1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của các ngân hàng thương mại theo pháp luật việt nam và thực tiễn thi hành tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

101 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài Với đề tài: “Kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của các Ngân hàng thương mại theo pháp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM TÚ ANH

KIỂM SOÁT ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ

PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Định hướng ứng dụng

HÀ NỘI – 2018

A

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM TÚ ANH

KIỂM SOÁT ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ

PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

PHẠM TÚ ANH

Trang 4

Em xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Văn Tuyến đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình bổ sung kiến thức và hoàn thành Luận văn này

Trong quá trình thực hiện Luận văn, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn quan tâm

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 31 tháng 8 năm 2018

Tác giả

Phạm Tú Anh

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS Bộ luật dân sự

BVQLNTD Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

ĐKGDC Điều kiện giao dịch chung

Trang 6

MỤC LỤC

Chương 1 KHÁI NIỆM VÀ KHUNG PHÁP LÝ VỀ KIỂM

SOÁT ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG TRONG HOẠT

ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Trang 7

1.1 Khái niệm về kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong

hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng

thương mại

Trang 7

1.1.1 Khái niệm về điều kiện giao dịch chung trong hoạt

động cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng

thương mại

Trang 7

1.1.2 Khái niệm kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong

hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân

hàng thương mại

Trang 16

1.2 Khung pháp lý cho việc kiểm soát điều kiện giao dịch

chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân

của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Trang 19

1.2.1 Sự cần thiết phải xây dựng khung pháp lý cho việc

kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho

vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại

Trang 19

1.2.2 Nội dung cơ bản của khung pháp lý về kiểm soát

điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với

khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại

Trang 23

Trang 7

Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN KIỂM SOÁT ĐIỀU

KIỆN GIAO DỊCH CHUNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO

VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN

HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

VIỆT NAM (AGRIBANK) VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Trang 30

2.1 Thực tiễn thực hiện kiểm soát điều kiện giao dịch chung

trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân

hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

(Agribank)

Trang 30

2.1.1 Thực trạng pháp luật về kiểm soát điều kiện giao dịch

chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân

của ngân hàng thương mại

Trang 30

2.1.2 Những kết quả đạt được trong thực tiễn kiểm soát

điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với

khách hàng cá nhân của Ngân hàng nông nghiệp và phát

triển nông thôn Việt Nam

Trang 40

2.1.3 Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn kiểm

soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối

với khách hàng cá nhân của Ngân hàng nông nghiệp và

phát triển nông thôn Việt Nam

Trang 50

2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát điều

kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách

hàng cá nhân của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Trang 52

2.2.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho việc kiểm soát điều

kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay khách hàng

cá nhân của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Trang 52

2.2.2 Thành lập “Trung tâm bảo vệ người tiêu dùng sử

dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính”

Trang 59

2.2.3 Nhà nước cần tạo cơ chế tăng cường xã hội hóa bảo

vệ người tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ tài chính

Trang 67

2.2.4 Xây dựng và hoàn thiện quy trình giải quyết khiếu nại Trang 67

Trang 8

của khách hàng cá nhân trong nội bộ ngân hàng thương mại

2.2.5 Xây dựng cơ chế kiểm soát thống nhất, chặt chẽ đối

với việc xây dựng, ban hành và áp dụng các điều khoản

giao dịch chung trên toàn hệ thống của chính ngân hàng

thương mại

Trang 70

2.2.6 Tăng cường biện pháp tuyên truyền nhằm nâng cao

nhận thức pháp luật cho người tiêu dùng các sản phẩm dịch

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong suốt 30 năm đổi mới và hội nhập của đất nước, Việt Nam đã từ một trong những nước nghèo và khó khăn nhất thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, tăng trưởng GDP thuộc nhóm tăng trưởng nhanh nhất thế giới từ năm 1990 đến nay, nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực Góp phần không nhỏ trong thành công chung của đất nước, Ngành ngân hàng đã thực hiện mục tiêu tăng trưởng, ổn định kinh tế

vĩ mô, kiểm soát lạm phát thông qua điều hành chính sách tiền tệ: trong từng thời kỳ, trước những diễn biến phức tạp của nền kinh tế, căn cứ định hướng mục tiêu điều hành của Chính Phủ Đặc biệt trong nền kinh tế hiện nay Ngân hàng là một bộ phận không thể thiếu được và nó luôn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với hoạt động chủ yếu là tiền tệ, tín dụng và thanh toán trong đó thanh toán giữ vai trò đặc biệt quan trọng Ngân hàng được coi

là huyết mạch của nền kinh tế, hoạt động của nó bao trùm lên tất cả các hoạt động kinh tế xã hội, đây là hoạt động trung gian gắn liên với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế

Tín dụng được xem như là xương sống của ngân hàng, nó quyết định sự tồn tại phát triển của mọi ngân hàng thương mại (NHTM) Một NHTM chỉ có thể tồn tại và phát triển khi xác định được phạm vi, giới hạn và mức độ tín dụng phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng Đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn và có lãi Mặt khác tín dụng ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến vị thế của ngân hàng Nó là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định vị thế của ngân hàng

Vì những lý do trên, cùng với nhận định là một ngân hàng thương mại lớn nhất cả nước, với mạng lưới Chi nhánh, Phòng giao dịch và số lượng khách hàng lớn, có thực tiễn hoạt động cho vay với khách hàng cá nhân phong phú, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam luôn

Trang 10

định hướng trong thúc đẩy hoạt động cho vay cá nhân, phát triển nông nghiệp, nông thôn Tôi nhận thấy, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nói riêng và các NHTM nói chung luôn cần cẩn trọng đối với việc giao kết hợp đồng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng

cá nhân để đảm bảo sự an toàn không chỉ bởi số lượng khách hàng cá nhân rất lớn mà còn bởi hoạt động cho vay vốn dĩ là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Với xu thế phát triển bùng nổ của các Điều kiện giao dịch chung, Hợp

đồng theo mẫu hiện nay, tôi lựa chọn đề tài “Kiểm soát điều kiện giao dịch

chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của các Ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn” để làm đề tài luận văn cao học

của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại các NHTM, dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, hiện đã có một số nghiên cứu được công bố, tiêu biểu như:

- Luận văn Thạc sĩ luật học “Hợp đồng vay tiền của Hộ gia đình tại

Ngân hàng thương mại” của tác giả Đào Hoàng Thắng, người hướng dẫn

khoa học: PGS.TS Đinh Văn Thanh năm 2006 của Trường Đại học Luật Hà Nội

- Luận án Tiến sĩ luật học “Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng

với thương nhân ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Trọng Điệp, người

hướng dẫn khoa học: TS Lê Thanh Mai, PGS.TS Bùi Nguyên Khánh của Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam

- Luận văn Thạc sĩ luật học “Kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện

giao dịch chung trong giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng” của tác giả Trần Diệu Loan, người hướng dẫn khoa học:

TS.Nguyễn Văn Cương năm 2016 của Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 11

Thực tiễn, những vấn đề liên quan đến pháp luật về kiểm soát điều kiện giao dịch chung về cho vay cá nhân của NHTM hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu cũng như khai thác thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát điều kiện giao dịch chung về cho vay cá nhân tại một

NHTM cụ thể Thực tế đó cho thấy, việc nghiên cứu đề tài “Kiểm soát điều

kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của các Ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn” là khả thi, cần

thiết, hữu ích và có tính ứng dụng cao trên thực tế

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Với đề tài: “Kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho

vay đối với khách hàng cá nhân của các Ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn”, tác giả đi sâu vào phân tích thực trạng pháp luật về kiểm soát

