Mặt khác, sự hạn chế hiểu biết của các chủ thể kinh doanh về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung cũng như giao nhận và thanh toán nói riêng cũng là một nguyên nhân làm giảm hiệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
VŨ THỊ NHUNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy cô trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô khoa Kinh tế, những người đã trực tiếp hoặc gián tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành bổ ích cho bản thân em trong suốt quá trình theo học tại trường
Đặc biệt, em xin chân thành cám ơn Tiến sỹ Ngô Quốc Kỳ đã quan tâm và nhiệt tình hướng dẫn để em có thể hoàn thành tốt luận văn thạc sỹ
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đã luôn ở bên động viên em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 30 tháng 08 năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
VŨ THỊ NHUNG
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
Danh mục các chữ viết tắt trong Luận văn
LỜI CAM ĐOAN 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Giới thiệu khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu luận văn 3
4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5
7 Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO NHẬN VÀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 6
1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong pháp luật thương mại quốc tế 6
1.2 Khái quát về giao nhận trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong pháp luật thương mại quốc tế 11
1.2.1 Chủ thể tham gia giao nhận hàng hóa 12
1.2.2 Phương thức giao nhận hàng hóa 14
1.3 Khái quát về thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong pháp luật thương mại quốc tế 15
1.3.1 Chủ thể tham gia thanh toán 15
Trang 61.3.2 Phương tiện thanh toán 16
1.3.3 Phương thức thanh toán 16
1.4 Hệ thống các quy định pháp luật về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 17
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ GIAO NHẬN VÀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM 24
2.1 Pháp luật về giao nhận hàng hóa trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam 24
2.1.1 Quy định về điều kiện giao nhận hàng hóa 24
2.1.2 Quy định về số lượng, chủng loại hàng hóa giao nhận 26
2.1.3 Quy định về thời hạn/thời gian giao nhận hàng hóa 28
2.1.4 Quy định về địa điểm giao nhận hàng hóa 30
2.1.5 Quy định về chứng từ hàng hóa liên quan đến giao nhận hàng hóa 30
2.1.6 Thực tiễn áp dụng pháp luật về giao nhận trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở Việt Nam 32
2.2 Pháp luật về thanh toán trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam 36
2.2.1 Quy định về phương tiện thanh toán 37
2.2.2 Quy định về điều kiện tiền tệ 41
2.2.3 Quy định về điều kiện thời gian thanh toán 44
2.2.4 Quy định về giá thanh toán 48
2.2.5 Quy định về phương thức thanh toán 49
2.2.6 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thanh toán trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở Việt Nam 54
Trang 7CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO NHẬN
VÀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 67 3.1 Kiến nghị về sự hoàn thiện các quy định pháp luật về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 67 3.1.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về giao nhận hàng hoá 67 3.1.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về thanh toán quốc tế 68 3.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả việc áp dụng các quy định về giao nhận
và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trên thực tiễn 71 3.2.1 Nâng cao nhận thức pháp luật của thương nhân Việt Nam trong quá trình thực hiện giao nhận và thanh toán trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế 71 3.2.2 Chính phủ cần đưa ra những chính sách tăng cường hiệu quả giao nhận và thanh toán bằng việc nâng cấp cơ sở hạ tầng vận tải hàng hoá, sử dụng các công cụ hỗ trợ cho việc thanh toán 72 3.2.3 Tư vấn hỗ trợ các doanh nghiệp những thông tin về thị trường quốc tế 73 KẾT LUẬN 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế HĐMBHHQT
Công ước Viên 1980 (Convention on Contracts for
the International Sale of Goods)
CISG 1980
Luật các công cụ chuyển nhượng Luật CCCN
Uniform Customs and Practice for Documentary
Credit 600 - Quy tắc và Thực hành thống nhất Tín
dụng chứng từ
UCP 600
Tín dụng thư (Letter of Credit) L/C
Trang 91
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu khái quát về đề tài và tí nh cấp thiết của đề tài
Sự phát triển quan hệ kinh tế toàn cầu dẫn đến sự hình thành thị trường thế giới thống nhất, sự xuất hiện xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế Bên cạnh
đó, do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và phát triển không đồng đều
về kinh tế, chính trị dẫn đến sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa các quốc gia, xác định phạm vi và năng lực sản xuất khác nhau Đồng thời, do điều kiện về tài nguyên, công nghệ, lao động, của mỗi nước không giống nhau nên mỗi một quốc gia không thể tự sản xuất tất cả các sản phẩm theo nhu cầu của xã hội Chính vì thế, mỗi quốc gia sẽ tập trung sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà họ có lợi thế, đồng thời nhập khẩu những sản phẩm mà không thể sản xuất trong nước hay nhập các nguyên liệu cần thiết để làm ra sản phẩm phục vụ nhu cầu xã hội hoặc có thể dùng phục vụ sản xuất Trong xu thế toàn cầu hóa, các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau về các lĩnh vực, tất yếu hình thành các mối quan hệ kinh tế quốc tế giữa nước này với nước khác
Hoạt động mua bán hàng hóa có giai đoạn là hình thức chủ yếu của hoạt động thương mại quốc tế Các hình thức hoat động thương mại khác được hình thành sau này có vai trò hỗ trợ cho việc xuất nhập khẩu hàng hóa Chính vì vậy mà trước đây cũng như hiện nay, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vai trò chủ đạo trong hệ thống các hợp đồng thương mại quốc tế, đặc biệt là đối với Việt Nam chúng ta trong giai đoạn hiện nay
Các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện ngày càng nhiều bởi hai nhóm doanh nghiệp của Việt Nam: doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam cũng tăng nhanh qua từng thời kỳ, cụ thể vào năm 1995, con số này
là 5,5 tỷ USD, đến năm 2000 là 14,5 tỷ USD, năm 2005 tăng lên 32,5 tỷ USD , đến năn 2010 đạt 72,2 tỷ USD và năm 2017 kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 213,77 tỷ USD tăng 21% so với năm 2016 (nếu trừ đi yếu tố về giá thì tăng 17,6 %) , đây là mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua Trước tình hình các giao dịch kinh doanh diễn ra ngày càng sôi động, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các thương nhân, giữa các doanh nghiệp với nhau ngày càng tăng về số lượng, đòi hỏi Nhà nước phải ban hành quy định pháp luật về mua bán hàng hóa có tính đổi mới
và mở cửa để hợp đồng được xác lập nhanh chóng mang lại lợi nhuận tối ưu cho
Trang 102
chủ thể, nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo tính chặt chẽ, điều chỉnh chi tiết cho quá trình thiết lập và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, hạn chế thấp nhất những rủi ro và đảm bảo quyền lợi cho thương nhân Việt Nam
Xét từ những yêu cầu nêu trên, pháp luật về giao nhận và thanh toán hiện hành hiện hành liệu đã phát huy hết vai trò Trong thực tiễn áp dụng, bên cạnh những ưu điểm, việc áp dụng các quy định pháp luật liệu có gặp phải những khó khăn và hạn chế Thực tế, một số nội dung liên quan tới giao nhận và thanh toán hiện nay chưa được quy định cụ thể hoặc chưa được quy định, dẫn tới những tranh chấp không mong muốn giữa các chủ thể trong hợp đồng Mặt khác, sự hạn chế hiểu biết của các chủ thể kinh doanh về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung cũng như giao nhận và thanh toán nói riêng cũng là một nguyên nhân làm giảm hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật đối với các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này
Vì vậy, từ những lí do nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Một số vấn đề pháp
lý về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam ” mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn Việc nêu ra và phân tích các quy định pháp luật hiện hành góp phần nâng cao hiểu biết của các nhà kinh doanh liên quan tới hoạt động giao nhận và thanh toán trong mua bán hàng hóa quốc tế Đồng thời từ việc đánh giá thực trạng áp dụng các quy định thực tiễn,
so sánh với pháp luật quốc tế có liên quan, làm tiền đề cho việc hoàn thiện pháp luật trong nước trong lĩnh vực này, tạo cơ sở vững chắc để hạn chế tối đa những rủi ro trong giao nhận và thanh toán từ đó giúp hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế phát triển mạnh mẽ, mang lại hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân
2 Tì nh hì nh nghiên cứu đề tài
Tuy các vấn đề pháp lý về giao nhận hàng hóa và thanh toán đã được đề cập tới trong rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học liên quan tới hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Đến nay có không ít các công trình nghiên cứu, các bài viết phân tích
về hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh như:
- “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 và các quy định của pháp luật quốc tế ”, Luận văn thạc sỹ của tác giả Vũ Khắc Thư của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội;
Trang 113
- “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn thi hành tại tỉnh Sơn La ”, Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Văn May (2016), Đại học Luật Hà Nội;
- “Một số vấn đề pháp lý về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở Việt Nam” Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Phú Vinh
- “ Các phương thức thanh toán quốc tế nhìn dưới góc độ lợi ích và rủi ro về mặt pháp lý đối với nhà xuất khẩu hoặc nhà nhập khẩu”, Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Trương Hải Yến (2012), Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội
Những công trình của các tác giả kể trên đã đề cập từ nhiều góc độ và phạm
vi nghiên cứu khác nhau, là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong quá trình tôi thực hiện đề tài Điểm chung của những công trình nghiên cứu nêu trên là đều tiếp cận hợp đồng mua bán hàng hóa theo hướng khái quát về tất cả các nội dung của hợp đồng, mà chưa đi sâu vào việc nghiên cứu và phân tích một khía cạnh khá quan trọng trong hợp đồng mua bán hàng hóa như thanh toán và giao nhận hàng hóa Vấn đề giao nhận và thanh toán là nội dung mà các bên luôn cần thận trọng khi xây dựng hợp đồng, bởi tiềm ẩn nhiều rủi ro khi hợp đồng quy định không rõ hay các bên chưa nắm rõ các quy định pháp luật Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, hoạt động bán quốc tế diễn ra phổ biến và ngày càng sôi động và nảy sinh nhiều vấn đề pháp lý mà các doanh nghiệp còn vướng mắc trong quá trình thực hiện hợp đồng Vì là hợp đồng mua bán mang tính chất quốc tế, nên vấn đề thanh toán và giao nhận mang tính phức tạp hơn, không chỉ có sự tham gia của bên mua và bên bán mà còn liên quan đến các bên liên quan, đóng vai trò quan trọng khác như : ngân hàng, hãng tàu, bên giao nhận,
Vì vậy, việc tập trung giải quyết vấn đề giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của luận văn dường như là hướng tiếp cận mới
mẻ mà trước nay chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu luận văn
- Đối tượng nghiên cứu luận văn là pháp luật hiện hành về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở Việt Nam và các pháp luật quốc tế có liên quan
- Phạm vi nghiên cứu: hợp đồng mua bán hàng hóa dưới giác độ là hợp đồng dân sự đặc thù Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về giao nhận và thanh toán – một trong những nội dung chủ yếu của hợp đồng
Trang 124
mua bán hàng hóa, ở luận văn đi sâu phân tích vào các quy định quốc tế và pháp luật Việt Nam hiện hành về giao nhận và thanh toán ở hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục tiêu nghiên cứu của luận văn: Phân tích các quy định pháp luật hiện hành có liên quan đến hoạt động giao nhận và thanh toán trong HĐMBHHQT, nhận diện thực trạng của pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước về những vấn đề giao nhận hàng hóa và thanh toán trong HĐMBHHQT đang tồn tại, đã gây ra những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng Từ đó đánh giá bất cập, hạn chế của quy định
và đề xuất phương hướng và các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về giao nhận và thanh toán
- Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về giao nhận và thanh toán trong
HĐMBHHQT theo pháp luật trong nước hiện hành và pháp luật quốc tế để nhận diện cụ thể pháp luật điều chỉnh việc giao nhận hàng hóa và thanh toán trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
Thứ hai, từ cơ sở pháp luật điều chỉnh hoạt động giao nhận và thanh toán
trong HĐMBHHQT, phân tích chỉ ra những mặt hạn chế còn tồn tại, rủi ro pháp lý
mà các bên vướng mắc từ thực tiễn các vụ việc đã xảy ra trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
Thứ ba, trên cơ sở phân tích thực trạng chỉ ra lợi ích và rủi ro pháp lý của các phương thức thanh toán và giao nhận hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế đề xuất một số biện pháp ngăn ngừa, hạn chế rủi ro bắt nguồn từ hoạt động thanh toán và giao nhận trong HĐMBHHQT, thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế phát triển
5 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ những đặc thù của đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các phương pháp được chủ yếu sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài là:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để phân tích các quy định pháp lý về giao nhận và thanh toán, từ đó đưa ra những đánh giá về ưu điểm và hạn chế của các quy định pháp luật
Trang 135
- Phương pháp so sánh giữa quy định pháp luật hiện hành với các quy định pháp luật cũ, quy định pháp luật Việt Nam với quy định pháp luật của các quốc gia khác, các điều ước quốc tế,tập quán thương mại quốc tế, để tìm ra những sự tương đồng, khác biệt, những ưu điểm hạn chế của quy định pháp luật
- Phương pháp phân loại, chỉ cho người đọc sự đa dạng với một vấn đề có thể được thực hiện hoặc tiếp cận theo những cách thức nào
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn hoàn thành sẽ là một nguồn tham khảo pháp luật về giao nhận và thanh toán trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế hiện nay
Trong luận văn, tác giả giải quyết các vấn đề về mặt lí luận về vấn đề giao nhận và
thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các quy định của pháp luật về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cũng như thực tiễn thực hiện trong những năm vừa qua Luận văn nghiên cứu tập trung chủ yếu trong phạm vi những quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 và Luật Thương mại 2005, phân tích đối chiếu giữa qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành với quy định pháp luật đã hết hiệu lực, quy định pháp luât của Việt Nam và quy định
pháp luật các nước khác cũng như quy phạm quốc tế
Từ những phân tích về mặt lí luận, luận văn đề xuất những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về giao nhận và thanh toán liên quan tới mua bán hàng hóa quốc tế, đồng thời đưa ra các hướng lựa chọn phương thức, phương tiện thanh toán, giao nhận phù hợp với từng điều kiện kinh doanh của các doanh nghiệp trong thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
7 Bố cục của luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về giao nhận và thanh toán trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chương 2: Quy định pháp luật về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trang 146
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO NHẬN VÀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong pháp luật thương mại quốc tế
Trong hệ thống các hợp đồng thương mại quốc tế, có thể nói HĐMBHHQT chiếm tỷ lệ lớn so với các dạng hợp đồng thương mại quốc tế khác, xuất phát từ hoạt động thương mại ngoại thương từ xa xưa đến hiện tại thì mua bán hàng hóa quốc tế vẫn là hình thức giao dịch chủ yếu và phổ biến, được sử dụng rộng rãi so với các hình thức khác Chính vì có vai trò quan trọng như vậy nên HĐMBHHQT được nhiều quốc gia và tổ chức thương mại quốc tế quan tâm đặc biệt khi tiến hành hoạt động hệ thống hóa, pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật trong luật thương mại quốc tế HĐMBHHQT có các đặc trưng cơ bản của hợp đồng thương mại quốc tế Tính quốc tế của quan hệ chính là điểm khác biệt của HĐMBHHQT với hợp đồng mua bán thông thường, tính chất này được quy định khác nhau tại pháp luật của các quốc gia, pháp luật quốc tế nhưng nhìn chung đó là các yếu tố nước ngoài có liên quan đến quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở của các chủ thể, liên quan đên nơi xác lập quan hệ hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng hoặc nơi có tài sản
là đối tượng của hợp đồng Sự khác nhau về trình độ chính trị, trình độ kinh tế và thực tiễn thương mại giữa các nước mà quy định pháp luật của các nước trong lĩnh vực thương mại quốc tế nói chung và HĐMBHHQT nói riêng có sự khác biệt Các điều ước quốc tế và pháp luật các nước mặc dù cùng điều chỉnh về vấn đề mua bán hàng hóa quốc tế nhưng có sự khác nhau về tiêu chí “ tính chất quốc tế” trong hợp đồng mua bán hàng hóa Pháp luật các nước trên thế giới, tại mỗi quốc gia tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội của mình mà có những quy định khác nhau về vấn đề này
Tại Điều 1 của Công ước Viên 1980 ( CISG 1980 ) cho thấy, tính chất quốc
tế trong HĐMBHHQT được xác định chỉ bởi một tiêu chí duy nhất, đó là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau, khi mà các nước này là thành viên của công ước, hoặc khi mà quy phạm tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến việc áp dụng luật của một nước là thành viên của công ước Như vậy, yếu tố quốc tịch hay tính chất thương mại hay dân sự của các bên trong hợp đồng không
Trang 15So với các quy định của pháp luật Việt Nam trước khi ban hành Luật Thương mại
2005 thì các quy định này gián tiếp khẳng định việc không coi dấu hiệu quốc tịch của chủ thể hoặc dấu hiệu về phạm vi lãnh thổ quốc gia là căn cứ xác định HĐMBHHQT mà chủ yếu dựa vào tính chất của quan hệ hợp đồng Quy định này phù hợp hơn với bản chất của hoạt động MBHHQT và thực tiễn thương mại hiện nay, đặc biệt là việc phát triển các khu chế xuất, đặc khu kinh tế, khu kinh tế mở
Từ đó, có thể xây dựng nên về khái niệm HĐMBHHQT, như sau:
“Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là thỏa thuận mua bán hàng hóa được xác lập bằng văn bản hoặc các hì nh thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm: điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu Trong đó, người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua và nhận thanh toán; người mua có nghĩa vụ thanh toán cho người bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận; hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua, qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam hoặc từ khu phi thuế quan vào thị trường nội địa hoặc từ thị trường nội địa vào khu phi thuế quan.”
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang đầy đủ đặc trưng của hợp đồng mua bán tài sản nói chung Ở đó, có sự thỏa thuận giữa bên bán và bên mua nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ mua bán, theo đó, bên bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản là đối tương của hợp đồng cho bên mua, còn bên mua
có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán giá trị hàng hóa cho bên bán theo thỏa thuận Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ, không có đền bù Đây là điểm đặc biệt của HĐMBHHQT so với các loại hợp đồng được ký kết trong các lĩnh vực
Trang 16Chủ thể tham gia ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các chủ thể của hoạt động kinh doanh quốc tế, có thể là các thể nhân, pháp nhân, trong một số trường hợp nhất định, Nhà nước là chủ thể đặc biệt của quan hệ này Pháp luật của các nước khác nhau thì quy định khác nhau về điều kiện chủ thể tham gia HĐMBHHQT Sự khác biệt về quốc tịch , nơi cư trú hoặc trụ sở thương mại của một bên được coi là yếu tố nước ngoài đối với bên kia và ngược lại Trong một số trường hợp , một trong các bên hoặc các bên có nhiều quốc tịch, nhiều nơi cư trú hoặc nhiều nơi đặt trụ sở thương mại thì trước tiên căn cứ vào sự lựa chọn của các bên trước hoặc tại thời điểm ký kết hợp đồng Nếu các bên không lựa chọn thì quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở thương mại của các bên được xác định khi có căn cứ hợp
lý để cho rằng quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở thương mại có quan hệ gần gũi nhất với hợp đồng và thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, theo pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới thì mọi thương nhân có đủ năng lực tài chính để chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình đều có thể trở thành chủ thể của HĐMBHHQT, không kể thương nhận đó là cá nhân hay pháp nhân Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì chủ thể có quyền tham gia ký kết HĐMBHHQT có sự thay đổi theo từng thời kỳ phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về thương mại theo hướng mở rộng phạm vi chủ thể của HĐMBHHQT Để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thể trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) Luật Thương mại
2005, tại Điều 6 và Điều 3 Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại 2005 về Hoạt động MBHHQT và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài đã mở rộng phạm vi chủ thể có quyền ký kết và thực hiện HĐMBBHHQT bằng việc chỉ hạn chế hoặc cấm ký hết các HĐMBHHQT đối với những mặt hàng thuộc danh mục cấm của Nhà nước, việc ký kết HĐMBHHQT
Trang 17+ Đối tượng của HĐMBHHQT phải thỏa mãn được phép mua bán giữa các thương nhân Việt nam với thương nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt nam và của pháp luật nước ngoài có liên quan
+ Đối tượng của HĐMBHHQT phải xác định, tồn tại thực tế và có thể dịch chuyển được từ nước này sang nước khác hoặc từ thị trường nội địa vào khu chế xuất Điều kiện này tuy không được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật nhưng chúng ta có thể suy ra từ bản chất và đặc điểm của HĐMBHHQT Theo pháp luật thương mại của đa số quốc gia và trong nhiều Điều ước quốc tế như Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán quốc tế, hàng hóa là đối tượng của mua bán hàng hóa được hiểu là bao gồm các loại tài sản có hai thuộc tính cơ bản là: có thể đưa vào lưu thông và có tính chất thương mại Tại Điều 2, CISG 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ loại trừ đối với một số hàng hóa như các hàng hóa dùng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ, ngoại trừ khi người bán, vào bất cứ lúc nào trong thời gian trước hoặc vào thời điểm ký kết hợp đồng, không biết hoặc không cần phải biết rằng hàng hóa đã được mua để sử dụng như thế; tài sản để bán đấu giá, để thi hành luật hoặc văn kiện uỷ thác khác theo luật; các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán đầu
tư, các chứng từ lưu thông hoặc tiền tệ; Tàu thủy, máy bay và các chạy trên đệm không khí; điện năng, hàng hóa được gia công nhưng phần lớn nguyên liệu phục vụ cho việc gia công hàng hóa do người mua cung cấp
+ Đối với mỗi quốc gia, việc trao đổi hàng hóa quốc tế đều ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích cộng đồng Do vậy, mỗi quốc gia đều có quy định về mặt hàng được phép mua bán với thương nhân nước ngoài Tại Việt Nam hàng năm Chính phủ đều
Trang 18lý bằng hạn ngạch (gạo, phân bón, ) hoặc bằng giấy phép xuất nhập khẩu (thuốc chữa bệnh, giống cây trồng, ) khi ký kết HĐMBHHQT phải tuân theo các quy định
cụ thể của Chính phủ về việc xuất nhập khẩu các mặt hàng này Các mặt hàng này chỉ trở thành đối tượng của HĐMBHHQT nếu bên Việt Nam đã xin được hạn ngạnh hoặc giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu Như vậy, hàng hóa để trở thành đối tượng của HĐMBHHQT thì phải được pháp luật của nước bên bán và nước bên mua cho phép mua bán với thương nhân nước ngoài Đồng thời phải là hàng hóa mà doanh nghiệp được phép kinh doanh theo ngành nghề đa dạng ký tại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Đối với các HĐMBHH trong nước, các bên thường sử dụng nội tệ làm đồng tiền thanh toán Trong HĐMBHHQT thì đồng tiền thanh toán cho các bên thỏa thuận nhưng thông thường là ngoại tệ đối với một bên hoặc cả hai bên Tuy nhiên, trong xu hướng hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay, hình thành các khu vực kinh
tế chung, tiêu biểu như Cộng đồng kinh tế châu Âu – EC) thì yếu tố đồng tiền thanh toán không còn nhiều ý nghĩa trong hợp đồng thương mại quốc tế, bởi lẽ các nước trong khu vực cùng sử dụng một đồng tiền chung Euro Theo quy định của Chính phủ về quản lý ngoại hối tại Pháp lệnh ngoại hối thì đồng tiền chung của các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu – EU cũng được coi là ngoại tệ
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng được quy định rất khác nhau trong pháp luật các quốc gia và quốc tế Khi nói đến hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thường có hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất: HĐMBHHQT có thể được ký kết bằng lời nói, bằng
văn bản, bằng hành vi hay bằng bất kỳ hình thức nào khác do các bên tự do thoả
Trang 1911
thuận Các nước theo quan điểm này hầu hết là các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, như Anh, Pháp, Mỹ
Quan điểm thứ hai: HĐMBHHQT phải được ký kết dưới hình thức văn bản
Những nước nêu ra quan điểm này là một số nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam Điều 27 khoản 2 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định:
“Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản
hoặc bằng các hình thức có giá trị pháp lý tương đương” Các hình thức có giá trị
pháp lý tương đương ở đây bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật (điều 3 khoản 15 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005) Bên cạnh đó, khi nói đến hình thức HĐMBHHQT, cũng cần lưu ý đến cái gọi là: “hình thức có giá trị pháp lý tương đương văn bản” như điều 3 khoản
15 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định Thực chất điều này là nói về hình thức của HĐMBHHQT được ký dưới dạng hợp đồng điện tử Điều 33 Luật
Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết
lập dưới dạng thông điệp dữ liệu” Nói cách khác, hợp đồng điện tử là hợp đồng
được ký kết thông qua các phương tiện điện tử như thư điện tử, điện báo, fax, telex, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật Điều này có nghĩa là pháp luật thương mại Việt Nam đã thừa nhận những hợp đồng ký bằng fax, thư điện tử có giá trị pháp lý như ký bằng văn bản là hoàn toàn phù hợp với xu thế kinh tế quốc tế trên thực tiễn hiện nay Vì nhiều lý do khách quan như khoảng cách địa lý, hiệu quả kinh doanh, hoạt động kinh doanh diễn ra với tốc độ liên tục, nhanh chóng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của các bên, mà vẫn đảm bảo sự an toàn trong việc chào hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng giữa hai bên
1.2 Khái quát về giao nhận trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong pháp luật thương mại quốc tế
Giao nhận hàng hoá là quá trình kể từ khi người bán giao hàng đến khi người mua nhận hàng, việc giao nhận hàng hóa luôn gắn liền với việc chuyển quyền sở hữu đối hàng hóa đó Việc giao nhận được coi là hoàn tất khi quyền sở hữu được chuyển cho bên nhận hàng Trong mua bán hàng hóa, quá trình này có thể diễn ra trực tiếp giữa bên mua và bên bán mà cũng có thể có sự tham gia của một bên là người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá: tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho bên nhận
Trang 2012
Song song với nghĩa vụ giao hàng của bên bán là nghĩa vụ nhận hàng của bên mua, theo quy định tại điều 50 Công ước Viên 1980 thì nghĩa vụ nhận hàng của bên mua được thể hiện ở hai hành vi, đó là: sẵn sàng tiếp nhận hàng và tiếp nhận hàng Để thực hiện việc sẵn sàng tiếp nhận hàng, người mua phải tiến hành chuẩn bị mọi cơ sở vật chất như phương tiện bốc dỡ, kho bãi… bố trí người nhận hàng, thông tin cụ thể các vấn đề đó cho bên bán… trước khi bên bán giao hàng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc nhận hàng Khi bên bán đưa hàng đến địa điểm quy định và đặt hàng dưới sự định đoạt của người mua thì người mua phải thực hiện nghĩa vụ của mình là tiếp nhận hàng
Tuỳ theo tính chất của từng loại hàng hoá mà hai bên chủ hàng và vận tải quy ước với nhau trong hợp đồng và ghi vào giấy vận chuyển là giao nhận theo số lượng, trọng lượng, thể tích hoặc vừa số lượng, vừa trọng lượng kết hợp Khi giao nhận hàng hoá, bên bán và bên mua luôn phải tuân theo nguyên tắc “hàng hóa nhận để chở đi theo nguyên tắc nào thì khi trả cũng theo nguyên tắc ấy”, nghĩa là nhận theo
số lượng thì trả theo số lượng, nhận theo trọng lượng thì trả theo trọng lượng…Hàng hoá đóng gói trong thùng, hòm, bao… có gắn xi, kẹp chì, thì khi trả hàng, thùng hòm, bao phải nguyên vẹn, xi, chì không mất dấu Nếu hàng hoá thuộc loại có hao hụt trong thời gian vận chuyển thì ghi rõ tỷ lệ hao hụt vào hợp đồng vận tải và giấy vận chuyển Nếu không thể ghi rõ tỷ lệ hao hụt thì giải quyết theo thỏa thuận giữa hai bên
1.2.1 Chủ thể tham gia giao nhận hàng hóa
Chủ thể tham gia trong hợp đồng mua bán hàng hoá có thể gồm hai bên: bên bán và bên mua hoặc có thể có thêm bên thứ ba trung gian tham gia vào quá trình giao nhận hàng hoá: bên vận tải hoặc thương nhân thực hiện dịch vụ logistic Để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng mang lại lợi ích cho các bên đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ, ngoài những điều khoản quy định quyền và nghĩa vụ do hai bên thoả thuận, các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá phải tuần thủ các quy định bắt buộc theo quy định pháp luật
Trong hợp đồng mua bán hàng hoá, nghĩa vụ cơ bản nhất của người bán là giao hàng đúng đối tượng và chất lượng Bên bán phải kiểm tra chất lượng hàng hóa trước khi giao hàng, nếu hai bên có thỏa thuận trong hợp đồng thì bên bán phải đảm bảo cho bên mua tham dự việc kiểm tra Ngoài ra, theo quy định của pháp luật, bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng, địa điểm, thời gian hoặc thời hạn theo
Trang 2113
thoả thuận Trường hợp có thoả thuận về giao chứng từ liên quan tới hàng hoá, bên bán có nghĩa vụ giao chứng từ cho bên mua trong thời hạn, tại địa điểm và bằng phương thức hai bên thỏa thuận Ngoài ra, bên bán phải đảm bảo tính hợp phát của hàng hoá, hàng hoá không vi phạm sở hữu trí tuệ, không bị tranh chấp quyền sở hữu bởi bên thứ ba Nếu hàng hóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thoả thuận
Theo quy định của pháp luật, trong hợp đồng mua bán hàng hoá bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thỏa thuận và thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng Đồng thời, bên mua có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ cho bên bán theo thời gian và phương thức hai bên thoả thuận Tuy nhiên, bên mua có quyền tạm ngưng việc thanh toán nếu có bằng chứng về việc bên bán lừa dối, hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp, hàng hoá được giao không phù hợp với hợp đồng Trường hợp tạm ngừng thanh toán vì hàng hóa là đối tượng của tranh chấp hoặc hàng hóa giao không phù hợp với hợp đồng mà bằng chứng do bên mua đưa ra không xác thực, gây thiệt hại cho bên bán thì bên mua phải bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
Trong quá trình mua bán hàng hóa, khi bên bán và bên mua không đủ điều kiện để vận tải hàng, đặc biệt với hàng hóa phải vận chuyển ở cự li dài, hai bên có thể sử dụng dịch vụ vận tải thông qua bên thứ ba trung gian: bên kinh doanh dịch vụ vận tải hoặc thương nhân thực hiện dịch vụ logistics Với ngành nghề kinh doanh đặc thù, bên thứ ba sẽ tìm ra cách thức để tiết kiệm thời gian phương tiện di chuyển, thời gian xếp dỡ hàng hóa và thời gian không tác nghiệp vận chuyển do thời tiết, khí hậu hay do sự kết nối các phương tiện vận tải không liên tục…sao cho quả trình vận chuyển hàng hóa từ điểm nhận hàng đến điểm trả hàng nhanh nhất có thể, đồng thời đảm bảo hàng hóa an toàn Thực tế, các doanh hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu ở Việt Nam đang ngày càng phát triển, mở rộng hơn về quy mô và tầm vóc Tuy nhiên, càng phát triển và càng hoạt động sâu trong hoạt động giao thương quốc
tế thì càng nảy sinh nhiều vấn đề vướng mắc, tranh chấp trong HĐMBHHQT Việc
am hiểu và thực hiện hiệu quả Các điều khoản Thương mại quốc tế – Incoterm 2010 của ICC sẽ thuận lợi hơn nhiều cho các doanh nghiệp Theo ông Pavel Andrle Tổng thư ký Ủy ban Ngân hàng của ICC, một trong những chuyên gia hàng đầu về Incoterms 2010, Incoterm 2010 chỉ được áp dụng khi nó trở thành một điều khoản trong các hợp đồng thương mại Tuy nhiên, vì Incoterm 2010 là sự tổng hợp có chọn lọc qua hơn 70 năm từ những chuyên gia hàng đầu thế giới về thương mại
Trang 2214
quốc tế soạn thảo Do đó, hầu hết các hợp đồng thương mại lớn của các quốc gia phát triển đều sẽ áp dụng Incoterm 2010 Đây là bộ quy tắc chuẩn đảm bảo cả quyền lợi của bên nhập khẩu và bên xuất khẩu hay nói cách khác là bên bán và bên mua Công đoạn đàm phán hợp đồng thương mại của các doanh nghiệp sẽ được đơn giản hóa hơn khi sử dụng Incoterm 2010 là điều khoản trong hợp đồng, Incoterms
2010 quy định trách nhiệm của người mua và người bán trong việc giao hàng theo hợp đồng bán hàng cụ thể và rõ ràng hơn các phiên bản trước đây
1.2.2 Phương thức giao nhận hàng hóa
Hiện nay, khi mạng lưới giao thông phát triển, việc giao nhận hàng hoá giữa người mua và người bán có thể lựa chọn nhiều phương thức khác nhau, như: phương thức giao nhận hàng rời; phương thức giao nhận nguyên toa, nguyên hầm; phương thức giao nhận theo thước đo mớn nước … Với mỗi phương thức giao nhận lại có những ưu điểm và nhược điểm riêng, tùy thuộc vào phương tiện vận tải cũng như chủng loại hàng hóa mà các bên lựa chọn phương thức giao nhận cho phù hợp Bên cạnh đó, khi thỏa thuận về phương thức giao nhận các bên phải dựa trên các quy định về giao nhận đối với mỗi loại phương thức vận chuyển, như các quy định về: giao nhận bằng vận tải đường bộ, giao nhận bằng đường thuỷ, giao nhận bằng đường hàng không, giao nhận bằng đường sắt, đường ống
Xuất phát từ thực tiễn giao nhận hàng hóa, khi hiểu rõ đặc tính của loại hàng hóa cũng như điều kiện tự nhiên mà nó phải chịu trong quá trình vận chuyển bằng các loại hình phương tiện vận chuyển như trên, xếp dỡ, giao hoàn chỉnh đến người nhận, vừa đảm bảo cho sự an toàn của hàng hóa nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả kinh
tế cao nhất Mỗi loại mặt hàng có sự quy chuẩn về đóng gói hàng hóa giúp có lợi cho cả người gửi hàng, người vận chuyển và người nhận hàng Do đặc tính và cách thức đóng gói hàng hóa nên có các phương thức giao nhận hàng hóa thường gặp như sau: Giao nhận nguyên bao, kiên, bó, tấm, gậy, cây; nguyên hầm, kẹp chì; theo
số lượng, trọng lượng, thể tích, cân, đo đếm; theo mớn nước; nguyên container niêm chì Vận chuyển hàng hóa trong điều kiện thời tiết xấu và khắc nghiệt gây hư hại một phần hoặc toàn bộ hàng hóa Để bảo vệ quyền lợi của mình trong những trường hợp này, doanh nghiệp cần lưu ý thỏa thuận điều khoản miễn trừ trách nhiệm khi có
sự kiện bất khả kháng xảy ra trong hợp đồng và thỏa thuận này phải phù hợp với quy định của pháp luật áp dụng trong hợp đồng
Trang 23an toàn và trôi chảy thì người xuất khẩu mới thu được tiền và người nhập khẩu mới nhận được hàng Sự phát triển của quan hệ kinh tế quốc tế tất yếu hình thành hoạt TTQT, hoạt động này có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, TTQT được thực hiện chủ yếu bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, thông qua mạng lưới các ngân hàng trong nước, ngân hàng quốc tế
và sự liên kết giữa hệ thống ngân hàng của các nước và các tổ chức tài chính quốc
tế
Thứ hai, TTQT được tiến hành bằng các phương thức thanh toán tiên tiến và hiện đại trên cơ sở phát triển của công nghệ ngân hàng và công nghệ thông tin hiện đại, đảm bảo độ tin cậy và chính xác cao độ
Thứ ba, đồng tiền trong TTQT có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc là ngoại tệ đối với cả hai bên
Thứ tư, TTQT diễn trong bối cảnh có sự khác biệt về luật pháp, tập quán, ngôn ngữ giữa các quốc gia
1.3.1 Chủ thể tham gia thanh toán
Chủ thể tham gia trong HĐMBHHQT chủ yếu là bên mua và bên bán Song song với việc bên bán có nghĩa vụ giao hàng, bên mua có nghĩa vụ thanh toán giá trị hàng hoá nhận được Việc thanh toán của bên mua có thể thực hiện một lần hoặc nhiều lần, trước hoặc sau khi giao hàng theo thoả thuận của hai bên Trong HĐMBHHQT, thông thường bên bán chỉ quy định đơn giản bao gồm giá thanh toán, hình thức thanh toán: chuyển khoản hoặc tiền mặt Để tránh tranh chấp không đáng có, điều khoản về thanh toán trong HĐMBHH nên bao gồm những nội dung
về giá của từng loại hàng hoá, giá bán theo điều kiện giao hàng nào (INCOTERM
Trang 241.3.2 Phương tiện thanh toán
Phương tiện thanh toán quốc tế (Pay Instrument) là công cụ được sử dụng trong việc chi trả tiền lẫn cho nhau Hiện nay, các phương tiện thanh toán đang được sử dụng chủ yếu bao gồm: tiền mặt, hối phiếu, kỳ phiếu, séc và thẻ ngân hàng Trong đó, tiền mặt chủ yếu được thanh toán nội địa, còn trong thanh toán quốc tế được sử dụng rất hạn chế (chủ yếu được dùng trong thanh toán phi mậu dịch); các phương tiện khác được dùng phổ biến trong thanh toán nội địa và quốc tế, trong đó hối phiếu được sử dụng trong thanh toán ngoại thương Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ nào còn phụ thuộc chủ yếu vào thỏa thuận giữa người mua và người bán, pháp luật của từng nước, đặc biệt của giao dịch thương mại và phương thức thanh toán Một số phương tiện thanh toán trong hoạt động MBHHQT chủ yếu hiện nay như hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc ngoài chức năng là phương tiện thanh toán còn thực hiện chức năng và công cụ chuyển nhượng Việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện trong quan hệ công cụ chuyển nhượng quy định tại Luật các công cụ chuyển nhượng, ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/07/2006 và tại Pháp Lệnh Ngoại hối ngày 13 tháng 12 năm 2005 và Pháp lệnh 06/UBTVQH 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối ngày 18 tháng 3 năm 2013
1.3.3 Phương thức thanh toán
Hoạt động MBHHQT làm phát sinh các khoản thu và chi của bên bán ở nước này đối với bên mua ở nước khác nên so với phương thức thanh toán trong HĐMBHH trong nước, phương thức thanh toán trong HĐMBHHQT phức tạp hơn
Trang 2517
bởi vì đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên và việc thanh toán thường liên quan đến nhiều ngân hàng ở nhiều nước khác nhau Trong thực tế thanh toán quốc tế hiện nay, người ta thường chỉ sử dụng ba phương thức thanh toán chủ yếu: phổ biến nhất là tín dụng chứng từ, sau đến là chuyển tiền và một số lượng nhỏ giao dịch sử dụng phương thức nhờ thu Vì đây là ba phương thức thanh toán có nhiều ưu điểm và phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như hoạt động thanh toán quốc tế
+ Phương thức chuyển tiền: Có thể thực hiện bằng thư ( Mail transfer), bằng phiếu
(Draft transfer) hoặc bằng điện báo ( Telegraphic Transfer, gọi tắt là T/T)
+ Phương thức nhờ thu: đây là phương thức thanh toán trong đó người bán nhờ
ngân hàng thu hộ tiền hàng sau khi đã giao hàng cho người mua Có hai phương thức nhờ thu: nhờ thu không kèm chứng từ và nhờ thu kèm chứng từ
+ Phương thức tí n dụng chứng từ: Đây là phương thức thanh toán phổ biến nhất
hiện nay Theo đó, một ngân hàng theo yêu cầu của bên mua sẽ trả tiền cho bên bán hoặc bất cứ người nào theo lệnh của bên bán khi bên bán khi bên bán xuất trình đầy
đủ các yêu cầu trong thư tín dụng Có hai loại thư tín dụng hủy ngang và thư tín dụng không hủy ngang Trong đó, Thư tín dụng không thể hủy ngang có 2 dạng: Thư tín dụng không thể hủy bỏ có xác nhận ( Confirmed Irrevocable L/C), Thư tín dụng không thể hủy bỏ miễn truy đòi (Irrevocable without recourse letter of credit)
1.4 Hệ thống các quy định pháp luật về giao nhận và thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Giao nhận và thanh toán trong HĐMBHHQT có thể được điều chỉnh bởi các nguồn luật sau: luật quốc gia, các án lệ, điều ước và các tập quán quốc tế Việc trụ
sở thương mại của các bên trong HĐMBHHQT nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau không chỉ có nghĩa các bên nằm trên lãnh thổ của các nước khác nhau
mà còn có nghĩa là các bên liên quan đến các hệ thống pháp luật khác nhau Xuất phát từ chủ quyền quốc gia trong công pháp quốc tế, khi một quan hệ (dân sự có yếu tố nước ngoài) liên quan đến bao nhiêu quốc gia thì về nguyên tắc có bấy nhiêu
hệ thống pháp luật đều có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ đó Trong khi đó mỗi một quốc gia trên thế giới có một hệ thống pháp luật riêng của mình và các hệ thống pháp luật đó khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau Từ đó dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật Xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật này hay
Trang 2618
quan hệ pháp luật khác Như vậy, HĐMBHHQT có thể được điều chỉnh bởi pháp luật của các quốc gia khác nhau Xuất phát từ quyền tự do ý chí trong quan hệ hợp đồng, các bên kí kết HĐMBHHQT có thể chọn hệ thống pháp luật để điều chỉnh hợp đồng của mình Tất nhiên việc chọn luật phải thỏa mãn các điều kiện chọn luật,
và trong một số trường hợp quyền chọn luật bị hạn chế bởi quy định của pháp luật quốc gia khi nó liên quan đến các vấn đề chẳng hạn như bảo lưu trật tự công cộng…Trong trường hợp các bên không chọn luật áp dụng cho hợp đồng thì các quy tắc của tư pháp quốc tế được áp dụng để chọn ra hệ thống pháp luật điều chỉnh hợp đồng khi cần thiết
+ Luật quốc gia:
Khi luật quốc gia được các bên lựa chọn là nguồn luật điều chỉnh HĐMBHHQT không có nghĩa là toàn bộ hệ thống luật quốc gia được áp dụng mà chỉ áp dụng những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động MBHHQT nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng Khi pháp luật Việt Nam được áp dụng để điều chỉnh mối quan hệ về HĐMBHHQT thì chủ yếu có Luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 sẽ được áp dụng Ngoài ra còn có những quy định trong luật và các văn bản luật khác liên quan đến MBHHQT thuộc lĩnh vực đặc thù cũng được áp dụng Luật thương mại 2005 quy định cơ bản quyền và nghĩa vụ các bên trong quá trình giao nhận và thanh toán, bên cạnh đó các nội dung về giao nhận và thanh toán còn được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự 2015 với những điều khoản quy định khái quát quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình mua bán tài sản
Trong giao nhận hàng hóa, các phương thức giao nhận hàng hóa khác nhau
sẽ điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành tương ứng Ví dụ: giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không, phương thức giao nhận hàng hóa được điều chỉnh bởi Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 ban hành ngày
29 tháng 06 năm 2006 của Quốc hội và các văn bản dưới luật Với giao nhận hàng hóa quốc tế, việc giao nhận hàng hóa thông thường được thực hiện thông qua tập quán quốc tế được nhiều nước công nhận và được áp dụng ở nhiều nơi, nhiều khu vực, được tổng hợp tại INCOTERMS do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) tập hợp
và soạn thảo
Thanh toán trong quan hệ HĐMBHHQT, được giải thích chi tiết : “Thanh toán quốc tế là hoạt động thanh toán trong đó có ít nhất một bên liên quan là tổ chức hoặc cá nhân có tài khoản thanh toán ở ngoài lãnh thổ Việt Nam.” ; “Tổ chức cung
Trang 2719
ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi là tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán) gồm: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước), ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô và một số tổ chức khác” tại Điều 4 Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định về thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó tại Điều 3 có quy định cụ thể: “Thanh toán bằng ngoại tệ và thanh toán quốc tế phải tuân theo các quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối hoặc các thỏa thuận quốc tế về thanh toán mà Việt Nam tham gia; Trong TTQT, trường hợp pháp luật Việt Nam chưa quy định thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” Đối với TTQT, tùy từng phương thức thanh toán các chủ thể lựa chọn sẽ được điều chỉnh bởi các biểu mẫu quy định về phương thức thanh toán: Phương thức nhờ thu được thực hiện tuân theo những quy định trong Bản quy tắc thống nhất về nhờ thu URC 522, Tín dụng thư L/C được thực hiện tuân theo những quy định trong Bản điều lệ và cách thức thực hành thống nhất về tín dụng thư - UCP 600
Giao- Nhận là hai giai đoạn của một quá trình gắn với hai chủ thể, trong đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng và bên mua có nghĩa vụ nhận hàng Trong quá trình thực hiện giao nhận hàng hóa, pháp luật đưa ra các quy định là cơ sở để hai bên tuân thủ nghĩa vụ và thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong phạm vi công việc Tại Mục II Chương III Luật thương mại 2005, pháp luật đã đưa ra các quy định khá đầy đủ và toàn diện về giao-nhận trong mua bán hàng hóa Luật quy định các nội dung về giao nhận hàng gồm: địa điểm giao hàng, trách nhiệm khi giao hàng có liên quan tới người vận chuyển, thời hạn giao hàng, trong đó giao hàng sớm hoặc muộn hơn so với thời hạn thỏa thuận sẽ xử lý như thế nào, giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, giao hàng không đúng số lượng, giao chứng từ liên quan tới hàng hóa, kiểm tra hàng hóa trước khi nhận hàng, chuyển giao rủi ro hàng hóa, chuyển quyền sở hữu hàng hóa, việc bên bán đảm bảo quyền sở hữu hàng hóa của bên mua sau khi nhận hàng, quyền sở hữu trí tuệ của hàng hóa và nghĩa vụ bảo hành hàng hóa sau khi hai bên đã chấm dứt việc giao nhận hàng
Về thanh toán hàng hóa sau khi nhận hàng, Luật cũng đưa ra các quy định cụ thể nhằm đảm bảo bên bán thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán sau khi nhận hàng cũng như hạn chế những tranh chấp giữa bên bán và bên mua liên quan tới vấn đề thanh toán Cụ thể, Luật Thương mại 2005 quy định bên mua có nghĩa vụ thanh toán sau khi nhận hàng, bao gồm tuân thủ đúng phương thức thanh toán, trình tự,
Trang 2820
thủ tục thanh toán như hai bên đã thỏa thuận, đồng thời bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán trường hợp hàng hóa đã chuyển giao rủi ro từ bên bán sang bên mua trừ trường hợp rủi ro xảy ra với hàng hóa do lỗi bên bán Bên cạnh đó, để tránh những tranh chấp về thanh toán giữa hai bên trong mua bán hàng hóa, luật đã đưa ra các quy định về cách xác định giá trường hợp hai bên không thỏa thuận về giá trong HĐMBHH, xác định giá theo trọng lượng, địa điểm thanh toán, thời hạn thanh toán Ngoài ra, pháp luật còn đưa ra các quy định với chứng từ thanh toán, đồng tiền thanh toán, thanh toán không dùng tiền mặt thông qua các Nghị định, Thông tư, Quyết định Bên cạnh đó HĐMBHHQT có thể được điều chỉnh bởi điều ước quốc
tế, các tập quán thương mại quốc tế, hoặc/và các đạo luật mẫu về hợp đồng thương mại quốc tế Tuy nhiên điều cần nhấn mạnh ở đây là mỗi quan hệ thì chỉ có thể áp dụng một hệ thống pháp luật để điều chỉnh mà thôi Vấn đề cần phải giải quyết là chọn một trong các hệ thống pháp luật để áp dụng điều chỉnh quan hệ đó
+ Điều ước quốc tế:
Trong hoạt động thương mại quốc tế khó có thể tránh khỏi hiện tượng xung đột pháp luật, gây ra các tranh chấp, xung đột trong thực tiễn Vì vậy để tránh các hiện tượng này, các nước thường cùng nhau đàm phán để ký kết các điều ước quốc
tế có liên quan, nhằm thống nhất một số quy tắc pháp luật điều chỉnh các quan hệ này Thống nhất luật thực chất là việc các nước cùng nhau thỏa thuận xây dựng các quy phạm thực chất để điều chỉnh các quan hệ HĐMBHHQT Từ những thập kỷ 20 của thế kỷ XX đã xuất hiện các điều ước thương mại quốc tế, chứa đựng các quy phạm thực chất thống nhất được ký kết và thực hiện như một xu hướng phát triển kinh tế tất yếu của thế giới Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế có một số điều ước quốc tế quan trọng như sau:
Hai công ước Lahay 1964 về mua bán hàng hóa quốc tế động sản hữu hình,
công ước thứ nhất mang tên “ Luật thống nhất về giao kết hợp đồng mua bán quốc
tế động sản hữu hình” ( Convention on Uniform Law on the Formation of Contracts
for the International Sales – ULF) Công ước thứ hai là “ Luật thống nhất về mua
bán hàng hóa quốc tế các động sản hữu hình” ( Convention on Uniform Law on
the International Sales of Goods – ULIS) Hai công ước này trên thực tế rất ít được
áp dụng Hiện nay, các nước gia nhập Công ước Viên 1980 (CISG) đều đã được tuyên bố từ bỏ hai công ước trên Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (United Nation Convention on Contracts for
Trang 2921
International Sale of Goods ) Công ước này được ký tại Viên (Áo) vào ngày 11/04/1980 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1988 CISG được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), trong nỗ lực tạo ra một văn bản thống nhất cho HĐMBHHQT Công ước này là công ước được áp dụng rộng rãi nhất có sức ảnh hưởng nhiều nhất trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế hiện nay Các quy định của công ước thường là khách quan, không gắn với
hệ thống quốc gia nào và có đề cập đến các vấn đề pháp lý thường phát sinh trong thực tiễn mua bán hàng hóa Chính vì thế, nó tạo ra các giải pháp an toàn, công bằng cho các bên trong hợp đồng
+ Khi hợp đồng mẫu quy định:
Trong rất nhiều HĐMBHHQT, để tiết kiệm thời gian, các bên thường chỉ quy định những nội dung cơ bản liên quan đến đối tượng mua bán và giá cả Những nội dung còn lại, các bên thường dẫn chiếu đến hợp đồng mẫu Đây là nguồn luật cũng trở nên ngày càng phổ biến và quan trọng trong việc điều chỉnh Hợp đồng thương mại nói chung và HĐMBHHQT nói riêng và nó có tính chất pháp lý tương đương như các tập quán thương mại quốc tế Tuy nhiên, cần phải phân biệt các hợp đồng do hiệp hội nghề nghiệp soạn thảo và các hợp đồng mẫu được đưa ra bởi các
tổ chức độc lập đối với các bên Hợp đồng mẫu thường được các tập đoàn, công ty buôn bán lớn soạn thảo Ví dụ: Hợp đồng mẫu của ITC về mua bán quốc tế hàng hóa dễ hỏng (The ITC Model Contract for the International Sale of Perishable Goods), Hợp đồng mẫu của ICC về hàng hóa được sản xuất để bán lại (The ICC Model International Sale Contract on Manufactured Goods Intended for Resale) v.v Ngoài ra trong nhiều lĩnh vực, các hiệp hội nghề nghiệp đã soạn thảo các hợp đồng mẫu, ví dụ: hợp đồng mẫu mua bán ngũ cốc ( hợp đồng GAFAT), mua bán dầu ( hợp đồng FOSFA), mua bán cà phê, ca-cao hay bông v.v Các hợp đồng nói trên được soạn thảo với những nội dung phù hợp với từng đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh tương ứng Tuy nhiên, đôi khi các quy định của hợp đồng bị chỉ trích là
có lợi hơn về mặt pháp lý cho các thành viên trong hiệp hội.1
Bên cạnh đó, các hợp đồng mẫu do các tổ chức độc lập soạn thảo, với mục tiêu là cung cấp cho các nhà kinh doanh thực tiễn, các hợp đồng đầy đủ và công bằng cho quyền lợi của các bên Phổ biến nhất là hợp đồng mẫu và các điều khoản
1 Text book International Trade and Business law – Hanoi Law University 2012., tr 874
Trang 3022
do Phòng thương mại quốc tế (ICC) soạn thảo Năm 1985, ICC đã ban hành điều khoản mẫu về bất khả kháng, từ năm 1991, ICC đã xuất bản một loạt các hợp đồng mẫu trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực mua bán hàng hóa Các hợp đồng này có tính chắc chắn và độ tin cậy về mặt pháp lý, do được soạn thảo bởi các chuyên gia trong lĩnh vực có liên quan, và cá quy định của hợp đồng thường không liên quan đến một hệ thống pháp luật quốc gia cụ thể nào Những hợp đồng mẫu này chỉ có giá trị khi được các bên tham chiếu bằng cách chỉ rõ trong HĐMBHHQT rằng quyền và nghĩa vụ của các bên được điều chỉnh bởi hợp đồng mẫu kèm theo Trong trường hợp này, hợp đồng mẫu sẽ có giá trị bắt buộc đối với các bên, nếu trong hợp đồng mẫu có quy định điều khoản về luật áp dụng thì luật đó đương nhiên
sẽ là luật áp dụng cho HĐMBHHQT mà hai bên đã ký kết
+ Lựa chọn tập quán quốc tế về thương mại: tập quán quốc tế về thương
mại có thể là luật áp dụng cho HĐMBHHQT Tập quán quốc tế về thương mại là những quy tắc xử sự về thương mại được nhiều nước áp dụng và áp dụng một cách thường xuyên với nội dung rõ ràng để dựa vào đó các bên xác định quyền và nghĩa
vụ với nhau Thông thường, tập quán quốc tế về thương mại được chia thành ba nhóm:
+ Tập quán có tính chất nguyên tắc: là những tập quán cơ bản, bao trùm
được hình thành trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và luật quốc gia như nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc Ví dụ: Toà án (hoặc trọng tài) của nước nào thì có quyền áp dụng các quy tắc tố tụng của nước đó khi giải quyết những vấn đề về thủ tục tố tụng trong các tranh
chấp về HĐMBHHQT
+ Tập quán thương mại quốc tế chung: là các tập quán thương mại được
nhiều nước công nhận và được áp dụng ở nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới Ví dụ: Incoterms năm 2010 (Các Điều kiện Thương mại Quốc tế) do Phòng Thương mại Quốc tế tập hợp và soạn thảo được rất nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận và
áp dụng trong hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế Hay UCP 600 do ICC ban hành
đưa ra các quy tắc để thực hành thống nhất về thư tín dụng cũng được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng vào hoạt động thanh toán quốc tế
+ Tập quán thương mại khu vực (địa phương): là các tập quán thương
mại quốc tế được áp dụng ở từng nước, từng khu vực hoặc từng cảng Ví dụ: ở Hoa
Kỳ cũng có điều kiện cơ sở giao hàng FOB Điều kiện FOB Hoa Kỳ được đưa ra
Trang 3123
trong “Định nghĩa ngoại thương của Mỹ sửa đổi năm 1941”, theo đó có 6 loại FOB
mà quyền và nghĩa vụ của bên bán, bên mua rất khác biệt so với điều kiện FOB trong Incoterms năm 2000 Chẳng hạn, với FOB người chuyên chở nội địa quy định tại điểm khởi hành nội địa quy định người bán chỉ có nghĩa vụ đặt hàng hoá trên hoặc trong phương tiện chuyên chở hoặc giao cho người chuyên chở nội địa để bốc hàng Tập quán quốc tế về thương mại sẽ được áp dụng cho HĐMBHHQT khi: HĐMBHHQT quy định, các điều ước quốc tế liên quan quy định; Luật thực chất (luật quốc gia) do các bên lựa chọn không có hoặc có nhưng không đầy đủ Tập quán quốc tế về thương mại chỉ có giá trị bổ sung cho hợp đồng Vì vậy, những vấn
đề gì hợp đồng đã quy định thì tập quán quốc tế không có giá trị, hay nói cách khác, hợp đồng mua bán hàng hóa có giá trị pháp lý cao hơn so với tập quán thương mại quốc tế Khi áp dụng, cần chú ý là do tập quán quốc tế về thương mại có nhiều loại nên để tránh sự nhầm lẫn hoặc hiểu không thống nhất về một tập quán nào đó, cần phải quy định cụ thể tập quán đó trong hợp đồng
Khi áp dụng tập quán thương mại quốc tế, cần phải tiến hành phân loại tập quán quốc tế Nếu có tập quán chung và tập quán riêng thì tập quán riêng có giá trị trội hơn: ví dụ: FOB Incoterms năm 2010 là tập quán chung; FOB cảng đến (shipment to destination) của Hoa Kỳ là tập quán riêng nên FOB shipment to destination của Hoa Kỳ sẽ được ưu tiên áp dụng Nếu có tập quán mặt hàng và tập quán ngành hàng thì tập quán mặt hàng sẽ được ưu tiên áp dụng
- Việc thực hiện nghĩa vụ giao nhận và thanh toán trong HĐMBHHQT không chỉ theo các thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa mà còn theo các quy định pháp luật trong nước, quy tắc, các điều ước quốc tế có liên quan
Trang 3224
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ GIAO NHẬN VÀ THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
2.1 Pháp luật về giao nhận hàng hóa trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam
2.1.1 Quy định về điều kiện giao nhận hàng hóa
Trong nền kinh tế toàn cầu, ngày càng có nhiều hàng hóa được lưu thông, mua bán tới các nước khác nhau trên thế giới với số lượng lớn và chủng loại đa dạng hơn Mua bán hàng hóa quốc tế có đặc điểm là hàng hóa được vận chuyển trên quãng đường dài, qua nhiều khâu liên quan đến hải quan, bảo hiểm, ngân hàng, và mang tính rủi ro cao Do vậy, để đảm bảo quyền lợi của mình, các bên thường đàm phán, quy định rất chi tiết, cụ thể trong hợp đồng về các vấn đề về: địa điểm giao hàng, phương thức giao hàng, nghĩa vụ của mỗi bên trong việc gánh chịu rủi ro, chi phí,
Do đó, ICC thấy cần thiết phải đưa ra quy tắc thống nhất để giải thích các điều kiện thương mại, các quy tắc mà hai bên đều có thể chấp nhận và bộ quy tắc Incoterm ra đời (International Commerce Terms – Các điều kiện thương mại quốc
tế ) là một bộ các quy tắc thương mại quốc tế được công nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới Quy định những quy tắc có liên quan đến giá cả và trách nhiệm của các bên ( bên bán và bên mua) trong HĐMBHHQT Đây là quy tắc chính thức của ICC về việc sử dụng các điều kiện thương mại trong nước và quốc tế, tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển Kể từ khi Incoterm được ICC soạn thảo năm 1936, tập quán thương mại quốc tế này thường xuyên được cập nhật để bắt kịp với nhịp độ phát triển của thương mại quốc tế Cho đến nay, Incoterm 2010 đã ban hành và có hiệu lực, nội dung các phương thức giao hàng đã xây dựng nên điều kiện cơ sở giao hàng quy định những cơ sở có tính nguyên tắc của việc giao nhận giữa bên bán và bên mua, những cơ sở đó là:
+ Sự phân chia giữa người bán và người mua trong việc giao nhận hàng, thuê phương tiện vận tải, bốc dỡ hàng, mua bảo hiểm, làm thủ tục Hải quan, thực hiện nghĩa vụ thuế xuất nhập khẩu, và các chi phí trong việc giao nhận hàng ( chi phí vận tải, bốc hàng, dỡ hàng, lưu kho, bảo hiểm, thuế, )
+ Thời điểm chuyển rủi ro hàng hóa từ người bán sang người mua
Trang 33rõ: “ Các bên được lựa chọn tập quán quốc tế trong trường hợp quy định tại khoản
2 Điều 664 của Bộ luật này Nếu hậu quả của việc áp dụng tập quán quốc tế đó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng”, trong đó tại khoản 2 Điều 664 : “Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên” Incoterms là tập quán thương mại
quốc tế nên được coi là pháp luật thương mại quốc tế có thể được viện dẫn để áp dụng Khi áp dụng Incoterms doanh nghiệp cần chú ý đến 4 điểm sau: Incoterms không có giá trị bắt buộc đối với HĐMBHHQT, nó chỉ có giá trị bổ sung cho hợp đồng Do vậy, nó chỉ được áp dụng khi các bên dẫn chiếu đến trong hợp đồng, phải quy định rõ ràng theo Incoterm nào Bản quy tắc này được ban hành lần đầu tiên vào năm 1937 và đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần vào các năm 1953, 1967,
1976, 1980, 1990, 2000, 2010 Incoterms chỉ có giá trị tùy ý, nên ngay cả khi hợp đồng đã dẫn chiếu đến Incoterm, các bên vẫn có thể thỏa thuận với nhau để thay đổi một số nội dung cụ thể nào đó
Những điều kiện giao nhận hàng hóa quốc tế được sử dụng và giải thích thông qua các thuật ngữ trong thương mại quốc tế Đây là các thuật ngữ đã hình thành từ lâu trong thực tiễn buôn bán hàng hóa quốc tế dùng để biểu thị rủi ro, trách nhiệm của các bên đối với việc chịu chi phí vận tải, bảo hiểm và các chi phí khác Việc sử dụng các thuật ngữ này giúp cho quá trình đàm phán và ký kết hợp đồng của các bên diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí Thay vì phải đàm phán một loạt các vấn đề như trên chỉ cần chỉ ra các thuật ngữ sẽ được áp dụng trong hợp đồng Ngoài ra, việc sử dụng các điều kiện mang tính tập quán thương mại quốc tế còn giúp cho văn bản hợp đồng ngắn gọn, súc tích tạo điều kiện thuận lợi cho các bên Sau đây là các điều kiện giao hàng được quy định trong INCOTERM 2010
Trang 3426
Các điều kiên giao hàng dùng cho bất kỳ loại hình vận chuyển nào:
+ EXW (Ex Works) – Giao tại xưởng
+ FCA ( Free Carrier ) – Giao cho nhà chuyên chở
+ CPT ( Carriage Paid To) – Trả cước tới điểm đến
+ CIP (Carriage & Insurance Paid to) – Trả cước và bảo hiểm tới điểm đến + DAT (Delivered At Terminal) – Giao tại bến
+ DAP (Delivered At Place) – Giao tại địa điểm
+ DDP (Delivered Duty Paid) – Giao hàng đã trả thuế
Các điều kiện giao nhận chỉ sử dụng cho vận tải biển hoặc thủy nội địa:
+ FAS ( Free Alongside Ship ) – Giao hàng dọc mạn tàu
+ FOB ( Free On Board) – Giao lên tàu
+ CFR ( Cost and freight) – Giá thành và cước
+ CIF ( Cost, Insurance & Frieght) – Giá thành, bảo hiểm và cước
2.1.2 Quy định về số lượng, chủng loại hàng hóa giao nhận
Khi giao nhận hàng hóa, bên bán cần đảm bảo giao hàng đúng số lượng và chủng loại theo như sự thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng Các quy định tại Điều 35 Công ước Viên 1980 và Luật thương mại Việt Nam 2005 cũng đã đưa ra những quy định tương thích với công ước có tính chất mô tả để các bên xác định hàng hóa được xem không đúng chủng loại khi thỏa mãn một trong những trường hợp tại Điều 39 như : bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng và chất lượng
mà các bên đã quy định trong hợp đồng, đồng thời phải được đóng trong bao bì thích hợp như hợp đồng đã quy định, và phải đảm bảo chất lượng hàng hóa, nếu hợp đồng không quy định cụ thể thì hàng hóa được coi là không đúng quy cách phẩm chất khi: hàng không thích hợp cho các mục đích sử dụng mà các hàng hóa cùng loại thường đáp ứng, hoặc hàng không phù hợp với bất kì mục đích nào mà người bán đã cho người mua biết một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào lúc kí hợp đồng; hoặc hàng không phù hợp với hàng mẫu (trong trường hợp bán hàng theo mẫu) mà bên bán đã cung cấp cho bên mua, hoặc hàng không được đóng trong bao bì theo cách thông thường cho những mặt hàng cùng loại đề bảo vệ hàng đó; Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hoá đó hoặc
Trang 35Đồng thời, theo quy định tại điều 40 Luật thương mại 2005, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, hàng hóa khi được giao không đúng chủng loại được giải quyết như sau: (i) Bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết hoặc phải biết
về những khiếm khuyết đó; (ii) Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, trong thời hạn khiếu nại theo quy định của Luật này, bên bán phải chịu trách nhiệm về bất
kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá đã có trước thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua,
kể cả trường hợp khiếm khuyết đó được phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro; (iii) Bên bán phải chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa phát sinh sau thời điểm chuyển rủi ro nếu khiếm khuyết đó do bên bán vi phạm hợp đồng
Như vậy, trong trường hợp bên mua không biết hoặc không phải biết về bất
cứ khiếm khuyết nào của hàng hóa vào thời điểm giao kết hợp đồng, khi nhận hàng hóa bên mua có quyền nhận hoặc không nhận hàng hóa không đúng chủng loại Nếu không nhận hàng hóa, bên mua có quyền yêu cầu bên bán giao lại tài sản đúng chủng loại hoặc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thưởng thiệt hại Đồng thời theo điều 44 Luật Thương mại 2005, trường hợp trong quá trình giao hàng hai bên có thực hiện kiểm tra hàng hóa, bên bán biết những khiếm khuyết của hàng hóa nhưng không thông báo cho bên mua và bên mua không thể phát hiện những khiểm khuyết của hàng hóa bằng những biện pháp thông thường, sau khi nhận hàng hóa bên mua phát hiện hàng hóa không đúng chủng loại, bên bán phải chịu mọi trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa
Ngoài ra, Luật thương mại 2005 cũng đưa ra quy định về việc khắc phục trong trường hợp giao thiếu hàng và giao thừa hàng Nếu bên bán và bên mua chỉ thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể, nếu bên bán giao thiếu hàng nhưng vẫn trong thời hạn của Hợp đồng thì bên bán có
Trang 3628
thể giao phần hàng còn thiếu mà không phải bổi thường thiệt hại Tuy nhiên nếu việc bên bán giao bổ sung phần còn thiếu gây bất lợi hoặc làm phát sinh chi phí bất hợp lý cho bên mua thì bên bán có trách nhiệm chịu chi phí hoặc khắc phục bất lợi
mà bên mua yêu cầu Trong trường hợp giao thừa hàng, luật thương mại quy định tương tự Bộ luật dân sự, bên mua có quyền nhận hoặc từ chối nhận phần số lượng thừa Trường hợp bên mua chấp nhận số hàng thừa thì phải thanh toán theo giá thỏa thuận trong hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
2.1.3 Quy định về thời hạn/thời gian giao nhận hàng hóa
Trong HĐMBHHQT thời điểm giao nhận hàng hóa có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện hợp đồng Đây được xem là mốc thời gian để xác định các nghĩa vụ tiếp theo của các bên, ảnh hưởng tới tiến độ sản xuất, lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh Thời hạn giao hàng luôn nằm trong kế hoạch kinh doanh của các bên, nên thường được quy định cụ thể trong hợp đồng mua bán Tuy nhiên, đối với HĐMBHHQT, hàng hóa thường phải được vận chuyển trong quãng đường, thời gian dài, chịu ảnh hưởng của nhiều tố khách quan như thời tiết, chính trị, xã hội như vận chuyển đường biển Chính vì vậy, thông thường các bên trong HĐMBHHQT chỉ quy định về thời hạn giao hàng nhất định phù hợp với yêu cầu của các bên, phương tiện vận chuyển và điều kiện giao nhận hàng của các bên và rất hiếm khi ấn định một thời điểm giao nhận cụ thể như với phương thức vận chuyển đường biển Điều này giúp các bên có thể linh động điều chỉnh việc thực hiện giao nhận hàng hóa phù hợp với điều kiện thực tế
Theo quy định Luật thương mại 2005: "Trường hợp các bên không có thỏa
thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng và cần thông báo trước cho bên mua.” Như vậy, nghĩa vụ
giao hàng của bên bán cũng bao gồm cả một số quyền nhất định, đó là quyền giao
“trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng” và phải thông báo cho bên
mua Điều đó cho thấy, trong việc giao hàng, bên bán nắm quyền chủ động nhiều hơn Quy định này cũng phù hợp với tinh thần của Công ước viên 1980 Theo quy định của Công ước, bên bán có thể giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong khoảng thời gian được hợp đồng ấn định hay có thể xác định được khoảng thời gian giao hàng bằng cách tham chiếu vào hợp đồng, nếu như không thể căn cứ vào các tình tiết để biết ngày giao hàng mà người mua ấn định là ngày nào; trong trường hợp khác, bên bán có thể giao hàng trong một thời gian hợp lý sau khi hợp đồng
Trang 3729
được ký kết Cũng theo Công ước, nếu hoàn cảnh cho thấy cần thiết phải để người mua quy định ngày giao hàng thì quyền chủ động này lại thuộc về người mua Theo quy định của Công ước Viên 1980 (điều 33) thì bên bán phải giao hàng trong khoảng thời gian được hợp đồng ấn định hoặc có thể xác định từ hợp đồng vào bất
kì thời điểm nào trong thời hạn đó, trừ phi tình huống cho thấy bên bán (nghĩa là chính bên có nghĩa vụ) phải chọn một ngày khác
Tương ứng với thời gian giao hàng của bên bán là nghĩa vụ nhận hàng của bên mua Trước đây, pháp luật quy định nghĩa vụ nhận hàng của bên mua: Khi một bên từ chối tiếp nhận hàng hóa đã hoàn thành theo đúng hợp đồng thì bên kia có quyền đòi phạt vi phạm hợp đồng, đòi bồi thường các phí tổn bảo quản, chuyên chở
và thiệt hại khác do việc không tiếp nhận gây ra Luật thương mại 2005 tuy không quy định về nghĩa vụ nhận hàng nhưng có thể áp dụng quy định của Bộ luật dân sự
2015 quy định về chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ, theo đó khi bên bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng đúng thời gian, địa điểm, thì bên mua phải có nghĩa
vụ tiếp nhận, nếu bên mua không nhận vào thời điểm đó thì bên bán có nghĩa vụ phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo quản tài sản và có quyền yêu cầu bên mua thanh toán chi phí hợp lý Và thiết nghĩ, hành vi chậm nhận hàng của bên mua cũng phải bị coi là vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, và nếu gây ra thiệt hại cho bên bán thì bên mua phải hoàn toàn chịu trách nhiệm Trong một số trường hợp MBHHQT, bên bán bán giao hàng đến tận cảng dỡ hàng của bên mua, bên bán phải thuê tàu chuyên chở Tuy nhiên, bên mua lại chậm trễ trong việc dỡ hàng có thể do không có phương tiện dỡ hàng, hay do nhiều nguyên nhân khác khiên tàu phải nằm tại cảng dỡ trong nhiều ngày làm bên mua phải chịu phạt dôi nhật ngày tàu rất nặng, gây thiệt hại lớn cho bên bán Chính vì vậy mà trong HĐMBHHQT hiện nay, các thường lồng ghép các điều kiện liên quan đến trách nhiệm về thời gian nhận hàng chậm trễ của bên mua
Nếu trong hợp đồng có thỏa thuận về giao hàng nhiều lần thì các bên nên quy định cụ thể về từng lần giao hàng, nhằm tránh trường hợp không thực hiện việc giao hàng nhưng không thể ràng buộc nghĩa vụ vì không đủ cơ sở pháp lí, nên HĐMBHHQT quy định cụ thể rằng việc giao hàng sẽ được chia bao nhiêu lần, mỗi lần cách nhau bao nhiêu lâu và tổng thời gian (thời hạn) để hoàn tất việc giao hàng
Trang 3830
2.1.4 Quy định về địa điểm giao nhận hàng hóa
Theo quy định tại điều 31 của Công ước Viên 1980 thì bên bán phải giao hàng tại địa điểm mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng Trường hợp các bên không thỏa thuận về địa điểm giao hàng thì: (i) bên bán phải giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên, nếu hợp đồng có liên quan đến sự vận chuyển; (ii) trường hợp khác thì người bán có nghĩa vụ đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của người mua tại nơi sản xuất hàng hóa hoặc tại trụ sở thương mại của người bán tùy vào từng trường hợp cụ thể Quy định về địa điểm giao hàng tại Điều 35 Luật Thương mại
2005 có những điểm tương thích với các quy định tại Công ước như trên, còn Luật Dân sự 2005 thì quy định địa điểm giao tài sản do các bên thỏa thuận Trong HĐMBHHQT thì tùy vào điều kiện giao hàng ( thường được quy định trong INCOTERM) hay loại hình vận chuyển đường biển, hàng không, đường bộ mà các bên có cơ sở xác định địa điểm cụ thể để thuận tiện cho việc hàng giao – nhận hàng hóa Mỗi điều khoản trong INCOTERM đều phải được đi kèm sau một địa điểm cụ thể Ví dụ FOB Hai Phong, EXW Hanoi ( trong trường hợp địa danh rộng, ta có thể ghi: EXW Hoai Duc, Hanoi)
Thông thường địa điểm giao nhận hàng hóa trong HĐMBHHQT thường là các cảng biển, sân bay cụ thể hoặc một địa điểm cụ thể thuận tiện cho việc giao nhận do một bên chỉ định được nêu rõ trong hợp đồng Việc quy định cụ thể địa điểm cảng biển, sân bay, và các điều kiện giao hàng gắn với địa danh nhất định trong HĐMBHHQT ngoài việc để các bên xác định được chính xác nơi tiến hành việc giao nhận hàng hóa, các bên còn phải làm các thủ tục liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa , làm liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế thì các chứng từ liên quan như tờ khai, C/O, L/C, Invoice, Packing List, để làm cơ sở tiến hành các hoạt động trên đều phải ghi chính xác địa điểm tiến hành xếp dỡ, giao nhận hàng hóa
2.1.5 Quy định về chứng từ hàng hóa liên quan đến giao nhận hàng hóa
Đối với các hợp đồng ngoại thương, việc giao chứng từ còn liên quan đến phương thức thanh toán quốc tế, thời điểm nhận được chứng từ có thể không đồng thời với thời điểm nhận hàng hóa Theo quy định tại điều 34 Công ước Viên 1980 thì bên bán có nghĩa vụ giao giấy tờ liên quan đến hàng hóa cho người mua đúng thời gian và thời điểm đã quy định trong hợp đồng Tuy nhiên bên bán có thể giao giấy tờ liên quan đến hàng hóa trước thời gian quy định nếu việc giao giấy tờ đó
Trang 3931
không bất tiện hoặc chi phí cho người mua; trong trường hợp người bán giao giấy tờ cho người mua đã gây thiệt hại cho người mua thì người bán phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Đối với hàng hoá quốc tế, trong quá trình giao nhận hành hoá, chứng từ đi kèm hàng hoá chứng minh xuất xứ, chất lượng hàng hoá được yêu cầu nghiêm ngặt
và đa dạng hơn so với giao nhận hàng hoá nội địa Bên cạnh hoá đơn, chứng từ yêu cầu đi kèm hàng hoá xuất nhấp khẩu còn có chứng từ đóng gói ( packing list), Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá ( Certificate of Original) Trong một số trường hợp, ví
dụ hợp đồng theo điều kiện CIF thì người bán có nghĩa vụ phải giao chứng từ bảo hiểm hàng hoá và chứng nhận chất lượng hàng hoá cho người mua Trong trường hợp hàng hoá là hàng hoá nông sản, thực phẩm thì chứng nhận chất lượng khử trùng
và chứng nhận kiểm dịch thực vật, vệ sinh dịch tễ cũng hết sức quan trọng Ở các nước phát triển Tây Âu, Hoa Kỳ và Nhật các loại chứng từ nói trên lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trong nhiều trường hợp, biên bản giám định hàng hoá tại thời điểm giao hàng cũng được coi là một trong những chứng từ quan trọng mà người bán có nghĩa vụ giao cho người mua.2 Các loại chứng từ chủ yếu trong giao nhận hàng hóa:
+ Certificate of Origin (C/O) – Giấy chứng nhận xuất xứ: là chứng từ do
nhà sản xuất hoặc cơ quan có thẩm quyền (phòng công thương hoặc VCCI) cấp để xác nhận nơi sản xuất hoăc khai thác hàng hóa, C/O sẽ là phương tiện để chủ hàng nhập khẩu có thể hưởng ưu đãi về thuế quan Với chủ hàng xuất khẩu, thì việc xin C/O chỉ là theo quy định trong hợp đồng với người mua hàng nước ngoài Còn về mặt quản lý Nhà nước, giấy chứng nhận xuất xứ có một số vai trò liên quan đến chính sách chống phá giá, trợ giá, thống kê thương mại và duy trì hệ thống hạn ngạch…
+ Giấy chứng nhận chất lượng (C/Q): Là chứng từ xác nhận của hàng thực
giao và chứng minh chất lượng và số lượng hàng hóa phù hợp các điều khoản của hợp đồng Giấy chứng nhận chất lượng có thể do người cung cấp hàng hoặc cũng có thể do cơ quan kiểm nghiệm hàng xuất nhập khẩu cấp, tùy theo thỏa thuận của 2 bên mua và bán
2 Nguyễn Văn May (2016), “Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn thi hành tại tỉnh Sơn La”, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Tr 35
Trang 4032
Có 2 hình thức đối với việc chứng nhận chất lượng hàng hóa là:
Chứng nhận tự nguyện: việc chứng nhận chất lượng hàng hóa phù hợp với
tiêu chuẩn của nước sản xuất hoặc các tiêu chuẩn quốc tế được thực hiện theo yêu cầu của tổ chức/cá nhân
Chứng nhận bắt buộc: Việc chứng nhận chất lượng hàng hóa phù hợp với
tiêu chuẩn được thực hiện theo yêu cầu của cơ quan quản lý của Nhà nước
+ Hợp Đồng Ngoại Thương – Sales Contract
+ Hóa Đơn Thương Mại – Commercial Invoice: là yêu cầu của người bán
đòi người mua phải trả số tiền hàng ghi trên hóa đơn Công dụng của Commercial Invoice:Là trung tâm của bộ chứng từ thanh toán, thể hiện giá trị của hàng hóa và là bằng chứng của sự mua bán trong việc khai báo hải quan Commercial Invoice cung cấp những chi tiết về hàng hóa với hợp đồng và theo dõi thực hiện hợp đồng
Về cơ bản hóa đơn sẽ gồm những nội dung chính sau: Số & ngày lập hóa đơn; Tên, địa chỉ người bán & người mua; Thông tin hàng hóa: mô tả, số lượng, đơn giá, số tiền; Điều kiện cơ sở giao hàng; Điều kiện thanh toán; Cảng xếp, dỡ; Tên tàu, số chuyến…
+ Phiếu Đóng Gói – Packing List: Là bản lược khai tất cả hàng hóa trong
một kiện hàng (thùng hàng, container…) Packing list giúp cho việc kiểm đếm hàng hóa được thuận lợi hơn Về cơ bản sẽ gồm những nội dung chính sau: Số & ngày lập hóa đơn (thường người ta không hay dùng số Packing List); Tên, địa chỉ người bán & người mua; Cảng xếp, dỡ; Tên tàu, số chuyến…;Thông tin hàng hóa: mô tả,
số lượng, trọng lượng, số kiện, thể tích
Như vậy nếu bên Việt Nam bán hàng hóa cho một công ty nước ngoài, phía nước ngoài ( bên nhập khẩu) phải thanh toán cho bên Việt Nam ( bên xuất khẩu) thông qua tài khoản ngân hàng Về chứng từ thanh toán, tùy từng phương thức thanh toán khác nhau mà Ngân hàng sẽ yêu cầu bộ chứng từ khác nhau
2.1.6 Thực tiễn áp dụng pháp luật về giao nhận trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở Việt Nam
Xuất phát từ thực tiễn giao nhận hàng hóa, khi hiểu rõ đặc tính của loại hàng hóa cũng như điều kiện tự nhiên mà nó phải chịu trong quá trình vận chuyển, xếp
dỡ, giao hoàn chỉnh đến người nhận, vừa đảm bảo cho sự an toàn của hàng hóa nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế cao nhất Chính vì vậy, mà người bán hoặc