Nguyên nhân cơ bản là do hệ thống văn bản pháp luật vẫn còn nhiều điểm hạn chế, thiếu đồng bộ, cá biệt còn để chồng chéo.Vấn đề quản lý điều hành, chưa kiểm soát hết các biểu hiện tiêu c
Trang 1CÁC YẾU TỐ CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA SẮM CÔNG CỦA CÁC TỔ CHỨC GIÁO DỤC TẠI TỈNH ĐỒNG NAI
THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Thực hiện bởi NGUYỄN THANH TUẤN
Mã số học viên: MPMIU140140
Đại học Quốc tế - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 3 Năm 2017
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC HÌNH 5
TÓM TẮT LUẬN VĂN 5
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 7
1.1 Lý do nghiên cứu 7
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 8
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 9
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 9
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 9
1.5 Phương pháp nghiên cứu 10
1.5.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu 10
1.5.2 Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu 11
1.6 Kết cấu đề tài 11
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 13
2.1 Tài chính công 13
2.1.1 Khái niệm 13
2.1.2 Đặc điểm 14
2.1.3 Vai trò của tài chính công 16
2.2 Mua sắm công 17
2.2.1 Khái niệm 17
2.2.2 Quá trình mua sắm công 18
2.3 Quyết định chọn mua 21
2.4 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng 22
2.4.1.Khái niệm hành vi người tiêu dùng 22
2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng 23
2.4.3 Tiến trình ra quyết định của người tiêu dùng 26
2.4.4 Xu hướng tiêu dùng 29
Trang 32.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan 32
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.1 Thiết kế nghiên cứu 38
3.1.1.Mẫu nghiên cứu 38
3.1.2 Xây dựng thang đo 40
3.1.3 Thiết kế bảng câu hỏi 43
3.2 Quy trình nghiên cứu 44
3.3 Mô hình nghiên cứu và các giả thiết nghiên cứu 48
3.4 Thực hiện nghiên cứu 53
3.4.1 Kiểm định độ tin cây của thang đo 53
3.4.2 Phân tích các nhân tố khám phá 54
3.4.3 Phân tích hồi quy tuyến tính và kiểm định giả thiết 54
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
4.1 Thống kê mô tả mẫu khảo sát 56
4.2 Phân tích mô tả biến và độ tin cậy thang đo 56
4.3 Phân tích nhân tố khám phá 68
4.4 Phân tích hồi quy tuyến tính và kiểm định giả thuyết 74
4.4.1 Phân tích tương quan 74
4.4.2 Phân tích hồi quy 76
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 84
5.2.1 Hàm ý quản trị đối với nhân tố tổ chức 86
5.2.2 Hàm ý quản trị với nhân tố sự tin tưởng 86
5.2.3 Hàm ý quản trị đối với nhân tố tầm quan trọng của việc mua sắm 87
5.2.4 Hàm ý quản trị đối với nhân tố môi trường 87
5.2.5 Hàm ý quản trị đối với nhân tố kinh nghiệm mua sắm 88
5.3 Hạn chế nghiên cứu 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 4Bảng 3.2: Chuyên gia bên ngoài 47
Bảng 4.1 Thống kê mô tả nhân tố mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm mua sắm 56
Bảng 4.2 Phân tích Cronh bach’s Alpha nhân tố mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm mua sắm 57
Bảng 4.3 Thống kê mô tả nhân tố giá cả 58
Bảng 4.4 Phân tích Cronh bach’s Alpha nhân tố giá cả 58
Bảng 4.5 Thống kê mô tả nhân tố kinh nghiệm mua sắm 59
Bảng 4.6 Phân tích Cronh bach’s Alpha nhân tố kinh nghiệm mua sắm 60
Bảng 4.7 Thống kê mô tả nhân tố sự tin cậy 61
Bảng 4.8 Phân tích Cronh bach’s Alpha nhân tố sự tin cậy 61
Bảng 4.9 Thống kê mô tả nhân tố cá nhân 62
Bảng 4.10 Phân tích Cronh bach’s Alpha nhân tố cá nhân 62
Bảng 4.11 Thống kê mô tả nhân tố tổ chức 63
Bảng 4.12 Phân tích Cronh bach’s Alpha nhân tố tổ chức 64
Bảng 4.13 Thống kê mô tả nhân tố tầm quan trọng mua sắm 65
Bảng 4.14.Phân tích Cronh bach’s Alpha nhân tố tầm quan trọng mua sắm 65
Bảng 4.15 Thống kê mô tả nhân tố môi trường 66
Bảng 4.16 Phân tích Cronh bach’s Alpha nhân tố môi trường 66
Bảng 4.17 Thống kê mô tả nhân tố quyết định mua sắm 67
Bảng 4.18 Phân tích Cronh bach’s Alpha nhân tố quyết định mua sắm 68
Bảng 4.17 Phân tích nhân tố khám phá biến độc lập của mô hình 70
Bảng 4.18 Phân tích nhân tố khám phá EFA biến phụ thuộc 73
Bảng 4.19: Kết quả phân tích nhân tố khám phá 74
Bảng 4.21 Hệ số xác định R2 76
Bảng 4.22 Phân tích phương sai ANOVA 77
Bảng 4.23 Kiểm tra đa cộng tuyến: 78
Bảng 4.24 Hệ số của mô hình hồi quy 80
Bảng 4.25: Kết quả kiểm định cặp giả thiết 83
Trang 5trình mua hàng 19
Hình 2.2 Tiêu chí lựa chọn nhà thầu 21
Hình 2.3: Tiến trình mua của người tiêu dùng 27
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 45
Hình 4.1 Biểu đồ phân tán phần dư 79
Hình 4.2 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa 80
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nghiên cứu này sử dụng hồi quy tuyến tính bội để kiểm định và phân tích các giả thuyết nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của các cơ sở giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai Mẫu là cán bộ nhân viên, giáo viên tại các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai; mẫu được chọn ngẫu nhiên từ danh sách cán bộ mua sắm tại các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai đến khi đủ kích thước 421 mẫu Sau khi thu thập được dữ liệu từ phiếu khảo sát, sử dụng phần mềm xử lý số liệu thống kê SPSS
để tiến hành xử lý dữ liệu, chạy mô hình và các kiểm định Thời gian phát phiếu điều tra và thu thập: Từ ngày 01/7/2016 đến ngày 01/9/2016 Mô hình nghiên cứu bao gồm 8 yếu tố cơ bản: mối quan hệ giữa các cá nhân; cảm nhận giá cả; kinh nghiệm mua sắm; niềm tin vào nhà cung cấp; yếu tố cá nhân; yếu tố tổ chức; tầm quan trọng của việc mua sắm; yếu tố môi trường Kết quả nghiên cứu cho thấy có
05 biến có ý nghĩa thống kê mức 5% và 10% bao gồm :kinh nghiệm mua sắm; niềm tin vào nhà cung cấp; yếu tố tổ chức; tầm quan trọng của việc mua sắm; yếu tố môi trường Các nhân tố đều tác động tích cực đến hành vi mua sắm Trong đó:
Nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất là yếu tố tổ chức giải thích 35.2% ý nghĩa của
mô hình hồi quy.Từ kết quả này ta có thể thấy để có quyết định mua sắm hợp lý và hiệu quả cần xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ mua sắm, cơ cấu tổ chức, yếu tố công nghệ Trong đó ưu tiên đối với mục tiêu và nhiệm vụ cũng như yếu tố công nghệ Yếu tố niềm tin vào nhà cung cấp giải thích mức ý nghĩa 21.1% cao thứ hai, đánh giá tầm quan trọng của việc lựa chọn nhà cung cấp Tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp dựa trên uy tín,thương hiệu của họ, phải đặt lợi ích của tổ chức lên trên hết, giữ lời hứa như đã cam kết, kiểm soát chất lượng sản phẩm Do đó việc cấp thiết là cần xây dựng quy trình lựa chọn và tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp, cũng như nhân lực trong đàm phán, phân tích các chiến lược mua sắm Nhân tố tầm quan trọng của việc mua sắm tác động mạnh thứ ba đến quyết định mua sắm công của các cơ sở giáo dục trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai Hành vi mua sắm sẽ bị ảnh hưởng bởi kết quả hoạt động của tổ chức, cải thiện doanh thu hoặc tăng hiệu quả hoạt động, lợi nhuận/lợi ích của cơ sở giáo dục Từ đó tổ chức mua sắm cần có các giải pháp phân tích dự báo hoạt động, kế hoạch đầu tư khoa học trong việc xác định nhu cầu mua sắm
Trang 7Nhân tố môi trường tác động tích cực đến mô hình Khi quyết định, cơ quan cơ sở giáo dục chủ yếu quan tâm xem xét các yếu tố tự nhiên, công nghệ , tình hình kinh
tế thị trường, chính trị- xã hội Do đó đối với việc mua sắm cần lưu ý đến yếu tố cập nhật khoa học công nghệ cho đội ngũ mua sắm, cán bộ mua sắm cần nắm bắt được ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên trong việc mua sắm các sản phẩm, trang thiết bị tránh hao mòn, xác định được xu hướng thị trường diễn biến giá để có thể mua sắm hiệu quả kinh tế cao nhất Nhân tố kinh nghiệm mua sắm tác động tích cực đến mô hình hồi quy quyết định mua sắm công của các cơ sở giáo dục trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai song chỉ giải thích 5.9% ý nghĩa của mô hình Hoạt động mua sắm đề cập đến vai trò của kinh nghiệm của đội ngũ mua sắm, lịch sử mua sắm, kiến thức
kỹ thuật đối với sản phẩm và trang thiết bị Như vậy hướng giải pháp là cần lựa chọn các ứng viên có kinh nghiệm thực hiện công tác mua sắm, đào tạo trang bị kiến thức kỹ thuật cho đội ngũ mua sắm, cần có các giải pháp lưu trữ đánh giá thông tin mua sắm trang thiết bị hàng hóa một cách có hiệu quả
Trang 8CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do nghiên cứu
Vấn đề đầu tư công được xác định là đầu tư từ nguồn vốn nhà nước cho cả các hoạt động kinh doanh và hoạt động không vì lợi nhuận Hiện nay, có thể cho rằng chưa có sự tách biệt rõ ràng giữa mục tiêu kinh doanh và mục tiêu xã hội của hoạt động đầu tư tại các doanh nghiệp nhà nước Điều này dẫn đến đánh giá hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn còn mập mờ, thiếu minh bạch và không có tính thuyết phục Đầu tư công của Việt Nam trong những năm vừa qua đã có những đóng góp rõ rệt cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, để chính sách đi vào cuộc sống
và sát với tình hình hiện nay, hiện có không ít vấn đề cần được thay đổi và hoàn thiện
Trong những năm qua thực hiện NQTW 2, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước
ta đã đạt được những thành tựu không nhỏ, góp phần quan trọng vào thành công của
