Trên thực tế mà tác giả ghi nhận được thì các cơ quan chức năng của Việt Nam hiện nay cũng đang gấp rút tiến hành rà soát nhằm hướng tới việc cân nhắc sửa đổi, bổ sung pháp luật về hợp đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
BÙI THỊ MINH TRANG
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI PHÙ HỢP VỚI NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM
BÙI THỊ MINH TRANG
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI PHÙ HỢP VỚI NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
BÙI THỊ MINH TRANG
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI PHÙ HỢP VỚI NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM
2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Hồng Hạnh
HÀ NỘI –2017
- -
BÙI THỊ MINH TRANG
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI PHÙ HỢP VỚI NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Hồng Hạnh
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất ký công trình khoa học nào Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Bùi Thị Minh Trang
Trang 4Đặc biệt, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Lê Hồng Hạnh
người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Bùi Thị Minh Trang
Trang 5MỤC LỤC
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 7
Chương 1 Một số khía cạnh lý luận về hợp đồng thương mại
8
1.1 Khái quát chung về hợp đồng thương mại 8
1.1.3 Hợp đồng thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa thương
mại
16
1.2 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng thương mại 18
1.3 Bộ luật Dân sự 2015 với tư cách là nguồn của hợp đồng
thương mại
22
1.3.1 Các quy định của Bộ luật Dân sự là nền tảng của hợp đồng
thương mại – Quan hệ luật chung và luật chuyên ngành
22
Trang 61.3.2 Ảnh hưởng của các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 đối
với hợp đồng thương mại
25
Chương 2 Những quy định mới của Bộ luật Dân sự 2015 về hợp
đồng và ảnh hưởng của chúng đối với hợp đồng thương mại
31
2.1 Những quy định mới về ký kết hợp đồng 31
2.2 Những quyết định mới về điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng và thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng
34
2.3 Những quy định mới về thực hiện hợp đồng 42
2.4 Những quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Chương 3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
thương mại đảm bảo tương thích với Bộ luật Dân sự 2015
55
3.1 Sự cần thiết phải đảm bảo sự tương thích của các qui định
về hợp đồng thương mại với nền tảng chung của quan hệ hợp
Trang 73.1.2 Khắc phục những mâu thuẫn trong việc điều chỉnh quan hệ
hợp đồng thương mại với các quan hệ hợp đồng khác
59
3.1.3 Nâng cao hiệu quả của hợp đồng thương mại trong việc điều
chỉnh các quan hệ thương mại đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế
58
3.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định về hợp đồng thương
mại
59
3.2.2 Hoàn thiện quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
thương mại và thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng thương
mại
60
3.2.4 Hoàn thiện quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, hợp đồng luôn là một công cụ quan trọng, được sử dụng rộng rãi nhằm phục vụ nhu cầu và lợi ích khác nhau của các tổ chức, cá nhân
trong xã hội Trong hầu hết các Bộ luật Dân sự cổ điển, hợp đồng “chiếm một
vị trí trung tâm và được chế định với dung lượng lớn nhất so với các chế định khác” do “vai trò trung tâm của nó đối với trật tự thị trường…”1 Chính vì vậy, pháp luật về hợp đồng cũng trở thành một bộ phận quan trọng trong đời sống dân sinh do khả năng tạo nền tảng pháp lý cho việc cưỡng chế thực hiện những cam kết giữa các bên chủ thể giao kết hợp đồng Và đây cũng là lĩnh vực được đặc biệt quan tâm trong khoa học pháp lý ở nhiều nước trên thế giới; các nhà khoa học luật nói chung và các nhà làm luật nói riêng đều có xu hướng muốn tìm hiểu và hoàn thiện mảng pháp luật này nhằm bảo vệ thoả đáng lợi ích của các bên tham gia giao kết hợp đồng Đồng thời ở nhiều nước phát triển trên thế giới, pháp luật về hợp đồng được coi là kiến thức cơ bản và tối thiểu mà các luật gia phải có2
Nếu như khoa học về luật hợp đồng đóng vai trò quan trọng đến như vậy trong đời sống dân sinh thì khoa học về hợp đồng thương mại cũng đóng vai trò tương tự trong các hoạt động thương mại Trong xu thế tất yếu của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế như hiện nay, giao lưu thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển và hợp đồng thương mại ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình, trở thành công cụ pháp lý chủ yếu để các nhà kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của mình
1
Reinmann, Mathias & Reinhard Zimmermann (2006), The Oxford Handbook of Comparative Law, Oxford,
p 900
2 Nguyễn Thị Ánh Vân (chủ nhiệm đề tài, 2014), Đề tài khoa học “Nghiên cứu so sánh các quy định chung
trong LHĐ của một số nước trên thế giới”, Hà Nội, tr 1
Trang 9Ngày 24 tháng 11 năm 2015, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 thay thế Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 và
bộ luật này được đánh giá là bộ luật có nhiều điểm tiến bộ không chỉ về tư duy pháp lý, về cấu trúc mà còn cả về nội dung nhằm xây dựng một nền tảng pháp lý thống nhất cho hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam; đặc biệt trong số
đó có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về chế định hợp đồng Với tư cách là luật gốc (luật chung) của hệ thống pháp luật tư, những thay đổi của Bộ luật Dân sự 2015 cần phải được tôn trọng và có những sự thay đổi để phù hợp từ các luật chuyên ngành khác, trong đó có pháp luật thương mại nói chung và pháp luật về hợp đồng thương mại nói riêng
Trên thực tế mà tác giả ghi nhận được thì các cơ quan chức năng của Việt Nam hiện nay cũng đang gấp rút tiến hành rà soát nhằm hướng tới việc cân nhắc sửa đổi, bổ sung pháp luật về hợp đồng thương mại, mà cụ thể là có
sự chỉnh sửa đối với các quy định của Luật Thương mại 2005 về hợp đồng thương mại cho phù hợp với các quy định mới về hợp đồng trong Bộ luật Dân
sự 2015
Trong bối cảnh đó, cá nhân tác giả cho rằng việc nghiên cứu vấn đề:
“Hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng thương mại phù hợp với
những quy định mới về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015” là rất cần thiết và là một đóng góp về mặt khoa học pháp lý quan trọng
dành cho các cơ quan chức năng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các vấn đề khoa học pháp lý cũng như thực tiễn về hợp đồng nói chung cũng như hợp đồng thương mại nói riêng luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học
Trang 10Đầu tiên, tác giả muốn nhắc tới một số công trình nghiên cứu nổi bật liên quan đến những quy định mới trong Bộ luật Dân sự 2015 nói chung và các quy định mới về chế định hợp đồng nói riêng:
- Kỷ yếu hội thảo “Những nội dung sửa đổi Bộ luật Dân sự của Cộng
hòa Pháp về nghĩa vụ và hợp đồng” (2016)
Trong cuốn kỷ yếu này, các tác giả chuyên đề đã phân tích những quy định mới của Bộ luật Dân sự 2015 nhằm có sự so sánh đối chiếu với những quy định tương tự của Cộng hòa Pháp trong bối cảnh mà cả Việt Nam và Cộng hòa Pháp đều có những đổi mới đáng kể trong các quy định về hợp đồng trong luật dân sự
- Ngô Quốc Chiến (2016), “Những điểm mới của pháp luật Việt Nam
liên quan đến hợp đồng có yếu tố nước ngoài”, Tạp chí Luật sư Việt Nam,
(09)
Phân tích những quy định mới liên quan đến hợp đồng có yếu tố nước ngoài, lĩnh vực mà các tác giả cho rằng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chính sách hội nhập kinh tế của Việt Nam
