Để hoàn thiện pháp luật về AT, VSLĐ trong những năm tới, tác giả Đoàn Thùy Dung trong Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động qua thực tiễn thực hiện tại ngành Giao thô
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 3Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hồ Thị Thùy Linh
Trang 4AT, VSLĐ An toàn, vệ sinh lao động ATLĐ An toàn lao động
Người sử dụng lao động Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp TNLĐ Tai nạn lao động
VSLĐ Vệ sinh lao động WHO Tổ chức Y tế thế giới
Trang 51 Bảng 1.1 Tình hình TNLĐ giai đoạn 05 năm từ năm 2013 đến
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Hình 1.1 Tình hình TNLĐ giai đoạn 05 năm từ năm 2013 đến
2 Hình 2.1a Số lượng doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Thành
phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2016 41
4 Hình 2.2 Quy trình làm việc an toàn tại công trường xây dựng 48
5 Hình 2.3 Cơ cấu số vụ TNLĐ năm 2017 theo chủ thể 61
Trang 6LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG 10
1.1 Một số vấn đề lý luận về an toàn lao động và pháp luật an toàn lao động 10 1.1.1 Một số vấn đề lý luận về an toàn lao động 10
1.1.2 Một số vấn đề lý luận về pháp luật an toàn lao động 23
1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về an toàn lao động 30
1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc đảm bảo an toàn lao động 30
1.2.2 Phòng, chống các yếu tố nguy hiểm, có hại cho người lao động 32
1.2.3 Khắc phục hậu quả do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 35
1.2.4 Thanh tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực an toàn lao động 36
Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 39
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Thành phố Hà Nội 39
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội 39
2.1.2 Luật pháp và cơ chế chính sách về an toàn lao động 40
2.1.3 Quy mô, trình độ phát triển của các doanh nghiệp xây dựng 41
2.1.4 Đặc thù ngành xây dựng 42
2.2 Những kết quả đạt được từ thực tiễn thực hiện pháp luật hiện hành về an toàn lao động tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội 43 2.2.1 Về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc đảm bảo an toàn lao động 43 2.2.2 Về phòng, chống các yếu tố nguy hiểm, có hại cho người lao động 45
2.2.3 Về khắc phục hậu quả do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 52
2.2.4 Về thanh tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực an toàn lao động 52
2.3 Một số tồn tại từ thực tiễn thực hiện pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội và nguyên nhân 54
2.3.1 Tồn tại 54
2.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại 59
Trang 7THÀNH PHỐ HÀ NỘI 66 3.1 Hoàn thiện pháp luật về an toàn lao động 66
3.1.1 Một số yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về an toàn lao động 66 3.1.2 Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về an toàn lao động 69
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Thành phố Hà Nội 73 KẾT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát biểu tại Hội nghị cán bộ Công đoàn toàn quốc ngày 14/3/1959 tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “…Chúng ta phải chú trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội Chúng ta cần phải hết sức bảo
vệ, không để xảy ra tai nạn lao động”1 Thực hiện theo lời Bác dạy, ATLĐ luôn là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của NLĐ, tài sản của doanh nghiệp và của Nhà nước Đặc biệt, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, công tác ATLĐ càng được các cấp, các ngành, doanh nghiệp và NLĐ quan tâm, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Năm 2016, cả nước đã xảy ra 7.981 vụ TNLĐ2, năm 2017, con số này tăng thêm 12,2% lên tới 8.956 vụ Số vụ TNLĐ chết người cũng tăng lên, từ 799 vụ năm
2016 lên 898 vụ năm 2017 (tăng 12,4%), đồng nghĩa với đó, số người chết vì TNLĐ tăng 7,7% từ 862 người năm 2016 lên 928 người năm 20173 Đặc biệt, trong các lĩnh vực, ngành nghề xảy ra nhiều TNLĐ chết người hiện nay thì xây dựng là ngành nghề luôn đứng đầu trong nhóm, chiếm 20,8% tổng số vụ tai nạn và 19,7% tổng số người chết, tiếp đến là sản xuất vật liệu xây dựng với 9,2% tổng số vụ và 8,8% tổng
số người chết và thứ ba là cơ khí, luyện kim chiếm 6,9% tổng số vụ và 8,02% tổng
số người chết4 Nguyên nhân chính để xảy ra TNLĐ một mặt do NSDLĐ thiếu quan tâm đến việc cải thiện điều kiện làm việc an toàn, một mặt do ý thức tự giác chấp hành nội quy, quy chế làm việc đảm bảo ATLĐ của NLĐ chưa cao, đồng thời thiếu
sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của cơ quan thanh tra Nhà nước về ATLĐ Những con số trên cho thấy hậu quả nghiêm trọng không những về tính mạng, sức khỏe của NLĐ, mà còn gây thiệt hại về tài sản, của cải của doanh nghiệp và Nhà
nước, ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1 Vũ Đức Duy (2016), “Ngẫm về lời dạy của Bác - Bảo hộ lao động trong sản xuất than”,
xuat-than-201604071417109382.htm, ngày 07/4/2016, ngày truy cập 18/5/2018
http://www.vinacomin.vn/tap-chi-than-khoang-san/ngam-ve-loi-day-cua-bac-bao-ho-lao-dong-trong-san-2 Thông báo số 1152/TB-LĐTBXH ngày 28/3/2017 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về tình hình TNLĐ năm 2016
3 Thông báo số 908/TB-LĐTBXH ngày 08/3/2018 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về tình hình TNLĐ năm 2017
4 Thông báo số 908/TB-LĐTBXH ngày 08/3/2018 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về tình hình TNLĐ năm 2017
Trang 9Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam, là trung tâm lớn về văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, kinh tế và giao dịch quốc tế Với chủ trương mở rộng địa giới hành chính trong những năm gần đây, nhằm xóa bỏ khoảng cách, sự chênh lệch giữa các khu vực trong thành phố, cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước, Hà Nội đang ngày càng tập trung nhiều hơn các công trình xây dựng, đặc biệt là các khu đô thị vệ tinh, các tuyến đường vành đai và những cây cầu lớn,… Nguy cơ xảy ra TNLĐ, BNN ở các công trình xây dựng không hề nhỏ nếu công tác ATLĐ không được đặt lên hàng đầu
Mặc dù các quy định của pháp luật về ATLĐ đã tương đối đầy đủ với sự ra đời của Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 (được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2015) - một đạo luật riêng biệt về vấn đề AT, VSLĐ, là sự bổ sung kịp thời cho hệ thống pháp luật về ATLĐ trong bối cảnh hiện nay, tuy nhiên việc áp dụng trong thực tiễn vẫn chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong đợi Để xây dựng một
hệ thống pháp luật về ATLĐ phù hợp, có tính khả thi cao trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu pháp luật về ATLĐ dưới góc độ
lý luận và thực tiễn trên cơ sở khả năng tài chính và tiềm lực kinh tế của đất nước,
từ kinh nghiệm của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là dựa trên hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế là vô cùng cần thiết Với những lý do trên, tôi
đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về an toàn lao động và thực tiễn thi hành tại các
doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội” để làm luận văn, với
mong muốn đóng góp một phần công sức vào công tác nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ATLĐ ở nước ta hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
ATLĐ là một vấn đề thiết yếu, không chỉ gắn liền với tính mạng, sức khỏe con người mà còn gắn liền với tài sản, của cải trong xã hội Khi kinh tế ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày một nâng cao thì sức khỏe của con người càng được quan tâm Chính vì vậy, vấn đề ATLĐ nói chung và ATLĐ trong xây dựng nói riêng trong những năm gần đây đã thu hút được sự quan tâm của nhiều độc giả, nhiều nhà nghiên cứu Có thể kể đến một số nội dung tiêu biểu trong các công trình nghiên cứu của các tác giả như sau:
Thứ nhất, về các vấn đề lý luận của an toàn lao động
Trong Giáo trình Luật Lao động Việt Nam (2014) của Trường Đại học Luật
Hà Nội - Chương XIII về Bảo hộ lao động; Giáo trình Luật Lao động (2016) của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh do TS Đoàn Thị Phương Diệp chủ biên -
Trang 10Chương 8 đã trình bày những vấn đề chung về ATLĐ, VSLĐ bao gồm: Khái niệm, đặc điểm của ATLĐ, VSLĐ; Ý nghĩa của việc quy định về ATLĐ và VSLĐ; Các nguyên tắc của ATLĐ, VSLĐ; Quyền và nghĩa vụ về AT, VSLĐ của các chủ thể
Theo tác giả Diệp Thành Nguyên trong cuốn “Luật Lao động cơ bản” - cuốn
sách được biên soạn với mục đích phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy trong các trường Đại học, Viện nghiên cứu về lao động, tổ chức lao động, cơ sở lý luận về ATLĐ bao gồm khái niệm dưới góc độ thực tiễn và pháp lý, ba nguyên tắc mà doanh nghiệp phải tuân thủ trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và bốn ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn của quy định về ATLĐ Tác giả đã trình bày một cách ngắn gọn, súc tích nhưng đem đến cho độc giả những thông tin cơ bản, tiêu biểu nhất về ATLĐ
Không giống với tác giả Diệp Thành Nguyên, tại Luận án Tiến sĩ Luật học
“Pháp luật về an toàn lao động ở Việt Nam” (2013), tác giả Trần Trọng Đào đã
không đưa ra khái niệm tổng quát cho vấn đề ATLĐ mà đề cập tới các khía cạnh của ATLĐ như BHLĐ, ATLĐ, VSLĐ, điều kiện lao động và kỹ thuật an toàn với những biểu hiện tiêu biểu Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra mục đích, ý nghĩa, tính chất của việc bảo đảm ATLĐ và bốn lý do cần thiết phải đảm bảo ATLĐ, cụ thể: Lao động là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của xã hội; ATLĐ có liên quan mật thiết với sản xuất và trực tiếp phục vụ cho sản xuất; Bảo đảm ATLĐ là yêu cầu tất yếu trong sản xuất kinh doanh và ATLĐ là yếu tố phản ánh giá trị nhân văn là bảo
vệ quyền cơ bản của con người Có thể nói, cơ sở lý luận về ATLĐ của tác giả Trần Trọng Đào đã đem lại nhiều thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu về sau
Khác với hai tác giả trên, tác giả Nguyễn Văn Mỹ và Nguyễn Hoàng Vĩnh
trong “An toàn lao động trong công trình xây dựng” (2013) đã đưa ra những vấn đề
về ATLĐ dưới góc độ kỹ thuật, bao gồm các nội dung: khái niệm và những quan điểm trong công tác BHLĐ; hệ thống pháp luật về BHLĐ; quản lý nhà nước về BHLĐ; khai báo, kiểm tra, đánh giá tình hình TNLĐ Với những nội dung này, các tác giả đã cung cấp những thông tin chủ yếu cho các độc giả chuyên về tư vấn thiết
kế, giám sát và thầu xây dựng Dưới góc độ pháp lý, tài liệu là sự cụ thể hóa của pháp luật được sử dụng trong ngành xây dựng, có thể dùng tham khảo khi xem xét
cơ sở thực tiễn và đánh giá thực trạng pháp luật ATLĐ trong ngành xây dựng
Thứ hai, về thực trạng pháp luật an toàn lao động
Để đánh giá thực trạng pháp luật ATLĐ tại thời điểm nghiên cứu, trong Luận
án “Pháp luật về an toàn lao động ở Việt Nam”, tác giả Trần Trọng Đào đã đánh giá
Trang 11trên các quy định pháp luật về: quản lý nhà nước, việc xác lập tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn, quy phạm an toàn; các biện pháp đảm bảo ATLĐ và biện pháp phòng ngừa; TNLĐ; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong ATLĐ; hành vi vi phạm pháp luật về ATLĐ, các hình thức xử lý và giải quyết tranh chấp ATLĐ Nhìn chung, pháp luật về ATLĐ tại thời điểm nghiên cứu của tác giả đã điều chỉnh kịp thời các quan hệ về ATLĐ, nhờ vậy TNLĐ đã phần nào được hạn chế Tuy nhiên, các quy định này lại nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, có những quy định nằm trong luật, có quy định lại nằm trong văn bản hướng dẫn nên
có sự mâu thuẫn, xung đột, chồng chéo, gây khó khăn trong quá trình áp dụng
Trong Luận văn “Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt
Nam về an toàn vệ sinh lao động” (2013) của tác giả Bùi Thị Chuyên, chính sách về
ATLĐ, VSLĐ thông qua Bộ luật Lao động năm 2012 và một số luật chuyên ngành liên quan được đánh giá tương đối đầy đủ, phần nào đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Tuy nhiên, hệ thống pháp luật này chưa phải là hoàn hảo, vẫn còn những tồn tại, bất cập trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong các quy định cụ thể của pháp luật về AT, VSLĐ cần được khắc phục trong thời gian tới
Không nghiên cứu pháp luật ATLĐ nói chung, tác giả Đoàn Thùy Dung đã
nghiên cứu pháp luật về ATLĐ ở một ngành nghề cụ thể - ngành Giao thông vận tải
cho Luận văn Thạc sĩ năm 2015 của mình Tại đây, tác giả đã nêu lên những quy định pháp luật về ATLĐ, VSLĐ ở các nội dung: Những nguyên tắc pháp lý cơ bản của pháp luật; Quản lý Nhà nước đối với AT, VSLĐ; Trang bị phương tiện BHLĐ; Các biện pháp bảo vệ sức khỏe NLĐ; Các quy định về khắc phục hậu quả TNLĐ, BNN; Quy định pháp luật về AT, VSLĐ đối với một số loại lao động đặc thù Tổng quan có thể thấy, hệ thống pháp luật về AT, VSLĐ mà tác giả đưa ra là tương đối đầy đủ, tiêu biểu và cơ bản nhất của pháp luật AT, VSLĐ
Thứ ba, về thực tiễn thực hiện pháp luật an toàn lao động
Cũng trong Luận án “Pháp luật về an toàn lao động ở Việt Nam”, tác giả
Trần Trọng Đào đã đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về ATLĐ của hai nhóm đối tượng là cơ quan quản lý và đối tượng chịu sự quản lý, qua đó thấy được cơ chế quản lý và cơ chế thực hiện không đồng bộ, hiệu lực quản lý kém hiệu quả
Đối với tác giả Bùi Thị Chuyên, khi nghiên cứu tình hình thực hiện pháp luật
về AT, VSLĐ, tác giả đã đánh giá công tác AT, VSLĐ trên các khía cạnh: môi trường lao động; tình hình xảy ra TNLĐ, BNN; công tác thanh tra, kiểm tra; hệ
Trang 12thống tổ chức kiểm định kỹ thuật ATLĐ; hệ thống giám sát môi trường lao động và sức khỏe;… Qua phân tích, có thể thấy, thực tiễn thực hiện pháp luật AT, VSLĐ bên cạnh những kết quả có thể phát huy thì vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định cần khắc phục trong thời gian tới Đặc biệt, tác giả còn phân tích các nguyên nhân dẫn đến những bất cập đó, mà tập trung là công tác tổ chức thực hiện của cơ quan Nhà nước và tổ chức liên quan để từ đó đề ra giải pháp phù hợp, thiết thực
Trong Luận văn “Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động qua thực tiễn thực
hiện tại ngành Giao thông vận tải” của tác giả Đoàn Thùy Dung, tương ứng với các
quy định pháp luật đã phân tích, tác giả đã đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về
AT, VSLĐ tại ngành Giao thông vận tải một cách khách quan, đi sâu vào từng vấn
đề, từng khía cạnh đặc thù của ngành Tác giả cho rằng, các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp trong ngành Giao thông vận tải đã rất quan tâm, chăm lo đến đời sống của công nhân lao động và nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật về
AT, VSLĐ Tuy nhiên, tồn tại lớn nhất trong quá trình áp dụng pháp luật AT, VSLĐ của ngành đó là vẫn còn những sơ suất từ phía NSDLĐ và NLĐ trong công tác ATLĐ khiến cho tỷ lệ TNLĐ ở mức khá cao
Thứ tư, về giải pháp hoàn thiện pháp luật an toàn lao động
Qua phân tích thực trạng và tình hình thực hiện pháp luật về ATLĐ, dựa trên nền tảng lý luận về ATLĐ và nội dung quy định của pháp luật, tác giả Trần Trọng Đào đã đưa ra ba nhóm giải pháp lớn để hoàn thiện pháp luật về ATLĐ, theo đó, thực sự cần thiết phải xây dựng Luật chuyên ngành về ATLĐ; phải sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về ATLĐ khi chưa có Luật chuyên ngành để phù hợp với thực tế và giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật để đem lại hiệu quả cao hơn Ở mỗi nhóm giải pháp, tác giả đã phân tích khá chi tiết những tác động tích cực mà giải pháp đem lại, góp phần hoàn thiện pháp luật khi được triển khai thực hiện
Theo tác giả Bùi Thị Chuyên trong Luận văn “Pháp luật quốc tế, pháp luật
nước ngoài và pháp luật Việt Nam về an toàn vệ sinh lao động” (2013), giải pháp để
hoàn thiện pháp luật về AT, VSLĐ nói chung và ATLĐ nói riêng gồm hai nhóm giải pháp: một là, hoàn thiện chính sách, pháp luật và hai là, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện Sau khi đưa ra các giải pháp mang tính định hướng phù hợp với
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và điều kiện kinh tế - xã
hội của đất nước, tác giả đã đề ra bốn giải pháp cụ thể, tác động trực tiếp tới việc hoàn thiện pháp luật, đó là: Xây dựng các chế tài đủ mạnh để răn đe, phòng ngừa TNLĐ, BNN tại các cơ sở lao động; Đảm bảo ngân sách nhà nước cho hoạt động
Trang 13quản lý AT, VSLĐ; Xây dựng cơ chế quỹ bồi thường TNLĐ, BNN và cơ chế đầu tư cho các hoạt động phòng ngừa TNLĐ, BNN; Có chế độ thu hút cán bộ vào làm việc trong lĩnh vực AT, VSLĐ và quy định cụ thể về chương trình đào tạo chuyên ngành
AT, VSLĐ Có thể thấy, những giải pháp mang tính định hướng cũng như cụ thể mà tác giả đưa ra đều xuất phát từ việc học hỏi kinh nghiệm của pháp luật quốc tế và pháp luật các nước trên thế giới để áp dụng dựa trên tình hình thực tế của quốc gia
Để hoàn thiện pháp luật về AT, VSLĐ trong những năm tới, tác giả Đoàn
Thùy Dung trong Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động qua
thực tiễn thực hiện tại ngành Giao thông vận tải” (2013) đã đưa ra năm giải pháp
lớn, đó là: Ban hành Luật chuyên ngành về AT, VSLĐ; Sửa đổi, bổ sung thêm các quy định về AT, VSLĐ; Xây dựng cơ chế phối hợp cụ thể giữa các Bộ, ngành có liên quan; Đẩy mạnh các quy định về cải thiện điều kiện làm việc cho NLĐ và cuối cùng là, đẩy mạnh quy định về tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện AT, VSLĐ cho NLĐ, nâng cao nhận thức của NLĐ về tầm quan trọng của công tác AT, VSLĐ Các giải pháp này vừa là tiền đề để hoàn thiện pháp luật AT, VSLĐ nói chung, vừa là cơ
sở cho việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật AT, VSLĐ ở các ngành nghề, lĩnh vực khác
Một số bài đăng trên báo, tạp chí khác như: “Một số giải pháp để hoàn thiện
pháp luật về an toàn lao động tại Việt Nam” của tác giả Trần Trọng Đào trên Tạp
chí Nghề Luật (số 1/2013) phân tích thực trạng pháp luật và đưa ra một số kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về ATLĐ, hay “Công đoàn đẩy mạnh công tác
tuyên truyền, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động” của tác giả Nguyễn Hiền trên
Tạp chí Lao động và Xã hội (số 550/2017) nêu lên vị trí, vai trò của Công đoàn trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kiến thức về ATLĐ, trong việc tổ chức huấn luyện ATLĐ hiện nay;…
Những công trình trên đã tập trung nghiên cứu pháp luật về ATLĐ một cách tổng quan, khái quát với thực tiễn thi hành trong phạm vi cả nước Chỉ một số ít công trình đề cập tới pháp luật về ATLĐ ở phạm vi ngành và ở một số địa phương
cụ thể Có thể nói, cho đến hiện tại, chưa có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách toàn diện về tình hình thực hiện pháp luật ATLĐ trong các doanh
nghiệp xây dựng - nơi làm việc thường xuyên, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe,
tính mạng của NLĐ - nơi có nhiều nguy cơ xảy ra TNLĐ, BNN, nhất là trên một địa
bàn quy tụ nhiều công trình xây dựng như Thành phố Hà Nội Trên cơ sở những thành tựu của các công trình khoa học nêu trên, đây sẽ là nền tảng lý luận quan
Trang 14trọng, đi trước mở đường cho những nghiên cứu tiếp theo về vấn đề ATLĐ một cách chi tiết, tỉ mỉ hơn Vì vậy, việc tiếp tục hướng nghiên cứu xoay quanh pháp luật về ATLĐ với tư cách gần gũi hơn với quá trình lao động, sản xuất kinh doanh
là cần thiết, và đề tài “Pháp luật về an toàn lao động và thực tiễn thi hành tại các
doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Thành phố Hà Nội” là mới, có ý nghĩa thiết
thực cả về lý luận lẫn thực tiễn, làm cơ sở để soi chiếu lại, củng cố và hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành trên thực tế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận về ATLĐ, pháp luật ATLĐ và qua phân tích thực tiễn thi hành tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Thành phố Hà Nội, để đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về ATLĐ và nâng cao hiệu quả áp dụng, đáp ứng yêu cầu bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay
Để đạt được mục đích này, Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tập hợp và làm sáng rõ một số vấn đề lý luận về ATLĐ và pháp
luật về ATLĐ như khái niệm, đặc điểm của ATLĐ, sự cần thiết phải đảm bảo ATLĐ, các nguyên tắc đảm bảo ATLĐ và các quy định của pháp luật quốc gia hiện hành về ATLĐ
Thứ hai, bổ sung đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật hiện
hành về ATLĐ tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Thành phố Hà Nội; rút
ra nhận xét về những kết quả đạt được cũng như hạn chế còn tồn tại, nguyên nhân của các tồn tại này trong quá trình áp dụng
Thứ ba, góp phần đề ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về
ATLĐ, đồng thời đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tế trên cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật đã nghiên cứu
4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi chuyên ngành đào tạo Luật kinh tế, luận văn chỉ nghiên cứu vấn đề ATLĐ dưới góc độ pháp luật, trong phạm vi pháp luật lao động, cụ thể là các quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt
Nam hiện hành về ATLĐ, trong phạm vi Bộ luật lao động năm 2012 và Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 với những nội dung có tác động trực tiếp tới sức
Trang 15khỏe, tính mạng của NLĐ, cụ thể 04 vấn đề: Quyền và nghĩa của các chủ thể trong việc đảm bảo ATLĐ; Phòng, chống các yếu tố nguy hiểm, có hại cho NLĐ; Khắc phục hậu quả do TNLĐ, BNN và Thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực ATLĐ
Về thời gian: Luận văn phân tích thực trạng thi hành pháp luật về ATLĐ
trong thời gian từ khi Bộ luật lao động năm 2012 có hiệu lực đến nay (từ tháng 5/2013 đến tháng 5/2018)
Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về ATLĐ
tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Thành phố Hà Nội
5 Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mac
-Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác ATLĐ, bảo vệ sức khỏe NLĐ cũng như các vấn đề xã hội có liên quan; các lý thuyết kinh tế học hiện đại về phát triển các ngành, lĩnh vực để làm rõ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu để thực hiện Luận văn bao gồm:
Phương pháp phân tích: Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt các
chương của luận văn, nhằm tìm hiểu các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về ATLĐ, các yêu cầu của việc hoàn thiện quy định pháp luật cũng như kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trên thực tế
Phương pháp thống kê: Chương 1 và Chương 2 của luận văn sử dụng
phương pháp thống kê để cung cấp tình hình TNLĐ, BNN của nước ta trong những năm gần đây, nhấn mạnh sự cần thiết phải đảm bảo ATLĐ, đồng thời làm nổi bật kết quả đạt được cũng như hạn chế, tồn tại trong quá trình thực hiện pháp luật hiện hành về ATLĐ trong các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội
Phương pháp chứng minh: Phương pháp này được sử dụng ở hầu hết các
mục, các chương của luận văn nhằm đưa ra các dẫn chứng, số liệu minh họa làm rõ các luận điểm trong từng nội dung của luận văn
Phương pháp tổng hợp: Sau quá trình thống kê, chứng minh, phân tích, đánh
giá, người viết sử dụng phương pháp tổng hợp chủ yếu trong việc rút ra những nhận định, đánh giá, đặc biệt được sử dụng nhiều để kết luận các chương và kết luận chung của luận văn
Trang 16Phương pháp dự báo khoa học: Phương pháp này được sử dụng trong suốt
quá trình nghiên cứu đề tài nhằm đoán trước những ý kiến, đề xuất có nhiều khả năng được đặt ra trên cơ sở những số liệu tổng kết
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, học viên còn sử dụng phương pháp lịch
sử, khái quát hóa,…để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Luận văn đã đề cập tương đối hệ thống và giải quyết khá toàn diện một số nội dung cơ bản và tiêu biểu của ATLĐ và pháp luật về ATLĐ, cụ thể phân tích, làm sáng rõ hơn những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm của ATLĐ, sự cần thiết phải đảm bảo ATLĐ, nguyên tắc đảm bảo ATLĐ cũng như nội dung cơ bản của pháp luật về ATLĐ Từ đó, tạo lập khung cơ sở làm căn cứ cho việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về ATLĐ Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng trong hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo tại các cơ
sở đào tạo luật trong nước
Đặc biệt, luận văn đã tập trung phân tích và đưa ra những đánh giá một cách khách quan về thực trạng thực hiện pháp luật hiện hành, chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân trong quá trình thực thi pháp luật nói chung và tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng nhằm đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về ATLĐ trong thời gian tới Chỉ khi tất cả các chủ thể trong xã hội cùng có ý thức, cùng hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của ATLĐ thì mới cùng nhau tự giác thực hiện pháp luật đem lại hiệu quả cao nhất
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài các phần: Mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, mở đầu thì nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về an toàn lao động và quy định pháp luật hiện hành về an toàn lao động
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Trang 17Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG
1.1 Một số vấn đề lý luận về an toàn lao động và pháp luật an toàn lao động
1.1.1 Một số vấn đề lý luận về an toàn lao động
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của an toàn lao động
Trong quá trình làm việc, con người luôn phải chịu tác động của điều kiện lao động tiềm ẩn những rủi ro có thể gây ra TNLĐ, thậm chí là tử vong ATLĐ và VSLĐ là hai phạm trù không thể tách rời trong quá trình lao động tạo ra sản phẩm, đảm bảo an toàn tính mạng và sức khỏe nghề nghiệp cho NLĐ Để bảo vệ con người một cách tốt nhất, từng phạm trù phải được thực hiện một cách hiệu quả, và trước hết, ATLĐ phải được đảm bảo để phòng tránh TNLĐ, BNN Trên phương diện quốc tế, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã xây dựng nhiều Công ước, Khuyến nghị liên quan đến ATLĐ như Công ước số 155 về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp năm 1981, Nghị định thư năm 2002, Công ước số 167 về an toàn và vệ sinh lao động trong ngành xây dựng năm 1988, Công ước số 148 về môi trường làm việc năm 1977,… Trong các văn bản này, ILO không đưa ra khái niệm cụ thể nào
về ATLĐ mà thông qua các nội dung khác để có cách hiểu toàn diện về hoạt động ATLĐ Theo định nghĩa “sức khỏe” tại Công ước số 155 về ATLĐ, VSLĐ và môi
trường lao động, “sức khỏe, liên quan đến công việc, không chỉ là tình trạng không
sức khỏe và có liên quan trực tiếp đến an toàn và vệ sinh lao động” Hay tại định
nghĩa chung về sức khỏe nghề nghiệp giữa ILO và WHO được thông qua bởi Ủy ban về sức khỏe nghề nghiệp tại phiên họp đầu tiên vào năm 1950, được sửa đổi tại
kỳ họp thứ mười hai trong năm 1995, sức khỏe nghề nghiệp phải đạt được ba mục tiêu khác nhau: (i) duy trì và nâng cao sức khỏe NLĐ và khả năng lao động; (ii) cải thiện môi trường làm việc để việc làm trở thành an toàn và có lợi cho sức khỏe và (iii) phát triển văn hóa làm việc theo hướng đảm bảo sức khỏe và an toàn tại nơi làm việc, khi đạt được các yếu tố trên sẽ thúc đẩy một môi trường xã hội tích cực, hoạt động trơn tru và có thể nâng cao năng suất lao động5 Từ các nội dung trên có thể thấy, để có sức khỏe nghề nghiệp, hoạt động ATLĐ sẽ phải tuân thủ các yêu cầu về
5 Bùi Thị Chuyên (2013), Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về an toàn
vệ sinh lao động, Luận văn Thạc sĩ, ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 26
Trang 18ATLĐ theo đúng quy định của pháp luật và việc tuân thủ này là trách nhiệm và nghĩa vụ của NSDLĐ, đồng thời, NLĐ cần được chỉ đạo và cam kết thực hiện các hoạt động ATLĐ cũng như được tạo điều kiện để thiết lập hệ thống ATLĐ tại cơ sở
Không chỉ các tổ chức quốc tế mà các quốc gia trên thế giới đều mong muốn xây dựng một xã hội phát triển bền vững thông qua việc tạo dựng môi trường làm việc an toàn và lành mạnh, cân bằng giữa bảo vệ sức khỏe và cơ hội việc làm, cải thiện đời sống và sức khỏe cho NLĐ Có thể kể đến một số quốc gia tiêu biểu, đi đầu trong việc nghiên cứu chính sách về ATLĐ nhằm đảm bảo sức khỏe và tính mạng của NLĐ, như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Cụ thể:
Tại Mỹ, Luật An toàn và sức khỏe nghề nghiệp năm 1970 (Chapter 15 - Occupational safety and Health) không đưa ra khái niệm về ATLĐ mà định nghĩa
về “tiêu chuẩn về ATLĐ và sức khỏe nghề nghiệp”, theo đó, các tiêu chuẩn này yêu cầu phải có điều kiện, được thừa nhận, sử dụng một hoặc nhiều phương tiện, phương pháp, quy trình hợp lý, cần thiết, thích hợp để cung cấp một công việc và môi trường làm việc an toàn và lành mạnh
Nhật Bản có hai đạo luật tiêu biểu cho chính sách chăm sóc, bảo vệ an toàn, sức khỏe của NLĐ là Luật An toàn và sức khỏe công nghiệp và Luật Tiêu chuẩn lao động Tuy không có định nghĩa thế nào là ATLĐ nhưng Luật đã đề ra những trường hợp NLĐ bị thương, bệnh tật hoặc thiệt mạng vì các công trình, thiết bị, nguyên vật liệu, khí, hơi,… trong lao động hoặc do công việc yêu cầu sự có mặt của NLĐ; hệ thống các tiêu chuẩn phòng ngừa yếu tố nguy hiểm tại nơi làm việc; trách nhiệm của các thành viên trong quan hệ lao động Mục đích của những đạo luật này nhằm đảm bảo an toàn và sức khỏe của NLĐ ở nơi làm việc, cũng như để tạo ra môi trường làm việc thoải mái bằng cách thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa TNLĐ một cách toàn diện và hệ thống
Tương tự như vậy, ở Hàn Quốc, các nhà xây dựng pháp luật không đưa ra một định nghĩa cụ thể về ATLĐ mà trực tiếp đưa ra những quy định về TNLĐ, BNN với mục đích duy trì và thúc đẩy môi trường làm việc an toàn cho NLĐ thông qua việc phòng ngừa TNLĐ, BNN bằng cách xây dựng và đảm bảo thực hiện những tiêu chuẩn về an toàn và sức khỏe lao động
Tại Việt Nam, để bảo vệ an toàn tính mạng và sức khỏe của NLĐ, đồng thời thực hiện thông lệ quốc tế, Nhà nước đã xây dựng hệ thống các quy định về ATLĐ, tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn, ATLĐ lại được ghi nhận ở một mức độ khác nhau Trước đây, ATLĐ được quy định là một bộ phận nhỏ trong chế định BHLĐ, theo
Trang 19đó, “BHLĐ bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, xác
định các điều kiện lao động an toàn và vệ sinh có tính chất bắt buộc, các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc khắc phục những yếu tố nguy hiểm, độc hại trong môi
Theo nghĩa rộng, BHLĐ là tổng hợp các quy định về việc bảo vệ NLĐ khi tham gia quá trình lao động, nhằm đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích của NLĐ Theo nghĩa hẹp, BHLĐ được hiểu là những quy định của Nhà nước liên quan đến việc đảm bảo ATLĐ, VSLĐ và các chế độ lao động khác nhằm bảo vệ nhân cách của NLĐ Để tránh những cách hiểu không thống nhất về thuật ngữ “BHLĐ”, kế thừa Bộ luật lao động năm 1994, Bộ luật lao động năm 2012 đã thay đổi tên gọi của các chế độ BHLĐ thành pháp luật về ATLĐ, VSLĐ7 Cho đến nay, khi Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 ra đời, dù ban hành muộn hơn các nước phát triển trên thế giới nhưng đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của luật chuyên ngành trong việc bảo đảm an toàn, sức khỏe cho NLĐ Theo đó, Luật đã định nghĩa một cách chi tiết những thương tổn
mà điều kiện lao động tác động xấu tới NLĐ Cụ thể, “Tai nạn lao động là tai nạn
gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm
vụ lao động” và “Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại
một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là công tác ATLĐ phải được nâng cao
và thực hiện có chất lượng “An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động
của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với
Đây là một chế định pháp luật tập hợp các quy phạm pháp luật quy định các biện pháp phòng, tránh những sự cố có khả năng gây nguy hại cho con người trong quá trình lao động cũng như biện pháp khắc phục hậu quả TNLĐ, BNN và cải thiện điều kiện lao động cho NLĐ
Dưới góc độ kỹ thuật, “ATLĐ là tình trạng điều kiện lao động không gây ra
8 Khoản 8, khoản 9 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015
9 Khoản 2 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015
Trang 20sự nguy hiểm trong sản xuất”10 Dưới góc độ ngôn ngữ, ATLĐ là sự kết hợp giữa
hai khái niệm “an toàn” và “lao động”, trong đó “an toàn” là “yên ổn trọn vẹn” và
“lao động” là “hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản
phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội”11, vì vậy, ATLĐ có thể được hiểu là điều kiện làm việc mà trong quá trình hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra những sản phẩm vật chất, tinh thần được diễn ra một cách yên ổn trọn vẹn, tránh được những tai nạn có thể xảy ra
Trong phạm vi của luận văn này, “ATLĐ là tổng thể các biện pháp đảm bảo
cho NLĐ được làm việc trong một điều kiện an toàn, không phải đối mặt với bất kỳ mối nguy hại nào về tính mạng, sức khỏe, đồng thời duy trì tốt khả năng làm việc lâu dài của NLĐ”
Như đã phân tích, ATLĐ ra đời và phát triển cùng quá trình phát triển sản
xuất, vì yêu cầu tất yếu khách quan phải bảo vệ tính mạng, sức khỏe NLĐ - yếu tố
chủ yếu và năng động nhất của lực lượng sản xuất xã hội Dễ dàng nhận thấy ba đặc điểm cơ bản mang tính chất đặc thù của ATLĐ như sau:
rất lớn vào trình độ kỹ thuật của mỗi xã hội, trình độ càng tiến bộ thì điều kiện lao động càng được cải thiện Bản chất của tiến bộ khoa học kỹ thuật chính là việc sử dụng máy móc để giảm bớt sức lao động, hạn chế những tác động có hại tới sức khỏe của NLĐ, tiến tới loại bỏ hoàn toàn các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong môi trường lao động
Bên cạnh đó, mọi hoạt động phòng chống TNLĐ, BNN đều xuất phát từ những cơ sở khoa học và được thực hiện bằng các giải pháp kỹ thuật, hay khi xảy ra TNLĐ, BNN, các hoạt động điều tra, phân tích, đánh giá TNLĐ,… đều phải sử dụng các công cụ, phương tiện kỹ thuật và do cán bộ kỹ thuật thực hiện Ngoài ra, đảm bảo ATLĐ không chỉ được thực hiện bằng việc trang bị các phương tiện bảo
hộ cá nhân, bồi dưỡng bằng hiện vật, thực hiện chế độ chăm sóc sức khỏe,… mà còn phải tuân thủ nghiêm chỉnh các tiêu chuẩn kỹ thuật trong quá trình lao động như tiêu chuẩn về máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, ánh sáng, tiếng
10
TCVN 3153:1979, Hệ thống tiêu chuẩn ATLĐ - Các khái niệm cơ bản - Thuật ngữ và định nghĩa
11 Vĩnh Lộc, Bảo Đoan, Ngọc Hạnh, Quỳnh Tâm (2000), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Thanh niên, Hà
Nội, tr.6, tr368
12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 425
Trang 21ồn, biện pháp xử lý sự cố,… Đây đều là những tiêu chuẩn do Nhà nước ban hành trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá của ngành khoa học ATLĐ và của nhiều ngành khoa học khác đối với từng ngành nghề, lĩnh vực cụ thể, được thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật có tính chất bắt buộc chung
Muốn thực hiện tốt công tác ATLĐ để không xảy ra TNLĐ, Nhà nước phải đẩy mạnh công tác tổ chức nghiên cứu khoa học kỹ thuật về ATLĐ gắn liền với việc cải tiến trang bị kỹ thuật, công nghệ sản xuất, đồng thời, chính mỗi cơ sở sản xuất phải huy động đông đảo cán bộ và NLĐ tham gia vào quá trình cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao chất lượng ATLĐ
cụ hữu hiệu nhất để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình và ATLĐ là một trong những vấn đề xã hội quan trọng chịu sự điều chỉnh của pháp luật Muốn các giải pháp khoa học kỹ thuật về phòng, chống TNLĐ, BNN được thực hiện một cách đồng bộ và nghiêm minh thì các nội dung này phải được thể chế hóa thành các quy định pháp luật có tính chất “bắt buộc cứng” Cụ thể, hầu hết các quy định về ATLĐ như quy định về kỹ thuật (quy trình, tiêu chuẩn); quy định về tổ chức thực hiện, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, các chính sách, chế độ,… đều nằm trong những văn bản pháp luật có tính chất bắt buộc cao do có liên quan trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, toàn vẹn thân thể của con người trong quá trình sản xuất, trừ một số quy định có thể thỏa thuận nhưng không thấp hơn mức tối thiểu do pháp luật quy định (bồi thường bằng hiện vật, phụ cấp nặng nhọc, độc hại,…)
Các yêu cầu và biện pháp kỹ thuật đã quy định đòi hỏi phải được thi hành nghiêm chỉnh, bằng các biện pháp thuyết phục, vận động, đi đôi với cưỡng chế làm cho NSDLĐ, NLĐ hiểu rõ pháp luật về ATLĐ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa buộc mọi người phải tuân theo Mọi vi phạm về tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn trong quá trình sản xuất đều bị coi là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định tương ứng như phạt tiền, buộc tháo dỡ hoặc dừng hoạt động cho đến khi khắc phục hoặc đảm bảo những điều kiện lao động theo luật định Hoạt động thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được tiến hành thường xuyên là nhân tố góp phần đảm bảo việc thực thi các quy định về ATLĐ
13 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 42
Trang 22Thứ ba, ATLĐ mang tính quần chúng 14 Tính quần chúng được thể hiện ở việc không chỉ NLĐ mà cả NSDLĐ và các tổ chức, cá nhân có liên quan khác đều
có trách nhiệm thực hiện ATLĐ Chỉ có quần chúng tự giác thực hiện thì mới ngăn chặn được TNLĐ Trước hết, NLĐ vừa là người trực tiếp tiếp xúc với máy móc,
thiết bị trong quá trình lao động - đối tượng cần được pháp luật bảo vệ về ATLĐ,
vừa là chủ thể có khả năng phát hiện các yếu tố nguy hiểm, độc hại, đề xuất hoặc tham gia vào việc tự bảo vệ mình và bảo vệ những người xung quanh trong quá trình làm việc NSDLĐ tuy không trực tiếp sử dụng máy móc, thiết bị, vật tư nhưng lại là chủ thể đầu tư, tổ chức thực hiện các biện pháp ATLĐ tại cơ sở Mặt khác, trong quá trình thực hiện các hoạt động ATLĐ, NLĐ, NSDLĐ, tổ chức, cá nhân liên quan có thể tự giám sát, hoặc cử đại diện giám sát, kiểm tra, đấu tranh chống những hành vi làm bừa, làm ẩu, thường xuyên nhắc nhở, phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm về ATLĐ
Công tác ATLĐ khó có thể đạt hiệu quả khi được thực hiện bởi một vài cá nhân đơn lẻ, đồng thời, dù hệ thống pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn có đầy đủ và hoàn chỉnh đến đâu nhưng nếu các thành phần trong hệ thống sản xuất chưa thấy rõ lợi ích thiết thực, chưa tự giác chấp hành thì ATLĐ cũng không thể đạt được kết quả như mong muốn Công tác này chỉ có kết quả khi thu hút được sự tham gia đông đảo của mọi ngành, mọi tổ chức xã hội, cả NSDLĐ và NLĐ tự giác, tích cực tham gia thực hiện các chế độ, chính sách, quy định pháp luật nhằm cải thiện điều kiện lao động, ngăn ngừa TNLĐ, BNN
Ba đặc điểm nêu trên của ATLĐ không tồn tại một cách độc lập mà luôn có
sự qua lại, tác động lẫn nhau Một môi trường lao động an toàn nhất thiết phải đảm bảo được những đặc điểm này để làm tiền đề cho việc thực hiện thành công chế độ
bảo vệ NLĐ - lực lượng nòng cốt và tinh nhuệ của sự phát triển bền vững
1.1.1.2 Sự cần phải bảo thiết đảm an toàn lao động
ATLĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mọi mặt của đời sống lao động sản xuất nói riêng và đời sống xã hội nói chung, đặc biệt đối với việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe NLĐ, bảo vệ sức lao động xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nhiều lần căn dặn: “Phải đảm bảo ATLĐ, vì người lao động là vốn quý nhất”,
“Thi đua làm nhiều, nhanh, tốt, rẻ, phải đi đôi với bảo đảm ATLĐ, phải biết quý
14 Phạm Đăng Khoa (2015), Giáo trình An toàn và vệ sinh lao động trong xây dựng, Nxb Giáo dục
Việt Nam, Hà Nội, tr 22
Trang 23trọng con người”, bởi khi con người tiến hành lao động cũng là khi họ bắt đầu phải chịu ảnh hưởng của các tác động xấu từ những yếu tố không thuận lợi, có hại trong môi trường lao động Vì vậy, dù công việc nào cũng thật sự cần thiết phải bảo đảm ATLĐ cho NLĐ, bởi lẽ:
Thứ nhất, TNLĐ, BNN luôn là hiểm họa, đe dọa tới sự an toàn sức khỏe của NLĐ và sự phát triển bền vững Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phương tiện
lao động và môi trường lao động là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả và năng suất lao động Ngày nay, sự phát triển của nền văn minh nhân loại cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã cho ra đời hàng loạt máy móc, trang thiết bị lao động công nghệ hiện đại, một mặt làm tăng năng suất lao động xã hội, giảm nhẹ lao động thể lực cho con người, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển của xã hội, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng mặt khác lại làm xuất hiện thêm nhiều yếu tố nguy hiểm, có hại, làm phát sinh liên tục những rủi ro có thể dễ dàng gây TNLĐ cho NLĐ Việc không đảm bảo điều kiện ATLĐ sẽ có thể trở thành nguyên nhân dẫn đến TNLĐ Theo ước tính mới nhất của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), mỗi năm có 2,78 triệu NLĐ thiệt mạng do TNLĐ và bệnh liên quan tới công việc Trong đó, 2,4 triệu (chiếm 86,3%) người tử vong do các bệnh liên quan đến công việc và 380.000 (chiếm 13,7%) người thiệt mạng do TNLĐ Hàng năm, số ca TNLĐ không gây tử vong cao hơn 1.000 lần so với số ca tử vong, khoảng 374 triệu NLĐ bị TNLĐ (không gây tử vong), nhiều trong số đó để lại hậu quả nghiêm trọng, khiến NLĐ mất khả năng làm việc trong dài hạn15 Ở Việt Nam, theo con số thống kê tình hình TNLĐ năm 2017
của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong năm 2017, trên cả nước đã xảy ra
8.956 vụ TNLĐ làm 9.173 người bị thương (bao gồm cả khu vực có quan hệ lao động và khu vực không có quan hệ lao động), trong đó, số người chết là 928 người,
số người bị thương nặng là 1.915 người16 So sánh với các năm trước, chúng ta có thể thấy được sự biến động của tình hình TNLĐ như sau:
Bảng 1.1: Tình hình TNLĐ giai đoạn 05 năm từ năm 2013 đến năm 2017
15
ILO (2018), Cải thiện An toàn và Sức khỏe cho lao động trẻ, tr.7
16 Thông báo số 908/TB-LĐTBXH ngày 08/3/2018 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về tình hình TNLĐ năm 2017
Trang 24TT Tiêu chí Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Hình 1.1: Tình hình TNLĐ giai đoạn 05 năm từ năm 2013 đến năm 2017
Qua số liệu trên có thể thấy, tỉ lệ TNLĐ dẫn đến số lượng NLĐ chết và bị thương nặng có xu hướng năm sau cao hơn năm trước So với năm 2013, số vụ TNLĐ năm 2017 tăng 2.261 vụ, tương đương 33,78%; số người bị TNLĐ tăng 2.286 người, tương đương 33,19%; số người chết tăng 301 người, tương đương 48%; số người bị thương nặng tăng 409 người, tương đương 27,16% Những con số thật đáng buồn, hậu quả do TNLĐ để lại vô cùng lớn, không chỉ gây thiệt hại về tài
sản mà còn gây thiệt hại về con người - một tài sản vô giá không thể nào bù đắp
Thứ hai, lao động là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Lao động
là nhu cầu thiết yếu của con người, nhờ có lao động con người mới tạo ra của cải
vật chất làm cho xã hội tồn tại và phát triển Và trong quá trình lao động ấy, NLĐ -
lực lượng chính đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, đang hàng ngày
phải đối mặt với nguy cơ TNLĐ, suy giảm sức khỏe Đảm bảo ATLĐ chính là đảm bảo sức khỏe, tính mạng cho chính con người khi tham gia vào quá trình lao động Con người tạo dựng nên xã hội, là chủ thể lao động, đồng thời lại là động lực và
Trang 25mục tiêu của sự phát triển, do đó, đảm bảo an toàn cho NLĐ là điều tất yếu cần phải thực hiện
Thứ ba, ATLĐ có liên quan mật thiết với sản xuất, trực tiếp phục vụ cho sản xuất và là chìa khóa để cải thiện điều kiện lao động, phòng ngừa các nguy cơ dẫn đến TNLĐ Dù quá trình lao động sử dụng phương tiện lao động nào thì sức lao
động của con người vẫn là yếu tố quyết định nhất Đặc biệt, quá trình toàn cầu hóa
đã dẫn tới việc phổ biến rộng rãi công nghệ mới, sự phát triển với tốc độ nhanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ… làm xuất hiện những mối nguy hiểm, rủi ro mới Thực hiện công tác ATLĐ không dừng lại ở quy mô một cá nhân, một bộ phận hay một tổ chức mà trở thành vấn đề mang tính quốc gia và toàn cầu, nhằm hạn chế TNLĐ, BNN, bảo vệ tính mạng, sức lao động của NLĐ, với mục đích duy trì lợi ích của người sản xuất và kích thích quá trình sản xuất, nâng cao hiệu suất lao động; đồng thời, tạo điều kiện cần thiết để tái tạo sức lao động, phục vụ lâu dài cho sản xuất Nếu chỉ nhằm lợi ích trước mắt, việc thực hiện ATLĐ có thể làm tăng chi phí đầu tư, nâng giá thành sản phẩm, giảm một phần lợi nhuận, tuy nhiên, nếu không có biện pháp phòng ngừa, các yếu tố nguy hiểm, có hại có thể tác động vào con người gây chấn thương, làm giảm sút khả năng lao động, thậm chí là tử vong, kéo theo các thiệt hại do tai nạn, ốm đau; điều trị, chữa bệnh,… Đây là những tổn thất mà không một ai, kể cả NLĐ và NSDLĐ mong muốn xảy ra Vì vậy, về lâu dài, thực hiện ATLĐ sẽ làm hạn chế khả năng xảy ra TNLĐ, BNN trong quá trình lao động sản xuất, NLĐ sẽ gắn bó hơn với doanh nghiệp, yên tâm làm việc, hơn hết, NLĐ sẽ dễ dàng có được trạng thái tinh thần cũng như sức khỏe tốt nhất để làm việc, tạo được không khí phấn khởi, quan hệ vui vẻ giữa mọi người trong doanh nghiệp, từ đó năng suất, chất lượng lao động cũng tăng lên, góp một phần lớn cho việc hoàn thành
kế hoạch sản xuất hiệu quả, tạo ra được lợi nhuận tối đa Có thể nói, một doanh nghiệp muốn tồn tại, đứng vững trong nền kinh tế thị trường thì không thể chỉ chạy theo lợi nhuận mà phải tính đến lợi ích lâu dài và sự phát triển bền vững Điều này chỉ có thể đạt được nếu thực hiện tốt công tác ATLĐ, để ATLĐ không tách rời khỏi sản xuất, phải gắn liền với sản xuất và trực tiếp phục vụ cho sản xuất
Thứ tư, trong nền kinh tế hội nhập, ATLĐ là một trong những nội dung quan trọng của xúc tiến thương mại Mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế là xu
hướng tất yếu, khách quan của nền kinh tế thế giới Bắt kịp với sự vận động của toàn cầu, mỗi quốc gia, không riêng Việt Nam, tham gia vào nhiều tổ chức mới với nhiều luật chơi mới, nên công tác quản lý sản xuất nói chung và quản lý ATLĐ nói
Trang 26riêng cũng phải có những thay đổi đuổi kịp với tình hình mới Trong quan hệ thương mại, hàng rào phi thuế quan thường được dựng lên với danh nghĩa tiêu chuẩn lao động quốc tế, gắn các tiêu chuẩn về lao động, doanh nghiệp, quản lý sản xuất, chất lượng sản phẩm với công tác AT, VSLĐ và ô nhiễm môi trường17 Việc thực hiện tốt các tiêu chuẩn về ATLĐ đã trở thành điều kiện tồn tại của các doanh nghiệp Không những thế, công tác ATLĐ còn là điều kiện để hàng hóa được nhập khẩu vào thị trường đối tác Do vậy, việc đảm bảo ATLĐ trong quá trình sản xuất là
vi phạm, trừ trường hợp bất khả kháng do thiên tai, địch họa Trường hợp NLĐ không có lỗi để xảy ra tai nạn thì có thể khẳng định điều kiện lao động không đảm bảo an toàn, Nhà nước chưa thực sự làm tròn trách nhiệm của mình; trường hợp NLĐ có lỗi, nguyên nhân có thể do việc tuyên truyền phổ biến pháp luật chưa được thực hiện tốt, pháp luật về ATLĐ chưa thực sự đi vào cuộc sống Có thể nói, đảm
bảo ATLĐ cho NLĐ là một chính sách kinh tế - xã hội quan trọng của quốc gia, là
bộ phận không thể tách rời trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây
dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Ở một khía cạnh khác, ATLĐ là một trong những yếu tố khẳng định tên tuổi của doanh nghiệp Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thuật ngữ “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” (Corporate social responsibility - CSR) đã không còn xa lạ Việc doanh nghiệp thực hiện các chính sách xã hội không còn là nghĩa vụ mà là tiêu chí để doanh nghiệp cạnh tranh và tồn tại trên thương trường quốc tế bên cạnh những tiêu chuẩn truyền thống trước đây như chất lượng
17 Vũ Văn Như (2009), “Cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình quốc gia về an toàn vệ sinh
lao động”, Lao động và Xã hội, (354), tr.10
Trang 27sản phẩm, vốn, công nghệ Nếu một doanh nghiệp có số lượng NLĐ bị TNLĐ lớn thì hình ảnh, uy tín của bản thân doanh nghiệp cũng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể và việc mất những khách hàng tiềm năng là điều dễ có thể xảy ra Do vậy, việc thực hiện ATLĐ không những thể hiện tinh thần xã hội của doanh nghiệp mà còn tạo bước đà để doanh nghiệp vươn xa hơn trong thị trường ngày một khốc liệt
1.1.1.3 Nguyên tắc của việc bảo đảm an toàn lao động
ATLĐ luôn là một trong những chính sách kinh tế - xã hội lớn của Đảng và
Nhà nước ta, là một phần quan trọng, bộ phận không thể tách rời của chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành
không ít chính sách, chế độ, văn bản pháp luật về ATLĐ và xuyên suốt trong đó là những nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo mà mọi thành phần trong xã hội đều phải tuân thủ để đảm bảo ATLĐ cho NLĐ Cụ thể:
người chỉ có duy nhất một sinh mạng và một cơ thể khỏe mạnh, và ATLĐ là một trong những biện pháp hữu hiệu có thể bảo vệ sức khỏe, tính mạng của NLĐ Xuất phát từ tầm quan trọng này mà Nhà nước đã quy định nghiêm ngặt chế độ ATLĐ từ khâu xây dựng, ban hành văn bản pháp luật cho đến tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm Nhà nước giao cho cơ quan có thẩm quyền, đội ngũ chuyên gia nghiên cứu, ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm, chương trình quốc gia về ATLĐ Ngoài ra, chế định về ATLĐ có tính chất bắt buộc cao mà các chủ thể hầu như ít được thỏa thuận như các chế định khác của pháp luật lao động, đồng thời, các bên trong quan hệ lao động phải tuân thủ các điều cấm theo luật định như không được trả tiền thay cho việc bồi dưỡng bằng hiện vật, che giấu, khai báo hoặc báo cáo sai sự thật về TNLĐ, BNN Các cơ sở, đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm hiện thực hóa, cụ thể hóa chế định này trong nội quy, quy chế cho phù hợp với tính chất, ngành nghề của đơn vị mình và đặc biệt phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định này Song song với việc tự giác thực hiện ATLĐ của NSDLĐ và NLĐ thì Nhà nước luôn có những biện pháp đảm bảo việc thực hiện được đồng bộ, hiệu quả và một trong số đó là hoạt động thanh tra lao động Nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành
18 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 426
Trang 28ATLĐ luôn được xếp hàng đầu nhằm tăng cường chức năng quản lý của Nhà nước đối với vấn đề xã hội cấp thiết này
Thứ hai, nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và toàn diện 19 Sự đồng bộ và
toàn diện ở đây được thể hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau như: đồng bộ trong việc xây dựng, lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh; toàn diện trong sự tham gia của tất cả đối tượng có liên quan đến công tác đảm bảo ATLĐ nhằm bảo đảm sức khỏe tính mạng của bản thân NLĐ và môi trường lao động; đồng
bộ và toàn diện trong việc kiểm tra, kiểm định, sử dụng máy móc, thiết bị, công cụ lao động,
Trong quan hệ lao động, NLĐ là người trực tiếp dùng công sức của mình để tạo ra thành quả lao động, trực tiếp chịu sự tác động của yếu tố nguy hiểm, độc hại trong quá trình làm việc, do đó, sự tham gia của NLĐ trong công tác đảm bảo ATLĐ là không thể thiếu Tuy nhiên, do nhận thức về vấn đề này còn hạn chế, nhiều khi còn hời hợt, không tự giác tuân thủ các quy trình an toàn, hoặc vì những lợi ích trước mắt (lương cao, chế độ phụ cấp kèm lương) mà NLĐ đã bỏ qua việc thỏa thuận điều kiện làm việc khi ký kết hợp đồng lao động Vì vậy, nghĩa vụ của NLĐ là chấp hành tuyệt đối các quy định về ATLĐ liên quan đến công việc; sử dụng và bảo quản phương tiện bảo hộ cá nhân; báo cáo kịp thời khi phát hiện nguy
cơ mất an toàn và tham gia cấp cứu, khắc phục hậu quả TNLĐ,… Đây là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi NLĐ khi tham gia quá trình sản xuất
NSDLĐ là người quản lý, đầu tư kinh phí và tổ chức các hoạt động ATLĐ tại cơ sở như đảm bảo nơi làm việc đạt yêu cầu theo luật định; thực hiện các biện pháp loại trừ, giảm thiểu rủi ro, nguy hiểm thông qua việc kiểm tra, đánh giá, bảo dưỡng định kỳ máy móc, thiết bị; Xét về lợi ích trước mắt, hoạt động này ảnh hưởng đến lợi nhuận, nhưng về lâu dài, ATLĐ mang đến những lợi ích quan trọng như ổn định sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm chi phí khắc phục TNLĐ, BNN Tuy nhiên, không phải bất cứ NSDLĐ nào cũng ý thức được vấn đề này, do vậy, Nhà nước đặt ra nguyên tắc toàn diện và đồng bộ trong việc thực hiện ATLĐ, coi đây là một trong những điều kiện để họ được phép sử dụng lao động
Nhà nước tham gia công tác ATLĐ thông qua chức năng quản lý nhà nước,
19 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 428
Trang 29được thể hiện trong việc quyết định chương trình quốc gia về ATLĐ, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn, đưa ra các quy định về phương tiện BHLĐ, chế độ chăm sóc sức khỏe, bồi dưỡng hiện vật, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, biện pháp khắc phục, xử lý hậu quả TNLĐ…; tổ chức nghiên cứu khoa học, sản xuất các trang thiết bị an toàn, khuyến khích phát triển các dịch vụ về ATLĐ Nhà nước cũng có kế hoạch hỗ trợ các doanh nghiệp khi thực hiện các biện pháp ATLĐ nhằm giảm bớt các chi phí tài chính cho doanh nghiệp và tăng tính chuyên nghiệp của các hoạt động ATLĐ Đặc biệt, vai trò quản lý của Nhà nước còn được thể hiện rõ trong việc thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn; thu thập, thống kê thông tin về những vụ việc TNLĐ nhằm nâng cao ý thức của NLĐ và NSDLĐ đối với công tác ATLĐ Ngoài ra, Nhà nước còn tiến hành hợp tác quốc tế về ATLĐ thông qua việc trở thành thành viên của ILO, phê chuẩn nhiều Công ước quốc tế và trao đổi, học hỏi kinh nghiệm thực hiện các chương trình, dự án về ATLĐ từ các nước trên thế giới như: Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, các quốc gia trong khu vực ASEAN,…
ATLĐ là hoạt động mang tính xã hội, bên cạnh sự tham gia của NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước thì còn có sự tham gia của các tổ chức xã hội khác như hiệp hội ngành nghề, tổ chức nghề nghiệp,… Nếu thiếu đi sự tham gia của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào thì công tác ATLĐ đều khó có thể đạt hiệu quả trong thực tế
Thứ ba, nguyên tắc đảm bảo tính dự đoán trước nguy cơ xảy ra TNLĐ
Không để “mất bò mới lo làm chuồng” vì khi đó đã phải trả giá đắt cho việc thiếu phòng ngừa Vì vậy, khi ban hành một văn bản pháp luật hoặc xây dựng một chương trình hành động quốc gia nói chung hay kế hoạch ATLĐ trong phạm vi doanh nghiệp nói riêng thì việc phân tích, đánh giá điều kiện lao động, yếu tố ảnh hưởng, tác động đến điều kiện lao động, đoán trước các tình huống nguy hiểm có thể xảy ra để áp dụng những biện pháp phòng ngừa là vô cùng quan trọng, góp phần giảm thiểu đáng kể TNLĐ, bởi dự đoán càng tốt bao nhiêu, càng chuẩn bị kỹ bao nhiêu thì hiệu quả ATLĐ càng tốt bấy nhiêu Ngược lại, khi không dự đoán được các nguy cơ xảy ra TNLĐ, không có biện pháp phòng ngừa thì sẽ gây mất ATLĐ, hậu quả xấu nhất là làm chết người, một cái giá quá đắt không thể nào trả hết được
Thứ tư, nguyên tắc đảm bảo tính kịp thời Tính kịp thời là một nguyên tắc
quan trọng của công tác đảm bảo ATLĐ, không chỉ thể hiện trong việc ứng phó nhằm loại bỏ yếu tố nguy hiểm, độc hại gây mất ATLĐ mà còn nhanh chóng, kịp thời xử lý, giải quyết hậu quả khi đã xảy ra tình huống mất an toàn nhằm hạn chế tối
Trang 30đa thiệt hại có thể xảy ra Tuy nhiên, để đảm bảo được nguyên tắc này trên thực tế thì phải phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động giáo dục, huấn luyện, trang bị kiến thức
về ATLĐ cho các bên trong quan hệ lao động
Thứ năm, nguyên tắc đề cao, đảm bảo quyền và trách nhiệm của Công đoàn
chức đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ Từ vị thế của mình, công đoàn có nhiều thế mạnh khi tham gia các quan hệ với NSDLĐ, đặc biệt là trong lĩnh vực ATLĐ để bảo vệ quyền lợi của NLĐ Mặt khác, như đã phân tích ở trên, công tác ATLĐ mang tính quần chúng, các hoạt động ATLĐ phải được tất cả NLĐ trong doanh nghiệp thực hiện một cách tự giác, nghiêm túc thì mới đạt hiệu quả cao Do vậy, công đoàn, với tư cách đại diện quần chúng lao động của mình, hoàn toàn có khả năng thuyết phục, động viên NLĐ thực hiện tốt những quy định về ATLĐ
Trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình, công đoàn các cấp được quyền tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng chương trình quốc gia và pháp luật
về ATLĐ Trong phạm vi doanh nghiệp, công đoàn cơ sở phối hợp với NSDLĐ tuyên truyền giáo dục NLĐ tuân thủ các quy định về ATLĐ; tham gia thực hiện kiểm tra, giám sát chấp hành pháp luật về ATLĐ,… Ngược lại, các bên hữu quan cũng như NSDLĐ có trách nhiệm tôn trọng các quyền của công đoàn và tạo điều kiện thuận lợi để công đoàn thực hiện trách nhiệm của mình trong lĩnh vực ATLĐ
1.1.2 Một số vấn đề lý luận về pháp luật an toàn lao động
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật an toàn lao động
Hệ thống pháp luật ATLĐ trên thế giới là tổng hợp những quy định về ATLĐ trong các Công ước quốc tế, Điều ước quốc tế và trong pháp luật của từng quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe, an toàn tính mạng cho con người nói chung và cho NLĐ nói riêng Các Công ước quốc tế, Điều ước quốc tế đã tạo nên khung pháp lý vững chắc để các quốc gia phối hợp cùng nhau xác lập những quy tắc, chuẩn mực chung về ATLĐ, chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, khoa học kỹ thuật vì mục tiêu đảm bảo ATLĐ cho NLĐ, và trên cơ sở đó, mỗi quốc gia xây dựng nên những chính sách, hành lang pháp lý cho riêng mình Việc thống nhất quản lý, xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn, một khung hành động để NSDLĐ, NLĐ, tổ chức, cá nhân có liên quan cùng thực hiện là một việc cần phải làm Các quy phạm pháp luật là tiền đề để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, trở
20 Trường Đại học Công đoàn (2015), Giáo trình Pháp luật lao động, Nxb Lao động, Hà Nội, tr 245
Trang 31thành kim chỉ nam cho việc xây dựng, thiết lập nội quy, quy chế đảm bảo ATLĐ trong từng doanh nghiệp nói riêng và trên cả nước nói chung Dưới sự bảo hộ của pháp luật, các quy định mang tính phòng ngừa như thông tin, tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện ATLĐ, kiểm định máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ,…được đảm bảo, đặc biệt các biện pháp mang tính cưỡng chế thể hiện quyền lực nhà nước như xử phạt vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự,… sẽ được áp dụng nếu có hành vi vi phạm pháp luật
Có thể nói, pháp luật ATLĐ là một chế định quan trọng trong việc bảo vệ NLĐ và là một bộ phận không thể thiếu của hệ thống pháp luật lao động Trên cơ sở những nội dung lý luận về ATLĐ đã phân tích ở trên, có thể hiểu pháp luật ATLĐ
như sau: Pháp luật ATLĐ là tổng hợp các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung
do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực ATLĐ, quy định các điều kiện ATLĐ, các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc khắc phục những yếu tố nguy hiểm, có hại trong môi trường lao động nhằm bảo vệ sức khỏe, tính mạng cho NLĐ, hạn chế TNLĐ, BNN
Pháp luật ATLĐ là khung pháp lý quan trọng trong việc dẫn dắt, hướng dẫn
và buộc các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của doanh nghiệp, nhà nước và nhân dân Từ việc nghiên cứu hệ thống pháp luật ATLĐ, dễ dàng nhận thấy các quy phạm pháp luật ATLĐ có những đặc thù riêng so với pháp luật ở các lĩnh vực khác, thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, pháp luật ATLĐ có tính chất quyền uy và phục tùng, được quy
một đặc trưng riêng của pháp luật ATLĐ, bởi lẽ, nếu không tuân thủ hoặc tuân thủ không nghiêm túc sẽ dẫn đến nguy cơ xảy ra TNLĐ, BNN, thiệt hại cả vật chất lẫn tinh thần vô cùng to lớn Nội dung quy phạm ATLĐ không có sự thỏa thuận hay tính bình đẳng mà chỉ có tính bắt buộc thực hiện Các quy định này liên quan trực tiếp đến sức khỏe và sinh mạng con người, liên quan nhiều đến quy trình, trình tự và thủ tục phức tạp buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt, trong quá trình áp dụng không thể thay đổi nếu không hậu quả sẽ khó lường, không chỉ gây thiệt hại về tài sản mà còn
về con người - tài sản quý giá nhất của xã hội Vì vậy, trong quá trình thực hiện quy
21 Trần Trọng Đào (2013), “Đặc điểm và vai trò của pháp luật An toàn - vệ sinh lao động”,
http://antoanlaodong.gov.vn/catld/pages/chitiettin.aspx?IDNews=1108, truy cập ngày 06/01/2019
Trang 32chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn an toàn không được phép lơ là, châm chước hay xem nhẹ bất kỳ thủ tục và giai đoạn nào
Thứ hai, pháp luật ATLĐ có nguồn luật điều chỉnh khá phong phú, đa dạng
Bên cạnh các Công ước, Điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên, các quy phạm pháp luật về ATLĐ còn chịu sự điều chỉnh của nhiều cơ quan quản lý nhà nước ở các lĩnh vực khác nhau Ở bất cứ lĩnh vực, ngành nghề nào có sản xuất, kinh doanh thì đều có nguy cơ xảy ra TNLĐ, BNN, do đó, các cơ quan có thẩm quyền đều phải đặt ra những quy định riêng cho từng lĩnh vực nhằm bảo đảm ATLĐ cho ngành mình phụ trách trên cơ sở pháp luật chung Thêm vào đó, do tính đặc thù của ATLĐ với phạm vi điều chỉnh rất rộng, phủ kín toàn bộ mọi lĩnh vực trong xã hội, đối tượng điều chỉnh cũng rất phong phú, bao gồm NLĐ theo hợp đồng lao động và NLĐ không theo hợp đồng lao động, vì vậy pháp luật ATLĐ có tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đòi hỏi mọi cấp, mọi ngành, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đều phải thực hiện
Thứ ba, các quy định của pháp luật về ATLĐ có tính ph ng ngừa cao 22 Trong số các mục tiêu hướng đến của pháp luật ATLĐ thì tính phòng ngừa có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vì mỗi tình huống, mỗi công đoạn được lường trước, được chuẩn bị kỹ lưỡng, sự phòng ngừa càng tốt bao nhiêu thì chất lượng của công tác ATLĐ càng tốt bấy nhiêu Ngược lại, nếu các biện pháp phòng ngừa không được chuẩn bị kỹ lưỡng sẽ gây mất ATLĐ, dẫn đến mất của, mất người và sự trả giá
là quá đắt, khó có thể bồi thường thỏa đáng Do sự cấp thiết, quan trọng này nên các quy định về ATLĐ phải tính đến các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến điều kiện lao động mà trước khi hoạt động, những đối tượng liên quan có trách nhiệm phải chuẩn
bị và có kế hoạch chu đáo
Thứ tư, pháp luật ATLĐ thể hiện tính quần chúng Đặc điểm này xuất phát từ
một trong những đặc trưng của ATLĐ, đó là ATLĐ mang tính quần chúng Như đã phân tích ở trên, chỉ khi quần chúng lao động, cả NLĐ và NSDLĐ nhận thức rõ được tầm quan trọng của ATLĐ và tự giác thực hiện thì pháp luật ATLĐ mới phát huy hết hiệu quả trên thực tế Nếu quần chúng lao động chỉ thực hiện mang tính bị động, tuân theo mệnh lệnh thì hiệu quả sẽ không cao Bởi chính NLĐ là những người trực tiếp thực hiện các quy phạm, quy chuẩn kỹ thuật và các biện pháp kỹ
22
Trần Trọng Đào (2013), “Đặc điểm và vai trò của pháp luật An toàn - vệ sinh lao động”,
http://antoanlaodong.gov.vn/catld/pages/chitiettin.aspx?IDNews=1108, truy cập ngày 06/01/2019
Trang 33thuật an toàn, tự mình gánh chịu hậu quả và cũng tự mình phát hiện sự cố, sai sót trong quy định để đề xuất cách thức cải tiến kỹ thuật, biện pháp an toàn, cũng như chính NSDLĐ là người đặt ra “luật”, ban hành ra nội quy, quy trình ATLĐ cho doanh nghiệp mình, do vậy chỉ khi chính họ tự giác thực hiện thì yếu tố phòng ngừa mới thực sự phát huy hiệu quả
1.1.2.2 Vai trò của pháp luật an toàn lao động
Công tác ATLĐ là việc làm cần thiết và pháp luật ATLĐ là một chế định không thể thiếu, đóng một vai trò quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế -
xã hội của quốc gia Cụ thể:
Thứ nhất, pháp luật ATLĐ thể chế hóa, triển khai những quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về ATLĐ một cách kịp thời, đồng bộ, rộng khắp trên quy mô toàn quốc, tạo khung pháp lý để các cơ quan nhà nước thực hiện quản lý nhà nước về ATLĐ Để có một môi trường làm việc an toàn thì NSDLĐ phải xây
dựng quy trình ATLĐ tại nơi làm việc, phải đầu tư các trang bị bảo hộ lao động cho NLĐ,… tốn kém cả vật chất lẫn tinh thần Điều đó cho thấy để NSDLĐ tự nguyện thực hiện, thiết lập điều kiện lao động đảm bảo an toàn là không dễ, do vậy Nhà nước thông qua pháp luật bằng việc đưa ra các yêu cầu tiêu chuẩn an toàn, các biện pháp bắt buộc, những nghĩa vụ mà NSDLĐ phải thực hiện để đảm bảo cho tính mạng, sức khỏe NLĐ, và khi đó pháp luật ATLĐ là công cụ thực hiện chức năng quản lý Khi xảy ra sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, thiệt hại về người và của, nếu không có sự can thiệp của công quyền thì việc khắc phục, giải quyết hậu quả sẽ gặp khó khăn, một lần nữa pháp luật ATLĐ lại thể hiện chức năng của mình, can thiệp, yêu cầu các chủ thể thực hiện nghĩa vụ theo đúng quy định
Thứ hai, pháp luật ATLĐ có ý nghĩa quan trọng đối với mọi NLĐ Bất cứ
NLĐ nào cũng mong muốn được làm việc trong một môi trường an toàn, được đảm bảo cả sức khỏe lẫn thu nhập Pháp luật ATLĐ giúp Nhà nước kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các cơ quan, tổ chức, NSDLĐ và NLĐ trong việc thực hiện công tác ATLĐ nhằm bảo vệ lợi ích của NLĐ, NSDLĐ, bảo vệ tính mạng, tài sản của các chủ thể và bảo đảm lợi ích quốc gia và xã hội
Thứ ba, pháp luật ATLĐ đóng vai tr to lớn, góp phần không nhỏ trong chiến lược phát triển kinh tế của Nhà nước TNLĐ, BNN xảy ra trong quá trình lao
động là điều không một ai mong muốn, tuy nhiên nếu thực hiện một cách nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về ATLĐ thì nguy cơ xảy ra TNLĐ, sự cố kỹ thuật sẽ được hạn chế, từ đó lợi ích kinh tế đổi lại không hề nhỏ Trước hết lợi ích
Trang 34này xuất phát từ việc NLĐ yên tâm làm việc, tự tin lao động, hăng say sản xuất, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, từ đó năng suất lao động được tăng lên, lợi nhuận cho doanh nghiệp nói riêng và cho xã hội nói chung được cải thiện Bên cạnh
đó, khi không có sự cố kỹ thuật, không xảy ra TNLĐ, tất yếu NSDLĐ không phải chi trả chi phí y tế từ sơ cứu, cấp cứu đến điều trị ổn định hay thậm chí là bồi thường TNLĐ Ngược lại, khi có sự cố gây ra TNLĐ, bên cạnh chi phí y tế, trợ cấp, bồi thường cho NLĐ bị nạn thì tùy thuộc vào sự cố lớn hay nhỏ, phạm vi rộng hay hẹp thì dù ít hay nhiều, NSDLĐ cũng sẽ phải mất một khoản chi phí cho nhà xưởng, máy móc, thiết bị hư hỏng Điều đáng nói, không chỉ doanh nghiệp bị thiệt hại mà lợi ích xã hội cũng bị ảnh hưởng Theo đó, đối với NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động bị TNLĐ, cơ quan bảo hiểm phải có trách nhiệm giải quyết chế độ cho NLĐ, thậm chí trong nhiều trường hợp phải chi một khoản không nhỏ cho thân nhân của người bị nạn Chính vì vậy, thực hiện tốt pháp luật ATLĐ là một trong những phương thức hiện thực hóa chiến lược phát triển kinh tế của Nhà nước
Thứ tư, pháp luật ATLĐ góp phần thể hiện vị thế của đất nước trên trường quốc tế Trước chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hóa hiện nay,
pháp luật ATLĐ còn khẳng định tên tuổi của quốc gia trên các diễn đàn quốc tế, các quan hệ song phương và đa phương mà Việt Nam là thành viên, đóng vai trò đảm bảo sự cam kết của Việt Nam khi bước vào sân chơi quốc tế bằng việc đặt ra các tiêu chuẩn ATLĐ, quy chuẩn kỹ thuật tương thích với các Công ước quốc tế, Điều ước quốc tế,
1.1.2.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật an toàn lao động
Như đã đề cập ở trên, hệ thống pháp luật ATLĐ trên thế giới được tiếp cận dưới hai góc độ, đó là pháp luật quốc tế (các Công ước, Điều ước, Khuyến nghị,…)
và pháp luật quốc gia ATLĐ là một vấn đề thiết yếu mang tính toàn cầu, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản của xã hội, do vậy, pháp luật quốc tế về ATLĐ được hình thành từ rất sớm, có thể kể đến một số văn bản tiêu biểu như Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Công ước số 155 của ILO về ATLĐ, VSLĐ và môi trường lao động năm 1981; Hiến chương Xã hội châu Âu năm 1981;… Ở phạm vi quốc gia, pháp luật ATLĐ là một chế định quan trọng trong pháp luật lao động ở mỗi nước trên cơ sở kế thừa các cam kết quốc tế về ATLĐ dưới những góc nhìn khác nhau Với tư cách là thành viên của một số Công ước quốc tế về ATLĐ, pháp luật ATLĐ tại Việt Nam đang dần hoàn thiện, và có thể thấy một số nội dung cơ bản của pháp luật quốc tế cũng như pháp
Trang 35luật Việt Nam về ATLĐ như sau:
Thứ nhất, thừa nhận quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 được coi
là văn bản quốc tế đầu tiên ghi nhận một cách chính thức quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ Trong “Bình luận chung số 14” (phiên họp thứ 22/2002), Ủy ban về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đã giải thích một cách khá
toàn diện và chi tiết về quyền được chăm sóc sức khỏe, theo đó, đây là “quyền được
thụ hưởng những cơ sở vật chất, hàng hóa, dịch vụ và điều kiện cần thiết để đạt
Quyền này phải được thể hiện đầy đủ trong hệ thống pháp luật và chính trị của mỗi quốc gia, thích hợp nhất là thông qua hình thức thực hiện lập pháp và ban hành chính sách y tế quốc gia với kế hoạch chi tiết về cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế, bảo đảm sức khỏe nghề nghiệp, các tiêu chuẩn an toàn trong lao động,… Ở Việt Nam, chế định ATLĐ trước đây được quy định trong Bộ luật lao động và từ năm 2015, chế định này đã trở thành một đạo luật
riêng - Luật An toàn, vệ sinh lao động có hiệu lực thi hành từ 01/7/2016 Đây là một
văn bản có ý nghĩa to lớn trước tình hình TNLĐ xảy ra ngày càng nhiều ở nước ta hiện nay, đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa, kiểm soát và đảm bảo ATLĐ cho NLĐ bằng việc quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể trong công tác ATLĐ, các biện pháp phòng, chống các yếu tố nguy hiểm, có hại cho
NLĐ, các biện pháp xử lý sự cố kỹ thuật gây mất ATLĐ và TNLĐ,…
Thứ hai, yêu cầu xây dựng, áp dụng các tiêu chuẩn về ATLĐ cho NLĐ Tính
đến nay, hệ thống Công ước của ILO đã ban hành khoảng 40 tiêu chuẩn về ATLĐ
và sức khỏe nghề nghiệp, hơn 40 Bộ quy tắc áp dụng trong thực tiễn, đây là nguồn tham khảo khá phong phú để các quốc gia có thể tham khảo và thi hành trên thực tế Điển hình như Công ước số 155 về ATLĐ, VSLĐ và môi trường lao động năm
1981 được áp dụng cho tất cả các ngành nghề kinh tế, tất cả NLĐ và NSDLĐ của các nước thành viên Theo đó, việc xây dựng chính sách với mục đích phòng ngừa TNLĐ và những thương tổn sức khỏe phát sinh do công việc cần có ý kiến của các bên liên quan là NLĐ, NSDLĐ Nội dung của chính sách ATLĐ tại mỗi quốc gia phải bao gồm tất cả những vấn đề từ an toàn máy móc, thiết bị, huấn luyện ATLĐ cho đến thông tin tuyên truyền, giáo dục… và tất cả những nội dung này đều phải
23 Nguyễn Thị Anh Đào (2012), “Quyền được chăm sóc sức khỏe: thành tựu và thách thức”,
http://ihs.vass.gov.vn/noidung/tapchi/Lists/TapChiSoMoi/DispForm.aspx?ID=31, truy cập ngày 08/01/2019
Trang 36được định kỳ xem xét tính phù hợp với thực tế để có sự điều chỉnh phù hợp Hay như Công ước 187 về cơ chế tăng cường công tác AT, VSLĐ năm 2006 được thông qua với mục tiêu không ngừng thúc đẩy văn hóa an toàn và sức khỏe phòng ngừa để
ngăn chặn TNLĐ, BNN và tử vong do lao động
Tại Việt Nam, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 đã quy định cụ thể
về các máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ, biện pháp phòng ngừa TNLĐ, về việc đảm bảo ATLĐ đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh,… Bên cạnh đó là hệ thống các văn bản pháp luật của các ngành nghề, lĩnh vực như Luật Xây dựng năm 2014, Luật Khoáng sản năm 2010, Luật Công đoàn năm 2012,…; hệ
thống các các tiêu chuẩn, quy chuẩn như QCVN 18:2014/BXD - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong xây dựng, QCVN 06:2010/BXD - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia An toàn cháy cho nhà và công trình, TCVN 2287-78 - Hệ thống tiêu
chuẩn ATLĐ – Quy định cơ bản,…
Thứ ba, xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn ATLĐ trong từng ngành Bên
cạnh các Công ước mang tính hoạch định chung thì ILO còn ban hành những Công ước về an toàn trong một số lĩnh vực thường xuyên có nguy cơ xảy ra TNLĐ như Công ước số 167 về an toàn và sức khỏe trong ngành xây dựng năm 1988, Công ước số 176 về an toàn sức khỏe trong các hầm mỏ năm 1995, Công ước số 152 về
an toàn và vệ sinh lao động trong các công việc bốc xếp tại cảng biển năm 1979,
Như đã phân tích ở trên, tại Việt Nam, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 là công cụ pháp lý chính tác động đến hoạt động ATLĐ tại nơi làm việc Theo đó, Luật nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác ATLĐ tại nơi làm việc thông qua việc yêu cầu các bên liên quan thực hiện các biện pháp khả thi, hợp lý để đảm bảo an toàn sức khỏe và tính mạng cho NLĐ và những người khác
do ảnh hưởng bởi công việc Cùng với đó là hệ thống văn bản dưới luật của Luật
An toàn, vệ sinh lao động như Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 quy định chi tiết một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động; Thông tư số 04/2017/TT-BXD ngày 30/3/2017 quy định về quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình; Thông tư số 16/2017/TT-BLĐTBXH ngày 08/6/2017 quy định chi tiết một số nội dung về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động;…cũng cung cấp các tiêu chuẩn cụ thể
đối với những công việc mà những ngành, lĩnh vực này phải tuân thủ
Trang 37Thứ tư, ghi nhận và đảm bảo thực thi các biện pháp phòng, chống, kiểm soát
các yếu tố nguy hiểm, có hại cho NLĐ Trong quá trình lao động, việc dự đoán các
tình huống, các nguy cơ gây mất an toàn và áp dụng những biện pháp phòng, chống cần thiết sẽ góp phần chủ yếu làm giảm số vụ TNLĐ cho NLĐ, vì vậy đây là một trong những nội dung có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật ATLĐ ở mỗi quốc gia Tại Việt Nam, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 đã quy định rất
cụ thể về các biện pháp phòng, chống các yếu tố nguy hiểm, có hại cho NLĐ nhằm đảm bảo trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, NSDLĐ, NLĐ, tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác đảm bảo ATLĐ và giúp NLĐ được tiếp cận với những biện pháp phòng tránh rủi ro có hiệu quả tại nơi làm việc, cùng với đó là hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật ATLĐ nhằm nâng cao nhận
thức, tính tự giác của mọi thành viên trong xã hội đối với công tác ATLĐ
Thứ năm, yêu cầu sử dụng các biện pháp kiểm soát và áp dụng chế tài xử lý phù hợp đối với những hành vi vi phạm Pháp luật ATLĐ bên cạnh việc ghi nhận
quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ, đưa ra tiêu chuẩn ATLĐ, các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa TNLĐ còn có nội dung quy định các biện pháp kiểm soát hoạt động áp dụng pháp luật và các chế tài xử lý thích đáng nhằm tăng tính răn đe từ đó nâng cao ý thức chấp hành luật của mọi NLĐ, NSDLĐ, tổ chức, cá nhân có liên quan Điều 9 Công ước số 155 của ILO năm 1981 về ATLĐ,
VSLĐ và môi trường lao động quy định: “(1) Việc thi hành pháp luật và pháp quy
về ATLĐ, VSLĐ và môi trường làm việc phải được bảo đảm bằng một hệ thống thanh tra thích hợp, hoạt động có hiệu quả (2) Hệ thống thi hành pháp luật phải quy định các h ình thức xử phạt thích đáng đối với những trường hợp vi phạm pháp luật và pháp quy” Với mục đích thể chế hóa quy định này đồng thời nhằm hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả thi hành cho hệ thống pháp luật, cũng như các quốc gia thành viên của ILO, Việt Nam đã xây dựng và đang dần kiện toàn hệ thống các quy định về thanh tra lao động và các chế tài xử lý đối với từng hành vi vi phạm trên cơ
sở phù hợp với điều kiện của quốc gia mình
1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về an toàn lao động
1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc đảm bảo an toàn lao động
1.2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của người lao động trong việc đảm bảo an toàn lao động
Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 ra đời được xem là một bước tiến của pháp luật Việt Nam với nhiều nội dung mới, tiến bộ hơn, trong đó mở rộng phạm vi, ghi nhận đối tượng NLĐ không có quan hệ lao động Theo đó, Điều 6 Luật
Trang 38An toàn, vệ sinh lao động đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của cả NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động và NLĐ làm việc không theo hợp đồng lao động
NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động có quyền được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn, được cung cấp thông tin đầy đủ về các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và được đào tạo, huấn luyện, hướng dẫn những biện pháp để phòng tránh; được thực hiện chế độ BHLĐ và chăm sóc sức khỏe; được quyền yêu cầu NSDLĐ bố trí công việc phù hợp với sức khỏe và từ chối làm những công việc hoặc nơi làm việc có nguy cơ xảy ra TNLĐ, BNN; có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật Đây là những quyền năng cơ bản của NLĐ khi tham gia quan hệ lao động được pháp luật ghi nhận nhằm đảm bảo một môi trường làm việc an toàn và hiệu quả Song song các quyền, pháp luật còn quy định trách nhiệm của NLĐ trong việc đảm bảo ATLĐ Theo đó, nghĩa vụ của NLĐ được chia thành ba nhóm chính: (1) nhóm nghĩa vụ tuân thủ những quy định về ATLĐ của pháp luật và của NSDLĐ đưa ra tại nơi làm việc; (2) nhóm nghĩa vụ sử dụng, bảo quản các trang bị BHLĐ cá nhân và (3) nhóm nghĩa vụ liên quan đến việc báo cáo, khắc phục, xử lý sự cố kỹ thuật, TNLĐ
Đối với NLĐ làm việc không theo hợp đồng lao động, pháp luật ghi nhận cho họ quyền được làm việc trong điều kiện an toàn; được tiếp nhận thông tin, tuyên truyền, giáo dục về công tác ATLĐ, được huấn luyện ATLĐ khi làm các công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ cũng như được khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện khi có hành vi vi phạm pháp luật Ngoài ra, pháp luật còn tạo điều kiện cho NLĐ làm việc không theo hợp đồng lao động được tham gia và hưởng bảo hiểm TNLĐ theo hình thức tự nguyện Đồng thời với quyền, NLĐ không có quan
hệ lao động phải chịu trách nhiệm về ATLĐ đối với công việc do mình thực hiện và phải bảo đảm ATLĐ đối với những người có liên quan trong quá trình lao động
Có thể thấy, trong quan hệ lao động, dù NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động hay không theo hợp đồng lao động thì NLĐ luôn ở vị trí yếu thế, do vậy, trong công tác ATLĐ, NLĐ được pháp luật trao quyền nhiều hơn là nghĩa vụ
1.2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong việc đảm bảo an toàn lao động
Điều 7 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 bảo vệ một số quyền của NSDLĐ trong việc thực hiện ATLĐ Cụ thể, NSDLĐ được quyền yêu cầu NLĐ phải chấp hành các quy định về ATLĐ tại nơi làm việc; huy động NLĐ tham gia ứng cứu khẩn cấp, khắc phục sự cố, TNLĐ; quyền được khen thưởng cũng như xử
Trang 39lý kỷ luật NLĐ trong công tác ATLĐ và được khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện khi phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật về ATLĐ theo quy định của pháp luật
Với tư cách là người nắm ưu thế quyết định trong công tác xây dựng môi trường làm việc an toàn, pháp luật đã quy định các nghĩa vụ của NSDLĐ với tinh thần tương xứng với các quyền của NLĐ Theo đó, NSDLĐ có nghĩa vụ xây dựng,
tổ chức thực hiện kế hoạch, nội quy, quy trình ATLĐ có sự tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở và chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc đảm bảo ATLĐ tại nơi làm việc, đóng bảo hiểm TNLĐ, BNN cho NLĐ;
tổ chức huấn luyện, hướng dẫn ATLĐ; trang bị đầy đủ phương tiện BHLĐ và thực hiện chế độ chăm sóc sức khỏe đối với NLĐ; không được buộc NLĐ tiếp tục làm việc khi có nguy cơ xảy ra TNLĐ đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng hoặc sức khỏe của NLĐ; bố trí, phân định trách nhiệm của bộ phận làm công tác ATLĐ và
cử người kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định, các biện pháp ATLĐ tại nơi làm việc; thực hiện khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo TNLĐ, BNN, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn nghiêm trọng và chấp hành các quyết định của cơ quan có thẩm quyền về ATLĐ Tuy nhiên thực tế ghi nhận các nội dung về nghĩa vụ của NSDLĐ trong trường hợp này quá chung chung và gần như không có cơ chế đảm
bảo thực hiện, do vậy tính hiệu quả của quy định chưa cao
1.2.2 Phòng, chống các yếu tố nguy hiểm, có hại cho người lao động
1.2.2.1 Thông tin, tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện an toàn lao động
Theo quy định tại Điều 13 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, trách nhiệm thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật, kiến thức và kỹ năng
về ATLĐ thuộc về NSDLĐ, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, hộ gia đình và cơ quan thông tin đại chúng, nhằm giúp NLĐ hiểu được rõ ràng tính chất nguy hiểm của công việc, tình trạng an toàn từ đó tự nâng cao ý thức trong việc thực hiện những biện pháp đảm bảo ATLĐ, bảo vệ chính bản thân và cộng đồng trong quá trình lao động Ngoài ra, các nhà sản xuất cũng có trách nhiệm cung cấp thông tin
về các biện pháp bảo đảm ATLĐ kèm theo sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn cho người sử dụng trong quá trình lao động
Bên cạnh việc thông tin, tuyên truyền, giáo dục về ATLĐ thì công tác huấn luyện ATLĐ cũng đóng vai trò quan trọng, là tiền đề trong việc đảm bảo ATLĐ NSDLĐ phải tạo mọi điều kiện để NLĐ làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ, người làm công tác ATLĐ, công tác y tế được huấn luyện trước khi làm việc Việc huấn luyện phải phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng ngành nghề,
Trang 40từng vị trí công việc, quy mô lao động, không gây khó khăn đến hoạt động sản xuất kinh doanh và được tổ chức bởi chính NSDLĐ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm
quyền hoặc tổ chức có chức năng huấn luyện ATLĐ Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội ban hành Danh mục những công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; quy định điều kiện tổ chức huấn luyện ATLĐ; nội dung huấn luyện và tiêu chuẩn huấn luyện viên Việc huấn luyện ATLĐ là yêu cầu bắt buộc không thể thiếu trong công tác ATLĐ, giúp cho NLĐ, NSDLĐ và các chủ thể liên quan khác trong quá trình lao động nắm bắt, hiểu rõ được tầm quan trọng, lợi ích và phương pháp áp dụng các biện pháp ATLĐ, từ đó nâng cao hiệu quả của công tác ATLĐ trên thực
tế, giảm thiểu một cách tối đa những tác động xấu tới tính mạng, sức khỏe của NLĐ cũng như những người xung quanh
1.2.2.2 Nội quy, quy trình và các biện pháp bảo đảm an toàn lao động tại nơi làm việc
Công tác ATLĐ chỉ có ý nghĩa thiết thực khi các quy định của pháp luật được hiện thực hóa, cụ thể hóa trong các văn bản pháp quy của doanh nghiệp và được sự chấp hành nghiêm túc của các chủ thể tham gia trực tiếp vào quan hệ ATLĐ Theo đó, NSDLĐ căn cứ pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cũng như địa phương về ATLĐ và điều kiện của chính doanh nghiệp mình để xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nội quy, quy trình bảo đảm ATLĐ; đồng thời, phải lường trước các sự cố đáng tiếc có thể xảy ra để xây dựng, ban hành kế hoạch, phương án xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp tại nơi làm việc NSDLĐ còn phải bảo đảm nơi làm việc, máy, thiết bị, vật tư đạt yêu cầu theo các quy chuẩn kỹ thuật, nội quy, quy trình an toàn tại nơi làm việc và định kỳ kiểm tra, đo lường, bảo trì, bảo dưỡng theo quy định; hằng năm hoặc khi cần thiết, tổ chức kiểm tra, đánh giá, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc để tiến hành các biện pháp về công nghệ, kỹ thuật nhằm loại trừ, giảm thiểu các tác động có hại, cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe cho NLĐ Ngoài ra, NSDLĐ phải trang cấp đầy
đủ cho NLĐ các thiết bị an toàn, các phương tiện bảo vệ cá nhân khi thực hiện công việc có yếu tố nguy hiểm, có hại Khi TNLĐ, sự cố kỹ thuật không may xảy ra ảnh hưởng tới sức khỏe, tính mạng của NLĐ, NSDLĐ phải nhanh chóng tổ chức xử lý
sự cố, ứng cứu khẩn cấp và báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm24
Để NLĐ tiếp cận gần hơn với kiến thức ATLĐ cũng như các “luật” của doanh nghiệp, NSDLĐ phải thực hiện tuyên truyền, phổ biến, huấn luyện cho NLĐ quy
24 Mục 2, chương II Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015