Thực tế, việc áp dụng những quy định của pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụng còn hạn chế gặp phải nhiều bất cật, vướng mắc như : Các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đỗ Lê Thanh
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự BLDS Bộ luật dân sự CNXH Chủ nghĩa xã hội HĐXX Hội đồng xét xử TAND Tòa án nhân dân UBND Ủy ban nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Tổng số thụ lý và xét xử các vụ án xâm phạm sở hữu
từ năm 2013 đến năm 2017 44 Bảng 2 Tổng số thụ lý và xét xử các vụ án lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản từ năm 2013 đến năm 2017
44
Trang 5MỤC LỤC
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN
1.1 Khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 8 1.2 Khái quát quy định của pháp luật Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 13 1.2.1 Pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban
1.2.2 Pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 17 1.2.3 Pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 20
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 VỀ TỘI
2.1 Dấu hiệu định tội của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 24 2.1.1 Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 24 2.1.2 Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 26 2.1.3 Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
2.1.4 Mặt chủ quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 34 2.2 Dấu hiệu định khung hình phạt của tội lạm dụng tín nhiệm
2.2.1 Dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 36 2.2.2 Hình phạt áp dụng đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
2.3 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số
Trang 62.3.1 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 39 2.3.2 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội
3.1 Thực tiễn áp dụng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 45 3.1.1 Khái quát thực tiễn định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm
3.1.2 Thực tiễn áp dụng hình phạt 55 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 62 3.2.1 Hoàn thiện pháp luật hình sự và các văn bản hướng dẫn áp dụng về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 62 3.2.2 Tăng cường tổng kết thực tiễn 66 3.2.3 Tăng cường bồi dưỡng, hoàn thiện nguồn nhân lực thực hiện việc áp dụng về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 67 3.2.4 Các giải pháp khác 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và sự hội nhập quốc tế, giao lưu kinh tế đối với các quốc gia trên toàn thế giới và đã đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc Bên cạnh những thành tựu đáng tự hào đã đạt được đó vẫn còn những biểu hiện tiêu cực do mặt trái của cơ chế thị trường mà nổi cộm là vấn đề tình hình tội phạm diễn ra ngày càng phức tạp, nhiều loại tội phạm gia tăng với tình chất và mức độ ngày càng nguy hiểm hơn Trong đó, tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm xảy ra khá phổ biến đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi nền kinh tế phát triển đã xuất hiện nhiều mặt tiêu cực, trong đó có các vấn đề liên quan đến xâm phạm sở hữu đã kéo theo nhũng hệ luỵ cho đầu tư sản xuất, cho nền kinh tế và cho chính người sở hữu Tình trạng cho vay vốn với lãi xuất cao do người dân tự huy động, không có sự đảm bảo của pháp luật vẫn diễn ra phức tạp, đã xảy ra nhiều vụ vỡ nợ, mất khả năng thanh toán và có dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Bên cạnh đó, những sơ hở, thiếu sót trong quản lý Nhà nước về hụi, họ, phường, dịch vụ cầm đồ, dịch vụ cho thuê ôtô,
xe máy và thói quen chỉ dựa vào tình cảm, niềm tin để vay, mượn, cho thuê tài sản đã làm cho tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tăng cao
Tội phạm xảy ra gây nhiều biến động trong xã hội, gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, của tổ chức cũng như tài sản của công dân, cản trở sự phát triển của đất nước Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với những thủ đoạn ngày càng tinh vi gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cho toàn xã hội, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xâm phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không phải là một hành vi mới xuất hiện trong đời sống xã hội Tuy nhiên, để định tội danh đúng cho người phạm tội cần phải xác định được chính xác hành vi cầu thành tội phạm, các đặc điểm, các dấu hiệu của tội phạm Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, việc xét xử loại tội phạm này trong thực tiễn vẫn còn nhiều
Trang 8vướng mắc trong việc định tội danh, quyết định hình phạt, vấn đề “hình sự hóa” các quan hệ dân sự, quan hệ kinh tế và “ phi hình sự hóa” trong đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế trong những năm gần đây chưa chấm dứt
và thu hút sự quan tâm của nhiều cấp nhiều ngành và dư luận xã hội thông qua các chương trình tọa đàm, mạng xã hội Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả phòng, chống tội phạm chưa cao
Thực tế, việc áp dụng những quy định của pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụng còn hạn chế gặp phải nhiều bất cật, vướng mắc như : Các cơ quan tiến hành tố tụng chưa nhận thức đúng đắn quy định của pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chưa phân biệt được giữa tội phạm này với một số tội phạm khác, các
cơ quan chưa phối hợp chặt chẽ với nhau để đưa ra kết luận đúng đắn về việc định tội danh hay quyết định hình phạt dẫn đến việc các cơ quan áp dụng pháp luật còn tỏ ra lúng túng trong việc xác định tội danh, quyết định hình phạt làm ảnh hưởng tới chất lượng xét xử, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, hiện tượng oan sai vẫn còn xảy ra gây bức xúc cho người dân, làm dấy lên dư luận xã hội đặc biệt trong bối cảnh các phương tiện truyền thông, mạng xã hội phát triển rộng rãi như hiện nay Do
đó, nghiên cứu đề tài:„„ Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam‟‟ trong bối cảnh hiện nay là cần thiết góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và pháp lý trong định tội danh, quyết định hình phạt tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong thực tiễn
Từ các lý do trên đây, tôi đã chọn đề tài "Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam" làm luận văn thạc sỹ của
mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không phải là vấn đề mới, có khá nhiều sách, công trình nghiên cứu, các bài viết đăng trên các tạp chí pháp
lý đề cập đến loại tội phạm này Các công trình nghiên cứu đó chủ yếu tiếp cận ở các góc độ khái quát chung nhất hoặc dưới góc độ so sánh tội phạm này
Trang 9với các tội phạm khác trong chương các tội phạm xâm phạm sở hữu của BLHS Việt Nam hoặc các công trình nghiên cứu đó tại thời điểm áp dụng BLHS mới đã hết hiệu lực hoặc phạm vi bài viết thuộc các địa phương khác nhau Cụ thể:
Các sách được xuất bản liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:
Các tội phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản, năm 2015; Nxb Tư
pháp, Hà Nội, Cao Thị Oanh (Ch.b) với nội dung nghiên cứu, phân tích và đánh giá quy định của pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong đó có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đồng thời khảo sát thực tiễn xét xử qua các bản án thu thập ở nhiều địa phương khác nhau để tìm ra những sai sót từ đó đi đến hoàn thiện pháp luật
Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm
2017, 2018; Nxb Tư pháp, Hà Nội, Nguyễn Ngọc Hòa(Ch.b) cùng tập thể tác
giả là những nhà khoa học trong lĩnh vực hình sự với nội dung phân tích, bình luận từng điều luật của 07 chương thuộc phần các tội phạm (từ Điều 108- Điều 246) BLHS để phản ánh quan điểm của các tác giả về những nội dung mới, những sửa đổi mang tính tích cực của Bộ luật đồng thời đề cập đến một
số điểm còn nhiều ý kiến đa chiều
Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (Thực hiện từ 01/7/2016),
Cao Thị Oanh, Lê Đăng Doanh (Ch.b); Nxb: Lao động, H: 2016 Cuốn sách