- Dương Quỳnh Hoa (2016), “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh
thay đổi trong Bộ luật Dân sự 2015”, Tạp chí Luật sư Việt Nam, (09)
Bài viết đã nêu khái niệm về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi; điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trong pháp luật Việt Nam; một vài góp ý hoàn thiện các quy định của pháp luật về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi
- Dương Anh Sơn (2017), “Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn theo Bộ
luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (03)
Bài viết làm rõ một số điểm chưa hợp lý trong quy định của Bộ luật Dân
sự 2015 về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn ở 2 nội dung: nhầm lẫn là điều kiện
Trang 11yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý khi hợp đồng dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
- Nguyễn Thùy Trang (2017), “Bình luận về các biện pháp xử lý vi
phạm hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Khoa học pháp lý,
(03 (106))
Tác giả của bài viết này không sử dụng thuật ngữ "trách nhiệm dân sự"
mà thay bằng “biện pháp xử lý vi phạm hợp đồng" Bởi lẽ, mục "trách nhiệm dân sự" trong Bộ luật Dân sự 2005 và 2015 không đề cập "phạt vi phạm",
"đơn phương chấm dứt hợp đồng", "hủy bỏ hợp đồng" khi xảy ra vi phạm nghĩa vụ/hợp đồng Bên cạnh nghiên cứu "buộc thực hiện đúng hợp đồng" hay "bồi thường thiệt hại", tác giả còn nghiên cứu một số biện pháp khắc phục vừa liệt kê trên; biện pháp xử lý hay trách nhiệm dân sự được áp dụng khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
Tác giả nhận thấy các bài báo tạp chí trên hầu như chỉ phân tích và tập trung vào điểm mới về một khía cạnh nào đó liên quan đến chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015 Ngoài các công trình nêu trên thì còn có các cuốn sách bình luận khoa học về Bộ luật Dân sự 2015 hoặc bình luận điểm mới của
Bộ luật Dân sự, nhưng các cuốn sách đó đều phân tích về tổng thể cấu trúc và nội dung của toàn bộ Bộ luật Dân sự 2015 mà không đi sâu vào phân tích riêng về những điểm mới trong chế định hợp đồng Như vậy, số lượng công trình phân tích tổng thể những điểm mới cơ bản về chế định hợp đồng trong
Bộ luật Dân sự 2015 vẫn còn hạn chế và mới chỉ dừng lại ở mức độ kỷ yếu của một cuộc hội thảo
Bên cạnh đó những công trình nghiên cứu về hợp đồng thương mại thì cũng có rất nhiều công trình Tuy nhiên những công trình này thường đã được xuất bản từ trước thời điểm Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực, tức là sự bình luận, so sánh với các quy định mới về hợp đồng của Bộ luật Dân sự 2015 là
Trang 12không có được Gần đây nhất có thể kể đến một công trình là cuốn sách
chuyên khảo “Luật Kinh tế” do TS Nguyễn Thị Dung (chủ biên) được xuất bản năm 2017, trong đó có một chương mang tên “Tổng quan pháp luật về
hợp đồng trong thương mại và đầu tư ở Việt Nam” có thể được coi là công
trình có những nội dung tương đối tổng thể về hợp đồng thương mại được xuất bản sau thời điểm Bộ luật Dân sự 2015 ra đời Tuy nhiên, do dung lượng tương đối hạn hẹp (chỉ bó gọn trong vòng một chương của một cuốn sách viết
về rất nhiều chế định pháp luật khác nhau) thế nên những phân tích của cuốn sách chỉ dựa trên Luật Thương mại 2005 là chủ yếu, rất ít có sự liên hệ với những điểm mới trong Bộ luật Dân sự 2015
Tựu chung lại, có thể thấy rằng đề tài “Hoàn thiện quy định pháp luật
về hợp đồng thương mại phù hợp với những quy định mới về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015” tiếp cận các quy định về “hợp
đồng thương mại” và những điểm mới về chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015 ở mức độ tập trung và có cách tiếp cận mới hơn các công trình khác trong bối cảnh mà Bộ luật Dân sự 2015 được ban hành hơn hai năm và
có hiệu lực chưa đầy một năm
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu đầu tiên của tác giả đó là mong muốn phân tích những điểm mới cơ bản của Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng Cụ thể ở đây là tác giả muốn phân những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 mà theo nhận định của tác giả là có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến pháp luật về hợp đồng thương mại Thông qua đó để có thể đưa ra những giải pháp hoàn thiện quy định về hợp đồng thương mại (nhấn mạnh vào việc sửa đổi, hoàn thiện Luật thương mại 2005) cho phù hợp với Bộ luật Dân sự 2015
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trang 13Dựa trên mục tiêu nghiên cứu ở trên thì tác giả xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm hai đối tượng chủ yếu:
- Thứ nhất là quy định của pháp luật thương mại về hợp đồng thương mại
- Thứ hai là các quy định mới của Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng, bao gồm các quy định liên quan đến các giai đoạn khác nhau như giai đoạn kí kết hợp đồng, giai đoạn thực hiện hợp đồng hay giai đoạn chấm dứt hợp đồng…có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến pháp luật về hợp đồng thương mại
Về phạm vi nghiên cứu của luận văn thì tác giả không có tham vọng phân tích hết toàn bộ những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng
mà chỉ tập trung vào những điểm mới nổi bật, có thể có ý nghĩa quan trọng với pháp luật chuyên ngành (cụ thể ở đây là với luật thương mại), đồng thời cũng sẽ chỉ tập trung phân tích pháp luật về hợp đồng thương mại dưới mối tương quan so sánh với luật dân sự chứ không thể phân tích sâu và bao quát hết mọi vấn đề của luật thương mại về hợp đồng thương mại
5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu được tác giả sử dụng trong luận văn bao gồm phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh luật học
- Phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ các quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại
- Phương pháp tổng hợp được thực hiện dựa trên các kết quả thu được từ phương pháp phân tích nhằm giúp tác giả có được một sự hiểu biết khái quát
về đối tượng cần nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử được tác giả sử dụng nhằm tìm hiểu lịch sử phát triển của chế định hợp đồng cũng như chế định hợp đồng thương mại như thế nào qua các giai đoạn lịch sử
Trang 14- Phương pháp so sánh luật học được tác giả sử dụng kết hợp cùng phương pháp lịch sử nhằm chỉ rõ được những điểm mới nổi bật của Bộ luật Dân sự 2015, giúp tác giả đánh giá tính nổi trội của các điểm mới này, thông qua đó có thể có được những đề xuất hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương mại
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về mặt khoa học, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích với các sinh viên, các nhà nghiên cứu quan tâm đến những điểm mới của Bộ luật Dân
sự 2015 về hợp đồng, đồng thời cũng cung cấp thêm một công trình khoa học nghiên cứu về hợp đồng thương mại trong bối cảnh mới
Về mặt thực tiễn, đây sẽ là một ý kiến đóng góp có giá trị khoa học cao dành cho các nhà lập pháp trong quá trình hoàn thiện quy định pháp luật thương mại, mà cụ thể là quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Thương mại 2005 đang được tiến hành
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Một số khía cạnh lý luận về hợp đồng thương mại
Chương 2: Những quy định mới của Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng
và ảnh hưởng của chúng đối với hợp đồng thương mại
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương
mại đảm bảo tương tích với Bộ luật Dân sự 2015
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ KHÍA CẠNH LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về hợp đồng thương mại