điều kiện giao dịch chung đối với hoạt động vay vốn của khách hàng cá nhân hiện nay ở Việt Nam cũng như những bất cập còn tồn tại, những thiếu sót

và thực tiễn thi hành tại Việt Nam Từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tại Agribank

Nhằm đạt được mục tiêu tổng quát trên, luận văn đặt ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận về Kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của NHTM

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của NHTM ở Việt Nam và thực tiễn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

Việt Nam

Trang 12

- Qua đó đưa ra một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của NHTM ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật hiện hành có liên quan đến hoạt động kiểm soát điều kiện giao dịch chung tại NHTM, trong đó tập trung vào quy định tại các văn bản: Bộ luật dân sự năm 2015; Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật các tổ chức tín dụng năm 2017; Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010; Nghị định 99/2011/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 27/10/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Quyết định 35/2015/QĐ-TTg ngày 20/8/2015 của Thủ tướng Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung; Thông tư 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng

Kết hợp với việc tìm hiểu, đánh giá thực tiễn thi hành các quy định đó tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, luận văn sẽ phân tích những mặt tích cực, hạn chế của những quy phạm pháp luật có liên quan Từ đó, luận văn đưa ra những đánh giá về thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam và đưa ra những kiến nghị, phương hướng góp phần hoàn thiện pháp luật về kiểm soát điều kiện giao dịch chung đối với hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của các NHTM

b) Phạm vi nghiên cứu

Trang 13

- Xét một cách toàn diện, pháp luật về vay vốn cá nhân bao gồm rất nhiều nội dung như: chủ thể tham gia quan hệ nhận vay vốn; quyền và nghĩa

vụ của các bên trong quan hệ vay vốn; thủ tục liên quan đến vay vốn của cá nhân; quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân vay vốn; giải quyết tranh chấp phát sinh;… Tuy nhiên, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về kiểm soát các điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại NHTM và thực tiễn tại Agribank, đánh giá thực trạng những quy định này dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được nghiên cứu và thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật và nhà nước

Phương pháp nghiên cứu và tiếp cận của Luận văn dựa trên nguyên tắc duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đi từ cái chung đến cái riêng, cái cụ thể; khảo sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

So với các công trình nghiên cứu trước đây, luận văn có tính mới, thể hiện ở những điểm sau đây:

- Làm rõ hệ thống những văn bản quy phạm pháp luật, những quy định mới nhất điều chỉnh về Kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại các NHTM

- Đi sâu tìm hiểu từ thực tế, phân tích thực tiễn thực thi những quy định pháp luật về Kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại các NHTM

- Trên cơ sở phân tích những tồn tại, bất cập, luận văn nêu ra một số

Trang 14

kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc Kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại các NHTM

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được chia làm hai chương, cụ thể:

Chương 1: Kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của NHTM theo pháp luật Việt Nam

Chương 2: Thực tiễn thực hiện kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam và một số kiến nghị

Trang 15

Chương 1 KHÁI NIỆM VÀ KHUNG PHÁP LÝ VỀ KIỂM SOÁT ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại

Để hiểu đúng về bản chất của điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của NHTM, thiết nghĩ cần bắt đầu

từ việc làm rõ khái niệm “người tiêu dùng” và khái niệm “khách hàng cá nhân” trong hoạt động ngân hàng, cũng như làm rõ sự tương quan giữa khái niệm “khách hàng cá nhân” với khái niệm “người tiêu dùng” trong pháp luật

về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

* Về khái niệm “người tiêu dùng”

Trong văn bản hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng ban hành năm 1985, sửa đổi năm 1999 dù không đưa ra một khái niệm

rõ ràng về “người tiêu dùng” nhưng trên cơ sở diễn giải của CI (Consumers International), khái niệm người tiêu dùng được cá thể hóa bởi 8 quyền năng

cơ bản bao gồm:

(i) Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản;

(ii) Quyền được an toàn;

(iii) Quyền được thông tin;

(iv) Quyền được lựa chọn;

(v) Quyền được lắng nghe;

(vi) Quyền được khiếu nại và bồi thường;

(vii) Quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng; và

(viii) Quyền được có môi trường sống lành mạnh bền vững

Trang 16

Trong pháp luật nội địa của các quốc gia cũng có sự khác nhau khi quy định về khái niệm “người tiêu dùng” Ở mức độ khái quát, có thể thấy rằng các quy định về vấn đề này thể hiện một số trường phái sau đây:

Thứ nhất, quy định về khái niệm “người tiêu dùng” theo đối tượng:

Điều 1(e) Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Bang Quebec, Điều 1 Luật Bảo

vệ người tiêu dùng và các hành vi kinh doanh của Bang British Columbia

quy định rõ “người tiêu dùng là tự nhiên nhân (thể nhân)” không có quan hệ

mua hàng theo hợp đồng với nhà sản xuất, kinh doanh mà chỉ là người sử dụng và thụ hưởng hàng hóa dịch vụ Khác với luật pháp các quốc gia, nội hàm khái niệm người tiêu dùng lại được làm rõ trong một phán quyết của Tòa án Công lý Châu Âu năm 1991, trong đó cùng với việc bác bỏ đề nghị ghi nhận doanh nghiệp mua sản phẩm, dịch vụ vì mục đích phi lợi nhuận là

một dạng “người tiêu dùng”, khẳng định rõ “người tiêu dùng là bất cứ tự

nhiên nhân (thể nhân) nào…” tại Chỉ thị số 1999/44/EC về mua bán hàng

hóa tiêu dùng và các bảo đảm có liên quan

Thứ hai, quy định về khái niệm “người tiêu dùng” theo mục đích: Luật

bảo vệ người tiêu dùng Đài Loan ban hành ngày 11/01/1994 (bổ sung, sửa đổi

năm 2005) ghi nhận: Người tiêu dùng là “người tham gia vào các giao dịch, sử

dụng hàng hóa hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng”, không phân biệt thể nhân

hay pháp nhân Tương tự, Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Ấn Độ năm 1986

cũng có quy định tại Điều 2 (1d): Người tiêu dùng là bất cứ người nào mua…

hàng hóa… mà không có mục đích để bán lại hoặc vì mục đích thương mại khác và Điều 2(1m) giải thích chữ “người” (nhân) ở đây được hiểu bao gồm:

hãng (doanh nghiệp), cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, tổ chức xã hội Một cách

cụ thể hơn, Luật bảo vệ người tiêu dùng Malaysia năm 1999 ghi nhận các đối

tượng là người tiêu dùng khi tiếp nhận hàng hóa dịch vụ vì mục đích sử dụng

cá nhân, hộ gia đình, không vì mục đích thương mại, sản xuất Pháp luật Việt

Nam cũng lựa chọn phương thức này để điều chỉnh khái niệm người tiêu dùng

Trang 17

Cụ thể, Luật BVQLNTD năm 2010 quy định: Người tiêu dùng là người mua,

sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức.1

Như vậy về cơ bản, khái niệm “người tiêu dùng” trong quan hệ pháp luật tiêu dùng tuy khác nhau về chủ thể là pháp nhân hay thể nhân, nhưng đều

thống nhất về quan điểm là đối tượng thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng vì

nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt riêng, không vì mục tiêu thương mại Người tiêu

dùng không nhất thiết phải là người mua hàng trực tiếp để sử dụng vào mục đích sinh hoạt cá nhân mà có thể là người thụ hưởng gián tiếp hàng hóa, dịch

vụ do người khác mua Ví dụ, người sử dụng hàng hóa, dịch vụ do người trong gia đình mua sắm cũng được coi là người tiêu dùng Quan điểm này tách người tiêu dùng ra khỏi chuỗi phân phối hàng hóa, dịch vụ, chỉ đóng vai trò là điểm cuối cùng và mục tiêu của chuỗi phân phối, đồng thời tạo cơ sở phân biệt quan

hệ pháp luật tiêu dùng với các quan hệ pháp luật thương mại khác

* Về khái niệm “khách hàng cá nhân” trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Cho vay là hoạt động kinh doanh ngân hàng truyền thống và lâu đời nhất của NHTM và thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong tỷ trọng tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro nhất Đây là một hình thức cấp tín dụng mà theo đó NHTM giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi

Theo định nghĩa của nhà làm luật tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng:

“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định

1 Khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

Trang 18

trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”

“Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó”.2

Trên thực tế, khách hàng vay vốn của NHTM có thể bao gồm các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, khách hàng cá nhân và hộ gia đình, trong

đó khách hàng cá nhân và hộ gia đình ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động cho vay của NHTM Các cá nhân và hộ gia đình vay tiền từ NHTM

để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hoặc đầu tư cho mục đích kinh doanh sản xuất của mình Để phù hợp với Bộ luật dân sự 2015, theo quy định tại Thông

tư số 39/2016/TT-NHNN, khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng chỉ bao gồm hai hoại chủ thể là pháp nhân và cá nhân, cụ thể:

(i) Pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam;

(ii) Cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài Xét về phương diện mục đích vay vốn, các khách hàng cá nhân vay vốn NHTM có thể được phân loại như sau:

- Khách hàng vay vốn của NHTM để thỏa mãn nhu cầu đời sống hàng ngày Trong trường hợp này, tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là

cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó Ví dụ: cá nhân vay vốn cho con đi du học, vay tiền để chữa bệnh, vay mua sắm hàng hóa, dịch vụ để tiêu dùng, vay thẻ tín dụng, vay thấu chi thẻ ghi nợ… cũng được xếp vào nhóm này

- Khách hàng vay vốn phục vụ khu cầu sản xuất, kinh doanh Trong trường hợp này, tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng cá nhân nhằm

2 Khoản 1, 4 Điều 2 Thông tư 39/2016/-TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy đinh về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng

Trang 19

đáp ứng nhu cầu vốn của cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp

tư nhân Ví dụ như khách hàng là các hộ nông dân vay vốn sản xuất nông nghiệp, ngư dân vay vốn đóng tàu, chủ hộ kinh doanh vay vốn mở cửa hàng kinh doanh… cũng được xếp vào nhóm này

Như vậy, có thể định nghĩa “khách hàng cá nhân” trong hoạt động cho vay của các NHTM3 là cá nhân giao kết hợp đồng tín dụng với ngân hàng

thương mại nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh

* Về mối tương quan giữa khái niệm “khách hàng cá nhân” với khái niệm “người tiêu dùng” trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trong tương quan với khái niệm người tiêu dùng, chỉ khách hàng cá nhân vay vốn phục vụ mục đích tiêu dùng mới thuộc nội hàm của khái niệm

“người tiêu dùng” theo Luật BVQLNTD 2010, trong khi đó, các khách hàng

cá nhân vay vốn phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh không thuộc phạm vi của khái niệm “người tiêu dùng” và do đó quyền lợi của họ trong giao dịch vay vốn với ngân hàng cũng không được pháp luật về BVQLNTD điều chỉnh, bảo vệ

Từ các định nghĩa trên đây, có thể cho rằng khái niệm “khách hàng cá nhân” trong quan hệ cho vay của NHTM không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm “người tiêu dùng” trong pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Điều này được thể hiện ở một số dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, khái niệm “khách hàng cá nhân” vay vốn NHTM có nội hàm

rộng hơn so với khái niệm “người tiêu dùng” trong pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bởi lẽ: như đã đề cập ở trên, khách hàng cá nhân vay vốn ngân hàng có thể để thỏa mãn nhu cầu kinh doanh hoặc tiêu dùng, trong khi

3 Khoản 3 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

Trang 20

về bản chất thì khái niệm “người tiêu dùng” chỉ liên quan đến việc thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng Đặc điểm này cho thấy chỉ các đối tượng vay vốn để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng là các cá nhân thì mới được coi là “người tiêu dùng” trong quan hệ vay vốn ngân hàng

Không giống như đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác, khách hàng cá nhân thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng song không thường xuyên và chịu sự ảnh hưởng nhiều của môi trường kinh tế, văn hóa – xã hội Chính vì vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân cũng rất khác nhau Xét về khía cạnh thị trường, có thể nhận thấy đây là mảng thị trường đầy tiềm năng đối với các NHTM do khối lượng khách hàng vay vốn là cá nhân thường rất đông và nhu cầu vay vốn của khách hàng cũng có xu hướng ngày càng tăng lên, rất đa dạng nhờ xu hướng hiện đại hóa đời sống tiêu dùng và mức thu nhập của người dân ngày càng tăng Bên cạnh đó, đối tượng khách hàng cá nhân thường mang lại cơ hội đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ phi ngân hàng

và đặc biệt dịch vụ khách hàng cá nhân lại mang tính xã hội hóa cao hơn so với các dịch vụ khách hàng doanh nghiệp do tính đông đảo của đối tượng khách hàng

Thứ hai, khách hàng cá nhân thường có quy mô vay vốn không lớn, do

nhu cầu vay vốn chủ yếu của đối tượng khách hàng này là để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân hoặc hộ gia đình Mặt khác, nhu cầu vay vốn của đối tượng khách hàng cá nhân thường không có tính lặp lại, ví dụ như, họ chỉ mua nhà một lần nên chỉ vay một lần để mua nhà chứ không thể thường xuyên vay tiền của ngân hàng giống như nhu cầu vay vốn lưu động của doanh nghiệp Vì vậy, muốn có hiệu quả thì ngoài việc tăng số lượng khách hàng, NHTM cần xây dựng một hệ thống dịch vụ có tính tích hợp cao, kết hợp việc cung ứng nhiều sản phẩm cho một khách hàng

Thứ ba, việc cung ứng dịch vụ tín dụng cho khách hàng cá nhân thường

Trang 21

phải sử dụng khoa học công nghệ hiện đại Sở dĩ như vậy là bởi vì, các khách hàng của loại dịch vụ này thường không phân bố tập trung trên khu vực địa lý rộng, họ vừa muốn sử dụng các dịch vụ ngân hàng nhưng cũng muốn tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại, họ muốn sử dụng các dịch vụ một cách dễ dàng

và nhanh chóng nhưng yêu cầu chính xác và an toàn Chính vì vậy, dịch vụ khách hàng cá nhân đòi hỏi phải dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại mới có thể đáp ứng được

* Về khái niệm điều kiện giao dịch chung đối với khách hàng cá

nhân trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Khái niệm ĐKGDC lần đầu tiên được định nghĩa trong Luật BVQLNTD 2010 và đến năm 2015 tiếp tục được các nhà làm luật đề cập đến trong BLDS 2015 Thật vậy, lần đầu tiên trong Luật BVQLNTD năm 2010,

nhà làm luật đã đề cập đến khái niệm “ĐKGDC” theo đó: “Điều kiện giao

dịch chung là những quy định, quy tắc bán hàng, cung ứng dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ công bố và áp dụng đối với người tiêu dùng”4

Tiếp tục kế thừa và phát triển khái niệm về điều kiện giao dịch chung trong đạo luật nêu trên về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong BLDS năm

2015 nhà làm luật đã đưa ra định nghĩa về điều kiện giao dịch chung như sau:

“Điều kiện giao dịch chung là những điều khoản ổn định do một bên công bố để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng, nếu bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng thi coi như chấp nhận các điều khoản này”.5

Từ định nghĩa nêu trên về điều kiện giao dịch chung, có thể đưa ra định nghĩa về điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của NHTM như sau:

4 Khoản 5 Điều 4 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

5 Điều 406 Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 22

“Điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại là những điều khoản ổn định do ngân hàng thương mại công bố để áp dụng chung cho khách hàng cá nhân – với tư cách là bên được đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng, nếu bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng thi coi như chấp nhận các điều khoản này”

Có thể khẳng định các định nghĩa nêu trên về điều kiện giao dịch chung trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và Bộ luật dân sự năm

2015 đã cho thấy điều kiện giao dịch chung (trong đó bao gồm các điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của NHTM) có một số đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, điều kiện giao dịch chung có bản chất là những quy định, quy

tắc, điều kiện giao dịch do thương nhân đơn phương ban hành để áp dụng chung cho tất cả các khách hàng của mình (gọi là bên được đề nghị giao kết hợp đồng)

Đây có thể coi là đặc điểm nổi bật nhất của ĐKGDC Những quy tắc, quy định này thường được ban hành một cách đơn phương bởi thương nhân

mà không có bất kỳ sự thương thảo nào giữa thương nhân với những người tiêu dùng – người được đề nghị giao kết hợp đồng với tư cách là khách hàng của thương nhân Vì vậy, có thể nhận thấy ĐKGDC thường thể hiện ý chí độc đoán và áp đặt đơn phương của thương nhân vì mục tiêu dành lấy phần lợi nhuận và an toán pháp lý cho mình, đồng thời mọi bất lợi thường có xu hướng chuyển cho khách hàng gánh chịu

Thứ hai, các điều kiện giao dịch chung thường được áp dụng chủ yếu

cho đối tượng giao dịch là người tiêu dùng Điều này thể hiện ở chỗ, mục đích của thương nhân khi ban hành các ĐKGDC là để tạo điều kiện thuận lợi cho

họ trong quá trình giao dịch với người tiêu dùng Do vậy, đối tượng áp dụng chủ yếu của ĐKGDC là người tiêu dùng Thương nhân khi ban hành các

Trang 23

ĐKGDC không hướng đến các đối tượng khác như các nhà cung cấp nguyên liệu, phụ kiện, các khách hàng lớn mà chủ yếu là để áp dụng cho đối tượng là người tiêu dùng nhỏ lẻ Điều này xuất phát từ thực tiễn kinh doanh của thương nhân khi số lượng người tiêu dùng của họ là quá lớn, không có điều kiện để áp dụng phương thức giao dịch truyền thống là hai bên trực tiếp gặp nhau để đàm phán các điều khoản của hợp đồng dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện Về phương diện này, ĐKGDC sẽ là công cụ quan trọng để cải tiến và hợp lý hóa phương thức bán hàng hiện đại

Thứ ba, các điều kiện giao dịch chung áp dụng cho nhiều người tiêu

dùng và sử dụng nhiều lần trong một khoảng thời gian nhất định Các quy tắc, quy định mà thương nhân ban hành không phải hướng đến một người tiêu dùng nào cụ thể hay một trường hợp nào cụ thể mà nó như một luật riêng mà thương nhân áp dụng cho nhiều người tiêu dùng và sử dụng một cách lâu dài Phương thức bán hàng truyền thông dựa trên cơ sở hợp đồng được giao kết với từng đối tượng theo cách thức khác nhau và các quyền, nghĩa vụ cũng có thể có sự khác nhau trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa thương nhân và người tiêu dùng Tuy nhiên, khi sử dụng ĐKGD, dường như không có bất kỳ

sự phân biệt nào giữa các người tiêu dùng với nhau, hay nói cách khác là các quy tắc, quy định mặc nhiên áp dụng cho tất cả người tiêu dùng khi xác lập giao dịch với thương nhân ĐKGDC được thiết lập dưới nhiều hình thức đa dạng, bao gồm cả hình thức “HĐTM” và “ĐKGDC” như được đề cập trong BLDS 2015 và Luật BVQLNTD

Sự khác biệt giữa HĐTM và ĐKGDC thể hiện ở hai góc độ: (i) HĐTM cần sự tuyên bố ý chí của chủ thể tham gia thông qua việc ký kết hợp đồng còn ĐKGDC chỉ cần sự chấp thuận ý chí và (ii) HĐTM cần xác định chủ thể tham gia còn ĐKGDC không cần xác định chủ thể Theo đó, các ĐKGDC thông thường không nằm ngay trong bản hợp đồng, mà được quy định trong các văn bản riêng miễn là được bên cung cấp dịch vụ công bố công khai

Trang 24

Mặc dù có sự khác biệt giữa khái niệm HĐTM và ĐKGDC theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhưng cả hai khái niệm này đều cùng chỉ đến một hiện tượng khi mà các HĐTM, ĐKGDC do một bên đơn phương soạn thảo hoặc công bố và được sử dụng trên thực tế với đối tác mà không cần có

sự thỏa thuận, mặc cả về nội dung của HĐTM, ĐKGDC đó Bên còn lại không có khả năng đàm phán thay đổi nội dung mà chỉ có khả năng chấp thuận hoặc từ chối điều khoản (take it or leave it)

1.1.2 Khái niệm kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại

Theo nghĩa chung nhất, kiểm soát được hiểu là xem xét một hành vi nào đó có làm theo đúng quy tắc, kỷ luật hay pháp luật không hoặc xem xét

để phát hiện, ngăn chặn những gì trái quy định, bao gồm các hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động nhằm phát hiện sự vi phạm và áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm tối thiểu hóa vi phạm bảo đảm thực hiện các mục tiêu đặt ra

Bên cạnh sự kiểm soát mang tính chất nội bộ trong doanh nghiệp, Nhà nước còn áp dụng những biện pháp kiểm soát đối với điều kiện giao dịch chung thông qua cơ chế hành chính và các cơ chế khác Việc kiểm soát ĐKGDC của các tổ chức, cá nhân kinh doanh được quy định trong Luật BVQLNTD là một trong những cơ chế như vậy Thông qua sự kiểm soát, Nhà nước hướng đến mục tiêu ngăn ngừa nguy cơ các chủ thể kinh doanh lạm dụng quyền áp dụng điều kiện giao dịch chung để gây bất lợi cho khách hàng trong quá trình xác lập giao dịch và thực hiện giao dịch

Xét về phương diện lý thuyết, quá trình kiểm soát này được cấu thành bởi các yếu tố sau:

- Chủ thể kiểm soát: Bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước các cấp về bảo vệ người tiêu dùng (ví dụ: Bộ Công thương; Cục QLCT, Sở Công thương);

Trang 25

- Đối tượng kiểm soát: Bao gồm tổ chức, cá nhân kinh doanh có ban hành các ĐKGDC trong giao dịch với người tiêu dùng;

- Khách thể kiểm soát: Đảm bảo rằng việc thiết lập và thực hiện các ĐKGDC trong giao dịch giữa chủ thể kinh doanh với người tiêu dùng không gây ra các bất lợi cho người tiêu dùng;

- Mục tiêu: bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh: giảm thiểu tranh chấp phát sinh

từ việc giao kết/tham gia ĐKGDC, bảo đảm trật tự chung của toàn xã hội và môi trường kinh doanh lành mạnh, bền vững;