ra đời với mục đích giải thích, làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hình sự, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn Bình luận khoa học mang tính chuyên sâu các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 là tài liệu bổ ích, thiết thực cho những người thực thi pháp luật và giảng dạy, nghiên cứu Trong phần Các tội xâm phạm sở hữu đã nêu vấn đề đã nêu lên một số vấn đề chung và các tội phạm cụ thể, trong đó có Điều 175, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, với các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt
Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Nam 1999; Phần các tội phạm
cụ thể: Từ điều 78 đến điều 201; Uông Chu Lưu (Ch.b), Trần Đình Nhã, Võ
Trang 10Khánh Vinh; Nxb: chính trị quốc gia; H: 2003 Tác giả giới thiệu Bộ luật Hình sự Quốc hội khoá X thông qua các tội xâm phạm anh ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân, xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, trật tự quản lý kinh tế, tội phạm về môi trường, ma tuý Trong đó làm rõ các tội phạm cụ thể từ Điều 78 đến Điều 201.Trong Điều 140 BLHS năm
1999, các tác giả đi sâu vào làm rõ 5 khoản trong điều luật
Các công trình nghiên cứu:
Luận văn Quy định về định lượng giá trị tài sản đối với các tội xâm
phạm sở hữu trong BLHS năm 1999 của Phạm Thế Anh, Đại học Luật Hà Nội
(2011) đã trình bày một số vấn đề pháp lý về định lượng, làm rõ ý nghĩa quy định về định lượng giá trị tài sản đối với các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS năm 1999 nhằm làm phân biệt với các hành vi vi phạm pháp luật Tác giả đánh giá thực tiễn và nêu lên một số kiến nghị, tuy nhiên, chưa làm rõ các căn cứ quy định định lượng tài sản, chưa có các tiêu chí đánh gía cụ thể và cách xác định giá trị tài sản mà thông thường, theo quy định của Toà án, có các cơ quan, tổ chức chuyên về thẩm định giá sẽ đánh giá Trong khi đó, đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quyết định hình phạt chủ yếu căn cứ vào giá trị tài sản, vì thế, luận văn này còn một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Luận văn Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong Luật
hình sự Việt Nam của tác giả Đặng Quang Vũ, Viện Nhà nước và Pháp luật
(2010) đã tiếp cận và làm rõ khái niệm sở hữu tài sản, sở hữu tài sản, xâm phạm sở hữu và xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, trong đó có Tội LDTNCĐTS Tác giả đã phân tích tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, nguyên nhân, điều kiện và dự báo tình hình tội phạm Từ thực tiễn, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự Chủ yếu tác giả mới nói chung về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt một cách khái quát, chung chung, chưa làm rõ các tội cụ thể
Trang 11Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, còn rất nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tạp chí tòa án nhân dân trên rất nhiều số đã đề cập đến loại tội này như: Bài viết của tác giả Lê Văn Luật “Bà Phạm Thị D có phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không?”, tạp chí TAND số 3 (2/2004)
Bài viết của tác giả Võ Hồng Sơn “Xử lý hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi có sự kiện chủ nợ bãi bỏ cho con nợ”, tạp chí kiểm sát
số 7/2004
Bài viết của tác giả Trần Duy Bình “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản- một số vướng mắc trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện, TAND, TAND tối cao, số 22/2012
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đạt được những thành tựu nhất định trong công cuộc nghiên cứu các quy định của pháp luật, đánh giá nhận xét những việc đã làm được trong thời gian qua để từ đó có thể đi đến việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, đánh giá những bất cập hạn chế mà cơ quan tiến hành tố tụng chưa làm được, nhưng quan điểm mà cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn trong việc áp dụng pháp luật Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về các quy định của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định trong BLHS năm 2015 cũng như quá trình áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên phạm vi toàn quốc
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam” là một yêu cầu cấp thiết hiện
nay
3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về vấn đề “Tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam”nhằm làm rõ các quy định của pháp luật, các mặt pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ đó đề xuất các giải pháp đảm bảo việc đinh tội danh và quyết định hình phạt chính xác đối với loại tội này, bảo đảm tăng cường hiệu quả
Trang 12hoạt động phòng chống tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của
pháp luật hình sự Việt Nam về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và thực tiễn giải quyết các vụ án về tội Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên cơ sở giải quyết các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy
ra trên toàn quốc trong thời gian 05 năm (từ năm 2013 đến năm 2017) nhằm tìm ra những khó khăn, vướng mắc, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả áp dụng các quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu
làm rõ về lý luận tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam, làm rõ những vấn đề lý luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và thực tiễn việc áp dụng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản giai đoạn 2013- 2017 Đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Về thời gian: Luận văn giới hạn việc khảo sát thực tiễn trong 05 năm (từ năm 2013 đến năm 2017)
4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về các vấn đề tội phạm và hình phạt, về đấu tranh phòng chống tội phạm; lý luận về tội phạm học, Luật hình sự và tố tụng hình sự Ngoài ra luận văn còn sử dụng tổng thể các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phuơng pháp tổng hợp, điều tra thống kê, phân tích, so sánh, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu bản án, phương pháp suy luận logic, phương pháp diễn dịch, quy nạp
Chương I, sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, phương pháp bình luận
Chương II, sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, phương pháp bình luận, phương pháp suy luận logic
Trang 13Chương III, sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, phương pháp bình luận, phương pháp phân tích bản ản
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ hơn lý luận
về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong BLHS mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2018
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo, phục vụ thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản
Chương 2: Quy đinh của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM
CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1.1 Khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa khiến các giao dịch dân
sự, kinh tế, thương mại diễn ra một cách thường xuyên, nhiều chiều Quan hệ
sở hữu là một trong những quan hệ cơ bản và quan trọng nhất của một thể chế pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới Các quan hệ tài sản luôn xuất phát từ quan hệ sở hữu, quan hệ sở hữu là tiền đề là xuất phát điểm cho tính hợp pháp của các quan hệ khác Bảo vệ quyền sở hữu tài sản đóng vai trò quan trọng trong các văn bản pháp lý của Nhà nước, ở đó tài sản vừa là đối tượng vừa là khách thể của quan hệ sở hữu Từ thực tiễn xét
xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong hơn 10 năm thi hành BLHS năm 1985, đặc biệt vào những năm cuối thập niên chín mươi, khi các quan hệ dân sự phát sinh một cách ồ ạt với nhiều hình thức đa dạng, mới mẻ đồng thời cũng dẫn đến thực trạng là các cơ quan tiến hành tố tụng ở nhiều địa phương đã “hình sự hóa” các quan hệ dân sự, kinh tế làm nhiều người bị kết án oan về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong khi họ chỉ là bị đơn trong vụ kiện dân sự Việc nhận diện đúng ranh giới giữa giao dịch dân
