1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ pháp luật về tài sản có yếu tố nước ngoài trong bộ luật dân sự 2015 – lý luận và thực tiễn

93 189 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điển hình có một số công trình nghiên cứu đã được công bố sau: - Trường Đại học Luật Hà Nội 2017, Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Công an nhân dân; - Tưởng Duy Lượng 2008, “Hướng xử lý v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật Quốc tế

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hồng Bắc

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của trường Đại học Luật Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị trường luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thư Hiên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:

Tất cả các quý thầy cô đã giảng dạy cho em trong suốt khóa học tại Trường Đại học Luật Hà Nội Thầy cô đã cung cấp cho em nhiều kiến thức cơ bản và hữu ích, chúng là nền tảng quan trọng để em hoàn thành tốt luận văn này

Đặc biệt, em xin cảm ơn cô Nguyễn Hồng Bắc - cô là người hướng dẫn luận văn cho em Trong quá trình giảng dạy và hướng dẫn luận văn, cô đã tận tình quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ cũng như cung cấp nhiều kiến thức cơ bản và chuyên ngành để em có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này

Sau cùng xin cảm ơn những người thân trong gia đình, anh, chị, em học

viên cùng khoá, cùng lớp đã hết lòng chia sẻ, tạo điều kiện tốt nhất cho em trong

suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Mặc dù em đã có nhiều nỗ lực để hoàn thành luận văn Tuy nhiên, do trình độ nghiên cứu chưa cao và chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn

Hà Nôị, ngày tháng 9 năm 2018

Học viên thực hiện

Nguyễn Thư Hiên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ VỀ TÀI SẢN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.1.1 Khái niệm tài sản 7

1.1.2 Khái niệm quan hệ tài sản trong Tư pháp quốc tế 15

1.2 Đặc điểm của quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài 18

1.3 Tầm quan trọng của việc quy định quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong BLDS năm 2015 20

1.4 Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài 22

1.4.1 Phương pháp xung đột 22

1.4.2 Phương pháp thực chất 25

1.5 Cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 26

1.5.1 Giai đoạn từ 1945 – 1995 26

1.5.2 Giai đoạn từ 1995 – 2005 28

1.5.3 Giai đoạn từ 2005 – 2014 29

1.5.4 Giai đoạn từ 2014 - nay 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QUAN HỆ TÀI SẢN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 32

2.1 Xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật dân sự 2015 32

2.1.1 Áp dụng Điều ước quốc tế đối với quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài 32

Trang 6

2.1.2 Áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ tài sản có yếu tố nước

ngoài 36

2.1.3 Áp dụng tập quán quốc tế đối với quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài 42

2.2 Áp dụng pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản trong Bộ luật dân sự 2015 45

2.2.1 Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản 45

2.2.2 Đối với tranh chấp về động sản đang trên đường vận chuyển 48

2.2.3 Đối với việc phân định tài sản 51

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT QUAN HỆ TÀI SẢN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỂU CHỈNH QUAN HỆ VỀ TÀI SẢN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 58

3.1.Thực tiễn giải quyết quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam 58

3.1.1 Thuận lợi 58

3.1.2.Khó khăn, tồn tại 61

3.1.3.Nguyên nhân của khó khăn, tồn tại 66

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài 69

3.2.1.Định hướng hoàn thiện quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài 69

3.2.2.Một số giải pháp cụ thể 71

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74

KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại và chủ trương chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước và 70 vùng lãnh thổ và quan hệ thương mại với 165 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, tham gia các tổ chức khu vực và quốc tế quan trọng1 Số lượng người Việt Nam sinh sống, lao động và học tập tại nước ngoài trong những năm qua đã lên tới 4,5 triệu người2 Cùng với đó, lượng khách quốc tế nhập cảnh Việt Nam cũng tăng lên đáng kể Theo thống kê của Tổng cục du lịch, lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 5/2018 ước đạt 1.161.114 lượt, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm 2017 Tính chung 5 tháng năm 2018 ước đạt 6.708.428 lượt khách, tăng 27,6% so với cùng kỳ năm 20173

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tính đến ngày 20/6/2018, cả nước có 1.366 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 11,8 tỷ USD, bằng 99,7% so với cùng kỳ năm 2017; có

507 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm

là 4,43 tỷ USD, bằng 86,2% so với cùng kỳ năm 2017 Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2018, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua

3 Vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/26586 ”Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 5 và 5 tháng năm

2018” Truy cập ngày 2/7/2018

Trang 8

cổ phần của nhà ĐTNN là 20,33 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm

20174

Mở cửa và tăng cường hội nhập quốc tế của Việt Nam, bên cạnh những mặt tích cực, cũng đem lại những vấn đề không mong muốn đó là ngày càng nhiều các vụ việc tranh chấp về dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài ngày càng tăng5, trong đó có tranh chấp về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài Những quan hệ này cần phải được giải quyết hiệu quả và kịp thời Giải quyết tốt những quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự Đồng thời, thúc đẩy và mở rộng hơn quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước trên nhiều lĩnh vực, từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Hiện nay, để điều chỉnh, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Bộ luật dân sự (BLDS)

ngày 24/11/2015 (Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2017) BLDS

số 33/2005/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực thi hành Bộ luật đã có nhiều quy định mới, khắc phục những hạn chế của BLDS năm

2005 Trong BLDS năm 2015 đã dành toàn bộ Phần thứ V, từ Chương 25 đến Chương 27 quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Tại Chương 27

của BLDS đã quy định trực tiếp về “pháp luật áp dụng đối với quan hệ tài

sản, quan hệ nhân thân” Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan có thẩm

quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, trong điều kiện BLDS năm 2015 mới ban hành, được áp dụng từ năm 2017 và chưa có văn bản hướng dẫn, do đó, việc nghiên cứu, làm sáng tỏ những quy định của BLDS về pháp luật áp dụng đối với quan hệ tài

sản là hết sức cần thiết Xuất phát từ lý do đó, em chọn đề tài “Quan hệ pháp

4 http://www.mpi.gov.vn/Pages/tinbai.aspx?idTin=40195&idcm=208 “Báo cáo tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài 6 tháng đầu năm 2018”.Truy cập ngày 02/07/2018

5 Xem: Đề tài NCKH cấp trường năm 2017 “Tống đạt giấy tờ ra nước ngoài trong giải quyết các vụ việc dân

sự có yếu tố nước ngoài – lý luận và thực tiễn”, trang 1

Trang 9

luật về tài sản có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật Dân sự 2015 - Lý luận và thực tiễn” cho luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, ở Việt Nam chưa có nhiều học giả nghiên cứu về quan hệ pháp luật tài sản có yếu tố nước ngoài và đặc biệt là đối với các quy định tại

BLDS 2015 Tuy nhiên, quan hệ pháp luật về tài sản có yếu tố nước ngoài đã

được đề cập dưới khía cạnh khác nhau trong chuyên đề nghiên cứu khoa học, giáo trình, bài viết đăng trên tạp chí, Luận văn thạc sĩ, bài tham luận trong các hội thảo khoa học, tọa đàm của nhiều nhà nghiên cứu Điển hình có một số công trình nghiên cứu đã được công bố sau:

- Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB

Công an nhân dân;

- Tưởng Duy Lượng (2008), “Hướng xử lý việc người Việt Nam định cư

ở nước ngoài mua nhà, đất nhưng nhờ người khác đứng tên hộ”, Tạp

chí Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao, số 6/2008;

- Lê Thị Bích Thủy (2012), “Áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp

phát sinh từ quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường năm 2012;

- Đặng Anh Tuấn (2012), “Hoàn thiện các quy định của pháp luật về việc

cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội;

- Phan Tuyết Trinh (2014), “Quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam

định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;

Trang 10

- Hà Thị Diễm (2015), “Một số quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài

trong Bộ luật Dân sự 2005 - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” - Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;

- Nguyễn Đức Việt (2017), “Giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở

hữu và quyền khác đối với tài sản ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 6 năm 2017;