- Cơ chế kiểm soát: (i) tiền kiểm (pháp luật yêu cầu đăng ký ĐKGDC đối với một số hàng hóa, dịch vụ theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trước khi áp dụng với người tiêu dùng); (ii) hậu kiểm đối với những ĐKGDC không thuộc phạm vi phải đăng ký, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền yêu cầu

tổ chức, cá nhân kinh doanh loại bỏ điều khoản vi phạm trong các ĐKGDC trong quá trình áp dụng với người tiêu dùng; (iii) kết hợp giữa tiền kiểm với hậu kiểm, cơ quan có thẩm quyền xét duyệt hồ sơ đăng ký, đồng thời kiểm tra việc áp dụng ĐKGDC đã được chấp nhận trên thực tế

Trong hoạt động cho vay của NHTM, các NHTM cũng có xu hướng ban hành các điều kiện giao dịch chung để áp dụng chung đối với tất cả các khách hàng vay vốn, trong đó có khách hàng vay vốn là cá nhân

Xuất phát từ khái niệm chung mang tính bản chất về kiểm soát điều kiện giao dịch chung đã được phân tích ở trên, có thể đưa ra định nghĩa về kiểm soát điều kiện giao dịch chung đối với khách hàng cá nhân trong hoạt động cho vay của NHTM như sau:

Kiểm soát điều kiện giao dịch chung đối với khách hàng cá nhân trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại là việc Nhà nước sử dụng các biện pháp khác nhau theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng – khách hàng cá nhân trong quan hệ tín

Trang 26

dụng

Ở mức độ khái quát, có thể thấy rằng việc kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM đối với khách hàng cá nhân có một số đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, chủ thể kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động

cho vay của NHTM đối với khách hàng cá nhân là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng (thẩm quyền chuyên biệt) như Bộ Công thương, Sở Công thương, Cục quản lý cạnh tranh (QLCT), Ủy ban nhân dân các cấp, các Bộ, ngành có liên quan (ví dụ: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Đối với các điều kiện giao dịch chung do NHTM ban hành và áp dụng đối với khách hàng cá nhân, cơ quan có thẩm quyền kiểm soát điều kiện giao dịch chung sẽ là các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại (Bộ Công thương, Sở Công thương, Cục quản lý cạnh tranh…) và các cơ quan quản lý nhà nước khác như Ủy ban nhân dân và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Trên thực tế, do có nhiều cơ quan khác nhau cùng tham gia vào việc kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay của NHTM đối với khách hàng

cá nhân nên nhà nước phải quy định rõ ranh giới thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước này như thế nào trong quá trình thực hiện chức năng kiểm soát điều kiện giao dịch chung của NHTM đối với khách hàng cá nhân

Thứ hai, đối tượng kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động

cho vay của NHTM đối với khách hàng cá nhân chính là các NHTM đã và đang hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam Trên nguyên tắc, các NHTM thuộc đối tượng bị kiểm soát điều kiện giao dịch chung bao gồm hội

sở chính và các chi nhánh, văn phòng đại diện hay các đơn vị trực thuộc khác của NHTM đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam có hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân vì mục đích thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng Có quan điểm cho rằng đối tượng kiểm soát điều kiện giao dịch chung là hành vi của chủ thể kinh doanh chứ không phải chính là chủ thể kinh doanh Tuy nhiên,

Trang 27

theo quan điểm của tác giả luận văn thì hành vi luôn gắn liền với một chủ thể nhất định và không tách rời khỏi chủ thể thực hiện hành vi đó nên thực chất việc kiểm soát điều kiện giao dịch chung chính là kiểm soát chủ thể kinh doanh trong quá trình thiết lập và áp dụng các điều kiện giao dịch chung đối với khách hàng

Thứ ba, nội dung kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động

cho vay của NHTM đối với khách hàng cá nhân bao gồm: (i) Đăng ký điều kiện giao dịch chung; (ii) giám sát việc thực hiện các điều kiện giao dịch chung; (iii) yêu cầu sửa đổi hoặc hủy bỏ các điều kiện giao dịch chung không phù hợp với pháp luật và tập quán giao dịch thương mại, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Thực tế cho thấy, mỗi biện pháp kiểm soát nêu trên có thể do các chủ thể khác nhau thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp và tính thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ trong quá trình áp dụng các điều kiện giao dịch chung (trong đó có điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay của NHTM đối với khách hàng

cá nhân) Mặt khác, mỗi biện pháp kiểm soát nêu trên cũng có tác dụng ở mức

độ khác nhau đối với chủ thể kinh doanh nhằm bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng

1.2 Khung pháp lý cho việc kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

1.2.1 Sự cần thiết phải xây dựng khung pháp lý cho việc kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại

Thực tiễn cho thấy việc sử dụng cùng một ĐKGDC cho nhiều giao dịch khác nhau đóng vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí và thời gian đàm phán, qua đó tăng hiệu quả kinh tế của việc giao kết hợp đồng Hơn nữa, việc chuyển từ phương thức giao dịch truyền thống sang phương thức giao dịch

Trang 28

điện tử trong xã hội hiện đại đòi hỏi sử dụng các khuôn mẫu, công thức để các bên cung cấp và tham gia giao dịch (ví dụ việc sử dụng các dịch vụ viễn thông bằng cách nhắn tin theo cú pháp, bấm vào ô “đồng ý” đối với các ĐKGDC sẵn có), đồng thời làm giảm thời gian và chi phí xác lập giao dịch cho chính người tiêu dùng Bên cạnh đó, việc sử dụng ĐKGDC đảm bảo sự bình đẳng giữa các khách hàng với nhau cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng trong việc lựa chọn đơn vị bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông qua việc nghiên cứu các ĐKGDC sẵn có Chính từ những giá trị tích cực này, ĐKGDC đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hiện đại, đặc biệt trong kỷ nguyên số với sự phát triển của thương mại điện tử hiện nay Tuy nhiên, các ĐKGDC cũng tạo ra những thách thức mới đối với lý thuyết truyền thống về hợp đồng vốn được xây dựng dựa trên ý niệm hợp đồng là kết quả của sự thỏa thuận (mặc cả) giữa các bên Việc các ĐKGDC

do một bên “áp đặt” cho bên còn lại, có thể dẫn đến tình trạng làm giảm khả năng của bên kia trong việc đạt tới một thỏa thuận công bằng

Ở Việt Nam, quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế đi liền với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là việc thiết lập khung pháp luật dân

sự làm nền tảng cho nền kinh tế thị trường Để đáp ứng mục tiêu trên, BLDS năm 1995 và sau đó là BLDS năm 2005 được xây dựng trên nguyên tắc nền tảng của luật hợp đồng cổ điển: nguyên tắc tự do hợp đồng Nội hàm cơ bản của nguyên tắc tự do hợp đồng là quyền tự do của các bên trong việc xác lập hợp đồng, lựa chọn đối tác và thiết kế các điều khoản của hợp đồng Chức năng của hợp đồng khi đó là thiết lập các cơ chế hữu hiệu để đảm bảo quá trình giao kết hợp đồng và hỗ trợ thực thi các cam kết thỏa thuận đạt được dựa trên sự tự do ý chí của các bên Nhà nước, thông thường không can thiệp trực tiếp vào nội dung của hợp đồng, bởi vì một khi hợp đồng là kết quả của quá trình tự do thương lượng và thỏa thuận giữa các bên khi có địa vị pháp lý bình đẳng, các điều khoản của hợp đồng được kỳ vọng là kết quả công bằng

Trang 29

cho các bên Nguyên tắc này tiếp tục được thừa nhận là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng trong BLDS năm 2015 Tuy nhiên, khi ĐKGDC được sử dụng, các bên không thực sự có cơ hội thương lượng và thỏa thuận Trên thực

tế không có hoặc có rất ít cơ hội đàm phán, thương lượng các điều khoản hợp đồng cho bên là đối tượng áp dụng ĐKGDC (bên được đề nghị giao kết hợp đồng) Khi đó, ĐKGDC được coi là cơ sở ban đầu để hình thành nội dung của hợp đồng