1.1.1 Khái niệm hợp đồng thương mại
Chế định hợp đồng là một trong những nội dung nền tảng của luật dân
sự, được hình thành từ rất sớm và dần được hoàn thiện theo thời gian Tuy nhiên, trong lịch sử lập pháp của nhân loại, để tìm ra một thuật ngữ chính xác như thuật ngữ “hợp đồng” đang được sử dụng trong pháp luật hiện hành của
hầu hết các nước là việc không dễ dàng Các luật gia cho rằng thuật ngữ hợp
đồng (contractus) được hình thành từ động từ contrahere trong tiếng La-tinh,
có nghĩa là “ràng buộc” và xuất hiện lần đầu tiên ở La Mã vào khoảng thế kỉ
V – IV TCN3 Tuy nhiên mãi đến thế kỉ thứ I SCN, người La Mã mới chính
thức sử dụng thuật ngữ “contractus” trong luật và quan hệ hợp đồng được
pháp luật công nhận, được bảo vệ dưới thời Hoàng đế Justinian4 Sau này các nước phương Tây đã kế thừa và phát triển quan niệm pháp lý từ thời La Mã
và đã sử dụng chính thức thuật ngữ “hợp đồng” – trong tiếng Anh là
3
Wiez, W Wolodkie và M Zabocka, dịch giả Lê Nết (1999), Luật La Mã, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 162 -163 trích trong tài liệu: “Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân
sự Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội”
4 Nguyễn Ngọc Đào (1994), Luật La Mã, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 81
Trang 16thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định5
Bộ luật Dân sự 2015 đã cụ thể hóa khái niệm “hợp đồng” theo nghĩa chủ
quan bằng quy định tại Điều 385: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Quy định
của Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 là sự kế thừa từ Điều 388 Bộ luật Dân sự
2005 nhưng đã lược bỏ đi từ “dân sự” sau từ “hợp đồng”6
Việc Bộ luật Dân
sự 2005 sử dụng thuật ngữ “hợp đồng dân sự” đã dẫn đến cách hiểu cho rằng các quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng chỉ áp dụng đối với các quan hệ dân sự theo nghĩa hẹp mà không áp dụng đối với hợp đồng trong thương mại, hợp đồng đầu tư, hợp đồng kinh doanh bảo hiểm… Thực tế, một số luật chuyên ngành như Luật Thương mại, Luật Đầu tư có những quy định về hợp đồng nhưng không quy định về khái niệm nghĩa vụ, khái niệm hợp đồng, giao kết và thực hiện nghĩa vụ, thực hiện hợp đồng do những vấn đề này đã được quy định trong Bộ luật Dân sự và cần được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự Để thể hiện vai trò của các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự là quy định chung về các dạng hợp đồng trong các lĩnh vực khác nhau,
Bộ luật Dân sự 2015 đã bỏ từ “dân sự” trong các khái niệm hợp đồng và trong các quy định cụ thể về hợp đồng7
Chính vì thế định nghĩa về hợp đồng của
Bộ luật Dân sự 2015 được coi là có sự tiến bộ rất lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng thống nhất pháp luật đồng thời có tính khái quát cao, phản ánh đúng bản chất của hợp đồng
5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 2), NXB Công an nhân dân, Hà
Nội, tr 111 – 112
6
Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
7 Bùi Minh Hồng (2016), Giới thiệu những nội dung mới chủ yếu của Bộ luật Dân sự 2015, Hà Nội, tr 18
Trang 17Về lý luận, hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân
sự Nhưng điều đáng tiếc nhất đó là pháp luật trong lĩnh vực thương mại hiện nay chưa đưa ra được một khái niệm chung nhất về hợp đồng thương mại Và
ngay cả khái niệm “hợp đồng thương mại” cũng là một khái niệm mà hiện
nay chúng ta đang sử dụng một cách tương đối bởi nếu nói một cách chính xác thì phải gọi nó là hợp đồng trong thương mại hay hợp đồng trong hoạt động thương mại
Trước đây, trong Điều 1 của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế được ban hành ngày 25 tháng 9 năm 1989 của Hội đồng Nhà nước đã nhắc đến khái niệm
“hợp đồng kinh tế” Theo quy định này thì hợp đồng kinh tế được định nghĩa
là “sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên kí kết về việc
thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình” Quy định này là một cơ sở để có thể phân định
giữa hợp đồng kinh tế với các hợp đồng khác, đặc biệt là hợp đồng dân sự Tuy nhiên, khái niệm hợp đồng kinh tế không được ghi nhận tại Luật Thương mại năm 1997 được Quốc hội thông qua ngày 10 tháng 5 năm 1997, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1998, mà thay vào đó thì các nhà lập pháp lại hướng tới việc định nghĩa hoạt động thương mại, thông qua đó để có quy định
về hợp đồng thương mại – với tư cách là hình thức pháp lý cho các giao dịch trong hoạt động thương mại Và bởi vì các quy định về hoạt động thương mại trong Luật Thương mại 1997 về hoạt động thương mại chỉ gói gọn trong ba
loại hoạt động: (1) mua bán hàng hóa; (2) cung ứng dịch vụ thương mại và
(3) các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm
8 Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại 1997
Trang 18hợp đồng thương mại cũng khá hẹp Đồng thời, tinh thần của Luật Thương mại 1997 về hoạt động thương mại cũng thể hiện sự không tương thích với quy định của pháp luật quốc tế về hoạt động thương mại9
Khắc phục những nhược điểm trên, Luật Thương mại năm 2005 – Luật
số 36/2005/QH11 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, có hiệu lực từ ngày
01 tháng 01 năm 2006 đã quy định rộng hơn đối với hoạt động thương mại
bằng việc nhấn mạnh đặc điểm của hoạt động thương mại là “hoạt động vì
mục đích sinh lợi”; sửa đổi hoạt động “cung ứng dịch vụ thương mại” thành
hoạt động “cung ứng dịch vụ” đồng thời bổ sung hoạt động “đầu tư” và “các
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” ngoài ba loại hoạt động thương mại
đã kể đến trong Luật Thương mại 1997 trước đây10
Có thể nói, Luật Thương mại 2005 đã có cách tiếp cận “thông thoáng” hơn trong việc mở rộng phạm vi của hoạt động thương mại và căn cứ xác định bản chất pháp lý của hoạt động thương mại11
Sự ra đời của Luật Thương mại 2005 là sự khởi đầu hình thành một khái niệm mới trong thực tiễn hoạt động kinh doanh – khái niệm “hợp đồng thương mại” Nếu như trước ngày 1/1/2006, các hợp đồng mang yếu tố tài sản được phân biệt thành hai loại: hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế, theo đó thì các hợp đồng không phải hợp đồng kinh tế được coi là hợp đồng dân sự, nhưng từ khi Luật Thương mại 2005 có hiệu lực thì đã không còn hợp đồng kinh tế12, thay vì thế chỉ có một khái niệm “hợp đồng” được quy định trong
Bộ luật Dân sự và hợp đồng thương mại là một hình thức của hợp đồng nói
Trang 19chung đó, nó vẫn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2005 trước đây và Bộ luật Dân sự 2015 hiện nay
Trong khoa học pháp lý, cũng có ý kiến cho rằng không nên sử dụng khái niệm “hợp đồng thương mại” do lo ngại dẫn đến hệ quả không cần thiết,
đó là sự mất công tìm kiếm điểm khác biệt giữa hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự, song trong thực tiễn kinh doanh, khái niệm này vẫn được sử dụng khá phổ biến với ý nghĩa là “hợp đồng trong thương mại” Có thể thấy rằng, khái niệm “hợp đồng thương mại” vẫn tồn tại trong đời sống kinh tế, pháp lý với nghĩa là hợp đồng hình thành trong lĩnh vực thương mại13
Trong mỗi lĩnh vực của hoạt động thương mại thì các chủ thể có thể xác lập những hợp đồng trong từng lĩnh vực khác nhau như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng trong lĩnh vực đầu tư hay hợp đồng dịch vụ… Mặc dù pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về hợp đồng thương mại, tuy nhiên hợp đồng thương mại là một trong các loại hành vi pháp lý cơ bản và mang tính phổ biến trong giao dịch của đời sống xã hội, nhất là đối với các thương nhân, và trước hết chúng ta phải thấy nó là một loại hợp đồng theo khái niệm hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự
2015 Chỉ khác rằng, từ nhận thức đến ý chí và đi đến hành động của thương nhân trong quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại là một quá trình mang tính logic và có giá trị to lớn để đảm bảo rằng mục đích cao nhất trong hợp đồng thương mại là lợi nhuận tối ưu của các bên sẽ được thực hiện trên thực tế
Từ góc độ đó, tác giả đề xuất một cách hiểu về hợp đồng thương mại dựa
trên cách hiểu về hợp đồng hiện nay theo Bộ luật Dân sự 2015: “Hợp đồng
thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên (trong đó có ít nhất một bên tham
13 Nguyễn Thị Dung (chủ biên, 2012), “Kiến thức pháp lý và kĩ năng cơ bản trong đàm phán, soạn thảo và ký
kết Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại”, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr 8
Trang 20gia là thương nhân) về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện các hoạt động thương mại”
Cách định nghĩa này vừa phù hợp với định nghĩa của Bộ luật Dân sự
2015 về hợp đồng, lại nêu lên được những đặc điểm riêng của hợp đồng thương mại so với các loại hợp đồng khác đó là đặc điểm về chủ thể và đặc điểm về mục đích của hợp đồng
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại về mặt bản chất cũng là một loại hợp đồng nên nó cũng cần đáp ứng những đặc điểm cơ bản của hợp đồng như: có sự bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các bên; việc giao kết, thực hiện, chấm dứt hay hủy bỏ quyền, nghĩa vụ của các bên dựa trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận và không được trái với điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, không xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; các bên tham gia hợp đồng cần có sự thiện chí và trung thực và phải tự chịu trách nhiệm nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng
Nhưng bên cạnh đó, hợp đồng thương mại cũng cần phải có những đặc điểm riêng biệt để phân biệt nó với các loại hợp đồng khác như:
- Thứ nhất là đặc điểm về chủ thể của hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại là thỏa thuận giữa các bên nhưng điểm đặc biệt ở đây là ít nhất một bên trong đó là thương nhân Ít nhất một bên tức là hợp đồng thương mại có thể được kí kết giữa hai bên chủ thể là thương nhân hoặc
có thể được kí kết giữa một bên thương nhân với một bên chủ thể không phải
là thương nhân
Theo khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005 thì thương nhân bao gồm:
(1) “tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp” và (2) “cá nhân hoạt động
thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh” Như
Trang 21thế, quy định của Luật Thương mại 2005 đã xóa nhòa sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân với tư cách là nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài cần đáp ứng các quy định về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và năng lực hành vi thương mại đều có thể trở thành một bên chủ thể của hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại có thể có cả hai bên là thương nhân như hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại…; tuy nhiên, cũng có thể chỉ cần một bên có tư cách pháp nhân, bên còn lại không phải là thương nhân, ví dụ hợp đồng trong lĩnh vực đầu tư như hợp đồng BOT, BTO… thì một bên chủ thể bắt buộc là cơ quan nhà nước có thẩm quyền (không phải là thương nhân) hoặc các hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hóa… thì bên có nhu cầu sử dụng dịch vụ không nhất thiết phải là thương nhân14
- Thứ hai là đặc điểm về mục đích của hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý của các giao dịch trong hoạt động thương mại, mà đặc điểm nổi bật nhất của hoạt động thương mại theo
quy định của Luật Thương mại 2005 là “mục đích sinh lợi”, chính vì thế một
đặc điểm nổi bật của hợp đồng thương mại đó là mục đích sinh lợi Mục đích sinh lợi ở đây được ghi nhận bằng lợi nhuận mà các bên có thể đạt được khi thực hiện hợp đồng không chỉ về vật chất, tài sản mà còn bao gồm cả những lợi ích phi tài sản khác như uy tín, thương hiệu doanh nghiệp hay niềm tin của khách hàng15
14 Nguyễn Thị Dung, tlđd chú thích 9, tr 462
15 Nguyễn Thị Dung, tlđd chú thích 9, tr 464
Trang 22Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, có một bên chủ thể của hợp đồng lại không có mục đích lợi nhuận khi tham gia hợp đồng Pháp luật để điều chỉnh các hợp đồng này sẽ do bên không có mục đích lợi nhuận lựa chọn17, khi đó không phải đương nhiên pháp luật thương mại được áp dụng mà còn phải do
sự lựa chọn của chủ thể tham gia hợp đồng Quy định như vậy là do đối với các thương nhân khi họ tham gia vào một hợp đồng thương mại với mục đích sinh lợi thì rõ ràng là họ đang thực hiện một hoạt động thương mại, nên họ sẽ không thể có sự lựa chọn nào khác ngoài việc chịu sự điều chỉnh của pháp luật thương mại Nhưng ngược lại, với bên chủ thể tham gia hợp đồng không
vì mục đích lợi nhuận thì hành vi của họ được coi là một hành vi dân sự hơn
là một hoạt động thương mại Dựa trên thực tế rằng, các quy định của pháp luật thương mại về hợp đồng thương mại thường “khắt khe” hơn các quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng nói chung, thế nên để đảm bảo cho quyền
và lợi ích hợp pháp của bên chủ thể không vì mục đích lợi nhuận thì cho phép
họ là người chọn luật áp dụng Chỉ khi họ chọn luật thương mại thì lúc đó pháp luật thương mại mới điều chỉnh hợp đồng này
- Thứ ba là đặc điểm về hình thức của hợp đồng thương mại
Trong Luật Thương mại 2005 không có một điều khoản riêng biệt nào quy định về hình thức của hợp đồng thương mại mà quy định về hình thức hợp đồng nằm rải rác trong quy định về từng loại hợp đồng thương mại cụ thể Nhìn chung hình thức của các loại hợp đồng thương mại do các bên lựa chọn trong ba hình thức: (1) văn bản và các hình thức có giá trị tương đương văn bản như điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác18
; (2) lời nói và (3) hành vi cụ thể Quy định này nhìn chung khá tương tự với
17 Khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại 2005
18 Khoản 15 Điều 3 Luật Thương mại 2005
Trang 23quy định về hình thức của hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015, tức là nhìn chung quy định về hình thức của hợp đồng thương mại không khác gì với hình thức của hợp đồng nói chung
Tuy nhiên, để đảm bảo nâng cao tính chặt chẽ của hợp đồng, lợi ích của các bên và hạn chế những rủi ro có nguy cơ xảy ra, đối với một số loại hợp đồng thương mại, pháp luật thương mại quy định hình thức của hợp đồng bắt buộc phải được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương, ví dụ như đối với hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa hay hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu
tố nước ngoài19…
1.1.3 Hợp đồng thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa thương mại
Việt Nam đã gia nhập ASEAN vào tháng 7/1995, ký kết Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa ỳ (BTA) vào năm 2000, gia nhập WTO vào tháng 01/2007 và tham gia tám Hiệp định thương mại tự do (FTA) khu vực và song phương Cụ thể, ta đã cùng với các nước ASEAN ký các Hiệp định thương mại tự do giữa khối ASEAN với các đối tác như Trung Quốc vào năm 2004, với Hàn Quốc vào năm 2006, Nhật Bản vào năm 2008,
c và New ealand vào năm 2009, n Độ năm 2009 Ngoài ra, ta đã ký hai FTA song phương là FTA Việt Nam - Nhật Bản năm 2008 và FTA Việt Nam
- Chi-lê năm 2011