sự nghiệp Đổi mới và đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước nghèo.Tuy nhiên, kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa XI thì đến nay, giáo dục và đào tạo nước ta vẫn chưa thực sự là quốc sách hàng đầu để làm động lực quan trọng nhất cho phát triển Nhiều hạn chế, yếu kém của giáo dục và đào tạo
đã được nêu từ NQTW 2 khóa VIII vẫn chưa được khắc phục cơ bản, có mặt nặng
nề hơn Do đó đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đang trở thành một yêu cầu khách quan và cấp bách của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Những hiện tượng liên quan đến hạn chế và yếu kém nặng nề được nêu một cách khái quát trong kết luận trên đây được phản ánh ngày càng nhiều trên các phương tiện thông tin đại
ch ng, tạo nên những bức x c có chiều hướng ngày càng tăng trong công luận Chính vì vậy, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo thành công còn có ý nghĩa củng cố lòng tin của người dân vào Đảng và tương lai của dân tộc.Khi xã hội ngày càng phát triển thì nguy cơ thất thoát trong mua sắm công ngày càng gia tăng
vì bất cứ lĩnh vực nào không chỉ riêng giáo dục đào tạo, bất cứ ngành quản lý nào cũng đều có mua sắm công Hoạt động mua sắm công chiếm tỷ lệ lớn, nhất là ở các
Trang 9nước đang phát triển, con số này có thể lên tới 50% (bao gồm cả các hợp đồng xây dựng).Việt Nam là quốc gia đang phát triển, nhu cầu và số lượng kinh phí mua sắm tài sản công để phục vụ hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị nhà nước chiếm khoảng 20% dự toán chi ngân sách Trung ương cho phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính sự nghiệp, đây là con số không nhỏ
Hiện nay, các cơ quan chức năng quản lý nhà nước qua các cuộc thanh tra, kiểm toán và theo dõi quản lý cho rằng việc công khai, minh bạch trong mua sắm công trong lĩnh vực giáo dục đào tạo vẫn còn hạn chế, dẫn đến đầu tư kém hiệu quả, để xẩy ra lãng phí, gây thất thoát nguồn tài chính công trong chi tiêu, đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm công, tạo dư luận xấu và sự hoài nghi trong xã hội đối với hoạt động giáo dục đào tạo Nguyên nhân cơ bản là do hệ thống văn bản pháp luật vẫn còn nhiều điểm hạn chế, thiếu đồng bộ, cá biệt còn để chồng chéo.Vấn đề quản lý điều hành, chưa kiểm soát hết các biểu hiện tiêu cực có thể xẩy ra trong đấu thầu, chỉ định thầu, bán đấu giá, trong mua sắm tài sản công, một số cán bộ suy thoái đạo đức, tính toán lợi ích cá nhân, bị tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, không làm chủ được bản thân dẫn đến những sai phạm đáng tiếc Nhằm tìm
ra các yếu tố cơ bản để giải quyết bất cập đối với hoạt động mua sắm công trong
lĩnh vực giáo dục hiện nay, tác giả lựa chọn tập trung nghiên cứu đề tài “Các yếu
tố chính ảnh hưởng đến quyết định mua sắm công của các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai”nhằm đóng góp cơ sở lý luận, thực tiễn đối với hoạt động mua sắm
công trong lĩnh vực giáo dục Tỉnh Đồng Nai
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài “Các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định mua sắm công của các
tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai” tác giả kỳ vọng sẽ mang lại các ý nghĩa khoa
học và thực tiễn như sau:
- Đánh giá tác động của các yếu tố chính đến quyết định mua sắm công của
các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai
- Chỉ ra được bản chất vấn đề hạn chế, bất cập đối với hiệu quả mua sắm công
của các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai
Trang 10- Là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các bạn đọc có quan tâm đến
lĩnh vực mua sắm công
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ báo cáo vấn đề, nghiên cứu này đặt ra câu hỏi nghiên cứu sau đây:
Do các yếu tố: môi trường, tổ chức, sự đồng thuận giữa các cá nhân, cá nhân, tình huống, nhu cầu, quy định, tài chính, tầm quan trọng, sở thích thương hiệu ảnh hưởng đến cảm x c trong quá trình ra quyết định tổ chức?
Do các yếu tố: môi trường, tổ chức, sự đồng thuận giữa các cá nhân, cá nhân, tình huống, nhu cầu, quy định, tài chính, tầm quan trọng, sở thích thương hiệu ảnh hưởng đến quyết định mua hàng tổ chức?
Do các yếu tố: môi trường, tổ chức, sự đồng thuận giữa các cá nhân, cá nhân, tình huống, nhu cầu, quy định, tài chính, tầm quan trọng, sở thích thương hiệu ảnh hưởng đến quyết định mua hàng tổ chức?
Các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định mua sắm công của các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai?
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố yếu tố chính đến quyết định mua sắm công của các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai?
Hàm ý giải pháp nâng cao hiệu quả mua sắm công của các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là mua sắm công: quyết định mua sắm công của các
tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai
- Đối tượng khảo sát là cán bộ nhân viên, giáo viên tại các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu này tập trung khảo sát tại các tổ chức giáo dục
tại Tỉnh Đồng Nai
Trang 11Về thời gian:Nghiên cứu sử dụng số liệu báo cáo từ năm 2013 - 2015 về mua
sắm công của các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai Thời gian khảo sát và thu
thập số liệu trong vòng 02 tháng từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2016
Phạm vi nội dung:quyết định mua sắm công của các tổ chức giáo dục tại
Tỉnh Đồng Nai
Phạm vi áp dụng: Tháng 4 năm 2017
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu
Nguồn dữ liệu thứ cấp
- Báo cáo thường niên, các báo cáo nghiệp vụ quản lý hành chính, quản lý tài
chính kế toán trên địa bàn Tỉnh Đồng Naigiai đoạn 2011-2015
Các tài liệu về nội dung quản lý hành chính công, quản lý tài chính công, tài chính ngân sách, mua sắm công…của Việt Nam và quốc tế
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các công trình khoa học nghiên cứu, tham luận về vấn đề hành chính nhà nước, quản lý hành chính công, quản lý tài chính công, tài chính ngân sách, mua sắm công qua báo chí, internet…
Một số luận văn thạc sỹ, đề tài nghiên cứu về vấn đề đề đánh giá hiệu quả
và quyết định mua sắm công nhằm bổ sung cho các cơ sở lý luận
Nguồn dữ liệu sơ cấp
Đối với nguồn dữ liệu sơ cấp tác giả tiến hành hỏi ý kiến chuyên gia và tiến hành thảo bảng hỏi sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác xuất hướng nghiên cứu định lượng
- Hỏi ý kiến chuyên gia: Sử dụng các phương pháp phỏng vấn chuyên gia
như: cán bộ nhân viên, giáo viên tại các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai và các chuyên gia làm việc lâu năm trong ngành, giáo viên hướng dẫn cũng như các giảng viên tại trường có hiểu biết chuyên sâu về vấn đề nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Hỏi trực tiếp cũng như thông qua
bảng hỏi bao gồm nhưng câu hỏi định lượng để thu thập thông tin Đối tượng được điều tra, phỏng vấn bao gồm: cán bộ nhân viên, giáo viên tại các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai
Trang 12+ Cỡ mẫu nghiên cứu: Tabachnick & Fidell (1996) cho rằng kích thước mẫu cần phải đảm bảo theo công thức: n ≥ 8m +50 (n: tổng số phiếu điều tra và m: tổng
số biến cần khảo sát) Số biến độc lập khảo sát m=6 (Biến quan sát), do đó tổng số kích thước mẫu tối thiểu n 8*6+50=98 Tổng số phiếu khảo sát phát ra là 350phiếu, số phiếu khảo sát thu về là 330, số phiếu hợp lệ hợp lệ là 320 phiếu + Thang đo: Sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1 đến 5 tương ứng 1- rất không đồng ý, rất không kì vọng đến 5- rất đồng ý, rất kì vọng) Khi xây dựng các thang đo lường cần phải đánh giá để đảm bảo chất lượng của đo lường Đánh giá một thang đo lường dựa trên cơ sở 4 tiêu chuẩn cơ bản: Độ tin cậy, giá trị, tính đa dạng, tính dễ trả lời.Thang đo Likert được thiết lập dễ dàng và nhanh chóng; độ tin cậy nhiều hơn và cung cấp nhiều lượng thông tin hơn so với loại thang đo khác; hơn nữa trong luận văn tác giả sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính OLS để phân tích trong điều kiện khảo sát cán bộ nhân viên, giáo viên, giảng viên tại các cơ sở giáo dục hiểu biết và thời gian có hạn chính vì vậy mà tác giả lựa thang đo này để
gi p cho việc phân tích số liệu được hợp lý, dễ hiểu và hiệu quả hơn
1.5.2 Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu
Các dữ liệu sau khi được thu thập, xử lý sơ bộ và được mã hóa, lưu trữ trên phần mềm Excel và sau đó được đưa vào phần mềm SPSS 22 để tiến hành các kỹ thuật tính toán.Hồi quy tuyến tính bội thường được dùng để kiểm định và giải thích
lý thuyết nhân quả (Cooper và Schindler, 2003) Ngoài chức năng là công cụ mô tả,
hồi quy tuyến tính bội được sử dụng như công cụ kết luận để kiểm định các giả thuyết và dự báo các giá trị của tổng thể nghiên cứu Như vậy, đối với nghiên cứu này, hồi quy tuyến tính bội là phương pháp thích hợp để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (Ordinal Least Squares – OLS) cũng được thực hiện, trong
đó biến phụ thuộc là hành vi mua sắm của các cơ sở giáo dục, biến độc lập dự kiến
sẽ là các nhân tố chủ quan và khách quan đã được trình bày ở phần mô hình nghiên
cứu
1.6 Kết cấu đề tài
Luận văn gồm 5 chương
Trang 13Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu;