Về cơ bản, có hai mô hình chủ yếu được áp dụng để lý giải nguyên nhân tại sao cần phải kiểm soát tính công bằng trong hợp đồng mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung, cũng như cần thiết phải hình thành khung pháp lý cho việc kiểm soát điều kiện giao dịch chung, bao gồm: học thuyết về chi phí giao dịch và học thuyết về lạm dụng vị thế

Thứ nhất, học thuyết về chi phí giao dịch

Học thuyết này nhấn mạnh đến bản chất của hợp đồng mẫu hay điều kiện giao dịch chung khi có sự bất cân xứng về chi phí giao dịch (transaction costs) giữa bên ban hành ĐKGDC có thể được sử dụng lặp đi lặp lại cho nhiều giao dịch khác nhau, bên ban hành ĐKGDC có thể phân tán chi phí đầu

tư cho việc soạn thảo hợp đồng Trong khi đó, do chỉ tham gia giao dịch một lần, bên còn lại sẽ không có động cơ để trả chi phí tương ứng với phía bên kia nhằm thu thập những thông tin cần thiết cho quá trình thương lượng hợp đồng Vì nguyên nhân đó, luôn tồn tại sự bất cân xứng về thông tin giữa bên ban hành ĐKGDC và bên đối tác Do đó, việc sử dụng ĐKGDC thường dẫn đến hệ quả là tước đoạt khả năng của một bên (chủ yếu là bên được đề nghị giao kết hợp đồng) trong việc thương thảo nhằm đạt đến một điều khoản công bằng

Bên cạnh đó, vì thiếu thông tin và động cơ để đàm phán từng nội dung của ĐKGDC, phía bên kia mà tiêu biểu là người tiêu dùng sẽ dần dần hình thành tâm lý bỏ mặc, không quan tâm đọc, tìm hiểu nội dung của điều khoản

Trang 30

đó nữa Hậu quả kéo theo của hiện tượng này là, nếu người tiêu dùng không

có thói quen đọc và nghiên cứu ĐKGD, bên cung cấp ĐKGDC càng không có động lực cạnh tranh để thiết kế ĐKGDC tốt hơn, hấp dẫn hơn đối với người tiêu dùng Các doanh nghiệp khác, ban đầu cung cấp các ĐKGDC tương đối tốt nhằm đảm bảo các cơ hội công bằng cho cả hai bên, về sau sẽ dần dần loại

bỏ điều khoản công bằng, thay vào đó là điều khoản bất công cho người tiêu dùng Trong đó, chất lượng ĐKGDC ngày càng giảm đi theo hướng bất lợi cho người tiêu dùng Chính điều đó là lý do tại sao phải có sự kiểm soát từ phía Nhà nước để đảm bảo tính công bằng trong nội dung các ĐKGDC

Thứ hai, học thuyết về lạm dụng vị thế

Học thuyết này dựa trên khái niệm về sự chênh lệch về vị thế thương lượng giữa các bên (inequality of bargaining power) Theo đó, trái với học thuyết về chi phí giao dịch, nguyên nhân sâu xa đằng sau việc kiểm soát tính công bằng của các ĐKGDC không phải nằm ở bản chất của hợp đồng mẫu mà nhấn mạnh đến nhu cầu bảo vệ một nhóm người xác định cụ thể - người tiêu dùng là bên thường được coi là bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng với doanh nghiệp Do có lợi thế hơn về mặt vị thế kinh tế, xã hội và tâm lý, doanh nghiệp thương có khả năng đơn phương áp đặt các điều khoản do mình soạn thảo bất lợi cho người tiêu dùng Các đạo luật về kiểm soát tính công bằng của hợp đồng được thiết kế dựa trên một nguyên tắc mới của luật hợp đồng hiện đại – nguyên tắc bảo vệ bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng.6

Có thể nhận thấy, cả hai học thuyết nêu trên đều tìm cách lý giải sự cần thiết phải kiểm soát ĐKGDC dưới góc độ nhằm hạn chế những mặt tiêu cực trong mối quan hệ giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng Bên cạnh đó, có thể thấy việc kiểm soát còn cần thiết để giúp phát huy những lợi ích mang lại từ việc sử dụng các khuôn mẫu, công thức sẵn có Việc này giúp

6 https://vnbankinglaw.wordpress.com/2015/03/20/69/ và Ewoud Hondius,The Protection of the Weaker Party in Harmonized European Contract Law: A Synthesis, Journal of Consumer Policy 27: 245-251, 2004

Trang 31

gia tăng niềm tin cho người tiêu dùng, đặc biệt khi tham gia giao dịch trên môi trường điện tử, đồng thời giúp thị trường phát triển bền vững trên nền tảng những thỏa thuận cân bằng

Trước những lợi ích mang lại từ việc kiểm soát ĐKGDC, các nhà soạn thảo Luật BVQLNTD Việt Nam nhận định rằng sự can thiệp của nhà nước vào các quan hệ tư này sẽ góp phần ổn định trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích chung của xã hội và trong một chừng mực nhất định tạo ra thế cân bằng trong giao dịch dân sự và giao dịch thương mại

1.2.2 Nội dung cơ bản của khung pháp lý về kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại

Quan hệ tiêu dùng là một loại quan hệ được thực hiện trên cơ sở hợp đồng mua bán, theo đó, người tiêu dùng mua và/hoặc sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của người cung cấp mà không vì mục đích kinh doanh (bán lại) Như vậy, quan hệ tiêu dùng không phải là quan hệ thương mại, được điều chỉnh bởi Luật Thương mại mà chỉ có thể là quan hệ dân sự được điều chỉnh chung bởi Bộ luật dân sự

Là văn bản pháp luật gốc trong đời sống pháp lý dân sự, BLDS yêu cầu phải thiết lập các quan hệ pháp luật dân sư theo các nguyên tắc như tự do thỏa thuận, bình đẳng, thiện chí và trung thực7 Tuy nhiên, tính chất xã hội của quan hệ tiêu dùng là họ luôn buộc phải tham gia vào các mối quan hệ với đặc tính truyền kiếp là “thông tin bất cân xứng” Do đó, người tiêu dùng khó có thể có cơ hội được tự do, bình đẳng thật sự Bên cạnh đó, sự bất cân xứng về thông tin, người tiêu dùng còn có thể phải rơi vào tình trạng mất khả năng mặc cả khi họ buộc phải sử dụng hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp độc quyền

7 Các nguyên tắc này đã từng được ghi nhận tại các điều từ Điều 4 đến Điều 6 BLDS 2005, từ khoản 1 đến khoản 3 Điều 3 BLDS năm 2015

Trang 32

Theo một thành viên Ban Soạn thảo Luật BVQLNTD, những kẻ có thế

và lực mạnh hơn thường hành xử theo xu hướng lạm dụng quyền lực trong quan hệ với kẻ yếu Thêm vào đó, nếu như có có 300% lợi nhuận thì các nhà

tư bản sẵn sang treo cổ mình lên và vì vậy, họ cũng sẵn sàng khuyến mại cho khách hàng và người tiêu dùng những cạm bẫy pháp lý và kỹ thuật và thậm chí còn cả những thứ độc hại Vì lẽ đó, mọi hệ thống pháp luật nhân đạo đều phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu và như thế, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng sẽ như một công cụ hỗ trợ từ bên ngoài quan hệ dân sự để khắc phục những lỗ hổng về khả năng tự do và bình đẳng của người tiêu dùng trong quan hệ với nhà cung cấp để quan hệ dân sự có thể trở lại với đúng nguyên tắc của nó