- Vũ Thị Hồng Yến (2017), “Hỏi - đáp về quyền quyền sở hữu tài sản và

quyền khác đối với tài sản theo Bộ luật Dân sự năm 2015”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật năm 2017…

Các công trình nghiên cứu nêu trên của các học giả đã đạt được những giá trị lí luận và thực tiễn nhất định Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nêu trên vẫn còn một số hạn chế nhất định:

Thứ nhất, BLDS năm 2015 ra đời và chính thức có hiệu lực vào ngày

01/07/2017 nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề quan hệ pháp luật về tài sản có yếu tố nước ngoài theo quy định của BLDS năm 2015 Đây

là vấn đề mới, lần đầu tiên được quy định trong BLDS năm 2015;

Thứ hai, các công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến một vài vấn đề cụ

thể mà không nghiên cứu sâu và toàn diện các quy định của pháp luật Việt Nam, có đối chiếu với pháp luật nước ngoài về quan hệ pháp luật về tài sản Các vấn đề về quan hệ pháp luật về tài sản có yếu tố nước ngoài chưa được đánh giá và nhìn nhận dưới góc độ so sánh, đối chiếu trong xu thế hội nhập

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quan hệ pháp luật về tài sản có yếu tố

nước ngoài trong Bộ luật Dân sự 2015 - Lý luận và thực tiễn” là vấn đề mới,

chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện từ trước đến nay, nhất là sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ:

Trang 11

- Những vấn đề lý luận về quan hệ pháp luật tài sản có yếu tố nước

ngoài;

- Các quy định của BLDS 2015 về quan hệ pháp luật tài sản có yếu tố

nước ngoài;

- Đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp về quan hệ tài sản có yếu tố

nước ngoài tại tòa án cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam;

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết quan hệ tài sản có

yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Quan hệ pháp luật tài sản có yếu tố nước ngoài trong BLDS 2015 là vấn đề rất rộng (bao gồm nhiều quan hệ tài sản như: quan hệ sở hữu, quan hệ thừa kế, quan hệ hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, sở hữu trí tuệ ), do vậy, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, đề tài không có tham vọng nghiên cứu tất cả các quan hệ pháp luật này mà chỉ nghiên cứu về quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài Cụ thể là đề tài tập trung vào các Điều 677 và 678 BLDS 2015

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: Tổng hợp, phân tích, thống kê, khái quát hóa… Đây là phương pháp truyền thống, đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn Đặc biệt đề tài sử dụng phương pháp so sánh Phương pháp so sánh được sử dụng trong chương

2 đề tài nhằm làm rõ những điểm mới của BLDS 2015 điều chỉnh quan hệ pháp luật tài sản có yếu tố nước ngoài so với BLDS 2005 và để làm rõ sự tương đồng và sự khác biệt của pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước

trên thế giới về vấn đề này

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn:

Trang 12

- Giúp cho đối tượng quan tâm đến các vấn đề nghiên cứu thuộc đề tài có

có nhận thức đúng về quyền sở hữu tài sản;

- Là tài liệu hữu ích cho người làm công tác xét xử tại tòa án Việt Nam;

- Kết quả của đề tài nghiên cứu có thể được dùng làm tài liệu để phổ

biến, phục vụ cho việc giảng dạy ở Trường Đại học Luật Hà Nội, cũng như cho các cơ sở đào tạo pháp luật, Viện nghiên cứu cũng như cho các đối tượng khác có quan tâm đến các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu

của đề tài

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Lời mở đầu, kết luận và Danh mục tham khảo, luận văn được kết

Trang 13

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ VỀ TÀI SẢN

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm tài sản

Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mối quan hệ xã hội nói chung

và quan hệ pháp luật nói riêng Tài sản là một từ ngữ quen thuộc đối với bất

kì ai, đó là vấn đề trọng tâm của các quan hệ xã hội nói chung và trong quan

hệ pháp luật nói riêng Tài sản tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, phong phú

và đa dạng, do vậy việc phân loại tài sản có vai trò quan trọng trong giải quyết các vấn đề tranh chấp phát sinh Tuy nhiên, trong thực tế khái niệm tài sản được hiểu mơ hồ, chưa có sự thông nhất chung để có thể xác định đối tượng

đó có phải là tài sản hay không và hậu quả gây ảnh hưởng đến giao dịch dân

sự, thương mại và kinh tế Chính vì vậy, việc phân loại và đưa ra một khái niệm có thể bao trùm được tất cả các tài sản trên thực tế là một vấn đề hết sức cần thiết

Từ khi Bộ luật dân sự đầu tiên được ban hành cho đến Bộ luật dân sự hiện nay đang có hiệu lực thì không có bất kì điều luật nào nêu khái niệm tài sản là gì Khi đó, tài sản được người ta hiểu một cách chung nhất và luật chỉ nêu ra quy định những gì là tài sản Tuy nhiên, đó là cơ sở pháp lí quan trọng

để ta xác định một vật có phải là tài sản trong quan hệ pháp luật hay không

Khái niệm “tài sản” theo pháp luật Trung Quốc bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình Tài sản vô hình được hiểu bao gồm các quyền tài sản như sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền và các công trình là sản phẩm của lĩnh vực sở hữu trí tuệ Tài sản hữu hình, theo pháp luật Trung Quốc được phân thành tài sản đặc định và vật cùng loại

Trang 14

Giống phần lớn các hệ thống pháp luật khác, pháp luật dân sự Trung Quốc cũng phân biệt giữa tài sản là bất động sản và tài sản là động sản Bất động sản là tài sản không thể di chuyển được Để chuyển giao tài sản là bất động sản như quyền sử dụng đất, thì việc đăng ký là thủ tục phải được thực hiện như là một điều kiện để hợp đồng chuyển giao có hiệu lực Việc đăng ký đối với động sản chỉ được đặt ra khi đó là các phương tiện đi lại, tàu thủy, máy bay và các tài sản khác có liên quan.6

Theo từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng - Trung tâm điện tử tin học xuất bản năm 1997 thì tài sản được khái niệm như sau: “Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng” Theo khái niệm này thì thuật ngữ tài sản có thể được hiểu theo hai cách:

Thứ nhất, về phương diện pháp lý, tài sản là của cải được con người sử

dụng “Của cải” là một khái niệm luôn biến đổi và tự hoàn thiện cùng với sự hoàn thiện về giá trị vật chất Ở La Mã cổ xưa, nhắc đến tài sản người ta liên tưởng ngay đến những của cải trong gia đình như ruộng đất, nhà cửa gia súc… Còn trong xã hội hiện đại ngày nay, ngoài của cải trong gia đình, chúng

ta còn có một số tài sản đặc biệt như năng lượng hạt nhân, phần mềm máy vi tính…

Thứ hai, trong ngôn ngữ thông dụng hàng ngày, tài sản là một vật cụ

thể mà có thể nhận biết bằng các giác quan và được con người sử dụng trong đời sống hàng ngày như bàn ghế, xe máy7…

BLDS Việt Nam không định nghĩa tài sản là gì nhưng tại Điều 172 Bộ luật dân sự 1995 có quy định: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản” Khi BLDS 2005 ra đời thay thế

6 Những điểm mới trong chế định quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản trong Bộ luật Dân sự 2015 phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiêp, Luận văn thạc sĩ luật học Bùi Lê Thu, PGS.TS Dương Đăng Huệ hướng dẫn

7 Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học về tài sản trong luật Dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản trẻ, 2001, trang 5

Trang 15

BLDS 1995 thì tài sản được quy định bao gồm “vật, tiền, giấy tờ có giá trị và các quyền tài sản” Như vậy, BLDS 1995 và BLDS 2005 đều quy định tài sản gồm có vật Tuy nhiên, Điều 163 BLDS 2005 quy định tài sản là “vật”, mà không có quy định “vật có thực” như quy định tại điều 172 BLDS 1995 Việc

bỏ quy định vật có thực đã mở rộng nội hàm của vật, vật có thể đang tồn tại hiện thực và vật chắc chắn được hình thành trong tương lai có thể xác định được Quy định về vật tại Điều 163 BLDS 2005 về vật phù hợp hơn với đời sống thực tế và các giao lưu dân sự trong cơ chế thị trường, theo định hướng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, các bên tham gia giao dịch có thể thỏa thuận về đối tượng của giao dịch là vật được hình thành trong tương lai