sự, kinh tế, thương mại với hành vi phạm tội hình sự để từ đó có biện pháp điều chỉnh bằng pháp luật một cách hữu hiệu Điều này có một ý nghĩa to lớn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại hay “dân sự hóa” các hành vi phạm tội cũng như nhầm lẫn giữa một số tội phạm có cấu thành gần gũi Trước thực trạng đó, BLHS năm 1999 đã quy định rõ ràng, cụ thể các tình tiết là dấu hiệu định tội trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và các yếu tố định tội làm ranh giới phân biệt giữa hành vi phạm tội với hành vi chưa phải là tội phạm
Để tìm hiểu, nghiên cứu kỹ khái niệm về tội lạm dụng tín nhiệm chiến đoạt tài sản chúng ta cần tìm hiểu rõ khái niệm về tội phạm Tội phạm là một
Trang 15khái niệm phổ biến được nhiều ngành khoa học đề cập đến, trong đó khoa học hình sự đặc biệt chú trọng nghiên cứu
Điều 8 Bộ luật hình sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 có hiệu lực từ
ngày 01/01/2018 (sau đây gọi tắt là BLHS): “Tội phạm là hành vi nguy hiểm
cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố y hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” 1
Khái niệm tội phạm được đề cập tại Điều 8 BLHS đã thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm: đó là hành vi của một người, nhóm người, pháp nhân nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm các quy định của BLHS, vi phạm các chuẩn mực đạo đức, phá vỡ trật tự bình thường của hoạt động trong xã hội, gây hậu quả xác cho lợi ích xã hội và cần bị trừng trị Khái niệm tội phạm trên đã khái quát đầy đủ bốn yếu tố của tội phạm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xét về cấu trúc cũng có đủ bốn yếu tố trên tạo thành
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự quy định về việc trừng trị các tội xâm phạm sở hữu nói chung, nhưng chưa đưa ra được khái niệm đầy đủ để mô tả dấu hiệu pháp lý của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản một cách cụ thể Năm 1970, Nhà nước ban hành hai Pháp lệnh: Pháp lệnh trừng trị các tội phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm hại tại sản riêng của công dân các hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại các điều lệnh cụ thể Lần đầu tiên khái niệm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã được đưa ra với các đặc trưng và được quy
1 Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam nxb Chính trị Quốc gia sự thật H, 2017
Trang 16định tại các Điều 11 của hai Pháp lệnh “Điều 11- Tội phạm lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa: Kẻ nào nhận tài sản xã hội chủ nghĩa để giữ, vận chuyển, gia công, sửa chữa hoặc để làm một việc gì khác
mà lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt, bớt xén, hoặc đánh tráo tài sản đó thì bị phạt…” Tội lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản riêng của công dân cũng có khái niệm tương tự Đến BLHS năm 1985 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII thông qua ngày 27/6/1985 tại kỳ họp thứ 9 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 thì khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm
để chiếm đoạt tài sản được quy định tại các Điều 135 và Điều 158 BLHS năm 1985 các nhà làm luật đã không mô tả lại hành vi như trong hai pháp lệnh năm 1970 nữa mà chỉ nêu tội danh và hình phạt BLHS năm 1985 được sửa đổi, bổ sung 4 lần vào các năm: 1989, 1991, 1992, 1997, nhưng khái niệm
về hai tội lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và tội lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản vẫn giữ nguyên BLHS năm 1999 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X thông qua ngày 21/12/1999 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000 Tội lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 BLHS năm 1999 như sau: Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm: a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Ở BLHS năm 1999 các nhà làm luật đã quy định các dấu hiệu pháp lý trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản cụ thể hơn, chính xác hơn, tránh được các cách hiểu khác nhau hoặc sự tuỳ tiện trong việc áp dụng pháp luật Đây chính
Trang 17là những tình tiết đặc trưng về tội lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản có
ý nghĩa trong việc xác định ranh giới phân biêt hành vi phạm tội với hành vi chưa phải là tội phạm, giữa tội này và tội khác
Trong BLHS năm 2015, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 như sau: Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác giá trị từ 4.000.000 đồng trở lên đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173
và Điều 290 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm Các dấu hiệu đặc trưng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là:
- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn
để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn phải trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả
- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Khoản 1 Điều 175 BLHS năm 2015 quy định sau khi nhận được tài sản thì việc thực hiện hành
vi bỏ trốn hoặc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt; hoặc sau khi nhận được tài sản và sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Về thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản Đó là khi đối tượng nhận tài sản, hoặc sau khi sử dụng hoặc đến thời điểm phải thanh toán, trả tài sản theo giao kết nhưng đó có ý định chiếm đoạt tài sản nên người phạm tội đã sử dụng thủ đoạn gian dối như là một cách thức để thực hiện việc chiếm đoạt Đây là điểm cần để phân biệt với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Thủ đoạn gian dối ở đây thông thường là người vay, mượn sau khi nhận được tài sản đã ghi số lượng tài sản ít đi, sửa chữa nghĩa vụ phải thanh toán trong giấy tờ giao
Trang 18kết hoặc lập ra tài liệu, chứng từ khống về sử dụng tài sản; Cụ thể “để chiếm đoạt tài sản” tức là hành vi gian dối tạo ra các chứng từ, giấy tờ, tài liệu giả…
và dùng nó để quyết toán, thanh toán với chủ sở hữu tài sản, hoặc việc sửa chữa giấy tờ vay mượn… thì mới có căn cứ để xác định người có hành vi gian dối đó đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Cũng có trường hợp hành vi gian dối đó nhằm che dấu, quyết toán số tiền đã bị sử dụng trái phép, chi tiêu
cá nhân Trong trường hợp người thực hiện nhận được tài sản, nhưng sử dụng tài sản không đúng mục đích đã thoả thuận trong giao kết và không có khả năng trả lại tài sản Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thường xuất phát từ việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán, trả lại tài sản trong hợp đồng vay, mượn, nhận của đương sự Vì vậy, để xác định hành vi của một người có yếu tố chiếm đoạt hay không, trước hết cần phải xác định khối lượng tài sản trong vụ án, từ đó kết hợp với các yếu tố cấu thành tội phạm để định tội danh
và quyết định hình phạt Đánh giá tổng thể các dấu hiệu đặc trưng khách quan của tội phạm, mối liên hệ nhân quả của các hành vi khách quan đó như xác định đối tượng bỏ trốn với ai, vắng mặt hay bỏ trốn, sử dụng tài sản trái phép như thế nào, tránh hình sự hoá các quan hệ dân sự, không oan sai, bỏ lọt tội phạm Như vậy, về cơ bản lạm dụng tín nhiệm là việc của một người đã lợi dụng lòng tin của người khác để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.Từ những đánh giá, nhận xét trên có thế hiểu tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê hoặc nhận được tài sản của người khác có giá trị từ 4.000.000đ hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã
bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169,
170, 171, 172, 173 và Điều 290 của BLHS năm 2015, chưa được xóa án tích bằng các hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; hoặc đến thời hạn trả mặc dù có điều kiện, khả năng trả nhưng cố tình không trả, hoặc đã sử dụng tài sản đó bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Trang 191.2 Khái quát quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Mỗi một loại tội phạm đều có lịch sử hình thành và phát triển, giai đoạn sau là sự kế thừa và phát triển của giai đoạn trước và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng trả qua các gia đoạn hình thành và phát triển