Cũng cần lưu ý rằng, các lĩnh vực pháp luật khác như pháp luật cạnh tranh, pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm, pháp luật về chất lượng sản phẩm và rộng ra là cả pháp luật dân sự, hình sự đều có thêm mục đích là bảo

vệ người tiêu dùng Tuy nhiên, nếu như những văn bản pháp luật này bảo vệ người tiêu dùng theo phương pháp can thiệp vào hành vi của nhà sản xuất, kinh doanh, cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thông qua những hạn chế hoặc cấm đoán hành vi thì pháp luật bảo vệ người tiêu dùng (với tính cách là một chế định pháp luật độc lập) lại xuất hiện ở phía người tiêu dùng Theo đó, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng sẽ tạo cho người tiêu dùng những khả năng

và cơ hội thuận lợi hơn trong cơ chế điều chỉnh pháp luật quan hệ mua bán (theo luật dân sự) mà một chủ thể pháp luật dân sự thông thường sẽ không có được

Nếu như trong xã hội không xuất hiện quan hệ tiêu dùng như đã trình bày trên đây thì mọi quan hệ dân sự thông thường đều chỉ cần đến sự điều chỉnh của pháp luật dân sự truyền thống Như thế, mọi vấn đề đều được diễn

ra theo đúng những nguyên tắc truyền thống trong việc xem xét, đánh giá và

xử lý các hành vi pháp lý Tuy nhiên, nếu xuất phát từ những phân tích trên đây, sản xuất hàng hóa dẫn đến những người cung cấp sản phẩm, hàng hóa,

Trang 33

dịch vụ chuyên nghiệp và quan hệ tiêu dùng nhất định phải xuất hiện trong xã hội hiện đại Vì vậy, do bản thân quan hệ tiêu dùng luôn tiềm ẩn những ngoại

lệ của nguyên tắc dân sự truyền thống nên việc thiết kế cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng phải tính đến việc thực thi những ngoại lệ trong quan hệ pháp luật dân sự về nội dung và hình thức Hơn thế nữa, do chính pháp luật đã chứa trong mình sự bất công bằng (do phải dùng cùng một thước đo để áp dụng cho mọi hiện tượng cụ thể khác nhau trên thực tế) nên việc áp dụng những ngoại

lệ của cơ chế áp dụng pháp luật dân sự đối với người tiêu dùng là xuất phát từ nhu cầu nội tại của chính hiện tượng pháp luật để thiết lập sự công bằng pháp

lý trên thực tế Điều này cũng từng được thể hiện trong quan hệ pháp luật lao động

Từ những điều trên đây cho thấy, việc áp dụng những hiện tượng điều chỉnh pháp luật mang tính đặc thù và ngoại lệ trong cơ chế điều chỉnh pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là nhu cầu khách quan mà không chỉ nhân đạo và điều này không là “đổ vỡ nền tảng của pháp luật dân sự” – như đã có sự lo lắng Điều này khẳng định được bởi lẽ, thứ nhất là không có nguyên tắc nào

mà không có ngoại lệ mà ngoại lệ này đã được luận chứng như trên; và thứ hai là khi áp dụng những ngoại lệ pháp lý (về nội dung và hình thức trong cơ chế dân sự) thì những ngoại lệ này một mặt chỉ áp dụng trong quan hệ tiêu dùng và đối với người tiêu dùng và mặt khác, những vấn đề khác thuộc về pháp luật nội dung và hình thức trong lĩnh vực dân sự và những lĩnh vực pháp luật khác (như đất đai, tài chính…) mà không được phát triển để trở thành

“ngoại lệ” thì giữ nguyên giá trị điều chỉnh quan hệ tiêu dùng

Từ đây, có thể rút ra hệ quả là khung pháp luật cho việc kiểm soát điều kiện giao dịch chung nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hiểu theo nghĩa tổng quát là một hệ thống pháp luật có liên quan đến nhau mà đạo luật riêng

rẽ về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chỉ có giá trị tiên phong

Qua tìm hiểu về các quy định bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói

Trang 34

chung trong hệ thống pháp luật, có thể thấy mô hình cấu trúc về chế định kiểm soát ĐKGDC bao gồm những nội dung cơ bản sau:

(i) Định nghĩa về điều kiện giao dịch chung;

(ii) Đối tượng bị kiểm soát điều kiện giao dịch chung;

(iii) Cơ quan kiểm soát điều kiện giao dịch chung;

(iv) Cơ chế kiểm soát điều kiện giao dịch chung;

(v) Phạm vi kiểm soát điều kiện giao dịch chung;

(vi) Quy định về chế tài xử lý trong trường hợp vi phạm quy định về điều kiện giao dịch chung

Ngoài ra, việc thiết kế và áp dụng các điều kiện giao dịch chung trong quan hệ cho vay đối với khách hàng cá nhân của NHTM còn cần tuân thủ các quy định đặc thù sau:

Thứ nhất, quy định về hình thức của hợp đồng giao kết với người tiêu

dùng trong quan hệ cho vay của NHTM Về vấn đề này, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã có những quy định cụ thể như:

“1 Hình thức hợp đồng giao kết với người tiêu dùng được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự

2 Trường hợp giao kết hợp đồng với người tiêu dùng bằng văn bản thì ngôn ngữ của hợp đồng phải được thể hiện rõ ràng, dễ hiểu

Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng là tiếng Việt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

3 Trường hợp giao kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử thì tổ chức,

cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải tạo điều kiện để người tiêu dùng xem xét toàn bộ hợp đồng trước khi giao kết

4 Chính phủ quy định chi tiết các hình thức giao kết hợp đồng khác với người tiêu dùng”8

8 Điều 14 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

Trang 35

Cụ thể hóa quy định nêu trên của Điều 14 Luật BVQLNTD năm 2010, Nghị định số 99/2011/NĐ-CP có quy định các nội dung này như sau:

“Hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải được lập thành văn bản và phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

1 Ngôn ngữ sử dụng bằng tiếng Việt, nội dung phải rõ ràng, dễ hiểu;

“1 Điều khoản của hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, điều kiện

giao dịch chung không có hiệu lực trong các trường hợp sau đây:

a) Loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ đối với người tiêu dùng theo quy định của pháp luật;

b) Hạn chế, loại trừ quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng; c) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương thay đổi điều kiện của hợp đồng đã thỏa thuận trước với người tiêu dùng hoặc quy tắc, quy định bán hàng, cung ứng dịch vụ áp dụng đối với người tiêu dùng khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ không được thể hiện cụ thể trong hợp đồng;

d) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương xác định người tiêu dùng không thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ;

đ) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định

9 Vấn đề này được quy định tại Điều 7 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP

10 Xem thêm: Điều 16 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

Trang 36

hoặc thay đổi giá tại thời điểm giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

e) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ giải thích hợp đồng trong trường hợp điều khoản của hợp đồng được hiểu khác nhau;

g) Loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ trong trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông qua bên thứ ba;

h) Bắt buộc người tiêu dùng phải tuân thủ các nghĩa vụ ngay cả khi tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không hoàn thành nghĩa vụ của mình;

i) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho bên thứ ba mà không được người tiêu dùng đồng ý

2 Việc tuyên bố và xử lý điều khoản của hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, điều kiện giao dịch chung không có hiệu lực được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự”