Kế thừa BLDS 2005, Điều 105 BLDS 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”

Theo đó, định nghĩa trên không những liệt kê các loại tài sản mà còn xác định cụ thể: Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai8

Mặt khác, tại Điều 108 BLDS 2015 giải thích rõ khái niệm “tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” Với quy định cụ thể về tài sản như thế, đã đảm bảo tính bao quát và rõ ràng tạo thành cơ sở pháp lý quan trọng góp phần

áp dụng pháp luật một cách thống nhất

Thứ nhất, Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan

mà con người có thể cảm giác được bằng các giác quan của mình Vật chỉ có

ý nghĩa khi nó trở thành đối tượng trong quan hệ pháp luật nên nếu bộ phận của thế giới vật chất mà con người không thể kiểm soát, chiếm hữu được nó

8 ThS Huỳnh Trung Hậu - Giảng viên Bộ môn Pháp luật, Trường Đại học CSND, bài viết” Tìm hiểu một số điểm mới về chế định tài sản trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015”, Tạp chí KHGD CSND

số 72 (tháng 2/2016).

Trang 16

thì cũng đồng nghĩa với việc con người không thể tác động được vào nó Đối tượng của quan hệ pháp luật nên vật phải đáp ứng được lợi ích của các chủ thể trong quan hệ Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự phải thỏa mãn những điều kiện sau:

- Là bộ phận của thế giới vật chất

- Con người chiếm hữu được, lại lợi ích cho chính chủ thể

- Có thể tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai

Như vậy, ngoài yếu tố là bộ phận của yếu tố vật chất, đáp ứng được nhu cầu của con người, vật có thực với tính cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự

Thứ hai, Tiền theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử

dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó đang có giá trị lưu hành trên thực tế Như vậy, có thể hiểu Tiền như sau: “Tiền là vật ngang giá chung có tính thanh khoản cao nhất dùng

để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng) và thường được Nhà nước phát hành bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ ”9

Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ Tiền về mặt pháp lý có thể được hiểu

là nội tệ hoặc ngoại tệ Tuy nhiên, ngoại tệ là loại tài sản hạn chế lưu thông chứ không được lưu hành rộng rãi như Tiền Việt Nam Tiền lưu hành trong nước phải là đồng Việt Nam trừ một vài trường hợp pháp luật cho phép mới được sử dụng đồng ngoại tê Tiền phải cóg iá trị lưu hành trong thời điểm hiện tại ví dụ: Những đồng tiền cổ hoặc tiền xu thì nó được gọi là tiền nhưng không được xem làm tài sản để giao lưu trong dân sự

9

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%81n

Trang 17

Thứ ba, Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự

hiện nay đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự Giấy tờ có giá tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể có rất nhiều cơ quan ban hành như : kho bạc, các công ty cổ phần…, có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có thể có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng, có thể ghi danh hoặc không ghi danh và việc thực hiện quyền định đoạt về số phận thực tế đối với giấy tờ có giá cũng không bị hạn chế như việc định đoạt tiền Ví dụ: giấu nhận nợ, tờ vé

số trúng thưởng, trái phiếu, cổ phiếu…tất cả những giấy tờ trị gia được bằng đồng Việt Nam

Thứ tư, Quyền tài sản theo đinh nghĩa tại Điều 115 BLDS 2015 là:

“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với

đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”

Như vậy, điều luật này đã liệt kê và chỉ rõ phạm vi những quyền được coi là quyền tài sản, tránh được sự nhầm lẫn với một số quyền nhân thân Đồng thời cũng đã liệt kê những đối tượng mà quyền tài sản bao gồm: quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác Qua đây cũng nhận thấy rằng: phạm vi đối tượng quyền được coi là tài sản mặc dù không có khả năng chuyển giao trong giao dịch dân sự còn tạo tiền để để việc ghi nhận một số loại đối tượng có giá trị trong thực tiễn nhưng chưa được pháp luật thừa nhận bởi hạn chết trong việc chuyển giao nó Ví dụ: Quyền sáng chế, phát minh ra máy gặt lúa, xe lăn cho người tàn tật, giống cây trồng, vật nuôi mới… được pháp luật bảo hộ về quyền sở hữu trí tuệ

Tài sản trên thực tế tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau, vô cùng phong phú và đa dạng Tuy nhiên, mỗi loại tài sản lại có những đặc tính khác biệt cần thiết phả có quy chế pháp lý điều chỉnh riêng Chính vì vậy, việc phân

Trang 18

loại tài sản là cần thiết không chỉ có ý nghĩa trong hoạt động lập pháp mà còn

có ý nghĩa trong thực tiễn áp dụng pháp luật BLDS 2015 dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau để phân tài sản thành các loại như sau:

- Tài sản có đăng ký quyền sở hữu và tài sản không đăng ký quyền sở hữu

Căn cứ vào giá trị của tài sản, vai trò và ý nghĩa của tài sản đối với chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng, quản lý nhà nước mà pháp luật có quy định về việc đăng ký quyền sở hữu đối với một số tài sản nhất đinh 10

Đăng ký quyền sở hữu là việc chính thức ghi vào văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền những thông tin cần thiết liên quan đến tài sản để làm cơ sở phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp lý của chủ sở hữu tài sản đối với một tài sản nhất định Điều 106 BLDS 2015 với quy định chung là “Đăng ký tài sản” cụ thể như sau: “Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.Việc đăng ký tài sản phải được công khai” Việc quy định đăng

ký tài sản không chỉ bó hẹp trong phạm vi quyền sở hữu đối với tài sản mà còn bao gồm các quyền khác đối với tài sản Theo đó, quyền khác đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác Quyền khác đối với tài sản bao gồm: Quyền đối với bất động sản liền kề; Quyền hưởng dụng; Quyền bề mặt Để bảo đảm tính minh bạch, công khai, huy động và phát huy được hết các nguồn lực vật chất trong

xã hội, các thông tin về tài sản đã đăng ký phải được công khai

- Tài sản gốc, hoa lợi, lợi tức

10 ThS Huỳnh Trung Hậu - Giảng viên Bộ môn Pháp luật, Trường Đại học CSND, bài viết” Tìm hiểu một số điểm mới về chế định tài sản trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015”, Tạp chí KHGD CSND

số 72 (tháng 2/2016).

Trang 19

Căn cứ vào nguồn gốc và cách thưc hình thành tài sản mà tài sản có thể được phân thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức

Tài sản gốc được hiểu là tài sản khi sử dụng, khai thác công dụng thì sinh ra lợi ích vật chất nhất định

Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại như: con bê do con bò

đẻ ra, hoa quả thu hoạch từ cây cối…Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản mà không phải là do tài sản tự sinh ra như: tiền lãi, tiền thuê nhà… Như vậy, cả hoa lợi và lợi tức đều là những tài sản sinh ra từ việc khai thác, sử dụng tài sản gốc

- Bất động sản và động sản

Khái niệm bất động sản và động sản được quy định tại Điều 107 BLDS

2015 như sau: Bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng, tài sản khác theo quy định của pháp luật Động sản là những tài sản không phải là bất động sản”

Cũng giống như cách định nghĩa tài sản, BLDS đã sự dụng phương pháp liệt kế để định nghĩa bất động sản Căn cứ vào quy định này thì đất đai

và những tài sản gắn liền với đất đai như: nhà, công trình xây dựng, cây cối, tài nguyên….sẽ được coi là bất động sản Còn động sản là những tài sản mà

nó không thuộc là bất động sản Cách phân loại này chủ yếu dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không Cách phân loại này là tiêu chí hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới đều sử dụng bởi việc xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến hai loại tài sản này rất khác nhau cần phải

có quy phạm điều chỉnh riêng đối với từng loại

- Tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai

Trang 20

Căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu, tài sản được phân thành: tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai

“Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch” (Khoản 1 Điều 108 BLDS 2015)

Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét (thường là thời điểm xác lập nghĩa vụ hoặc giao dịch được giao kết ) nhưng chắc chắn sẽ có hoặc được hình thành trong tương lai “Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm: Tài sản chưa hình thành Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch” (Khoản 2 Điều 108 BLDS 2015)

Trước đây, tại Điều 163 BLDS 2005 cũng không khẳng định trực tiếp tài sản bao gồm tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai Chỉ có

duy nhất tại khoản 2 Điều 320 có nhắc đến thuật ngữ này cụ thể như sau: “Vật

dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai”, chính vì vậy mà khái niệm tài sản hình thành trong

tương lai chỉ được hiểu là “vật hình thành trong tương lai” mà không bao gồm

các loại tài sản khác;ba là, quy định cụ thể khái niệm tài sản hiện có và tài sản

hình thành trong tương lai Trước đây, tại khoản 2 Điều 320 BLDS 2005 có

đề cập đến khái niệm này nhưng nội hàm chỉ bó hẹp trong phạm vi tài sản là

vật hình thành trong tương lai “Vật hình thành trong tương lai là động sản,

bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”, ngay cả tại Điều 4 Nghị định

163/2006/ NĐ-CP cũng chỉ quy định: “Vật hình thành trong tương lai là vật

chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét Vật hình thành trong tương lai bao gồm cả vật đã được hình thành tại thời điểm giao

Trang 21

kết giao dịch nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch mới thuộc sở hữu của các bên” Tuy nhiên, những điều luật này chỉ mới dùng lại ở giới hạn khái

niệm “tài sản hình thành trong tương lai” trong phạm vi tài sản là đối tượng

của giao dịch dân sự bảo đảm nên chưa mang tính khái quát Mặt khác, việc quy định như thế có thể dẫn đến những cách hiểu khác nhau trong nhận thức

lý luận cũng như thực tiễn áp dụng đồng thời chưa bao quát hết nội hàm “tài sản hính thành trong tương lai” Chính vì vậy, với cách quy định cụ thể trong BLDS 2015 về khái niệm “tài sản hình thành trong tương lai” đã đảm bảo tính bao quát và rõ ràng về khái niệm này Đây là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần áp dụng pháp luật một cách thống nhất

Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì tài sản là của cải vật chất được con người dung vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng Cụ thể hơn tài sản được luật quy định bao gồm vật tiền giấy tờ có giá và các quyền tài sản11

1.1.2 Khái niệm quan hệ tài sản trong Tư pháp quốc tế

Quan hệ tài sản trong Tư pháp quốc tế là các quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài Được xem là có yếu tố nước ngoài khi quan hệ tài sản đó thỏa mãn một số điều kiện nhất định mà pháp luật quy định Căn cứ vào quy định tại Điều 663 BLDS 2015, thì yếu tố nước ngoài trong quan hệ tài sản được thể hiện trong các trường hợp sau đây:

- Có ít nhất một trong các bên tham gia quan hệ tài sản là cá nhân, pháp

nhân nước ngoài;

- Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng

việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ tài sản đó xảy ra tại nước ngoài;

- Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng

đối tượng của quan hệ tài sản đó ở nước ngoài

11 Quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài tại Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị Diễm Trinh, ThS Diệp Ngọc Dung hướng dẫn, 2013

Trang 22

Như vậy, Tư pháp quốc tế Việt Nam đã dựa trên các dấu hiệu cơ bản sau để xác định yếu tố nước ngoài trong một mối quan hệ tài sản:

Thứ nhất, yếu tố chủ thể

Theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 663 BLDS 2015, quan hệ tài sản phải có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài Tức các bên tham gia vào quan hệ tài sản khác quốc tịch

Theo quy định của pháp luật Việt Nam người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch

Về khái niệm pháp nhân nước ngoài, hiện nay, do BLDS 2015 mới ban hành nên chưa có văn bản dưới luật hướng dẫn về quy định này Do vậy, các quy định tại Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định của BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài vẫn còn hiệu lực và được áp dụng Khoản 5 Điều 3 Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định pháp nhân nước ngoài là pháp nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài

Có thể nhận thấy tại Điều 663 BLDS 2015, chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã được thu gọn bao gồm: cá nhân, pháp nhân, đồng thời loại bỏ chủ thể người Việt Nam định cư ở nước ngoài và tổ chức như quy định tại Điều

758 BLDS 2005 Việc thu gọn chủ thể phục vụ cho 3 mục đich chính, đó là:

- Đảm bảo sự tương thích với các quy định về cá nhân và pháp nhân

trong các phần còn lại của bộ luật;

- Loại bỏ chủ thể tham gia quan hệ dân sự là người Việt Nam định cư ở

nước ngoài, do còn nhiều cách giải thích khác nhau về trường hợp công dân Việt Nam “cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” theo quy định tại Luật Quốc tịch năm 2008 Hiện nay, không có quy định pháp

luật nào giải thích thế nào là cư trú, làm ăn, sinh sống “lâu dài” ở nước

ngoài Vì vậy đây là vướng mắc lớn khi áp dụng điều khoản này;

Trang 23

- Đối với tổ chức không có tư cách pháp nhân thì người giao dịch thay

mặt cho tổ chức đó mà không có ủy quyền của các thành viên tổ chức

đó sẽ chịu trách nhiệm cá nhân với giao dịch của mình Vì thế đây chính là trường hợp cá nhân tham gia quan hệ dân sự đã được quy định tại điểm a, b, c của khoản 2 Điều 663.12

Thứ 2, yếu tố sự kiện pháp lý làm xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc

chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài

Trên cơ sở thực thi chủ quyền của quốc gia đối với dân cư và lãnh thổ, pháp luật các nước và pháp luật Việt Nam đều thống nhất quan điểm rằng một quan hệ được coi là có yếu tố nước ngoài nếu căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài mặc dù các bên chủ thể của quan hệ là công dân, pháp nhân Việt Nam

Thứ 3, yếu tố đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài

Khi đối tượng của mối quan hệ không còn nằm trên lãnh thổ Việt Nam thì rất có thể có sự thay đổi về quy chế pháp lý đối với đối tượng đó Đối tượng đó có thể sẽ phải chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật của một quốc gia khác, do vậy, pháp luật Việt Nam coi một mối quan hệ dân sự giữa công dân hoặc pháp nhân Việt Nam được coi là có yếu tố nước ngoài khi đối tượng có liên quan quan hệ đó ở nước ngoài

Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm “quan hệ tài sản có

yếu tố nước ngoài” như sau:

Quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài là quan hệ giữa chủ thể này với chủ thể khác thông qua một tài sản mà trong đó có ít nhất một bên tham gia

là cá nhân, pháp nhân nước ngoài hoặc là các quan hệ tài sản giữa các bên tham gia là các công dân, pháp nhân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay

12 Quy định của Phần 5 Bộ luật Dân sự năm 2015 về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài : đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường / Trường Đại học Luật Hà Nội ; T.S Trần Minh Ngọc chủ nhiệm đề tài

Trang 24

đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài

1.2 Đặc điểm của quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài

Thứ nhất, quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trước tiên nó là quan hệ

tài sản, vì thế nó sẽ mang đặc điểm của qan hệ tài sản nói chung thuộc điều chỉnh của BLDS 2015 như sau:

Một là, quan hệ tài sản luôn liên quan đến tài sản, nếu không có tài sản

thì không thể hình thành nên mối quan hệ tài sản Theo quy định tại Điều 105 BLDS 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện

có và tài sản hình thành trong tương lai” Tài sản có thể là tài sản có đăng ký quyền sở hữu và tài sản không đăng ký quyền sở hữu, tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai…

Hai là, quan hệ tài sản là các quan hệ mang tính chất hàng hóa - tiền tệ

Trong quan hệ tài sản các chủ thể tiến hành trao đổi hàng hóa, dịch vụ, các sản phầm trí tuệ với nhau để đổi lấy giá trị vật chất trong đó cơ bản là được tính bằng tiền Quy luật thị trường trong nên sả xuất hàng hóa chi phối đến các quan hệ tài sản mà chúng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ Đây là đặc điểm để phân biệt các nhóm quan hệ tài sản do BLDS điều chỉnh

