ra thành phẩm, sử dụng nguyên liệu

và các sản phẩm gia công của các nhà sản xuất khác để làm nên sản phẩm

Trong nghiên cứu này, nhà sản xuất chính là các doanh nghiệp thu mua khoai lang xuất khẩu hoặc tiêu thụ trong nước tập trung ở huyện Bình Tân và thị xã Bình Minh Điều này đồng nghĩa rằng các doanh nghiệp trong ngành chủ yếu thực hiện công đoạn thu mua sơ chế và đóng gói sản phẩm khoai lang, nguyên liệu chủ yếu từ các nhà cung cấp tại địa phương

Nhà phân phối

Là các doanh nghiệp mua lượng lớn sản phẩm từ các nhà sản xuất và phân phối sỉ các dòng sản phẩm đến khách hàng, còn được gọi là các nhà bán sỉ Chức năng chính của nhà bán sỉ là điều phối các dao động về cầu sản phẩm cho các nhà sản xuất bằng cách trữ hàng tồn và thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh để tìm kiếm và phục vụ khách hàng Nhà phân phối có thể tham gia vào việc mua hàng từ nhà sản xuất để bán cho khách hàng, đôi khi họ chỉ là nhà môi giới sản phẩm giữa nhà sản xuất và khách hàng Bên cạnh đó chức năng của nhà phân phối là thực hiện quản lý tồn kho, vận hành kho, vận chuyển sản phẩm, hỗ trợ

khách hàng và dịch vụ hậu mãi Trong nghiên cứu này, nhà phân phối là các nhà bán sỉ, các doanh nghiệp mua và phân phối khoai lang đến tay người tiêu dùng trong và ngoài nước

Nhà bán lẻ

Họ là những người chuyên trữ hàng và bán với số lượng nhỏ hơn đến

khách hàng Họ luôn theo dõi nhu cầu và thị hiếu của khách hàng Trong nghiên cứu này họ là các cửa hàng bán lẻ, hệ thống siêu thị, các cửa hàng bán củ quả

Khách hàng/người tiêu dùng

Những khách hàng hay người tiêu dùng là những người mua và sử dụng sản phẩm Khách hàng có thể mua sản phẩm để sử dụng hoặc mua sản phẩm kết hợp với sản phẩm khác rồi bán cho khách hàng khác

1.2.2 Mối quan hệ hợp tác trong chuỗi cung ứng

Theo công trình nghiên cứu của Togar và Sridharan về sự hợp tác chuỗi

Ngày đăng: 31/07/2019, 00:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w