Trang 37

Kết luận chương 1

1 Từ những lợi ích mà ĐKGDC mang lại như giảm chi phí và thời gian đàm phán, phù hợp với giao dịch điện tử, đảm bảo sự bình đẳng giữa các khách hàng, ĐKGDC đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hiện đại Trong quan hệ cho vay đối với khách hàng cá nhân của các NHTM, việc kiểm soát ĐKGDC không chỉ là tuân thủ quy định của pháp luật, trách nhiệm của NHTM với cơ quan quản lý nhà nước về kiểm soát, đăng ký, mà còn là bài toán đặt ra để các NHTM tự kiểm soát rủi ro cho chính mình với loại hình khách hàng chiếm phần lớn thị trường tiếp cận của họ

2 Hành lang pháp lý của việc kiểm soát ĐKGDC đối với khách hàng

cá nhân trong hoạt động cho vay của NHTM bao gồm những nhóm quy định về: Định nghĩa ĐKGDC, đối tượng bị kiểm soát, cơ quan kiểm soát; phạm vi kiểm soát và các quy định về chế tài xử lý trong trường hợp vi phạm Quy định chung về kiểm soát ĐKGDC trong thời gian vừa qua đã phát huy những

ưu điểm và cũng đồng thời bộc lộ những hạn chế, bất cập của pháp luật dấn đến kết quả chưa được như mong đợi, đặc biệt là cơ chế xử lý vi phạm và nguồn lực triển khai Đồng thời, với xu hướng phát triển trong nước và quốc

tế như hiện nay, trong tương lai, cơ chế hiện hành sẽ đối mặt với những yêu cầu thay đổi của xã hội

Trang 38

Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN KIỂM SOÁT ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG

CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM (AGRIBANK) VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 2.1 Thực tiễn thực hiện kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)

2.1.1 Thực trạng pháp luật về kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại

Trước hết, cần khẳng định rằng khung pháp luật về kiểm soát điều kiện giao dịch chung trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của NHTM đã thể hiện những thành công vượt trội trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và khách hàng cá nhân nói riêng trong quan hệ vay vốn tại NHTM

Việc kiểm soát ĐKGDC đã một phần giải quyết được những vấn đề về quan hệ đối với các khách hàng cá nhân nói chung và quan hệ đối với khách hàng cá nhân trong hoạt động cho vay của các NHTM, cụ thể như sau:

Thứ nhất, khung pháp luật về kiểm soát điều kiện giao dịch chung đã

góp phần loại bỏ các điều khoản chưa tuân thủ đúng quy định pháp luật trong ĐKGDC của các tổ chức tín dụng, công ty tài chính Điều này đã từng được minh chứng qua thực tiễn kiểm soát điều kiện giao dịch chung tại một số tổ chức tín dụng đang hoạt động hợp pháp ở Việt Nam, trong đó nhiều tổ chức tín dụng đã thiết kế các điều kiện giao dịch chung không tuân thủ pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ví dụ như: Điều kiện giao dịch chung của HSBC – hợp đồng thẻ, HĐ thẻ của Agribank, trong đó quy định việc lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Tòa án nơi bên A đặt trụ sở Chính quy định này

Trang 39

trong điều kiện giao dịch chung đã tạo nên tình trạng bất công bằng cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng và do đó cần được sửa đổi lại thành điều khoản giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Thứ hai, khung pháp luật về kiểm soát điều kiện giao dịch chung đã

góp phần giảm thiểu tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức tín dụng, công ty tài chính trong quá trình cung cấp các dịch vụ ngân hàng, từ đó nâng cao niềm tin của người tiêu dùng và uy tín của NHTM trong hoạt động kinh doanh

Thật vậy, trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, số lượng tranh chấp giữa khách hàng và các tổ chức tín dụng là rất lớn, thường có tính dây chuyền và

có sức lan tỏa lớn do lặp đi lặp lại đối với nhiều khách hàng, tại nhiều tổ chức tín dụng và được truyền thông rộng rãi Nếu tranh chấp xảy ra liên quan đến các điều khoản tại ĐKGDC đối với 01 khách hàng, khả năng điều khoản đó tại ĐKGDC mà ngân hàng đã sử dụng với các khách hàng khác cũng dẫn đến tranh chấp, bùng nổ, làm ảnh hưởng đến uy tín hoạt động của ngân hàng

Thực tế cho thấy mặc dù phần lớn các tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay giữa NHTM với khách hàng đều đã được giải quyết thông qua thương lượng giữa hai bên hoặc thông qua con đường tài phán (tố tụng tòa án hoặc tố tụng trọng tài) nhưng trong số đó có một số tranh chấp liên quan đến các điều kiện giao dịch chung đã được NHTM công bố (ví dụ như: điều kiện giao dịch chung về tính phí giao dịch, tính lãi quá hạn hay các khoản tiền phạt… trong quan hệ tín dụng giữa NHTM với khách hàng) Bởi vậy, việc loại bỏ các điều khoản không rõ ràng hoặc chưa phù hợp quy định pháp luật không những hạn chế những tranh chấp riêng lẻ mà còn góp phần ổn định mối quan hệ giữa ngân hàng và người tiêu dung nói riêng cũng như trật tự xã hội nói chung đồng thời nâng cao uy tín của doanh nghiệp, niềm tin của người tiêu dùng khi giao kết hợp đồng với NHTM

Thứ ba, khung pháp luật về kiểm soát ĐKGDC đã góp phần giúp cho

Trang 40

hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng diễn ra lành mạnh, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội Riêng đối với các NHTM chú trọng vào khách hàng cá nhân, việc kiểm soát ĐKGDC đối với khách hàng cá nhân tạo được sự ổn định về nguồn thu, đảm bảo doanh thu, lợi nhuận và sự tăng trưởng, phát triển bền vững, cạnh tranh lành mạnh của các NHTM nói riêng

và của các tổ chức tín dụng nói chung

Bên cạnh những ưu điểm và thành công trên đây, khung pháp luật hiện hành về kiểm soát điều kiện giao dịch chung đã và đang bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập chủ yếu sau đây:

Một là, khung pháp luật về kiểm soát điều kiện giao dịch chung vẫn

chưa thực sự khắc phục được tình trạng bất công bằng về quyền lợi giữa bên đưa ra điều kiện giao dịch chung với khách hàng của họ (bên được đề nghị giao kết hợp đồng theo các điều kiện giao dịch chung) Nói cách khác, việc kiểm soát điều kiện giao dịch chung vẫn chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn của Nhà nước trong việc nỗ lực theo đuổi mục tiêu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và khách hàng cá nhân nói riêng trong quan hệ vay vốn tại các NHTM trong điều kiện nền kinh tế thị trường

Sở dĩ có sự bất cập trên đây là bởi vì: Pháp luật BVQLNTD ra đời là do trong quan hệ với thương nhân, NTD chịu sự “bất cân xứng” về vị thế Sự bất cân xứng này thể hiện ở 5 điểm như sau: (a) thông tin; (b) tài chính; (c) năng lực đàm phán; (d) năng lực chịu rủi ro và (e) khả năng tiếp cận pháp luật Khách hàng cá nhân vay vốn sản xuất, nhất là các nông hộ, ngư dân… cũng chịu tác động của 5 điểm bất cân xứng thông tin kể trên Cụ thể là:

- Bất cân xứng về thông tin Trong quan hệ tiêu dùng, bất cân xứng về thông tin là sự bất bình đẳng giữa các chủ thể của thị trường như người bán, người mua Giữa các chủ thể tham gia thị trường thì việc trông chờ những người bán, cung cấp dịch vụ tự nguyện cung cấp thông tin, minh bạch khả năng và hoạt động của mình là sự duy ý chí Họ chỉ làm điều đó khi nhà nước

Ngày đăng: 30/07/2019, 19:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w