Ba là, quan hệ tài sản thể hiện ý chỉ của các chủ thể tham gia vào quan

hệ, ý chí đó phải phù hợp với ý chí của nhà nước Tuy rằng, quan hệ tài sản độc lập với ý chí con người, nó phát triển theo quy luật khách quan, nhưng quy luật này được nhận thức và phản ánh thông quan các quy định pháp luật mang tính chủ quan, ý chí của giai cấp thống trị, phản ánh sự tồn tại xã hội thông qua các quy phạm pháp luật Quan hệ tài sản là quan hệ giữa con người

và con người về một đồ vật chứ không phải quan hệ giữa con người và đồ vật Các quan hệ tài sản rất đa đạng, phong phú và các chủ thể tham gia vào các

Trang 25

quan hệ cũng rất khác nhau Trong quan hệ tài sản, chủ thể lựa chọn quan hệ tài sản mà mình tham gia, lựa chọn chủ thể tham gia quan hệ với mình và các quyền, lợi ích trong mối quan hệ

Tuy hiên, mối quan hệ tài sản, ý chí của các chủ thể phải phù hợp với ý chí của nhà nước, ý chí đó thể hiện qua các quy định pháp luật Thông qua các quy định pháp luật, nhà nước tác động lên quan hệ tài sản, tức là quan hệ có ý chí mang nội dung kinh tế, hướng cho các quan hệ đó phát sinh, phát triển phù hợp với ý chí nhà nước

Bốn là, trong quan hệ tài sản có sự đền bù ngang giá về lợi ích vật chất

đối với các chủ thể tham gia Sự đền bù tương đương trong trao đổi là biểu hiện của quan hệ hàng hóa và tiền tệ, là đặc trung của quan hệ dân sự theo nghĩa rộng

Chủ thể trong một quan hệ tài sản cụ thể để hưởng dụng một tài sản thì phải chấp nhận một sự đền bù ngang giá trị - đổi một giá trị tương đương và ngược lại Chẳng hạn, trong quan hệ tài sản cụ thể là mua bán chiếc xe ô tô BMW giữa đại lý ô tô Giải Phóng với anh A Chủ thể trong quan hệ mua bán này là đại lý ô tô Giải phóng – bên bán và anh A – bên mua Tài sản được đem ra mua bán trao đổi là chiếc xe ô tô BMW của cửa hàng đại lý ô tô Giải Phóng Anh A phải chi trả 30.000 USD cho đại lý ô tô Giải Phóng để có quyền sở hữu chiếc xe một cách hợp pháp Như vậy, 30.00 USD mà anh A phải chi trả là giá trị tương đương để đổi lấy chiếc xe ô tô BMW của đại lý ô

Trang 26

lý ô tô Giải Phóng và chủ thể thuê - anh A Giá cả thuê xe theo thỏa thuận giữa hai bên anh A và đại lý ô tô Giải Phóng là 2 triệu đồng / 1 ngày Khi này giá tiền 2 triệu đồng /1 ngày là giá trị tương đương cho với giá trị sử dụng chiếc xe BMW trong một ngày Như vậy, khi quan hệ mua bán chiếc ô tô BMW giữa anh A và đại lý ô tô Giải Phóng thay đổi thành quan hệ thuê xe ô

tô thì vai trò chủ thể của anh A và đại lý ô tô Giải Phóng thay đổi, mức tiền thuê xe khác với mức tiền mua chiếc xe ô tô BMW

Không phải tất cả sự chuyển dịch tài sản, dịch vụ đều có sự đền bù tương đương như cho, tặng, thừa kế, sử dụng các tác phẩm văn học nghệ thuật…

Tuy nhiên, các quan hệ này không phải là quan hệ cơ bản và không phổ biến trong trao đổi Nó không chỉ đơn thuần là quan hệ pháp luật mà con bị chi phối bởi nhiều quan hệ xã hội khác (như truyền thống văn hóa, phong tục tập quán…)

Thứ hai, quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài mang những đặc điểm

cơ bản của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài như sau:

Một là, về chủ thể của quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài: quan hệ tài

sản có yếu tố nước ngoài là quan hệ có ít nhất một trong các bên tham gia là

cá nhân, pháp nhân nước ngoài

Hai là, quan hệ dân sự giữa các bên là cá nhân, pháp nhân Việt Nam

nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó ở nước ngoài

Ba là, quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, pháp nhân

Việt Nam nhưng tài sản liên quan đến quan hệ ở nước ngoài

1.3 Tầm quan trọng của việc quy định quan hệ tài sản có yếu tố nước

ngoài trong BLDS năm 2015

Thứ nhất, có thể thấy rằng đất nước đang bước sang một giai đoạn

phát triển mới, bên cạnh việc công nghiệp hóa hiện đại hóa là việc hội nhập

Trang 27

kinh tế Chính vì thế đời sống xã hội, kinh tế của đất nước cũng đang thay đổi mỗi ngày đòi hỏi việc hoàn thiện các quy định pháp luật về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu

tố nước ngoài nói chung và quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài nói riêng trong bối cảnh đất nước hiện nay, các quan hệ dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài gia tăng về số lượng đòi hỏi phải có quy phạm pháp luật điều chỉnh Trong đó quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài phát sinh nhiều nhất

Thứ hai, pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài

được xây dựng dựa trên pháp luật điều chỉnh qan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, là nền tảng hình thành ngành tư pháp quốc tế ở Việt Nam Không như các nước tư bản trên thế giới, pháp luật quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài nói riêng được quy định đầy đủ và toàn diện nhất trong BLDS Trước khi BLDS 2015 ra đời, quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài đã được điểu chỉnh bởi Phần 7 BLDS 2005 Qua gần 10 năm thi hành, cùng với sự thay đổi chóng mặt về đời sống kinh tế xã hội của Việt Nam, phần 7 BLDS 2005 đã dần bộc lộ những hạn chế và bất cập trong thực tiễn áp dụng Phần thứ 7 của BLDS 2005 còn có những quy định thiếu sót, chưa hợp lý và vẫn chưa điều chỉnh đầy đủ các dạng quan hệ tài sản

có yếu tố nước ngoài cơ bản Vì vậy, để có thể giải quyết một cách công bằng, hiệu quả, nhanh chóng các vụ việc này cần phải có những quy định của pháp luật tương ứng điều chỉnh để thuận tiện vấn đề này

Thứ ba, việc hoàn thiện các quy định về pháp luật áp dụng đối với các

quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài nhằm mục đích mở rộng hợp tác với các quốc gia trên thế giơi, đồng thời thực hiện các cam kết của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới Để mở rộng quan hệ hợp tác, quan hệ ngoại giap, những năm qua Việt Nam đã ký kết rất niều các điều ước song phương và đa phương, trong đó có cả các vấn đề về quan hệ tư pháp nói chung và quan hệ

Trang 28

dân sự nói riêng Do vậy, Việt Nam không thể đi ngược lại những mình đã cam kết với nước bạn Đặc biệt sự kiện trở thành thành viên của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế năm 2013, yêu cầu sửa đổi bổ sung các quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là bức thiết Nó là con đường để rút ngắn khoảng cách với các cam kết quốc tế đã ký cũng như với quy định pháo luật thế giới, giúp cho pháp luật Việt Nam trên thế giới ngày được thừa nhận, mở rộng quá trình hội nhập toàn diện của Việt Nam

1.4 Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ tài sản có yếu tố nước

ngoài

1.4.1 Phương pháp xung đột

Phương pháp xung đột được hình thành, xây dựng trên nền tảng hệ thống các quy phạm xung đột của quốc gia và các quy phạm xung đột trong

các Điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên Phương pháp xung đột là

phương pháp sử dụng quy phạm xung đột nhằm xác định hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng trong việc điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế cụ thể Quy phạm xung đột: không quy định sẵn các quyền, nghĩa vụ các biện

pháp chế tài đối với các chủ thể tham gia tư pháp quốc tế mà nó chỉ có vai trò xác định hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể sẽ do hệ thống pháp luật của nước được quy phạm xung đột