Hiện nay, Việt Nam cũng đang tích cực tham gia đàm phán 6 FTA khác, gồm Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA với Liên minh châu u (EU), với Liên minh thuế quan Nga - Belarus - azakhstan, với hối Thương mại tự do châu u (EFTA) gồm các nước Thụy Sĩ, Na Uy, Liechtenstein và Iceland, FTA với Hàn Quốc và FTA giữa khối ASEAN với
19 Điều 27, Điều 159 và Điều 168 Luật Thương mại 2005
Trang 24Hồng Công, Trung Quốc Ngoài ra, Việt Nam cũng tích cực chủ động tham gia sâu vào Diễn đàn Hợp tác inh tế châu - Thái Bình Dương (APEC), đã đăng cai năm APEC 2006 và tiến tới sẽ đăng cai APEC năm 2017 với hàng trăm cuộc họp từ cấp chuyên viên đến cấp cao
Nói chung, tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam chịu ảnh hưởng tích cực của quá trình hội nhập Thương mại và đầu tư Việt Nam đã phát triển
từ cơ chế tương đối hạn chế sang cơ chế mở như hiện nay20 Thành công nhìn thấy rõ nhất đó là trong khi nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng ở mức 6,21% năm 2016, các quốc gia ASEAN khác như Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Singapore có tốc độ tăng trưởng chậm hơn như là hệ quả của sự suy thoái thương mại toàn cầu và sự tăng trưởng chậm của Trung Quốc Việt Nam không chỉ là quốc gia tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực mà còn đứng thứ hai trong danh sách những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, chỉ sau
n Độ - quốc gia duy nhất đạt được tốc độ tăng trưởng 7% trong năm 201621
Cùng với xu hướng phát triển của nền kinh tế đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì hoạt động thương mại của các doanh nghiệp không chỉ gói gọn trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà được mở rộng sang thị trường quốc tế Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận mở rộng thị trường của mình Thâm nhập thị trường nước ngoài không phải là điều dễ làm khi ở một môi trường mới khác biệt về văn hóa, pháp luật, chính trị Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải nắm bắt những cơ hội mà mình có được, đồng thời phải đảm bảo cho mình những quyền lợi, lợi ích và loại bỏ những rủi ro tiềm tàng trong kinh doanh, hợp đồng vẫn chính là
20
Dự án Mutrap III (2009), “Báo cáo Hội nhập kinh tế và sự phát triển ở Việt Nam”, Hà Nội, tr 8
21
Trường Dũng, “Kinh tế Việt Nam 2017 phát triển nhanh nhất Đông Nam Á”, Báo Thế giới và Việt Nam
truy cập tại địa chỉ http://baoquocte.vn/kinh-te-viet-nam-2017-phat-trien-nhanh-nhat-dong-nam-a-44027.html
ngày 1/6/2017
Trang 25câu trả lời cuối cùng cho những mục tiêu đó Ở chiều ngược lại, Việt Nam hiện nay cũng là điểm đến của nhiều doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp này mang đến nhiều nét mới cho thị trường ở Việt Nam, việc giao kết những hợp đồng với các doanh nghiệp này sẽ giúp cho doanh nghiệp Việt Nam đặt nền móng cho mối quan hệ với công ty có quy mô lớn, từ đó tạo tiền
đề cho sự phát triển của chính mình
Trong quá trình này, hợp đồng có giá trị pháp lý như luật (contract = law) là công thức để giúp cho các doanh nghiệp có cơ sở bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp xảy ra Nếu như sự an toàn của con người, tài sản được bảo đảm trên cơ sở những quy định trong Bộ luật hình sự thì sự an toàn và trật tự trong thế giới kinh doanh lại phụ thuộc vào hợp đồng Trong kinh doanh, để đi đến hợp đồng là điều khó, nhưng để hoàn thành một hợp đồng mà các bên đều hài lòng lại là điều khó hơn Thực vậy, khi ký kết hợp đồng các doanh nghiệp không thể lường trước hết mọi tình huống sẽ xảy
ra trong tương lai, nguyên nhân dẫn đến việc không hoàn thành hay không thực hiện những thỏa thuận có thể là khách quan nhưng cũng có thể là chủ quan làm nảy sinh những tranh chấp Vì vậy, hợp đồng sẽ giúp cho các bên xác định được ai sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của mình và các cơ quan giải quyết tranh chấp là tòa án hay trọng tài cũng không thể giải quyết một vụ tranh chấp nếu không có bằng chứng về sự thỏa thuận, cam kết của các bên và một lần nữa hợp đồng sẽ trở nên vô cùng quan trọng để qua đó cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các doanh nghiệp22
1.2 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng thương mại
22
Ngọc Bích, “Hợp đồng thương mại dịch vụ và vai trò của nó đối với doanh nghiệp”, Viện Kinh tế và
Thương mại Quốc tế - Trường Đại học Ngoại thương, truy cập tại địa chỉ
http://ieit.edu.vn/vi/nghien-cuu/item/186-hop-dong-thuong-mai-dich-vu-va-vai-tro-cua-no-doi-voi-doanh-nghiep ngày 1/6/2017
Trang 261.2.1 Luật Thương mại 2005 điều chỉnh hợp đồng thương mại
Luật Thương mại được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 là sự hoàn thiện pháp luật thương mại ở tầm cao nhất, thể hiện sự thay đổi nhận thức về vai trò của Nhà nước trong quản lý hoạt động thương mại, tạo hành lang pháp lý thúc đẩy thương mại phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế
Luật Thương mại 2005 là nguồn quan trọng điều chỉnh các giao dịch thương mại giữa các nhà kinh doanh với nhau và với các bên có liên quan nhằm triển khai hoạt động kinh doanh Luật Thương mại 2005 điều chỉnh hoạt động thương mại bằng các quy định về quyền và nghĩa vụ đặc trưng của các bên trong hoạt động thương mại (và một số ít quy định về hợp đồng thương mại) Luật Thương mại được xây dựng trên cơ sở phát triển các quy định mang tính nguyên tắc của Bộ luật Dân sự, cụ thể hóa các nguyên tắc này cho thích hợp để điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong kinh doanh23
Những hoạt động thương mại cụ thể được quy định tại Luật Thương mại theo nguyên tắc tôn trọng quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng Nguyên tắc này được xác định là nền tảng của hoạt động thương mại và nguyên tắc nhất quán được ghi nhận tại Luật Thương mại
2005 Do vậy, hầu hết những điều quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên
đều được bổ sung cụm từ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” để thể hiện
nguyên tắc này Sự tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận trong hoạt động thương mại được bảo đảm sẽ nâng cao tính chủ động cho các thương nhân tham gia hoạt động thương mại, thúc đẩy sự linh hoạt và tạo điều kiện cho các
23 Nguyễn Thị Dung (chủ biên, 2008), “Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư – Những vấn đề
pháp lý cơ bản”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 28
Trang 27thương nhân phát huy mọi tiềm năng của mình trong hoạt động sản xuất, kinh doanh24
Ngoài ra Luật Thương mại 2005 là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam đề cập thói quen trong hoạt động thương mại và nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại Khoản 3 Điều 3 Luật Thương mại 2005
quy định: “Thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội
dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng thương mại” Theo Điều 12 Luật Thương mại
2005 thì trừ trường hợp có thỏa thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó
mà các bên đã biết hoặc phải biết, nhưng không được trái với quy định của pháp luật25
1.2.2 Các văn bản dưới luật điều chỉnh hợp đồng thương mại
Theo quy định của Điều 3 Luật thương mại 2005 thì hoạt động thương mại là tất cả những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Theo định nghĩa này thì các hoạt động thương mại của các thương nhân trên thị trường có thể diễn ra ở phạm vi rộng và hẹp khác nhau Tuy nhiên, dù tham gia vào hoạt động thương mại nào thì mục đích cuối cùng của tất cả các thương nhân cũng đều mong muốn giao kết được các hợp đồng thương mại để tìm kiếm lợi nhuận Do các hợp đồng thương mại của thương nhân được giao kết ở phạm vi rộng như trên nên các quy định của
Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại không thể quy định đầy đủ và chi tiết về
24
Bộ Công thương (2017), “Báo cáo tổng hợp về Khung chính sách thương mại của Việt Nam trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giai đoạn từ năm 2016 trở đi”, Hà Nội, tr 7
25 Nguyễn Thị Dung, tlđd chú thích 13, tr 13 – 14
Trang 28việc giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng trong từng lĩnh vực thương mại
cụ thể được Bởi vậy, để giúp các thương nhân có cơ sở pháp lý vững chắc khi giao kết các hợp đồng thương mại, Chính phủ và các chủ thể có thẩm quyền đã ban hành rất nhiều những văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể về hợp đồng nói chung và hợp đồng thương mại nói riêng liên quan tới các quyền tự do giao kết, thỏa thuận điều kiện đảm bảo để thực hiện hợp đồng, tự
do thỏa thuận lựa chọn cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp hợp đồng, về hợp đồng thương mại quốc tế, hợp đồng nhượng quyền thương mại, hợp đồng đại lý, hợp đồng quảng cáo, hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa… Các văn bản đó có thể kể ra như sau:
- Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 12 năm
2006 về giao dịch bảo đảm;
- Nghị định 83/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23 tháng 07 năm 2010
về đăng ký giao dịch bảo đảm;
- Nghị định 11/2012/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2012/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
- Nghị định số 109/2010/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo ngày 4/11/2010
- Nghị định số 35/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại;
- Nghị định 158/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa;
- Nghị định 120/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại một số Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại
Trang 29- Nghị định 125/2014/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung quy định về dịch vụ giám định thương mại tại Nghị định 120/2011/NĐ-CP ngày 16/12/2011 và Nghị định 20/2006/NĐ-CP ngày 20/02/2006
- Nghị định 07/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25 tháng 01 năm 2016
về việc quy định chi tiết Luật thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
…
Qua tìm hiểu nội dung của các quy định kể trên, tác giả nhận thấy về cơ bản, các văn bản kể trên đều văn bản này đã đưa ra những cơ sở pháp lý tương đối vững chắc cho các thương nhân vận dụng vào quá trình giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng thương mại với đối tác Tuy nhiên, do phạm
vi của hoạt động thương mại rất rộng, do vậy các văn bản này nhiều khi chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa bao quát và cập nhật kịp thời với nhu cầu của thực tiễn Ví dụ như nhóm các văn bản hướng dẫn về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng Hiện nay, chúng ta vẫn đang áp dụng Nghị định 163/2006/NĐ-CP, Nghị định 83/2010/NĐ-CP, Nghị định 11/2012/NĐ-CP Đây đều là những nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự 2005, trong khi đó hiện tại Bộ luật Dân sự 2005 đã được thay thế bởi Bộ luật Dân sự 2015 với việc bổ sung thêm hai biện pháp bảo đảm mới đó là cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu (bên cạnh bảy biện pháp bảo đảm trong Bộ luật Dân sự 2005) Do đó các văn bản này phần nào đó chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, cần tiếp tục nghiên cứu ban hành nghị định mới thay thế cho phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự 2015
1.3 Bộ luật Dân sự 2015 với tư cách là nguồn của hợp đồng thương mại
1.3.1 Các quy định của Bộ luật Dân sự là nền tảng của hợp đồng thương mại – Quan hệ luật chung và luật chuyên ngành
Trang 30Không thể phủ nhận rằng hệ thống pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn từ truyền thống pháp luật của Dòng họ Civil Law Chính vì thế, tương
tự như nhiều nước khác thuộc Dòng họ này, Bộ luật Dân sự đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực luật tư thuộc cấu trúc hệ thống pháp luật của các quốc gia Nếu ví Hiến pháp là “xương sống” của cả hệ thống pháp luật thì Bộ luật Dân sự có thể được coi là “xương sống” của luật tư
Điều này được khẳng định rõ tại khoản 1 Điều 4 Bộ luật Dân sự 2015,
trong đó xác định Bộ luật Dân sự là “luật chung điều chỉnh các quan hệ dân
sự”, theo đó thì “các luật các có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Luật Thương mại 2005 cũng có quy định cụ thể nguyên tắc cơ bản về áp dụng
Luật Thương mại và pháp luật có liên quan: “Hoạt động thương mại không
được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự”
Như vậy, quan hệ giữa Bộ luật Dân sự và luật chuyên ngành – cụ thể ở đây là Luật Thương mại đã được giải quyết, việc mà trước đó Bộ luật Dân sự
2005 đã không thể giải quyết được một cách rõ ràng Theo đó thì tùy vào tính chất đặc thù của từng loại hợp đồng thì luật chuyên ngành có thể có các quy định riêng, ví dụ như quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa trong Luật Thương mại được coi là các quy định chuyên ngành còn các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy định chung
Việc sử dụng các văn bản pháp luật dân sự làm văn bản “gốc” điều chỉnh mọi quan hệ hợp đồng là xu hướng phổ biến của các quốc gia trên thế giới Ở các quốc gia thuộc Dòng họ Common Law, hay thậm chí ngay cả ở một số
26 Khoản 2 Điều 4 Bộ luật Dân sự 2015
Trang 31các quốc gia thuộc Dòng họ Civil Law (ví dụ như Ý, Hà Lan, Thụy Sĩ…) thường không phân biệt giữa hợp đồng được giao kết vì mục đích kinh doanh hay hợp đồng được giao kết vì mục đích sinh hoạt, tiêu dùng Ví dụ như ở Anh – hệ thống pháp luật được coi là hệ thống pháp luật “gốc”, hệ thống pháp luật “cha mẹ” của Dòng họ Common Law – là nơi mà không có quy định pháp luật riêng cho loại hợp đồng thương mại27; hoặc trong Luật Nghĩa vụ của Thụy Sĩ29 có nhiều quy định về mua bán thương mại và Bộ luật Dân sự Ý
1942 cũng có nhiều quy định về hợp đồng giao kết vì mục đích kinh doanh Ngay cả ở các nước thuộc Dòng họ Civil Law thì mặc dù có sự phân biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại nhưng coi hành vi thương mại là một dạng đặc biệt của hành vi dân sự Lúc này, pháp luật thương mại chỉ được ưu tiên áp dụng nếu hành vi được xác định là hành vi thương mại Tuy nhiên, kể
cả đối với các hành vi thương mại, nếu như pháp luật thương mại không có quy định cụ thể thì sẽ áp dụng pháp luật dân sự Phù hợp với điều này thì pháp luật thương mại chỉ quy định những vấn đề mang tính chất đặc thù của hoạt động thương mại mà thôi30 Việc phân biệt này được thể hiện trong định nghĩa về bản chất thương mại của hợp đồng nảy sinh hoặc là từ đặc điểm hành vi thương mại của giao dịch (Điều 110-1 & Điều 110-2 Bộ luật Thương
mại Pháp 2000) hoặc là từ phẩm chất thương nhân (commercants) của các bên
chủ thể hợp đồng (Điều 121-1 Bộ luật Thương mại Pháp 2000)
Ở Việt Nam, Bộ luật Dân sự 2015 đã dành hẳn một phần thứ ba mang
tên: “Nghĩa vụ và hợp đồng” – là phần lớn nhất trong bộ luật gồm 5 chương
30 Nguyễn Thị Dung, tlđd chú thích 22, tr 26
Trang 32và 334 Điều đã quy định những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất của chế định hợp đồng, bao gồm: khái niệm hợp đồng, giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, sửa đổi và chấm dứt hợp đồng, điều kiện hợp đồng có hiệu lực, trách nhiệm dân sự liên quan đến hợp đồng và một số loại hợp đồng thông dụng ở Việt Nam Các quy định này được áp dụng chung cho tất cả các quan hệ hợp đồng, trong đó có hợp đồng thương mại và những quy định này mang tính chất khái quát cao, có khả năng đảm bảo tính thống nhất của pháp luật về hợp đồng và được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng được kí kết trong bất kì lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh nào31