Trong chương này tác giả trình bày lý do thực hiện đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp khoa học của đề tài và kết cấu đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu;
Chương này tác giả trình bày các lý thuyết về tài chính công, mua sắm công, hành
vi tiêu dùng, quyết định mua sắm, lược khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu;
Trong chương này tác giả trình bàu các thiết kê nghiên cứu: quy trình nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, mẫu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và các giả thiết, thiết kế bảng hỏi, xây dựng phương pháp xử lý số liệu định lượng : thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy thang đo, nhân tố khám phá, tương quan, phân tích hồi quy và các kiểm định thể hiện sự phù hợp và bền vừng của mô hình
Chương 4: Kết quả nghiên cứu;
Trong chương trình tác giả lần lượt trình bày thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và thang đo nghiên cứu, phân tích độ tin cậy thang đo, nhân tố khám phá, tương quan, phân tích hồi quy và các kiểm định thể hiện sự phù hợp và bền vừng của mô hình
Từ đó đưa ra các kết quả nghiên cứu và đề xuất hàm ý quản trị
Chương 5: Kết luận và hàm ý
Trong chương trình tác giả trình bày các kết luận quan trọng của nghiên cứu, từ đó trình bày nội dung các hàm ý quản trị và đưa ra các hạn chế và hướng nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN 2.1 Tài chính công
2.1.1 Khái niệm
Tài chính công và tài chính nhà nước đều là thuật ngữ phản ánh những hoạt động tài chính được tiến hành bởi chủ thể nhà nước Sự phân biệt giữa tài chính công và tài chính nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội bước vào giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại, trong đó tài chính nhà nước bao gồm: tài chính công và tài chính doanh nghiệp nhà nước.Tài chính công là khái niệm hiện đại bắt đầu xuất hiện và được sử dụng trong đời sống kinh tế của một quốc gia từ những năm đầu thế kỷ 20
Sự phát triển lý luận kinh tế học ở các nước phát triển và thực hiện các mục tiêu của chính sách kinh tế dẫn đến phải đánh giá lại một số nguyên tắc được áp dụng trong lĩnh vực Tài chính công như: sự phối hợp các công cụ của chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá, các vấn đề về thâm hụt hoặc bội thu ngân sách Nhà nước, làm sao ổn định kinh tế vĩ mô thông qua hoạt động của Tài chính công, vận dụng ngân sách chu kỳ và ngân sách cơ cấu như thế nào Để xác định khái niệm Tài chính công cần phải điểm qua các quan điểm của các nhà kinh tế về Tài chính công và các khái niệm có liên quan Các nhà kinh tế bằng các quan điểm tiếp cận với những phương pháp khác nhau và ngay từ đầu để tiếp cận với khái niệm Tài chính công, các nhà kinh tế đã đề cập đến hai lĩnh vực đan xen nhau là Tài chính công và khu vực công
Khái niệm Tài chính công với nghĩa rộng được sử dụng một cách đối lập với khái niệm Tài chính “tư” Tài chính công phản ảnh các hoạt động của Tài chính Nhà nước được thể hiện bằng các quan hệ tiền tệ nảy sinh trong mối quan hệ với sự hình
thành và phân phối các quỹ tiền tệ (Ján Petrenka, 1993)
Bojka Harmeníkova (2000) đưa ra khái niệm :Tài chính công là một khái
niệm hiện đại xác định các quan hệ kinh tế và tài chính phát sinh trong hệ thống kinh tế giữa các chủ thể công quyền (Cơ quan, đơn vị) và các chủ thể khác (doanh nghiệp, hộ gia đình, công dân, các tổchức phi lợi nhuận )
Trang 15Theo Francoi Adam - Olivier Ferand (2003) thì tài chính công có thể hiểu
theo cách đơn giản là: "Nghiên cứu của Tài chính công chính là quản lý Tài chính của các tổ chức công" Về mặt luật pháp thì Nhà nước.các pháp nhân công quyền, các đơn vị hành chính trung ương và địa phương, các đơn vị hành chính bảo đảm xã hội và các đơn vị công quyền là chủ thể của Tài chính công Chính phủ (hay khu vực Chính phủ nói chung) luôn phải đảm nhận những nhiệm vụ lớn lao của cả quốc gia, dân tộc và thuộc về các chức năng vốn có của nhà nước Cùng với quá trình phát triển phạm vi, yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước càng phong ph hơn, đa dạng hơn Chính vì vậy, Chính phủ luôn cần có nguồn lực tài chính lớn để đáp ứng cho việc thực hiện các nhiệm vụ của mình
Theo Phạm Văn Khoan (2007) định nghĩa “Tài chính công là một lĩnh vực
của kinh tế học nghiên cứu các hoạt động của Chính phủ và các phương tiện thay thế trong việc tài trợ các chi tiêu của Chính phủ”
2.1.2 Đặc điểm
Hoạt động của Tài chính công rất đa dạng, liên quan đến mọi lĩnh vực kinh tế
- xã hội và tác động đến mọi chủ thể trong xã hội Chính nét đặc thù đó là nhân tố
có ảnh hưởng quyết định tới các đặc điểm của Tài chính công Có thể khái quát đặc điểm của Tài chính công trên các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể của Tài chính công: Tài chính công thuộc sở hữu Nhà
nước, do đó, Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định việc sử dụng các quỹ công Việc sử dụng các quỹ công, đặc biệt là ngân sách Nhà nước, luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước nhằm duy trì sự tồn tại và phát huy hiệu lực của bộ máy Nhà nước, cũng như thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận Quốc hội cũng là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ các thu, chi ngân sách Nhà nước tương ứng với các nhiệm vụ đã được hoạch định nhằm đảm bảo thực hiện
có kết quả nhất các nhiệm vụ đó
Thứ hai, tài chính công bao gồm các quỹ công Đó là một lượng nhất định
các nguồn tài chính của toàn xã hội đã được tập trung vào các quỹ công hình thành thu nhập của Tài chính công, trong đó ngân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất Việc hình thành thu nhập của Tài chính công có các đặc điểm chủ yếu là:
Trang 16Thu nhập của Tài chính công có thể được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong nước và ngoài nước; từ nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, cả sản xuất, lưu thông
và phân phối, nhưng nét đặc trưng là luôn gắn chặt với kết quả của hoạt động kinh
tế trong nước Nguồn thu nhập có thể được lấy về bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau, có bắt buộc và tự nguyện, có hoàn trả và không hoàn trả, ngang giá
và không ngang giá nhưng, nét đặc trưng là luôn gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước, thể hiện tính cưỡng chế bằng hệthống luật lệ do Nhà nước quy định
và mang tính không hoàn trả là chủ yếu
Thứ ba,chi tiêu công là việc phân phối và sử dụng các quỹ công Chi tiêu
công không phải là những chi tiêu gắn liền trực tiếp với các hoạt động sản xuất kinh doanh ở các đơn vị cơ sở, mà là những chi tiêu gắn liền với việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, tức là gắn liền với việc đáp ứng các nhu cầu chung, nhu cầu có tính chất toàn xã hội - tầm vĩ mô Mặc dù hiệu quả của các khoản chi tiêu của Tài chính công trên những khía cạnh cụ thể vẫn có thể đánh giá bằng các chỉ tiêu định lượng như vay nợ, một số vấn đề xã hội nhưng xét về tổng thể, hiệu quả đó thường được xem xét trên tầm vĩ mô.Thông thường việc đánh giá hiệu quả chi tiêu công dựa vào hai tiêu thức cơ bản: kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Kết quả ở đây được hiểu bao gồm: kết quả kinh tế và kết quả xã hội, kết quả trực tiếp và kết quả gián tiếp
Thứ tư, phạm vi hoạt động của Tài chính công gắn liền với bộ máy Nhà
nước, phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước và vai trò quản lý vĩ
mô của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế, phạm vi ảnh hưởng của nó rất rộng rãi Tài chính công có thể tác động tới các hoạt động khác nhau nhất của mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội Thông qua quá trình phân phố các nguồn tài chính, Tài chính công có khả năng động viên, tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia vào các quỹ công từ mọi lĩnh vực hoạt động từ mọi chủ thể kinh tế xã hội; đồng thời, bằng việc sử dụng các quỹ công, Tài chính công có khả năng tác động tới mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, đạt tới những mục tiêu đã định
Trang 172.1.3 Vai trò của tài chính công
Thứ nhất, dảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt độngcủa bộ máy Nhà nước: Để duy
trì sự tồn tại và hoạt động, bộ máy Nhà nước cần phải có nguồn tài chính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu Các nhu cầu chi tiêu của bộ máyNhà nước được đáp ứng bởi Tài chính công, đặc biệt là Ngân sách Nhà nước.Vai trò kể trên của Tài chính công được thể hiện trên các khía cạnh sau đây: Khai thác, động viên và tập trung các nguồn tài chính để đáp ứngđầy đủ, kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được Nhà nước dự tính cho từngthời kỳ phát triển Phân phối các nguồn tài chính đã tập trung trong các quỹ côngcho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước theo những quan hệ
tỷ lệ hợp lý nhằmvừa đảm bảo duy trì sự tồn tại và tăng cường mức mạnh của bộ máy Nhà nước,vừa bảo đảm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước đối với cáclĩnh vực khác nhau của nền kinh tế.Kiểm tra, giám sát để đảm bảo cho các nguồn tài chính đã phânphối được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đáp ứng tốtnhất các yêu cầu của quản lý Nhà nước và phát triển kinh tế -
xã hội