Trong bất cứ một chế độ xã hội có giai cấp nào, Nhà nước cũng đều xác lập, bảo vệ, củng cố và thúc đẩy sự phát triển của những quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị bằng sự hỗ trợ của các quy phạm pháp luật, trong đó có các quy phạm pháp luật hình sự Một trong những nhóm quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là nhóm quan hệ sở hữu Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mac- Lênin là tổng thể các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối của cải vật chất giữa con người với nhau trong
xã hội Sở hữu chính là sự chiếm hữu về của cải vật chất trong xã hội, sự chiếm hữu đó có thể tồn tại dưới những hình thức và thay đổi theo sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sở hữu chính là mối quan hệ giữa con người với con người đối với đối tượng của quyền sở hữu đó chính là tài sản Việc xâm phạm đến quan hệ sở hữu hay nói cách khác là xâm phạm đến sở hữu của Nhà nước, của tổ chức hoặc công dân ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn
cơ sở vật chất của xã hội, ảnh hưởng tới chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước gây ra những hậu quả nghiêm trọng Trong luật hình sự Việt Nam tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định từ rất sớm và ngày càng được hoàn thiện
1.2.1 Pháp luật hình sự Việt Nam quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành
Cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời
Do vừa trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nên Nhà nước ta đang trải qua thời kỳ rất khó khăn và đầy thử thách, phải đối mặt với thù trong giặc ngoài, các vấn đề xã hội như nạn đói nạn dốt , nhu cầu xây dựng lại nền tảng
cơ sở vật chất, kinh tế cho xã hội trở nên cấp thiết Một trong những biện pháp là phải có những quy định để bảo vệ tài sản của Nhà nước làm cơ sở nền
Trang 20tảng để xây dựng và củng cố chính quyền Sau khi Hiến pháp năm 1946 được
thông qua, ghi nhận “quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được đảm
bảo” 2 Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để bảo vệ sở hữu, đặc biệt là sở hữu xã hội chủ nghĩa như: Sắc lệnh số 26/SL(25/02/1946) trừng trị các tội phá hủy công sản, Sắc lệnh số 233/SL (17/11/1946) trừng trị các tội phù lạm, biển thủ công quỹ đây là những văn bản đầu tiên đặt nền móng cho việc hoàn thiện các quy định về tội xâm phạm sở hữu sau này Tuy nhiên những sắc lệnh này vẫn còn nhiều hạn chế Trước hết nó mới là những quy định sơ lược, chưa khái quát hết được những hành vi xâm hại đến quan hệ sở hữu mà mới chỉ tập trung vào một số hành vi: trộm cắp, phá hoại hoặc gắn với các đối tượng của hành vi xâm phạm là tài sản xã hội chủ nghĩa Cho đến Thông tư 442/TTg (19/11/1955) của thủ tướng Chính phủ về trừng trị một số
tội phạm đã nhận định: “Vì về mặt bảo vệ tài sản quốc gia, tính mệnh và tài
sản của nhân dân, luật cũ có nhiều khoản không thích hợp nên Chính phủ lại ban bố một số sắc lệnh trừng trị tội tham ô, tội tống tiền, tội bắt cóc, ám sát, tội đánh bạc như Sắc lệnh 27/SL ngày 28/2/1946 ” Các quy định về tội lạm
dụng tín nhiệm chủ yếu xét xử theo nguyên tắc và án lệ, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định với tên gọi “Bội tín”
Đây là những quy định đầu tiên của nhà nước ta về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (bội tín) Trong quy định này các nhà làm luật xác định mức trách nhiệm của tội lừa gạt, bội tín là như nhau Quy định này còn mang tính hình thức, việc xác định hành vi cụ thể của từng tội phạm có chính xác không phụ thuộc nhiều vào các cơ quan xét xử
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Nhà nước ta lại phải đứng trước các vấn
đề để khôi phục lại nên hòa bình Ngày 15/6/1956 chủ tịch nước ký lệnh công
bố Sắc lệnh 267/SL nhằm trừng trị những âm mưu, hành động phá hoại hoặc làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoặch xây dựng kinh tế, văn hóa Điều 7
Sắc lệnh 267 quy định: “Kẻ nào vì tham lam, tư lợi mà phạm tội trộm cắp,
2 Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1992 và nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điểu của Hiến pháp năm 1992) (2000) NXB CHính trị Quốc Gia Hà Nội
Trang 21lãng phí, làm hỏng, hủy hoại, cướp bóc tài sản của nhà nước, của nhân dân thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”
Sắc lệnh 267 đã có sự phân biệt tài sản của Nhà nước và tài sản của công dân, giúp việc xử lý tội phạm được chính xác và hiệu quả hơn
Ngày 24/6/1957, đã ra Thông tư 72-VVH-HS hướng dẫn thi hành sắc lệnh 267 Sắc lệnh này cũng không quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà cho phép áp dụng những nguyên tắc tương tự khi xét xử những hành vi “phạm tội phá hoại khác” Theo đó nếu hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản diễn ra, Tòa án căn cứ theo đường lối xử lý các tội phạm khác để xét xử Như vậy, cũng như Thông tư 442/TTg Nhà nước ta vẫn cho phép áp dụng nguyên tắc “tương tự trong xét xử” Điều đó chứng tỏ pháp luật vẫn chưa được hoàn chỉnh, hành vi phạm tội vẫn chưa được xác định cụ thể, nó đặt ra một thách thức rất lớn đối với công tác xây dựng và thực thi pháp luật
Năm 1959, sau khi nước ta hoàn thành công cuộc cải tạo XHCN ở Miền Bắc thì công việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH là nhiệm vụ trọng tâm Việc bảo vệ sử hữu Nhà nước, sở hữu tập thể là vấn đề cấp bách
được đặc biệt coi trọng Điều 40 Hiến pháp năm 1959 đã ghi nhận: “Tài sản
công cộng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là thiêng liêng không thể xâm phạm Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng”
Đất nước ngày càng phát triển biểu hiện qua những biến đổi to lớn về mọi mặt kinh tế xã hội Trong khi đó những văn bản trước đây về bảo vệ sở hữu và việc áp dụng luật lệ của chính quyền cũ đã không còn phù hợp Vì vậy, ngày 21/10/1970 Ủy ban thường vụ Quốc Hội đã thông qua Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân số 150- LCT nhằm bảo vệ tài sản XHNC và tài sản riêng của công dân góp phần tăng cường tiềm lực kinh tế, quốc phòng, bảo vệ, nâng cao đời sống của nhân dân Hai pháp lệnh này là sự tiếp nối và hòan thiện các văn bản về các tội xâm phạm sở hữu trước đây Lần đầu tiên tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định thành một tội danh
Trang 22riêng với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm này, hình phạt nghiêm khắc
Điều 11 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN quy định:
“1 Kẻ nào nhận tài sản XHCN để giữ, vận chuyển, gia công, sửa chữa hoặc
để làm một việc gì khác mà lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt, bớt xén hoặc đánh tráo tài sản đó, thì ”
Điều 11 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân
quy định: “1 Kẻ nào nhận tài sản của người khác để giữ, vận chuyển, gia
công, sửa chữa hoặc để làm một việc gì khác mà lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bớt xén hoặc đánh tráo tài sản đó, thì ”
Theo quy định trên ta thấy đối tượng của hai tội là khác nhau nhưng hành vi khách quan là giống nhau Ở quy định này, hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt là hành vi: “bớt xén” hoặc “đánh tráo” chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản được giao ngay thẳng trên cơ sở hợp đồng gửi giữ, gia công, vận chuyển , đối tượng của hành vi chiếm đoạt là tài sản XHCN hoặc tài sản công dân, hình phạt được áp dụng đối với đối tượng phạm tội tương đối nghiêm khắc: Hình phạt tù tối thiểu là 3 tháng, tối đa là 20 năm Tuy cách trình bày còn đơn giản nhưng nhìn chung về mặt kỹ thuật lập pháp
đã có sự tiến bộ, tạo cơ sở pháp lý để trừng trị hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Qua hai điều luật ta thấy tài sản XHCN do đặc biệt được coi trọng nên chính sách xử lý tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN nghiêm khắc hơn so với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản riêng của công dân Báo cáo tổng kết công tác ngành tòa án nhân dân năm
1971, 1972; Thông tư số 213/ NCPL ngày 05/5/1973 của TAND tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an cùng với thông tư này còn có Chỉ thị
số 14/TATC ngày 12/7/1974 của TAND tối cao hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 228 của Bộ chính trị Trung ương Đảng cũng đề cập đến vấn đề liên quan đến việc xử lý tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Sự ra đời của hai pháp lệnh năm 1970 với những quy định về hành vi và thủ đoạn phạm tội mặc dù còn rất đơn giản nhưng cũng đã đánh dấu một bước
Trang 23phát triển trong lịch sử lập pháp của Nhà nước ta, tạo cơ sở cho những quy định tiếp theo về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sau này
Năm 1975, Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất và có nhiều sự đổi mới: bộ máy chính quyền mới, văn bản pháp luật mới Ngày 15/3/1976 Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam ban hành Sắc luật số 03/SL- 1976 quy định các tội phạm và hình phạt được áp dụng ở Miền Nam Việt Nam trong đó có quy định về các tội xâm phạm sở hữu, trong đó tội lạm dụng tín nhiệm được quy định tại điểm b Điều 4 với tên gọi “Bội tín”
“ b Phạm các tội khác như: trộm cắp, tham ô, lừa đảo, bội tín, cướp giật, cưỡng đoạt, chiếm giữ trái phép thì bị phạt tù từ sáu tháng đến bảy năm ”
Những quy định trong Sắc luật này về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng như các tội phạm khác rất sơ lược, chỉ nêu tên tội phạm mà không xác định các dấu hiệu pháp lý cụ thể Nội dung của Sắc luật này và hai Pháp lệnh năm 1970 về cơ bản là thống nhất, tuy nhiên Sắc luật này trình bày với quy mô nhỏ gọn hơn và được dồn vào cùng một điều với một số tội như: lừa đảo, bội tín, cướp giật, cưỡng đoạt Việc quy định như vậy dẫn đến việc
xử lý tội phạm không công bằng Có những tội phạm đến một khách thể như tội lừa đảo, bội tín (xâm phạm đến quan hệ sở hữu) nhưng có tội xâm phạm đến nhiều khách thể như tội cướp giật, cưỡng đoạt (cùng một lúc xâm phạm đến quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân) Cách quy định như vậy đòi hỏi phải có thêm văn bản hướng dẫn thi hành để xử lý từng loại tội phạm cho chính xác Tháng 4/1976 Bộ tư pháp đã ra Thông tư số 03/BTP/TT hướng dẫn thi hành Sắc luật trên
1.2.2 Pháp luật hình sự Việt Nam quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1985
Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 và
có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 Đây là bộ luật được ban hành trên cơ sở pháp điển hóa các văn bản pháp luật hình sự của Nhà nước ta được ban hành từ những năm đầu của chính quyền cách mạng đến giữa những năm 80 của thế
Trang 24kỷ XX, cũng như thể chế hóa chính sách hình sự của Nhà nước ta trong thời
kỳ cả nước thống nhất đi lên CNXH Lần đầu tiên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có một bộ luật, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc trong lịch sử lập pháp hình sự của Nhà nước ta
BLHS năm 1985 đã dành hai chương quy định về tội xâm phạm sở hữu
đó là Chương X “các tội xâm phạm XHCN” và Chương VI “các tội xâm phạm sở hữu của công dân” Trong đó tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 135 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN), Điều 158 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân)
Điều 135 quy định: “1 Người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm” và Điều 158 quy định: “1 Người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo khôn g giam giữ đến 1 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm” Việc dành riêng
hai điều luật quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong BLHS năm 1985 đã khẳng định mức độ nghiêm trọng của hành vi lạm dụng tín nhiệm trong thực tiễn cũng như sự cần thiết phải xác lập một cơ sở pháp lý thống nhất để xử lý hành vi phạm tội Tuy nhiên nhược điểm của hai điều luật trên là không mô tả cụ thể hành vi phạm tội Hiện tượng này cũng rất phổ biến trong BLHS năm 1985, đòi hỏi phải có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành nếu không sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng luật hình sự vào thực tiễn xét xử và trên thực tế việc xác định các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của nó vẫn dựa trên quy định của hai pháp lệnh năm 1970 Hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân, điều đó thể hiện định hướng xây dựng CNXH, phát huy tính chủ đạo của thành phần kinh tế quốc doanh trong chính sách hình sự của Nhà nước ta Trong bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, BLHS năm 1985 là công cụ sắc bén của Nhà nước, của nhân dân đã phát huy vai trò, tác dụng to lớn trong công cuộc bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Trang 25Do sự phát triển của kinh tế có nhiều thay đổi đòi hỏi pháp luật cũng phải thay đổi cho phù hợp BLHS năm 1985 đã được sửa đổi bốn lần vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997 Điều 135 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN có hai lần được sửa đổi vào năm 1989, 1992; Điều 158 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân có một lần được sửa đổi năm 1991 Các lần sửa đổi này chỉ sửa đổi bổ sung khung tăng nặng mà không sửa đổi bổ sung cấu thành cơ bản, chưa khắc phục được thiếu sót trong quy định về mặt khách quan của hành vi phạm tội Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN, lần sửa đổi bổ sung lần thứ nhất theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS được Quốc hội thông qua ngày 12/8/1991 đã điều chỉnh tăng hình phạt ở khoản 3 từ mười năm đến hai mươi năm lên từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân lần sửa đổi này đã thêm
một khun g hình phạt ở khoản 3: “Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm
trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm”
Lần sửa đổi theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS được Quốc hội thông qua ngày 22/12/1992 đã bổ sung thêm một số tình tiết tăng nặng ở khoản 2 Điều 135 tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN là:
“c Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội”
Theo đó BLHS sửa đổi, bổ sung có quy định áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý XHCN từ hai năm đến năm năm trong trường hợp trên
Sau hơn 10 năm thi hành BLHS và qua bốn lần sửa đổi, BLHS 1985 đã
có những đóng góp đánh kể nhưng đứng trước sự thay đổi lớn lao của nên kinh tế, ngoài khu vực kinh tế Nhà nước kinh tế tập thể, khu vực kinh tế tư nhân đã có những bước phát triển vượt bậc Đã qua thời kỳ của nền kinh tế hiện vật, kế hoạch hóa tập trung bao cấp, thay vào đó Đảng và Nhà nước ta có chính sách là xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên cơ sở nhiều hình thức sở hữu khác nhau, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật và đều được
Trang 26Nhà nước bảo hộ như nhau Trước tình hình đó BLHS năm 1985 đã tỏ ra không còn phù hợp, không đáp ứng được yêu cầu đánh tranh phòng chống tội phạm Thêm vào đó vào những năm cuối của thập kỷ 90 (1997- 1999) tình trạng các cơ quan pháp luật ở nhiều địa phương đã bị “hình sự hóa” các quan
hệ dân sự, kinh tế, làm cho nhiều người bị kết án oan về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà lẽ ra họ chỉ là bị đơn trong các vụ án dân sự Trước thực trạng như vậy đòi hỏi các nhà lập pháp phải đưa vào cấu thành những dấu hiệu đặc trưng củ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Do đó việc ban hành một bộ luật mới là rất cần thiết
1.2.3 Pháp luật hình sự Việt Nam quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999
Ngày 22/11/1999 Quốc hội khóa X đã thông qua Bộ luật hình sự 1999 vã cũng đã thông qua Nghị quyết số 32/1999/QH-10 về việc thi hành BLHS Bộ luật này đã kế thừa và phát huy BLHS 1985 trên cơ sở tiếp thu những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm và những thay đổi của nền kinh tế Bộ luật gồm 24 chương và 344 Điều BLHS năm 1999 đã có
sự đổi mới toàn diện cả về nội dung và hình thức so với BLHS 1985 Các tội trong Chương tội xâm phạm sở hữu XHCN và Chương xâm phạm sở hữu của công dân được nhập lại thành một chương “Các tội xâm phạm sở hữu” Sự thay đổi trên nhằm tạo mặt bằng pháp lý bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế khác nhau và đồng thời tạo điều kiện thuận tiện cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn Trên tinh thần đó, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140) ra đời là kết quả của sự sửa đổi một cách căn bản từ hai điều luật riêng rẽ ở hai chương khác nhau trong BLHS năm 1985 Vì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân cơ bản giống nhau về các dấu hiêu khách quan, chỉ khác nhau về đường lối xử lý Cho nên quy định tại Điều 140 BLHS năm 1999 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hoàn toàn phù hợp Như vậy, các trường hợp sai lầm về khách thể cũng không cần đặt ra, đồng thời tránh được oan sai, rắc rối và phức tạp Tuy nhiên việc quy định chung như vậy không có nghĩa là
bỏ qua định hướng XHCN mà vẫn coi việc xâm phạm sở hữu Nhà nước là
Trang 27một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 48 BLHS
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140
BLHS năm 1999
So với quy định tương ứng trong BLHS năm 1985, Điều 140 đã mô tả được chi tiết hơn các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đó là:
Người phạm tội vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi:
+ Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt
mà còn vi phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Từ quy định trên, Điều 140 BLHS năm 1999 giúp phân biệt được các hành vi không phải là tội phạm (như hành vi dân sự hoặc kinh tế), phân biệt được với các tội phạm khác có cấu thành gần gũi (như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) Điều này giúp ích rất nhiều cho công tác áp dụng pháp luật, thể hiện trình độ lập pháp ngày càng tiến bộ của Nhà nước ta
BLHS năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ thay đổi tại cấu thành cơ bản về giá trị tài sản
từ một triệu lên bốn triệu đồng
Hiện nay, Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng XHCN Hàng loạt các quan hệ xã hội phát sinh đồng thời mặt trái của nó là kéo theo tình hình tội phạm ngày một gia tăng cả
về số lượng lẫn phương thức, thủ đoạn ngày một tinh vi, đặc biệt là các tội phạm có yếu tố chiếm đoạt, làm cho công tác giải quyết loại án này càng gặp
Trang 28nhiều khó khăn, vướng mắc Trong thực tiễn xử lý tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điều 140 BLHS đã gặp phải một số khó khăn bất cập đặt ra nhu cầu sửa đổi bổ sung tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản để phù hợp với đời sống xã hội mới
Trang 29Kết luận chương I
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một hành vi đã có từ lâu, có ảnh hưởng đến quyền sở hữu của người có tài sản và gây ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, sản xuất kinh doanh Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách báo, bài viết về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Trong chương I của luận văn tập trung nêu lên những vấn đề chung nhất về tội lạm dụng tín nhiệm tài sản bao gồm: Khái niệm, khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và phân biệt tội tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội danh khác Việc đó có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác áp dụng pháp luật, góp phần tích cực vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng Việc làm rõ các khái niệm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm có cấu thành gần gũi sẽ giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và việc áp dụng hình phạt sẽ phát huy được mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội Bên cạnh đó, cũng đã nêu lên quá trình lập pháp của Bộ luật Hình sự Việt Nam qua các thời kỳ nhằm khái quát sự phát triển của Luật hình sự Việt Nam đối với tội phạm sở hữu, đặc biệt là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 30Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ TỘI LẠM
DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 2.1 Dấu hiệu định tội của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
“Xét về mặt cấu trúc, tội phạm có đặc điểm chung là đều được hợp
thành bởi những yếu tố nhất định, tồn tại khách tách rời nhau nhưng có thể phân chia được trong tư duy và do vậy có thể cho phép nghiên cứu độc lập với nhau Những yếu tố đó theo khoa học luật hình sự Việt Nam là khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan Bốn yếu tố đó đã hợp thành cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được xây dựng trong luật hình sự” 3
2.1.1 Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội phạm là một trong những vấn đề trung tâm của khoa học luật hình sự Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thừa nhận tính giai cấp của
pháp luật nói chung cũng như luật hình sự nói riêng khẳng định: “Khách thể
của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại” 4 Theo luật hình sự Việt Nam những quan hệ xã hội được coi là khách
thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định trong Điều 8 BLHS
Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu Có rất nhiều hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu toàn dân, sở hữu
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hính sự Viêt Nam, Nxb CAND, H, 2015, tr 71,74
4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hính sự Viêt Nam, Nxb CAND, H, 2015, tr 72
Trang 31tập thể, sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, sở hữu tư nhân,… theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Bộ luật dân sự Chủ thể của quan hệ sở hữu trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm: Nhà nước, các tổ chức và công dân Hành vi gây thiệt hại cho các quan hệ sở hữu là hành vi xâm phạm đến các quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu
Cũng như các hành vi phạm tội khác, để xâm phạm đến quan hệ sở hữu thì người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng phải tác động đến tài sản (đối tượng vật chất mà nhờ đó quan hệ sở hữu phát sinh và tồn
tại) Tài sản theo quy định của Điều 105 BLDS năm 2015 gồm: “Tài sản là
vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Trong luật hình sự, đối tượng tác
động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chính là tài sản và nó phải thỏa mãn những đặc điểm sau:
Tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị hoặc giá trị sử dụng, các vật này phải là thước đo giá trị sức lao động của con người được kết tinh đồng thời phải thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần của con người Những hành vi tác động đến các vật không còn giá trị kinh tế như thuốc đã bị tiêu hủy, hàng hóa không còn giá trị sử dụng không phải là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Vật và tiền nói chung luôn luôn là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Những giấy tờ thể hiện quyền về tài sản như hóa đơn lĩnh hàng, tín phiếu, séc, thẻ tín dụng… có thể là đối tượng tác động của tội phạm này với điều kiện thông qua đó bất cứ ai cũng có thể nhận được một
số tiền hoặc tài sản nhất định Nếu những giấy tờ có giá trị mà thông qua đó không trực tiếp lấy được tài sản mà chỉ là những phương tiện thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản hoặc các giấy tờ chỉ dùng vào việc phân phối thì mặc dù
có hành vi chiếm đoạt thì cũng không phải là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Về nguyên tắc tài sản đó phải mua bán, trao đổi được một cách hợp pháp, những tài sản mà Nhà nước cấm tư nhân buôn bán, trao đổi như thuốc
Trang 32phiện, vũ khí, ngoại tệ,…cũng như không phải là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Có những tài sản không thể là đối tượng của tội phạm này mặc dù hành
vi chiếm đoạt đó cũng thỏa mãn các dầu hiệu cấu thành của tội này như: rừng cây, hầm mỏ, vũ khí, thuốc nổ, chất phóng xạ, chất cháy, chất nổ… Do có những đặc điểm, tính chất quan trọng nhất định nên những tài sản đó đã trở thành đối tượng của một số tội phạm riêng
Trước đây theo BLHS năm 1985 chỉ cần chứng minh một người có hành
vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, không cần chứng minh giá trị tài sản là bao nhiêu (trừ trường hợp hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể theo quy định tại khoản 3 Điều
8 BLHS năm 1985) là có thể kết luận đã có dấu hiệu tội phạm (giá trị tài sản chỉ là yếu tố lượng hình, không phải là yếu tố định tội), thì đến BLHS năm
1999 và nay là BLHS năm 2015 yếu tố lượng hình đã trở thành một căn cứ để xác định có cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không Việc đưa yếu tố định lượng tài sản là một căn cứ để xác định có cấu thành tội phạm hay không góp phần hạn chế tối đa quyền tùy nghi của tòa án, tránh xét xử oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm Đây cũng là cơ sở pháp lý để áp dụng thống nhất pháp luật trong toàn quốc tạo cơ sở để người dân hiểu rõ hơn những quy định của pháp luật để qua đó tự điều chỉnh hành vi của mình tránh trường hợp phạm tội do không hiểu rõ các quy định của pháp luật
2.1.2 Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về chủ thể của luật hình sự bao gồm hai loại chủ thể là chủ thể của luật hình sự là cá nhân và chủ thể của luật hình
sự là pháp nhân thương mại
Theo khái niệm tội phạm thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoạc pháp nhân thương mại thực hiện một cách một cách có lỗi do cố ý hoặc vô ý Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì chủ thể là người có
đủ hai dấu hiệu là có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định
Trang 33chịu trách nhiệm hình sự, không thuộc tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 21 BLHS
Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy
Người có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam phải
là người đạt độ tuổi nhất định và không mất năng lực trách nhiệm hình sự
Trong đó Điều 12 BLHS quy định
“Điều 12 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình
sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170,
171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299,
303, 304 của Bộ luật này”
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản luôn được thực hiện với lỗi
cố ý, vì vậy căn cứ Điều 8, Điều 12 BLHS thì chủ thể của tội này ngoài dấu hiệu phải có năng lực trách nhiệm hình sự, xét về tuổi được xác định như sau: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi hành
vi phạm tội được quy định tại Điều 175 BLHS
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình
sự về các hành vi phạm tội quy định tại Điều 175 BLHS
Ngoài các chủ thể thường nêu trên, tại điểm d, Khoản 2 Điều 175 BLHS quy định tình tiết định khung tăng nặng đối với chủ thể có chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức Chủ thể có chức vụ, quyền hạn là chủ thể thông thường và có thêm dấu hiệu đặc biệt là người có chức vụ quyền hạn Theo Điều 352 BLHS, khái niệm tội phạm về chức vụ: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của Cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ Người có chức vụ nói trên là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng
Trang 34hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ” Người trở thành người có chức vụ quyền hạn
là người qua quyết định bổ nhiệm của lãnh đạo Cơ quan nhà nước, do bầu cử,
do hợp đồng hoặc do hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ Trong trường hợp này chủ thể phải có quyền hạn trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ Người phạm tội có thể được giao một nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài hoặc chỉ trong một thời gian nhất định Người phạm tội đã lợi dụng, lạm dụng quyền hạn gây thiệt hại về lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chủ thể đã sử dụng chức vụ, quyền hạn như một phương tiện để dễ dàng tiếp cận tài sản sở hữu của người bị hại để thực hiện hành vi phạm tội
2.1.3 Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Theo khoa học hình sự, mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài
của tội phạm, bao gồm những biểu hiện ra của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan, có thể nhận thức được bằng các giác quan trực tiếp hay bằng tư duy lôgic
Các Mác đã viết: “Nếu chỉ có sự biểu lộ đơn giản ý định làm cái này
hoặc cái khác thì không thể lấy đó làm cái để truy tố về mặt hình sự, cũng như về mặt chính sách cải tạo Luật hình sự của Xô viết và luật hình sự của các nước XHCN khác cũng không quy định trách nhiệm với ý đồ “thuần túy” đối với những suy nghĩ khác của con người, cho dù đó là ý định phạm tội” 5
Nội dung mặt khách quan bao gồm: hành vi khách quan của tội phạm, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cũng như những dấu hiệu khác như thời gian, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội Trong đó hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản và
“nếu lấy pháp luật mà không lấy hành vi lại lấy thái độ, tư tưởng làm tiêu
5 C.Mac-F.Engel toàn tập, tập 1, Nhà xuất bản quốc gia Beclin, 1967
Trang 35chuẩn thì không phải cái gì khác mà chính là sự thừa nhận trên thực tế sự vô pháp luật” 6
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng có đầy đủ đặc điểm mặt khách quan của tội phạm nói chung
Hành vi khách quan của tội phạm được hiểu là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể nhằm đạt được những mục đích có chủ định và mong muốn Những biểu hiện ra bên ngoài của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan Không thể nói tới hậu quả của tội phạm cũng như các yếu tố khác như: công cụ, phương tiện phạm tội… khi không có hành vi khách quan Hành vi khách quan là tác nhân gây ra sự biến đổi tình trạng của đối tượng bị tác động của tội phạm và do đó nó chính là nguyên nhân gây thiệt hại cho quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm Hành vi khách quan là cầu nối giữa khách thể và chủ thể tội phạm, không có chủ thể của tội phạm khi không có hành vi khách quan của tội phạm Hành vi khách quan của tội phạm có ba đặc điểm: có tính nguy hiểm cho xã hội, là hoạt động có ý thức và có ý chí của chủ thể, là hành vi trái pháp luật hình sự và về hình thức biểu hiện, hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động phạm tội Hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mang ba đặc điểm: hành vi gây thiệt hại về vật chất cho chủ sở hữu, nguy hiểm cho xã hội và hành vi đã được tính toán cân nhắc là hoặt động có ý thức
và có ý chí của chủ thể, được thực hiện dưới hình thức hành động phạm tội hành vi đã vi phạm vào Điều 175 BLHS (đó là hành vi trái pháp luật hình sự) Hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản rất đa dạng được quy định trong Điều 175 BLHS như sau:
“1 Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt
tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng
Trang 36đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”
Như vậy, đặc điểm hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thể hiện trước hết ở dấu hiệu: người phạm tội đã nhận được tài sản một cách hợp pháp Căn cứ của việc nhận tài sản là hợp đồng dân
sự, kinh tế như: hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản hoặc các hình thức hợp đồng khác
Giao dịch hợp pháp, ngay thẳng là giao dịch luôn có sự phù hợp giữa ý chí và bày tỏ ý chí Các bên tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân
sự Mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật và đạo đức xã hội, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện Hình thức giao dịch phù hợp với các quy định của pháp luật Thông qua các giao dịch đó phát sinh các quyền và nghĩa vụ
Giao dịch có thể được thực hiện dưới các hình thức sau:
* Vay tài sản: Theo Điều 463 BLDS năm 2015: “Hợp đồng vay tài sản
là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định” Vay tài sản được mô tả trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
cũng mang đặc điểm của hợp đồng vay tài sản nói trên Bên vay và bên cho vay hoàn toàn tự nguyện khi giao kết hợp đồng
* Thuê tài sản: Theo Điều 472 BLDS năm 2015: “Hợp đồng thuê tài sản
là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê
để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê” Đối tượng của
hợp đồng thuê tài sản phải là những vật đặc định
* Mượn tài sản: Theo Điều 494 BLDS năm 2015: “Hợp đồng mượn tài
sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải
Trang 37trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được”
Trong trường hợp này giữa chủ tài sản và người phạm tội thường có mối quan
hệ thân thiết như: bạn bè, họ hàng, tình cảm…, đối tượng chủ yếu là các phương tiện đi lại như: xe máy, xe đạp…
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể có được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng khác như: Hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng gia công, dịch vụ, hợp đồng vận chuyển…
Sau khi có được tài sản trong tay, người phạm tội mới có hành vi chiếm đoạt tài sản được giao Sự chiếm đoạt đó có thể là tiếp tục chiếm giữ không chịu trả tài sản cho chủ sở hữu (biến thành của riêng), hoặc tự ý sử dụng, định đoạt tài sản không đúng với nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng với ý định không muốn trả lại tài sản khi đã hết hợp đồng Cần phân biệt tôi lạm dụng tín nhiệm tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cơ sở để ký kết hợp đồng dân sự là lòng tin (sự tín nhiệm)
có thực của người chiếm đoạt Còn trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cơ sở tạo ra lòng tin để ký kết được hợp đồng là thủ đoạn gian dối để làm cho chủ
sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tin đó là sự thật và giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó
Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể biểu hiện qua các thủ đoạn như: gian dối, bỏ trốn, đến thời hạn trả
dù có đủ điều kiện trả nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu Thủ đoạn gian dối thường gặp trong thực tế như giả tạo bị mất hoặc đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản khiến sản phẩm được làm ra không có đầy đủ đặc tính về số lượng, chất lượng như yêu cầu của hợp đồng, xóa dấu tích việc
nợ, hủy bỏ các tài liệu chứng cứ chứng minh nghĩa vụ thanh toán như giấy vay nợ, các cam kết Phần lớn trong các trường hợp người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để che giấu hành vi chiếm đoạt
Thủ đoạn của hành vi chiếm đoạt thứ hai là hành vi bỏ trốn Đây là trường hợp người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi nhận được tài sản một cách hợp pháp đã bỏ trốn với ý thức cố tình không thanh
Trang 38toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (hay nói cách khác là ý thức chiếm đoạt tài sản) Bỏ trốn để trốn tránh việc trả nợ
là trường hợp người vay, mượn hoặc nhận tài sản từ các hình thức hợp đồng khác nhưng khi hết thời hạn thanh toán lại bỏ đi khỏi nơi cư trú, cố tình giấu địa chỉ không cho chủ nợ biết cho đến khi bị phát hiện và bắt giữ Khi đánh giá hành vi bỏ trốn của người phạm tội phải xem xét một cách khách quan, toàn diện, nếu người phạm tội bỏ trốn hoặc lánh mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản vì nguyên nhân khác thì không coi là bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản
Thủ đoạn thứ hai này thể hiện rõ tính có lỗi và nguy hiểm của hành vi phạm tội Hành vi bỏ trốn đã gây khó khăn cho việc xử lý tội phạm, vì vậy cần có hình phạt nghiêm khắc với thủ đoạn này
Thủ đoạn của hành vi chiếm đoạt thứ ba là hành vi đến thời hạn trả lại tài sản mạc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả Đây là thủ đoạn thể hiện mục đích chiếm đoạt tài sản Người phạm tội sau khi đã có được tài sản một cách hợp pháp đến một thời hạn nhất định đã thỏa thuận, có
đủ điều kiện để trả lại tài sản nhưng cố tình không trả Đây là một quy định mới tại Điều 175 BLHS nhằm khắc phục tình trạng hiện nay có nhưng trường hợp người đi vay, mượn, thuê mặc dù có đầy đủ khả năng trả lại tài sản nhưng
không thực hiện dẫn đến những người cho vay đã bị chiếm đoạt tài sản một
cách công khai mà không làm được gì vì không có căn cứ pháp lý để khởi tố hình sự, chỉ khởi kiện vụ án dân sự đòi nợ tại Tòa án Việc khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án thường kéo dài, mất rất nhiều thời gian, tiền bạc và chưa kể khi thắng kiện rồi thì việc thi hành án lại khó khăn vì con nợ có thể đã bán hoặc cố tình chuyển tài sản sang cho người khác để trốn tránh việc thi hành
án Lợi dụng việc pháp luật không quy định rõ ràng về việc xử lý hình sự mà nhiều người đã cố tình không trả nợ để chiếm đoạt tài sản của người khác khiến nhiều người, nhiều gia đình rơi vào cảnh lao đao, quyền lợi bị xâm hại nghiêm trọng
Thủ đoạn của hành vi chiếm đoạt thứ tư là người phạm tội đã sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến việc không trả lại tài sản được Sử
Trang 39dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp là những trường hợp dùng tài sản vào việc thực hiện tội phạm, có ý nghĩa là dấu hiệu cấu thành tội phạm như: dùng tiền vay để đánh bạc, buôn lậu, buôn ma túy… dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó
Về thủ đoạn này cần phân biệt việc dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp với việc sử dụng tài sản không đúng mục đích đã thỏa thuận khi gia kết hợp đồng Mục đích bất hợp pháp là trái với quy định của pháp luật còn trái mục đích khi giao kết hợp đồng là trái với thỏa thuận của các bên, có thể không trái pháp luật Trường hợp không dùng tài sản vào mục đích phạm tội
mà dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp khác thì phải xem xét, đánh giá từng trường hợp cụ thể, tránh những trường hợp định tội sai
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất, tức hậu quả thiệt hại về tài sản do hành vi phạm tội gây ra là dấu hiệu bắt buộc Hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi lạm dụng tín nhiệm gây ra không được phản ánh một cách trực tiếp mà được phản ánh thông qua đối tượng tác động của tội phạm, tài sản Ở đây, quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ đã bị tội phạm xâm hại chính là quan hệ sở hữu Hậu quả của hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là việc chiếm đoạt được tài sản của chủ sở hữu đã giao cho mình hoặc không còn khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu Theo quy đinh tại Điều 175 BLHS, chỉ xử lý hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 4.000.000đ hoặc dưới 4.000.000đ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc các tội cưới tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của bị hại và gia đình họ thì mới cầu thành tội này
Việc quy định trường hợp “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của
người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị
Trang 40hại” Đây cũng là quy định cần thiết, phù hợp, thể hiện rõ việc bảo vệ người
bị hại cũng như thể hiện hậu qua nguy hiểm cho xã hội của hành vi chiếm đoạt tài sản Nếu lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại thì đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không cần phải xem xét đến yếu tố định lượng tài sản trị giá bao nhiêu hay trước đó đã bị kết án về tội phạm nào hay chưa
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm được biểu
hiện ở việc hành vi chiếm đoạt phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian và hậu quả là kết quả trực tiếp của hành vi chiếm đoạt
Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản còn có các dấu hiệu khác như: Công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, điạ điểm
phạm tội
2.1.4 Mặt chủ quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Mặt chủ quan của tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi Người phạm tội nhận thức rõ hành vi lợi dụng lòng tin của người khác để chiếm đoạt tài sản là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện và mong muốn hậu quả xảy ra Mặt chủ quan của tội phạm là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạm, bao gồm: lỗi, động
cơ và mục đích phạm tội, trong đó lỗi là yếu tố được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm là dấu hiệu không thể thiếu được của bất cứ cấu thành tội phạm nào Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của chủ thể trong khi họ có đủ điều kiện để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội Mặt chủ quan của tội phạm nói chung và của tội lạm dụng tìn nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạm,
bao gồm: lỗi, động cơ và mục đích phạm tội
Lỗi của người có hành vi chiếm đoạt là lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội nhận thức rõ tài sản mình chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình nên đã có hành
vi chiếm đoạt