1.3.2 Ảnh hưởng của các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 đối với hợp đồng thương mại
Xuất phát từ mối quan hệ giữa hợp đồng và hợp đồng thương mại là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng thì các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự sẽ là những nguyên tắc dành cho hợp đồng thương mại Chính vì thế chúng ta có thể kể đến một số quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 có thể được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng thương mại như sau:
- Thứ nhất, áp dụng quy định về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
dân sự đối với việc giao kết hợp đồng thương mại
Các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015
bao gồm: (1) nguyên tắc bình đẳng; (2) nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết,
thỏa thuận; (3) nguyên tắc về sự thiện chí, trung thực; (4) nguyên tắc không xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và (5) nguyên tắc tự chịu trách nhiệm
Trước đây, trong Bộ luật Dân sự 2005 có Điều 389 quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự với ý nghĩa là một sự nhấn mạnh những nguyên
31 Nguyễn Thị Thanh Trang (2016), Bảo đảm quyền tự do hợp đông của doanh nghiệp trong Bộ luật Dân sự
2015, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 38
Trang 33tắc mà các bên phải tuân thủ khi giao kết hợp đồng bên cạnh quy định về các nguyên tắc chung của pháp luật dân sự Tuy nhiên, quy định này theo tác giả
là tương đối giống với các nguyên tắc cơ bản được nêu từ Điều 4 đến Điều 10 của Bộ luật này, chỉ mở rộng thêm một chút về nguyên tắc hợp tác và ngay thẳng, dẫn tới quy định này gần như là thừa thãi và không cần thiết
Khắc phục điều này thì Bộ luật Dân sự 2015 chỉ dành Điều 3 để quy định nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và mặc định phải hiểu rằng tất cả các quan hệ dân sự phải tuân thủ nguyên tắc này, bao gồm cả việc giao kết hợp đồng hay giao kết hợp đồng thương mại
Như thế, Luật Thương mại có quyền có các quy định riêng đối với hợp đồng thương mại dựa trên đặc thù của loại hợp đồng này so với hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự, nhưng quyền này đi kèm với điều kiện là không được trái với các nguyên tắc tại Điều 3 Bộ luật Dân sự 201532
- Thứ hai, áp dụng các quy định về thời điểm giao kết và có hiệu lực của
hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015 cho hợp đồng thương mại
Điều 400 và Điều 401 Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định về thời điểm giao kết và có hiệu lực nói chung của các loại hợp đồng Ngoài ra, trong nội dung về các loại hợp đồng thông dụng cũng có nhấn mạnh thêm thời điểm có hiệu lực áp dụng riêng cho loại hợp đồng đó Trong bối cảnh mà Luật Thương mại 2005 lại rất thiếu những quy định liên quan đến vấn đề này thì các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 chắc chắn sẽ được các chủ thể kí kết hợp đồng dẫn chiếu đến rất nhiều trong quá trình giao kết hợp đồng thương mại
- Thứ ba, áp dụng quy định về thực hiện, sửa đổi, chấm dứt và hủy bỏ
hợp đồng
32 Sự hạn chế này quy định tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật Dân sự 2015
Trang 34Thực hiện hợp đồng là một quá trình mà các bên tham gia hợp đồng cũng sẽ rất quan tâm, vì sau khi hợp đồng có hiệu lực thì quá trình thực hiện chính là quá trình để các bên tham gia hợp đồng thực sự nhận được những lợi ích của mình, khi đó quyền lợi của các bên có được đảm bảo hay không là phụ thuộc vào việc thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ nghĩa vụ của bên kia Chính vì thế, Bộ luật Dân sự 2015 dành riêng Tiểu mục 2 trong Mục 7 Chương XV Phần thứ ba về Hợp đồng để có các quy định về thực hiện hợp đồng, thậm chí còn quy định riêng với việc thực hiện hợp đồng song vụ hay đơn vụ, hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba và trách nhiệm trong khi thực hiện hợp đồng
Bộ luật Dân sự 2015 cũng dành Tiểu mục 3 “Sửa đổi, chấm dứt hợp đồng” để đưa ra các căn cứ để sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng hay hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng
Những nội dung này liên quan đến hợp đồng thương mại, chúng ta hầu như không thể tìm thấy trong Luật Thương mại 2005 Có thể thấy ý đồ của các nhà lập pháp rằng những nội dung đó của hợp đồng thương mại sẽ được
áp dụng các quy định chung về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015
- Thứ tƣ, áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về các biện pháp
bảo đảm thực hiện hợp đồng
Điều 292 Bộ luật Dân sự 2015 hiện nay quy định chín biện pháp bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ, bao gồm: (1) Cầm cố tài sản; (2) Thế chấp tài sản; (3) Đặt cọc; (4) Ký cược; (5) Ký quỹ; (6) Bảo lưu quyền sở hữu; (7) Bảo lãnh; (8) Tín chấp; và (9) Cầm giữ tài sản Như vậy, Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ
sung thêm hai biện pháp bảo đảm so với quy định cũ của Bộ luật Dân sự 2005
đó là biện pháp “cầm giữ tài sản” và “bảo lưu quyền sở hữu”, điều này khiến
cho các quy định về biện pháp bảo đảm của Bộ luật Dân sự 2015 càng trở nên
Trang 35hoàn thiện hơn so với các văn bản khác cũng có quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Đây cũng chính là những biện pháp để các bên trong giao kết hợp đồng nói chung hay các bên trong giao kết hợp đồng thương mại nói riêng có thể áp dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của bên cùng giao kết hợp đồng với mình, giúp các bên giao kết có thể bảo đảm tốt hơn quyền lợi chính đáng của mình theo hợp đồng Nhất là trong khi Luật Thương mại 2005 hoàn toàn không hề có đề cập gì đến các biện pháp bảo đảm này
- Thứ năm, áp dụng quy định về hợp đồng vô hiệu cho hợp đồng thương
về hình thức (chỉ xét đến trong một số trường hợp, khi mà hình thức được quy định là điều kiện có hiệu lực)
Dựa vào các điều kiện trên thì chúng ta có thể kể ra các trường hợp hợp đồng vô hiệu như sau:
+ Trường hợp vô hiệu do không đảm bảo điều kiện về chủ thể (Điều 125
& Điều 128 Bộ luật Dân sự 2015)
+ Trường hợp vô hiệu do vi phạm nguyên tắc tự nguyện (Điều 126 & Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015)
+ Trường hợp vô hiệu do vi phạm các nguyên tắc của pháp luật dân sự
về mục đích và nội dung của hợp đồng (Điều 123 & Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015)
Trang 36+ Trường hợp vô hiệu do vi phạm hình thức hợp đồng (Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015)
Các quy định về hợp đồng vô hiệu trong Bộ luật Dân sự không chỉ tập trung vào hình thức, nội dung hay điều kiện về chủ thể giao kết hợp đồng mà còn rất nhấn mạnh điều kiện về sự tự nguyện của các bên khi giao kết Điều này nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc cơ bản nền tảng của pháp luật dân sự nói chung, nhưng đồng thời cũng để thể hiện rõ nhất bản chất của hợp đồng –
là một hình thức thể hiện ý chí của các bên giao kết Thế nên khi xem xét một hợp đồng, người ta không đơn thuần chỉ căn cứ trên câu chữ của hợp đồng mà còn xem xét đến yếu tố ý chí của các bên được thể hiện như thế nào trong quá trình giao kết
Điều này sẽ rất có ý nghĩa trong việc xem xét hiệu lực của hợp đồng thương mại vì mục đích của các bên chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng thương mại là lợi nhuận, chính vì thế các bên bao giờ cũng mong muốn tận dụng tối đa hợp đồng thương mại để đạt được quyền lợi cho mình với nhiều phương cách khác nhau Chính vì thế, xem xét các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là một cách để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên kí kết trước
sự “tận dụng” tối đa của bên đối phương
- Thứ sáu, áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự về các một số hợp
đồng thông dụng
Trong chương XVI của Bộ luật Dân sự 2015 có các quy định liên quan đến rất nhiều các loại hợp đồng thông dụng như: hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, vay, thuê hay gửi giữ tài sản…; hợp đồng dịch vụ; hợp đồng vận chuyển; hợp đồng gia công; hợp đồng ủy quyền…
Các loại hợp đồng này là những loại hợp đồng thông dụng và phổ biến nhất trong các quan hệ dân sự, trong số đó có nhiều loại hợp đồng có thể liên quan đến các hoạt động thương mại, đơn cử một ví dụ như trong Bộ luật Dân
Trang 37sự 2015 có quy định về hợp đồng về mua bán tài sản, nó sẽ bao quát cả hợp đồng mua bán hàng hóa – là một loại hợp đồng chiếm tỷ lệ không nhỏ trong quá trình các bên tham gia hoạt động thương mại Do đó chắc chắn trong quá trình giao kết hợp đồng thương mại, các chủ thể sẽ phải áp dụng rất nhiều các quy định của Bộ luật Dân sự về phần này
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thứ nhất, về mặt lý luận, hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự Nhưng pháp luật trong lĩnh vực thương mại hiện nay chưa đưa ra được một khái niệm chung nhất về hợp đồng thương mại Và ngay cả khái niệm “hợp đồng thương mại” cũng là một khái niệm được sử dụng một cách tương đối bởi nếu nói một cách chính xác thì phải gọi nó là hợp đồng trong thương mại hay hợp đồng trong hoạt động thương mại
Thứ hai, các nguồn chính điều chỉnh hợp đồng thương mại đã được phân tích bao gồm:
- Luật Thương mại 2005
- Các văn bản dưới luật điều chỉnh hợp đồng thương mại
- Công ước quốc tế và tập quán quốc tế điều chỉnh hợp đồng thương mại Thứ ba, phân tích vai trò của Bộ luật Dân sự 2015 với tư cách là một nguồn của hợp đồng thương mại Xuất phát từ mối quan hệ giữa hợp đồng và hợp đồng thương mại là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng thì các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự sẽ là những nguyên tắc dành cho hợp đồng thương mại
Trang 38Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VỀ HỢP ĐỒNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG
THƯƠNG MẠI 2.1 Những quy định mới về ký kết hợp đồng
Bộ luật Dân sự 2015 đã có những thay đổi đáng kể liên quan đến giai đoạn ký kết hợp đồng, mà cụ thể là trong các quy định về đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Đối với các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng, Bộ luật Dân sự 2015
có những điểm mới như sau:
- Thứ nhất, Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng được gửi tới công chúng
- Thứ hai, liên quan đến vấn đề nội dung của đề nghị giao kết phải rõ ràng thì Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung Điều 387 quy định Thông tin trong giao kết hợp đồng
- Thứ ba, liên quan đến hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng, Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung chủ thể bên đề nghị và bên được đề nghị là người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Và bổ sung nội dung giao kết gắn liền với nhân thân cả người đề nghị
Còn liên quan đến các quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thì điểm mới đáng chú ý nhất của Bộ luật Dân sự 2015 là có sự thay đổi quan điểm của các nhà làm luật về chấp nhận giao kết hợp đồng, cụ thể hơn là quan
điểm về việc ghi nhận hay không ghi nhận “sự im lặng” được coi là chấp
nhận đề nghị giao kết
Những thay đổi này thể hiện tư duy đột phá của các nhà làm luật, mà thậm chí theo PGS TS Đỗ Văn Đại thì còn vượt quá sự mong đợi của giới
Trang 39nghiên cứu khi họ góp ý cho các bản dự thảo thay đổi Bộ luật Dân sự trước đây33
Thế nhưng trong những thay đổi này, thay đổi có thể khiến cho pháp luật
về hợp đồng thương mại cần phải sửa đổi, bổ sung nằm ở vấn đề nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên đề nghị giao kết, cụ thể là nội dung liên quan đến Điều 387 Bộ luật Dân sự 2015 quy định Thông tin trong giao kết hợp đồng
“Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết
hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết”
Theo cách hiểu thông thường trước đây thì nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng cần có những nội dung cơ bản của hợp đồng tương lai Tuy nhiên, theo Bộ luật Dân sự 2015 thì các nhà làm luật đã nhấn mạnh hơn đến những thông tin mà có thể gây ảnh hưởng đến việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là những thông tin mà bắt buộc cần phải thông báo
Bổ sung quy định tại Điều 387 là để bảo đảm nguyên tắc thiện chí, trung thực trong giao kết, thực hiện hợp đồng, qua đó bảo đảm quyền lợi của các bên Bộ luật quy định các bên phải cung cấp thông tin có ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng; quy định về giữ bí mật thông tin và quy định về bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ về thông tin Trên cơ sở quy định chung này, trong các hợp đồng thông dụng, Bộ luật bổ sung quy định về trách nhiệm của các bên trong việc cung cấp thông tin, chẳng hạn Điều 443 quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin cần thiết về tài sản bán, khoản 2 Điều 536 quy định bên vận chuyển phải cung cấp thông tin cần thiết liên quan đến tài sản vận chuyển để bảo đảm an toàn cho tài sản vận chuyển
Điều này là hợp lý vì trong việc giao kết hợp đồng thì sự minh bạch các thông tin liên quan đến đối tượng giao dịch có ý nghĩa rất quan trọng Đặc
33 Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, NXB Hồng Đức,
Hà Nội, tr 369
Trang 40biệt, trong sản xuất, kinh doanh thì thông tin đối với quá trình sản xuất hàng hóa, thông tin về chủ thể sản xuất hàng hóa, về khả năng sử dụng hàng hóa hoặc các thông tin khác có ảnh hưởng đến hậu quả của việc giao kết hợp đồng
là rất quan trọng34 Như vậy, chúng ta cũng có thể hiểu rằng, nếu như bên được đề nghị giao kết đã được thông tin đầy đủ về hàng hóa (ví dụ như những khiếm khuyết của hàng hóa hay những lưu ý đặc biệt về hàng hóa…) mà vẫn chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thì chứng tỏ bên được đề nghị đã chấp nhận cả những khiếm khuyết đó của hàng hóa và không có quyền hủy bỏ việc thực hiện hợp đồng khi có vấn đề xảy ra do khiếm khuyết của hàng hóa
Trước đây, Bộ luật Dân sự 2005 chỉ đặt ra nghĩa vụ cung cấp thông tin trong quá trình thực hiện hợp đồng mà chưa xét đến yêu cầu cung cấp thông tin trước khi tiến hành giao kết hợp đồng Thông tin này phát sinh trong giai đoạn trả lời đề nghị giao kết hợp đồng, nghĩa là hợp đồng chưa được giao kết Còn nếu thông tin này có trước khi đề nghị giao kết hợp đồng mà một bên trong các bên cố tình cung cấp thông tin sau sự thật hoặc không cung cấp nhằm có lợi cho mình để giao kết hợp đồng thì sẽ thuộc trường hợp giao kết hợp đồng có yếu tố lừa dối và rất có thể dẫn tới hợp đồng sẽ vô hiệu35
Trường hợp thông tin bí mật của một bên được chuyển giao cho bên kia thì bên nhận được thông tin bí mật đó phải giữ kín không được tiết lộ cho người thứ ba hoặc không được sử dụng thông tin đó vào mục đích riêng hoặc
vi phạm pháp luật Quy định này nhằm đảm bảo sự thiện chí giữa các bên trong giao kết hợp đồng, nếu được áp dụng tốt sẽ tăng phần gắn kết và tin
34 Nguyễn Minh Tuấn (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2015, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 225
35
Lê Minh Chi (2016), “Những giải pháp pháp lý trong Bộ luật Dân sự 2015 góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội,
tr 53