“dẫn chiếu” đến điều chỉnh Do vậy việc căn cứ vào sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột để tìm ra pháp luật của nước nào được áp dụng thuộc nhiệm

vụ của các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Ưu điểm nổi bật của phương pháp này chính là linh hoạt, mềm dẻo hơn phương pháp thực chất và việc xây dựng quy phạm xung đột dễ tiến hành hơn

Phương pháp xung đột là đặc trưng cơ bản của tư pháp quốc tế vì: Trong thực tiễn tư pháp quốc tế số lượng các quy phạm thực chất ít không đáp

Trang 29

ứng được yêu cầu điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế phát sinh ngày càng

đa dạng trong khi đó quy phạm xung đột được xây dựng một cách đơn giản hơn nên có số lượng nhiều hơn Do có nhiều quy phạm xung đột nên đã điều chỉnh hầu hết các quan hệ tư pháp quốc tế Chỉ có tư pháp quốc tế mới sử dụng phương pháp này, các ngày luật khác không áp dụng phương pháp điều chỉnh gián tiếp: luật hình sự, luật dân sự khi điều chỉnh cấc quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của nó sẽ áp dụng các quy phạm pháp luật trong Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự mà không phải xác định xem luật của nước nào khác

sẽ được áp dụng

Trên thực tế, để giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài, các hệ thuộc cơ bản thường được sử dụng:

- Hệ thuộc Luật nhân thân (lex personalis) là hệ thuộc luật liên quan đến

nhân thân của một con người Bao gồm hai biến dạng là luật quốc tịch (lex nationalis) và luật nơi cư trú (lex domicilii)

- Luật quốc tịch (lex nationalis) hay còn gọi là luật bản quốc (lex patriae)

được hiểu là luật của quốc gia mà đương sự là công dân Ví dụ khoản 1 Điều 680 BLDS 2015 quy định về thừa kế theo pháp luật có yếu tố

nước ngoài “Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người

để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết.”

- Luật nơi cư trú (lex domocilii) là luật của nước mà người đó có nơi cư

trú ổn định (thường là nơi thường trú) Theo Điều 672 BLDS 2015 thì

hệ thuộc này được áp dụng thay cho hệ thuộc luật quốc tịch trong trường hợp đương sự là người không quốc tịch hay nhiều quốc tịch

- Hệ thuộc Luật quốc tịch của pháp nhân (lex societatis): đây là hệ thống

pháp luật nơi mà pháp nhân mang quốc tịch Theo Tư pháp quốc tế thì các nguyên tắc cơ bản để xác định quốc tịch cú pháp nhân như sau: Nơi đặt trụ sở của pháp nhân, nơi thành lập pháp nhân (nơi đăng ký điều lệ),

Trang 30

nơi pháp nhân thực tế thực hiện hoạt động kinh doanh Đối với Việt

Nam, “Quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của

nước nơi pháp nhân thành lập”, Khoản 1 Điều 676 BLDS 2015

- Hệ thuộc Luật nơi có tài sản (lex rei sitae): được hiểu là hệ thống pháp

luật nước nơi tài sản thực tế tồn tại Hệ thuộc này sử dụng chủ yếu để giải quyết các quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài và giải quyết xung đột pháp luật về định danh tài sản, BLDS 2005 Việt Nam cũng thừa nhận nguyên tắc này, ví dụ: Điều 677 quy định: “Việc phân biệt tài sản

là động sản hoặt bất động sản được xác định theo pháp luật của nước noi có tài sản”

- Hệ thuộc Luật do các bên ký kết hợp đồng lựa chọn (lex voluntaitis):

các bên khi tham gia ký kết hợp đồng có thể do lựa chọn hệ thống pháp luật để giải quyết quan hệ hợp đồng Tuy nhiên, việc thỏa thuận này cũng phải đáp ứng các điều kiện sau: một là, việc thỏa thuận chọn luật

để điều chỉnh các quan hệ phải thuộc trường hợp pháp luật cho phép chọn luật, hai là, việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của quốc gia các bên và việc áp dụng này không được trái với các nguyên tắc cơ bản của quốc gia các bên và việc áp dụng này không để lẩn tránh pháp luật; ba là, các bên phải lựa chọn quy phamh thực chất trong hệ thống phấp luật của một nước cụ thể trong tập quán quốc tế điều chỉnh quyền và nghĩa vụ các bên

- Hệ thuộc Luật nơi vi phạm pháp luật (lex loci delicti commissi): được

áp dụng đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm pháp luật, theo đó khi xảy ra xung đột pháp luật về vấn đề này sẽ giải quyết theo pháp luật nơi vi phạm pháp luật Nơi vi phạm pháp luật có thể hiểu là

Trang 31

nơi hiện diện kết quả của hành vi gây thiệt hại, nơi thực hiện hành vi gây thiệt hại,…

1.4.2 Phương pháp thực chất

Phương pháp thực chất được xây dựng trên cơ sở hệ thống các quy phạm thực chất trực tiếp điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Quy phạm thực chất là quy phạm định sẵn các quyền, nghĩa vụ, biện pháp chế tài đối với các chủ thể tham gia quan hệ tư pháp quốc tế xảy ra, nếu có sẵn quy phạm thực chất để áp dụng thì các đương sự cũng như cơ quan có thẩm quyền căn cứ ngay vào quy phạm để xác định được vấn đề mà họ đang quan tâm mà không cần phải thông qua một khâu trung gian nào

Trong thực tiễn việc điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế được áp dụng bởi các quy phạm thực chất thống nhất là quy phạm thực chất được xay dựng bằng cách các quốc gia kí kết, tham gia các điều ước quốc tế hoặc chấp nhận và sử dụng tập quán quốc tế

Tính ưu việt: làm cho mối quan hệ tư pháp quốc tế được điều chỉnh nhanh chóng, các vấn đề cần quan tâm được xác định ngay, các chủ thể của quan hẹ đó và các cơ quan có thẩm quyền khi gây tranh chấp sẽ tiết kiệm được thời gian tránh được việc tìm hiểu pháp luật nước ngoài là một vấn đề phức tạp Hạn chế: số lượng ít không đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh quan

sự khác biệt trong pháp luật của các quốc gia

Ví dụ: quy phạm thực chất được ghi nhận trong Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về mua bán hàng hóa quốc tế (Điều 67, 68, 69),… hoặc

Trang 32

trong các tập quán thương mại quốc tế thuộc lĩnh vực thương mại và hàng hải quốc tế như các quy tắc tập quán trong incoterms (international commercial tems) 2010,…

Thứ hai, quy phạm thực chất thông thường tức là những quy phạm thực

chất được ghi nhận trong pháp luật quốc gia Ví dụ: quy phạm thực chất được

áp dụng để giải quyết quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài trong BLDS 2005 như: khoản 3, 4 Điều 767 BLDS quy định về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài:

“3 Di sản không có người thừa kế là bất động sản thuộc về Nhà nước nơi có bất động sản đó;

4 Di sản không có người thừa kế là động sản thuộc về Nhà nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết”

1.5 Cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài tại

Việt Nam

Linh hồn của tư pháp quốc tế Việt Nam có thể nói nằm cốt lõi trong BLDS Có thể thấy rằng lịch sự hình thành và phát triển của BLDS Việt Nam gắn liền với lịch sử giải phóng dân tộc và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Từ giai đoạn đất nước thời phong kiến đến khi giải phóng đất nước, quan hệ về sở hữu tài sản dần dần hình thành, từ khi những mối quan hệ dân

sự gần như không có đã dần hình thành tài sản tư hữu và các mối quan hệ về

sở hữu, thừa kế cũng ngày một tăng và phát triển nhanh chóng

Do vậy, cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam chủ yếu ghi nhận trong các BLDS13 Nói về sự pháp triển của các BLDS, có thể chia thành giai đoạn sau:

1.5.1 Giai đoạn từ 1945 – 1995

13 Ngoài ra, còn có các luật lien quan khác

Trang 33

Vào những năm trước 1945 các quy định về sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài vô cùng manh mún và gần như không có do tình hình kinh tế đất nước khi đó còn quá nghèo, các mối quan hệ dân sự nói chung và các mối quan hệ về sở hữu nói riêng gần như không có

Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng vĩ đại đập tan ách thống trị của thực dân Pháp trong 80 năm, mở ra một thời kỳ lịch

sử mới Khi đó, đất nước tập trung đi vào tiến lên xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế Lúc này các mối quan hệ dân sự dần dần được hình thành, nhà nước Việt Nam đã ban hành một số văn bản về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài Một trong những văn bản đầu tiên là Sắc lệnh số 215 do Chủ tịch nước ban hành ngày 20/8/1948 ấn định quyền lợi đảm bảo cho người ngoại quốc giúp cho cuộc kháng chiến của Việt Nam Theo quy định tại Sắc lệnh những người ngoại quốc giúp cho cuộc kháng chiến của nước Việt Nam đểu được hưởng những quyền lợi đặc biệt như quyền bảo vệ tài sản Như vậy, tại thời điểm này pháp luật Việt Nam đã thừa nhận quyền sở hữu tài sản cho người ngoại quốc giúp cho cuộc kháng chiến của Việt Nam

Có thể nói thời điểm từ năm 1945 đến 1995, tuy một trang lịch sử mới của đất nước được mở ra, nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh chống pháp và chống Mỹ đầy khó khăn gian khổ với rất nhiều việc phải làm cùng với việc các nhận thức, tư duy pháp luật của các nhà làm luật thời bấy giờ còn hạn chế nên các quy định về quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài vẫn còn tản mạn, các quy định con chung chung, mang tính nguyên tắc Nhà làm luật vẫn chưa quy định được những quy định cụ thể về các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Hơn nữa hiệu lực của các văn bản pháp luật còn thấp - tất cả đều

là văn bản dưới luật, các chế độ dành cho quan hệ sở hữu tài sản của cá nhân hay tổ chức nước ngoài còn thấp Chính vì thế trong giai đoan này rất ít nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam để sản xuất, kinh doanh

Trang 34

Tóm lại, nghiên cứu pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn 1945 - 1995, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, pháp luật trong nước điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố

nước ngoài còn hết sức đơn giản, chưa tập hợp thành hệ thống Trong một thời gian dài quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài chủ yếu được điều chỉnh bởi các văn bản dưới luật, hướng dẫn về đường lối xét xử của Toà án nhân dân tối cao như Công văn, thông tư

Thứ hai, quan hệ hợp tác giữa nước Việt Nam dân chủ cộng hoà với

các nước mà chủ yếu với các nước XHCN ở giai đoạn này mới bắt đầu kiến lập và dần dần được củng cố Bên cạnh sự giúp đỡ về chính trị, kinh tế, khoa học kĩ thuật, các nước còn tiếp nhận đào tạo nhiều công dân Việt Nam thuộc các ngành nghề khác nhau Thời kì này Việt Nam đã bắt đầu gửi sang Liên

Xô và các nước Đông Âu nhiều công dân để học tập, nghiên cứu, đồng thời Việt Nam cũng tiếp nhận chuyên gia, cán bộ của các nước đến công tác, giúp

đỡ và huấn luyện cho cán bộ Việt Nam Trong bối cảnh đó, nhiều quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài phát sinh, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh

1.5.2 Giai đoạn từ 1995 – 2005

Trong giai đoạn này, pháp luật Việt Nam đã vừa trải qua một bước tiến quan trọng, đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử pháp luật Việt Nam, Hiến pháp 1992 ra đời Cùng với Hiến pháp 1992, nhà nước ban hành một số các văn bản quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trong đó có thể kể đến BLDS 1995, Luật Đất đai 2003 và các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành có liên quan Sự ra đời của các văn bản này nhằm đáp ứng nhu cầu của

xã hội và nền kinh tế thị trường, BLDS 1995 đã dành ra Phần 7, từ Điều 826 đến Điều 838, để quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Đây là sự thay đổi rất lớn về quy định của pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tố nước

Trang 35

ngoài so với giai đoạn trước Các vấn đề về dân sự có yếu tố nước ngoài đã được nâng tầm quy định trong văn bản luật do quốc hội ban hành và các mối quan hệ đã dần được hình thành và định nghĩa trong bộ luật, các quy phạm thực chất và quy phạm xung đột cũng xuất hiện và được áp dụng Tuy rằng ở giai đoạn này, các quy định pháp luật còn chưa được đầy đủ và hoàn thiện, quy định vẫn còn tồn tại chung chung chưa cụ thể, nhưng cũng đã đáp ứng được nhu cầu của thời điểm đó

Nghiên cứu pháp luật điều chỉnh điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn 1995 - 2005, có thể rút ra một số nhận xét sau:

- Trong giai đoạn này, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật

khá đầy đủ, đồng bộ, quy định tương đối chi tiết điều chỉnh các vấn đề

tố tụng dân sự nói chung và ủy thác tư pháp nói riêng Các văn bản này

đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng

mở của Nhà nước ta, góp phần tăng cờng củng cố các mối quan hệ hữu nghị, ổn định các quan hệ xã hội phát sinh hết sức đa dạng và phức tạp trong thời kì hội nhập quốc tế

- Các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao (Văn bản luật)

Đây là những có sở pháp lý quan trọng điều chỉnh hiệu quả quan hệ tài sản ở nước ta trong giai đoạn này

1.5.3 Giai đoạn từ 2005 – 2014

Kể từ năm 2005, nền kinh tế Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới

về phát triển kinh tế thị trường Với xu hướng hội nhập kinh tế, BLDS 1995 không còn phù hợp và Việt Nam thiếu nghiêm trọng các quy định pháp luật

để điều chỉnh các mối quan hệ phức tạp đã được hình thành trong thời đại này, trong đó các mối quan hệ dân sự về ngày càng tăng do Luật đầu tư nước ngoài có hiệu lực, các nhà đầu tư nước ngoài đã nhìn thấy tiềm năng đầu tư

Trang 36

rất lớn tại Việt Nam Do vậy pháp luật dân sự Việt Nam đòi hỏi phải có những quy định cụ thể hơn để điều chỉnh các mối quan hệ đó

Phần 7 của BLDS 2005 ra đời thay thế cho toàn bộ Phần 7 của BLDS

1995 Quy định tại BLDS 2005 ra đời với các nội dung được quy định chi tiết, các mối quan hệ dân sự mới đã được điều chỉnh Quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài tại BLDS 2005 đã được quy định chi tiết hơn, cụ thể hơn khi khái niệm về tài sản theo quy định tại BLDS đã được mở rộng ra rất nhiều so với BLDS 1995

1.5.4 Giai đoạn từ 2014 - nay

Sau hơn 10 năm áp dụng, các quy định của BLDS không còn phù hợp, khi ấy BLDS 2015 ra đời để đáp ứng nhu cầu kinh tế thị trường như một nhẽ thiết yếu Quan hệ tài sản có yêu tố nước ngoài theo quy định tại BLDS 2015

đã được mở rộng phạm vi điều chỉnh hơn so với quy định tại BLDS 2005 bao gồm quyền sở hữu tài sản và quyền khác đối với tài sản Trong bối cảnh hiện nay, việc mở rộng phạm vi điều chỉnh tại Điều 678 được xem là hợp lý Ngoài

ra Điều 678 không còn phân loại về tài sản như Điều 766 BLDS 2005, việc này để đảm bảo sự hợp lý hơn trong sắp xếp các điều luật, người áp dụng luật

sẽ không phải gượng ép áp dụng quy định về phân định tài sản là động sản và bât động sản cho quan hệ thừa kế, hợp đồng Cuối cùng, Điều 678 đã loại bỏ quy định về quyền sở hữu với tàu bay, tàu biển bời đây là quy định chuyên biệt đã được ghi nhận trong Bộ hàng hải Việt nam 2015 và Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006 Đây là những điểm mới giúp cho các quy định pháp luật Việt Nam được hợp lý hơn trong không chỉ BLDS mà còn trong các

bộ luật khác

Trang 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội cũng như trong pháp luật Nó là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế vì quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản chính là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình chiếm hữu sử dụng và định đoạt tài sản Mức độ xử sự ấy quy định giới hạn và khả năng thực hiện của họ trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh… Điều đó tác động trực tiếp đến nền kinh tế thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế Xuất phát từ vai trò chi phối của cơ sở kinh tế hạ tầng đối với pháp luật BLDS