Thứ hai, vai trò trong hệ thống tài chính của nền kinh tế: Do tính chất đặc biệt
về vị trí, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động củanó, trong hệ thống tài chính quốc dân, Tài chính công, đặc biệt là Ngân sách Nhà nước luôn giữa vai trò chủ đạo gắn liền với vai trò lãnh đạo của Nhà nước.Có thể nhận thấy vai trò đó của Tài chính công trên các khía cạnh sau đây:Tài chính công có vai trò chi phối các hoạt động của Tài chínhtư Nó có vai trò hướng dẫn các hoạt động của tài chínhtư Hoạt động của Tài chính công luôn gắn liền và phục vụ thực hiện các chứcnăng, nhiệm vụ, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, do đó, các hoạt dộng thu, chi của Tài chính công như là một tấm gương phản ánh các định hướng phát triển đó, từ đó có tác dụng hướng dẫn các hoạt động thu, chi tronghoạt động kinh tế xã hội của khu vực tư.Tài chính công có vai trò điều chỉnh các hoạt động của tài chính
tư
Thứ ba, thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.Tài chính công đóng vai trò quan
trọng trong việc th c đẩyphát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả
của các hoạt độngkinh tế xã hội - Vai trò kinh tế của Tài chính công Nó đóng vai
Trang 18trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội
- vai trò xã hội của Tài chính công Vai trò này được thể hiện thông qua việc sử dụng các công cụ thu, chi củaTài chính công để điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giảm bớt những bất hợp lý trong phân phối, đảm bảo công bằng và góp phần giải quyết những vấn đề xã hội đáp ứng các mục tiêu xã hội của kinh tế vĩ mô.Tài chính công được sử dụng trong việc thực hiện công bằng xã hội thong qua tác động theo hai hướng: Giảm bớt các thu nhập cao và nâng đỡ các thu nhập thấp nhằm r t ngắn khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư.Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội theo các mục tiêu xã hội của kinh tế vĩ mô, vai trò của Tài chính công được thể hiện chủ yếu qua các hoạt động chi tiêu - sử dụng các quỹ công Tài chính công đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ
mô Để góp phần giữ vững sự ổn định của nền kinh tế, các biện pháp của Tài chính công được sử dụng nhằm đảm bảo yêu cầu của các tiêu chí kể trên Trong đó, có thể nhận thấy các biện pháp được sử dụng thường xuyên như: Tạo lập các quỹ dự trữ về hàng hoá và tài chính nhằm đề phòng và ứng phó với những biến động của thị trường; tạo lập quỹ bình ổn giá; tạo lập và sử dụng quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm
2.2 Mua sắm công
2.2.1 Khái niệm
Mua sắm công có đặc điểm là khác biệt so với mua sắm thương mại Các đặc điểm của mua sắm công được tóm tắt và thu thập từ nhiều nguồn khác nhau bởi
Telgen et al (2007b) Telgen et al (2007b) công nhận năm khía cạnh chính, trong
đó mua sắm công khác với mua sắm thương mại
Đầu tiên, sự khác biệt liên quan nhu cầu bên ngoài Đây là minh bạch, liêm
chính, trách nhiệm và hành vi gương mẫu Minh bạch đề cập đến sự cởi mở và cơ hội bình đẳng cho tất cả các nhà thầu quan tâm.Liêm chính đề cập đến việc tránh thực hành không đ ng cách, lãng phí, tham nhũng và gian lận.Trách đề nhiệm đề cập đến thực tế là cơ quan mua sắm công phải chịu trách nhiệm một cách hiệu quả, luật pháp và đạo đức của việc mua sắm Hành vi gương mẫu đề cập đến một thực tế rằng chính phủ thiết lập không chỉ về tiêu chuẩn đạo đức mà còn về hiệu quả và
hiệu quả (Telgen et al., 2007b)
Trang 19Thứ hai, mua sắm công bị ảnh hưởng bởi nhu cầu nội bộ riêng biệt.Việc đầu
tiên là đồng thời phục vụ nhiều mục đích chính trị Điều này làm phức tạp việc mua sắm công, bởi vì nó đôi khi không rõ ràng để xác định ảnh hưởng của các mục tiêu chính trị về mua sắm công Nhu cầu nội bộ thứ hai được phục vụ một số lượng lớn của các bên liên quan Các bên liên quan khác nhau (ví dụ như công dân, người nộp
thuế, và cử tri) có thể có những mục tiêu khác nhau (Telgen et al., 2007b)
Thứ ba, nhu cầu mua sắm công bắt nguồn từ môi trường xung quanh Điều
này là do cơ cấu ngân sách Kết quả là, ngân sách (một phần) xác định những gì đang được mua sắm.Ngân sách được biết đến với công ch ng nói chung và các nhà cung cấp Điều này thay đổi đáng kể mối quan hệ giữa các tổ chức thu mua và nhà cung cấp Ngoài ra, ngân sách thường được chia đó gây khó khăn trong việc tối ưu hóa mua và chi phí vận hành Cuối cùng, ngân sách phân tán rộng dẫn đến nhiều
bên với lãi suất và gây ra rủi ro và quy trình ra quyết định (Telgen et al., 2007b)
Thứ tư, có ba yêu cầu về quá trình mua sắm: Nhu cầu về các quá trình từ quy
định pháp luật Mua sắm công được giới hạn từ việc tham gia vào các mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp của họ và sự vắng mặt của cạnh tranh giữa các tổ chức
mua sắm công cung cấp cho họ cơ hội cho đến nay sẽ hợp tác (Telgen et al., 2007b)
Cuối cùng, mua sắm công được đặc trưng bởi nhiều vai trò riêng của
mình.Điều này được thể hiện bởi thực tế là người mua nào mua sản phẩm cho tổ chức của mình, chủ yếu là trực tiếp cho người dân mà họ dự kiến sẽ phục vụ.Điều này liên quan đến khái niệm nổi tiếng có đi có lại trong mua Những vai trò đa cũng được thể hiện bởi thực tế là mua sắm công, lên đến một mức độ nhất định, xác định
các quy tắc và các quy định, theo đó nó có để hoạt động (Telgen et al., 2007b)
2.2.2 Quá trình mua sắm công
Quá trình mua sắm bao gồm tất cả các bước từ sự phát triển của sự cần thiết phải đánh giá tốt, dịch vụ được mua sắm hoặc làm việc Mô hình mua Van Weele (1997) là một mô hình được chấp nhận rộng rãi để mô tả quá trình mua hàng Mô hình này bao gồm sáu giai đoạn: đặc điểm kỹ thuật, lựa chọn, ký hợp đồng, đặt hàng, theo dõi, và sau khi chăm sóc Mô hình của Harink (1999) bao gồm giai đoạn
Trang 20chuẩn bị, giai đoạn đặc điểm kỹ thuật, giai đoạn lựa chọn, và giai đoạn ký kết hợp đồng
Giai đoạn đầu, giai đoạn chuẩn bị, là giai đoạn chiến lược của quá trình (Harink, 1999).Các đặc điểm kỹ thuật, lựa chọn, và giai đoạn ký hợp đồng là các giai đoạn chiến thuật của quá trình mua (Harink, 1999) Ba giai đoạn cuối cùng: đặt hàng, theo dõi, và sau khi chăm sóc là giai đoạn hoạt động của quá trình mua (Harink, 1999)
Mức độ mà các thông số kỹ thuật của sản phẩm cuối cùng chịu ảnh hưởng giảm trong mỗi bước từ giai đoạn chuẩn bị trở đi Hình 2.1 minh họa tác động suy giảm này liên quan đến các giai đoạn khác nhau của quá trình mua hàng Cùng với tác dụng giảm này cũng ảnh hưởng đến sự bền vững và đổi mới sự sụt giảm trong mỗi bước từ giai đoạn chuẩn bị trở đi Các đoạn tiếp theo mô tả các đặc tính của hai giai đoạn có ảnh hưởng nhất; giai đoạn chuẩn bị và giai đoạn đặc điểm kỹ thuật
Hình 2.1 Tác động suy giảm này liên quan đến các giai đoạn khác nhau của
quá trình mua hàng
Giai đoạn chuẩn bị Trong giai đoạn chuẩn bị các câu hỏi về những gì sẽ được mua sắm và làm thế nào sẽ được mua sắm (SN, 2009a).Người mua tương tác nhà cung cấp ảnh hưởng mạnh mẽ đến những gì sẽ được mua sắm.Thêm vào đó, một sự hiểu biết tốt về thị trường và khả năng kỹ thuật sẽ cung cấp một tảng cho việc lựa chọn một thủ tục đấu thầu cụ thể.Trong các thủ tục đấu thầu sử dụng các tiêu chí đóng một vai trò quan trọng.Sự lựa chọn cho một thủ tục đấu thầu cụ thể cũng ảnh hưởng trực tiếp mà tiêu chí có thể được sử dụng.Ví dụ các thủ tục mởkhông cho phép tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp trong một bước đầu tiên riêng biệt Các tiêu
Trang 21chuẩn áp dụng có ảnh hưởng đáng kể của sự bền vững và sáng tạo của các sản phẩm
Trong giai đoạn đặc điểm kỹ thuật những ý định của giai đoạn chuẩn bị về những gì và làm thế nào nên được mua sắm được xây dựng.Việc đầu tiên là đạt được bằng cách thiết kế các yêu cầu cho các sản phẩm trong một cách mà nó được đảm bảo rằng các thông số kỹ thuật của sản phẩm cuối cùng sẽ đáp ứng yêu cầu.Sau này được thực hiện bằng cách chọn các thủ tục đấu thầu phù hợp nhất.Lựa chọn và giải thưởng tiêu chí cho việc đấu thầu và nhà thầu phải được thiết kế trong giai đoạn đặc điểm kỹ thuật.Các tiêu chí này được giải thích sau đó.Bên mời thầu và đấu thầu
có hai tiêu chí tùy chọn để lựa chọn nhà cung cấp đ ng với đ ng sản phẩm.Các tùy chọn đầu tiên là sử dụng tiêu chuẩn với mục tiêu để lựa chọn nhà thầu dựa trên các nhà thầu trình diễn (tiêu chuẩn nhà thầu).Lựa chọn thứ hai là chọn nhà thầu dựa trên các nhà thầu cung cấp (tiêu chí đấu thầu).Trong tiêu chí Nhà thầu và đấu thầu khác nhau có ba loại tiêu chuẩn có thể được sử dụng.Đầu tiên, tiêu chí loại trực tiếp, tức
là trong trường hợp không tuân thủ các nhà thầu bị loại trừ khỏi quá trình này.Thứ hai, ghi tiêu chuẩn, ví dụ loại này được sử dụng để xếp hạng hồ sơ dự thầu dựa trên các tiêu chí Cuối cùng, tiêu chí bán đấu loại trực tiếp, tức là tiêu chí bán đấu loại trực tiếp cũng xếp thầu, tuy nhiên, số điểm dưới một số hạn dưới có thể không được bồi thường theo các tiêu chí khác
Tiêu chí Nhà thầu
Để lựa chọn các nhà thầu có ba bộ tiêu chí để đặt các tiêu chí thầu.Đây là những minh họa trong hình 2.2 và mô tả sau đó.Tiêu chuẩn loại trừ đối phó với những tình huống trong đó một nhà thầu có thể tìm thấy chính nó thường gây ra một quyền ký kết hợp đồng không phải làm bất kỳ giao dich, hợp đồng với các nhà thầu (SN, 2009a) Ngoài các tiêu chuẩn loại trừ chung, có tiêu chuẩn loại trừ bền vững
cụ thể tập trung vào các hành vi vi phạm các quy định về môi trường, các quy định
xã hội, hoặc chỉ tiêu của con người Nói chung, có hai loại khác nhau của các tiêu chí năng lực kỹ thuật Việc đầu tiên tập trung vào khả năng kinh tế tài chính của công ty (đối với công trình và dịch vụ chỉ) Việc thứ hai tập trung vào trình độ kỹ
Trang 22thuật và sử dụng lao động của công ty tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp được sử dụng trong thủ tục hạn chế, đối thoại cạnh tranh, và trong các cuộc thi thiết kế
Hình 2.2 Tiêu chí lựa chọn nhà thầu
Tiêu chí lựa chọn nhà thầu xếp hạng các nhà thầu áp dụng sau khi họ đã thông qua việc lựa chọn và tiêu chí năng lực kỹ thuật.Các tiêu chí mà có thể được
sử dụng có cùng kỳ hạn như các tiêu chuẩn năng lực kỹ thuật, với điều kiện ch ng không được sử dụng trong hai bước trước
Tiêu chí đấu thầu
Để lựa chọn thầu có hai bộ tiêu chí để đặt các tiêu chí đấu thầu.Các tiêu chí này được trình bày ở phía bên phải trong hình 2.2 và mô tả sau đó.tiêu chuẩn đặc điểm kỹ thuật kỹ thuật là những yêu cầu tối thiểu tập trung vào các chi tiết kỹ thuật của sản phẩm Mời mà không tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu được loại trừ khỏi quá trình đấu thầu, trừ khi ch ng được áp dụng như các biến thể Mua sắm khu vực công mô tả hai phương pháp giải khác nhau Phương pháp đầu tiên chỉ ưu tiên giá thầu Phương pháp thứ hai cho phép các tiêu chí bổ sung Các khía cạnh có thể được bao gồm có ví dụ về chất lượng, tính bền vững, và sự đổi mới
vi mua dựa trên nhu cầu và thông tin, đánh giá của bản thân người mua về nhóm sản
Trang 23phẩm đó.Trong giai đoạn này, người mua sắp xếp các nhãn hiệu trong nhóm nhãn hiệu đưa vào để lựa chọn theo các thứ bậc và từ đó bắt đầu hình thành ý định mua nhãn hiệu được đánh giá cao nhất Bình thường, người tiêu dùng sẽ mua nhãn hiệu
được ưu tiên nhất” (Solomon Micheal- Consumer Behavior, 1992) Hai yếu tố có
thể dẫn đến sự khác biệt giữa ý định mua và quyết định mua Đó là:Thái độ của những người khác, như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Các yếu tố của hoàn cảnh, như hy vọng về thu nhập gia tăng, mức giá dự tính, sản phẩm thay thế Hai yếu tố này có thể làm thay đổi quyết định mua, hoặc không mua hoặc mua một nhãn hiệu khác mà không phải là nhãn hiệu tốt nhất như đã đánh giá
2.4 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng
2.4.1.Khái niệm hành vi người tiêu dùng
Đến nay cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hành vi người tiêu dùng,
vì vậy với những định nghĩa mà tác giả tiếp cận được về hành vi người tiêu dùng sẽ được luận văn giới thiệu cụ thể như sau:
Hành vi người tiêu dùng có thể được định nghĩa là: “…việc nghiên cứu các
cá nhân, nhóm, hay tổ chức và các quá trình họ lựa chọn, giữ gìn, sử dụng và thải bỏ sản phẩm, dịch vụ, trải nghiệm hay ý tưởng để thỏa mãn nhu cầu và các tác động
của những quá trình này lên người tiêu dùng và xã hội.” (Hawkins và cộng sự, 2001)
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, “Hành vi tiêu dùng chính là sự tác động
qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ” Hay nói cách khác, hành vi tiêu dùng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng Những yếu tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề ngoài sản phẩm… đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng
Theo Philip Kotler, “Hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ”
Trang 24“Hành vi tiêu dùng là một tiến trình cho phép một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm/ dịch vụ, những suy nghĩ đã có, kinh nghiệm hay tích lũy, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của
họ” (Solomon Micheal, 1992)
“Hành vi tiêu dùng là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình tìm kiếm, thu thập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ sản phẩm/ dịch vụ.Nó bao gồm cả những quá trình ra quyết định diễn ra trước, trong và sau các hành động
đó” (James F.Engel, Roger D Blackwell, Paul W.Miniard, 1993)
Như vậy qua hai định nghĩa trên, ch ng ta có thể xác định được một số đặc điểm của hành vi tiêu dùng là:
- Hành vi người tiêu dùng là một tiến trình cho phép người tiêu dùng lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ một sản phẩm/ dịch vụ Tiến trình này bao gồm những suy nghĩ, cảm nhận, thái độ và những hoạt động bao gồm mua sắm, sử dụng, xử lý của con người trong quá trình mua sắm và tiêu dùng
- Hành vi tiêu dùng có tính linh hoạt và tương tác vì nó chịu tác động bởi những yếu tố từ môi trường bên ngoài và nó cũng có sự tác động trở lại đối với môi trường ấy
2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng
Quá trình ra quyết định của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố dưới đây:
* Nhóm các yếu tố văn hóa
Các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến hành vi của người tiêu dùng Ta sẽ xem xét vai trò của nền văn hóa, nhánh văn hóa và tầng lớp xã hội của người mua
- Nền văn hóa (culture): là yếu tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn
và hành vi của một người Mỗi người ở một nền văn hóa khác nhau sẽ có những cảm nhận về giá trị của hàng hóa, về cách ăn mặc… khác nhau Do đó những người sống trong môi trường văn hóa khác nhau sẽ có hành vi tiêu dùng khác nhau
- Nhánh văn hóa (sub-culture): chính là bộ phận cấu thành nhỏ hơn của một nền văn hóa Nhánh văn hóa tạo nên những đặc điểm đặc thù hơn cho những thành
Trang 25viên của nó Người ta có thể phân chia nhánh tôn giáo theo các tiêu thức như địa lí, dân tộc, tôn giáo Các nhánh văn hóa khác nhau có lối sống riêng, phong cách tiêu dùng riêng và tạo nên những kh c thị trường quan trọng
* Nhóm các yếu tố xã hội
Hành vi của người tiêu dùng cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố xã hội như các nhóm tham khảo, gia đình và vai trò của địa vị xã hội
- Địa vị xã hội
Lối tiêu dùng của một người phụ thuộc khá nhiều vào địa vị xã hội của người
đó, đặc biệt là các mặt hàng có tính thể hiện cao như quần áo, giày dép, xe cộ… Những người thuộc cùng một tầng lớp xã hội có khuynh hướng hành động giống nhau hơn so với những người thuộc hai tầng lớp xã hội khác nhau.Những người có địa vị xã hội như thế nào thường tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tương ứng như thế Những người có địa vị cao trong xã hội chi tiêu nhiều hơn vào hàng hóa xa xỉ, cao cấp như dùng đồ hiệu, chơi golf,…
- Nhóm tham khảo
Nhóm tham khảo của một người là những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến thái độ hay hành vi của người đó Những nhóm này có thể là gia đình, bạn bè,hàng xóm láng giềng, và đồng nghiệp, mà người đó có quan hệ giao tiếp thường xuyên Các nhóm này gọi là nhóm sơ cấp, có tác động chính thức đến thái
độ hành vi người đó thông qua việc giao tiếp thân mật thường xuyên Ngoài ra còn một số nhóm có ảnh hưởng ít hưởng hơn như công đoàn, tổ chức đoàn thể
- Gia đình
Các thành viên trong gia đình là nhóm tham khảo có ảnh hưởng lớn nhất đến hành vi người tiêu dùng Thứ nhất là gia đình định hướng gồm bố mẹ của người đó.Tại gia đình này người đó sẽ được định hướng bởi các giá trị văn hóa, chính trị,
hệ tư tưởng…Khi trưởng thành và kết hôn, mức ảnh hưởng của người vợ hoặc người chồng trong việc quyết định loại hàng hóa sẽ mua là rất quan trọng
* Nhóm các yếu tố cá nhân
- Giới tính (sex):
Trang 26Giới tính là yếu tố cá nhân đầu tiên có ảnh hưởng tiên quyết đến hành vi tiêu dùng Do những đặc điểm tự nhiên, phụ nữ và đàn ông có nhu cầu tiêu dùng khác nhau và cách lựa chọn hàng hóa cũng khác nhau Các nghiên cứu đã cho thấy, nếu quyết định lựa chọn hàng hóa của phụ nữ căn cứ chủ yếu vào giá cả, hình thức, mẫu
mã của hàng hóa thì đàn ông lại ch trọng đến công nghệ, uy tín của hàng hóa này
- Tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống (age and lifecycle)
Ngay cả khi phục vụ những nhu cầu giống nhau trong suốt cuộc đời, người ta vẫn mua những hàng hóa và dịch vụ khác nhau Cùng là nhu cầu ăn uống nhưng khi còn trẻ họ sẽ ăn đa dạng lọai thức ăn hơn, trong khi về già họ thường có xu hướng kiêng 1 số loại thực phẩm.Thị hiếu của người ta về quần áo, đồ gỗ và cách giải trí cũng tuỳ theo tuổi tác Chính vì vậy tuổi tác quan hệ chặt chẽ đến việc lựa chọn các hàng hóa như thức ăn, quần áo, những dụng cụ phục vụ cho sinh hoạt và các loại hình giải trí…
- Nghề nghiệp và thu nhập (profession and income)
Nghề nghiệp và hoàn cảnh kinh tế là một trong những điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến cách thức tiêu dùng của một người.Nghề nghiệp ảnh hưởng đến tính chất của hàng hóa và dịch vụ được lựa chọn.Người công nhân sẽ mua quần áo, giày
đi làm, và sử dụng các dịch vụ trò chơi giải trí khác với người là chủ tịch hay giám đốc của một công ty.Hoàn cảnh kinh tế có tác động lớn đến việc lựa chọn sản phẩm tiêu dùng.Khi hoàn cảnh kinh tế khá giả, người ta có xu hướng chi tiêu vào những hàng hóa đắt đỏ nhiều hơn
- Lối sống (lifestyle)
Những người cùng xuất thân từ một nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội và cùng nghề nghiệp có thể có những lối sống hoàn toàn khác nhau và cách thức họ tiêu dùng khác nhau Cách sống “thủ cựu” được thể hiện trong cách ăn mặc bảo thủ, dành nhiều thời gian cho gia đình và đóng góp cho nhà thờ của mình
* Nhóm các yếu tố tâm lý
Việc lựa chọn mua sắm của một người còn chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố tâm lý là động cơ, nhận thức, sự hiểu biết, niềm tin
- Động cơ (motivation):
Trang 27Động cơ là một nhu cầu bức thiết đến mức buộc con người phải hành động
để thỏa mãn nó.Tại bất kỳ một thời điểm nhất định nào con người cũng có nhiều nhu cầu Một số nhu cầu có nguồn gốc sinh học như đói, khát, khó chịu Một số nhu cầu khác có nguồn gốc tâm lý như nhu cầu được thừa nhận, được kính trọng hay được gần gũi về tinh thần
- Nhận thức (perception)
Nhận thức là khả năng tư duy của con người Động cơ th c đẩy con người hành động, còn việc hành động như thế nào thì phụ thuộc vào nhận thức Hai bà nội trợ cùng đi vào siêu thị với 1 động cơ như nhau nhưng sự lựa chọn nhãn hiệu hàng hóa lại hoàn toàn khác nhau.Nhận thức của họ về mẫu mã, giá cả, chất lượng và thái
độ phục vụ đều không hoàn toàn giống nhau
- Sự hiểu biết (knowledge)
Sự hiểu biết gi p con người khái quát hóa và có sự phân biệt khi tiếp x c với những hàng hóa có kích thước tương tự nhau Khi người tiêu dùng hiểu biết về hàng hóa họ sẽ tiêu dùng một cách có lợi nhất
- Niềm tin và thái độ (Belief and attitude)
Thông qua thực tiễn và sự hiểu biết con người hình thành nên niềm tin và thái độ vào sản phẩm Theo một số người giá cả đi đôi với chất lượng.Họ không tin
có giá cả rẻ mà chất lượng hàng hóa lại tốt.Chính điều đó làm cho họ e dè khi mua hàng hóa có giá cả thấp hơn hàng hóa khác cùng loại Niềm tin hay thái độ của người tiêu dùng đối với một hãng sản xuất ảnh hưởng khá lớn đến doanh thu của hãng đó Niềm tin và thái độ rất khó thay đổi, tạo nên thói quen khá bền vững cho người tiêu dùng
2.4.3 Tiến trình ra quyết định của người tiêu dùng
Tiến trình ra quyết định mua của người tiêu dùng có thể được mô hình hóa thành năm giai đoạn: Nhận thức về nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án, quyết định mua và hành vi sau khi mua Như vậy, tiến trình quyết định mua của người tiêu dùng đã bắt đầu trước khi việc mua thực sự diễn ra và còn kéo dài sau khi mua
Trang 28Tiến trình mua của người tiêu dùng được thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 2.3: Tiến trình mua của người tiêu dùng
(Nguồn: Mathieson and Wall 1982)
Ý thức về nhu cầu: Tiến trình mua khởi đầu với việc người mua ý thức được
nhu cầu Người mua cảm thấy có sự khác biệt giữa trạng thái thực tế và trạng thái mong muốn.Nhu cầu có thể bắt nguồn từ các tác nhân kích thích bên trong và bên ngoài của chủ thể.Trong trường hợp các tác nhân bên trong, một trong số những nhu cầu bình thường của người ta như đói, khát, tính dục tăng dần lên đến một mức độ nào đó và trở thành một niềm thôi th c Do kinh nghiệm có trước đó, người ta hiểu được cách thức giải quyết sự thôi th c này và động cơ của nó sẽ hướng đến những phương tiện có thể thỏa mãn được sự thôi th c Hoặc một nhu cầu có thể phát sinh
từ một tác nhân kích thích từ bên ngoài, chẳng hạn từ báo chí, quảng cáo, bạn bè, xã hôi, v.v Một người đi ngang qua tiệm phở và cảm nhận được hương vị thơm ngon bốc lên của phở đã kích thích làm cho người đó cảm thấy đói Một người phụ nữ nhìn thấy một chiếc váy đẹp của cô hàng xóm hay xem một chương trình quảng cáo
về một loại nước hoa mới, Tất cả những tác nhân kích thích đó có thể gợi mở một vấn đề hay nhu cầu
Tìm kiếm thông tin: Một người tiêu dùng đã có nhu cầu, thì bắt đầu tìm kiếm
thông tin Nếu sự thôi th c của người tiêu dùng mạnh, và sản phẩm vừa ý nằm trong tầm tay, người tiêu dùng rất có thể sẽ mua ngay Nếu không, người tiêu dùng đơn giản chỉ lưu giữ nhu cầu trong tiềm thức.Người tiêu dùng có thể không chịu tìm hiểu thêm thông tin, tìm hiểu thêm một số thông tin, hoặc rất tích cực tìm kiếm thông tin liên quan đến nhu cầu
Trong trường hợp họ muốn tìm kiếm các thông tin, thường có các nguồn thông tin sau :
- Nguồn thông tin cá nhân thu nhận được từ gia đình, bạn bè, hàng xóm và người quen
Nhận thức
nhu cầu
Tìm kiếm thông tin
Đánh giá các phương
án
Quyết định mua
Cảm nhận sau khi mua
Trang 29- Nguồn thông tin thương mại thu thập được qua quảng cáo, nhân viên bán hàng, nhà buôn, bao bì hay các cuộc trưng bày sản phẩm
- Nguồn thông tin công cộng thu nhận được từ các phương tiện truyền thông đại ch ng và các tổ chức
- Nguồn thông tin từ kinh nghiệm bản thân có được qua tiếp x c, khảo sát hay sử dụng sản phẩm
Đánh giá các phương án lựa chọn: Cần phải tìm hiểu xem người tiêu dùng
đã xử lý thông tin ra sao để lựa chọn nhãn hiệu cần mua trong số các nhãn hiệu của loại sản phẩm mà họ quan tâm.Khi lựa chọn sản phẩm để mua và tiêu dùng, người tiêu dùng muốn thỏa mãn ở mức độ cao nhất nhu cầu của mình bằng chính sản phẩm đó.Họ tìm kiếm trong giải pháp của sản phẩm những lợi ích nhất định.Người tiêu dùng xem mỗi sản phẩm như một tập hợp các thuộc tính với những khả năng đem lại những lợi ích mà họ mong muốn có được và thỏa mãn nhu cầu của họ ở những mức độ khác nhau Những thuộc tính mà người tiêu dùng quan tâm thay đổi tùy theo sản phẩm.Ngay cả khi đánh giá về một sản phẩm, sự nhìn nhận của họ về những thuộc tính mà họ cho là quan trọng nhất hay nổi bật nhất cũng không hoàn toàn giống nhau.Cũng cần lưu ý rằng, những thuộc tính nổi bật nhất không phải bao giờ cũng là những thuộc tính quan trọng nhất.Một số thuộc tính nỏi bật lên vì người tiêu dùng bị ảnh hưởng của một quảng cáo có nhấn mạnh về thuộc tính ấy Ngưọc lại, một thuộc tính nào đó không thật sự nổi bật có thể do người tiêu dùng đã lãng quyên nó, nhưng khi được nhắc đến thì được thừa nhận là quan trọng
Có nhiều tiến trình đánh giá để đi đến một quyết định mua Tuy nhiên, hầu hết các tiến trình đánh giá của người tiêu dùng đều định hướng theo nhận thức, tức
là khi hình thành những nhận xét về sản phẩm, người tiêu dùng chủ yếu dựa trên cơ
sở ý thức và tính hợp lý Người tiêu dùng có xu hướng xây dựng cho mình một tập hợp những niềm tin vào các nhãn hiệu, trong đó ch ng được đánh giá theo những thuộc tính riêng biệt Những niềm tin về nhãn hiệu tạo nên hình ảnh về nhãn hiệu Niềm tin vào nhãn hiệu của người tiêu dùng sẽ thay đổi theo kinh nghiệm của họ và tác động của nhận thức có chọn lọc, bóp méo có chọn lọc hay ghi nhớ có chọn lọc
Trang 30Người tiêu dùng hình thành các thái độ (nhận xét, ưa thích) đối với các nhãn hiệu qua một quá trình đánh giá
Một phương pháp đánh giá phổ biến là cân nhắc nhiều tiêu chuẩn cho từng
nhãn hiệu và tổng hợp bằng cách cho điểm để đánh giá.Quyết định mua: Trong giai
đoạn đánh giá, người mua sắp xếp các nhãn hiệu trong nhóm nhãn hiệu đưa vào để lựa chọn theo các thứ bậc và từ đó bắt đầu hình thành ý định mua nhãn hiệu được đánh giá cao nhất Bình thường, người tiêu dùng sẽ mua nhãn hiệu được ưu tiên nhất Nhưng có hai yếu tố có thể dẫn đến sự khác biệt giữa ý định mua và quyết định mua đó là:
- Thái độ của những người khác, như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
- Các yếu tố của hoàn cảnh, như hy vọng về thu nhập gia tăng, mức giá dự tính, sản phẩm thay thế
Hai yếu tố này có thể làm thay đổi quyết định mua, hoặc không mua hoặc mua một nhãn hiệu khác mà không phải là nhãn hiệu tốt nhất như đã đánh giá
Hành vi sau khi mua: Sau khi đã mua sản phẩm, trong quá trình tiêu dùng người tiêu dùng sẽ cảm nhận được mức độ hài lòng hay không hài lòng về sản phẩm
đó Cần tìm hiểu và phân tích hành vi của người tiêu dùng sau khi mua cũng như những phản ứng đáp lại của họ đối với trạng thái hài lòng hay không hài lòng về sản phẩm để có các giải pháp đáp ứng và điều chỉnh kịp thời nhằm cải thiện tình hình 2.4.4 Xu hướng tiêu dùng
Một trong những cách để phân tích hành vi người tiêu dùng là đo lường xu hướng tiêu dùng của khách hàng
Theo Lê Thế Giới (2007): Hành vi người tiêu dùng là một lĩnh vực nghiên cứu
có nguồn gốc từ” các khoa học như tâm lý học, xã hội học, tâm lý xã hội học, nhân văn học và kinh tế học Hành vi người tiêu dùng ch trọng đến việc nghiên cứu tâm
lý cá nhân, nghiên cứu những niềm tin cốt yếu, những giá trị, những phong tục, tập quán ảnh hưởng đến hành vi con người và những ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cá nhân trong quá trình mua sắm tiêu dùng Đặc biệt, việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng là một phần quan trọng trong nghiên cứu kinh tế học với mục đích tìm hiểu xem
Trang 31bằng cách nào (how) và tại sao (why) những người tiêu dùng mua (hoặc không mua) các sản phẩm dịch vụ và quá trình mua sắm của khách hàng diễn ra như thế nào
Theo Philip Kotler (2005), nghiên cứu về hành vi tiêu dùng của khách hàng là một nhiệm vụ khá quan trọng có ảnh hưởng rất lớn trong qui trình các quyết định về tiếp thị của các doanh nghiệp Trong những thời gian đầu tiên, những người làm tiếp thị có thể hiểu được người tiêu dùng thông qua những kinh nghiệm bán hàng cho họ hàng ngày.Thế nhưng sự phát triển về quy mô của các doanh nghiệp và thị trường đã làm cho nhiều nhà quản trị tiếp thị không còn điều kiện tiếp x c trực tiếp với khách hàng nữa Ngày càng nhiều những nhà quản trị đã phải đưa vào việc nghiên cứu khách hàng để trả lời những câu hỏi chủ chốt sau đây về mọi thị trường: Những ai tạo nên thị trường đó? Thị trường đó mua những gì?Tại sao thị trường đó mua?Những ai tham gia vào việc mua sắm?Thị trường đó mua sắm như thế nào?Khi nào thị trường
đó mua sắm? Thị trường đó mua hàng ở đâu?
Vì vậy, theo tác giả có thể hiểu: Xu hướng tiêu dùng nghĩa là sự nghiêng theo chủ quan của người tiêu dùng về một sản phẩm, thương hiệu nào đó và nó đã được chứng minh là yếu tố then chốt để dự đoán hành vi người tiêu dùng
Có một sự tương ứng giữa thuật ngữ “xu hướng tiêu dùng” và “xu hướng chọn” vì cả hai đều hướng đến hành động chọn sử dụng hoặc một sản phẩm/dịch vụ hoặc một thương hiệu
ý định mua nhãn hiệu được đánh giá cao nhất Bình thường, người tiêu dùng sẽ
mua nhãn hiệu được ưu tiên nhất” (Solomon Micheal- Consumer Behavior,
Trang 321992).Hai yếu tố có thể dẫn đến sự khác biệt giữa ý định mua và quyết định mua
Đó là:Thái độ của những người khác, như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Các yếu
tố của hoàn cảnh, như hy vọng về thu nhập gia tăng, mức giá dự tính, sản phẩm thay thế Hai yếu tố này có thể làm thay đổi quyết định mua, hoặc không mua hoặc mua một nhãn hiệu khác mà không phải là nhãn hiệu tốt nhất như đã đánh giá
2.4.6 Thang đo CSI (Consumer Styles Inventory)
Sproles và Kendall (1986:269) đã xây dựng thang đo có 40 biến quan sát (items) để đo lường tám đặc trưng của hành vi người tiêu dùng được đặt tên là Thang đo Phong cách Khách hàng (Consumer Styles Inventory) viết tắt là CSI Mô hình tám nhân tố đã được kiểm định tính hiệu lực và xác nhận như sau:
Nhân tố 1 – Coi trọng chất lượng cao, tính hoàn hảo (Perfectionistic, High
Quality-Conscious) đo lường mức độ mà một khách hàng tìm kiếm chất lượng tốt nhất Những khách hàng cho điểm cao ở thuộc tính này hầu như mua sắm cẩn thận,
có hệ thống, có so sánh
Nhân tố 2 – Coi trọng Nhãn hiệu, Giá ngang với Chất lượng, là những khách
hàng hướng v ề mua những sản phẩm đắt tiền, nhãn hiệu nổi tiếng, bán chạy nhất, nhãn hiệu quảng cáo nhiều nhất Họ tin là tiền nào của nấy, giá cao thì chất lượng cao và thích những của hiệu bán những thứ hàng xa xỉ
Nhân tố 3 – Coi trọng Tính mới lạ, Thời trang (Noveltyfashion Conscious),
là những khách hàng thích thời trang, mới lạ.Tìm được thứ gì mới họ sẽ rất thích
th , hào hứng.Những người này cũng là những người tìm kiếm sự đa dạng, phong
ph , họ mua sắm ít cẩn thận và ít quan tâm đến giá
Nhân tố 4 – Coi trọng tính tiêu khiển, giải trí (RecreationalHedonistic
Conscious) đo lường mức độ khách hàng xem mua sắm như là một hành vi giải trí,
vì thế họ mua để vui vẻ và thưởng thức
Nhân tố 5 – Coi trọng Giá cả, Giá trị thu lại so với đồng tiền bỏ ra (Price
Conscious, Value for Money) là những khách hàng tìm sản phẩm giá thấp, hay sản phẩm bán hạ giá Họ là những người mua sắm bằng cách so sánh, muốn có được giá trị tốt nhất so với số tiền họ bỏ ra
Trang 33Nhân tố 6 – Bốc đồng, Bất cẩn (Impulsive, Careless) là những đặc trưng đo
lường mức độ khách hàng mua sắm một cách bất cẩn, bốc đồng Khách hàng cho điểm cao nhân tố này hiếm khi chuẩn bị cẩn thận cho việc mua sắm và không quan tâm đến họ chi tiêu bao nhiêu
Nhân tố 7 – Bối rối do quá nhiều lựa chọn (Confused by Overchoice) để chỉ
những khách hàng khó khăn khi chọn lựa giữa nhiều nhãn hiệu hay cửa hiệu khác nhau.Họ thường bối rối, lung t ng với thông tin có được
Nhân tố 8 – Trung thành với nhãn hiệu hay thói quen (Habitual,
Brand-Loyal) là những khách hàng chỉ mua những nhãn hiệu và cửa tiệm họ thích.Nói cách khác, những khách hàng này đã định hình thói quen khi mua sắm
2.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan
Nghiên cứu về hành vi mua hàng tổ chức (PO) đã nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả trong những năm gần đây “Chiến lược Mua” có thể được định nghĩa là quá trình lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá và kiểm soát các quyết định mua và quản lý mọi hoạt động của các chức năng mua đối với các cơ hội phù hợp với khả năng của công ty để đạt được mục tiêu dài hạn của mình (Carr và Smeltzer
1997 ; Ellram và Carr 1994; Zheng, knight, Harland, và James 2007) Thuật ngữ
“Thiết kế tổ chức” đề cập đến quá trình đánh giá và lựa chọn cấu tr c của tổ chức, trong đó bao gồm các hệ thống thông tin, phối hợp, kiểm soát, phân công lao động, quyền hạn và trách nhiệm, với ý định để tạo thuận lợi cho việc đạt được các mục tiêu của tổ chức (Robbins,1990; Trent,2004) Bằng cách giao nhiệm vụ cho các thành viên của một tổ chức và phân bổ lại nguồn cho các đối tượng tổ chức, cấu tr c của một tổ chức là một trong những điều kiện tiên quyết chủ yếu để hoàn thành nhiệm vụ có hiệu quả (Milgrom và Roberts, 1992; Picot, Dietl, và Frank, 2002) Trong một môi trường cạnh tranh toàn cầu và khách hàng ngày càng đòi hỏi, một cấu tr c phù hợp với yêu cầu cạnh tranh là một thành phần thiết yếu của cạnh tranh Đối với hành vi mua của tổ chức, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu mô hình xác định yếu tố tình huống ảnh hưởng của nó thiết kế hoặc phân tích sự đóng góp của
PO đến hiệu suất mua hàng (PP) hoặc hiệu suất của tổ chức Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu về hành vi mua hàng của tổ chức, nhiều tác giả lưu ý rằng nghiên cứu
Trang 34trước đó đã được rộng rãi không có cấu tr c và cần tiếp cận có hệ thống hơn theo hướng nghiên cứu trên PO (Trent và Monczka, 2003; Gelderman và Semeijn, 2006; Quintens , Pauwels, và Mat-thyssens, 2006; Trautmann, Turkulainen, Hartmann, và Bals, 2009)
Samuel Mburu Karanu, A Njeru (2014), tác động của các hoạt động mua sắm và hiệu quả của quá trình mua sắm, hoạt động này được thực hiện bởi đội ngũ nhân viên có trình độ với tiêu chuẩn chuyên môn và đạo đức cao và sử dụng thủ tục trong các chính sách và các quy định thích hợp Mua hàng là một trong những chức năng quan trọng trong một tổ chức và nó đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt được các nguồn lực cần thiết vào thời điểm cần thiết Mục đích của nghiên cứu này
là đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất thu mua tại các công ty chế biến sữa
ở Kiambu Nghiên cứu cũng tìm cách để đánh giá hiệu quả của công nghệ thông tin, thiếu năng lực của nhân viên, văn hóa tổ chức và chính sách bao bì đến hiệu suất mua sắm tại các công ty chế biến sữa ở Kiambu Nghiên cứu đã thông qua một phương pháp khảo sát mô tả Các mẫu được lựa chọn từ các nhà quản lý làm việc trong các công ty chế biến sữa khác nhau trong Kiambu Kỹ thuật lấy mẫu có mục đích đã được sử dụng để chọn một mẫu từ các nhà quản lý trong các công ty chế biến sữa khác nhau Dữ liệu định tính từ câu hỏi mở được phân tích bằng cách sử dụng phân tích nội dung và kết quả được trình bày trong một hình thức thống kê mô
tả và thống kê suy luận được sử dụng trong nghiên cứu này để phân tích dữ liệu định lượng, được lấy từ những câu hỏi đóng Thống kê mô tả được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ và tần số Hơn nữa, phân tích hồi quy đa biến được sử dụng để thiết lập các mối quan hệ giữa phụ thuộc và các biến độc lập Nghiên cứu này chứng minh rằng văn hóa tổ chức đóng góp phần lớn vào quá trình mua sắm tại các công ty chế biến sữa ở Kiambu tiếp theo thẩm quyền của người lao động thì văn hóa tổ chức trong khi đóng gói chính sách đóng góp ít nhất vào quá trình mua sắm tại các công ty chế biến sữa ở Kiambu Nghiên cứu này khuyến cáo rằng các công ty chế biến sữa cũng nên áp dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực và buộc lại phòng ban khác nhau trong tổ chức Ngoài ra, họ nên áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý nguồn nhân lực và
Trang 35trong việc kết nối các phòng ban khác nhau trong tổ chức và liên kết các tổ chức với các công ty khác
Mua sắm tại các khu vực công khác với khu vực tư nhân có một số điểm khác nhau, đáng ch ý nhất là nó được quy định và ràng buộc chính trị hơn so với khu vực tư nhân (Ferlie năm 1992;Fur Long et al, 1994; Boyett et al , 1996; Bryntse, 1996) Các chính phủ EU và Vương quốc Anh, qua các tài liệu hướng dẫn mua khác nhau, đã th c đẩy chính sách Mua sắm cạnh tranh công bằng và mở là cách tốt nhất để đạt được hiệu quả thu mua (HM Treasury, 1998) Vẫn còn có một
sự nhấn mạnh về hợp đồng chính thức với sự tuân thủ các điều khoản và điều kiện của hợp đồng, quá trình cung cấp dịch vụ được theo dõi chặt chẽ (Jones, 1997) Việc giám sát các dịch vụ cho các hợp đồng mục tiêu có thể là một quá trình tốn kém, chi phí lên tới 50-60% chi phí của các chức năng khách hàng / mua (Ủy ban Kiểm toán, 1993)
Jane Onyinkwa (2013), nghiên cứu này xử lý các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ các quy định mua sắm tại các trường trung học công lập ở Nyamache Nghiên cứu này tập trung vào ba biến; đạo đức trong mua sắm công hành động, kiến thức / đào tạo và nhận thức là yếu tố được coi là gây ảnh hưởng đến việc tuân thủ các quy định mua sắm tại các trường trung học công lập ở Nyamache Nghiên cứu này được tiến hành thông qua một thiết kế nghiên cứu khảo sát mô tả Nghiên cứu bao gồm 15 trường trung học công lập ở Nyamache Dự án nghiên cứu này đã được hướng dẫn bởi những câu hỏi nghiên cứu dựa trên các biến nói trên Các nghiên cứu liên quan đến nghiên cứu này đã được xem xét dựa trên các biến; đạo đức, đào tạo cán bộ và nhận thức là yếu tố được coi là gây ảnh hưởng đến việc tuân thủ các quy định mua sắm tại các trường trung học công lập ở Nyamache Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng bảng câu hỏi và độ tin cậy của các công cụ nghiên cứu đã thử nghiệm và xác nhận bởi các chuyên gia trong nghiên cứu học thuật Kỹ thuật lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên đơn giản được sử dụng để lựa chọn kích thước mẫu của 135 người trả lời Các dữ liệu được thu thập và phân tích bằng thống kê mô tả: tần số đơn giản và tỷ lệ phần trăm Dữ liệu được trình bày dưới dạng mô tả được
hỗ trợ bởi tần suất và tỷ lệ phần trăm Từ các kết quả nghiên cứu có thể kết luận
Trang 36rằng đạo đức, nhận thức và đào tạo ảnh hưởng đến việc tuân thủ các quy định mua sắm tại các trường trung học công lập Nghiên cứu sâu hơn cần được thực hiện trên các lĩnh vực sau: ảnh hưởng của việc tuân thủ về chất lượng hàng hoá và dịch vụ được mua sắm tại các trường trung học công lập, những thách thức phải đối mặt với việc thi hành các quy định mua sắm công trong các trường trung học công lập và những thách thức phải đối mặt với tuyến mua sắm trực tại các trường trung học công lập
Ngwili Josephat Kioko, Susan Were (2014), mua sắm công đóng một vai trò quan trọng trong việc th c đẩy nền kinh tế ở mỗi nước Ở Kenya nó là một trong những chiến lược để đạt được tầm nhìn 2030 bằng cách th c đẩy các ngành công nghiệp địa phương Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng mua sắm công tại các tổ chức công cộng tại Kenya với một nghiên cứu trường hợp cụ thể ở Nairobi Nghiên cứu này được thông qua thiết kế nghiên cứu mô tả lấy mẫu phân tầng được sử dụng kích thước mẫu của 40 trên 66 chi nhánh Vật tư, Nairobi và Bộ Đất Đai Cả hai số liệu định tính và định lượng được thu thập và phân tích bằng cách sử dụng thống kê Khoa học Xã hội (SPSS 20.1) Nghiên cứu này chứng minh rằng năng lực nhân viên thu mua, khuôn khổ pháp lý, văn hóa và thể chế, công nghệ thông tin truyền thông (ICT) tích cực ảnh hưởng đến hiệu quả của chức năng mua sắm trong các cơ sở công cộng ở Kenya Nghiên cứu này khuyến cáo việc làm của cán bộ mua sắm với trình độ chuyên môn
và xem xét lại các văn bản pháp luật để đảm bảo phù hợp với các hệ thống đấu thầu quốc tế
Daina Atieno Kibogo và Mwangangi (2014), mục đích của nghiên cứu này là
để thiết lập các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hợp đồng trong lĩnh vực mua sắm công Các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu thiết lập ảnh hưởng của công nghệ, phong cách quản lý, quản lý mối quan hệ, và thẩm quyền của nhân viên về quản lý hợp đồng trong lĩnh vực mua sắm công ở Kenya Nghiên cứu này đã thông qua thiết kế nghiên cứu mô tả mà tìm cách thiết lập các yếu tố liên quan kết quả, điều kiện hoặc các loại hành vi Kỹ thuật phân tầng ngẫu nhiên đã được sử dụng kích thước mẫu
130 Các bảng câu hỏi được sử dụng để thu thập dữ liệu được phân tích cả về số
Trang 37lượng và chất lượng Nghiên cứu này có thể có thể gi p đỡ trong việc xây dựng chiến lược, phương hướng và kế hoạch hành động mà tổ chức chính phủ nên áp dụng cho họ để bắt đầu hợp đồng và quản lý để chấm dứt một cách tích cực Kết quả cho thấy rằng công nghệ thông tin, phong cách quản lý, phong cách quản lý và nhân viên quản lý hợp đồng ảnh hưởng thẩm quyền trong mua sắm công
Robert Kasisi, Mumo Mwangangi Benjamin, Gitonga Harun Mwangi (2014), mục đích của nghiên cứu này là để thiết lập các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của chức năng mua sắm trong các tổ chức chính phủ và đặc biệt, Tổng công ty dầu khí quốc gia của Kenya Lựa chọn thực tế là các công ty có hệ thống mua sản phẩm tại địa phương và quốc tế do đó đầu tư thêm kinh phí trong việc mua hàng hóa và dịch vụ Kém hiệu quả và thiếu năng lực quản lý tổng thể và quản lý các chức năng mua sắm đã đóng góp vào tổn thất quá mức do thực tiễn quản lý mua sắm kém dẫn đến ít hơn hiệu suất dự kiến Mục tiêu chung của nghiên cứu này là để thiết lập các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng mua sắm trong các tổ chức chính phủ Các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu; để tìm hiểu tác động của các quy định của chính phủ và bộ máy quan liêu về việc thực hiện các chức năng mua sắm Để xác định hiệu quả của mua sắm trực tuyến đối với việc thực hiện các chức năng mua sắm Trong bộ sưu tập dữ liệu, thiết kế nghiên cứu định tính và định lượng được sử dụng Các dữ liệu hữu ích cũng thu được từ các tạp chí, tạp chí, tạp chí và các báo cáo phân tích mua sắm về công ty Cỡ mẫu của dân số mục tiêu bao gồm phần mua sắm, cảng xăng dầu quốc gia Nairobi, tài chính và bộ phận hậu cần kỹ thuật lấy mẫu có mục đích đã được sử dụng bởi vì bản chất của nghiên cứu, nơi bị đơn đã được xác định trước khi thu thập dữ liệu Phân tích dữ liệu thực hiện với sự gi p đỡ của chương trình thống kê Khoa học Xã hội Các kết quả chính của nghiên cứu chỉ
ra rằng các quy định của chính phủ ảnh hưởng hiệu suất mua sắm như các quy tắc
và quy định mua sắm Đấu thầu rộng rãi là phương pháp chủ trương nhất mua hàng hóa và dịch vụ trong các tổ chức chính phủ Nghiên cứu này chứng minh rằng có những rủi ro khác nhau liên quan đến mua sắm trực tuyến Ví dụ, hack thông tin bí mật Để cải thiện về chức năng mua sắm và thực hiện do đó tổ chức sau đây là các khuyến nghị Các khuyến nghị kéo theo nhu cầu tuyển nhân viên mua sắm với trình
Trang 38độ chuyên môn, cung cấp đào tạo cho người lao động, kiểm soát mạnh mẽ của hệ thống mua sắm điện tử để cải thiện lưu và truy cập thông tin
Sylvia Chilikona Wanyonyi và Willy Muturi (2015), mua sắm công đã ngày càng trở nên nổi bật trong cả hai khu vực công và tư nhân Mục tiêu chung của nghiên cứu này là đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất của các chức năng mua sắm trong các tổ chức đào tạo kỹ thuật công cộng ở Kisumu, Kenya Nghiên cứu tập trung vào các mục tiêu cụ thể của việc phân tích ba phương pháp chính của mua sắm công, đó là: ảnh hưởng của công nghệ thông tin vào thực hiện chức năng mua sắm trong các cơ sở đào tạo kỹ thuật công cộng, năng lực của ảnh hưởng nhân viên thực hiện chức năng mua sắm và liệt kê các vấn đề đạo đức ảnh hưởng đến việc ra quyết định trong việc thực hiện chức năng mua sắm trong các cơ sở đào tạo
kỹ thuật công cộng Dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng cách sử dụng bảng câu hỏi
Dữ liệu được phân tích bằng phân tích định lượng bằng cách sử dụng số liệu thống
kê cả hai mô tả và suy luận Nghiên cứu kết luận rằng công nghệ thông tin, đạo đức
và nhân lực có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của các chức năng mua sắm trong các cơ sở đào tạo kỹ thuật Do đó, khuyến cáo rằng việc sử dụng công nghệ thông tin trong hai tổ chức được tăng cường để cung cấp thành công trong việc thực hiện chức năng mua sắm, thẩm quyền của người lao động cần được đẩy mạnh ở cả hai tổ chức và đạo đức làm việc là một nền tảng cho sự thành công của bất kỳ hoạt động
tổ chức nên được quan sát thấy trong tất cả các bộ phận mua sắm
Trang 39CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thiết kế nghiên cứu
3.1.1.Mẫu nghiên cứu
Để đảm bảo độ tin cậy của nghiên cứu thì việc lựa chọn cỡ mẫu thích hợp là rất cần thiết Về nguyên tắc cỡ mẫu càng lớn thì kết quả nghiên cứu càng chính xác, tuy nhiên cỡmẫu quá lớn sẽ ảnh hưởng đến chi phí và thời gian thực hiện nghiên cứu.Đối với nghiên cứu này do hạn chế về chi phí thực hiện nên cỡ mẫu được xác định trên nguyên tắc tối thiểu cần thiết để đảm bảo độ tin cậy của nghiên cứu
Đối với nghiên cứu này, theo Yamane (1970) dữ liệu thu thập cho việc phân tích thuộc dạng chuỗi liên tục nên mức sai số chuẩn được chọn là (e = 0,05%) Như vậy, tổng số cán bộ mua sắm tại các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai hoạt động thực tế năm 2015 là N= 250, độ chính xác là 95%, sai số tiêu chuân là +- 5%
Với n là cỡ mẫu, N là số lượng tổng thể, e là sai số tiêu chuẩn
n = N
1+ N (e)2
Cỡ mẫu của nghiên cứu này sẽ được tính như sau:
Ngoài ra, theo nghiêu cứu tổng hợp của Costello và Osborne (2005) về việc chọn cỡ mẫu phù hợp cho việc xử lý số liệu sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA), đa số các nhà nghiên cứu đã thống nhất với nhau rằng tỷ lệ giữa đối tượng khảo sát với biến quan sát càng cao càng tốt Cụ thể là: tỷ lệ 5:1 (5 đối tượng khảo sát/1 biến quan sát) được xem là tối thiểu chấp nhận được, tỷ lệ 10:1 được xem là tốt, tỷ lệ 20:1 được xem là rất tốt Theo bảng 3 trong nghiên cứu tổng hợp của Costello và Osborne thì trên thế giới có gần 34% các nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu từ 10:1 – 100:1
Trang 40Bảng 3.1 Các nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu tính theo tỷ lệ số người khảo
sát/biến quan sát
Tỷ lệ bảng khảo sát/biến quan sát
% các nghiên cứu
(Nguồn: Costello & Osborne, 2005)
Để bảo đảm cỡ mẫu tốt cho một đề tài nghiên cứu ứng dụng cấp tỉnh như đề tài này, nhóm nghiên cứu chọn tối thiểu tỷ lệ 10:1 (được xem là tốt trở lên) Với tổng số biến quan sát khoảng 40, đề tài này sẽ cần cỡ mẫu đối tượng khảo sát (40 biến x 4đối tượng khảo sát = 156) Có thể nói đây là cỡ mẫu phù hợp kết hợp giữa cách tính cỡ mẫu dựa vào công thức của Yamane (1970) khi biết được số lượng quần thể nghiên cứu thì cỡ mẫu tối thiểu cũng phải là 153 (với độ tin cậy là 95% và sai số chuẩn là ±5%) và cách chọn cỡ mẫu theo tỷ lệ (lớn hơn 10:1); tương đương phải hơn 10 đối tượng khảo sát/1 biến quan sát Như vậy, để bảo đảm cỡ mẫu tối ưu cho nghiên cứu với tiêu chí kinh phí phù hợp, sự đại diện của cỡ mẫu mang tính khoa học, và cỡ mẫu không vi phạm các điều kiện của các kỹ thuật thống kê được
sử dụng cho nghiên cứu này là N=421
- Xử lý, phân tích dữ liệu: sau khi thu thập được dữ liệu từ phiếu khảo sát, sử dụng phần mềm xử lý số liệu thống kê SPSS để tiến hành xử lý dữ liệu, chạy mô hình và các kiểm định
Thời gian phát phiếu điều tra và thu thập: Từ ngày 01/7/2016 đến ngày 01/9/2016
- Tiêu chuẩn lấy mẫu là cán bộ nhân viên, giáo viên tại các tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai; mẫu được chọn ngẫu nhiên từ danh sách cán bộ mua sắm tại các
tổ chức giáo dục tại Tỉnh Đồng Nai đến khi đủ kích thước 421 mẫu