2015 ra đời đã khẳng định vị trí trung tâm của chế định “quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản” BLDS 2015 khá tương đồng với hệ thống pháp luật của các quốc gia theo hệ thống pháp luật thành văn khi tiếp cận quyền tài sản dựa trên lý thuyết truyền thống về vật quyền Sự thay đổi này có ý nghĩa không chỉ về phương diện học thuật mà còn có ý nghĩa về phương diện xã hội

và kinh tế bởi nó cho phép tài sản có thể được khai thác tối đa giá trị và qua

đó thúc đẩy giao lưu dân sự cũng như sự phát triển của nền kinh tế nước nhà

Trang 38

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QUAN HỆ TÀI SẢN CÓ YẾU TỐ

NƯỚC NGOÀI TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

2.1 Xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ tài sản có yếu tố nước

ngoài trong Bộ luật dân sự 2015

BLDS 2015 đã có những quy định quan trọng về lựa chọn pháp luật áp dụng cho quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài khi khẳng định nguyên tắc tự

do lựa chọn pháp luật cho quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, quyền tự do lựa chọn pháp luật áp dụng này phải tuân theo các điều kiện nào

về nội dung và hình thức? Liệu quyền này có phải là một quyền tuyệt đối, hay

có những giới hạn và ngoại lệ? Trong thực tiễn, không hiếm trường hợp các bên được quyền lựa chọn pháp luật nhưng không thực hiện quyền của mình Vậy BLDS 2015 trù liệu và giải quyết trường hợp này như thế nào?

Để điều chỉnh quan hệ tài sản có yếu tố nước ngoài, BLDS 2015 đã quy

định áp dụng các loại nguồn sau:

2.1.1 Áp dụng Điều ước quốc tế đối với quan hệ tài sản có yếu tố nước

ngoài

Điều ước quốc tế (ĐƯQT) là thoả thuận được kí kết bằng văn bản giữa hai hoặc nhiều chủ thể của luật quốc tế nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quốc tế Nếu như việc kí kết cũng như hiệu lực của ĐƯQT được điều chỉnh bởi luật quốc tế thì cơ chế thực hiện ĐƯQT trong lãnh thổ của mỗi quốc gia lại phụ thuộc vào hệ thống pháp luật của quốc gia

đó Tuỳ vào hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia mà các ĐƯQT có cơ chế thực hiện khác nhau Theo đó, cơ chế thực hiện ĐƯQT trên lãnh thổ quốc gia

có thể được tiến hành thông qua hai phương thức là áp dụng trực tiếp và áp dụng gián tiếp

Trang 39

Áp dụng trực tiếp ĐƯQT là việc ĐƯQT sau được khi kí kết sẽ có hiệu lực thi hành trực tiếp trên lãnh thổ của quốc gia kí kết mà không cần bất kì hình thức chuyển hoá nào vào hệ thống pháp luật trong nước

Áp dụng gián tiếp ĐƯQT là việc ĐƯQT sau khi được kí kết chỉ có thể được thực hiện trong lãnh thổ quốc gia kí kết thông qua cơ chế chuyển hoá vào hệ thống pháp luật nội địa Cơ chế này có thể được thực hiện thông qua việc cụ thể hoá quy định của ĐƯQT vào văn bản quy phạm pháp luật trong nước hoặc bằng tuyên bố của nguyên thủ quốc gia Hệ quả là quy phạm pháp luật quốc tế được chuyển thành quy phạm pháp luật trong nước

Vấn đề ưu tiên áp dụng ĐƯQT được đặt ra khi có sự mâu thuẫn giữa quy định của ĐƯQT với quy phạm pháp luật trong nước Việc ưu tiên hay không ưu tiên áp dụng ĐƯQT so với pháp luật quốc gia phụ thuộc vào vị trí của ĐƯQT đó trong hệ thống pháp luật quốc gia

Ở các quốc gia như Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan, ĐƯQT có hiệu lực như quy phạm của hiến pháp và được đảm bảo vị trí ưu tiên so với pháp luật trong nước Đối với Cộng hoà Pháp, ĐƯQT có vị trí thấp hơn hiến pháp nhưng cao hơn so với pháp luật trong nước Theo đó, ĐƯQT sau khi được phê chuẩn hoặc công nhận sẽ có hiệu lực cao hơn pháp luật trong nước kể từ thời điểm được công bố Tuy nhiên, Pháp chỉ trao cho ĐƯQT hiệu lực cao hơn pháp luật trong nước dựa trên cơ sở có đi có lại Nói một cách khác, nếu quốc gia đối tác không tham gia ĐƯQT hoặc không tuân thủ ĐƯQT đã kí kết với Pháp thì ĐƯQT đó sẽ không có hiệu lực cao hơn pháp luật trong nước Theo quy định của Hiến pháp Hoa Kỳ, ĐƯQT có giá trị như các quy định của pháp luật Liên bang Tuy nhiên, vấn đề ưu tiên áp dụng ĐƯQT còn phụ thuộc vào thể thức chuyển hoá ĐƯQT vào hệ thống pháp luật quốc gia Theo pháp luật Hoa

Kỳ, chỉ những ĐƯQT tự thực hiện mới được ưu tiên áp dụng so với đạo luật của Nghị viện có nội dung mâu thuẫn với nó và được ban hành trước đó Các

Trang 40

ĐƯQT không được coi là tự thực hiện sẽ có hiệu lực gián tiếp Nếu luật của một bang có mâu thuẫn với ĐƯQT mà Hoa Kỳ kí kết hoặc gia nhập, các thẩm phán sẽ không cho phép luật đó có hiệu lực trước nghĩa vụ tuân thủ ĐƯQT của Hoa Kỳ theo pháp luật quốc tế

Khi nghiên cứu cơ chế thực hiện ĐƯQT trên lãnh thổ Việt Nam, có thể khẳng định trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, ĐƯQT có vị trí quan trọng Những vấn đề liên quan đến việc kí kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT của Việt Nam được quy định rõ trong Luật Điều ước quốc tế năm

2016 Mối quan hệ giữa ĐƯQT với quy định của pháp luật trong nước cũng được điều chỉnh trong Luật này Có thể thấy rằng việc quy định thẩm quyền quyết định áp dụng trực tiếp ĐƯQT cho các cơ quan lập pháp và hành pháp dường như giúp giảm nhẹ gánh nặng cho hệ thống toà án Việt Nam.14

Trước đây, Điều 759 Bộ luật dân sự 2005 với tiêu đề “áp dụng pháp

luật dân sự Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế’ nay đổi thành Điều 664 với tiêu đề “Xác định pháp luật đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” Điều này nhằm

khẳng định rõ hơn nguyên tắc các bên trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được quyền chọn pháp luật áp dụng

Tại Khoản 1 Điều 664 BLDS 2015 thì “Pháp luật áp dụng đối với quan

hệ dân sự có yếu tố nước ngoài xác định theo Điều ước quốc tế mà CHXHCNVN là thành viên hoặc luật Việt Nam”, quy định này nhấn mạnh tới

nguyên tắc chung trong việc xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân

sự có yếu tố nước ngoài là ĐƯQT mà nước ta là thành viên hoặc các đạo luật của Việt Nam Như vậy, Khoản 1 Điều 664 BLDS 2015 chỉ rõ nguồn chứa đựng quy phạm pháp luật xung đột là ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên và các đạo luật của Việt Nam

14 Áp dụng Điều ước quốc tế trên lãnh thổ Việt Nam, TS Trần Thị Thu Hương, Tạp chí Luật học sô 2, 2013

Ngày đăng: 30/07/2019, 21:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm